Tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Khải, tôi càng có cảm tình với ông qua sự già d n, điêu luyện trong bút pháp, sự đa dạng, đ c sắc trong nội dung, sự phong phú ở hình thức thể hiện ở nhữn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -
V HƯ NG
THI HÁ TR N NG N NG N H I 1975
ẬN VĂN THẠC Ĩ NGỮ VĂN Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Nghệ An – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3MỤC ỤC
TRANG
Ch ơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CH NG VỀ THI HÁ VÀ THỂ OẠI
TR N NG N TRONG ÁNG TÁC CỦ NG N H I
1.2 Thể loại truyện ngắn trong sáng tác của Nguyễn Khải 27
1.2.1 Vị trí của thể loại truyện ngắn trong sáng tác của Nguyễn Khải 27
1.2.2 Quá trình sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Khải 32
Ch ơng 2 ẾT CẤ VÀ Q N NI M NGH TH ẬT
VỀ CON NGƯỜI TRONG TR N NG N NG N H I 1975
2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải 54
2.2.1 Con người cá nhân trong mối quan hệ với con người cộng đồng 54
2.2.2 Con người với những khát vọng sống và mưu cầu hạnh phúc 57
Trang 42.2.3 Con người trước những biến dộng của đời sống xã hội 67
Ch ơng 3 HÔNG GI N, THỜI GI N NGH TH ẬT VÀ NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐI TRONG TR N NG N NG N H I 1975
3.1 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải 68
3.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải 75
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại sinh động, giàu kịch tính 80 3.3.2 Sử dụng lối nói đùa và tự trào của chủ thể trần thuật 84
Trang 5MỞ ĐẦ
1 ý chọn đ tài
Nguyễn Khải (1930 2008) mở đầu sự nghiệp văn chương bằng truyện
ngắn Ra ngoài đăng trên tạp chí Lúa mới của chi hội Văn nghệ Liên khu
năm 1950 Gần sáu mươi năm cầm bút với những thành tựu to lớn, ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (1985 1988), giải thưởng Hồ Chí
Minh năm 2000 (đợt 2) cho chùm tác phẩm Xung đột, Gặp gỡ cuối năm, Cha
và con và…, giải thưởng văn học s an (2000) Nguyễn Khải để lại một số
lượng tác phẩm khá lớn thuộc nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch Nguyễn Khải luôn có tác phẩm mới và ông luôn khiến cho giới nghiên cứu phê bình văn học và người đọc tốn hao nhiều bút mực luận bàn Với ng i bút hiện thực đ c sắc, năng lực quan sát và óc phân tích sắc sảo, Nguyễn Khải đã
đ m đến cho người đọc những trang văn đầy bất ngờ và thú vị
Nguyễn Khải sáng tác ở nhiều thể loại và truyện ngắn là mảng sáng tác nổi bật của Nguyễn Khải và ông đã để lại cho đời khoảng bảy chục truyện
ngắn Sự kết tinh nghệ thuật và độ “chín của văn nghiệp Nguyễn Khải được
ghi nhận r rệt là ở truyện ngắn sau 1975, nhất là trong thời k đổi mới có sự cách tân, đổi mới trong bút pháp, giọng điệu Do nhu cầu nội tại, tự trần thuật
là một yếu tố độc đáo của truyện ngắn Nguyễn Khải, trong đó không thể không nói tới giọng điệu đa thanh, phức điệu, thâu nạp nhiều tiếng nói mang
đậm chất “tiểu thuyết , “chất truyện của ông Luôn ý thức “viết ngay lập tức cái gì mình cảm thấy hứng thú với phong cách triết lí, chính luận, những
Trang 6sáng tác tiếp th o của Nguyễn Khải sẽ c n gây nhiều bất ngờ thú vị đối với công chúng
Khi đến với truyện ngắn của Nguyễn Khải, người đọc luôn có sự ngạc nhiên bất ngờ thú vị về nội dung, nghệ thuật viết truyện của ông
Quá trình sáng tác văn chương Nguyễn Khải không chút dễ dàng, ông
g p nhiều những gian nan thử thách để đạt đến đ nh cao trong sáng tạo nghệ thuật Trong bất cứ hoàn cảnh nào nhà văn v n không lùi bước, luôn tìm tòi, học hỏi, luôn hoàn thiện mình
Tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Khải, tôi càng có cảm tình với ông qua sự già d n, điêu luyện trong bút pháp, sự đa dạng, đ c sắc trong nội dung,
sự phong phú ở hình thức thể hiện ở những sáng tác của Nguyễn Khải sau
1975 Chính vì lẽ đó, tôi chọn vấn đề hi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải sau
1975 để làm đề tài luận văn tốt nghiệp với mong muốn hiểu sâu sắc và toàn
diện hơn về truyện ngắn của Nguyễn Khải và những đóng góp của ông cho truyện ngắn Việt Nam hiện đại
đã có sự so sánh khá lý thú về hai giai đoạn sáng tác trước và sau 1975 của
nhà văn, ông cho rằng “ ột n là cái n ng n i v t m của tu i tr một n
Trang 7là nh ng chuyện chi m nghiệm th m tr m s u sắc của tu i già ột n n i
ào ào n i lấy đ c một n vừa n i vừa ngập ngừng vừa chậm rãi chỉ s mình khái quát sai một l n n a” [ 33, tr.35 ]
Là nhà văn hiện thực, tác phẩm của Nguyễn Khải đã phản ánh thực tiễn đời sống một cách sâu sắc và toàn diện, giúp ông có những thành công đáng
kể trong sự nghiệp văn chương của mình
Trong cuốn Nhà văn iệt Nam 1945 – 19 5 tập 2), Phan Cự Đệ khi
nói về chất trí tuệ trong những sáng tác của Nguyễn Khải, ông đã có nhận x t
sau “Nguyễn Khải là một c y út tr tuệ lu n lu n suy ngh s u lắng v
nh ng vấn đ mà cuộc sống đặt ra và cố gắng tìm một l i giải đáp thuyết
ph c th o cách ri ng của mình ho n n trong các tác ph m của nhà văn
th ng qua nh ng sự kiện ã hội ch nh tr c t nh chất th i sự n ng h i ao
gi c ng n i l n nh ng vấn đ khái quát c ngh a triết học và đạo đức nh n sinh” [ 4, tr.57]
Nhà văn Nguyên Ngọc đã có những nhận x t về sự nghiệp sáng tác của
Nguyễn Khải như sau “ r ớc hết t i muốn n i đi u này ấy là ng i tài năng ậc nhất trong thế hệ của chúng t i thế hệ nh ng ng i c m út vậy mà
h a ra vắt qua cả mấy th i kì l ch s quan trọng một chút th i háp thuộc
đ y đủ cách mạng tháng tám đ m mình trong hai cuộc chiến tranh lớn và cả
h a ình n a … các ớc đ ng t t ng và sáng tác của nguyễn Khải
h o t i đấy là con đ ng rất ti u iểu của chuyển động văn học ta suốt một
th i kì l ch s ài và kh ng h đ n giản ễ àng, tiểu iểu nhất là Nguyễn Khải ch nh vì đấy đúng là cái tạng của anh và c ng vì anh là ng i tài năng nhất c ng trung thực với ch nh mình” [ 25 ]
Khi bàn về hình tượng tác giả trong những sáng tác của Nguyễn Khải,
với bài viết ài kiến v tác ph m Nguyễn Khải, Nguyễn Văn Hạnh đã nhận
Trang 8ra hình tượng tác giả qua cái nhìn đ c trưng của nhà văn “Nhà văn c một cái nhìn nhạy én thấu suốt vào một số nh ng mặt chủ yếu nh ng vấn đ khá phức tạp của cuộc sống” [ 7 ]
Thống nhất với ý kiến của tác giả Nguyễn Văn Hạnh, trong bài viết
ặc điểm ng i út hiện thực Nguyễn Khải Chu Nga đã khẳng định “ ới con mắt sắc sảo của mình nhìn vào ngõ ngách nào của cuộc sống Nguyễn Khải
c ng c thể rất nhanh nhạy phát hiện ra nh ng vấn đ phức tạp” [ 23]
Khi đánh giá, nhận x t khái quát về truyện ngắn của Nguyễn Khải,
Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết ọc truyện ngắn và tạp văn của Nguyễn Khải
đã đưa ra những đánh giá và nhận x t như sau “ thể n i Nguyễn Khải
kh ng chỉ sống với nh n vật ng c n chi m nghiệm nh n vật n a Kh ng phải ng u nhi n mà rất nhi u khi Nguyễn Khải đặt mình nh n vật t i” trong vai tr ng i thuật chuyện ng i đứng trong cuộc ; “ h ng qua hệ thống các hình t ng nh n vật một n i ám ảnh th ng uy n suốt các truyện ngắn này của Nguyễn Khải là sự h t h ng cách ngăn thậm ch đối lập gi a các thế hệ [ 33, tr.383]
Nhóm những ý kiến đánh giá về thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải sau
1975
Với phần “Truyện ngắn Nguyễn Khải in trong ruyện ngắn iệt Nam
l ch s chân dung thi pháp, Phan Cự Đệ đã đề cập đến truyện ngắn Nguyễn
Khải thông qua những tập truyện được đánh giá là khá tiêu biểu của nhà văn
Ông cho rằng, nếu như trước 1975, ùa lạc là “ ản tráng ca lãng mạn của
