TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHTRẦN THỊ MINH RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ TRONG KHÔNG GIAN Chuyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ MINH
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC
NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ
TRONG KHÔNG GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2NGHỆ AN - 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ MINH
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC
NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ
TRONG KHÔNG GIAN
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM XUÂN CHUNG
Trang 4NGHỆ AN - 2014
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Những cái mới của luận văn và những luận điểm được đưa ra bảo vệ 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Về đánh giá và đánh giá KQHT 8
1.2.2 Về tự đánh giá trong dạy học 10
1.2.3 Về kĩ năng TĐG KQHT của HS 16
1.3 Sự cần thiết rèn luyện cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập 18
1.4 Tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh 19
1.4.1 Nhóm kĩ năng cơ bản về tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh 19
1.4.2 Biểu hiện của kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh trong học tập môn Toán 21
1.4.3 Con đường hình thành và rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh 22
Trang 61.4.4 Các mức độ của KN TĐG KQHT môn Toán đối với HS THPT.
231.5 Kết luận chương 1 28
Trang 7KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG THPT 29
2.1 Mục đích khảo sát 29
2.2 Đối tượng khảo sát 29
2.3 Nội dung khảo sát 29
2.4 Phương pháp khảo sát 29
2.5 Kết quả khảo sát 29
2.6 Kết luận chương 2 32
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH 34
3.1 Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện biện pháp 34
3.2 Một số biện pháp sư phạm rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh THPT 35
3.2.1 Biện pháp 1: Giúp người học nâng cao nhận thức về tự đánh giá kết quả học tập 36
3.2.2 Biện pháp 2: Rèn luyện cho người học các thao tác cần thiết để tự đánh giá kết quả học tập 46
3.2.3 Biện pháp 3: Thông qua các tình huống dạy học, GV cần tạo cơ hội cho HS đánh giá lẫn nhau 61
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng bộ công cụ giúp cho HS TĐG KQHT sau mỗi bài học, mỗi chương hay mỗi chủ đề 74
3.3 Kết luận chương 3 86
Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87
4.1 Mục đích thực nghiệm 87
4.2 Tổ chức thực nghiệm 87
4.3 Nội dung thực nghiệm 88
4.3.1 Đề kiểm tra thực nghiệm 88
4.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 90
Trang 84.5 Kết luận chương 4 93
KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy trong giáo dục, vai trò
của người học đã có sự thay đổi, họ trở thành người giữ vai trò trung tâm, làchủ thể tích cực, chủ động sáng tạo, qua quá trình học tập
Bên cạnh việc học trên lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên thì ngườihọc phải tự nghiên cứu, tự tìm hiểu khám phá để lĩnh hội tri thức, ngoài ra vềmặt tâm lí học cho thấy việc tự học sẽ làm phát huy hết nội lực của người học,đem lại hiệu quả cao hơn trong quá trình học tập.Trong việc học tập môn toán
ở trường phổ thông việc tự học đóng vai trò quyết định trong quá trình họctập Để tự học có hiệu quả thì kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập đóng vai tròrất quan trọng nó giúp cho người học có thể điều chỉnh quá trình học tập để cókết quả cao
1.2 Môn Toán ở trường THPT là môn học có các đặc điểm: Sự rõ ràng,
tính chính xác, logic chặt chẽ…do đó đòi hỏi ở học sinh tính cẩn thận, chínhxác cao Nên học sinh phải có thói quen tự kiểm tra, tự phát hiện ra lỗi sai, tựsửa chữa sai lầm khi làm bài, từ đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân Đây làđiều kiện thuận lợi để rèn luyện cho học sinh THPT kĩ năng tự đánh giá kếtquả học tập thông qua dạy học môn Toán
1.3 Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO cũng
đã xác định việc học là suốt đời và bốn “trụ cột” của việc học là: Học để Học để làm-Học để cùng chung sống-Học để làm người Hướng theo đó, mục
biết-tiêu giáo dục là đào tạo những con người có năng lực tự quyết: tự học, tự tổchức, tự quyết định và sau cùng là tự phát triển
1.4 Trong thực tế dạy học ở nước ta thời gian qua cho thấy đánh giá
kết quả học tập của học sinh chủ yếu vẫn thực hiện một cách truyền thống,
Trang 11chủ yếu dựa trên những bài kiểm tra giấy và thường thông qua điểm số củabài kiểm tra để xác định thành tích học tập, chưa quan tâm đến vấn đề tự đánhgiá của học sinh Trong khi đó đánh giá kết quả học tập của học sinh cần phải
có sự tham gia của học sinh, bởi họ là chủ thể của nhận thức nên hiểu bảnthân hơn ai hết, chính họ có thể tự đánh giá được mức độ nắm kiến thức vàphát triển kĩ năng của mình so với yêu cầu của giáo viên và chuẩn của mônhọc dưới nhiều hình thức khác nhau
1.5 Đã có một số công trình nghiên cứu về rèn luyện kĩ năng tự đánh
giá kết quả học tập môn Toán của học sinh THPT Điển hình là công trình
“Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh Trung học phổ thông”, luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Hạnh Lâm
Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về rèn luyện kĩ năng tựđánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trong dạy học nội dung
phương pháp tọa độ trong không gian Do đó, chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn toán cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian (chương trình chuẩn)” để nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quảhọc tập của học sinh THPT trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trongkhông gian (chương trình chuẩn)
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đánh giá trong dạy học môn Toán ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh ở trườngTHPT
Trang 124 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học, nếu chỉ ra được các kĩ năng tự đánh giá cơbản đồng thời xây dựng và thực hiện tốt một số biện pháp sư phạm trong quátrình dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian thì có thể hìnhthành và phát triển kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho họcsinh THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quảhọc tập ở trường THPT
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá ởtrường THPT
- Xác định các kĩ năng cơ bản về tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kĩ năng tự đánh giákết quả học tập của học sinh thông qua việc dạy học nội dung phương pháptọa độ trong không gian
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm hiệu quả và tính khả thicủa một số biện pháp sư phạm đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu nghiên cứu các tài liệu về các vấn đề liên quan đến đề tài luậnvăn: Tài liệu về tâm lí học, giáo dục học môn Toán, lí luận dạy học mônToán, nghiên cứu chương trình SGK toán THPT
- Điều tra thực tế
Điều tra một số khía cạnh về tình hình rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kếtquả học tập của học sinh THPT trong thực tế dạy học ở một số trường trongđịa bàn hiện nay
- Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quảcủa việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT.
