Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của các thể loại văn bản với việc dạy đọc hiểu ở lớp 4, lớp 5.... Nhìn chung, các giáoviên cha tìm ra phơng pháp dạy học phù hợp với đặc trng thể loại văn
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh
Trang 2Trêng §¹i häc Vinh
Trang 3Luận văn này đợc thực hiện tại Trờng Đại học Vinh, dới sự hớng dẫntận tình chu đáo của cô giáo Chu Thị Thuỷ An.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Chu Thị Thuỷ An, các
thầy cô giáo khoa Sau đại học, khoa Giáo dục tiểu học - Trờng Đại học Vinh;Ban giám hiệu và giáo viên các trờng thực nghiệm, bạn bè, đồng nghiệp đãgiúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhng chắc chắn luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót, tác giả rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của cácthầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Vinh, tháng 12 năm 2008.
Tác giả
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phơng pháp nghiên cứu
7 Bố cục của luận văn
Chơng 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.2 Bản chất của quá trình dạy đọc hiểu và đặc điểm của dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5
1.1.3 Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của các thể loại văn bản với việc dạy đọc hiểu ở lớp 4, lớp 5
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chơng trình, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, lớp 5 với việc dạy đọc hiểu
1.2.2 Nhận thức về việc dạy đọc hiểu theo đặc trng thể loại văn bản ở lớp 4, 5 và thực trạng sử dụng phơng pháp dạy đọc hiểu của giáo viên
1.2.3 Thực trạng đọc hiểu của học sinh
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng
1.3 Tiểu kết chơng 1
Trang 52.1 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu các văn bản thông thờng
2.1.1 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản báo chí
2.1.2 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản hành chính
2.2 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản nghệ thuật
2.2.1 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ
2.2.2 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản văn xuôi
2.2.3 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kịch
2.3 Tiểu kết chơng 2
Chơng 3 Dạy học thử nghiệm
3.1 Mục đích thử nghiệm
3.2 Nhiệm vụ của dạy học thử nghiệm
3.3 Đối tợng dạy thử nghiệm
3.4 Nội dung dạy thử nghiệm
3.5 Tiến trình dạy thử nghiệm
3.6 Kết quả thử nghiệm
3.7 Kết luận rút ra từ dạy học thử nghiệm
Kết luận chung
1 Kết luận
2 Đề xuất
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Ngày nay, cục diện thế giới có nhiều thay đổi, cách mạng khoa học
và công nghệ liên tục phát triển với trình độ cao thúc đẩy quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền sản xuất và đời sống xã hội, cạnhtranh kinh tế, thơng mại, khoa học, công nghệ diễn ra gay gắt Cộng đồngquốc tế phải cùng nhau hợp tác những vấn đề có tính toàn cầu cần đợc giảiquyết mà không một quốc gia riêng lẻ nào tự có thể giải quyết đợc Bên cạnh
đó xu thế hội nhập quốc tế, hợp tác và cạnh tranh gay gắt trong khu vực vàtrên toàn thế giới đã trở thành thách thức đối với việc đào tạo nguồn nhân lựccủa từng quốc gia Vì vậy, Đảng và Nhà nớc ta đã có những chủ trơng, đờnglối, quan điểm chỉ đạo và chính sách đúng đắn nhằm đổi mới việc đào tạo giáodục con ngời ở các cấp học, ngành học Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản ViệtNam lần thứ VIII (tháng 6/1996) đã nhấn mạnh: “Nâng cao dân trí, bồi dỡng
và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời Việt Nam là nhân tố quyết địnhthắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc" Có nh vậy,mới góp phần đào tạo ra lớp ngời lao động phục vụ công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nớc và hội nhập quốc tế ở những năm đầu thế kỷ 21
Ngay từ những năm 1990, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bắt đầu xây dựng
kế hoạch cải cách chơng trình tiểu học Năm 1995, Bộ Giáo dục và Đào tạo đãtiến hành xây dựng chơng trình tiểu học mới Sau 5 năm thực nghiệm, theoquy định của Chính phủ, từ năm học 2002 - 2003, chơng trình mới đợc sửdụng trên phạm vi toàn quốc, năm học 2006 - 2007, toàn bộ bậc học tiểu học
đã sử dụng chơng trình, sách khoa tiểu học mới
1.2. Chơng trình tiếng Việt mới đợc biên soạn trên cơ sở thành tựu hiện
đại về nghiên cứu ngôn ngữ và tiếng Việt trong hệ thống hoạt động chức năng;các kinh nghiệm về dạy tiếng (tiếng mẹ đẻ, tiếng phổ thông, ngoại ngữ) trênthế giới và khu vực; kế thừa và phát huy những thành tựu của việc dạy tiếngViệt ở Việt Nam
Tập đọc là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong môn tiếngViệt ở tiểu học, đảm nhiệm việc hình thành và phát triển một kỹ năng quantrọng hàng đầu của ngời học Mục đích của việc đọc không chỉ là đọc lu loátnhững gì đợc thể hiện trên văn bản mà các em còn có nhiệm vụ hiểu đợcnhững điều đã đợc đọc, kể cả những điều ngời viết muốn nói nhng không trực
Trang 7tiếp bộc lộ qua từng câu chữ cụ thể của văn bản Chỉ khi biết cách hiểu, hiểusâu sắc thấu đáo các văn bản đã học, học sinh mới có trong tay một công cụ
để lĩnh hội tri thức, t tởng, tình cảm của ngời khác, từ đó, học sinh mới có khảnăng tự học, tự bổ sung kiến thức cần thiết cho bản thân và làm cho học sinhthêm yêu thích môn học
1.3. Nội dung chơng trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, 5 phân môn
Tập đọc có rất nhiều đổi mới, phơng pháp đa dạng Bên cạnh các văn bản nghệthuật chiếm chủ yếu nh văn miêu tả, thơ, truyện, ký, tuỳ bút các nhà biên soạncòn đa ra cho học sinh làm quen với một số văn bản phi nghệ thuật nh văn bảnbáo chí, văn bản hành chính Mỗi loại văn bản có những điểm khác nhau cơbản về thể loại cũng nh nội dung ý nghĩa Ngời giáo viên trong quá trình dạyhọc phải căn cứ vào đặc điểm của từng loại văn bản để xây dựng kế hoạch dạyhọc, lựa chọn phơng pháp dạy học phù hợp cho đặc trng thể loại văn bản, có
nh vậy mới đạt hiệu quả cao
Do đặc trng của từng thể loại văn bản không những phải có cách dạy
đọc đúng, đọc diễn cảm khác nhau mà dạy đọc hiểu cũng cần phải khác nhau
Có nh vậy, ngời học mới thấy cái hay, cái đẹp và tác dụng cụ thể của từng loạivăn bản Thực tế, việc dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 4,5 theo đặc trng thể loạivăn bản ở các trờng tiểu học hiện nay hiệu quả cha cao Nhìn chung, các giáoviên cha tìm ra phơng pháp dạy học phù hợp với đặc trng thể loại văn bản.Xuất phát từ những quan niệm sai lầm của một bộ phận không nhỏ giáo viêncho rằng mục tiêu chính của phân môn Tập đọc là giúp các em đọc thông, viếtthạo là đủ mà không hiểu đợc bản chất của việc đọc đúng, đọc hay, đọc diễncảm là các em phải hiểu đợc mình đang đọc thể loại nào; cái hay, cái đẹp, ngụ
ý của tác giả muốn biểu đạt là gì
Mặt khác, do chơng trình sách giáo khoa lớp 4, 5 đợc áp dụng cha đến banăm nên giáo viên còn cha có kinh nghiệm, việc tổng kết, rút kinh nghiệm vềchơng trình Tập đọc mới ở một số địa phơng còn qua loa, chiếu lệ Đó là nhữngnguyên nhân dẫn đến việc hiệu quả của dạy học Tập đọc cha cao
Điều này là vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý giáo dục và đội ngũgiáo viên trực tiếp giảng dạy, phải làm sao tìm ra giải pháp tối u nhất để đạt đ-
ợc mục tiêu dạy học Tập đọc Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện kỹnăng dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 theo đặc trng thể loại văn bản” vớimong muốn sẽ đa đợc một số biện pháp giúp giáo viên có thể tham khảo đểnâng cao chất lợng việc dạy đọc hiểu cho học sinh
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Nhằm giải quyết những khó khăn, vớng mắc của giáo viên và học sinhlớp 4, 5 trong quá trình dạy học đọc hiểu theo đặc trng thể loại văn bản, gópphần nâng cao chất lợng dạy học đọc hiểu bậc tiểu học
3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5
3.2 Đối tợng nghiên cứu
Các cách thức tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4,lớp 5 theo đặc trng thể loại văn bản
4 Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng, nếu đa ra đợc các cách thức tổ chức rèn luyện
kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4, lớp 5 phù hợp với đặc trng thể loại vănbản thì hiệu quả của việc dạy đọc hiểu sẽ đợc nâng cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các vấn đề lí luận có liên quan đến việc dạy đọc hiểu ở tiểu học
- Tìm hiểu về đặc điểm thể loại văn bản đợc đa vào dạy trong phân mônTập đọc ở lớp 4, 5
- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy đọc hiểu ở lớp 4, lớp 5 và ở toàn bậctiểu học
- Đề xuất các cách thức tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinhlớp 4, 5 theo đặc trng thể loại văn bản
- Dạy thử nghiệm để kiểm tra tính hiệu quả và tính khả thi của những đềxuất trên
- Nhóm các phơng pháp lấy ý kiến chuyên gia về các vấn đề đổi mớinội dung, phơng pháp dạy học đọc hiểu ở trờng tiểu học
Trang 9- Nhóm các phơng pháp thống kê nhằm xử lý kết quả điều tra, kết quảthực nghiệm.