c ng cuộc y ựng chế độ mới hủ ngh a ã hội [ 4, tr.608 ] thì sau 1975, qua tập truyện ột ng i Hà Nội (1990), nhà văn có sự thay đổi đáng kể
trong quan niệm nghệ thuật Tập truyện ngắn này đ m đến cho thế giới nghệ
thuật một khoảng trời mới, nền văn hóa cố đô “phong l u đài các , “thâm
Trang 9tr m ung [4, tr.609], ở đây con người được khám phá với cách nhìn cách
ngh mới
Trong bài hế giới nh n vật của Nguyễn Khải trong cảm hứng nghi n cứu ph n t ch, Đào Thủy Nguyên đã nhìn nhận “ ph n t ch để khám phá chi u s u t m hồn chi u s u t t ng của con ng i đ ng th i là cái đ ch
h ớng tới của nhà văn [33, tr.149] Như vậy, Đào Thủy Nguyên, trong
nghiên cứu của mình, chú trọng hơn ở việc khẳng định thế giới bên trong, thế giới tâm hồn con người ở sáng tác Nguyễn Khải
Khi nói về nội dung truyện ngắn của Nguyễn Khải trong bài viết
Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học cách mạng từ sau 1945, Vương Trí Nhàn đã ch ra rằng “Nh ng truyện ngắn của Nguyễn Khải viết từ 1988
1989 đến th i gian g n đ y kh i vào hai cái mạch ch nh ột là cuộc sống
h m nay của nh ng ng i chung quanh ạn è đồng nghiệp qu n iết cùng
tu i tác và t m sự Hai là số phận của nh ng ng i th n trong gia đình họ hàng nội ngoại của tác giả nh ng ng cậu à m mà t m t tình cảm của Nguyễn Khải c n nhi u quyến luyến” [33, tr.122]
Nhận x t đ c điểm ng i bút hướng về nhân cách sống của nhà văn, đ c
biệt ở mảng sáng tác sau 1975, Nguyễn Văn Kha khẳng định “ rong m i l nh vực đạo l n đ i ng đ u nhìn thấy iểu hiện của con ng i thể n i ng
đã gồng” mình l n để nắm ắt soi tỏ cuộc sống đ y rối rắm và phức tạp của
th i sau chiến tranh từ cuộc sống qu n sự chuyển sang đ i sống n sự từ
n n kinh tế ao cấp đang m m m từng ớc chuyển sang kinh tế th tr ng
on ng i trong ối cảnh đ c iết ao cảnh ngộ ao toan t nh lo u chán nản nghi n ng m chi m nghiệm… [10, tr.140]
Trong hoàn cảnh xô bồ của đời sống xã hội hiện tại con người đã đánh mất nhiều thứ trong đó có cả nhân cách của mình Điều đó đáng lo ngại, nhà
Trang 10văn viết về vấn đề nhân cách như là một nhắc nhở mọi người nhớ về bản l nh, cốt cách của người Việt Nam chân chính bởi không giữ được cốt cách tức là đánh mất giá trị của mình và con người không đáng tồn tại giữa cuộc đời
Bích Thu với bài viết Giọng điệu tr n thuật trong truyện ngắn Nguyễn Khải nh ng năm tám m i đến nay, đã đi sâu vào nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Khải ở phương diện giọng điệu Th o tác giả, giọng điệu nghệ thuật
là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức chinh phục của truyện ngắn
Nguyễn Khải từ những năm tám mươi đến nay “Sức chinh ph c của truyện ngắn Nguyễn Khải nh ng năm g n đ y một ph n đáng kể là o nghệ thuật kể chuyện trong đ giọng điệu tr n thuật là một trong nh ng yếu tố quan trọng làm n n sức hấp n trong các sáng tác tự sự của nhà văn” [ 34, tr.122 ]
Giọng chủ âm trong truyện ngắn Nguyễn Khải từ những năm tám mươi đến nay bao gồm giọng triết lý, tranh biện, giọng điệu thể hiện sự trang nghiêm cá nhân, tâm tình, chia sẻ, giọng điệu hài hước, hóm h nh Ngoài ra,
c n có sự phối hợp của nhiều giọng điệu Như vậy, ch riêng l nh vực truyện ngắn đã thể hiện được tính chất đa thanh, một sự đầu tư đúng mực của nhà văn vào trong sáng tác
Trong bài viết ảm nhận v con ng i trong sáng tác gần đây của
Nguyễn Khải, Nguyễn Thị Huệ cho rằng ý thức mở rộng khả năng chiếm l nh hiện thực, khả năng khám phá, phát hiện về con người đã trở thành thường trực trong ng i bút của nhà văn Nếu thời k trước 1975 văn xuôi nói chung, chủ yếu tiếp cận con người ở bình diện, lập trường địch ta; x m x t, lý giải, đánh giá cuộc sống và con người th o những yêu cầu chuẩn mực của đạo đức cách mạng thì đến đầu những năm 80, cùng với Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, và các đồng nghiệp khác, những sáng tác văn xuôi của Nguyễn Khải đã nỗ lực tìm t i khơi sâu thêm, mở rộng tiếp
Trang 11thu tư duy nghệ thuật trên các phương diện khác nhau của sự tồn tại con người như không gian và thời gian, khả năng nhận thức và tự ý thức ở mỗi
con người trước đời sống hiện thực “ on ng i trong sáng tác của Nguyễn Khải đ u nh ng năm 80 đ c nhìn nhận nhi u tọa độ nhi u chi u k ch khác nhau hái độ đánh giá của nhà văn đối với con ng i c ng tr n n s u sắc ph quát và tỉnh táo h n” [33, tr.148]
Trong cuốn hong cách văn u i Nguyễn Khải, Tuyết Nga đã đề cập
đến vấn đề phong cách trong toàn bộ quá trình sáng tác của nhà văn, Trong cuốn này, tác giả chú trọng làm sáng tỏ các vấn đề quan điểm nghệ thuật của nhà văn, vấn đề hiện thực, giọng điệu, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Khải; đồng thời với việc d n giải một số lượng tác giả văn xuôi, công trình cũng phần nào giúp người đọc có cái nhìn
khái quát hơn về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Tuyết Nga nhận x t “ thể
n i uất phát từ một quan điểm nghệ thuật quan niệm v hiện thực và con
ng i độc đáo Nguyễn Khải đã lựa chọn cho mình một lối tiếp cận, khám phá hiện thực ri ng và trong suốt h n 50 năm c m út ng kh ng ngừng trăn
tr tìm t i đ i mới nghệ thuật m tả của mình ừ một lập tr ng một t uy
đa chi u nhi u lật tr và một khả năng sáng tạo đặc sắc Nguyễn Khải đã tạo ựng đ c cho mình một phong cách văn u i đa ạng độc đáo vừa n đ nh vừa iến h a sắc sảo mà ung ” [24, tr.243]
Khi viết cuốn Nhà văn t t ng và phong cách, Nguyễn Đăng Mạnh có nhận x t về Nguyễn Khải đ i ng i đ i văn như sau “ à trong mảng hiện thực gắn li n với cái t i Nguyễn Khải ng i ta thấy uất hiện nh ng g ng mặt hoàn toàn mới ngh a là ch a h c trong thế giới nghệ thuật của ng
tr ớc kia nh ng g ng mặt của Hà Nội a c n s t lại é ra Nguyễn Khải
kh ng chỉ là nhà văn của nh ng n ng n lao động tr n n ng tr ng iện
Bi n ngày nào của nh ng giáo n và cha cố ứ đạo Bùi hu hát iệm
Trang 12của nh ng ng i l nh ồn ỏ r ng S n chống ỹ… Ông c n là nhà văn của nh ng con ng i thuộc một thế giới khác hẳn thế giới th ng l u đài các của Hà Nội vang ng một th i”…” [ 21, tr.139]
Trong cuốn Nhà văn iệt Nam 1945 1975 tập 2 , nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã ch ra phong cách văn xuôi hiện thực t nh táo trong sáng tác của Nguyễn Khải Th o ông, sức hấp d n của truyện ngắn Nguyễn Khải là
nhờ ở những chi tiết tâm lý sâu sắc và chi tiết sự việc sống động “ ruyện ngắn và truyện vừa c màu sắc tr tuệ của Nguyễn Khải v n tạo n n một sức hấp n đặc iệt nh t nh th i sự nhạy én của các sự kiện và ngh a l u
ài của các vấn đ đặt ra nh nh ng chi tiết t m l s u sắc và chi tiết sống động nh ng chi tiết lấp lánh rải rác trong các truyện của anh nh lối kể chuyện linh hoạt trong đ c sự kết h p khiếu quan sát tinh tế của nghệ s
Với bài viết Sự đ i mới quan niệm nghệ thuật v con ng i trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 trên ạp ch Giáo c, Đ ng Thị Mây đi
sâu bàn về con người cá nhân trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 “
on ng i trong sáng tác của ng Nguyễn Khải nhất là nh ng truyện ngắn
g n đ y đ c đặt trong nhi u chi u đ c đ nh v với nh ng giá tr c t nh căn ản n v ng ph quát chứ kh ng chỉ là ti n tiến hay lạc hậu đ cao
Trang 13hay ph phán một chi u thức m rộng khả năng chiếm l nh hiện thực khám phá phát hiện v con ng i đã tr thành yếu tố th ng trực chi phối cách viết của nhà văn B n cạnh t cách con ng i l ch s con ng i trong quan hệ với th i gian trong sáng tác của Nguyễn Khải đ u năm 1980 đã uất hiện con ng i cá nh n [22]