7 Những cái mới của luận văn và những luận điểm được đưa ra bảo vệ
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có những nội dungchính sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá trong dạy
học môn toán ở trường trung học phổ thông
Chương 3: Biện pháp sư phạm rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả
học tập môn toán cho học sinh THPT
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ở Úc vấn đề TĐG đã rất được quan tâm nghiên cứu và đã trở thành nềnếp, thói quen trong quá trình học tập của HS
Ở Phần Lan có các tác giả Jarvinen (1989), Kohonen (1989) và Ojanen(1990) đã nghiên cứu về TĐG dưới dạng tự phản ánh của HS
Ở Canada, TĐG được chú trọng nghiên cứu cả về lí thuyết lẫn thựchành Về mặt lí thuyết, qua các nghiên cứu của các tác giả Baron (1990),Shavelson (1992), Bellanca và Berman (1994), Garcia và Pearson (1994),Wiggins (1993), Hargreaves và Fullan (1998),… đã cho thấy vai trò của giáoviên thay đổi, do đó ĐG phải có sự thay đổi, chú trọng hơn đến TĐG.Rolheiser (1996) đã đưa ra được mô hình lí thuyết TĐG Tác giả cho rằngTĐG đóng một vai trò quan trọng một chu kì học tập của HS Khi người họcTĐG hiệu quả việc học, họ sẽ biết được mức độ đạt được mục tiêu học tậpcủa bản thân Do đó, TĐG sẽ khuyến khích HS đạt được mục tiêu cao hơn và
nổ lực hết sức để đạt mục tiêu học tập của mình Thành tích có được là nhờ sựkết hợp giữa mục tiêu và sự nổ lực Trên cơ sở thành tích đó HS sẽ TĐG (tựsuy xét, tự phản ứng, tự điều chỉnh) và do đó họ sẽ tự tin hơn trong học tập
Do đó, nếu chúng ta dạy cho người học làm tốt việc TĐG thì họ có thể họctập tốt hơn ở những chu kì học tập sau Về mặt thực hành, Ross và các cộng
Trang 15sự (1998) đã thử nghiệm các bước giảng dạy cho sinh viên TĐG Qua thựctiễn vận dụng, các tác giả cho rằng: sử dụng hình thức TĐG, quyền lực ĐGcủa GV bị chia sẻ, GV cần có thời gian để làm và để hiểu cách thức đổi mới
ĐG này; mối quan hệ GV và sinh viên có sự thay đổi; sinh viên cũng cần cóthời gian để hiểu về TĐG và vai trò của nó đối với việc học của họ
Tổ chức AAIA, một tổ chức ở vùng Đông Bắc nước Anh chuyênnghiên cứu về thành tựu và cải tiến việc đánh giá, đặc biệt quan tâm nghiêncứu về vấn đề TĐG của HS trong học tập Thành tựu nổi bật là họ đã xâydựng được các bước giúp HS tiểu học TĐG KQHT, tìm cách khuyến khích vàgiúp GV điều chỉnh, định hướng quá trình học tập theo hướng phát huy nănglực của HS Qua nghiên cứu họ khẳng định các ý tưởng và kết quả có đượcvẫn có thể áp dụng được đối với HS các lớp lớn hơn
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam tự đánh giá cũng đã được nghiên cứu, vận dụng ở nhiềuphương diện và mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung vẫn chỉ ở những bướcđầu tiên
Có thể nêu một vài công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề TĐG như sau:1) Tác giả Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc [24] đã hệ thống khá đầy
đủ về ĐG và các vấn đề liên quan Một trong những đóng góp quan trọng củatác giả là đã đưa ra được bảy nguyên tắc chung nhất về ĐG, trong đó nguyêntắc thứ bảy là “Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa ĐG và TĐG” Nhưvậy tác giả đã phần nào thấy được vai trò cần thiết của người học trong quátrình ĐG, đặc biệt các ông còn nêu ra cơ sở tâm lý học, giáo dục học của việcTĐG của HS
2) Tác giả Trần Kiều [14] đã hệ thống hóa các vấn đề về lí luận ĐG,đồng thời đề xuất các BP để đổi mới phương thức ĐG chất lượng giáo dục vàcác nguyên tắc khi xây dựng bộ công cụ để ĐG chất lượng DH trên cơ sở
Trang 16nghiên cứu thực tiễn Việt Nam và một số nước trên thế giới Đặc biệt tác giảnhận thấy TĐG là một trong mười một vấn đề lí luận cần phải đổi mới quakhảo sát chất lượng giáo dục ở mười tỉnh trên ba miền của Việt Nam.
