trong đó tác phẩm Cỏ noncủa Hồ Phương xuất hiện năm 1960 là một trong những tác phẩm tiêu biểu chohướng sáng tác khẳng định ngợi ca cuộc sống mới, con người mới...56Hòa chung trong sự th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HẢI YẾN
THI PH¸P TRUYÖN NG¾N NGUYÔN MINH CH¢U QUA HAI GIAI §O¹N S¸NG T¸C TR¦íC Vµ SAU 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HẢI YẾN
THI PH¸P TRUYÖN NG¾N NGUYÔN MINH CH¢U QUA HAI GIAI §O¹N S¸NG T¸C TR¦íC Vµ SAU 1975
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2012
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 8
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 VỊ TRÍ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU TRONG NỀN TRUYỆN NGẮN CÁCH MẠNG VIỆT NAM SAU 1954 10
1.1 Những điều kiện sáng tạo có tính đặc thù của truyện ngắn cách mạng Việt Nam sau 1954 10
1.1.1 Điều kiện chính trị - xã hội 10
1.1.2 Điều kiện thẩm mỹ 11
1.2 Những thành tựu của truyện ngắn cách mạng Việt Nam sau 1954 13
1.2.1 Sự hình thành một đội ngũ các cây bút truyện ngắn chuyên nghiệp 13
1.2.2 Sự bao quát toàn diện mọi vấn đề của đời sống 17
1.2.3 Sự hoàn thiện thi pháp thể loại và hình thành một phong cách thời đại trong truyện ngắn 19
1.3 Vị trí truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 30
1.3.1 Bước đường đến với văn học của Nguyễn Minh Châu 30
1.3.2 Truyện ngắn trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu 38
1.3.3 Tính điển hình của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu xét trên phương diện thành tựu 49
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU TRƯỚC 1975 56
2.1 Sự thống nhất với những tìm tòi chung của nền truyện ngắn cách mạng 56
2.1.1 Sự thống nhất ở cảm hứng ngợi ca, cổ vũ 56
Trang 4Văn học sau 1954 chủ yếu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ trên lập trườngdân tộc dân chủ và CNXH Công cuộc xây dựng CNXH khó khăn phức tạp nhưngchan chứa sức sống và niềm vui, đã khơi dậy được cảm hứng và thu hút được lựclượng sáng tạo của nhiều thế hệ người cầm bút Quá trình thâm nhập thực tế đãgiúp cho các nhà văn phát hiện những vẻ đẹp của con người mới, cuộc sống mới.Trước những vấn đề cụ thể của CNXH đã có nhiều tác phẩm khẳng định được cáimới như tác giả Nguyễn Khải, Đỗ Chu, Hồ Phương trong đó tác phẩm Cỏ noncủa Hồ Phương xuất hiện năm 1960 là một trong những tác phẩm tiêu biểu chohướng sáng tác khẳng định ngợi ca cuộc sống mới, con người mới 56Hòa chung trong sự thống nhất ở cảm hứng ngợi ca cổ vũ của truyện ngắn sau
1954, bên cạnh các nhà văn đi vào mảng ca ngợi cuộc sống mới theo con đườngXHCN nhiều cây bút truyện ngắn đã đứng trên lập trường kháng chiến để tuyêntruyền, cổ vũ chiến đấu Họ luôn bám sát hiện thực để phản ánh, ngợi ca, cổ vũkịp thời cho sự nghiệp chiến đấu trên chiến trường Những tác giả như NguyễnTrung Thành, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thi đã thể hiện được tinh thần yêunước của con người Việt Nam Qua tác phẩm của mình, các nhà văn đã tập trungvào ngợi ca những con người đã chiến đấu vì tổ quốc, những con người đangđứng trong thực tại đau thương đầy gian khổ mà vẫn luôn hướng đến tương lai,tin tưởng đất nước sẽ có ngày được hòa bình Trong đội ngũ những nhà văn ấy cóNguyễn Minh Châu 56
Là nhà văn quân đội, tham gia trên các chiến trường, Nguyễn Minh Châu đãchứng kiến và thấu hiểu về tâm tư, tình cảm của những người lính nên trong tácphẩm của mình nhà văn đã phản ánh một cách chân thực và đầy đủ Cảm hứng sửthi và tư duy sử thi đã hướng ông tới cái nhìn lãng mạn, thi vị hóa cuộc sống.Chính vì vậy mà sáng tác của ông ở giai đoạn trước 1975 thường mang đậm màusắc chiến đấu, màu sắc của gian khổ hy sinh nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan tintưởng vào tương lai tươi sáng 57
Trang 5Ở tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng Hai nhân vật Nguyệt và Lãm vẫn hiện lên lànhững chàng trai cô gái yêu đời, lạc quan dù trước mặt họ bao hiểm nguy đangcận kề Họ đã sống và chiến đấu cho mục đích và lý tưởng cao đẹp, hạnh phúcriêng tư không còn là vấn đề quan trọng nhất mà đối với họ tương lai và sự nghiệpcủa đất nước mới là điều họ hướng tới 57Trong sự thống nhất chung với cảm hứng ngợi ca cổ vũ ở giai đoạn này, nhữngtác phẩm như: Những vùng trời khác nhau, Nguồn suối, Nhành mai, Lá thưvui Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được những hình tượng nhân vật tiêu biểucho thời kỳ đau thương mà anh dũng của dân tộc 57Trong Nhành mai, Thận là một cô gái nhanh nhẹn, thông minh và dũng cảm Cô
đã không quản ngại khó khăn, bất chấp sự nguy hiểm của bản thân để bảo vệ chođồng đội: “Cô chỉ có một thanh mã tấu, liền vứt thanh mã tấu xuống, nhặt lấy câytiểu liên của tôi bắn chết một tên địch rồi cõng tôi lùi về phía sau” và “người cángtôi đêm ấy chẳng phải ai khác lại chính là Thận” [7, 18] 57Cũng trong bom lửa chiến tranh Lê và Sơn (Những vùng trời khác nhau) lànhững người đến từ những vùng trời khác nhau nhưng đã trở thành tri kỷ dướivùng trời Tổ quốc Chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh họ đã trởthành đồng đội cùng sát cánh bên nhau để vượt qua những khó khăn vất vả trongcuộc sống chiến đấu 57Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kỳ này là những conngười có lý tưởng, xả thân vì nghĩa lớn, có ý chí và nghị lực để vượt qua nhữnggian khổ cho sự nghiệp chung của cộng đồng Vì thế khi viết về cuộc sống nơichiến trường, viết về những người chiến sỹ tham gia cách mạng, nhà văn đã ngợi
ca khẳng định các nhân vật anh hùng không phải là nhân danh cá nhân mà là nhândanh cộng đồng 582.1.2 Thống nhất ở cái nhìn lạc quan về cuộc sống 582.1.3 Thống nhất ở sự ưu tiên cho những đề tài lớn 62
Trang 62.2 Những dấu ấn riêng của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 64
2.2.1 Quan tâm đi tìm “những hạt ngọc ẩn dấu ở bề sâu tâm hồn con người” 64
2.2.2 Cấu tứ chặt chẽ 67
2.2.3 Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm 70
2.3 Những hạn chế về thi pháp của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975 73
2.3.1 Thiếu những bứt phá về cấu trúc 73
2.3.2 “Chất thơ” lấn át “chất văn xuôi” 77
Chương 3 SỰ ĐỔI MỚI CỦA THI PHÁP TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 81
3.1 Đổi mới trong quan niệm về con người, về nghệ thuật 81
3.1.1 Đổi mới quan niệm về con người 81
3.1.2 Một quan niệm cách tân về nghệ thuật 86
3.2 Đổi mới trong việc thể hiện những vấn đề gai góc của đời sống 89
3.2.1 Nhận thức lại những vấn đề lớn của cuộc sống 89
3.2.2 Nhìn nhận con người trong nhiều chiều kích 104
3.2.3 Sự khám phá các nghịch lý của đời sống 112
3.3 Đổi mới trong nghệ thuật kết cấu, xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu 119
3.3.1 Kết cấu luận đề 119
3.3.2 Việc xây dựng những nhân vật dị thường 124
3.3.3 Sự phong phú của các loại hình ngôn ngữ 129
3.3.4 Phá vỡ sự thuần nhất về giọng điệu 131
KẾT LUẬN 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn hàng đầu của vănhọc Việt Nam hiện đại So với những nhà văn cùng thời, sáng tác của ông tuykhông nhiều nhưng đó thực sự là những tác phẩm có giá trị cả về nội dung tưtưởng lẫn nghệ thuật Những truyện ngắn của ông đã trở thành một hiện tượngvăn học được giới sáng tác, phê bình và dư luận bạn đọc quan tâm đi sâunghiên cứu, tìm hiểu
1.2 Quá trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu được chia thành hai giaiđoạn trước 1975 và sau 1975 rất rõ Ở giai đoạn trước 1975 ông được xem làcây bút văn xuôi có nhiều đóng góp xuất sắc cho thời kỳ chống Mỹ Sáng tácgiai đoạn này của ông đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn Những đề tài
về người lính, về cuộc sống trong chiến tranh được tái hiện một cách chânthực và sinh động qua những trang viết Sau 1975, khi đất nước bước sangmột thời kỳ mới thì nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng đã âm thầm tự đổi mớimình trên những trang viết mà theo như lời của tác giả Lê Thành Nghị thì:
“Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu, bước đi của nó cùng nhịpbước đi của văn học Việt Nam hiện đại, với những trang viết hào hùng, nhữngnỗi đau trở dạ, với những thăng trầm vốn có của nghiệp văn chương” [30, 52].Như vậy, có thể thấy ở mỗi giai đoạn sáng tác Nguyễn Minh Châu đều thểhiện được tài năng và vị trí của mình trên văn đàn, nhất là ở giai đoạn sau
1975, ông được biết đến với tư cách là người mở đường “tinh anh và tàinăng” cho một giai đoạn văn học mới
1.3 Không phải nhà văn có tên tuổi nào cũng có duyên với trường học.Bằng tài năng của mình, Nguyễn Minh Châu đã chiếm được tình cảm và thực
sự có duyên với nhà trường, với học sinh phổ thông khi tác phẩm truyện ngắncủa ông được đưa vào giảng dạy ở cả hai cấp học Ở cấp trung học cơ sở với
Trang 8tác phẩm Bức tranh và tác phẩm Bến quê, cấp trung học phổ thông vớitác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Mảnh trăng cuối rừng Đó đều lànhững tác phẩm tiêu biểu cho cả hai giai đoạn sáng tác của ông Tìm hiểu đềtài này chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một cái nhìn hệ thống về thi pháptruyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn sáng tác trước 1975 và sau
1975 để góp phần vào việc giảng dạy tác phẩm của nhà văn được tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề
Gần ba mươi năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã gặt hái được một sốthành công nhất định trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình ở các thểloại: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình… Riêng đối vớithể loại truyện ngắn, tác phẩm của ông đã thực sự trở thành “mảnh đất màumỡ” cho giới nghiên cứu, phê bình
Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về con người và nghiệp văncủa ông như: công trình nghiên cứu khoa học của Tôn Phương Lan về Phongcách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb Khoa học Xã hội, 2002;Nguyễn Minh Châu - Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2007;Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu - Tác phẩm và lời bình”, NxbVăn học, 2007, Nguyễn Minh Châu - Tài năng sáng tạo nghệthuật, Nxb Văn hoá Thông tin, 2001 Trong những bài viết và công trìnhnghiên cứu kể trên, chúng tôi chú ý những ý kiến đi sâu vào truyện ngắn củaNguyễn Minh Châu Trước hết là những nhận xét, đánh giá chung về quátrình sáng tác truyện ngắn của ông
N Ni-cu-lin trong bài Về Nguyễn Minh Châu và sáng tác củaanh do Lại Nguyên Ân dịch, trích trong cuốn Nguyễn Minh Châu tàinăng và sáng tạo, Nxb Văn hoá Thông tin Hà Nội 2001 khi nói về truyệnngắn Nguyễn Minh Châu đã đưa ra nhận xét: “Ở sáng tác của Nguyễn MinhChâu truyện ngắn bộc lộ ra những đặc tính của một thể loại ưu việt, mở ra cho
Trang 9văn học những đề tài và vấn đề mới của đời sống nhân vật, những hình tượngnhân vật mới” [30, 477].