Sau khi tìm hiểu những ý kiến của các nhà nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu, các bài viết về Nguyễn Khải ch bao quát về sự nghiệp sáng tác và nghệ thuật viết truyện của ông Thế nhưng, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống thi pháp truyện ngắn của Nguyễn Khải được viết sau 1975
Thứ hai, những ý kiến, những bài viết trên là những tài liệu vô cùng quí giá để trên cơ sở đó, chúng tôi tìm hiểu những vấn đề có tính chất bao quát hơn ở phương diện tổng hợp những truyện ngắn của Nguyễn Khải sau 1975
Và qua đó, chúng tôi mong muốn hiểu thêm về Nguyễn Khải cũng như khẳng định vị trí và những đóng góp của ông cho nền văn học hiện đại
3 M c đ ch và nhiệm v nghiên c u
3.1 M c đ ch nghiên c u
Luận văn hướng đến việc xác định những đ c điểm về thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 Thông qua đó, luận văn làm r hơn những đóng góp của ông đối với truyện ngắn Việt Nam hiện đại, đồng thời ch ra được sự tài hoa nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Khải ở thể loại truyện ngắn
3.2 Nhiệm v nghiên c u
Để đạt được những mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là
Trang 14Thứ nhất, khảo sát một cách có hệ thống các tập truyện ngắn của
Nguyễn Khải sau 1975
Thứ hai, tìm hiểu những n t riêng của thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975 so với các tác giả khác
4 Đối t ng và h m vi nghiên c u
4.1 Đối t ng nghiên c u
Với đề tài hi pháp truyện ngắn của Nguyễn Khải sau 1975, chúng tôi
hướng đến việc ch ra những biểu hiện của thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải
sau 1975 ở các truyện ngắn của ông
4.2 h m vi nghiên c u
Nguyễn Khải có toàn bộ 5 tập truyện ngắn, nhưng do thời gian có hạn,
và những khó khăn trong việc tìm kiếm văn bản tác phẩm chúng tôi ch có thể tập trung nghiên cứu thi pháp của truyện ngắn Nguyễn Khải qua các tác phẩm sau:
Thứ nhất, các truyện ngắn sau 1975 trong uyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải tập 1 và tập 2) và các truyện ngắn trong tập truyện Hà Nội trong mắt t i
Thứ hai, một số truyện ngắn cùng thời của các tác giả khác để so sánh đối chiếu nhằm làm r n t riêng của thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải sau
1975
5 h ơng há nghiên c u
Những phương pháp sau đây được sử dụng trong luận văn
Trang 15Phương pháp phân tích tổng hợp:
Tác giả luận văn sử dụng phương pháp này trong việc tổng hợp các nguồn tài liệu để có cái nhìn khái quát về vấn đề, tạo cơ sở để rút ra những luận điểm phù hợp với đề tài
Đối chiếu những n t khác biệt trong truyện ngắn của Nguyễn Khải sau
1975 với truyện ngắn của một số nhà văn khác cùng giai đoạn để khẳng định đóng góp riêng của Nguyễn Khải ở thể loại truyện ngắn
6 Đóng gó của luận văn
Luận văn đã khảo sát một cách hệ thống truyện ngắn của Nguyễn Khải
để trên cơ sở đó rút ra những đ c điểm về thi pháp của truyện ngắn Nguyễn Khải
Khẳng định tài năng của nhà văn Nguyễn Khải ở thể loại truyện ngắn
Hy vọng công trình sẽ là tài liệu tham khảo có ý ngh a cho những ai muốn tìm hiểu về truyện ngắn của Nguyễn Khải
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài đ u Kết luận và ài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương
Trang 16Chương 1 Những vấn đề chung về thi pháp và thể loại truyện ngắn trong sáng tác của Nguyễn Khải
Chương 2 Kết cấu và quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975
Chương 3 Không gian, thời gian nghệ thuật và ngôn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1975
Trang 17Thuật ngữ thi pháp tuy không phải là mới nhưng “việc ác đ nh nội ung khoa học của nh ng thuật ng v thi pháp c ng c n nhi u mập m l n lộn [11; tr.6] có nhiều cách lí giải
Theo Từ điển văn học (bộ mới) thi pháp được hiểu là “thuật ng chỉ
l nh vực khoa học nghi n cứu văn học với t cách là một nghệ thuật thi pháp học c n gọi là thi học nghi n cứu cấu tạo của tác ph m văn học với các nguy n tắc ph ng thức ph ng tiện của n [3, tr.1666]
Nhóm tác giả ừ điển huật ng văn học cho rằng “thi pháp học là khoa học nghi n cứu thi pháp tức là hệ thống các ph ng thức ph ng tiện thủ pháp iểu hiện đ i sống ằng hình t ng nghệ thuật trong sáng tác văn học c đ ch của thi pháp học là chia tách và hệ thống h a các văn ản
Trang 18nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật ấn t ng th m mỹ
và chi u s u phản ánh của sáng tạo nghệ thuật” [ 29, tr.304]
ừ điển u từ- phong cách- thi pháp học khẳng định “thi pháp học là khoa học v thi pháp t ng kết khoa học đại c ng v thi pháp Ngoài ra c n
c thi pháp học l ch s nghi n cứu l ch s phát triển và hình thành của các thi pháp; thi pháp học so sánh nghi n cứu sự khác nhau gi a đặc tr ng nghệ thuật ằng ph ng pháp so sánh [9, tr.212]
Sự ra đời của thi pháp học đã đ t ra nhiều điều thú vị trong việc nghiên cứu tác phẩm văn chương
M.B.Khrapch nko quan niệm “ thể ác đ nh thi pháp học nh một
m n khoa học nghi n cứu các ph ng thức và ph ng tiện thể hiện cuộc sống ằng hình t ng nghệ thuật khám phá cuộc sống ằng hình t ng nghệ thuật khám phá cuộc sống một cách hình t ng [ 12, tr.240]
Tôđôrôv định ngh a “ hi pháp là quy tắc chung mà ng i ta s ng
để sáng tạo ra các tác ph m văn ch ng c thể N i c thể h n là nghi n cứu tính văn ch ng chất văn ch ng của ch nh ản th n văn ch ng [ 6 ]
V.Vinogradop cho rằng “ hi pháp học là khoa học v các hình thức các ạng thức các ph ng tiện ph ng thức t chức tác ph m của sáng tác
ng n từ v các kiểu cấu trúc và các thể loại tác ph m văn học N muốn ao quát kh ng chỉ là các hiện t ng của ng n từ th mà c n là cả các kh a cạnh khác nhau nhất của tác ph m văn học và sáng tạo n gian [ 32, tr.5]
Trần Đình Sử là một trong những người nghiên cứu nhiều về thi pháp,
trong Thi pháp văn học trung đại iệt Nam ông đã giải thích “Thi pháp là một hệ thống các nguy n tắc nghệ thuật chi phối sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của n hi pháp kh ng phải là nguy n tắc
Trang 19c tr ớc nằm n ngoài mà là nguy n tắc n trong vốn c của sáng tạo nghệ thuật hình thành cùng với nghệ thuật N là mỹ học nội tại của sáng tác nghệ thuật nhất đ nh mang một quan niệm nhất đ nh đối với cuộc đ i con
ng i và ản th n nghệ thuật hi pháp iểu hiện tr n các cấp độ tác ph m thể loại ng n từ tác giả và ao trùm là cả n n văn học [31, tr.6]
Trong Thi pháp th ố H u, Trần Đình Sử lý giải “ hi pháp học đ i hỏi nghi n cứu hình thức nghệ thuật nh là nh ng hiện t ng c qui luật Hình thức thể hiện ao gi c ng c hai mặt c ản mặt c thể cảm t nh và mặt quan niệm” tức là đằng sau hình thức cảm t nh kia cuộc sống và t
t ng mà tác giả muốn n i l n c n c một quan niệm làm c s cho tiếng n i
ấy tạo thành cái l cái logich n trong của hình thức nghệ thuật … nhiệm
v của thi pháp học ch nh là nghi n cứu cái l của hình thức vậy … hình thức mang t nh quan niệm này o cuộc sống và thế giới quan quy đ nh nh ng
n đã ng ng kết thành cái nhìn thành ph ng thức t uy của nhà nghệ s … cái l của hình thức nghệ thuật chỉ ộc lộ rõ rệt trong hình thức của n
mà tr ớc hết là iểu hiện t nh lặp lại của các yếu tố tác ph m [28, tr.12]
Trong D n luận thi pháp học, Trần Đình Sử đã đưa ra khái niệm “Thi pháp học là ộ m n khoa học c nhiệm v đặc thù khi ph ình ph n t ch tác