3) Tác giả Trần Thị Bích Liễu [20] đã hệ thống rất đầy đủ các thuật ngữ
và khái niệm các nguyên tắc, phương pháp, kĩ thuật, các nội dung đánh giátrong GD.Trong phần thuật ngữ và khái niệm tác giả đã trình bày khái niệmTĐG của cá nhân và tổ chức
4) Tác giả Nghiêm Thị Phiến [27] đã nghiên cứu về khả năng TĐG của
HS lớp 4,5 trường tiểu học Có thể nói đây là công trình đầu tiên của ViệtNam nghiên cứu về TĐG của HS Mặc dù bước đầu tác giả mới chỉ điều trathực trạng TĐG của HS tiểu học nhưng cũng đã mang lại kết quả nghiên cứu
có ý nghĩa, là cơ sở quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo về vấn đềTĐG Tác giả chưa nêu quan niệm về vấn đề TĐG mà mới chỉ khẳng định vaitrò của TĐG trong GD và ĐG Qua nghiên cứu của tác giả cho thấy khả năngTĐG của HS là có thể hình thành từ cấp tiếu học
5) Tác giả Vũ Tế Xiển [35] đã nghiên cứu về “TĐG của HS ở cáctrường dạy nghề về năng lực và phẩm chất của bản thân” Tác giả đã bướcđầu điều tra thực trạng TĐG phẩm chất và năng lực của bản thân” Tác giả đãbước đầu điều tra TĐG phẩm chất và năng lực của HS của các trường nghề,đây là một hướng nghiên cứu rất quan trọng nhất là trong giai đoạn hiện naychúng ta đang cần nguồn nhân lực chất luợng cao mới đáp ứng nhu cầu xãhội Tác giả bước đầu đã chỉ được HS ở các trường nghề TĐG được về nhữngphẩm chất, năng lực của bản thân họ Đề tài này có ý nghĩa trong việc địnhhướng nghề nghiệp cho HS trước khi ra trường
6) Tác giả Nguyễn Thị Côi [6] đã nghiên cứu KN tự kiểm tra ĐG tronghọc tập lịch sử của HS THPT Tác giả đã nhận ra vai trò của tự kiểm tra, ĐGđối với học tập môn lịch sử của HS và đã đề xuất được BP giúp HS TĐGtrong quá trình học tập môn lịch sử thông qua việc trả lời câu hỏi trong SGK
Trang 177) Các tác giả Nguyễn Thị Lan Phương, Dương Văn Hưng, NguyễnĐức Minh, Nguyễn Lê Thạch [27] đã nghiên cứu về đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh phổ thông và một số vấn đề lí luận và thực tiễn
8) Tác giả Nguyễn Thị Hạnh Lâm [17] đã nghiên cứu về kĩ năng tựđánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh THPT
9) Tác giả Phạm Xuân Chung [5] đã nghiên cứu về vấn đề chuẩn bịcho sinh viên sư phạm Toán ở trường Đại học tiến hành hoạt động đánh giákết quả học tập môn Toán của học sinh phổ thông
Như vậy vấn đề TĐG trong GD và dạy học đã được nhiều tác giảnghiên cứu, tuy nhiên chưa có công trình hay tác giả nào nghiên cứu sâu vềviệc rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinhTHPT trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trong không gian Do đó,chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập mônToán của học sinh THPT trong dạy học nội dung phương pháp tọa độ trongkhông gian” để nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Về đánh giá và đánh giá KQHT
a) Đánh giá
Thuật ngữ đánh giá được nhiều tác giả đề cập đến ở các lĩnh vực khácnhau trong cuộc sống xã hội Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên(2008) thì đánh giá được giải nghĩa là:
1) Ước tính giá tiền, đánh giá tài sản;
2) nhận định giá trị
Trong tổng thuật của Đỗ Hồng Anh (1993) về một số vấn đề đánh giáhiệu quả giáo dục: Đánh giá là quá trình thu nhập, xử lý thông tin để giúp choquá trình lập kế hoạch hoặc ra quyết định cho các nhà quản lý
Theo Trần Bá Hoành [11], thì đánh giá là quá trình hình thành nhữngnhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông
Trang 18tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuấtnhững quyết định để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng,hiệu quả công việc.
Theo từ điển trực tuyến Merriam-Webster thì thuật ngữ Đánh giá(assessment) có gốc từ động từ đánh giá (asess) và có nghĩa là:
1) Xác định loại hoặc khối lượng của … (ví dụ như thuế);
2) Ẩn định (thuế) phù hợp với loại xác định trước: với các vấn đề thuế,tiền hoặc các khoản thu;
3) Định giá chính thức về tài sản với mục tiêu thu thuế;
4) Xác định sự quan trọng, kích thước hoặc giá trị (đánh giá một vấn đề);5) Phạt (một cậu thủ hay một đội chơi) vì phạm lỗi phải phạt đền
Theo từ điển Cambridge, đánh giá là phân xử hoặc quyết định về khốilượng, giá trị hoặc sự quan trọng của cái gì đó cụ thể hoặc sự phán quyết, hayquyết định việc gì đó đã được thực hiện; hoặc đánh giá là một ý kiến hay phánxét về ai đó đã được thực hiện; hoặc Đánh giá là một ý kiến hay phán xét về
ai đó/cái gì đó sau khi đã được suy xét rất cẩn thận
Từ những quan điểm ở trên, ta có thể xem: đánh giá là quá trình thu nhập thông tin, phân tích, xử lý thông tin để tìm ra các chỉ số về lượng, giá trị hoặc sự quan trọng của nó trong so sánh với các mục đích, mục tiêu đã đặt
ra từ trước, từ đó đưa ra ý kiến, phán xét, khuyến nghị nhằm giúp cải thiện, nâng cao chất lượng công việc.
b) Đánh giá kết quả học tập
KQHT là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khácnhau trong thực tế cũng như trong khoa học:
+) Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xemxét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định
+) Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một HS so với các bạn họckhác [24, tr.12]
Trang 19KQHT là bằng chứng cho sự thành công của HS về kiến thức, kĩ năng,năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục.
+) Kết quả học tập môn học là mức độ đạt được mục tiêu học tập mônhọc đó của HS Trong đó, mục tiêu học tập môn học được cụ thể hóa thànhcác yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học cần phải và có thểđạt sau một chủ đề, một lớp học nhất định
Từ những điều nói trên, có thể hiểu ĐG KQHT là quá trình thu nhập, phân tích và xử lí thông tin về KQHT của HS, trên cơ sở đó đối chiếu với mục tiêu của môn học, của lớp, của nhà trường tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của
GV, nhà trường và cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.