Trong bài viết Sự khám phá con người Việt Nam qua truyệnngắn, tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10 - 1987, tác giả Ngọc Trai đãđưa ra nhận định: “Phần lớn các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là loạitruyện luận đề… vì vậy các truyện ngắn của anh thường có thể gây cho bạnđọc nhiều cách tiếp cận, nhiều cách hiểu, cách giải thích khác nhau” [27,325]
Cụ thể hơn trong bài Bến quê - một phong cách trần thuật cóchiều sâu, báo Văn nghệ, số 8- 1987 tác giả Trần Đình Sử đã chỉ ra hạnchế trong một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Theo tác giả ở một sốtruyện của ông “yếu tố lịch sử còn có phần trừu tượng, nhiều cốt truyện củaanh chưa được tự nhiên… con đường tiếp cận nhân vật của anh chưa thật sáng
và có chỗ còn tập trung quá nhiều ngẫu nhiên” nhưng tác giả không phủ nhận:
“anh là nhà văn có biệt tài sử dụng chi tiết, miêu tả chân dung, môi trường,khắc hoạ tâm lý, chỉ trong ít nét mà làm hiện lên một vẻ sống sinh động” [63,391- 392]
Còn Phạm Vĩnh Cư trong bài Về những yếu tố tiểu thuyếttrong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, báo Văn nghệ, số 7 - 1990lại thừa nhận: “Nguyễn Minh Châu viết nhiều tiểu thuyết… nhưng cái mà nhàvăn để lại cho đời lại không phải là những tác phẩm dài hơi ấy, mà là dăm batruyện ngắn in rải rác trên báo chí, trong các tập truyện cuối đời anh” [30,197]
Với những ý kiến và nhận xét trên có thể thấy truyện ngắn NguyễnMinh Châu thực sự là mảnh đất đầy hứa hẹn để bạn đọc và giới nghiên cứuquan tâm, đi sâu “cày xới” Tác giả Mai Hương trong bài viết NguyễnMinh Châu và di sản văn học của ông đã nhận định: “Ông là cây
Trang 10bút tiêu biểu của văn xuôi chống Mỹ, đồng thời cũng là người mở đường
“tinh anh và tài năng”, người đã “đi được xa nhất” trong cao trào đổi mớicủa văn học Việt Nam đương đại [29] Với lời nhận định trên có thể thấyNguyễn Minh Châu là một trong số ít nhà văn tiêu biểu cho cả hai giaiđoạn văn học trước và sau 1975
Giai đoạn sáng tác trước 1975 hay nói đúng hơn là những sáng tác viếttrong chiến tranh của ông từng là những bức tranh hiện thực sinh động về conngười và cuộc sống của nhân dân ta trong những năm chống Mỹ Ở giai đoạnnày ông nổi lên với những tiểu thuyết: Cửa sông, Dấu chân người lính,
… Truyện ngắn của ông giai đoàn này chưa được đánh giá cao nhưng bướcđầu đã được giới nghiên cứu nhận định là có nhiều triển vọng, cụ thể:
Trong bài Sự ra đi của một tài năng, Tác phẩm văn học số 2
- 1989, tác giả Mai Ngữ khi nói về những truyện ngắn đầu tiên của NguyễnMinh Châu đã đưa ra nhận xét: “Nguyễn Minh Châu bắt đầu nổi lên từ cuốntiểu thuyết Cửa sông nhưng trước đó không ít năm, anh vào nghề bằngnhững truyện ngắn và anh đã thất bại về những truyện ngắn ấy nhưng điềukhông ai ngờ là chính cái thể loại đầu tiên đã làm anh thất vọng ấy về cuối đời
đã làm rực rỡ tên tuổi của anh: [30, 28]
Hai tác giả Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá trong bài viết Hướng
đi triển vọng của Nguyễn Minh Châu, báo Văn nghệ số 364 - 1970
đã chỉ ra một số hạn chế trong sáng tác của ông nhưng vẫn tin tưởng rằng:
“Nguyễn Minh Châu rồi đây sẽ có thể cống hiến cho độc giả những tác phẩmngày càng tốt hơn, sâu sắc và vang dội hơn nữa” [27, 59] Tôn Phương Lantrong công trình Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu khi viết
về các loại nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu nhận thấy: “vàothời kỳ những năm tám mươi, nhìn chung nhân vật của Nguyễn Minh Châuchưa có nét riêng độc đáo vì tác giả chủ yếu chỉ soi chiếu ở góc độ “con người
Trang 11xã hội”… Tuy nhiên ở thời kỳ này, Nguyễn Minh Châu cũng đã có những dấuhiệu tìm tòi” [37, 71].
Truyện ngắn của ta sau năm 1975 nói chung, đã có những bước pháttriển mới ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng nhu cầu bạn đọc ngày càng caohơn, nhiều nhà văn đã khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn, vàNguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn ấy Những năm đầu sauchiến tranh, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã gây xôn xao trong giớinghiên cứu cũng như dư luận bạn đọc Có nhiều ý kiến, nhiều cuộc thảo luậntrao đổi về truyện ngắn của ông mà tiêu biểu là cuộc trao đổi về “Truyện ngắnnhững năm gần đây của Nguyễn Minh Châu” do tuần báo Văn nghệ tổ chứcvào tháng 6 - 1985 đã thu hút được sự quan tâm của giới nhà văn và dư luậnbạn đọc, đặc biệt là có sự tham gia của chính tác giả Đã có nhiều ý kiến đượcđưa ra trong cuộc trao đổi này Nhà văn Lê Lựu, Tô Hoài, Phong Lê… đánhgiá cao sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn Minh Châu Đối lập với những nhà vănnày có Bùi Hiển, Xuân Diệu, Phan Cự Đệ, Nguyễn Kiên… họ tỏ ra nghi ngại,
dè dặt về hướng tìm tòi đổi mới của ông Nhưng dù là ý kiến khen hay chê thì
họ đều cảm nhận được một Nguyễn Minh Châu đã có những cách tân mới mẻ,táo bạo trong văn phong của mình
Mai Ngữ trong bài Sự ra đi của một tài năng, Tác phẩm vănhọc, số 2 -1989 đã khẳng định truyện ngắn là “mảnh đất dụng võ tuyệt hảo”của nhà văn Tác giả viết: “Những năm gần đây, mỗi truyện ngắn của anhxuất hiện bao giờ cũng gây xôn xao chú ý trong giới cầm bút và bạn đọc bởi
nó đã biểu hiện sự sử dụng bút pháp uyển chuyển, tài tình và điêu luyện củacây bút tài năng” [30, 29]
Nguyễn Trung Thu trong bài Nhà văn Nguyễn Minh Châu khikhái quát quá trình sáng tác của ông ở giai đoạn sau 1975 đã nhận xét: “nhữngnăm tám mươi là thời kỳ Nguyễn Minh Châu chủ yếu tập trung vào viết
Trang 12truyện ngắn, bộc lộ sự chuyển biến đổi mới rõ rệt cả về tư tưởng và nghệthuật” [30, 18] Còn tác giả Lại Nguyên Ân trong bài Những sáng tácgần đây của Nguyễn Minh Châu, Tạp chí văn học, số 3 - 1987 lưuý: “Ở thể truyện ngắn, nhà văn như đang cố sức chuyển những tương quanlớn của các đời sống bên ngoài vào đời sống bên trong của một vài con người
cụ thể… và cái điều vừa là ưu điểm vừa là nhược điểm này ở ngòi bút anh chỉ
“tố cáo” một điều: trước sau anh vẫn là nhà văn của những tình cảm cao cả…của những tình thế, những vấn đề con người” [2]
Trong bài Nhớ về một nhà văn tài năng và tâm huyết, báoVăn nghệ số 7- 1990 tác giả Nguyên Ngọc nhận thấy vị trí đặc biệt củaNguyễn Minh Châu trong một giai đoạn văn học đang có những sự chuyểnđộng rất phong phú, sâu sắc và phức tạp, tác giả khẳng định: “Nguyễn MinhChâu là người đi được xa nhất… Nguyễn Minh Châu thuộc số những nhà văn
mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay” [30, 10 - 11]
Từ góc nhìn thi pháp, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đã được cácnhà nghiên cứu, phê bình tiếp cận, nhìn nhận ở nhiều phương diện và đã cónhững nhận xét, đánh giá khác nhau:
Trong bài Nguyễn Minh Châu với nghệ thuật xây dựngtruyện ngắn, tạp chí Nhà văn số 7 - 2000, tác giả Trịnh Thu Tuyết đãkhảo sát một vài thủ pháp nghệ thuật xây dựng truyện ngắn của Nguyễn MinhChâu và đi đến kết luận: “Nguyễn Minh Châu đã sử dụng chúng một cách đắcđịa với xuất phát điểm là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người đểtạo nên những nhân vật có khả năng “đóng gim” lại trong trí nhớ độc giả” [27,259]
Bùi Việt Thắng trong bài Vấn đề tình huống trong truyệnngắn Nguyễn Minh Châu khi nói về những bài học nghệ thuật truyệnngắn của Nguyễn Minh Châu đã nhận xét: “Truyện ngắn của anh thể hiện
Trang 13được tính tầm cỡ của các tình thế đời sống bộc lộ những vấn đề căn cốt củacon người” [30, 229].