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảothì nội dung chính của luận văn gồm 3 chơng:
- Tác giả Hoàng Hoà Bình đã đề cập đến vấn đề này trong cuốn “Dạyvăn cho học sinh tiểu học” [23] Tác giả Trần Mạnh Hởng trong công trình
"Nghiên cứu luyện tập về cảm thụ văn học” [12] cũng đã đề cập đến vấn đềdạy đọc hiểu và đọc diễn cảm Trong “Dạy và học môn Tiếng Việt ở trờng tiểuhọc theo chơng trình mới” [25], Nguyễn Trí cũng đã đề cập đến vấn đề dạyTập đọc nói chung và đọc hiểu nói riêng Các tác giả này ít nhiều cũng cónhững đóng góp đáng kể về vấn đề dạy đọc hiểu ở tiểu học
- Gần đây, có rất nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về kĩ năng đọc hiểucho học sinh tiểu học Tác giả Nguyễn Thị Hạnh với các công trình “Rèn kĩnăng đọc hiểu cho học sinh lớp 4 và 5” [8 ] và “Dạy đọc hiểu ở tiểu học” [9]
đã nghiên cứu về mục tiêu, nội dung cũng nh xây dựng hệ thống bài tập đọchiểu nhằm rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cho học sinh tiểu học Lê Phơng Ngabên cạnh bài “Rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh tiểu học” đăng ở Tạp chíNghiên cứu giáo dục [15] còn đề cập rất sâu đến vấn đề đọc hiểu trong cuốn
"Dạy tập đọc ở tiểu học" [17]
Trang 10- Ngoài ra, những năm gần đây, các luận văn thạc sĩ, khoá luận tốtnghiệp của các sinh viên một số trờng Đại học [6], [7] bàn về vấn đề đọc hiểu,nhằm tìm ra các giải pháp hỗ trợ cho quá trình dạy đọc hiểu, nâng cao hiệuquả của việc dạy Tập đọc.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu trên, chúng tôi thấy, các tác giả chỉmới quan tâm đến vấn đề xây dựng bài tập dạy đọc hiểu Thực chất, cha cócông trình nghiên cứu nào đa ra các biện pháp, phơng pháp dạy học Tập đọcxuất phát từ đặc trng thể loại văn bản Vì vậy, chúng tôi hi vọng với đề tài
“Rèn kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 theo đặc trng thể loại văn bản” sẽtìm ra đợc các giải pháp phù hợp với phong cách ngôn ngữ của các lọại vănbản, nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc ở tiểu học
1.1.2 Bản chất của quá trình dạy đọc hiểu và đặc điểm của dạy đọc hiểu
ở lớp 4, lớp 5
1.1.2.1 Quá trình dạy đọc hiểu
a Khái niệm đọc hiểu
Một số nghiên cứu gần đây [9,16] cho thấy, dạy đọc hiểu là nhằm hìnhthành một kĩ năng học tập cho học sinh Qua kĩ năng đọc hiểu, có thể pháttriển khả năng phê phán và đánh giá, để từ đó, mở ra ở học sinh khả năng đọcrộng,đọc theo hứng thú Nh vậy, đọc hiểu không chỉ đơn thuần là hiểu đợc nộidung những câu, từ mà tác giả đã viết mà nó còn có khả năng cảm nhận đợctâm t, tình cảm của tác giả, những t tởng mà tác giả muốn gửi gắm vào trongvăn bản mà không dùng từ ngữ để diễn đạt Có nh vậy, biết đọc đồng nghĩa vớiviệc có kĩ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh đợc văn bản (bài khoá) ở cáctầng bậc khác nhau nh: Nội dung các sự kiện, cấu trúc, chủ đề, các phơng tiệnbiểu đạt rồi đến biết đọc thâu tóm đợc t tởng của một bài viết khoảng ba trang
Từ đó, mà ngời học có khả năng tự học, tự đọc, có hứng thú trong học tập và
tự chọn trong kho tàng sách báo của nhân loại những gì mình cần Biết đọccũng tức là biết tiếp nhận xử lí thông tin Đây là định nghĩa cho ta thấy mộtcách nhìn đầy đủ về đọc, nó cho chúng ta thấy: "Đọc không chỉ là công việcgiải một bộ mã gồm hai phần chữ viết và phát âm, không phải chỉ là sự đánhvần lên thành tiếng theo đúng nh các kí hiệu chữ viết mà nó là quá trình nhậnthức để có khả năng thông hiểu những gì đợc đọc và từ đó, nó là công cụ đểlĩnh hội tri thức khi học các môn học khác trong nhà trờng" [18]
b Bản chất của quá trình đọc hiểu
Trang 11Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống
nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp, là một biến thể dạng viết liên tục củangôn bản, thực hiện một hoặc một số đích nhất định nhằm vào đối tợng tiếpnhận nhất định thờng là không có mặt khi văn bản đợc sản sinh Theo quanniệm này thì văn bản đợc coi là một sản phẩm của lời nói, việc tạo lập văn bản
và tiếp nhận văn bản là hai quá trình của một hoạt động tơng tác - hoạt độnggiao tiếp Từ đó, có thể tìm ra bản chất của đọc hiểu bằng cách phân tích quátrình của hoạt động giao tiếp Lí thuyết về ngữ dụng học cho thấy rằng, giaotiếp là một hoạt động bao gồm hai hoạt động bộ phận: hoạt động tác động củangời nói, ngời viết thông qua việc tạo ra ngôn bản; hoạt động hỏi, đáp của ng-
ời nghe, ngời đọc thông qua việc tiếp nhận ngôn ngữ Trong giao tiếp hộithoại, khi có đủ sự hiện diện của ngời nói và ngời nghe, khi ngời nghe trựctiếp nhận tín hiệu ngôn ngữ âm thanh và các yếu tố đi kèm ngôn ngữ (ánhmắt, cử chỉ, điệu bộ ) từ ngời nói, ngời nghe hầu nh nhận đợc chính xác nộidung ngôn bản Và khi đó, nội dung ngôn bản của ngời nói phát đi và nộidung ngôn bản ngời nghe tiếp nhận hầu nh trùng nhau Còn trong giao tiếpbằng văn bản viết, do sự vắng mặt của một nhân vật giao tiếp (khi viết văn bảnthì vắng mặt ngời đọc, còn khi đọc văn bản thì vắng mặt ngời viết), đôi khi,ngời đọc không hiểu hết ý ngời viết định thông báo vì thế, có thể có những lýgiải khác nhau về ý định ngời viết trong văn bản
Vì vậy, khi phân tích lí thuyết giao tiếp, chúng ta thấy đợc bản chất của
đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó, ngời đọc lĩnh hội lời nói đã viếtthành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết tình cảm hoặc hành vi củachính mình Nh vậy, cái mà ngời đọc lĩnh hội đợc bằng đọc hiểu chính là nộidung và đích của văn bản Để có thể lĩnh hội nội dung và đích của văn bản,ngời đọc phải thực hiện phân tích văn bản trên nhiều bình diện: bình diện cúpháp (nghĩa kết hợp với phơng tiện liên kết ); bình diện thông tin (nghĩa của
từ, câu, lợng thông tin trong văn bản ); bình diện phát ngôn (đích của vănbản) Chính vì vậy, đọc hiểu là cách đọc phân tích những cái mà chính mình đ-
ợc đọc
Những nghiên cứu gần đây về đọc hiểu [8], [15] cho thấy, đọc hiểu làmột hoạt động có tính quá trình rất rõ ràng vì nó gồm nhiều hoạt động khôngdiễn ra cùng một lúc mà trải ra theo tuyến thời gian Các hành động đó là:
- Hành động nhận diện ngôn ngữ của văn bản tức là nhận đủ các tínhiệu của ngôn ngữ mà ngời viết dùng để tạo ra văn bản
Trang 12- Hành động làm rõ nghĩa của chuỗi các tín hiệu ngôn ngữ (nội dungcủa văn bản và ý đồ tác động đến ngời đọc của ngời viết).
- Hành động hồi đáp lại ý kiến của ngời viết nêu trong văn bản
Hiệu quả của các hành động trên tuỳ thuộc vào khả năng phát âm, trình
độ văn hoá, kinh nghiệm sống và khả năng t duy của ngời đọc
1.1.2.2 Quá trình dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5
a Mục tiêu của dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5
Xuất phát từ mục tiêu chung môn Tiếng Việt lớp 4, 5 mà chơng trình đãxác định yêu cầu về kiến thức kĩ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 4,5 một cách
b Đặc điểm của quá trình dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5
Đặc điểm của quá trình dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5 là sự tiếp nối công việc
từ các lớp trớc (lớp 1- lớp 3) đồng thời chuẩn bị cho việc học ở bậc học trên
Xét về bản chất, dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5 là một kĩ năng học tập, baogồm kĩ năng nhận diện văn bản, kĩ năng làm rõ nghĩa và kĩ năng hồi đáp văn bản [8].
* Kĩ năng nhận diện văn bản gồm:
- Kĩ năng nhận diện từ mới và phát hiện từ quan trọng trong văn bản
- Kĩ năng nhận ra các câu khó hiểu, câu quan trọng của văn bản
- Kĩ năng nhận ra các đoạn ý của văn bản: kĩ năng nhận biết cấu trúcvăn bản, nhận ra mối quan hệ giữa các bộ phận trong bài, nhận diện những ph-
ơng tiện liên kết của văn bản để thành một thể thống nhất, nhận biết đợc cáckiểu cấu trúc của đoạn
- Kĩ năng nhận ra đề tài của văn bản, đó là các kĩ năng quan sát tên bài,các hình vẽ minh hoạ để phỏng đoán nội dung văn bản và ngoài ra còn dựa
Trang 13vào kĩ năng phán đoán nội dung bài đọc, dựa vào kiến thức vốn có về chủ đề,chủ điểm
- Kĩ năng làm rõ ý của đoạn
- Kĩ năng làm rõ ý chính (đại ý) của toàn văn bản
Để thực hiện đợc các kĩ năng này, học sinh cần phải thực hiện các thaotác sau:
+ Đọc lớt toàn bài, tìm ý chung của đoạn, của bài để có thể xử lí bài đọc
nh là một chỉnh thể trọn vẹn trớc khi đi vào chi tiết
+ Khái quát hoá, tóm tắt nội dung đã học
- Kĩ năng làm rõ đích tác động của ngời viết gửi vào văn bản Nh ta đãbiết, nội dung văn bản có mối quan hệ rất mật thiết với mục đích của ngời viết
ra nó nên nội dung văn bản không tách rời mục đích của tác giả Vì vậy, để có
đợc kĩ năng này học sinh lớp 4, 5 cần thực hiện một số các thao tác sau:
+ Tìm kiếm thêm một số thông tin về tác giả, về hoàn cảnh ra đời củavăn bản để biết mục đích của văn bản
+ Phát biểu mục đích của văn bản thành lời Đây là một trong những kĩnăng khó đối với học sinh lớp 4,5, vì vậy, trong quá trình dạy, giáo viên cầnphải chia nhỏ thành nhiều mức độ khác nhau và có thể gợi ý hoặc có trờnghợp giáo viên phải làm mẫu
* Kĩ năng hồi đáp văn bản gồm:
- Kĩ năng đánh giá tính đúng đắn của văn bản
- Kĩ năng đánh giá tính đầy đủ của văn bản
- Kĩ năng đánh giá nguyên nhân, hiệu quả của văn bản
- Kĩ năng đánh giá tính cập nhật của nội dung văn bản
- Kĩ năng đánh giá tính hấp dẫn, thuyết phục của nội dung văn bản
- Kĩ năng liên hệ của cá nhân sau khi tiếp nhận văn bản Đây là nhóm kĩnăng giữa vai trò hoàn thiện trong quá trình đọc hiểu.Mục đích của nhóm kĩ
Trang 14năng này là tạo cho ngời đọc có khả năng chủ động sáng tạo trong việc lĩnhhội văn bản, từ đó, hình thành cho ngời đọc thói quen t duy phê phán và t duysáng tạo
Vì vậy, trong quá trình dạy đọc hiểu, ngời giáo viên cần vận dụng linhhoạt các phơng pháp dạy học để khơi dậy những khả năng học tập của các
em làm thế nào để các em vận dụng các kĩ năng trên một cách có hiệu quảcao nhất
1.1.3 Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của các thể loại văn bản với việc dạy đọc hiểu ở lớp 4, lớp 5
1.1.3.1 Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của các thể loại văn bản thông thờng
a Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản báo chí
Phong cách báo chí là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bảntrong đó, thể hiện vai trò của ngời tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí -công luận Nói một cách cụ thể hơn, đó là vai của nhà báo, ngời đa tin, ngời
cổ động, ngời quảng cáo, bạn đọc tất cả những ai tham gia vào hoạt độngthông tin của xã hội về những vấn đề thời sự [14]
Theo GS.TS Đinh Trọng Lạc thì văn bản báo chí đợc chia ra ba kiểu:văn bản cung cấp tin tức; văn bản phản ánh công luận và văn bản thông tinquảng cáo Mỗi kiểu có những thể loại khác nhau nh: mẫu tin, tin tổng hợp,
điều tra, phỏng vấn, phóng sự, ý kiến bạn đọc, trả lời bạn đọc, nhắn tin, thôngbáo, quảng cáo
Phong cách báo chí có ba đặc trng chung, đó là tính chân thực; tính thời sự và tính hấp dẫn.