ph m văn học n h ớng tới khám phá cấu trúc iểu hiện nghệ thuật tr n các cấp độ Khi nghi n cứu l ch s văn học n h ớng tới sự khám phá tiến h a của các ph ng thức ph ng tiện và hình thức nghệ thuật Khi nghi n cứu l luận của văn học n tập trung khám phá các cấu trúc iểu hiện ản chất nghệ thuật của văn học [32, tr.5]
Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại quan niệm “ hi pháp là ph ng pháp tiếp cận tức là nghi n cứu ph ình tác ph m văn học từ các hình thức iểu hiện hoặc chìm n của tác ph m; ngh a mỹ học triết học đạo đức học
Trang 20l ch s ã hội học … cấp độ nghi n cứu của thi pháp học các hình thức nghệ thuật kết cấu m điệu nh p c u đối thoại th i gian kh ng gian cú pháp … y u c u đọc tác ph m nh một hình thể Ở đ các yếu tố ng n từ li n kết chặt chẽ với nhau h p thành một hệ thống để iểu đạt t ng tình cảm
t uy nh n sinh quan … tức là cái đẹp của thế giới con ng i… iểm uất phát của thi pháp là coi tác ph m văn học là văn ản ng n từ Nếu mỹ học là
l luận các nghệ thuật thì thi pháp là mỹ học của văn học là l luận của văn học ậy thi pháp gắn chặt với ng n ng học và mỹ học hi pháp hay l luận văn học th o đ nh ngh a của acga arga tr ớc hết nghi n cứu các ph ng thức nghệ thuật mi u tả các đặc tr ng thể loại văn học từ đ mới tìm t i các
t ng lớp ngh a n giấu của tác ph m” [8, tr.5]
Trong Ph n t ch tác ph m văn học từ g c độ thi pháp, tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh cho rằng h o chúng t i c thể ác lập của nội ung của khái niệm thi pháp từ ch nh nội ung ng ngh a của n h thi” đ y ùng để chỉ toàn ộ văn học n i chung chứ kh ng phải chỉ ri ng v th hi” là cách n i đã thành qu n mang nội ung l ch s ghi ấu ấn của một
th i kì l ch s khá ài thành qu n khi mà mọi loại hình văn học từ anh hùng
ca truyện k ch tiểu thuyết đ u đ c iễn đạt ằng th n pháp” là
ph ng pháp là phép tắc ậy thi pháp là ph ng pháp là phép tắc làm văn làm th thể n i ngay đ y phép tắc căn ản nhất của n là sáng tạo h cấu nghệ thuật tất nhi n kh ng phải là uy n tạc làm méo m đ i sống mà là
để thể hiện đ i sống một cách nghệ thuật lung linh hấp n…” [11, tr.7]
Từ đó tác giả đưa ra khái niệm “ hi pháp chủ yếu là n i đến quá trình sáng tạo nh ng hình thức nghệ thuật của tác ph m là n i đến nh ng ph ng thức ph ng tiện nh ng thao tác nghệ thuật của nhà nghệ s ng n từ [11,
tr.10]
Trang 21Như vậy, có nhiều ý kiến khác nhau về thi pháp học Tuy nhiên, khi nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải, chúng tôi hiểu th o khái niệm của Trần Đình Sử để dựa trên cơ sở đó tìm hiểu về thi pháp truyện ngắn Nguyễn Khải
1.1.2 Những yếu tố quan trọng của thi há
Thi pháp không phải là ph p cộng đơn giản giữa những yếu tố riêng lẻ, thi pháp là một hệ thống với những yếu tố mang tính siêu tổng cộng Những yếu tố hình thức ấy có quan hệ ch t chẽ với nhau để cùng nhau tạo nên một thế giới nghệ thuật như một ch nh thể Thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học là phản ánh của thế giới thực tại vốn đã là một hệ thống bao gồm con người, không gian, thời gian, sự kiện, ngôn ngữ Nhưng tính hệ thống của thế giới nghệ thuật c n được tăng bởi quan niệm chủ quan của nhà văn nhìn nhận lại, tổ chức lại hình ảnh của thực tại Giữ vai tr trung tâm của hệ thống thi pháp là quan niệm nghệ thuật về con người, mọi yếu tố thi pháp khác chịu
sự ch đạo và chi phối của nó
Trong Thi pháp th ố H u, Trần Đình Sử nhấn mạnh “ u ch của tác ph m văn học là k hiệu thể hiện cho thế giới nghệ thuật đ c sáng tạo ằng tinh th n ấy và thế giới ấy c ng chỉ đ c ộc lộ trọn vẹn hình thức nghệ thuật của n trong th ng thức cảm th của ng i đọc tức là trong tồn tại tinh th n đ ch thực của n Nh vậy hình thức nghệ thuật thực sự kh ng chỉ là các cấu tạo vật chất n ngoài mà c n là các hình thức tinh th n của hình
t ng nghệ thuật nh là cái nhìn nghệ thuật giọng điệu kh ng kh tác ph m
kh ng gian th i gian nh p điệu … mới ch nh là các hình thức mà con
ng i ùng để cảm th cuộc đ i hi pháp học c nhiệm v phát hiện các nguy n tắc tạo ựng n n các hình thức tinh th n của sáng tác văn học [28,
tr.16]
Trang 22Th o Lê Ngọc Trà xác định trong tác phẩm văn chương các lớp yếu tố
cần nghiên cứu “Lớp yếu tố thứ nhất là ng n từ nghệ thuật , “Lớp thứ hai là thế giới nghệ thuật , “Lớp thứ a là kết cấu tác ph m [ 35 ]
Trong D n luận thi pháp học, Trần Đình Sử cho rằng “ hi pháp học nhằm khám phá cái nhìn hình thức nghệ thuật thi pháp học tìm vào hế giới
n trong” của tác ph m nghệ thuật c nh ng quy luật tác động qua lại ri ng của n c các k ch th ớc ri ng c ngh a ri ng nh là một hệ thống” là
m hình thế giới làm c s cho t chức tác ph m và mi u tả hình t ng ác yếu tố của m hình đ là con ng i thế giới gồm th i gian kh ng gian đồ vật màu sắc … thi pháp học kh ng nghi n cứu nh n vật mà tập trung chú vào con ng i làm c s cho việc mi u tả nh n vật ng vậy n quan t m tới
kh ng gian th i gian nh là nh ng yếu tố chi phối việc cảm th và mi u tả
nh n vật hi pháp học kh ng nghi n cứu các chi tiết và iến cố c thể mà tìm hiểu kiểu loại chi tiết và iến cố đạ tạo ra hình t ng c thể ng vậy thi pháp học nghi n cứu m hình ã hội t m l l ch s … nh ng yếu tố n n tảng chi việc mi u tả ã hội t m l l ch s [32, tr.32]
Trong Ph n t ch tác ph m văn học từ g c độ thi pháp, tác giả Nguyễn
Thị Dư Khánh cho rằng các yếu tố quan trọng của thi pháp là yếu tố giọng điệu, vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật, kết cấu
Thi pháp học không lần tìm nội dung ý ngh a nhân sinh của tác phẩm văn học Nó tìm nguyên nhân sâu xa của ý ngh a khám phá giá trị của cái hình thức bên trong, phát hiện ra quy luật và nguyên tắc miêu tả đã lần tìm ra mô hình thế giới, làm cơ sở cho tổ chức tác phẩm và miêu tả hình tượng, mô hình
đó bao gồm thứ nhất thế giới được miêu tả như con người, không gian, thời gian, đồ vật, màu sắc, thiên nhiên chi tiết, xung đột, thứ hai thế giới miêu tả
và thế giới cái miêu tả bao gồm nhân vật, người kể chuyện, nhân vật trữ tình,
Trang 23lời của nhân vật, lời trần thuật, giọng điệu, hình tượng tác giả Tất cả các yếu
tố trên là các yếu tố quan trọng của thi pháp học
Yếu tố đầu tiên chúng tôi muốn nêu ra đó là yếu tố thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật thể hiện ý thức độc đáo và sâu sắc của tác giả văn học Khi xây dựng tác phẩm, nhà văn luôn có ý thức xây dựng thời gian như một phương tiện, một công cụ phục vụ đắc lực cho ý đồ triển khai thế giới nghệ thuật của mình Chính vì thế, thời gian nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng của thi pháp học
Trong D n luật thi pháp học, Trần Đình Sử nhấn mạnh “ h i gian nghệ thuật là một trong nh ng phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học
i vì n thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của nghệ s ” Nghệ s c thể chọn điểm ắt đ u và kết thúc c thể kể nhanh hay chậm c thể kể u i hay
ng c c thể chọn điểm nhìn từ quá khứ hiện tại t ng lai c thể chọn độ
ài một khoảng khắc hay nhi u thế hệ nhi u cuộc đ i h i gian thể hiện thức sáng tạo của nghệ thuật [32, tr.63]
Nguyễn Thị Dư Khánh trong Ph n t ch tác ph m văn học từ g c độ thi pháp khẳng định “Kh ng gian th i gian nghệ thuật là nh ng yếu tố quan trọng của thi pháp học [11; tr.60]
Trong Mùa lạc, Nguyễn Khải không dành nhiều thời gian để trần thuật
lại tuổi thơ cay cực của Đào Ông ch tập trung vào quãng thời gian ngắn ngủi
vài năm kể từ khi chị đến với Điện Biên- “ ùng đất nh ng i phải iết ,