Tôn Phương Lan là người đã có quá trình theo dõi và đã viết nhiều bàinghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Minh Châu Trong công trình Phongcách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu của mình, ở chương 4 khi nói vềthành quả bước đầu của sự tìm tòi đổi mới trong giọng điệu và ngôi ngữ, tácgiả viết: “Bức tranh đã thể hiện sự thay đổi sớm và rõ nhất về giọng điệutrong sáng tác của ông” và “Nguyễn Minh Châu là nhà văn rất có ý thức trongviệc nâng cấp nghệ thuật cho những tác phẩm của mình Văn ông giàu hìnhảnh với từ ngữ trau chuốt, sống động và kết cấu câu đa dạng” [37, 163 - 183]
Đề cập đến vấn đề thi pháp, Trịnh Thu Tuyết trong bài Một số cốttruyện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đã đưa ra kết luận:
“cốt truyện được nới lỏng chủ yếu dựa trên những xung đột tâm lý chồngchéo, không mở đầu, không có cao trào, cũng không có kết thúc, tựa dòngchảy “tự nhiên, nhi nhiên” của cuộc sống vốn luôn tồn tại cùng những mâuthuẫn, những xung đột vĩnh cửu… Nguyễn Minh Châu đã góp thêm nhữngtruyện ngắn có giá trị vào nền văn học nước nhà, góp phần đưa văn học vềgần với cuộc đời, với con người” [27, 383]
Đi sâu hơn vào từng tác phẩm cụ thể, các bài viết đã đụng chạm tớinhiều vấn đề về thi pháp, đặc biệt là những truyện được đưa vào dạy ở trườngphổ thông
Trong bài Không gian bến quê và một sự nhận thức đauđớn sáng ngời của con người tác giả Lê Văn Tùng đã nhận xét: “Bếnquê là một truyện ngắn có thi pháp độc đáo… yếu tố thi pháp nổi nhất trongtruyện ngày là không gian nghệ thuật… các yếu tố khác của thi pháp như thờigian nghệ thuật, hệ thống nhân vật, chi tiết nghệ thuật… là các yếu tố cộng
Trang 14hưởng tạo một không gian độc đáo gắn liền với vận mệnh tinh thần văn hoácủa nhân vật chính: anh Nhĩ” [27, 194].
Nguyễn Thanh Hùng khi bàn về Cái đẹp và cái hay của Mảnhtrăng cuối rừng, tạp chí Văn nghệ quân đội, số 1 - 1994 đã viết: “nênquan tâm đến thi pháp kể và hãy bắt đầu với phương thức kể… mỗi yếu tố thipháp trong phương thức kể đều thể hiện kết quả tìm tòi nghệ thuật đầy sángtạo của Nguyễn Minh Châu [28]
Cùng bàn về Vẻ đẹp Mảnh trăng cuối rừng tác giả Nguyễn VănLong lại đi vào nhấn mạnh tựa đề của tác phẩm, theo tác giả: “Đọc vàotruyện, mới càng thấy là Nguyễn Minh Châu đã tìm cho truyện một cái tựa
đề đích đáng, không rõ cái tên ấy đến trước hay chỉ đến sau khi truyện đãhoàn thành, nhưng nó đã có như là không thể nào khác được, không thể nàođúng hơn” [44, 149]
Quan tâm đến vấn đề thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,chúng tôi đã được thừa hưởng kết quả nghiên cứu của những người đitrước Với đề tài "Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giaiđoạn sáng tác trước và sau 1975" chúng tôi hy vọng sẽ đem đến một cáinhìn bao quát hơn về tài năng cũng như đóng góp của nhà văn đối với nềnvăn học nước nhà
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn sáng táctrước 1975 và sau 1975
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Các tập truyện ngắn đã xuất bản của Nguyễn Minh Châu, bao gồm :
- Những vùng trời khác nhau (Nxb Văn học, 1970)
Trang 15- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nxb Tác phẩmmới, 1983)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định vị trí truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong nền truyệncách mạng Việt Nam sau 1954
4.2 Phân tích những đặc điểm thi pháp của truyện ngắn Nguyễn MinhChâu trước 1975
4.3 Làm sáng tỏ sự đổi mới của thi pháp truyện ngắn Nguyễn MinhChâu sau 1975
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương phápnghiên cứu sau: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháploại hình, phương pháp so sánh
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1 Vị trí truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong nền
truyện ngắn các mạng Việt Nam sau 1954
Trang 16Chương 2 Đặc điểm thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu trước 1975Chương 3 Sự đổi mới của thi pháp truyện ngắn Nguyễn Minh
1.1.1 Điều kiện chính trị - xã hội
Sau hiệp định Giơnevơ 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bắtđầu cuộc sống lao động, khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh và bắttay vào xây dựng CNXH đồng thời làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyếnmiền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà Trong quá trình tiến lên CNXHchúng ta đã gặp không ít khó khăn bởi gánh nặng của lối làm ăn nhỏ, phân tán
và những di hại của chiến tranh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III củaĐảng (9/1960) đã vạch rõ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Namlúc này là tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc và tiếp tục cuộc cáchmạng dân tộc dân chủ ở miền Nam Mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam
là hoà bình, độc lập, thống nhất và xây dựng thành công XHCN Tại đại hội,Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng và Nghị quyết đại hộikhẳng định: “đi đôi với cuộc cách mạng XHCN về kinh tế cần phải đẩy mạnhcuộc cách mạng XHCN về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật” và văn nghệ giữmột vị trí quan trọng trong cuộc cách mạng này Công tác văn học nghệ thuậtphải phục vụ đắc lực sự nghiệp của Đảng
Trang 17Văn học là một hình thái ý thức xã hội, tất nhiên phải gắn liền với xãhội cụ thể trong đó nó xuất hiện Do đó văn học một dân tộc phải gắn liền vớilịch sử dân tộc ấy Văn học Việt Nam cũng vậy nhưng ở nước ta tình hình cónhững nét đặc biệt nên văn học lại càng gắn chặt với lịch sử dân tộc và đó làđặc điểm có tính quy luật trong lịch sử phát triển của văn học nước ta.
1.1.2 Điều kiện thẩm mỹ
Văn học nghệ thuật và chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mộttác phẩm ra đời phải đại diện cho quan điểm thẩm mỹ của một thời kỳ lịch sửnhất định, một bộ phận xã hội nhất định, xuất phát từ ý thức chính trị nhấtđịnh Bởi vậy giá trị tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào vấn đề khi sáng tác,nhà văn bị chi phối bởi ý thức chính trị nào, tiến bộ hay lạc hậu
Với ưu thế gọn nhẹ, nắm bắt nhanh các vấn đề nhạy cảm của cuộcsống, thể loại truyện ngắn đã nhanh chóng khẳng định vị trí quan trọng củamình trong nền văn học dân tộc Truyện ngắn giai đoạn trước 1945 đã để lạinhững cống hiến to lớn về mặt phản ánh xã hội, các cây bút truyện ngắn giaiđoạn này đã phản ánh một cách toàn vẹn, sâu sắc bộ mặt xã hội thực dânphong kiến Một xã hội đen tối, thối nát, lỗi thời và đầy rẫy bất công Đờisống nhân dân đói khổ lầm than Trong các tác phẩm của mình, các nhà văn
đã phê phán mạnh mẽ xã hội thực dân phong kiến, đề cập tới khá nhiều thânphận của những người tri thức tiểu tư sản nghèo Mặc dù không đến nỗi cơcực như cuộc sống của người nông dân nhưng số phận của họ cũng đầy trắctrở, khó khăn Truyện ngắn trước 1945 không những có giá trị to lớn về mặtnội dung, xây dựng nên một bức tranh muôn mặt, đa dạng về hiện thực xã hộiđương thời mà còn đạt được những thành tựu rất to lớn về mặt nghệ thuật.Các cây bút có tên tuổi như: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, VũTrọng Phụng đã có nhiều cách tân mới mẻ về mặt thể loại
Sau 1945 truyện ngắn cũng đã gặt hái được nhiều thành công Ở giaiđoạn này sáng tạo nghệ thuật đối với các nhà văn là nhằm để nâng cao đời
Trang 18sống tinh thần, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho nhân dân để cổ vũ sứcngười, sức của cho kháng chiến Quan niệm văn nghệ hướng về đại chúng đãgiúp cho nền văn nghệ chúng ta phát hiện, bồi dưỡng những người cầm búttrưởng thành từ phong trào văn nghệ quần chúng, đặc biệt là các lực lượngsáng tác trong quân đội.
Đường lối văn nghệ của Đảng đòi hỏi các nghệ sỹ phải bám sát vớithực tiễn cuộc sống của nhân dân Ở mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng đềuđặt ra những yêu cầu cụ thể cho văn nghệ sỹ Sau cách mạng tháng Tám vàcuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng nhấn mạnh lập trường dân tộc, dânchủ nhân dân và lập trường kháng chiến, yêu cầu văn nghệ sỹ sáng tác phục
vụ cuộc chiến đấu theo phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng Nhưng
từ khi miền Bắc được giải phóng bước vào xây dựng cách mạng xã hội thìyêu cầu của người cầm bút phải đặt cao hơn: yêu nước gắn liền với CNXH,tác phẩm phải đạt tới tính Đảng và phải được sáng tác theo phương pháphiện thực XHCN
Để đạt tới sự thống nhất nói trên, Đảng đặc biệt quan tâm tới việc rènluyện, bồi dưỡng tư tưởng cho văn nghệ sỹ Thông qua những cuộc đấu tranh
tư tưởng, những cuộc học tập chính trị và những cuộc đi thực tế để “cách mạnghóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt” và cứ sau mỗi đợt đi thực tế như vậynền văn học thường gặt hái được nhiều tác phẩm mới phù hợp với thực tiễn đờisống và đáp ứng được yêu cầu cách mạng trong công cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc Nằm trong hệ thống những yêu cầu nghiêm ngặt như vậy nên văn họcnước ta đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dântộc
Bên cạnh sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm đầu của văn họccách mạng, người đọc Việt Nam đã tiếp cận với những tác phẩm xuất sắc củanhân loại, một số nhà văn Việt Nam đã chịu sự tác động, chi phối của văn học
Trang 19dịch ở các nước XHCN với những tác giả như: Solokhov, Paustovski mỗinhà văn tiếp cận và chịu sự ảnh hưởng theo những khuynh hướng riêng.