1.2.2 Về tự đánh giá trong dạy học
1.2.2.1 Quan niệm về tự đánh giá và tự đánh giá kết quả học tập
Các tác giả nghiên cứu về TĐG đã đưa ra một số quan niệm như sau:+) TĐG là một khâu hiệu quả và quan trọng đối với việc ĐG cả quátrình học Một khi người học có thể TĐG chính việc học của mình và nềntảng kiến thức của họ đang có thì họ có thể nhận ra những lỗ hổng trong kiếnthức của bản thân, nhờ đó mà quá trình học hiệu quả hơn, khuyến khích sựtiến bộ của HS và góp phần vào việc tự điều chỉnh quá trình học
+) TĐG là quá trình thu nhập và phân tích các thông tin thích hợp vềchủ thể, là quá trình rất phức tạp [6]
+) Sự hiểu biết về bản thân là yếu tố vô cùng quan trọng Khi ĐG đúng
về mình, người ta có thể xác định đúng phương hướng, đúng cho sự tự GDbản thân Nói khác đi, TĐG là tiền đề định hướng của tự GD [26, tr.13]
Qua những điều nói trên cho thấy, mặc dù TĐG đã được quan tâmnghiên cứu nhiều năm qua nhưng cho đến nay quan niệm về TĐG vẫn chưa
có sự đồng nhất Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì TĐG cũng bao gồm:thu thập, xử lí các thông tin về bản thân; đối chiếu với mục tiêu; tiêu chuẩn do
Trang 20bản thân hoặc người khác đề ra; trên cơ sở đó tìm ra những điểm mạnh, điểmyếu của bản thân; đè xuất những quyết định để cải thiện thực trạng.
Từ đó, ta có thể hiểu TĐG KQHT là quá trình thu nhập phân tích và lí giải thông tin về KQHT của bản thân, đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học, lớp học, nhà trường nhằn tạo cơ sở cho các quyết định để việc học tập của chính mình ngày một tiến bộ hơn.
Với cách hiểu trên thì:
- TĐG KQHT là bộ phận của quá trình ĐG và thuộc dạng ĐG quátrình Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó cũng có thể mang tính chất của
ĐG chẩn đoán hoặc tổng kết
- TĐG KQHT là một hoạt động tự phản ánh quá trình học tập của bảnthân người học về những vấn đề như: đã học được những gì, đã học như thếnào và cần phải làm gì để học tốt hơn…
Trong phạm vi luận văn này, TĐG KQHT được xem xét trong mốiquan hệ với ĐG với hoạt động DH, tức là nó vừa có tính chất ĐG để điềuchỉnh quá trình học tập, vừa có tính chất của việc học, tự học Như vậy,TĐGKQHT có thể diễn ra trong quá trình học tập của HS, khi học tập có sự hướngdẫn của GV và khi không có sự hướng dẫn của GV
1.2.2.2 Mục đích, vai trò của TĐG kết quả học tập của HS trong quá trình DH
a) Mục đích của TĐG
Nếu xét theo phương diện hoạt động, TĐG là mục đích tự thân của conngười, giúp nhìn nhận lại bản thân, biết được năng lực của mình, do đó họ cóthể lựa chọn và tiến hành những hoạt động thích hợp để đạt được mục đíchcông việc Biết TĐG là một điều quan trọng quyết định phần thành công,tránh phần thất bại trong mọi công việc của mỗi con người Đối với quá trìnhgiáo dục, TĐG tạo cơ hội cho người học đưa ra nhận xét, bình phẩm và tự
Trang 21phán quyết về công việc học tập của mình, do đó phát huy vai trò nội lực củangười học trong quá trình giáo dục.
Nếu xét theo phương diện mục đích, TĐG KQHT tạo cơ hội cho HSthấy được những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, thấy được những cơ hội
và thách thức đối với công việc của mình và do đó HS có thể tự tin hơn trongviệc hoạch định công việc tương lai, cải thiện việc học tập của họ TĐGKQHT chẳng những giúp cho người học tiến bộ mà còn cung cấp nhữngthông tin giúp GV đánh giá HS sâu sắc và chính xác hơn
Để DH theo hướng coi trọng vai trò chủ động của người học, coi việcrèn luyện phương pháp tự học để chuẩn bị cho HS năng lực tự học liên tụcsuốt đời thì GV phải hướng dẫn nhằm hình thành và phát triển kỹ năng TĐGKQHT để họ tự điều chỉnh cách học, TĐG KQHT là một khâu quan trọng,vừa giúp người học xác định hiệu quả của quá trình tự học điều chỉnh và địnhhướng cho quá trình tự học tiếp theo
b) Ý nghĩa, vai trò của tự đánh giá
TĐG góp phần phát triển hứng thú của người học trong quá trình tựhọc và phát huy tính độc lập của họ, do đó rất cần thiết trong quá trình DH
TĐG rất cần thiết bởi: nó giúp HS có trách nhiệm hơn đối với bản thân;cung cấp thông tin phản hồi về quá trình học tập học tập của bản thân; cungcấp thông tin phản hồi về quá trình học tập của chính người học; giúp họ thấyđược những điểm mạnh, điểm yếu, năng lực, trình độ kiến thức KN của bảnthân để có sự điều chỉnh và định hướng hoạt động học tập tiếp theo cho phùhợp, giúp cho HS tự tin, tích cực, độc lập và linh hoạt hơn trong học tập
TĐG không chỉ có ý nghĩa lớn với hoạt động học của HS mà nó còn có
ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động dạy của GV vì chúng giúp cho cácbài học trở nên nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn, nhờ HS hoạt động tích cực vàđộc lập hơn; cung cấp thộng tin phản hồi giúp cho GV nhận ra sự tiến bộ của
Trang 22HS; chia sẻ trách nhiệm ĐG và kết quả đánh giá sẽ chính xác hơn, việc xâydựng kế hoạch học tập cho HS của GV trở nên sát thực hơn; giúp GV thấyđược những việc tiếp theo họ phải làm đối với nhóm (cá nhân).
Như vậy, TĐG có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng trong quá trình DH
và trở thành một phần của hoạt động học tập Nó là “lực nắn” hữu hiệu cách học, phát huy nội lực học, là công cụ phản ánh năng lực, giúp nâng cao hiệu quả học tập Do đó, TĐG là KN quan trọng trong quá trình học tập giúp cho người học có thể học tập suốt đời Hơn nữa, TĐG giúp HS có thể ĐG chính xác bản thân và chia sẻ trách nhiệm ĐG đối với GV.