miêu tả cuộc sống lao động sôi nổi cùng lối sống ngh a tình, đùm bọc, yêu thương của những con người trẻ trung nơi ấy, miêu tả những chuyển biến trong suy ngh , tình cảm, tính cách của Đào Từ đó giúp ta nhận thức được ý ngh a của cuộc sống lao động chân chính, của lối sống tình ngh a Nó đóng vai tr quan trọng trong việc giúp thay đổi và hoàn thiện nhân cách
Trang 24Một yếu tố khác cũng không k m phần quan trọng của thi pháp học đó
là không gian nghệ thuật
Theo ừ điển huật ng văn học “Kh ng gian nghệ thuật gắn với cảm
th v kh ng gian n n cảm t nh chủ quan” Kh ng gian nghệ thuật c t nh độc lập t ng đối kh ng đ c qui vào kh ng gian đ a l ” Kh ng gian nghệ thuật chẳng nh ng cho thấy cấu trúc nội tại của tác ph m văn học các ngôn
ng t ng tr ng mà c n thấy quan niệm v thế giới chi u s u cảm th cảm
th của tác giả hay một giai đoạn văn học N cung cấp c s khách quan để khám phá t nh độc đáo c ng nh nghi n cứu loại hình của các hình t ng nghệ thuật [29, tr.160-161]
Trong hi pháp th ố H u, phần không gian nghệ thuật, Trần Đình Sử
đã mở đầu bằng một câu “Kh mà hiểu hết đặc điểm trong quan niệm v thế giới và con ng i của một nhà th nếu kh ng tìm hiểu kh ng gian nghệ thuật trong sáng tác đ [ 28; tr.178]
Từ không gian vật chất bước vào không gian trong tác phẩm văn học
nó có sự thay đổi, ở đó không gian thể hiện một thế giới tinh thần, thế giới tình cảm của nhân vật Không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm
l nh từ đời sống, đồng thời do gắn với ý ngh a giá trị, không gian trở thành ngôn ngữ biểu tượng nghệ thuật
Tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh cho rằng “Kh ng gian đ y kh ng phải chỉ làm ph ng cho tác ph m” h nh kh ng gian là yếu tố vừa mang
t nh nghệ thuật vừa mang t nh nội ung iểu đạt chủ đ của tác ph m [ 11,
tr 61]
Không gian nghệ thuật được xác định do tọa độ nhìn của chủ thể tạo ra Không gian nghệ thuật được miêu tả hình thức không gian của đời sống (đời
Trang 25sống có phố, phường, đường xá, d ng sông tất cả được sử dụng trong tác phẩm) nhưng mang những giá trị mới và ch khi nào tác giả thổi được vào
không gian trong tác phẩm của mình một “hồn sống , một ý ngh a thẩm mỹ
thì đó mới thật sự trở thành không gian nghệ thuật Chẳng hạn như hai câu thơ sau:
Nắng uống tr i l n s u ch t v t Sông ài tr i rộng ến c li u
(Tràng giang – Huy Cận)
Đây ch là một không gian ảo mộng cho thấy niềm khát khao giao cảm
với con người Giữa không gian vắng l ng với cảnh “s ng ài tr i rộng , con
người càng cảm thấy nhỏ b cô đơn Nỗi buồn ấy sâu thăm thẳm th o chiều kích to lớn của không gian
Không gian căn ch i bên bờ sông, nơi Chí Phèo và Thị Nở g p gỡ và
ăn nằm với nhau Tuy không gian ấy không lãng mạn, ước lệ nhưng nó mang bên trong là cả một ý ngh a to lớn đối với Chí, đây là nơi tràn đầy yêu thương giữa hai con người xa lạ, nhưng có những cảm xúc mãnh liệt, đồng cảm với nhau Trong căn ch i này Chí đã ăn bát cháo hành của Thị Nở, từ đó đã đánh thức bản chất lương thiện của Chí sau gần hai mươi năm đi tù và cũng chính không gian này đã mở ra cánh cửa đi đến lương thiện của Chí
Một yếu tố khác tiếp th o không k m phần quan trọng mà th o tác giả
Nguyễn Thị Dư Khánh cho rằng “ lẽ giọng điệu là một trong nh ng yếu tố nghệ thuật c ngh a nhất trong thi pháp c ng nh phong cách nhà văn
nh ng lại kh ác đ nh nhất v mặt l thuyết [11, tr.52] và “Phân tích tác
ph m văn ch ng mà ỏ qua giọng điệu tức là t ớc đi cái ph n rất quan trọng tạo n n ản sắc độc đáo của tác ph m [11, tr.53]
Trang 26Tác giả ừ điển thuật ng văn học cho rằng “Giọng điệu phản ánh lập
tr ng ã hội thái độ tình cảm và th hiếu th m mỹ của tác giả c vai tr rất lớn trong việc tạo n n phong cách nhà văn và tác ng truy n cảm cho ng i đọc hiếu một giọng điệu nhất đ nh nhà văn ch a thể viết ra đ c tác ph m mặc ù đã c đủ tài liệu và sắp ếp trong hệ thống nh n vật
Kh ng n n l n lộn giọng điệu với ng điệu là ph ng tiện iểu hiện của l i n i thể hiện qua cách l n giọng uống giọng nhấn mạnh nh p điệu … ch ngừng Giọng điệu là một phạm trù th m mỹ của tác ph m văn học N đ i hỏi ng i tr n thuật kể chuyện hay nhà th tr tình phải c kh u
kh c giọng điệu Giọng điệu trong tác ph m gắn với giọng tr i phú” của
m i tác giả nh ng mang nội ung khái quát nghệ thuật phù h p với đối
t ng thể hiện Giọng điệu trong tác ph m c giá tr đa ạng c nhi u sắc thái tr n c s một giọng điệu c ản chủ đạo chứ kh ng đ n điệu [ 29,
tr.134 - 135]
Giọng điệu nghệ thuật không phải là tín hiệu âm thanh có âm sắc đ c thù để nhận ra giọng nói Giọng điệu là thái độ tình cảm, lập trường, tư tưởng, đạo đức của nhà văn với hiện tượng miêu tả, thể hiện trong lời văn quy cách xưng hô, gọi tên dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm Nếu như trong đời sống ta thường ch ngh giọng nói nhận ra con người thì trong văn học, giọng điệu giúp chúng ta nhận ra tác giả
Khi đọc thơ Tố Hữu ta nhận ra ngay giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết, giọng của tình thương mến
Trang 27_ ình v mình c nhớ ta
i lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
iệt Bắc – Tố Hữu) _ Huế i qu mẹ của ta i!
Nhớ tự ngày a thu chín m i
y núi hiu hiu chi u lặng lặng
a nguồn gi iển nắng a kh i
(Qu mẹ - Tố Hữu )
Đọc truyện của Nam Cao, ta bắt g p những cái tên mà chính tác giả
cũng thấy nó “nh chọc vào l tai như Lang Rận, Chí Phèo, đ Chuột, Lê
Văn Rự, Trạch Văn Đoành cả tên tác phẩm nhiều khi ngh cũng khác lạ
(Rình trộm cách mõ h i v đi ) Nhà văn đi sâu vào tìm t i, khám phá
và diễn tả cái bề sâu của đời sống hiện thực Ng i bút của ông chủ yếu hướng vào những con người cùng khổ Những truyện ông viết, xoay quanh vấn đề cơm áo, gạo tiền thật cảm động, xót xa Thông qua những câu chuyện đó,
ng i bút của Nam Cao hướng về nỗi đau khổ, vất vả về đời sống tinh thần, những nỗi đau xót xa âm thầm mà dữ dội, những bi kịch nội tâm, những xung đột giằng x trong từng con người, từng số phận, giữa cái xấu xa và cái tốt, cái cao thượng và cái thấp hèn, cái nhân hậu vị tha và cái ích kỷ, độc ác Điều đó đã làm nên giọng điệu của nhà văn Nam Cao
Một yếu tố khác mà trong hi pháp th ố H u, Trần Đình Sử nhấn mạnh “Bỏ qua quan niệm nghệ thuật v con ng i sẽ n đến hiểu giản đ n
ản chất phản ánh của văn nghệ Hoặc là đồng nhất t t ng sáng tạo với thế
Trang 28giới quan hạ thấp y u c u sáng tạo t t ng nghệ thuật th m mỹ của tác giả, cho rằng nhà văn chỉ c t m hồn là đủ Hoặc là rút gọn ti u chu n của t nh
ch n thực vào một điểm là mi u tả giống hay kh ng giống so với đối t ng
à nh vậy kết quả c ng m nhẹ vai tr sáng tạo nghệ thuật của nhà văn [
28, tr.97]
Việc miêu tả con người trong văn học không bao giờ là sự sao ch p, chụp ảnh Nhà văn không bao giờ bê nguyên xi hiện thực cuộc sống đ t lên trang viết, mà trước khi đến với độc giả, hiện thực ấy đã được nhào n n, và tất
cả những con người, sự vật, hiện tượng đều đã nhìn qua lăng kính chủ quan của tác giả Về phương diện này, chúng ta cũng cần lưu ý là quan niệm tư tưởng, triết lý về con người và quan niệm nghệ thuật vừa có quan hệ mật thiết với nhau lại vừa phải được phân biệt rạch r i Ở mỗi thời đại, quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả không giống nhau Tuy nhiên, để phản ánh bề sâu l n bề rộng của nhân vật thì các nhà văn buộc phải trau dồi tư tưởng, không ngừng mở rộng và đổi mới quan niệm nghệ thuật