Trong hoàn cảnh và điều kiện như thế nền văn học Việt Nam đã từngbước đi lên phát triển, khẳng định vai trò của mình trong đời sống văn họccũng như trong sự nghiệp chung của đất nước
1.2 Những thành tựu của truyện ngắn cách mạng Việt Nam sau 1954
1.2.1 Sự hình thành một đội ngũ các cây bút truyện ngắn chuyên nghiệp
1.2.1.1 Đội ngũ các cây bút truyện ngắn thành danh trước cách mạng
Thời kỳ từ 1930 đến 1945, nền văn học Việt Nam được hiện đại hóasâu sắc và toàn diện, tạo thành một cuộc cách mạng lớn trong lịch sử văn họcdân tộc Làm nên cuộc cách mạng ấy là thế hệ tri thức Tây học - những người
có sự thức tỉnh ý thức cá nhân mãnh liệt, giàu lòng nhiệt tình với việc xâydựng nền văn học, văn hóa dân tộc Do ý thức cá nhân được thức tỉnh sâu sắcnên những người cầm bút đều có sự tìm tòi riêng trong tư tưởng và phongcách nghệ thuật Nhiều cá tính, nhiều phong cách sáng tác và nhiều xu hướng
tư tưởng đã xuất hiện Vì vậy đời sống văn học trở nên sôi nổi, đa dạng và đạtđược nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực cả thơ và văn xuôi Đặc biệt làtruyện ngắn đã phát triển và gặt hái được những thành quả rõ nét Các cây búttruyện ngắn sáng tác theo nhiều khuynh hướng khác nhau đã làm nên mộtdiện mạo đa dạng, phong phú cho văn học giai đoạn này Tên tuổi của nhữngnhà văn như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tô Hoài,Nguyên Hồng, Bùi Hiển, Khái Hưng, Thạch Lam, mãi mãi được in đậmtrong lịch sử văn học
Sau 1954, số cây bút truyện ngắn thành danh trước cách mạng vẫn tiếptục sáng tác còn lại không nhiều lắm, tuy vậy, họ luôn được vị nể và có những
Trang 20sáng tác mới có giá trị Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Khái Hưng, NamCao, đã mất nhưng những tác giả như Nguyên Hồng, Tô Hoài, Bùi Hiển,Kim Lân vẫn viết đều, viết khỏe Chính họ đã tạo được một chiếc cầu nốigiữa truyện ngắn của giai đoạn trước với truyện ngắn của giai đoạn này Từngngười một đều có những biến đối để thích ứng với thời đại văn học mới, vớiquan điểm sáng tác mới hướng về đại chúng, phục vụ sát sườn, kịp thời chonhững mục tiêu cách mạng Trong số sáng tác của thế hệ nhà văn này, có
những tác phẩm xứng đáng được xem là kiệt tác như Làng, Vợ nhặt của Kim
Lân Một số tác phẩm của Bùi Hiển cũng được xem là những truyện ngắnmẫu mực, thể hiện một kỹ thuật viết già dặn
1.2.1.2 Đội ngũ các cây bút truyện ngắn trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là một bước ngoặt vĩ đạitrong lịch sử dân tộc ta Nhưng liền sau đó, đất nước ta, nhân dân ta bước vàomột cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm gian khổ Trong bối cảnh của cáchmạng và chiến tranh, văn học nghệ thuật được coi là một mặt trận bên cạnhcác mặt trận kinh tế, chính trị Mỗi nhà văn được tôn vinh là một chiến sĩtrong sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do Với phương châm “dân tộc hóa và đạichúng hóa” lần đầu tiên nền văn học kháng chiến phát triển với một đội ngũvăn nghệ sỹ kiểu mới đứng bên cạnh các nhà văn thuộc thế hệ trước cáchmạng Hầu hết lực lượng viết trẻ này đều gắn bó sâu nặng với dân tộc, đoànkết vì lợi ích của Tổ quốc Họ là những công nhân, nhà giáo, anh bộ đội cụHồ… do đòi hỏi của cách mạng và kháng chiến họ đã biết cách cầm bút và từcầm bút họ trở thành những nhà văn - chiến sĩ Lực lượng mới này tuy trưởngthành từ sau cách mạng nhưng họ đã khẳng định được vị trí của mình trongkhả năng đáp ứng các yêu cầu cụ thể của cách mạng, kháng chiến Yêu cầubám sát vào hiện thực cách mạng để nói được cái mới một cách đúng và sâu
Trang 21Với tài năng và tâm huyết của mình họ đã vượt lên để phản ánh hiện thựckháng chiến đầy gian lao nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc, để thể hiện tìnhyêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc Đó cũng chính là cơ sở cho tahiểu chủ trương đào tạo văn nghệ sĩ trong hàng ngũ công - nông - binh là mộtkhâu quan trọng trong đường lối văn nghệ của Đảng.
Trong đội ngũ những nhà văn giai đoạn này đáng chú ý trước hết lànhững người lính như: Trần Đăng, Hồ Phương, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc,
… họ cùng đi chung trên một con đường và đều nhất trí ở cùng một phươngpháp sáng tác - phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa Họ đều cùng nhất trítrong một mục tiêu chung lấy nghệ thuật làm phương tiện để phục vụ khángchiến
Cầm bút, cầm súng cùng dân tộc đi vào kháng chiến cứu nước, các nhàvăn luôn có một băn khoăn làm thế nào để các tác phẩm viết ra phải hướng vềđại chúng, hướng về công - nông - binh Dưới ánh sáng của phương châm đạichúng hóa, của khẩu hiệu hành động “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúnghóa sinh hoạt”, các nhà văn náo nức đi vào cuộc sống đến các chiến trường,dứt bỏ việc xa dân để sáng tác kịp thời những tác phẩm phục vụ cho nhân dânlao động
Với phương châm đại chúng hóa, nền văn học chống Pháp nói chung
và văn xuôi chống Pháp nói riêng đã làm một cuộc chuyển đổi căn bản so vớivăn học trước năm 1945 ở tính nhân dân và tinh thần dân chủ Sáng tạo nghệthuật đối với họ là nhằm để góp phần nâng cao đời sống tinh thần, bồi dưỡngtâm hồn, tình cảm cho nhân dân để cổ vũ động viên sức người, sức của chokháng chiến Cũng chính với quan niệm văn nghệ hướng về đại chúng đã giúpcho nền văn nghệ chúng ta phát hiện, bồi dưỡng những người cầm bút trưởngthành từ phong trào văn nghệ quần chúng, đặc biệt là các lực lượng sáng táctrong quân đội
Trang 22Những năm sau 1954 là thời kỳ sáng tác sung sức của thế hệ nhà vănnày Nếu trong thời kháng chiến chống Pháp, thành tựu của họ còn mỏng vàthưa thớt thì đến bây giờ, những sáng tác của họ là bộ phận quan trọng bậc
nhất làm nên thành tựu của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ mới Cỏ non của
Hồ Phương, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Rẻo cao của Nguyên Ngọc luôn
được nhắc tới như những thành tựu nổi bật của thế hệ nhà văn vốn đã có chút
ít vốn liếng văn học hình thành trong kháng chiến chống Pháp
1.2.1.3 Đội ngũ các cây bút truyện ngắn trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ
Cuộc sống sau 1954 chuyển sang một bước ngoặt mới đã tạo nhữngtiền đề khách quan cho sáng tác văn học Lớp nhà văn xuất hiện và trưởngthành trong kháng chiến chống thực dân Pháp nay đã định hình và đóng vaitrò chủ chốt trong đời sống văn học Trước đây do yêu cầu của thực tế và khảnăng của nhà văn nên truyện ngắn chỉ tập trung vào một số những đề tài chủyếu thì bây giờ trong điều kiện mới nhà văn đã có thể vươn lên xây dựngnhững bức tranh cuộc sống rộng rãi, nhiều vẻ và sự mở rộng phạm vi đề tài đãthu hút được nhiều cây bút
Nếu trong thời kỳ chống Pháp địa bàn hoạt động của văn học cách mạngthu hẹp ở một số vùng tự do ở nông thôn và rừng núi, đội ngũ nhà văn chuyênnghiệp mỏng manh, thì đến giai đoạn chống Mỹ văn học đã có một sự chuyểnbiến lớn Đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp phát triển đông đảo hơn và trưởngthành hơn Công chúng được mở rộng, trình độ văn hóa thẩm mỹ được nângcao, vì thế văn học chuyên nghiệp và văn học quần chúng cùng phối hợp tiếpsức cho nhau phát triển tạo thành một đội ngũ nhà văn hùng hậu như: NguyễnKiên, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Đỗ Chu, Vũ Thị Thường, Nguyễn Thị NhưTrang, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Trung Trung Đỉnh Các nhàvăn đã hăm hở vào những nơi nóng bỏng của Tổ quốc Họ đi tìm nguồn cảmhứng sáng tạo trong chiến đấu, trong lao động Đồng thời họ vừa lao động, vừa
Trang 23chiến đấu lại vừa sáng tạo nghệ thuật Hay nói cách khác đó là những ngườinghệ sỹ- chiến sỹ mang trên mình hai nhiệm vụ lớn lao Do vậy hơn ai hết họchính là những người phản ánh chân thực nhất khí thế hào hùng của dân tộc.