- Tính chân thực là khả năng phản ánh đúng với bản chất của hiện thựckhách quan
- Tính thời sự là khả năng truyền đi kịp thời, nhanh chóng những thôngtin mới mẻ, cấp thiết
- Tính hấp dẫn là khả năng khêu gợi sự hứng thú, kích thích sự tò mòbằng nội dung thông tin phong phú, bằng hình thức trình bầy nổi bật, độc đáo
b Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản hành chính
Phong cách hành chính là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp vănbản (phát ngôn) trong đó, thể hiện vai trò của ngời tham gia giao tiếp tronglĩnh vực hành chính - công vụ Nói cụ thể hơn, đó là vai trò của nhà luật pháp,
Trang 15ngời quản lí, ngời làm đơn, ngời xin thị thực, ngời làm biên bản, ngời kí hợp
đồng tất cả những ai tham gia vào guồng máy tổ chức quản lý, điều hành cácmặt của đời sống xã hội
Văn bản hành chính đợc chia ra các kiểu: văn th, pháp chế, quân sự,ngoại giao, thơng mại, kinh tế Mỗi kiểu lại có các thể loại khác nhau nh trongkiểu văn bản vă th có các thể loại: thông báo, thông t, nghị quyết, quyết định,
đơn từ, báo cáo, biên bản, phúc trình, văn bằng, giấy chứng nhận, giấy giớithiệu, giấy xin nghỉ phép
Phong cách hành chính có ba đặc trng chung: tính chính xác minhbạch, tính nghiêm túc, khách quan và tính khuôn mẫu nghiêm ngặt [14]
- Tính chính xác trong cách dùng từ, đặt câu phải đi đôi với tính minhbạch, khúc triết trong kết cấu đoạn mạch của văn bản để đảm bảo cho tính xác
định, tính đơn nghĩa của nội dung, văn bản hành chính chỉ cho phép hiểu mộtcách duy nhất không đợc hiểu nhầm
- Tính nghiêm túc khách quan là dấu hiệu chung của các tài liệu hànhchính để diễn đạt tính chất xác nhận, khẳng định tính chất chỉ thị, mệnh lệnh
- Tính khuôn mẫu là dấu hiệu phân biệt phong cách hành chính (một tàiliệu hành chính chính thức phải viết đúng theo các mẫu đã đợc quy định)
1.1.3.2 Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của các thể loại văn bản nghệ thuật
a Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản thơ
Phong cách thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống nênkhông theo khuôn mẫu nh văn bản báo chí và hành chính Thơ nó thể hiện tâmtrạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh vànhất là có nhịp điệu Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: "Thơ là một hình thái nghệthuật cao quý tinh vi Ngời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt, thể hiện sựnồng cháy trong lòng nhng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuầnnhuyễn, có nghệ thuật "
Thơ có nhiều loại nh: thơ tự do, thơ bốn chữ, thơ lục bát, thơ đờng luật song bao giờ ngôn ngữ cũng có nhịp điệu
Phong cách thơ có bốn đặc trng cơ bản, đó là tính hệ thống, tính hình ợng, tính cá thể hoá và tính cụ thể hoá
t Tính hệ thống: Mỗi một bài thơ là một hệ thống các thành tố nộidung, t tởng, tình cảm, hình tợng và các yếu tố hình thức Chúng khôngnhững phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nói chung Sự lựa
Trang 16chọn cấu tạo và tổ hợp những thành tố này bị quy định bởi chức năng thẩm
mĩ của ngôn từ
- Tính hình tợng: Trong phong cách học, tính hình tợng trong thơ theonghĩa rộng nhất có thể xác định là những thuộc tính của lời nói nghệ thuậttruyền đạt không chỉ thông tin lô gíc mà còn cả thông tin đợc tri giác một cáchtình cảm nhờ hệ thống những hình tợng ngôn từ
- Tính cá thể hoá: Đây chính là dấu ấn phong cách tác giả trong ngônngữ nghệ thuật Dấu ấn phong cách tác giả chỉ có thể có trong tác phẩm nghệthuật với t cách là một thể thống nhất của cấu trúc tu từ học kết cấu một hệthống tu từ học hoàn chỉnh đợc liên kết lại bởi ý định thẩm mĩ, bởi chủ đề t t-ởng của tác phẩm Tính cá thể hoá còn thể hiện ở trong nhân vật cá nhân, sởthích, thị hiếu, tâm lí của mỗi nhà thơ và còn thể hiện ở từng cảnh, từng nhânvật
- Tính cụ thể hoá: Ngôn ngữ nghệ thuật thơ có một tiếng nói chung nhấtmột thuộc tính rộng nhất là sự cụ thể hoá nghệ thuật hình tợng Ví dụ, trongnhững câu thơ của Nguyễn Du:
Xập xè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giầy.
Từ "xập xè" vừa gợi ra hình ảnh thị giác vừa gợi ra một biểu tợng âmthanh không những miêu tả dáng bay của con chim và tiếng loè xoè của đôicánh, còn gợi ra sự vắng lặng của ngôi nhà cũ trong tâm trạng chơ vơ củachàng Kim Trọng
b Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản văn xuôi
* Phong cách ngôn ngữ của văn bản văn xuôi là hệ thống những tín hiệuthứ hai đợc cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên).Ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nên hình tợng diễn đạt t tởng - nghệthuật và tác giả đã vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của conngời, của vật để giúp ngời nghe, ngời đọc hình dung đợc các đối tợng ấy.Phong cách ngôn ngữ của văn bản văn xuôi có một xu hớng tách khỏi ngônngữ sinh hoạt, hớng tới sự cách điệu chỉ với sự phân tích của chủ nghĩa hiệnthuộc, những đặc tính của ngôn từ văn xuôi nh: tính "tự nhiên", "giản dị" mớitạo thành tiêu chí thẩm mĩ Phong cách ngôn ngữ của văn bản văn xuôi cũng
nh văn bản thơ nó gồm bốn đặc trng: tính hệ thống, tính hình tợng, tính cá thểhoá và tính cụ thể hoá
Trang 17- Tính hệ thống: Mỗi văn bản nghệ thuật là một hệ thống, trong đó, nộidung t tởng, tình cảm, hình tợng và các thành tố hình thức ngôn ngữ diễn đạtcủa chúng không những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nóichung Sự lựa chọn cấu tạo và tổ hợp những thành tố này đợc quy định bởi chứcnăng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật, cụ thể hơn bởi ý định thẩm mĩ của tácphẩm Tính hệ thống của ngôn ngữ nghệ thuật là tính chất theo đó các yếu tốngôn ngữ trong một tác phẩm phải gắn bó và quan hệ mật thiết với nhau giảithích và hỗ trợ cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung.
- Tính hình tợng: Trong các tác phẩm văn xuôi, tính hình tợng theonghĩa rộng có thể xác định là những thuộc tính của lời nói nghệ thuật truyền
đạt không những thông tin lô gíc mà còn cả thông tin đợc tri giác một cáchcảm tính ở đây, ngôn từ mang tính hình tợng cao, ít tập trung vào chính nó.Trong khi đó, ở thơ ca, không tách khỏi ngôn từ ở văn miêu tả, ngôn từ còntrở thành đối tợng miêu tả, nó nh là" lời của kẻ khác" không trùng với lời củatác giả
- Tính cá thể hoá: Do xu hớng sáng tác của mỗi thời kỳ và cũng do sởthích của mỗi nhà văn mà hình thành giọng điệu riêng của ngôn từ tác phẩm
Và cũng do cảm nhận, rung động của từng ngời trớc cảnh đẹp của thiên nhiên
đất nớc, con ngời, mỗi tác giả phải mang màu sắc riêng nét độc đáo riêng vàkhông lặp lại
- Tính cụ thể hoá: Cũng nh thơ ca, văn xuôi có tính cụ thể hoá, đó làngôn ngữ nghệ thuật có tính chung nhất, một thuộc tính rộng nhất, là sự cụ thểhoá nghệ thuật hình tợng Nhà văn trong quá trình sáng tác đã sử dụng chínhnhững từ mà mọi ngời nói, thứ tiếng chung nhất, thế nhng, những từ này, khixuất hiện trong ngữ cảnh của tác phẩm, không phải là những cái biểu đạt cáckhái niệm của các biểu tợng sơ đẳng nữa mà là những cái biểu đạt các hình t-ợng nghệ thuật Trớc mắt ngời đọc bức tranh miêu tả trở nên vô cùng phongphú và sinh động
c Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản kịch
Nh chúng ta đã biết, phong cách ngôn ngữ của văn bản kịch cũng cónhững đặc trng chung của các thể loại văn bản nghệ thuật là tính hệ thống,tính hình tợng, tính cá thể hoá và tính cụ thể hoá Tuy nhiên, đặc trng củaphong cách ngôn ngữ kịch (ngôn ngữ văn nghệ) có điểm đặc biệt, đó là sửdụng ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học để thực hiện chức năng thẩm mĩ,
Trang 18một mặt hoạt động của ngôn ngữ Chức năng thẩm mĩ của phong cách ngônngữ kịch gắn liền với phơng tiện đặc biệt biểu hiện t tởng tình cảm có nghĩa làngôn ngữ kịch là phơng tiện đặc biệt diễn tả t tởng tình cảm Phong cách kịch
là một bộ phận quan trọng của phong cách văn học song nó khác với phongcách văn học là sử dụng rộng rãi ngôn ngữ hội thoại và các yếu tố ngôn ngữnghề nghiệp, thổ ngữ, sử dụng phong cách khẩu ngữ bình dân Ngôn ngữkịch có tính hình ảnh, tính hình tợng và có tác động thẩm mĩ đến ngời đọc
Trong ngôn ngữ kịch, ngời ta có thể sử dụng cả ngôn ngữ địa phơng,tiếng lóng, phong cách ngôn ngữ thân mật gia đình và các phong cách ngônngữ có sắc thái biểu cảm khác nhau Ví dụ: Bài "Lòng dân" (Tiếng Việt lớp 5,tập 1, trang 24, 29) có đoạn hội thoại:
Dì Năm: Trời ơi! tui có tội tình chi?