Thông qua những nhân vật của mình, Nguyễn Minh Châu trăn trở, suy ngh không ngừng về số phận của con người bình thường trong cuộc sống Họ sống cuộc sống vất vả và khốn khó Bảo vệ cuộc sống cho họ, tin vào năng lực của nó là khao khát mà nhà văn muốn thực hiện Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, đằng sau bức tranh cuộc sống thu hẹp của gia đình trên chiếc thuyền chài là những con người nhỏ b , tội nghiệp cần được yêu thương, ch chở Các nghịch lý trong cuộc sống của gia đình ấy ngay từ đầu đã cho người
nghệ s nhiếp ảnh bất bình Cái cảnh người đàn bà phải chịu “ a ngày một trận nhẹ năm ngày một trận nặng đ i hỏi phải giải quyết thích đáng bằng
phát luật Nhưng khi ngh được lời tâm sự của người đàn bà, thì người nhiếp ảnh nhận ra rằng bảo vệ con người không phải bằng ý chí chủ quan, bằng sự công bằng mà phải bằng sự thấu hiểu để nhìn thấu đáo sự việc M c dù chịu
Trang 29nhiều nghịch lý nhưng người đàn bà v n cảm thấy hạnh phúc Người đàn bà
ấy có ý thức rất r về cuộc sống và hoàn cảnh của gia đình mình trên chiếc thuyền là không thể thiếu người đàn ông Người đàn ông kia đánh đập người đàn bà là do hoàn cảnh khốn khó cuộc sống, nhưng v n là chỗ dựa để người đàn bà kia tin và chấp nhận Đó là niềm tin về cuộc sống – niềm tin vào con người Và đó cũng là niềm tin của tác giả vào năng lực của con người, biết sống tốt, có ý thức và hoàn thiện bản thân trong cuộc sống Nguyễn Minh
Châu quan niệm “ i con ng i đ u chứa đựng trong l ng nh ng nét đẹp
đẽ kỳ iệu đến n i cả một đ i c ng ch a đủ nhận thức khám phá tất cả
nh ng cái đ nên mỗi sáng tác của nhà văn là một quá trình đi tìm “hạt ngọc
n giấu trong s u t m hồn con ng i
Một yếu tố khác mà tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh cho là quan trọng
của thi pháp “ ứng ình iện thi pháp thì kết cấu c ngh a chi phối Ở
đ y chúng t i kh ng àn tới nh ng kiểu kết cấu đứng ình iện loại hình kết cấu ch ng hồi kết cấu truy n thống kế cấu t ng phản kết cấu đ u cuối
t ng ứng… trong các loại hình loại thể khác nhau Ở đ y chúng ta muốn
n i tới vai tr của kết cấu trong việc t chức n trong li n kết các yếu tố nghệ thuật khác nhau để tạo thành chỉnh thể thống nhất của tác ph m ao gồm việc sắp ếp các sự kiện iến cố hành động của các nh n vật chọn lựa
th i gian và kh ng gian t chức ng n ng c u văn c u th … cả nhất chi tiết nhỏ nhất một ấu chấm l ng một cái ngoặc đ n ngoặc kép đặt đúng ch nhi u khi c ng phát huy hiệu lực th m mỹ mạnh mẽ [ 11, tr.64]
Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và th o một chiều hướng tư tưởng nhất định
Trang 30Một yếu tố khác mà chúng tôi coi đó cũng là một trong những yếu tố quan trọng của thi pháp học là yếu tố ngôn ngữ M.Gorki đã khẳng định:
“Ng n ng là yếu tố đ u ti n của văn học Bởi thế, một trong những nhiệm
vụ hết sức quan trọng của thi pháp học là nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ để từ
đó nhìn nhận các giá trị văn học như một ch nh thể toàn vẹn và có tính tổ chức cao
Trong n luận thi pháp học, Trần Đình Sử cho rằng “ Bakhin c
n i rằng thật là ng y th nếu cho rằng nghệ s chỉ c n một ng n ng là ng n
ng tức là ng n ng của nhà ng n ng học i vì chỉ nhà ng n ng học mới nghi n cứu ng n ng nh là một ng n ng hực ra nghệ s gia c ng ng n
hức năng của ng n từ nghệ thuật là sáng tạo ra thực tại nghệ thuật sáng tạo ra khách thể th m mỹ đồng th i sáng tạo ra ản th n các hình
t ng ng n từ các iểu tr ng nghệ thuật các hình thức l i th l i văn u i nghệ thuật để thỏa mãn nhu c u giao tiếp nghệ thuật [32, tr.163]
Nghiên cứu thi pháp lời văn nghệ thuật là nghiên cứu cách thức sử dụng các phương thức và phương tiện ngôn ngữ để sáng tạo nghệ thuật, tạo nên được hiệu ứng thẩm mỹ mạnh mẽ và độc đáo của văn chương
Miêu tả hình dáng của Chí Phèo sau khi đi tù về, Nam Cao viết “cái
đ u trọc l c cái răng cạo trắng hớn cái mặt thì đ n mà rất c ng c ng hai mắt g m g m tr ng gớm chết! Hắn mặc qu n nái đ n với cái áo t y vàng
Trang 31ái ngực phanh đ y nh ng nét chạm tr rồng ph ng với một ng t ớng c m chùy cả hai cánh tay c ng thế r ng gớm chết! [27, tr.146] Đó là hình ảnh
của Chí sau khi đi tù về Từ hình dáng bên ngoài đó, nhà văn như báo hiệu cho người đọc thấy được sự thay đổi, sự tha hóa ngay trong chính bản thân nhân vật
Cái tạo nên phong cách ngôn ngữ của mỗi nhà văn thường thể hiện rất
r ở phương diện ngôn ngữ mà họ sáng tạo trong tác phẩm của mình Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện, phản ánh những n t đ c sắc trong thế giới nội tâm của người cầm bút, các quan điểm và phong cách sống của họ cũng như toàn
bộ thế giới khách quan thông qua cái nhìn của nhà văn
1.2 Thể l i truyện ngắn tr ng sáng tác của Nguy n hải
1.2.1 Vị tr của thể l i truyện ngắn tr ng sáng tác của Nguy n hải
Nguyễn Khải trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp, kể từ khi cầm bút sáng tác cho đến khi từ giã c i đời, nhà văn đã đều đ n hàng năm cho
ra đời những tác phẩm mới và đ c biệt có nhiều thành tựu từ những năm h a bình Ông sáng tác trên nhiều thể loại như ký sự, tạp văn, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, tự truyện, tùy bút Và hầu như những tác phẩm của Nguyễn Khải
ra đời, dù ở thời chiến hay thời bình, dù khi ông c n trẻ hay khi đã về già, kể
cả những năm tháng cuối đời, đều được đông đảo bạn đọc và giới phê bình
đón đợi và đánh giá cao
Ở thể loại tiểu thuyết, Nguyễn Khải có những sáng tác sau X y ựng (1952, giải khuyến khích – giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam), Ng i con gái quang vinh (1956) viết về người con gái anh hùng Mạc Thị Bưởi Năm 1959, Nguyễn Khải cho ra đời phần của tiểu thuyết Xung đột Bối cảnh
hiện thực của cuộc sống là cuộc đấu tranh khẳng định con đường xã hội chủ ngh a ở một vùng nông thôn công giáo Các thế lực phản động đội lốt tôn
Trang 32giáo, lợi dụng l ng tin thơ ngây của nhiều giáo dân, lôi k o, kích động họ
chống lại chính quyền cách mạng bằng nhiều thủ đoạn Nhan đề Xung đột
chính là xung đột giữa hai hệ tư tưởng đối lập (cách mạng và phản cách
mạng) Năm 1961, Nguyễn Khải cho in tập 2 của tiểu thuyết Xung đột, xung
đột đối kháng không c n nữa, nhưng lại xuất hiện mối bất đồng giữa các cán
bộ đứng mũi chịu sào tại địa phương Cái tạo nên thành công cho tác phẩm này là khả năng quan sát, tính, nắm bắt trúng những vấn đề phức tạp về tư
tưởng đang diễn ra trong l ng người Xung đột giàu tính chiến đấu, là tiếng
nói sắc sảo phê phán những mưu đồ phản cách mạng, cảnh t nh sự mê muội của con người
Tiếp th o sau đó, Nguyễn Khải cho ra đời hàng loạt các tác phẩm như
ng trong m y (1970), Ra đảo (1970), hủ t ch huyện (1972), hiến s
(1973) Đây là những tác phẩm nóng hổi tính thời sự, bám sát các sự kiện lớn trong cuộc sống chiến đấu của dân tộc Hiện thực khốc liệt được nhà văn dùng làm phông nền để khắc họa nổi bật vẻ đẹp của con người Việt Nam l ng yêu nước, tinh thần kỷ luật, niềm khao khát khẳng định phẩm giá trước kẻ thù,
t nh táo trong nhận thức, thông minh, tháo vát trong hành động và đức tính kiên nh n, khiêm nhường
Trong tiểu thuyết ha và con và … (1978), Nguyễn Khải đã khắc họa
khá sinh động quá trình tâm lý, tư tưởng phức tạp ở cha Thư để đưa tới kết luận tôn giáo muốn tồn tại phải thấm nhuần tư tưởng vì dân, Chúa không ở
trong giáo lý, kinh viện mà “ húa cùng và trong nh ng con ng i trung thực chất phác nh ng ng i lao động ch u đựng mọi kh nhọc