1.2.2 Sự bao quát toàn diện mọi vấn đề của đời sống
1.2.2.1 Phản ánh kịp thời những sự kiện lớn của đất nước
Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) và Hiệp định Genève về đìnhchiến ở Đông Dương (20-7-1954) như một nét gạch nối giữa hai thời kì pháttriển của lịch sử dân tộc Kết thúc chín năm kháng chiến chống Pháp, chúng
ta bước vào công cuộc xây dựng CNXH
Cách mạng XHCN là cuộc cách mạng sâu rộng triệt để nhất trong lịch
sử Nó làm thay đổi toàn bộ cơ sở xã hội, phá bỏ chế độ cũ, xây dựng xã hộimới về nhiều mặt, thay đổi quan hệ sản xuất, giải phóng đời sống tinh thần củacon người… làm cho con người phát triển toàn diện và có sự biến đổi về chất,
từ thân phận nô lệ thành người tự do Vì vậy viết về đề tài xây dựng CNXH cácnhà văn đã chú ý tới tính chất toàn diện triệt để của cuộc cách mạng này vàtrình bày trong tác phẩm một cách sinh động đa dạng Những tác phẩm viết vềthời kỳ xây dựng CNXH đặc biệt là thời kỳ xây dựng hợp tác hóa nông nghiệp
như: Hãy đi xa hơn nữa (Nguyễn Khải), Đồng tháng năm (Nguyễn Kiên), Con trâu bạc (Chu Văn)… không chỉ bám sát hiện thực xây dựng CNXH, phản ánh
cuộc đấu tranh giữa hai con đường đang diễn ra quyết liệt, đa dạng ở nông thôn
từ mà còn giải quyết được nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn trong quátrình đưa nông thông từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, chuyển người nông dân
từ vị trí làm chủ cá thể sang cương vị làm chủ tập thể
Có thể nói công cuộc xây dựng CNXH diễn ra sôi nổi trên mọi lĩnh vựccủa đời sống, ở khắp mọi miền của Tổ quốc, vì vậy các nhà văn có nhiều điềukiện và khả năng để mở rộng vấn đề và phạm vi phản ánh Những vấn đề về
Trang 24nhà máy, hầm mỏ, nông trường … được xem là những loại đề tài mới và lớnđối với các nhà văn
Yêu cầu thể hiện tính chất gắn bó ruột thịt Bắc - Nam và niềm mongmuốn thống nhất nước nhà của toàn dân đã được nhiều nhà văn quan tâmphản ánh Giai đoạn này bên cạnh những sáng tác viết về miền Nam và khángchiến chống Pháp thì một số tác phẩm đã đi thẳng vào cuộc sống của nhândân miền Nam dưới ách Mỹ - Diệm và phong trào đấu tranh đòi thống nhấtđất nước Những truyện ngắn của Giang Nam, Phan Tứ và nhiều tác giả khác
đã thể hiện được tấm lòng kiên trinh, thủy chung với cách mạng của nhân dânmiền Nam trong những năm còn sống dưới ách kìm kẹp của Mỹ - ngụy Cáctác phẩm đã phản ánh được khí thế vùng lên của miền Nam trong những ngàyđồng khởi, sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng của cách mạng miền Nam và
bộ mặt bối rối, hoang mang của kẻ thù Một số tác giả đã bắt đầu chú ý tới sựchuyển động bên trong con người nên đã xây dựng được nhân vật có chiềusâu nội tâm và sự vận động để phù hợp với quá trình phát triển của đời sống
1.2.2.2 Khám phá chân dung tinh thần con người Việt Nam trong thời đại cách mạng
Từ sau ngày toàn quốc kháng chiến, khi ý thức kháng chiến đã thànhmột nếp sống, khi hiện thực phản ánh đã chuyển thành vốn sống của các nhàvăn, để phản ánh đời sống xã hội lịch sử và hướng vào thể hiện quần chúngnhân dân, các nhà văn đã tập trung đi vào phản ánh, khám phá chân dung tinhthần con người Việt Nam trong thời đại cách mạng, khác hẳn với cách nhìn vềcon người trong văn học trước năm 1945 Con người lúc này được thể hiệnvới tư cách công dân, được đặt vào giữa dòng chảy của lịch sử, vào nhữngbiến cố của đời sống xã hội Lúc này số phận và con đường đi của con ngườihoàn toàn thống nhất với vận mệnh và con đường đi của giai cấp và cả dântộc Con người sống hòa nhập vào cách mạng, vào kháng chiến, sống cùng
Trang 25một nhịp với dân tộc, với tình cảm cộng đồng rộng lớn, với những biến cố củalịch sử.
Trong truyền thống của công xã nông thôn ngày xưa, người nông dânrất gắn bó với làng, với quê hương Ai bị cắt khỏi mối quan hệ với làng xã đểtrở thành người dân ngụ cư thì đó là cả một bi kịch với muôn vàn nỗi khổ.Vốn là lớp dân nghèo lại thêm thân phận ngụ cư, họ phải chịu thêm nhiều sức
ép của những thói quen và thành kiến Nhưng chuyển vào đời sống cáchmạng, rồi kháng chiến nổ ra họ đã trở thành những người nông dân yêu nước
Tác phẩm Làng của Kim Lân là một trong số những tác phẩm tiêu biểu thể
hiện được tinh thần của con người Việt Nam trong thời đại cách mạng Tácgiả đã tinh tế khẳng định được những nét mới bên trong và gương mặt tinhthần của người nông dân Tác giả đã xây dựng thành công được hình ảnh mộtông Hai với những nét mới trong phẩm chất người nông dân kháng chiến: đưatình yêu làng lên tình yêu đất nước, gắn tình yêu làng với tình yêu cách mạng.Nếp sống đó là một vẻ đẹp tinh thần mới mà Kim Lân đã rất tinh tế khai thácđược Có thể nói truyện ngắn này là thành công đầu tiên của Kim Lân cũngnhư của văn xuôi viết về người nông dân kháng chiến Trong truyện tâm lýcủa nhân vật đều được cá thể hóa, nhân vật ông Hai có những nét tâm lý kháđiển hình cho những nông dân yêu nước trong những năm đầu kháng chiến
Bước vào kháng chiến, ánh sáng giai cấp đã giúp cho các nhà văn cócách nhìn đúng Từ cách nhìn đó đã làm chuyển biến tình cảm cũng như cáchnhìn đưa tác phẩm đi vào quỹ đạo với sự miêu tả con người trong bản sắc giaicấp và lịch sử của đời họ
1.2.3 Sự hoàn thiện thi pháp thể loại và hình thành một phong cách thời đại trong truyện ngắn
1.2.3.1 Sự hoàn thiện thi pháp thể loại trên các phương diện cấu tứ, xây dựng nhân vật và ngôn ngữ
Trang 26Viết về chiến tranh các tác giả thường viết theo tứ dựa trên sự đối lậpgiữa hai quyết tâm: quyết tâm của kẻ thù muốn huỷ diệt môi trường sống, huỷdiệt cách mạng và quyết tâm của ta vượt lên gian khổ đòi lại non sông, đòi lạiquyền sống Những truyện của Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, NguyễnTrung Thành… đều thể hiện ở tứ này.
Viết về chiến tranh chống Mỹ hình ảnh miền Nam xuất hiện đầu tiên,
đó là những cảnh đau thương đến tột cùng mà nhân dân ta phải chịu đựng.Tìm đến cách mạng từ trong cái thiếu thốn của kẻ bị tước đoạt và cụ thể hơn
từ trong máu và nước mắt nhân dân đã quyết tâm đứng lên đấu tranh chống lại
kẻ thù
Trong truyện ngắn Rừng xà nu tác giả Nguyễn Trung Thành đã đặt làng
Xô Man trong tầm đại bác của giặc cũng có nghĩa là trong tầm huỷ diệt củabom đạn Chúng tưởng làng Xô Man sẽ bị nghiền nát dưới bom đạn nhưnglàng vẫn sống, vẫn hoạt động cách mạng, các thế hệ từ già tới trẻ vẫn nối tiếp
nhau làm cách mạng giống như Rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời.
Sự vùng dậy của đồng bào miền Nam thật ghê gớm vì chúng xuất phát từnhững người con ra đi với tư thế trả thù Ở họ đau thương gắn với căm thù vàcăm thù gắn với quật khởi Căm thù đã biến sức mạnh đấu tranh thành khí thế
đi lên của cách mạng Trong tác phẩm Rừng xà nu, lòng căm thù của Tnú thật
quyết liệt khi anh đứng trước thằng Dục - kẻ đã hành hạ vợ anh, nó đã choanh sức mạnh để tiêu diệt kẻ thù bằng chính đôi tay bị cụt mười ngón dothằng Dục đốt cháy bằng giẻ tẩm nhựa Xà Nu Đó cũng chính là mối thùtruyền kiếp của người nông dân đối với bọn đế quốc xâm lược và bọn phongkiến phản động với tình yêu làng, yêu nước họ sẵn sàng hy sinh tất cả
Trong truyện ngắn Đất của Anh Đức, hình ảnh ông Tám Xẻo Đước
không chịu khuất phục trước kẻ thù, mặc dù bị tên thiếu uý bắn nhưng mũimác của ông vẫn hướng thẳng tới Không chịu nổi cảnh kinh hoàng nó phải
Trang 27rú lên té chạy Ở ông Tám Xẻo Đước đó không còn là chuyện của một cánhân mà là sự vùng dậy của Đất, của những người nông dân Nam Bộ nghĩakhí can trường
Bản chất kẻ thù là tàn bạo, hiểm ác Chúng đã dùng mọi thủ đoạn, âm
mưu để phá vỡ hệ thống cơ sở của cách mạng ta Trong Quán rượu người câm
(Nguyễn Quang Sáng) nhà văn đã sáng tạo ra sự xung đột gay gắt giữa anh baHoành với kẻ thù Tình huống truyện thật hấp dẫn, ly kỳ, một người cộng sản
bị tra tấn cực hình đến phải giả câm và anh đã diễn vai kịch của mình thậtthành công Xung đột ở đây chính là sự va chạm giữa ta và địch, cuộc đấu tranhvới kẻ thù gay gắt, quyết liệt không phải bằng tiếng súng đối diện với nhau trênchiến trường mà bằng mưu trí và sự khôn khéo thông minh
Sau 1954 hoà bình được lập lại, miền Bắc tiến hành xây dựng CNXHvới một niềm tin tưởng và sự hứng khởi sâu sắc, bộ mặt đất nước đã dần dầnthay đổi, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp được tiến hành rầm rộ Nhiềucông trường, nông trường mọc lên mời gọi trái tim, khối óc của người laođộng Thực tế cuộc sống ấy đã tạo nguồn cảm hứng cho nhiều tác giả, các nhàvăn tập trung vào đề tài xây dựng CNXH và xoay quanh tứ về sự đối lập giữacon đường làm ăn tập thể và cá thể, giữa cái riêng và cái chung Dù cuộc sốngban đầu có khó khăn, bế tắc nhưng sống trong môi trường tập thể, được sự dìudắt của Đảng, của lối làm ăn mới nên kết thúc bao giờ cũng mở rộng vòng taynhân ái để giải quyết bất hạnh, cô đơn, đem lại hạnh phúc cho con người
Trong tập truyện Mùa lạc (Nguyễn Khải), nhà văn đã phản ánh được
một cách thành công bản chất tốt đẹp của xã hội mới Những nhân vật trongtập truyện tuy mỗi người có một cuộc sống, một số phận riêng nhưng đều cómột đặc điểm rất giống nhau là tìm được niềm vui, sự tin yêu nơi môi trườngmới Cũng qua đó nhà văn đã đem đến cho người đọc một niềm tin ở nhữngđiều tốt đẹp của cuộc sống lao động tập thể - nơi mà mọi người đang sống và
Trang 28háo hức xây dựng Chẳng hạn trong Tầm nhìn xa Nguyễn Khải đã tập trung