Hay đoạn An: Dạ, hỏng phải tía
Ngôn ngữ địa phơng có tác dụng làm cho ngời đọc, ngời nghe thấy đợccái đẹp, cái hay, cái gần gũi song đầy sắc thái biểu cảm
điện cá nhân có văn bản viết ra chỉ nhằm để dùng trong một thời gian có hạnsong lại có văn bản không có giới hạn về thời gian sử dụng Ví dụ: quyết địnhnhân sự hay các tác phẩm văn học
vấn đề là ở tiểu học phải lựa chọn những văn bản nào cho phù hợp.Theo chúng tôi, đối với học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 4,5 cần phảicho các em làm quen với nhiều loại văn bản, cả văn bản nghệ thuật và văn bảnthông thờng Điều này làm cho việc đọc ở nhà trờng tiểu học gần gũi với việc
đọc trong cuộc sống Văn bản mà học sinh tiếp xúc trong cuộc sống rất đadạng, phong phú chứ không chỉ có văn bản nghệ thuật
Tuy nhiên, mỗi văn bản đợc viết ra không hẳn đã có mục đích sẽ dùngtrong nhà trờng để làm ngữ liệu dạy học, vì vậy, chọn văn bản để dạy học ở tr-
Trang 19ờng thì việc biên soạn lại văn bản sao cho phù hợp với mục tiêu giáo dục ởnhà trờng là vấn đề rất cần thiết
Dù văn bản gốc hay văn bản đợc biên soạn lại thành các bài đọc thìnhững văn bản đợc đa vào làm ngữ liệu dạy tập đọc lớp 4,5 cần phải đạt cácyêu cầu sau:
- Có tính tơng đối hoàn chỉnh về nội dung và hình thức trình bày
- Có đích tác động tới ngời đọc rõ ràng
- Các văn bản phải thuộc các loại sau: văn bản khoa học, văn bản truyềnthông, văn bản hành chính và văn bản nghệ thuật Trong các loại văn bản nàythì văn bản nghệ thuật phải chiếm tỷ lệ lớn và kiểu loại phải khá đầy đủ: cáckiểu phổ biến nh thơ, văn xuôi, kịch, ký,các văn bản viết theo lối tự sự và cácvăn bản chữ tình Còn các văn bản thông thờng cần lựa chọn các mẫu điểnhình đặc trng cho từng kiểu loại sao cho các văn bản có độ dài vừa phải ngônngữ diễn đạt giản dị phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh Theo tác giảNguyễn Thi Hạnh [9] thì lần lợt có các cách chọn và soạn văn bản để dạy đọchiểu sau:
- Văn bản dạy đọc hiểu đợc lựa chọn theo tiêu chuẩn nội dung
- Văn bản dạy đọc hiểu đợc lựa chọn theo tiêu chuẩn phong cách vănbản và lôí hành văn
- Văn bản dạy đọc hiểu đợc lựa chọn theo thiêu chuẩn sự tổ chức cácchất liệu, đơn vị ngôn ngữ trong văn bản
Trải qua nhiều giai đoạn của quá trình chỉnh lí, đến nay, nhìn chungthể loại văn bản đợc đa vào dạy đọc hiểu ở chơng trình tiểu học là rất cơ bản
và khá phong phú đa dạng Các văn bản đọc hiểu đầy đủ các thể loại nh vănxuôi, thơ, kí, truyện, báo chí, nội quy Dung lợng văn bản dùng để dạy đọchiểu thờng không lớn nên cấp độ dới văn bản thờng chỉ là đoạn văn, đoạnthơ, bài thơ ngắn hay mẫu truyện hoặc đoạn trích và chúng ta dễ dàng nhậnthấy điều này khi tìm hiểu các bài tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việtlớp 4, 5
Có thể chia văn bản dạy đọc hiểu lớp 4, 5 thành 2 loại chính đó là: vănbản thông thờng và văn bản nghệ thuật Căn cứ vào những nét tơng đồng,những đặc điểm chung trong quá trình dạy đọc hiểu chúng tôi chia văn bảnthông thờng ra làm hai loại nhỏ đó là: văn bản báo chí và văn bản hành chính.Còn văn bản nghệ thuật thành ba loại nhỏ là: văn bản thơ, văn bản văn xuôi vàvăn bản kịch
Trang 20Trong hai loại văn bản trên, loại văn bản nghệ thuật có một vị trí đặcbiệt không chỉ do tầm quan trọng của loại văn bản này mà còn do tỉ lệ văn bảnnghệ thuật rất cao, chiếm tỉ lệ 95% và nhiệm vụ dạy đọc hiểu loại văn bản nàycũng phức tạp hơn nhiều so với văn bản thông thờng
- Văn bản nghệ thuật ở lớp 4: Năm học có 35 tuần, 4 tuần ôn tập, 31tuần học, mỗi tuần có 2 tiết Tập đọc nên tổng số là 62 tiết, với 57 bài (có 5 bàidạy trong 2 tiết) thì văn bản nghệ thuật chiếm 54 bài gồm 17 bài thuộc thể loạithơ ; 1 bài thuộc thể loại kịch ; 36 bài thuộc thể loại văn xuôi
- Văn bản nghệ thuật ở lớp 5: Năm học có 35 tuần, ôn tập 4 tuần còn lại
31 tuần học, mỗi tuần 2 tiết nên tổng số là 62 tiết gồm 60 bài (có 2 bài dạytrong 2 tiết) trong đó, văn bản nghệ thuật 58 bài gồm 18 bài thuộc thể loại thơ;
2 bài thuộc thể loại kịch; 38 bài thuộc thể loại văn xuôi
Đọc văn bản nghệ thuật học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản màcòn phải cảm thụ một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm chất liệu Chínhvì vậy, dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật là làm cho học sinh năm đợc nội dungvăn bản, mục tiêu văn bản, đồng thời còn dạy cho các em thấy đợc cái hay, cái
đẹp của ngôn từ, của hình tợng văn chơng làm nên văn bản
Văn bản thông thờng đa vào dạy đọc hiểu ở lớp 4, 5 với số lợng rất ítchiếm tỉ lệ khoảng 5% Chủ yếu là các mẫu tin trên báo (lớp 4 có 2 bài); th(lớp 4 có 1 bài, lớp 5 có 1 bài); hay luật lớp 5 có 1 bài
Nội dung dạy văn bản thông thờng này cũng đơn giản hơn vì hầu hếtcác từ trong bài viết đợc dùng theo nghĩa đơn, nghĩa tờng minh mang tính kháiniệm khoa học là chủ yếu
Nh vậy, giữa văn bản nghệ thuật và văn bản thông thờng có những điểmgiống nhau là cả hai cùng có tính hoàn chỉnh trên cơ sở liên kết nội dung vàhình thức, cả hai cùng nhằm mục đích thông tin, cả hai cùng dùng ngôn ngữlàm phơng tiện biểu đạt song chúng cũng có những điểm khác nhau cơ bảnsau:
- Về thông tin, văn bản thông thờng là thông tin sự vật tờng minh còntrong văn bản nghệ thuật tác giả phải tổ chức ngôn ngữ và gửi gắm thái độ củamình để tạo ra thông tin liên cá nhân và hàm ẩn
- Về kết cấu, văn bản thông thờng kết cấu theo mẫu quy phạm và côngthức còn kết cấu trong van bản nghệ thuật vô cùng đa dạng, tuỳ theo loại thể
và sự sáng tạo của từng tác giả
Trang 21- Về ngôn ngữ, trong văn bản thông thờng, ngôn ngữ mang tính kháiniệm, khoa học, tính chính xác và vì thế, thờng mang nghĩa đơn nghĩa haydùng của các cụm từ có tính chất cố định còn trong văn bản nghệ thuật ngônngữ thờng mang tính đa nghĩa, tính biểu tợng, tợng trng, gợi cảm
Theo GS.TS Lê Phơng Nga, văn bản nghệ thuật có một số đặc trng đó
là tính nhân văn, tính chủ quan, tính biểu trng hình tợng, độc đáo khác thờng
và thực tế phần ngữ liệu Tập đọc trong sách giáo khoa tiếng Việt lớp 4, 5 hầuhết là văn bản nghệ thuật Văn bản này có lợi thế giúp học sinh làm quen vàhiểu văn chơng, song hệ văn bản này lại hạn chế trong việc giúp học sinh làmquen với các kiểu văn bản phổ biến thờng gặp trong đời sống, bởi sự vắng mặthoặc quá ít ỏi của các văn bản khoa học, truyền thông, hành chính Cũng do
sự thiếu vắng trên mà hệ văn bản này cha cung cấp cho học sinh những trithức, phơng pháp về khoa học, về những thông tin thuộc vấn đề bức xúc củathời đại để các em tự làm giàu vốn hiểu biết, vốn sống của mình qua việc học
đọc Những hạn chế của hệ văn bản này ảnh hởng xấu đến việc thực hiện mụctiêu dạy học đọc hiểu - cung cấp cho học sinh một kĩ năng học tập để học cácmôn học khác ở trong trờng học và ngoài cuộc sống Bởi lẽ, học sinh cha đợclàm quen với văn phong khoa học, với những cách lập luận chặt chẽ trong cácvăn bản khoa học, cha làm quen với việc tiếp cận để nắm đợc những sự kiệnchính và mục đích của các bài viết kiểu này
1.2.2 Nhận thức về việc dạy đọc hiểu theo đặc trng thể loại văn bản ở lớp
4, 5 và thực trạng sử dụng phơng pháp dạy đọc hiểu của giáo viên
Xuất phát từ mục tiêu môn học, ngữ liệu đợc chọn để dạy đọc hiểu chohọc sinh lớp 4, trong sách giáo khoa hiện nay khá phong phú, đa dạng, gồm
đầy đủ các thể loại nh văn xuôi, thơ, truyện, kịch, đơn từ, nội quy, th Dung ợng văn bản dùng để dạy đọc hiểu thờng không lớn và cấp độ dới văn bản th-ờng chỉ là đoạn văn, bài hoặc đoạn thơ ngắn hay những mẫu truyện, vở kịchngắn và những bức th, mẫu tin ngắn nên đã phần nào tạo điều kiện thuận lợicho giáo viên trong quá trình dạy đọc hiểu
l-Mặt khác, trong những năm gần đây, thấy đợc tầm quan trọng của việcdạy đọc hiểu nên Bộ GD&ĐT đã liên tục đa ra nhiều biện pháp nhằm hỗ trợgiáo viên trong quá trình dạy đọc hiểu nh là tổ chức tập huấn theo chuyên đề
về sách giáo khoa mới từ lớp 1 đến lớp 5, tập huấn sử dụng đồ dùng dạy học,tập huấn về đổi mới phơng pháp dạy học
Trang 22Mặc dù những phơng pháp dạy học mới đa vào các nhà trờng đã đợcgiáo viên đón nhận và hởng ứng rất mạnh mẽ, song những phơng pháp cũcũng khá ăn sâu vào tiềm thức giáo viên đặc biệt là phơng pháp dạy đọc hiểu.Hầu hết, giáo viên vẫn cứ có thói quen dạy đọc hiểu tất cả các văn bản nhnhau Thầy giảng giải trò lắng nghe, thầy hỏi hết các câu hỏi trong sách giáokhoa và trò phải có trách nhiệm trả lời hết các câu hỏi đó nếu không trả lời đ-
ợc thì thầy giải thích hoặc trả lời hộ các em nhằm củng cố kiến thức Có thểnói, giáo viên cha nhận thức đợc hoặc nhận thức cha đầy đủ về vai trò của kĩnăng đọc hiểu trong giờ tập đọc nên khi dạy thờng chú ý nhiều đến kĩ năngluyện đọc, nh một số giáo viên vẫn thờng nói: "Miễn sao học sinh của tôi đọcthông viết thạo là đợc, còn đọc hiểu văn bản thì lên cấp 2 các em học trongcác tiết giảng văn" Chính vì thế, các giờ Tập đọc phần đọc hiểu vẫn thờng làthầy diễn giải áp đặt cách hiểu của mình cho trò, trò thừa nhận ý hiểu của thầy
và làm theo hành động, thao tác của thầy và nhắc lại lời thầy nói là chủ yếu,không phát huy đợc tính tò mò, sáng tạo và chủ động của ngời học nên dẫn
đến hiệu quả của việc đọc hiểu cha cao