1.2.2.3 Đặc trưng của hoạt động TĐG và các hình thức của các hoạt động TĐG
a) Đặc trưng của hoạt động TĐG của HS
- Hoạt động tự đánh giá của HS mang tính độc lập Vì người học là chủthể của HĐ nhận thức nên họ phải có trách nhiệm về sản phẩm của mình, tức
là KQHT Trong hoạt động TĐG KQHT, tính độc lập giữ vai trò rất quantrọng, nó giúp người học chủ động xử lý thông tin phản hồi để tự điều chỉnhhoạt động học tập trước khi GV đánh giá họ, nhờ đó mà hoạt động học trởnên tích cực, chủ động và hiệu quả hơn
- Hoạt động TĐG có tính tất yếu Do bản chất hoạt động của con người
là hoạt động có mục đích, hơn nữa con người có khả năng là sau một hoạtđộng thì kiểm tra xem hoạt động có đạt mục đích hay chưa nên hoạt độngTĐG của HS là tất yếu HS có thể tiến hành hoạt động này sau một bài, mộtchương, một môn học, trong khi tự học hoặc sau khi đọc một tài liệu nào đó,
… nhằm xác định mức độ lĩnh hội kiến thức KN của bản thân
- Hoạt động TĐG có tính mục đích Khi người học xác định đượcmục đích TĐG thì HĐ này sẽ dựa trên trách nhiệm của cá nhân và sự điềukhiển của ý chí TĐG lúc này là HĐ tự giác, chủ động, có phương pháp,
Trang 23mục tiêu và giải pháp cá nhân gắn với cá nhân, gắn với nhu cầu giá trị vàkhả năng cá nhân.
- Hoạt động TĐG mang dấu ấn cá nhân
TĐG mang dấu ấn của chủ thể, chịu ảnh hưởng chủ quan của củachính người ĐG Theo [7, tr 12], hoạt động tự ĐG của HS phải đảm bảotính khách quan, trung thực với KQHT và với chính bản thân người học(chủ thể của hoạt động) Khi đó, hoạt động tự đánh giá trở thành động lựcthúc đẩy quá trình học tập tiến bộ, trái lại sẽ làm cho người học rơi vàotrạng thái “tự mê” và cản trở tiến bộ của người học Vì vậy, để có thể giảmbớt ảnh hưởng của yếu tố chủ quan này, GV giúp HS nắm chắc mục tiêu,nhiệm vụ học tập đồng thời cụ thể hóa các tiêu chí ĐG, chia sẻ tiêu chí ĐGvới người học
- Hoạt động TĐG mang đặc trưng hoạt động trí tuệ: TĐG có chứcnăng điều chỉnh hoạt động học tập của HS Để có thể ĐG được quá trình họctập đòi hỏi HS phải thực hiện các hoạt động trí tuệ cơ bản như so sánh, phântích, tổng hợp, hệ thống hóa,… Do đó có thể nói TĐG nó chịu ảnh hưởngkhá lớn bởi đặc điểm trí tuệ của chủ thể, HS khá giỏi thường thực hiện cáchoạt động trí tuệ tốt hơn nên thường TĐG mình chính xác hơn so với HStrung bình, yếu kém
b) Các hình thức của hoạt động tự đánh giá của HS
Có nhiều cách tiếp cận hoạt động TĐG KQHT của HS Trong luận vănnày tiếp cận hai hình thức cơ bản đó là:
- HS TĐG dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV Hình thức này diễn ratrong quá trình DH, thầy trò giáp mặt nhau trên lớp Trong quá trình truyềnthụ kiến thức, thầy khéo léo cài đặt những HĐ để HS có thể TĐG Chẳng hạn,thông qua trả lời các câu hỏi, qua nhận xét về bài làm của mình, của bạn, hoặcqua nhận xét phân tích, ĐG của GV, qua các phiếu học tập, qua trao đổi thảo
Trang 24luận trong nhóm,…Trong hình thức này, việc ĐG của thầy sẽ là mẫu, làchuẩn mực để HS học về TĐG.
- HS TĐG không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV Hình thức này cóthể bao gồm hai kiểu cơ bản là: HS TĐG theo sự hướng dẫn (gián tiếp) của
GV hoặc HS độc lập tiến hành hoạt động TĐG
+ Trên cơ sở quá trình DH trên lớp, GV đưa ra các yêu cầu để HS tựhọc và TĐG KQHT, đó là TĐG theo hướng dẫn (gián tiếp) của GV Chẳnghạn sau giờ học GV đưa ra phiếu hướng dẫn học ở nhà hay câu hỏi yêu cầuhiểu sâu, mở rộng vấn để hoặc bài tập vận dụng…HS tự học và đối chiếu kếtquả hoặc “bắt chước” GV tiến hành TĐG KQHT
+ Khi TĐG trở thành nhu cầu, thói quen thì HS có thể tiến hành hoạtđộng này một cách tự giác trong quá trình tự học của mình, đó là HS độc lậptiến hành hoạt động TĐG Các em có thể TĐG về mức độ lĩnh hội kiến thứcsau khi học xong một nội dung hay sau khi tham khảo xong một tài liệu…
1.2.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của hình thức TĐG
Trong quá trình đổi mới ĐG, TĐG KQHT đã và đang trở thành hìnhthức ĐG có vai trò quan trọng Ta có thể thấy được các ưu điểm cơ bản là:TĐG cho phép HS chú ý hơn đến các mục tiêu học tập; Khi HS có khả năngTĐG sẽ có khả năng hoàn thành các nhiệm vụ khó khăn một cách tự tin vớikhả năng của họ và có trách nhiệm hơn đối với việc học tập; Động lực học tậpđược nâng cao, HS định hướng tốt hơn động lực học tập và công việc tiếptheo; Cung cấp phản hồi về KQHT để HS có thể tự cải thiện quá trình họctập; TĐG giúp HS học tập độc lập, tích cực, chủ động hơn
Tuy nhiên trong một số trường hợp TĐG không đúng, có thể ĐG quácao hoặc quá thấp về mình TĐG sẽ không cung cấp cho HS sự phản hồi đầy
đủ về thành tích học tập khi nó được sử dụng một cách đơn độc Do đó, cần kếthợp TĐG của HS với TĐG với ĐG của GV và các lực lượng giáo dục khác
Trang 251.2.3 Về kĩ năng TĐG KQHT của HS
1.2.3.1 Về KN và rèn luyện KN
a) Kĩ năng
Qua các tài liệu nghiên cứu thì có hai cách tiếp cận như sau:
+) Hướng thứ nhất: Xem xét KN nghiêng về mặt kĩ thuật của hànhđộng, coi KN như là một phương tiện để thực hiện mà con người đã nắmvững Theo hướng này người có kĩ năng là người nắm vững tri thức về hànhđộng theo đúng yêu cầu của nó
+) Hướng thứ hai: Xem xét KN nghiêng về năng lực con người, là biểuhiện của năng lực con người chứ không đơn thuần là kĩ thuật của hành động.Hướng này chú ý tới kết quả của hành động, coi kĩ năng là năng lực thực hiệnmột công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhấtđịnh, trong những điều kiện tình huống mới
Cho dù quan niệm về KN chưa đồng nhất, nhưng về cơ bản không có
sự mâu thuẫn, trái ngược nhau và đều thống nhất ở một số điểm chung, đó là:nói đến KN tức là nói đến “biết làm”; KN là kiến thức trong hành động, có cơ
sở là kiến thức KN là sự nắm vững cách thức thực hiện, trình tự tiến hành cácthao tác, có kết quả khi hành động diễn ra; KN luôn được biểu hiện qua cácnội dung cụ thể; KN được hình thành theo con đường luyện tập
Từ đó ta có thể hiểu: KN là khả năng thực hiện một kết quả một hành động hoặc một hoạt động nào đó, dựa trên vốn kiến thức và kinh nghiệm đã
có để hành động phù hợp với điều kiện cụ thể.