C n ở Gặp gỡ cuối năm (1982), nhà văn lấy bối cảnh đô thị miền Nam
sau ngày giải phóng Một bàn tiệc tất niên trong một gia đình thượng lưu của chế độ cũ Thực khách đều là trí thức và đều có quan hệ họ hàng nhưng đại diện cho những xu hướng chính trị khác nhau, có quan niệm sống khác nhau
Trang 33Ở tác phẩm này tính đối thoại và màu sắc triết luận của ng i bút Nguyễn Khải
là một n t mới Ngay khi khẳng định sự thắng thế của cách mạng, nhà văn
v n không ngần ngại để cho nhân vật nêu lên những non k m, ấu tr trong cách quản lý điều hành xã hội và bệnh sính lý luận của chúng ta
Các tác phẩm được viết liền sau đó h i gian của ng i (1985), i u tra v một cái chết (1986), ng s ng đến v cùng (1987) Hai năm sau, Nguyễn Khải cho ra đời tác phẩm ột cõi nh n gian é t (1989): Cõi nhân
gian tưởng lớn rộng hóa ra chật chội vì con người quá nhiều tham vọng và lầm lạc, nhưng đấy cũng là lẽ thường tình của kiếp người Cách sống thích hợp chính là biết chấp nhận nghịch lý và những ng u nhiên, may rủi, để có được sự thanh thản tinh thần Tác phẩm giàu sắc thái u mua và âm hưởng buồn
Đến năm 2003, tiểu thuyết h ng đế thì c i mới xuất hiện, Nguyễn
Khải như muốn nhìn lại toàn bộ đời văn của mình bằng cái nhìn chiêm nghiệm, đồng thời cũng để giãi bày với bạn đọc nhiều nỗi niềm riêng Ông đã
vẽ chân dung mình khá t m , từ ngoại hình đến tâm tính, từ tư tưởng đến số phận
C n ở thể loại ký và kịch thì ông có những tác phẩm sau
Ký Khi cuộc chiến tranh lan ra miền Bắc, Nguyễn Khải tập trung viết
về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; về chủ ngh a anh hùng cách mạng của các chiến s đảo Cồn Cỏ, vị trí đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ ngh a
Họ sống và chiến đấu 1966), tiếp th o sau đó Nguyễn Khải cho ra đời tác phẩm Hòa vang (1967), chiến dịch Hồ Chí Minh vừa kết thúc, Nguyễn Khải
đã có ngay háng a y Nguy n 19 6 , một tập ký sự nóng hổi tính thời
sự, đồng thời là một thứ văn học giàu tính chính luận và cả tính thông tấn, khẳng định những nguyên nhân d n đến thắng lợi vẻ vang, tất yếu, có tính qui luật của một cuộc chiến tranh chính ngh a, của một chiến lược chiến thuật
Trang 34quân sự đúng đắn , của những con người đã nguyện chiến đấu đến cùng cho độc lập, tự do và chủ ngh a xã hội
Kịch ách mạng (1976) Nêu lên hoàn cảnh của một số người ở thành
phố vừa được giải phóng, họ bước vào cuộc sống với nhiều m c cảm, ngỡ ngàng và hổ thẹn vì quá khứ Tuy nhiên thời thế đã buộc mọi người phải chấp nhận mọi thử thách, phải quyết định và lựa chọn cho mình nột con đường đi
Có những người như Huy và chị Hoàng v n c n luyến tiếc cái ảo ảnh của
cuộc sông cũ Họ thu mình lại “trong ốn ức t ng của ph ng ngủ đ
kh ng c cách mạng kh ng c m t ting kh ng c các ng các à cán ộ mang n n ngồi trong Fanc ng n a” Ngoài đ ng cứ việc hò hét cách mạng n trong nhà này ch m ta v n oa mạt ch c uống áct n và ăn
đ m nh a [13, tr.29] Đó là những con người đại diện cho thế giới cũ,
“nh ng cái t thi đã thối r a mà ch a ai ch u ch n đi cho [13, tr.35] Một số
người khác muốn quay lưng lại hoàn cảnh mà không được Họ không vượt được hoàn cảnh vì chưa bao giờ vứt bỏ được quá khứ Họ sống yếu đuối, nhu nhược, ưa thích sự qu n thuộc và run sợ trước mọi sự thay đổi Phượng là người đầu tiên trong cái gia đình thượng lưu đó dám lựa chọn chủ ngh a xã hội và lên án không thương tiếc cái xã hội quý phái lừa lọc, phản bội, cạnh tranh, cướp đoạt Phượng là con người thẳng thắn, có bản l nh, dám nhìn thẳng vào sự thật, dù là sự thật đau đớn Phượng không bị ràng buộc với quá khứ, không hề luyến tiếc nó và thèm muốn một cách thầm l n cái hoan lạc, cái ảo ảnh của nó Phượng bằng l ng sống trong những thiếu thốn của hiện
tại, iết lựa chọn một cách sống trong sạch và l ng thiện tự trọng và c trách nhiệm Có thể bước đầu sự chuyển biến của Phượng có hơi cứng nhắc
“ i sẽ in một c ng việc ễ làm iệc gì c ng đ c lao c ng quyét đ ng hoặc một ch n r a át trong các khách sạn iễn là đ c sống l ng thiện ằng mồ h i của ch nh mình [13, tr.35] Nhưng sự lựa chọn của Phượng là
Trang 35th o hướng đi lên tiến bộ “ rong nh ng t ng lai cách mạng sẽ lựa chọn
nh ng ng i nh c để sung cho đội ng [13, tr.103]
Cùng với thể loại tiểu thuyết, ký và kịch, thể loại truyện ngắn, có những sáng tác sau
ùa lạc (1960), tác phẩm là sản phẩm của chuyến đi thực tế ở nông
trường Điện Biên, nơi quan hệ sản xuất tập thể đang trở thành mô hình lý tưởng Nguyễn Khải khẳng định vẻ đẹp của những người lao động kiểu mới – những con người làm cho sự gắn kết cộng đồng trở thành nhu cầu máu thịt của mỗi cá nhân Cuộc sống hồi sinh k diệu vết thương chiến tranh trên da thịt đất đai được chữa lành, hạnh phúc m m cười với các số phận bất hạnh; con người hướng đến tương lai bằng cảm giác tin yêu, thanh thản giữa sự khích lệ, đùm bọc của tập thể
Hãy đi a h n n a (1963), Ng i tr v (1964) viết về chủ đề phong
trào hợp tác hóa nông thôn, từ hình dung về một mô hình nông thôn sản xuất lớn xã hội chủ ngh a, Nguyễn Khải soi chiếu vào các quan hệ cụ thể giữa cá nhân với cộng động và nhanh chóng phát hiện ra những điều bất ổn bệnh sính thành tích, phô trương ồn ào của một số đơn vị tiên tiến nhưng nhận thức về cái chung, cái riêng có khi c n khá mập mờ, là những tính toán có màu sắc vụ lợi ho c tự phụ cá nhân của một số cán bộ chủ chốt khiến người dân nghi ngờ, phân tâm
Ở giai đoạn sau này, Nguyễn Khải viết nhiều về những cảnh ngộ cá biệt, những hành trình sống đầy nhọc nhằn do bao hệ lụy thường tình, những cuộc vật lộn kiên cường của con người với hoàn cảnh để bảo vệ một niềm tin
cá nhân, và những giá trị của nhân cách con người ột ng i Hà Nội (1990),
ột th i gi i (1993), S già chùa hắm và ng đại tá v h u (1993), Hà Nội trong mắt t i (1995 Sống đ i (2002)
Trang 36Nguyễn Khải viết ở nhiều thể loại và thể loại nào ông cũng có những tác phẩm đ c sắc Ông thuộc loại nhà văn càng viết càng hay và càng có sức
hấp d n đối với người đọc Có được điều đó bởi ông luôn tâm niệm “ hải say m phải cuồng nhiệt phải triệt để trong mọi ni m tin và mọi y u ghét
nh vậy anh ta mới tạo n n nh ng tác ph m nghệ thuật c sức truy n cảm mãnh liệt Với cách ngh đó, ng i bút của Nguyễn Khải luôn hướng đến mục đích “gi o m m thiện trong t ng lai và “ngăn cản m m ác sinh s i trong
1.2.2 Quá trình sáng tác truyện ngắn của nhà văn Nguy n hải
Nguyễn Khải đã từng tự chia quá trình sáng tác của mình như sau “ ừ năm 1955 đến năm 19 t i sáng tác th o một cách khác từ năm 19 8 đến nay sáng tác th o một cách khác [ 20 ] Qua tìm hiểu các bài viết, công
trình nghiên cứu và thực tế khảo sát của bản thân, chúng tôi chia quá trình sáng tác của Nguyễn Khải th o cách chia của nhà văn
1.2.2.1 Giai đ n sáng tác tr c 1978
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Khải bắt đầu tham gia cách mạng
và làm qu n với nghề viết, lúc đầu là viết báo, làm một cán bộ tuyên huấn Đó cũng là những năm tháng kháng chiến chống Pháp diễn ra sôi nổi và hào hùng Là một chiến s cách mạng, Nguyễn Khải nhận thức được nhiệm vụ của người cầm bút, vì thế trong giai đoạn này, nhà văn đã có nhiều tác phẩm phục
vụ cho công cuộc đấu tranh chung của dân tộc
Trang 37Năm 1950, Nguyễn Khải cho ra đời truyện ngắn mang tên Ra ngoài đăng trên tạp chí Lúa ới của Chi hội Văn nghệ Liên khu ba Tiếp sau đó ông cho ra đời truyện vừa có tên X y ựng (1955) Nhưng như nhà văn đã tự đánh