Xuất phát những băn khoăn trong quá trình dự giờ tập đọc, trò chuyệnvới giáo viên, chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình nhận thức của giáo viên
đối với việc dạy đọc hiểu ở lớp 4,5 theo đặc trng thể loại văn bản (Xem phiếu
điều tra thực trạng trang 100 ) Chúng tôi đã tiến hành điều tra 100 giáo viêngồm 50 giáo viên lớp 4 và 50 giáo viên lớp 5 thuộc các trờng tiểu học huyệnQuảng Xơng, Thanh phố Thanh Hoá, huyện Thờng Xuân tỉnh Thanh Hoá Địabàn mà chúng tôi điều tra bao gồm cả miền biển, đồng bằng, miền núi vàthành phố Cụ thể là những trờng sau: trờng tiểu học Quảng Đông, trờng tiểuhọc Quảng Đức, trờng tiểu học Quảng Định, trờng tiểu học Quảng Tân, trờngtiểu học thị trấn Quảng Xơng, trờng tiểu học Quảng Đại, trờng tiểu học QuảngHải (thuộc huyện Quảng Xơng); tiểu học Xuân Lệ,trờng tiểu học thị trấn Th-ờng Xuân (huyện Thờng Xuân); trờng tiểu học Minh Khai, trờng tiểu họcQuảng Thành, trờng tiểu học Minh Khai, trờng tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, tr-ờng tiểu học Điện Biên (thành phố Thanh Hoá)
Bằng phiếu điều tra nhận thức của giáo viên về nội dung và phơng phápdạy đọc hiểu chúng tôi đã thu đợc kết quả nh sau:
- 37% GV lớp 4 và lớp 5 còn lẫn lộn việc dạy đọc hiểu với việc dạy văn
Trang 23- 95% GV coi việc dạy tập đọc là dạy cho học sinh đọc đúng chính âm
- 645 GV cho rằng học sinh nhận xét về thể loại văn bản và bày tỏ thái
độ đối với thể loại văn bản là không cần thiết
- 98 % GV thừa nhận rằng cha từng thống kê các thể loại văn bản đợcgiảng dạy trong các bài tập đọc ở lớp mình phụ trách
- 55% GV cha bao giờ giới thiệu đặc điểm các thể loại văn bản đợc dạy
ở lớp mình phụ trách
- 96 % GV thừa nhận rằng mình cha nắm vững đầy đủ khái niệm, đặc
điểm các thể loại văn bản đợc đa vào làm ngữ liệu trong phân môn tập đọc ởlớp 4,5
- 86 % GV cho rằng phơng pháp dạy đọc hiểu các văn bản là nh nhau
- 24 % GV cho rằng kĩ năng đọc hiểu của học sinh không liên quan đếnviệc học các môn học khác
Nh chúng ta đã biết, năm học 2007- 2008, là năm học thứ ba thực hiệnchơng trình đổi mới sách giáo khoa lớp 4 và là năm học thứ hai thực hiện ch-
ơng trình đổi mới sách giáo khoa lớp 5 Thế nhng, đến nay, hầu hết giáo viêncha thống kê đợc các thể loại văn bản Tập đọc lớp mình phụ trách, cha nắm đ-
ợc đầy đủ khái niệm, đặc điểm các thể loại văn bản đa vào giảng và hầu hếtgiáo viên cho rằng phơng pháp dạy đọc hiểu các thể loại văn bản là nh nhau
Qua thống kê ngữ liệu đợc đa vào dạy đọc hiểu trong sách giáo khoalớp tiếng Việt 4, 5, chúng tôi nhận thấy hệ thống văn bản của phần Tập đọc rất
đa dạng, gồm nhiều thể loại văn bản, mỗi thể loại văn bản có những đặc điểmriêng về phong cách ngôn ngữ Thế nhng những ngời đang trực tiếp giảng dạylại không nắm đợc đặc điểm của các thể loại văn bản này và cho rằng phơngpháp dạy đọc hiểu các thể loại văn bản này là giống nhau, chủ yếu là việc khaithác hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Họ không hiểu rằng kĩ năng dạy
Trang 24đọc hiểu ở từng thể loại văn bản là khác nhau Chẳng hạn, kĩ năng nhận diệnvăn bản của văn bản thông thờng và văn bản nghệ thuật là khác nhau vì các từngữ trong văn bản thông thờng bao giờ cũng mang tính đơn nghĩa, tính kháiniệm nên rất dễ hiểu, còn các từ ngữ trong văn bản nghệ thuật thờng lànhững từ đa nghĩa, có tính biểu tợng, tợng trng, gợi cảm muốn dạy đọc hiểuvăn bản nghệ thuật tốt thì giáo viên phải cảm thụ văn học tốt Đối với vănbản nghệ thuật cả hai thành phần nội dung miêu tả và nội dung liên cá nhân
đều rất quan trọng trong việc thể hiện đích của tác giả ở những văn bản màtác giả phản ánh hiện thực bằng bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của cá nhân thìvai trò của thành phần nội dung liên cá nhân càng trở nên quan trọng hơn
Còn trong văn bản thông thờng, kĩ năng làm rõ ý chính văn bản thờng
đ-ợc nêu một cách khái quát trong tên văn bản vì thế nên dạy kĩ năng này cần ớng dẫn học sinh thực hiện các thao tác nh là: Đọc văn bản để nắm nội dung;tổng hợp ý từng đoạn;phát biểu văn bản thành lời dựa vào dạng lời của tên vănbản và ý chung Kĩ năng làm rõ đích văn bản thông thờng, nêu rất rõ ở phầncuối, đây chính là yêu cầu hay mệnh lệnh hoặc khuyến cáo, kiến nghị
h-Tìm hiểu thực trạng đọc hiểu ở lớp 4, 5 trong những năm gần đây,chúng tôi thấy rằng, việc dạy đọc hiểu cha đáp ứng mục tiêu, yêu cầu nhiệm
vụ môn học "Dạy tập đọc ở cấp một nhằm mục đích thông qua các bài vănchọn lọc giúp học sinh cảm thụ đợc cái hay, cái đẹp của văn chơng và dần dần
có một số kiến thức về văn học, thể loại, bố cục và củng cố cho học sinh một
kĩ năng học tập để học các môn học khác ở trờng học và ngoài cuộc sống"[30] và báo cáo của vụ giáo dục phổ thông nhận định "Chất lợng đọc hiểu củahọc sinh còn yếu "là càng có cơ sở
1.2.3 Thực trạng đọc hiểu của học sinh
Trong những năm gần đây, chất lợng học sinh nói chung và chất lợng
đọc hiểu của học sinh tiểu học nói riêng đợc nâng lên, tỉ lệ học sinh khá giỏingày càng cao Tuy nhiên, so với mục tiêu và yêu cầu mà cấp học đề ra thì vẫncòn nhiều hạn chế
Để khảo sát toàn diện hơn chất lợng học tập và kĩ năng đọc hiểu củahọc sinh lớp 4, lớp 5, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm mang tính thăm dòcho học sinh lớp 4, 5 cùng một bài kiểm tra đọc hiểu (Xem phiếu điều tra thựctrạng đọc hiểu văn bản của học sinh lớp 4, 5 trang 102)
Trang 25Bài kiểm tra này gồm 10 bài tập đọc hiểu, trong đó bài 1, bài 2 là bớckiểm tra nhận diện ngôn ngữ trong văn bản Bài 3, 4, 5, 6,7, 8, 9 là kiểm tra b-
ớc làm rõ nội dung văn bản và đích tác động của ngời viết Bài 10 là để kiểmtra bớc hồi đáp văn bản Kết quả thu đợc trên 125 học sinh các trờng Tiểu họcQuảng Đông, Tiểu học Quảng Đại huyện Quảng Xơng, Thanh hoá và trờngTiểu học Quảng Thành, Tiểu học Minh khai thành phố Thanh Hoá nh sau:
(Xem bảng tổng hợp kết quả điều tra đọc hiểu của học sinh lớp 4,5)
(%)
Lớp5 (%)
động của ngời viết
Bài 4: Nhắc lại thông tin chính 56 72Bài 5: Nhắc lại thông tin chính 64 72Bài 6: Làm rõ nội dung thông báo
Từ kết quả điều tra trên, chúng tôi đi đến những nhận xét về chất lợng
đọc hiểu của học sinh lớp 4, lớp 5 hiện nay nh sau:
- Thứ nhất, học sinh còn yếu về khả năng nhận diện ngôn ngữ trong vănbản Các em còn cha biết đọc lớt, đọc thầm để nắm đợc đề tài của bài vànhững từ ngữ cần tìm để từ đó có thể hiểu đợc nội dung của bài
- Thứ hai, việc nắm nội dung thông báo của các câu của học sinh cònnắm lơ mơ, khả năng phát hiện nghĩa của câu còn rất yếu, các em cha biết
Trang 26cách phân tích, suy diễn để tìm ra nghĩa hàm ẩn trong văn bản Phần tóm tắtnội dung đoạn và cả bài còn lúng túng, cha hiểu hết đợc đích của tác giả
- Thứ 3, học sinh cha đọc kĩ đề bài và cha có thói quen tự tìm hiểu,khám phá kiến thức Hầu nh trên lớp, học sinh chủ yếu là nhắc lại và thừanhận ý của giáo viên và các em chép lại các ý chính mà giáo viên đã ghi sẵntrên bảng không hề biết suy nghĩ để có thể phê phán hay khẳng định nội dungvăn bản mà giáo viên đa ra
Tóm lại, qua bảng thống kê trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, kĩnăng đọc hiểu của học sinh lớp 4,5 ở các nhà trờng tiểu học hiện nay là chacao, học sinh cha có thói quen làm việc độc lập nếu không có sự gợi ý hớngdẫn của giáo viên, cha có khả năng tự khám phá tìm hiểu bài thông qua đọcthầm, đọc lớt để trả lời các câu hỏi theo yêu cầu của sách giáo khoa hoặcphiếu học tập
1.2.4 Nguyên nhân của thực trạng
1.2.4.1 Nguyên nhân chủ quan
a) Nguyên nhân từ phía giáo viên
Hầu hết giáo viên cha nhận thức đợc ý nghĩa và tác dụng của dạy đọchiểu xuất phát từ đặc trng thể loại văn bản Vì vậy, hiệu quả dạy học đọc hiểucha đạt tới mức độ mong muốn Sau đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn tớithực trạng này:
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên tiểu học còn hạn chế
Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao còn ít, 40% đại học, 20% cao
đẳng, 30% trung học s phạm, còn 10% là giáo viên 10+3 và giáo viên trunghọc cơ sở chuyển xuống dạy tiểu học Thậm chí, hiện nay còn có những giáoviên học chuyên ngành Toán, Lý, Hoá, Sinh vẫn dạy tất cả các môn ở tiểuhọc Đối với những giáo viên này, khái niệm văn bản vẫn còn xa vời, cha thể
nói đến việc hiểu cặn kẽ về đặc điểm riêng của các thể loại văn bản đợc dùng
trong dạy học Tập đọc hiện nay Do đó có sự thiếu đồng bộ về chuyên môn,một số giáo viên còn hạn chế về tay nghề s phạm, nên việc tổ chức dạy họcTập đọc phù hợp với các loại văn bản ở tiểu học còn hạn chế
- Để việc dạy học đọc các loại văn bản có hiệu quả xuất phát từ đặc
điểm riêng về phong cách văn bản, đòi hỏi giáo viên cần phải mất nhiều thờigian cho việc chuẩn bị bài, phiếu học tập Từ việc xác định mục tiêu cho đếnviệc lựa chọn phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp phải dựa trên
Trang 27nền tảng của việc hiểu đúng văn bản đợc sử dụng để dạy học và nắm đợc đặctrng cơ bản của từng thể loại văn bản mới có thể khai thác bài đọc một cáchhiểu quả Trong khi đó, thực tế cho thấy giáo viên chỉ cố gắng hoàn thành bàidạy của mình theo đúng chơng trình, cha đầu t thời gian cho việc chuẩn bị bàicũng nh lên lớp, cha thật sự chú ý đén chất lợng của giờ học.