b) Sự hình thành và rèn luyện KN
Theo từ điển giáo dục học [13], để hình thành được kĩ năng trước hếtcần có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu, luyện tập từng thao tác riêng rẽ chođến khi thực hiện được hành động theo mục đích, yêu cầu …Có những KNhình thành không cần qua luyện tập, nếu biết tận dụng hiểu biết và KN tương
tự đã có thể chuyển sang thực hiện hành động, hoạt động mới
Trang 26KN chỉ được hình thành thông qua luyện tập nhiều lần Để hình thành
KN cho HS, GV trang bị cho các em các tri thức về KN, GV làm mẫu để các
em quan sát việc thực hiện các thao tác và GV giúp HS tiến hành thực hành,luyện tập các thao tác, về KN cần hình thành
Quá trình rèn luyện KN cần có hai khâu, đó là: Hình thành KN, củng cố
và nâng cao KN Trên cơ sở KN đã hình thành, để củng cố, nâng cao dần cáccấp độ KN của HS, GV phải giúp HS có được nhận thức đồng thời phải tạo
cơ hội, thời cơ để HS luyện tập, củng cố KN với các yêu cầu nâng cao dần
1.2.3.2 Quan niệm về KN TĐG kết quả học tập của HS
KN TĐG của HS là năng lực thực hiện một hành động hoặc một hoạtđộng nào đó bằng cách vận dụng các tri thức, kinh nghiệm đã có nhằm xácđịnh mức độ kiến thức, KN của bản thân so với mục tiêu học tập
Trong [9], Polya nói rằng “Trong toán học, KN là khả năng giải các bàitoán, thực hiện các chứng minh cũng như phê phán các lời giải và chứng minhnhận được” Do đó, ta có thể quan niệm về kĩ năng TĐG KQHT môn Toánnhư sau: kĩ năng TĐG KQHT môn Toán của HS có thể hiểu là khả năng vậndụng các kiến thức đã có vào việc xem xét, ĐG về việc lĩnh hội khái niệm,định lí, về lời giải bài toán, về một chứng minh hay về mức độ kiến thức, KNcủa bản thân đối với một nội dung toán học nào đó so với mục tiêu, nhiệm vụhọc tập
Như vậy, kĩ năng TĐG KQHT là KN học tập của HS, được người học tiến hành trong quá trình học, là một KN quan trọng để cải thiện quá trình học và nhờ TĐG giúp cho người học thấy được họ đã đạt được những gì và cách thức để cải thiện quá trình học và nhờ vào TĐG giúp cho người học thấy được họ đã đạt được những gì và cách thức để cải thiện quá trình học.
TĐG có thể diễn ra và được rèn luyện trong cả quá trình học, dưới
nhiều dạng: qua các câu hỏi, qua lời nhận xét của GV, ĐG từ GV và bạn học,
Trang 27qua thảo luận nhóm, qua việc giải bài tập, qua hồ sơ học tập,…Qua đó HS tựmình phản ánh về những vấn đề tiềm ẩn, phân tích xem đã học như thế nào,
KN nào đã được hình thành, KN nào cần phải có…HS có thể tiến hành TĐGKQHT dựa trên kiến thức hoặc hành vi của bản thân thông qua các nội dunghọc tập và chỉ có được KN thông qua con đường luyện tập
1.3 Sự cần thiết rèn luyện cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập
a) Thông qua TĐG HS thấy rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ môn học
HS chỉ có thể TĐG khi họ có được một bức tranh đầy đủ, rõ ràng vềmục tiêu, nhiệm vụ học tập và quá trình học là phương tiện để hướng tới Khi
ý thức được mục tiêu, nhiệm vụ học tập, HS có thể TĐG mức độ kiến thức,
KN, do đó công việc học tập của họ trở nên có định hướng rõ ràng, chủ độngtích cực hơn Hơn nữa, HS chỉ có thể đạt được thành tích về học tập nếu họhiểu mục đích và có thể TĐG xem họ cần phải làm gì để đạt được nó
Như vậy để TĐG được thì HS phải nắm chắc mục tiêu, nhiệm vụ họctập của bản thân Do đó, thông qua TĐG người học sẽ thấy rõ hơn mục tiêu,nhiệm vụ học tập
b) TĐG cung cấp cho người học thông tin phản hồi về chính quá trìnhhọc của họ
Xuất phát từ ý nghĩa to lớn của thông tin phản hồi và vị trí,vai trò củaviệc TĐG KQHT cho thấy: Việc điều chỉnh kế hoạch học tập dựa trên cơ sởcác thông tin phản hồi đó thể hiện được vai trò của TĐG đối với quá trình họccủa HS TĐG sẽ giúp các em định hướng rõ ràng hơn kế hoạch trong tươnglai, các em sẽ phấn khởi, tự tin hơn trong học tập Cùng với thời gian, các em
có thể nhận ra rõ hơn và giải quyết tốt hơn các nhiệm vụ học tập của bản thân
c) TĐG giúp người học chủ động, tích cực hơn trong học tập là xu thếmới trong DH
Để quá trình đổi mới giáo dục thực sự mang lại hiệu quả tốt đòi hỏiphải đổi mới về ĐG, bên cạnh ĐG của GV cần phải chú ý và kết hợp với
Trang 28TĐG của HS, tức là tăng cường KN TĐG ở HS trong quá trình DH Ngườihọc nên được giúp đỡ để phát triển khả năng và thói quen của sự phản chiếu
để họ có thể tăng khả năng tự điều khiển và điều chỉnh
1.4 Tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh
1.4.1 Nhóm kĩ năng cơ bản về tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh
Theo [17, tr 27-29], thì có các kĩ năng TĐG KQHT của học sinh như sau:
Nhóm 1: Nhóm KN TĐG tiềm năng bản thân Đây là nhóm kĩ năng học
tập cơ bản, nó giúp HS hiểu được ưu nhược điểm về tâm lí, trí tuệ, xu hướng,tính cách…từ đó họ có được sự lựa chọn về nội dung, phương pháp, hình thứchọc tập phù hợp giúp cho hoạt động học tập có hiệu quả tốt Trong nhóm KNnày, chúng tôi đề cập các KN sau:
+ KN 1: KN TĐG tiềm năng KN này gúp người học TĐG xem mình có
năng khiếu, thế mạnh hoặc dạng trí khôn nào,…từ đó lựa chọn và ĐG đượchướng học tập nào thích hợp nhất Chẳng hạn, họ TĐG xem mình có năngkhiếu về âm nhạc hay toán,…khi đó tự xác định sẽ theo thiên hướng nào, sẽ lànhạc sĩ, nhạc công hay là người học toán và làm toán,…
+ KN 2: KN TĐG về phong cách học Kĩ năng này giúp người học xác
định và đánh giá được cách thức học tập nào thích hợp nhất Tức là TĐG xembản thân thích học theo hình thức đọc to hay nghiền ngẫm, trầm tư, ồn ào hayyên lặng, học các nhân hay học nhóm; qua đó mà lựa chọn được cách họcphù hợp Chẳng hạn, nếu người học là người thích yên tĩnh khi học thì phải
bố trí góc học tập riêng để khi học không bị ai quấy rầy thì mới tập trung chú
ý cao độ thì mới có hiệu quả Còn nếu với cách học tập đó mà người học vừahọc vừa có người làm ồn thì bị phân tán tư tưởng dẫn đến hiệu quả không cao
+ KN3: KN TĐG về tiềm năng trí tuệ và tâm lí Kĩ năng này giúp người
học lựa chọn và đánh giá, điều chỉnh được cách học tập sao cho thích hợp
Trang 29nhất với khả năng mình Chẳng hạn, TĐG xem họ có trí nhớ tốt không, đặcđiểm tâm lí, tính cách của họ như thế nào, ảnh hưởng gì đến việc học; TĐGxem họ tiếp thu kiến thức nhanh hay chậm…qua đó tự xác định điều chỉnhcách học Chẳng hạn, nếu người học biết mình thuộc người chưa phải là thôngminh thì có thể đề ra phương châm là “cần cù bù thông minh”,…
Nhóm 2: KN TĐG về động cơ, thái độ, ý thức học tập Theo tâm lí học
(trí tuệ xúc cảm), người học chỉ tích cực khi họ nhận được nhiệm vụ học tập,khi đó họ tự tạo được động cơ, từ đó tạo ra hứng thú,…dẫn đến việc học đượctập trung cao độ và có hiệu quả cao Do đó, nhóm KN này (chỉ gồm một KNgọi là KN 4) nhằm giúp người học thấy được rõ hơn động cơ học tập củamình (học để làm gì? Học cho ai?) thái độ ý thức học tập (Học tập đã tích cựcchưa? Tự giác chưa?),…
Nhóm 3: KN TĐG về việc tổ chức việc học tập Nhóm KN này giúp HS
thấy rõ hơn việc tổ chức việc học tập của họ đã khoa học, hợp lí chưa, thấyđược sự tuân thủ các kế hoạch học tập của họ như thế nào và họ phải điềuchỉnh như thế nào để hoạt động học tập thực sự có hiệu quả Nhóm này có các
KN sau:
+ KN 5: KN TĐG việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch KN
này giúp học sinh xác định xem họ có biết xây dựng thời gian biểu (trongngày, trong tuần, trong tháng hoặc trong năm) không, họ đã thực hiện đúngthời gian biểu chưa, hiệu quả của việc thực hiện nó như thế nào, có cần điềuchỉnh không,…
+ KN 6: KN TĐG khâu tự tổ chức việc học ở nhà KN này giúp HS xác
định xem họ học tập có đúng giờ quy định hay không, sử dụng có hiệu quảcác phương tiện hỗ trợ việc học (máy vi tính, internet, máy tính cầm tay, tivi,radio, ghi âm,…), sử dụng các tài liệu phục vụ học tập (như SGK, sách bbàitập, sách tham khảo,…) như thế nào,…
Trang 30Nhóm 4: Nhóm KN TĐG việc lĩnh hội kiến thức, vận dụng KN Nhóm
KN này giúp HS TĐG mức độ đạt được về kiến thức, KN so với mục tiêu,nhiệm vụ học tập Từ đó biết được họ đạt được kiến thức, KN gì, mức độ đạtđược như thế nào, cần phải bổ sung kiến thức, KN gì, mức độ đạt được nhưthế nào, cần phải bổ sung kiến thức, KN gì,…Nhóm này gồm các KN sau:
+ KN 7: KN TĐG việc học các nội dung khi học tập với thầy KN này
TĐG kiến thức cũ, việc lĩnh hội khái niệm, định lí; TĐG việc giải bài tập,…
+ KN 8: KN TĐG mức độ đạt được nội dung môn học khi không giáp mặt với thầy KN này nhằm TĐG việc hoàn thành nhiệm vụ học tập do GV
giao cho; TĐG kiến thức, KN đã học, TĐG kiến thức, KN bổ sung,…TĐGmức độ đạt chuẩn kiến thức, KN bổ sung,…TĐG mức độ đạt được về kiếnthức, KN đã học so với yêu cầu, nhiệm vụ học tập do lớp, GV, nhà trường đặtra; TĐG sự tiến bộ trong học tập; TĐG kiến thức, KN của bản thân để địnhhướng việc tham gia các kì thi, lựa chọn hướng học tập hoặc các trường học,…
1.4.2 Biểu hiện của kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập của học sinh trong học tập môn Toán
Theo phần trình bày trên thì HS có kĩ năng TĐG KQHT nếu có khả năngthu thập, phân tích và lí giải thông tin về kiến thức, KN của mình; biết so sánh,đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ học tập; có khả năng có quyết định và điềuchỉnh hoạt động học tập của bản thân sao cho đạt được mục tiêu, nhiệm vụ họctập đó Trong môn Toán, biểu hiện kĩ năng TĐG KQHT của HS là:
- Có thể nhận biết được đặc điểm về tâm lí, trí tuệ, tính cách và phongcách học của bản thân phù hợp với môn Toán
- Có thể lựa chọn hình thức học tập phù hợp với đặc điểm tâm lí, trí tuệ,tính cách và phong cách học của bản thân trong học môn Toán tốt hơn
- Có thể tự điều chỉnh việc học để phát huy được tiềm năng trí tuệ, tâm
lí của bản thân trong học môn Toán
Trang 31- Có thể tự nhận biết được động cơ học tập đã đúng đắn chưa, thái độ, ýthức học tập đã tốt chưa (tự giác, chủ động, tích cực chưa…).