miêu tả sự đối lập giữa cái chung và cái riêng qua hai nhân vật Tuy Kiền vàBiền Biền là một cán bộ xã tích cực, luôn hết mình vì tập thể, không bao giờmàng đến lợi ích cá nhân còn Tuy Kiền là người có lối làm ăn khôn khéo, dèxẻn Sự đối lập này đã giúp nhà văn nhận ra những hạn chế của những conngười trong cuộc sống mới, phản ánh được những mâu thuẫn nảy sinh trênbước đường phát triển nông thôn những năm đầu đổi mới Qua nhân vật TuyKiền, Nguyễn Khải đã làm được cái điều quan trọng của văn nghệ sỹ thời kỳnày là cổ vũ cho sự nghiệp cách mạng mới của dân tộc và đồng thời cũngmạnh dạn phanh phui chủ nghĩa cá nhân đang tồn tại và phát triển Vấn đềchủ nghĩa cá nhân còn được nhà văn đề cập và phản ánh qua một số nhân vật
như Khôi (Chuyện người tổ trưởng máy kéo), Giao (Một cặp vợ chồng), Nam (Hãy đi xa hơn nữa)…
Có thể nói, chính sự hoàn thiện cấu tứ sau 1954 cho nên tác phẩm dùđược viết bởi nhiều tác giả khác nhau nhưng đều có dáng dấp chung của thờiđại mà ta rất dễ nhận ra Cùng với việc hoàn thiện thể loại ở phương diện cấu
tứ thì xây dựng nhân vật cũng là một phương diện được các nhà văn thời kỳnày đặc biệt chú ý
Truyện ngắn sau 1954 đã xuất hiện rất nhiều những nhân vật đáng nhớ
mà khi nhắc đến nhân vật người ta nghĩ ngay đến nhà văn như: Tràng (Vợ nhặt), Đào (Mùa lạc), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng)… chính xuất phát từ
cá tính sáng tạo của nhà văn mà nhân vật ngày càng trở nên phong phú và đadạng trong tác phẩm Ở truyện ngắn sau 1954 các nhà văn rất chú ý đến việckhắc hoạ tính chất điển hình của nhân vật, vì thế qua nhân vật ta không chỉthấy được cái riêng mà ta thấy nó còn đại diện cho một tầng lớp, một lựclượng trong xã hội chẳng hạn: nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khảithường đại diện cho một loại người, một tầng lớp người, một lực lượng xã hội
Trang 29nhất định: Đào (Mùa lạc), Tấm (Đứa con nuôi), Thoa (Chuyện người tổ trưởng máy kéo)… đại diện cho một lớp người bất hạnh trong chế độ cũ nay tìm thấy niềm tin, lẽ sống nơi chế độ mới tốt đẹp; Biền (Tầm nhìn xa) đại diện
cho lớp cán bộ sống hết mình vì tập thể, vì lợi ích chung mà sẵn sàng hy sinh
những quyền lợi cá nhân; đối lập với nhân vật Biền là Tuy Kiền (Tầm nhìn xa), Khôi (Chuyện người tổ trưởng máy kéo) đại diện cho kiểu người luôn
đưa lợi ích của bản thân lên trên hết Tuy Kiền làm phó chủ nhiệm hợp tác xãnhưng vẫn tìm cách tư lợi Từ việc ông lúc đầu tìm cách rất trẻ con để ngăncản công trường xây dựng cạnh xã đến khi nhìn ra mối lợi thì ông ta lợi dụngtriệt để, đầu têu Tuy Kiền là người “tinh khôn nhưng rất dỗi thơ ngây, tínhtoán chi li nhưng trong quan hệ với bạn bè lại rất hồ hởi” Ông tha thẩn khắpmọi xó xỉnh nhòm ngó, xem xét, xin xỏ từ đôi ủng đã rách mũi đến đoạn dâythép, mẫu gỗ… ông làm nhiều việc cho hợp tác xã nhưng tự cho mình có
quyền “ghé gẩm chút ít cho mình” Còn Cừ, Quang, Nông Kí Lâm, (Đứa con nuôi) tiêu biểu cho kiểu người cộng sản với tấm lòng nhân hậu, sống có trách
nhiệm với những người xung quanh mình
Và nếu Nguyễn Khải tập trung xây dựng những nhân vật điển hình đạidiện cho một tầng lớp người đang hào hứng đi vào xây dựng cuộc sống mớitheo con đường XHCN thì những nhà văn như Anh Đức, Nguyễn Thi lại đivào tập trung xây dựng loại hình nhân vật sống đời sống cộng đồng, ở đónhững con người sống hết mình vì lý tưởng độc lập tự do với sự nghiệp bảo
vệ quê hương đất nước và thành quả cách mạng Họ có những lo toan vất vả,những vui sướng tự hào chung của Tổ quốc như: những người đàn bà trong
xóm nhỏ (Chuyện xóm tôi), mẹ con chị út Tịch (Mẹ vắng nhà), Việt và Chiến (Những đứa con trong gia đình) của Nguyễn Thi, hay Quế (Khói), chị Ba tương lai (Xôn xao đồng nước) của Anh Đức… là những nhân vật đang náo
nức tham gia các trận đánh, hoà mình trong không khí chiến đấu của cả nước
Trang 30Góp vào sự hoàn thiện thi pháp thể loại ở phương diện xây dựng nhânvật, nhà văn Nguyễn Quang Sáng lại tập trung xây dựng nhân vật tiêu biểucho cộng đồng, xả thân cho cách mạng, cho quần chúng Ở loại nhân vật nàytrước hết được biểu hiện ở sự tự nguyện đặt lợi ích cách mạng lên trên đời
sống cá nhân mà nổi bật là hình tượng nhân vật của ông Năm Hạng (Ông Năm Hạng), ông Ba Đạt (Người quê hương), anh Ba Hoành (Quán rượu người câm), ông già Sa Thét (Vợ chồng ông già Sa Thét), họ là những người
chấp nhận hi sinh danh dự, tình cảm, sức lực, của cải, thậm chí là tính mạngmình vì thắng lợi chung
Như vậy việc tập trung, khắc hoạ, làm nổi bật tính chất điển hình củanhân vật đã được các tác giả quan tâm thể hiện trong những sáng tác của mình
ở giai đoạn sau 1954, nhưng không chỉ dừng lại ở đó, truyện ngắn giai đoạnnày còn được các nhà văn chú ý trong việc khắc hoạ tính chất cá biệt của nhânvật
Trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành khi xây dựng
nhân vật Tnú, nhà văn không chỉ chú ý đến việc khắc hoạ tính chất điển hìnhcủa nhân vật Tnú mà nhà văn còn tập trung đi vào khắc hoạ tính chất cá biệtcủa nhân vật này ở chi tiết: Tnú học chữ nhưng học không vào, tự đập đầuhành hạ mình và khi bị kẻ thù tra tấn đốt 10 ngón tay bằng dầu Xà Nu cũng
không la thét, hay Mì trong Bông Cẩm Thạch (Nguyễn Quang Sáng) có thể từ
bỏ tình mẫu tử nếu mẹ theo giặc phản bội lại cha, phản bội lại quê hương.Trong một trận đánh lớn cánh quân của địch dùng hơi độc đánh vào góc phốcạnh bên cô, khi một chiến sĩ ngã xuống Mì nhanh nhẹn lấy khăn tẩm nước, bịtmũi lao vào giết hàng loạt tên giặc và dùng pháo đánh tan một đội thuỷ quânlục chiến sau đó cô còn vượt tường dưới tầm bắn của giặc định tấn công chúngnhưng không may bị thương, dù ba miếng đạn làm nát bắp gối cô, cô vẫn khẩnthiết yêu cầu chỉ huy cho mình tiếp tục dẫn đường cho quân ta tiến công
Trang 31Trong Chuyện người tổ trưởng máy kéo để tô đậm tính ích kỷ - một
biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở nhân vật Khôi, Nguyễn Khải đã tô đậm quámức tính cách của nhân vật này ở một số chi tiết như Khôi không tin ai vàcũng chẳng hiểu ai nên anh cứ tưởng cô Thoa là một cô gái lẳng lơ, khôngđoan chính và từ đó anh tìm cách lợi dụng một cách trơ tráo
Với những cử chỉ, hành động, chi tiết độc đáo của các nhân vật đã khắcđậm trong trí nhớ người đọc Điều đó cũng có nghĩa là các nhà văn đã có sựhoàn thiện thi pháp thể loại ở phương diện xây dựng nhân vật, tạo được ấntượng sâu đậm qua việc khắc hoạ tính chất điển hình của nhân vật và tạo nênđược tính cá biệt ở nhân vật mà văn học giai đoạn trước chưa thể hiện rõ
Ở phương diện ngôn ngữ trong truyện ngắn sau 1954 qua khảo sát một
số tác phẩm của các tác giả như: Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, NguyễnThi, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Minh Châu chúng tôi nhận thấy:
Ở ngôn ngữ người trần thuật đã thành thục, trưởng thành hơn nhiều so vớithời kỳ đầu kháng chiến Ngôn ngữ mang tính toàn dân, trong sáng, có sự chuẩnmực hơn Còn ngôn ngữ nhân vật đã đi theo sát với tính cách của nhân vật
Qua khảo sát có một điều đặc biệt mà chúng tôi nhận thấy là ngôn ngữtruyện ngắn giai đoạn này trong lời của người trần thuật cũng như lời nhân vậtnhững từ chính trị xã hội xuất hiện với một tần số lớn hơn nhiều so với giaiđoạn trước Những từ như: mục tiêu, nhiệm vụ, hội họp, chính phủ, Đảng, tậpthể, cán bộ… xuất hiện nhiều trong tác phẩm, chính vì thế nó tạo nên được cáiriêng cho ngôn ngữ giai đoạn này Do phạm vi của bài viết nên chúng tôi chỉtập trung khảo sát một số tác giả tiêu biểu, trong đó chúng tôi đặc biệt chú ýđến nhà văn Nguyễn Minh Châu Qua khảo sát truyện ngắn của ông chúng tôinhận thấy từ chính trị - xã hội xuất hiện nhiều trong tác phẩm và chủ yếu là đểthể hiện chức vụ của người lính trong quân đội:
Trang 32- Bên một gốc cây măng già mà lá đã rụng xuống thành một lớp dày,đồng chí Vũ trung đội trưởng trao nhiệm vụ cho tôi
(Nhành mai, 7; 14)
- Thận báo với Khai, giọng bí mật: Thế mà làng Tề đấy đồng chí ạ.Đồng chí du kích có tuổi vừa đi với đồng chí là phó bảo an
(Nhành mai, 7; 23)
- Đại đội trưởng An đứng trên thềm nhà đại đội âu yếm nhìn người
chính trị viên vác cày dong trâu ra ngoài cổng doanh trại và nói đùa
(Chuyện đại đội, 7; 58)
- Ở bệnh viện người ta thường nhàn rỗi cho nên chẳng có lý gì câuchuyện người nữ quân y sĩ, một con người luôn luôn chủ động và sống cóchừng mực, rất giỏi chuyên môn, thăm bệnh rất chính xác, lại tận tuỵ bỗng trởthành một bệnh nhân thần kinh
(Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,15, 139)
- Một buổi sáng trong căn hầm hai ngàn bây giờ là cơ sở chỉ huy củatôi, mấy tay trợ lý công binh, trinh sát pháo binh, hoá học mới đến phối thuộcđang thì thào bình phẩm về trận tập kích thậm chí đến cả thầy liên lạc của tôimới bổ sung vào thành cũng góp lời ăn tiếng nói vào trận đánh thất bại Tôiđang ngồi xổm tận trong xó hầm nói chuyện bằng điên thoại với chính uỷtrung đoàn
(Cỏ lau,15; 501)
Nguyễn Minh Châu đã dùng lớp từ chính trị này để thể hiện chức vụcông việc của người lính trong đấu tranh, bảo vệ tổ quốc Còn nhà vănNguyễn Khải lại sử dụng lớp từ chính trị - xã hội để miêu tả cuộc sống và conngười trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc Đọc truyện ngắn củaông ta bắt gặp rất nhiều các từ như: đội trưởng, tổ trưởng, cán bộ, nhiệm vụ,chủ tịch…
Trang 33Không chỉ có Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải mà rất nhiều nhà văn
ở giai đoạn này như: Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Anh Đức… trongmột số tác phẩm chúng tôi đều thấy thấp thoáng một số từ chính trị xã hộixuất hiện