- Giáo viên cha có sự tìm tòi, học hỏi, trau dồi kiến thc, tự nghiên cứunâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng xu thế của thời đại bùng nổ thôngtin hiện nay
- Một bộ phận giáo viên cha có biện pháp kiểm tra việc đọc thầm nênkhông biết học sinh nào đọc, học sinh nào không mà giáo viên cần phải có câuhỏi định hớng để các em đọc đúng trọng tâm tránh tràn lan mà giáo viên thìkhông kiểm soát đợc
- Sự cảm thụ văn học của giáo viên là rất hạn chế và chênh lệch nhautrong khi đó, phần đọc hiểu lại thiên về khả năng cảm thụ văn học Nhiều giáoviên khi khai thác bài học cha thoát ly đợc cái tài liệu hớng dẫn nh sách giáokhoa, sách tham khảo nên cha thực sự hoà nhập vào bài đọc để cảm nhận đợccái hay cái đẹp của văn bản và những tình cảm của tác giả gửi gắm trong vănbản Việc áp dụng máy móc phơng pháp dạy học cho tất cả các dạng bài họckhác nhau, chủ yếu là phơng pháp dạy học truyền thống, cũng làm cho chất l-ợng của giờ học cha cao, cha gây đợc hứng thú học tập và sự chú ý của họcsinh vào bài học
b) Nguyên nhân từ phía học sinh
Để một giờ học đạt đợc mục tiêu đề ra, ngoài sự cố gắng của giáo viên,học sinh đóng vai trò quan trọng cho sự thành công đó Các em vừa là đối t-ợng, vừa là mục tiêu, vừa là khách thể, vừa là chủ thể của quá trình dạy học,
do đó, tất cả các khâu của quá trình dạy học đều phải dựa trên nền tảng là họcsinh
Học sinh có vai trò quan trọng cho sự thành công của bài dạy nhng trênthực tế, trình độ của học sinh rất chênh lệch nhau và nhận thức của các em vẫncòn hạn chế Do thói quen sử dụng phơng pháp đọc chép, tất cả nội dung, ýchính đều đợc giáo viên đa lên bảng và yêu cầu học sinh nhắc lại và chép vào
vở Học sinh chỉ học thuộc lòng mà không hiểu nội dung văn bản này khácnội dung văn bản kia ở chỗ nào, vì sao lại kết luận nội dung nh vậy Nên khikhông có giáo viên hớng dẫn các em cha biết cách tìm hiểu bài, cha có ý
Trang 28thức chủ động tìm kiếm kiến thức Sự tập trung vào bài học cha cao, khảnăng cảm nhận văn học còn hạn chế cũng là nguyên nhân cơ bản hạn chếhiệu quả của việc đọc hiểu Mặc dù đến cuối bậc tiểu học những hạn chế này
đã đợc khắc phục nhiều nhng vẫn cha đạt mục tiêu mà cha trình đặt ra
1.2.4.2 Nguyên nhân khách quan
Cùng với những nguyên nhân chủ quan, khó khăn của quá trình dạy tập
đọc nói chung, quá trình dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 4, 5 nói riêng xuấtphát từ những nguyên nhân khách quan sau:
Thứ nhất, xuất phát từ chính cái tên gọi của môn học, phân môn Tập
đọc là phân môn không lợng hoá đợc, nó có tính trừu tợng cao và khó đa rachuẩn để làm tiêu chí chung cho sự đánh giá năng lực đọc của học sinh ở cácbài đọc, phần đọc hiểu, từ cách tổ chức hớng dẫn học sinh tìm hiểu nội dungtừng câu hỏi đến rút ra nội dung bài học là một nét riêng biệt, đều mang mộtsắc thái, thông tin và cách thể hiện thông tin khác nhau
Thứ hai, chơng trình, sách giáo khoa lớp 4 và lớp 5 hiện hành mới chỉthực hiện 2 - 3 năm Giáo viên còn cha có nhiều kinh nghiệm, việc tổng kết rútkinh nghiệm về nội dung chơng trình, phơng pháp giảng dạy ở một số địa ph-
ơng còn qua loa, chiếu lệ, cha sâu Các nhà quản lý giáo dục, mặc dù đã cónhiều biện pháp kiểm tra và giám sát nhng thực tế ở các trờng tiểu học việc ápdụng các biện pháp dạy học theo tinh thần chỉ đạo cha đợc quan tâm đúngmức Việc bồi dỡng, nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn cho giáo viêncòn ít Các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, đa ra sáng kiến kinh nghiệm cònmang tính hình thức Do đó, cha tạo cho giáo viên phong trào tự học, tự nângcao trình độ chuyên môn Việc tham gia các buổi học chuyên đề đổi mới ph-
ơng pháp dạy học thờng chỉ cử đại diện giáo viên, đồng thời việc vận dụngkiến thức đã thu đợc đó vào thực hành dạy học còn ít giáo viên quan tâm đến
Thứ ba, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học phân môn Tập
đọc còn hạn chế Chính sự thiếu thốn về trang thiết bị đồ dùng dạy học phục
vụ cho môn Tập đọc, đặc biệt là hệ thống bàn ghế không thuận tiện cho việc
sử dụng các phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học mới cũng làm cho tiếtdạy tập đọc khó thành công
Thứ t, quá trình dạy đọc hiểu chịu sự chi phối của các yếu tố ngoại cảnh
và yếu tố tâm lí của giáo viên, học sinh cũng phần nào làm đi sự tập trung vàkhả năng tiếp thu bài học
Trang 291.3 Tiểu kết chơng 1
Trong chơng 1, đề tài đã làm rõ những vấn đề sau:
1.3.1 Bản chất của quá trình đọc hiểu và đặc điểm của dạy đọc hiểu ởlớp 4, 5
- Bản chất của quá trình đọc hiểu chính là đọc và phân tích những cái
đ-ợc đọc
- Dạy đọc hiểu chính là dạy một kĩ năng học tập quan trọng cho họcsinh, bao gồm ba kĩ năng chính: kĩ năng nhận diện văn bản, kĩ năng làm rõ nghĩa, kĩ năng hồi đáp văn bản
1.3.2 Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của các thể loại văn bản vớiviệc đọc hiểu ở lớp 4, lớp 5
- Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản báo chí là tính chân thực, tính thời sự và tính hấp dẫn
- Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản hành chính là tính chính xác, minh bạch, tính nghiêm túc, tính khách quan và tính khuôn mẫu nghiêm ngặt
- Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản thơ, văn xuôi là tính hệ thống, tính hình tợng, tính cá thể hoá và tính cụ thể hoá
- Đặc trng về phong cách ngôn ngữ của văn bản kịch là sử dụng ngônngữ trong các tác phẩm văn học để thực hiện các chức năng thẩm mĩ và sửdụng rộng rãi ngôn ngữ hội thoại vì thế ngôn ngữ kịch có tính hình ảnh, tính hình tợng, tính nhịp điệu và có tác động thẩm mĩ đến ngời đọc
1.3.3 Nhận thức của giáo viên về dạy đọc hiểu theo đặc trng thể loạivăn bản cha cao, đặc biệt là còn nhiều giáo viên đánh đồng việc sử dụng ph-
ơng pháp dạy đọc hiểu các văn bản thông thờng với văn bản nghệ thuật Giáoviên cha biết vận dụng linh hoạt các phơng pháp tổ chức dạy học vào bài dạy,dạy học còn áp đặt việc hiểu nội dung văn bản theo ý hiểu của giáo viên và lệthuộc quá nhiều vào tài liệu tham khảo Chất lợng đọc hiểu của học sinh lớp 4
- 5 hiện nay cha đảm bảo mục tiêu mà môn học đề ra
Trang 30Chơng 2
tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho học sinh
lớp 4, 5 theo đặc trng thể loại văn bản
2.1 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu các văn bản thông thờng
2.1.1 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu các văn bản báo chí
2.1.1.1 Nội dung rèn luyện các kĩ năng đọc hiểu văn bản báo chí
Văn bản báo chí là văn bản đợc dùng làm công cụ truyền bá t tởng,quan điểm và đấu tranh cho quyền lợi của một tổ chức, một nhà nớc Để thựchiện đợc chức năng trên, văn bản báo chí bao giờ cũng phải có tính thời sự vàhấp dẫn ngời đọc Vì vậy, ngôn ngữ của văn bản này có những đặc điểm nổibật sau:
- Về từ ngữ, rất nhiều từ trong các bài báo đợc dùng với nghĩa mở rộng,
sự mở rộng này không theo một quy luật nào cả mà chủ yếu là theo phong cáchchủ quan của ngời viết do quan điểm, sự bình giá của ngời viết [8]
Ví dụ bài "Tiếng cời là liều thuốc bổ" (Tiếng Việt 4, tập 2, tr 153)
- Về đầu đề, đa số các bản tin, bài báo thờng có đầu đề đợc trình bàybằng từ ngữ giàu tính biểu cảm, nhằm tóm tắt cô đọng nhất nội dung của toànbài Ví dụ bài "Vẽ về cuộc sống an toàn" (Tiếng Việt 4, tập 2, tr 54)
Dựa vào các đặc điểm trên, khi dạy dạy đọc hiểu các văn bản báo chí,cần tập trung hình thành cho học sinh những nhóm kĩ năng sau:
a Nội dung rèn luyện nhóm kĩ năng nhận diện ngôn ngữ trong văn bản báo chí
Dạy nhận diện lời nói trong văn bản báo chí cần tập trung chủ yếu vàoviệc hình thành các kĩ năng nhận diện từ và nhận diện đoạn ý Để rèn luyệncho học sinh kỹ năng nhận diện các từ có nghĩa mở rộng, giáo viên phải đa rayêu cầu, học sinh phải ghi dấu vào các từ thấy quen về phát âm song lạ về nghĩa, để từ đó học sinh nhận diện đợc đoạn ý, cần yêu vầu học sinh thực hiện