giá, những tác phẩm ấy đều thất bại và không l lói chút tài năng nào của
người cầm bút Khi truyện ngắn Nằm vạ (1956) ra đời thì Nguyễn Khải mới xem Nằm vạ là truyện chính thức Tiếp th o sau đó trong hai năm 1957
1958, ông lần lượt xuất bản những phần đầu của tiểu thuyết Xung đột Tác
phẩm này là kết quả của chuyến đi thâm nhập thực tế của nhà văn ở vùng đạo gốc thuộc huyện H a Hậu t nh Nam Định khi Đảng ta tiến hành sửa sai trong cải cách ruộng đất và bắt đầu cho cuộc vận động phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, tác phẩm phản ánh r những mâu thu n giữa ta và địch dưới mọi hình thức mới, bọn phản động đội lớp tôn giáo để phá hoại thành quả cách mạng
Xung đột ra đời là một sự kiện đáng chú ý trên văn đàn lúc bấy giờ, được dư
luận sôi nổi đón nhận và đánh giá
Trong phong trào xây dựng vùng kinh tế mới, hàn gắn vết thương chiến tranh, Nguyễn Khải đã lên với nông trường Điện Biên, nơi xưa là chiến trường oanh liệt, nay là nông trường với bạt ngàn màu xanh của cây cỏ, ông
đã viết tập truyện ùa lạc (1960) trong niềm tin tưởng, lạc quan trước cuộc
sống mới Từ những thay đổi của mỗi cuộc đời nhân vật, người đọc sẽ nhận thấy rằng chúng ta đang sống trong một xã hội tốt đẹp và giàu tình cảm nhân đạo
Tiếp th o sau đó là những tác phẩm m nhìn a (1963) và Ng i tr
v (1964) lần lượt ra mắt đọc giả Có thể nói, cho đến nay m nhìn a v n là
một trong những tác phẩm hàng đầu thể hiện sự nhạy cảm của nhà văn với vấn đề nông thôn nói riêng và mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể trong công cuộc xây dựng xã hội chủ ngh a ở nước ta nói chung Đây cũng
là hai tác phẩm đánh dấu một bước phát triển mới trong tài năng của Nguyễn
Trang 38Khải Đó là thành công trong việc xây dựng nhân vật phản diện với những cá tính r rệt
Trong những năm tháng nóng bỏng nhất của cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ l o thang đánh phá miền Bắc Nguyễn Khải đã tiếp tục cho ra đời những sáng tác mang hơi thở hào hùng sôi động của cuộc chiến chống Mỹ
cứu nước Nguyễn Khải cho ra đời ký sự Họ sống và chiến đấu (1966); đến
với những chiến s công binh đang trấn giữ một địa điểm cực k ác liệt ở
Trường Sơn Ông viết ng trong m y (tiểu thuyết, 1970); vào đất lửa V nh
Linh, đến với những con người xông pha vượt mọi nguy hiểm để đưa hàng
tiếp tế ra Cồn Cỏ, ông có tác phẩm Ra đảo (1973)
Khi nhìn nhận lại thời k sáng tác này, Nguyễn Khải nói “Tôi không
th ch nh n vật chỉ đ n thu n một chi u i muốn nh n vật của mình lớn l n trong ằn vặt m u thu n để đến với chủ ngh a anh hùng cách mạng Nh ng trong th i chiến cả n ớc đang lao vào cuộc chiến tranh giải ph ng n tộc mình kh ng thể viết nh thế đ c ì vậy để khai thác nh ng nh n vật nội
t m nay t i phải chuyển h ớng sang đ tài khác” [33, tr.22]
Qua những tác phẩm ấy, Nguyễn Khải đã đóng góp một tiếng nói riêng, một cách nhìn nhận và tiếp cận riêng trước hiện thực cách mạng
Tất cả đã làm nên một Nguyễn Khải không thể l n lộn với bất k một tác giả nào khác được Thể loại truyện ngắn đã có nhiều thành tựu trong giai đoạn này và nó càng phát huy nhiều thế mạnh hơn nữa trong giai đoạn sau
1975
1.2.2.2 Giai đ n từ 1978 đến hi qua đ i
Sau 1975, đất nước thống nhất, đây cũng là thời điểm Nguyễn Khải tiếp cận với một hiện thực hoàn toàn mới mẻ - cuộc sống miền Nam sau giải phóng Sau khi cách mạng giải phóng dân tộc giành thắng lợi, nó làm thay đổi
Trang 39tất cả mọi phương diện trọng đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và cả những thói qu n sinh hoạt hàng ngày Nguyễn Khải đã nhanh chóng nhận ra được sự tác động mạnh mẽ của chuyển biến này đến các tầng lớp, giai cấp nhân dân miền Nam Cùng với những trải nghiệm của bản thân và sự trưởng thành trong nhận thức, Nguyễn Khải đã cho ra đời những tác phẩm mang ý
ngh a thâm trầm và giàu tính triết lý như kịch ách mạng (1978), Hành trình đến tự o (1980), Khoảng khắc đang sống (1982); tiểu thuyết Cha và con và (1979), Gặp gỡ cuối năm (1982), h i gian của ng i (1985) Tính triết
lý thể hiện r trong sáng tác của Nguyễn Khải qua thể loại kịch, triết lý với tác giả, với bạn đọc để tranh luận đi đến làm sáng tỏ một vài vấn đề nào đó
Tiểu thuyết Cha và con và tiếp tục đề tài tôn giáo Tác phẩm Gặp gỡ cuối năm thể hiện khả năng lựa chọn tình huống, sở trường trong việc miêu tả phản
ánh những cái ngổn ngang, bề bộn, xô bồ của cuộc sống Ch vỏn vẹn năm tiếng đồng hồ chờ đón phút giao thừa nhà văn đã nói lên được bao điều v n đang tồn tại trong hiện tại Thời gian của người, thông qua từng số phận của nhân vật, tác giả đã luận bàn, đối thoại với bạn đọc về những khía cạnh để làm nên mỗi cuộc đời của con người Mỗi người chúng ta sống trong cuộc đời
ch có một khoảng thời gian không dài lắm trong cái vô hạn của thời gian vũ trụ, vậy k o dài thời gian đó bằng cách nào? Đó là câu hỏi mà tác phẩm muốn
đ t ra và mời gọi mọi người cùng trả lời và giải quyết
Thời k đất nước tiến hành đổi mới từ 1986, nền kinh tế thị trường xuất hiện k o th o nhiều thay đổi của các quan hệ xã hội, các quan niệm về cuộc sống con người, điều này đã làm thay đổi về quan niệm về con người của nhà văn Th o khảo sát của chúng tôi, khi nói đến những nhà văn hàng đầu trong công cuộc đổi mới văn học, thì những công trình nghiên cứu văn học sau
1975, tên tuổi của Nguyễn Khải v n luôn được xếp hàng đầu Những sáng tác của Nguyễn Khải trước năm 1975 xoay quanh vấn đề cách mạng, là muôn
Trang 40m t trong cái chung của dân tộc, đất nước thì những sáng tác sau năm 1975,
ng i bút của ông lại tìm về cái phía hiu quạnh hơn, l ng lẽ hơn của những cuộc đời, những số phận con người Nhà văn thiết tha đi tìm cái đẹp đang ẩn giấu trong những bề bộn của cuộc sống để chiêm nghiệm nó, ca ngợi nó với một cái nhìn gần gũi hơn, với một tiếp cận đa dạng hơn Ngoài ba cuốn tiểu
thuyết i u tra v một cái chết (1986), ng s ng đến v cùng (1987), ột cõi nhân gian bé tí (1989) Trong giai đoạn này, Nguyễn Khải chủ yếu viết
truyện ngắn Những truyện ngắn của ông ra đời, từ trước đến nay v n luôn là một sự hấp d n lớn đối với độc giả và những người làm công tác nghiên cứu
phê bình ột giọt nắng nhạt (1988), tập truyện ột ng i Hà Nội (1990) bao gồm truyện ngắn nổi tiếng như Nếp nhà, húng t i và ọn hắn, ất kinh kì,
Ng i v Nắng chi u, ột ng i Hà Nội chủ yếu viết về những con người
mà nhân cách, nếp sống của họ là những tinh hoa của một Tràng n xưa, nay
c n sót lại và giữa bao bề bộn của cuộc sống, những tinh hoa đó v n luôn lấp lánh trong mỗi con người nhỏ b , sống l ng lẽ ở mỗi ng phố, giữa chốn phồn hoa náo nhiệt Hà thành Trong giai đoạn này, nhiều nhà văn cùng thời đã chạy
th o thi hiếu với những mức độ khác nhau, thì Nguyễn Khải v n giữ được phong cách của mình, v n luôn trân trọng tìm về phía tốt đẹp Đây cũng là thời k đ nh cao của sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải Ông lần lượt cho ra đời những tập truyện có chất lượng, được đánh giá cao, thể hiện được phong
cách như S già chùa hắm và ng đại tá v h u (1993), ột th i gi i (1993) Tập truyện ngắn Hà Nội trong mắt t i (1995), anh ự, Sống đ i
(2002) Thời k này, Nguyễn Khải rất ưu ái và đ c biệt có duyên với thể loại truyện ngắn Đây cũng là thể loại phát huy được sở trường ng i bút của Nguyễn Khải Truyện ngắn Nguyễn Khải giàu tính chất chiêm nghiệm, sự lịch lãm, trải đời, khiến người đọc bị cuốn hút trước bao nhiêu những suy tư, trăn trở về số phận nhân vật