Với việc hoàn thiện thi pháp thể loại trên ba phương diện trên, truyệnngắn sau 1954 đã là một bước tiến và nó tạo cho truyện ngắn thời kỳ này mộtphong cách thời đại riêng
1.2.3.2 Sự hình thành một phong cách thời đại trong truyện ngắn
Đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ vôcùng khốc liệt Trong hoàn cảnh ấy văn học đã phát triển và theo sát từngbước đi của lịch sử Văn học trở thành vũ khí để tuyên truyền chính trị, cổ vũchiến đấu Quần chúng nhân dân trở thành đối tượng chủ yếu cũng đồng thời
là công chúng của văn học Ở giai đoạn này văn học chủ yếu được sáng táctheo khuynh hướng sử thi và cảm hướng lãng mạn Văn học hướng về vấn đềlớn của số phận dân tộc, khơi dậy những tình cảm cách mạng lớn lao Số phận
cá nhân tạm thời bị gác lại trước nhiệm vụ cách mạng chung của đất nước Ýthức của nhà văn có sự thay đổi rõ rệt so với trước kia, họ cũng lao vào cuộcchiến tranh với quan niệm “sống đã rồi hãy viết” Nhiều nhà văn đã thoát khỏi
ý thức về cái tôi nhỏ bé để hướng tới cái ta chung của cộng đồng của dân tộc
Các nhà ở giai đoạn này đều là những người có đóng góp quan trọngđối với đời sống văn học, nghệ thuật của thời đại Họ là những con người cótài năng, có tâm huyết, luôn có khát vọng hướng tới một nền văn học nghệthuật tiến bộ, có ích Tuy nhiên họ là thế hệ tri thức không gặp thời, phải sốngtrong cảnh xã hội rối ren, ngột ngạt của một đất nước nô lệ Những gì mà thờiđại đưa đến cho họ, những gì mà chính bản thân họ góp phần tạo ra đã tạo nênmột diện mạo riêng của đời sống văn học nghệ thuật
Trang 34Có thể nói văn học qua những chặng đường phát triển đã phản ánh kịpthời, theo sát từng thời kỳ phát triển của cách mạng Hiện thực cuộc chiến đấucủa nhân dân ta được miêu tả đầy đủ, sinh động từ nhiều điểm nhìn, nó đã táihiện được không khí hào hùng đầy khí thế của quân và dân ta trong chiến đấu
và chiến thắng nhưng cũng ghi lại không ít những đau thương do chiến tranhgây ra Trong không khí chung đó hình ảnh con người cách mạng, con ngườicộng đồng không còn xa lạ với chính bản thân mỗi người Họ mang nhữngphẩm chất cao đẹp, là những đại diện tiêu biểu cho sức sống Việt Nam
Trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, khi vận mệnh của dân tộc đặttrong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” thì không còn cách nào khác là mỗingười Việt Nam phải đứng lên tự giải phóng mình và dân tộc mình Xuất phát
từ bản chất anh dũng của người Việt Nam nên trong hoàn cảnh đất nước lâmnguy như một cách tự nhiên họ đều cảm thấy hết sức gắn bó với đất nước, vớicách mạng, sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ đất nước Họ sẵn sàng chấp nhậngạt bỏ đi mọi lợi ích cá nhân, thậm chí hi sinh cả tính mạng của mình vì sựnghiệp chung của dân tộc
Văn học trước năm 1975 là giai đoạn văn học của những sự kiện lịch sửcủa số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng Văn học của những năm thángđấu tranh quyết liệt không mệt mỏi của nhân dân Việt Nam Nhân vật trungtâm của nó là con người đại diện cho giai cấp, cho dân tộc, cho thời đại Ở họkết tinh những phẩm chất tốt đẹp cao quý của cộng đồng Chính vì vậy vănhọc thời kỳ này có rất nhiều tác phẩm mang đậm khuynh hướng sử thi và cảmhứng lãng mạn, các nhà văn tập trung vào khai thác những đề tài chung củadân tộc, của cộng đồng và thiên về khẳng định ngợi ca với giọng điệu hàohùng Chất sử thi của tác phẩm không mâu thuẫn với hiện thực mà có khảnăng hòa hợp gắn bó với hiện thực Sự hòa quyện khuynh hướng sử thi vàcảm hứng lãng mạn trong tác phẩm đã tạo nên chủ nghĩa anh hùng lãng mạn
Trang 35Các tác phẩm văn học tập trung đi vào việc tả cuộc đấu tranh cách
mạng và những chiến công anh hùng của nhân dân Trong tác phẩm Rừng xà
nu được Nguyễn Trung Thành viết vào năm 1965 thời điểm diễn ra cuộc đối
đầu lịch sử trực tiếp giữa dân tộc và đế quốc Mỹ đang bước vào giai đoạnquyết liệt, khốc liệt nhất Qua tác phẩm, tác giả đã phản ánh được hình ảnhđất nước con người Tây Nguyên yêu nước, khao khát tự do, bất khuất, kiêncường đánh Mỹ cứu nước Nhà văn đi vào miêu tả thế giới nhân vật của cácthế hệ cách mạng trong cộng đồng Xô Man đương đầu với kẻ thù Các nhânvật đều là quần chúng cách mạng có những phẩm chất anh hùng, có lý tưởng
cách mạng, tình cảm cách mạng Hay trong tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng
của Nguyễn Minh Châu những người không tham gia trực tiếp vào cuộc chiếnđấu cũng hiện lên rất rõ như: những chiến sỹ lái xe, những cô thanh niên xungphong… Có thể nói trong không khí căng thẳng của những năm chiến tranh,
cả dân tộc triệu người như một đều tập trung sức lực và tinh thần để phục vụcách mạng
Như vậy có nghĩa là con người được miêu tả trong văn học giai đoạnnày là con người cộng đồng, con người xả thân vì nghĩa lớn Họ tìm thấy ýnghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng Ở đây đời sống tập thể, khônggian cộng đồng có ý nghĩa quan trọng hơn đời sống riêng tư của mỗi cá nhân,gia đình và cũng chính trong những năm chiến đấu ác liệt của chiến tranh vănhọc không chỉ tập trung ca ngợi cuộc chiến đấu anh dũng hào hùng của nhândân ta, những chiến công chói lọi, những anh hùng kiên cường bằng cảmhứng sử thi mà hiện thực cuộc chiến, đặc biệt là con người luôn hiện lên ởcảm hứng lãng mạn Đó là sự thấm nhuần tinh thần chiến thắng và chủ nghĩaanh hùng cách mạng Không có lòng yêu nước tha thiết, cháy bỏng, không có
ý thức tự cường dân tộc thì làm sao có được sức mạnh vượt qua những khókhăn, gian khổ, những đau thương mất mát của chiến tranh
Trang 361.3 Vị trí truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.3.1 Bước đường đến với văn học của Nguyễn Minh Châu
1.3.1.1 Quê hương, con người
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20-10-1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải,Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Làng Thơi có tên chữ là Văn Thai - mộtlàng biển chuyên làm nghề đánh cá khơi và làm muối Đây là một vùng quênghèo, đời sống văn hóa thấp Những con người vùng biển quê ông vốn lànhững con người chất phác, cục mịch Trong một số tác phẩm ông có gợi cho
chúng ta một đôi điều về làng và người dân quê ông như các tác phẩm: Cửa sông, Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát … nhưng ông chưa
viết hết về nó Vì thế cho đến lúc sắp ra đi Nguyễn Minh Châu vẫn tâm niệmmột điều rằng “nếu tôi còn sống tôi sẽ viết tiếp truyện lão Khúng”
Nguyễn Minh Châu là một người trầm tính, ăn nói nhỏ nhẹ và ít lờinhưng bên trong con người đó lại luôn đau đáu một niềm khao khát viếtsao cho chạm được vào các tầng sâu, vào tận đáy sâu những sự thật về quêhương đất nước Ông luôn đòi hỏi nghiêm khắc về bản thân và nghềnghiệp Đã có lần ông tự bộc bạch về mình bằng những lời chân thànhnhất: “Tôi không có khả năng làm say mê hoặc chinh phục đám đông bằnglợi khẩu, tôi chỉ muốn nói đến cái tính dút dát vụng về trong cách ăn nóicủa mình mà trời phú cho từ khi ra đời Nhưng thực tình tôi cũng khôngthích mình là một anh chàng có khiếu ăn nói Tôi không thật quý cái năngkhiếu ấy cho lắm Sống ở trên đời tôi chỉ thích những anh ăn nói lập bập và
ấp úng” [38, 159]
Không chỉ ông mà bạn bè cũng có những nhận xét về ông: “Anh làngười ít nói và có thể là vụng nói nữa, nên ở chỗ đông trong các cuộc hội họpanh hay kiếm một góc nào đó ngồi lặng lẽ” [35, 64] và “Anh là người hồnnhiên Anh chỉ say sưa am tường và sâu sắc khi nói về nghề hoặc những gì
Trang 37liên quan đến nghề viết” [35, 64-65] Phạm Tiến Duật trong một bài viết cũng
đã đưa ra lời nhận xét về con người Nguyễn Minh Châu “Nguyễn Minh Châu
là người hướng nội Anh không phải là người sinh ra để ứng đáp, để đối thoại.Một người nào đó trêu tức anh thì phải đến ngày hôm sau khi hết giận anhmới nghĩ ra câu cần phải trả lời” [35, 70] Trần Đồng Minh cũng đã đưa ra lờinhận xét Nguyễn Minh Châu là người: “sống nhiều bằng nội tâm, hướng vềthế giới bên trong mà nhận bắt, cắt nghĩa đời sống bên ngoài bộn bề, rối ren.Tâm sự Nguyễn Minh Châu thường sầu héo, đầy lo âu, u uất Dường như tâm
sự ấy phản chiếu lên khuôn mặt có vẻ khắc khổ của anh” [35, 72] “đọc vănanh Châu thấy anh thật đôn hậu, kỹ càng và lắm khi rất sắc sảo Nhưng ởngoài đời anh cứ ngơ ngác hết cái này đến cái khác, phong thái ra vẻ một nhàthơ hơn một nhà tiểu thuyết” [35, 74]
Với bản tính nhút nhát, rụt rè từ nhỏ cho nên sau này khi mái tóc đãđiểm bạc thì bản tính đó vẫn không thay đổi trong ông Ông sống hồn hậuchân tình, luôn ghét lối sống giả tạo cùng với cách ăn nói hoa mỹ Ông chủtrương sống thực, sống đúng với bản chất của con người
1.3.1.2 Những thử nghiệm ban đầu
Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn mà số phận và cuộcđời gắn liền với sự phát triển của cách mạng Các sáng tác viết trong chiếntranh của ông từng là những bức tranh hiện thực sinh động về con người vàcuộc sống của nhân dân ta trong những năm chống Mỹ
Xuất hiện đầu tiên trên văn đàn với truyện ngắn Sau một buổi tập in triên báo Văn nghệ quân đội số 10/1960 Tiếp đến là Đôi đũa trúc, Gốc sẵn, Đất quê ta đó là kết quả của những ngày tháng ông đi thực tế xuống các
thao trường, nơi những người lính ngày đêm luyện tập để chuẩn bị cho cuộcchiến đấu Tuy những trang viết khởi đầu chưa có gì gây được ấn tượngnhưng nó đã khẳng định được ý thức cầm bút đồng thời là vũ khí chiến đấu
Trang 38của một nhà văn non trẻ mới vào nghề đã sớm ý thức được sứ mệnh cao cảcủa người nghệ sĩ.