các thao tác:
- Tìm và điểm lại các đề mục (đối với các bài báo đoạn ý có đề mục)
- Tìm các đoạn ý giữa hai dấu chấm xuống dòng [8]
b Nội dung rèn luyện nhóm kĩ năng làm rõ nội dung văn bản và đích tác động của ngời viết trong văn bản báo chí
Trang 31- Kĩ năng làm rõ nghĩa của từ
Đây là một kĩ năng trọng tâm, cần tập trung rèn luyện khi hớng dẫn học
sinh đọc hiểu văn bản báo chí
Đối với các từ mới, cần hớng dẫn học sinh thực hiện các thao tác: tìmnghĩa từ trong sách công cụ, đoán nghĩa từ dựa vào hình vẽ và các từ đã biếtnghĩa
Đối với các từ mở rộng nghĩa, cần hớng dẫn học sinh các thao tác sau: + Tìm từ đồng nghĩa để thay thế cho từ của văn bản rồi dựa vào nghĩacủa từ thay thế để đoán nghĩa của từ trong văn bản Ví dụ ở bài"Tiếng cời làliều thuốc bổ" (Tiếng Việt 4, t.2 tr.153), muốn hiểu nghĩa từ "bệnh nhân", họcsinh phải hiểu nghĩa của từ "ngời bệnh" hoặc muốn hiểu nghĩa của từ " điềutrị", học sinh cần hiểu nghĩa của từ "chữa bệnh"
+ Xác định phơng thức chuyển nghĩa mà tác giả đã sử dụng khi dùng từ
để đoán nghĩa của từ Chẳng hạn, các từ "sảng khoái", "th giản", (Tiếng Việt
4, t.2 tr.153)
- Kĩ năng làm rõ nghĩa câu
Trong văn bản báo chí, số lợng câu có nghĩa hàm ẩn không nhiều Song
đặc điểm của loại văn bản này là có lợng tin cao, chức năng của loại văn bảnnày là một công cụ để truyền bá t tởng và bảo vệ quyền lợi của một tổ chức,của một nhà nớc Vì vậy, ở văn bản báo chí thờng có hiện tợng ngời viết lợcbớt những câu mà không có chúng ngời đọc vẫn có thể nhận ra nội dung vănbản, đem lại sự súc tích, cô đọng, "ý tại ngôn ngoại" cho văn bản Mặt khác,các văn bản này thờng có các câu bình luận xen giữa những lời cung cấp tin đểthể hiện quan điểm, t tởng của tác giả Chẳng hạn, " Bởi vậy, có thể nói: ai
có tính hài hớc, ngời đó chắc chắn sẽ sống lâu hơn." (Tiếng cời là liều thuốc
+ Xác định những câu chứa lời bình, lời nhận xét, đánh giá của tác giả,
đọc diễn cảm các câu này để làm rõ quan điểm, t tởng và hớng lập luận củatác giả Chẳng hạn, câu" Các hoạ sĩ nhỏ tuổi chẳng những có nhận thức
Trang 32đúng về phòng tránh tai nạn mà còn biết thể hiện ngôn ngữ hội hoạ sáng tạo
đến bất ngờ" (Vẽ về cuộc sống an toàn - Tiếng Việt 4, t 2, tr 54)
- Kĩ năng làm rõ đoạn ý của đoạn
Đối với văn bản đoạn có câu chốt, cần luyện cho học sinh thao tác tìmcâu chốt đoạn Khi học sinh thực hiện thao này, các em cần căn cứ vào vị trí
và nghĩa của câu trong đoạn
Đối với trờng hợp không có câu chốt, cần hớng dẫn cho học sinh luyệntập theo những thao tác sau:
+ Phân tích đoạn thành một số câu, mỗi nhóm viết về một tiểu đề tài rồitóm tắt đoạn dựa trên sự phân tích đó
+ Tổng hợp ý của các nhóm câu thành một ý chung và phân tích các ý
đó thành lời văn
- Kĩ năng làm rõ ý chính của văn bản Cần rèn luyện cho học sinh kĩ
năng này, theo các thao tác sau:
+ Làm rõ mối quan hệ về ý giữa các đoạn, từ đó, làm rõ lập luận của tácgiả Tóm tắt toàn văn bản dựa vào ý của các đoạn và tên bài
+ Tổng hợp ý các đoạn theo lập luận trên để thành ý chính của cả vănbản, phát biểu thành lời văn ý chính hoặc tìm câu thể hiện ý chính trong vănbản (nếu câu này sẵn có ở văn bản)
- Kĩ năng làm rõ đích tác động của ngời viết
Tính chất của văn bản báo chí là tính thời sự cao và phải hấp dẫn ngời
đọc, khi rèn luyện kĩ năng này cần hớng dẫn học sinh làm quen với các thao
tác sau:
+Vận dụng những hiểu biết của bản thân về vấn đề mà văn bản đề cập,căn cứ vào những lời bình giá, cách dùng từ bộc lộ cảm xúc, thái độ chủ quancủa tác giả để có thể suy ra ý nghĩ mà tác giả gửi gắm trong bài đọc
+ Phát biểu thành lời chủ đích của tác giả
c Nội dung rèn luyện nhóm kĩ năng hồi đáp văn bản báo chí
- Kĩ năng hồi đáp nội dung văn bản
Khi rèn luyện kĩ năng này, cần tập trung hớng dẫn học sinh thực hiệncác thao tác sau:
+ Đánh giá tính chân thực của nội dung
+ Đánh giá tính đầy đủ của nội dung
- Kĩ năng hồi đáp đích của văn bản Khi dạy kĩ năng này, cần tập trung
luyện cho học sinh hai thao tác sau:
Trang 33+ Nêu những hiểu biết, tình cảm, mong muốn mà văn bản đã đem lạicho bản thân ngời đọc
+ Nêu những hiểu biết, tình cảm và dự kiến hành động của bản thân đápứng với đích của ngời viết
2.1.1.2 Quy trình rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản báo chí
Quy trình dạy một bài đọc hiểu có ngữ liệu thuộc dạng văn bản báo chí
đợc chúng tôi xây dựng nh sau:
A Kiểm tra bài cũ
- Giáo viên kiểm tra hai đến ba em đọc thành tiếng (hoặc đọc thuộclòng) bài tập đọc (HTL) trớc đó Sau đó, đặt một số câu hỏi về nội dung bàitập đọc (HTL) để kiểm tra kĩ năng đọc hiểu
B Dạy bài mới
1 Giới thiệu bài
- Với thể loại văn bản này (có số lợng ít trong chơng trình), giáo viêncần giới thiệu sơ qua về phong cách văn bản, thể loại văn bản để gây hứng thúcho học sinh sau đó, các nhiệm vụ cần thực hiện trong tiết học
- Để giới thiệu bài, giáo viên có thể sử dụng nhiều cách khác nhau nhdiễn đạt bằng lời, đặt câu hỏi tu từ, sử dụng tranh ảnh minh hoạ, băng hình nhng không quá dài làm ảnh thời gian luyện đọc và tìm hiểu bài
2 Hớng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài
a Luyện đọc
- GV hoặc học sinh khá, giỏi đọc mẫu toàn bài
- Chia văn bản thành các đoạn, học sinh đọc tiếp nối nhau từng đoạn (2
Trang 34- Học sinh sử dụng từ điển, đọc phần chú giải hoặc giáo viên giải thích
để các em nắm nghĩa các từ mới
- Tập cách sử dụng các từ mới
- Đọc lớt để tìm ra đề tài của bài ở thao tác này, giáo viên lu ý học sinhphân tích tiêu đề của bài vì văn bản báo chí thì ý chính thờng đợc thể hiệnnghĩa tờng minh trong tiêu đề, phần văn bản phía sau thờng chỉ là diễn dịch,chứng minh cho tiêu đề đó
- Hớng dẫn học sinh tìm ra các từ, cụm từ có cách sử dụng từ khác ờng của tác giả Sử dụng các phiếu học tập để làm rõ nghĩa tờng minh trongcâu, đoạn Hớng dẫn học sinh làm các bài tập trong phiếu
th-Yêu cầu các em biết cách phân tích tổng hợp để tìm ra ý chính của
đoạn, của bài, để từ đó rút ra bài học hoặc liên hệ bản thân
- Cho học sinh nhắc lại nội dung ý chính của đoạn, của bài, giáo viênghi bảng
c Luyện đọc lại
Đối với văn bản thông thờng không yêu cầu học sinh đọc diễn cảm màgiáo viên yêu cầu đọc rõ ràng, rành mạch, nhấn giọng những từ ngữ quantrọng
- Cho một số em đọc, mỗi em 1 đoạn trong bài, giáo viên theo dõi vàsửa lỗi cách đọc cho các em cho phù hợp với từng đoạn
- Giáo viên hớng dẫn cả lớp luyện đọc và thi đọc đúng 1 đoạn tiêu biểutrong bài
- Chuẩn cho bị bài học sau
2.1.1.3 Bài soạn minh hoạ
Để minh hoạ cho quy trình dạy văn bản báo chí này chúng tôi chọnbài: "Tiếng cời là liều thuốc bổ" thuộc chơng trình Tiếng Việt 4, tập 2, trang
153
Bài soạn minh hoạ gồm 3 phần:
- Ngữ liệu
Trang 35- Phiếu học tập
- Bài soạn
a Ngữ liệu:
Tiếng cời là liều thuốc bổ
Một nhà văn đã từng nói: " Con ngời là động vật duy nhất biết cời" Theo một thống kê khoa học, mỗi ngày, trung bình ngời lớn cời 6 phút, mỗi lần cời kéo dài độ 6 giây Một đứa trẻ trung bình mỗi ngày cời 400 lần.
Tiếng cời là liều thuốc bổ Bởi vì khi cời, tốc độ thở của con ngời lên
đến 100 ki- lô- mét một giờ, các cơ mặt đợc th giãn thoải mái vầ não thì tiết ra một chất làm ngời ta có cảm giác sảng khoái, thoả mãn Ngợc lại khi ngời ta
ở trong trạng thái nỗi giận hoặc căm thù, cơ thể sẽ tiết ra một chất làm hẹp mạch máu.
ở một số nớc, ngời ta đã dùng biện pháp gây cời để điều trị bệnh nhân Mục đích của việc làm này là rút ngắn thời gian chữa bệnh và tiết kiệm tiền cho nhà nớc.
Bởi vậy, có thể nói: ai có tính hài hớc, ngời đó chắc chắn sẽ sống lâu hơn.