Cùng với thời gian, khi cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân tangày một cam go và khốc liệt hơn, Nguyễn Minh Châu bắt đầu thể nghiệmngòi bút của mình trên những trang tiểu thuyết Bắt đầu từ 1965 Nguyễn
Minh Châu đã viết lần lượt: Cửa sông, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi nhà Cửa sông (1967) là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Nguyễn Minh
Châu, đây chưa phải là tác phẩm hay, xuất sắc của Nguyễn Minh Châu nhưng
“Cửa sông cũng đã có một cái gì khiến cho ta khi đọc xong phải nghĩ ngợi”
[30, 251] Tác phẩm miêu tả cuộc sống ở làng Kiều từ ngày miền Bắc chuyểnsang chiến tranh, những con người và khung cảnh ở đây đối với ta đều quenthuộc nhưng bên cạnh đó cũng đã có thêm một cái gì khiến quê hương ta đổi
khác đi nhiều, kể từ ngày cả nước ta lên đường chống Mỹ “Cửa sông ghi lại
những đổi khác ấy, tuy chưa sâu sắc lắm nhưng cũng gợi được cho ta những
ấn tượng khá rõ về cuộc sống bộn bề, khó có một ranh giới nào rõ ràng, cụ
thể” [30, 252] Bức tranh cuộc sống mới ở Cửa sông không chỉ hiện ra qua vẻ đẹp của những con người và mối quan hệ xã hội mà cuộc sống mới trong Cửa sông còn có thêm chiều sâu do nhà văn đã nhìn thấy được nhân tố mới Sức
mạnh xây dựng của nhân dân ta do chính bàn tay chúng ta hàng ngày, hànggiờ xây dựng nên chính là nhân tố quan trọng đảm bảo cho chúng ta có thểđánh bại đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào
Sau Cửa sông là Dấu chân người lính (1972) (Thật khó nói rằng Dấu chân người lính và trước đó, Cửa sông, chỉ là những thử nghiệm Nhưng xét
tính chất cuộc hành trình văn học của Nguyễn Minh Châu với sự trăn trở kiếmtìm không ngừng nghỉ và lấy độ chín của những tuyệt phẩm truyện ngắn làm
thước đo, chúng tôi tự thấy mình vẫn có căn cứ nhất định khi bàn đến Dấu chân người lính ở mục này) Những người lính đi vào chiến dịch Khe Sanh
(1968) dưới ngòi bút Nguyễn Minh Châu là những con người mang lý tưởng
Trang 39cách mạng lớn lao và ý chí mãnh liệt Họ hiện thân cho sức mạnh và phẩmchất của dân tộc Trong cuộc chiến đấu gian khổ, lớp chiến sỹ già như Kinh,Nhẫn luôn là chỗ dựa tinh thần cho thế hệ trẻ Họ được nối với nhau bằng sợidây quan hệ bình đẳng nhân ái, mối quan hệ cách mạng đẹp đẽ giữa conngười với con người Nhân vật Lữ được coi là nhân vật tiêu biểu, điển hìnhcho thế hệ trẻ.
Với những thử nghiệm ban đầu ở cả truyện ngắn cũng như lĩnh vực tiểuthuyết, Nguyễn Minh Châu đã gặt hái được một số thành công nhất định, đã tạođược cái nền cho những sáng tác sau này của ông Tuy nhiên đây là bước thửnghiệm ban đầu nên khó tránh khỏi những hạn chế Tác giả Hà Minh Đức đãchỉ rõ “thiên hướng khai thác của Nguyễn Minh Châu là thuận chiều và mộtchiều Tuy có những tổn thất, hy sinh nhưng bộ mặt chiến trường còn thiếu cáingổn ngang, quyết liệt, đau đớn Cần khai thác thêm nhiều mặt phức tạp khácbên cạnh sự hào hùng của một khối người khổng lồ ngày đêm vật lộn với cái
chết” [27, 28] Tác giả Song Thành nhận thấy trong tác phẩm Dấu chân người lính “đã lôi cuốn người đọc ở lối kể nhanh, gọn và trong sáng, ở bút pháp linh
hoạt, ở những bức tranh đẹp đầy màu sắc” [27, 104] tuy nhiên bên cạnh đó tácgiả cũng chỉ ra một số hạn chế của Nguyễn Minh Châu trong việc “xử lý mốiquan hệ giữa lý tưởng và hiện thực cũng như trong cấu trúc nội tại của mỗi tínhcách, Nguyễn Minh Châu vẫn chưa đảm bảo được sự cân đối, hợp lý để nhânvật đạt tới những hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh” [27, 103]
Như vậy, thời kỳ trước 1975, đặc biệt là ở bước thể nghiệm ban đầu,tác giả thường đặt các nhân vật vào các tình huống giao tranh căng thẳng giữacái chung và cái riêng, giữa sự sống và cái chết để rồi cuối cùng phẩm chấtanh hùng trong mỗi con người bao giờ cũng nổi trội, chiến thắng Như trong
tác phẩm Cửa sông Nguyễn Minh Châu đặt con người trước sự đổi thay của
đất nước Đất nước bước vào chiến tranh, con người buộc phải thay đổi nếp
Trang 40nghĩ, cách sống và tính cách con người được bộc lộ trước tình huống ấy đó làtinh thần yêu nước của cụ Lâm dù đã ngoài 80 tuổi cụ vẫn còn tiếc rằng mình
“không còn đủ sức để đi giết giặc” với con cháu, là khao khát được “tái ngũ”của cụ Vang, là tinh thần chiến đấu dũng cảm của Bân hay trong tác phẩm
Dấu chân người lính, nhà văn đã đặt Lữ trước tình huống khốc liệt của cuộc
chiến đấu, trước sự lựa chọn cái sống, cái chết, trước vinh quang chiến thắnghay sự thất bại đớn hèn Lữ đã hành động không hề suy nghĩ, tiếc nuối về sự
hy sinh bản thân của mình ở tuổi 20
Một điểm dễ nhận thấy nữa trong những tác phẩm đầu của NguyễnMinh Châu chính là cốt truyện Phần lớn truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
ở giai đoạn trước 1975 là cốt truyện đơn tuyến, với kiểu cốt truyện này nhàvăn chỉ tập trung vào một vài nét tính cách đơn giản của một số nhân vật quantrọng nhằm mục đích thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Nhà văn thường
sử dụng tình huống đặt nhân vật vào những thử thách của chiến tranh, đòi hỏicon người phải vươn lên để chiến thắng hoàn cảnh
Chỉ sau chiến tranh khi có thời gian và điều kiện để suy ngẫm kỹ lưỡng
về đối tượng và mục đích của văn học thì sáng tác của Nguyễn Minh Châumới dần dần chuyển sang một thời kỳ đầy băn khoăn và trăn trở để đi sâuđược vào cái lõi của hiện thực và tiếp cận với những vấn đề của cuộc sốngmột cách sinh động, đa dạng hơn, một thời gian dài loay hoay với tiểu thuyết,chính nhà văn cũng nhận thấy rằng “mình viết văn cả đời trang giang đại hải
có khi chỉ còn lại được vài cái truyện ngắn” Nguyễn Minh Châu nhận thấymình có khả năng và sở trường hơn với truyện ngắn Chính vì thế những sángtác sau 1975 chủ yếu nhà văn tập trung ở mảng truyện ngắn để khám phá thểnghiệm những vấn đề mới mẻ của cuộc sống sau chiến tranh
1.3.1.3 Sự hoàn thiện một quan niệm văn học