Theo báo giáo dục và thời đại
b Phiếu học tập
Bài 1: Phân tích cấu tạo của bài báo trên, nêu ý chính của từng đoạn
Bài 2: Vì sao nói: Tiếng cời là liều thuốc bổ ? Hãy chọn ý đúng nhất
Vì cời nhiều con ngời sẽ no và dẫn đến béo khoẻ
Vì khi cời tốc độ thở của con ngời tăng lên, các cơ mặt th giãn, nãotiết ra một chất làm cho con ngời có cảm giác sảng khoái, thoả mãn
Vì con ngời không cời thì sẽ ốm
Bài 3: Ngời ta tìm cách tạo ra tiếng cời cho bệnh nhân để làm gì ? Hãy
chọn ý đúng nhất
Để rút ngắn thời gian chữa bệnh
Để tiết kiệm tiền cho nhà nớc
Cả hai ý trên
Trang 36Bài 4: Em rút ra đợc điều gì qua bài này ? Hãy chọn ý đúng nhất
Cần phải cời thật nhiều
Cần biết sống một cách vui vẻ
Nên cời đùa thoải mái trong bệnh viện
c.Bài soạn
I Mục đích yêu cầu
1 Đọc lu loát, trôi chảy toàn bài Biết đọc bài với giọng đọc rõ ràng,rành mạch, phù hợp với văn bản báo chí
2 Hiểu đợc khái niệm văn bản báo chí Hiểu đợc bài báo muốn nói:Tiếng cời làm cho con ngời khác với động vật, tiếng cời làm cho con ngờihạnh phúc sống lâu Từ đó, làm cho học sinh có ý thức tạo ra xung quanh cuộcsống niềm vui, sự hài hớc tiếng cời
Trang 37III Các hoạt động dạy học
A.Kiểm tra bài cũ:
- Gọi 2 học sinh đọc thuộc lòng bài thơ:
"Con chim chiền chiện"và hỏi
+ Em thứ nhất: Những từ ngữ và chi tiết nào
vẽ lên hình ảnh con chim chiền chiện tự do
bay lợn giữa không gian cao rộng ?
+ Em thứ 2: Tiếng hót của chim chiền chiện
gợi cho ta những cảm giác nh thế nào ?
GV nhận xét về cách đọc về phần trả lời và
cho điểm các em
B Dạy bài mới:
1 Giới thiệu bài: Trong cuộc sống, ngoài
những giây phút lao động, học tập mệt nhọc
ngời ta còn th giãn bằng cách đọc báo để
tìm kiếm thông tin trên đó Vậy bài báo mà
chúng ta sẽ đọc hôm nay sẽ cung cấp cho
- Gọi 1 HS khá đọc toàn bài GV chia đoan
và cho HS tiếp nối nhau đọc 3 đoạn của bài
Đoạn 1: Từ đầu đến mỗi ngày cời 400 lần.
Đoạn 2: Tiếp đó đến làm hẹp mạch máu
Đoạn 3: Đoạn còn lại
- GV sửa sai cho học sinh, kết hợp luyện
đọc một số tiếng khó mà HS dễ nhầm: Th
giãn, não,sảng khoái, thoả mãn
- GV cho HS quan sát tranh kết hợp với giải
nghĩa 1 số từ khó hiểu phần chú giải
- GVcho HS đọc theo cặp
- Gọi 1- 2 HS đọc toàn bài cho các em nhận
- 2 HS lên bảng đọc và trả lời theo yêu cầu của giáo viên.
- 2 - 3 lợt HS đọc tiếp nối 3
đoạn của bài
- HS luyện đọc cá nhân theo yêu cầu của GV.
- HS quan sát tranh, 1- 2
HS đọc các từ trong phần chú giải
- HS luyện đọc theo cặp 1- 2 HS đọc toàn bài, các
Trang 3813 phút
xét về giọng đọc
GV đọc mẫu toàn bài: Giọng đọc rõ ràng,
rành mạch, nhấn giọng những từ ngữ nói về
tác dụng của tiếng cời: Động vật duy nhất,
liều thuốc bổ, th giãn, sảng khoái, thoả mãn,
nổi giận, căm thù, hẹp mạch máu, rút ngắn,
tiết kiệm tiền, hài hớc, sống lâu hơn
b Tìm hiểu bài:
- GV phát phiếu học tập đã chuẩn bị và chia
lớp thành 3 nhóm yêu cầu học sinh đọc
thầm toàn và thảo nhóm làm bài tập 1 trong
phiếu
- GV yêu cầu đại diện từng nhóm lên trình bày.
- GV ghi ý chính từng đoạn lên bảng, cho
học sinh nhắc lại, GV chốt ý
+ Đoạn 1: Tiếng cời là đặc điểm quan trọng,
phân biệt con ngời với các loài động vật
khác.
+ Đoạn 2: Tiếng cời là liều thuốc bổ
+ Đoạn 3: Ngời có tính hài hớc sẽ sống lâu
- GV yêu cầu HS đọc thầm đoạn 2và làm
BT2 trong phiếu, cho các em nhận xét, GV
chốt ý
- GV yêu cầu HS đọc thầm đoạn 3và làm
BT3 trong phiếu, cho các em nhận xét, GV
kết hợp giảng giải và chốt ý chốt ý
- Cho 1 HS đọc toàn bài yêu cầu các em làm
bài tập 4, gọi vài HS nêu kết quả GV hỏi
thêm để củng cố bài
- GV giải thích thêm: Mặc dù tiếng cời là liều
thuốc bổ, song chúng ta phải cời đúng lúc,
đúng chỗ, để tiếng cời thực sự có giá trị, tránh
cời đùa trêu trọc bạn bè, cời trong các giờ học
hoặc trong khi đi đa đám tang
- Gv cho HS rút ra bài học, HS nêu, Gv ghi
bảng: Qua bài tập đọc các em thấy tiếng cời
làm cho con ngời khác với động vật, tiếng
c-em rút ra cách đọc về giọng đọc toàn bài
- HS lắng nghe.
- HS đọc thầm theo yêu cầu của giáo viên
- HS thảo luận nhóm và làm bài tập 1 trong phiếu
- Từng nhóm trình bầy và nhận xét bài của nhóm khác
- Vài HS nhắc lại
- HS làm bài 2,3 HS trình bày và nhận xét bài làm của bạn
- 1 HS đọc toàn bài, cả lớp làm bài tập 4, HS trả lời và làm theo yêu cầu của giáo viên
- HS liên hệ thực tế
- HS dựa vào các ý mà các
em đã trình bầy ở bài 1 để rút ra bài học
Trang 39bản báo chí phải rõ ràng, rành mạch,nhấn
giọng những từ ngữ nói về tác dụng của
tiếng cời.
- GV dán băng giấy chép sẵn đoạn 2 lên bảng
cho HS luyện đọc và thi đọc đúng đoạn 2
C Củng cố - dặn dò:
- GV nhận xét giờ học, yêu cầu HS về luyện
đọc đúng và kể lại những tin đăng trên báo
cho ngời thân cùng nghe
- Dặn HS về chuẩn bị bài sau
- Vài HS nhắc lại
- 3 HS đọc tiếp nối 3 đoạn
- HS luyện đọc lại và thi
đọc đoạn 2
- Học sinh lắng nghe
2.1.2 Tổ chức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản hành chính
2.1.2.1 Nội dung rèn luyện các kỹ năng đọc hiểu văn bản hành chính
Văn bản hành chính mang những đặc trng cơ bản nh sau: tính khuônmẫu, tính chính xác, minh bạch và tính có hiệu lực cao Xét riêng về ngônngữ, các văn bản này có những đặc điểm sau:
- Về hình thức trình bày: các phần, đoạn, đề mục trong văn bản hànhchính đợc bố cục theo mẫu quy định
- Về từ ngữ: văn bản thờng sử dụng những từ và cụm từ có tính quánngữ giúp cho ngời viết dễ dàng biểu đạt đợc mục đích của văn bản, bên cạnh
đó, giúp cho ngời đọc nhanh chóng lĩnh hội dợc nội dung và mục đích của vănbản
- Về cú pháp: do phải đảm bảo độ chính xác cao, văn bản hành chính adùng các câu đơn ngắn gọn Bên cạnh đó, trong văn bản hành chính chúng tathờng bắt gặp các câu ghép có quan hệ nhân- quả hoặc quan hệ điều kiện -hiệu quả ở những câu ghép này, dấu hiệu ngăn cách các vế thờng rất rõ ràng,ngoài dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy ở cuối mỗi vế, mỗi vế còn đợc tách rabằng cách xuống dòng để ngời đọc dễ tiếp nhận ý của từng vế
- Về diễn đạt: cách diễn đạt trong các văn bản hành chính thờng gọn, ítdùng các từ đa đẩy, từ tình thái, phép thế song lại hay sử dụng phép lặp từvựng
Xuất phát từ những đặc điểm về ngôn ngữ đã nêu trên, chúng tôi đềxuất nội dung rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản hành chính nh sau:
Trang 40a Nội dung rèn luyện nhóm kĩ năng nhận diện ngôn ngữ trong văn bản hành chính
- Kĩ năng nhận diện từ
Để rèn luyện kĩ năng nhận diện từ trong văn bản hành chính, cần hớngdẫn cho học sinh thực hiện hai thao tác:
+ Đọc to hoặc đọc thầm toàn bài
+ Ghi dấu vào các từ cha biết nghĩa hoặc cha rõ nghĩa
- Kĩ năng nhận diện đoạn ý
Văn bản hành chính thờng đợc viết theo mẫu quy định nên việc nhậndiện đoạn ý không quá khó khăn, cần luyện cho học sinh các thao tác sau đểnhận ra đoạn ý:
+ Tìm và điểm lại các đề mục trong văn bản để từ đó nhận ra các đoạn ýthuộc từng mục (nếu mỗi mục có độ dài không quá hai trăm chữ)
+ Tìm các đoạn ý giữa hai dấu chấm xuống dòng trong một mục (đốivới những mục gồm nhiều đoạn)
b Nội dung rèn luyện nhóm kĩ năng làm rõ nội dung văn bản và đích tác động của ngời viết trong văn bản hành chính
- Kĩ năng làm rõ nghĩa của từ
Trong văn bản hành chính, từ học sinh cha biết nghĩa chủ yếu là các từmới, hoặc các thuật ngữ Vì vậy, cần dạy cho học sinh thao tác tìm nghĩa củacác từ này trong sách hoặc đoán nghĩa của một từ dựa vào các từ đã biết nghĩa
ở trong câu
- Kĩ năng làm rõ nghĩa của câu
Việc làm rõ nghĩa câu trong văn bản này tập trung vào các câu ghép có
độ dài lớn Khi dạy cách làm rõ nghĩa những câu này cần tập trung luyện chohọc sinh những thao tác sau:
+ Tìm các vế của câu và xác định quan hệ về ý nghĩa của các vế
+ Xác định vế câu chứa thông báo chính, đọc thành tiếng câu với sự nhấngiọng ở vế chứa thông báo chính và sự tách ý giữa các vế một cách rõ ràng
- Kĩ năng làm rõ ý của đoạn
Đối với các đoạn có đề mục hoặc có câu chốt đoạn, việc tìm ý của đoạnchủ yếu là yêu cầu học sinh tìm những đề mục hoặc câu chốt rồi phát biểuthành lời văn