- Có thể tự điều chỉnh thái độ, ý thức học tập theo hướng tích cựchơn; có thể tự xác định được động cơ học tập đúng đắn để nâng cao hiệuquả học tập
- Có thể tự nhận thức được về tính khoa học, hợp lí, hiệu quả trong việcxây dựng và thực hiện kế hoạch học môn Toán ở nhà
- Có thể tự điều chỉnh kế hoạch học tập môn Toán theo hướng hợp lí,hiệu quả hơn
- Có thể nhận thức được hiệu quả của việc sử dụng các tài liệu học tập
và các phương tiện hỗ trợ việc học
- Có thể rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh việc sử dụng các tài liệu học tập
và các phương tiện hỗ trợ việc học
- Có thể xác định được mức độ kiến thức, KN của bản thân so với mụctiêu, nhiệm vụ học tập môn Toán
- Biết xác định mức độ lĩnh hội khái niệm, định lí, quy tắc, phương pháp…
- Biết ĐG được lời giải của bài toán
- Biết phát hiện những thiếu hụt, những sai lầm trong kiến thức, KNmôn Toán
- Biết tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh để học tập môn Toán ngày mộttiến bộ hơn
1.4.3 Con đường hình thành và rèn luyện kĩ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh
Theo [17, tr.30], để hình thành và rèn luyện kĩ năng TĐG KQHT mônToán cho HS cần thực hiện theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Nâng cao nhận thức và hình thành thói quen Đây là giai
đoạn chuẩn bị nền tảng quan trọng cho quá trình TĐG Trong giai đoạn này,
Trang 32GV phải trang bị cho HS những tri thức về toán học, tri thức về ĐG, phải địnhhướng, tạo hứng thú, động cơ và nhu cầu TĐG.
Giai đoạn 2: Hình thành, phát triển các kĩ thuật, thao tác và phương
pháp giúp HS TĐG Thông qua các hoạt động cụ thể trong quá trình học tập,qua các tình huống dạy học GV nên làm mẫu việc ĐG, cho HS đánh giá lẫnnhau, từng bước dẫn dắt HS TĐG, thử thực hiện việc TĐG theo yêu cầu…nhằm hình thành ở HS các kĩ thuật, thao tác và phương pháp TĐG
Giai đoạn 3: Tạo cơ hội, thời cơ để HS luyện tập TĐG và TĐG một
cách độc lập Trong giai đoạn này, GV tổ chức các hoạt động học tập để HSrèn luyện TĐG thông qua các hoạt động như: tự học, thảo luận nhóm, hồ sơhọc tập, hệ thống bài tập… Ngoài ra, GV nên nhắc nhở HS nên có thườngxuyên thực hiện TĐG KQHT của mình khi tự học không có sự hướng dẫncủa GV
1.4.4 Các mức độ của KN TĐG KQHT môn Toán đối với HS THPT.
KN TĐG KQHT môn Toán của học sinh THPT được chia ra làm ba mứcđộ
Mức độ 1: Bắt chước TĐG KQHT Trong quá trình dạy học ở trên lớp
GV nên tận dụng các cơ hội để làm mẫu việc ĐG KQHT cho HS thấy được
sự cần thiết phải ĐG, TĐG và bắt chước GV có thể vận dụng các hoạt độngnày thông qua việc dạy học các khái niệm, định lí, DH giải bài tập,…Khi thựchiện việc ĐG, GV có gắng giúp HS thấy được sự cần thiết phải thực hiện hoạtđộng ĐG Qua đó HS sẽ học được cách thức ĐG KQHT và được trang bị kiếnthức về ĐG Ở mức độ này HS đã nhận thức được sự cần thiết TĐG và cókiến thức nhất định về ĐG và TĐG
Ví d 1.1 Thông qua d y h c khái ni m Phụ 1.1 Thông qua dạy học khái niệm Phương trình tham số của ạy học khái niệm Phương trình tham số của ọc khái niệm Phương trình tham số của ệm Phương trình tham số của ương trình tham số củang trình tham s c aố của ủa
ng th ng, GV giúp HS h c cách G ti n t i T G vi c hi u khái ni m
đư ẳng, GV giúp HS học cách ĐG tiến tới TĐG việc hiểu khái niệm ọc khái niệm Phương trình tham số của ĐG tiến tới TĐG việc hiểu khái niệm ến tới TĐG việc hiểu khái niệm ới TĐG việc hiểu khái niệm ĐG tiến tới TĐG việc hiểu khái niệm ệm Phương trình tham số của ểu khái niệm ệm Phương trình tham số củatrong môn Toán GV l m m u àm mẫu để HS quan sát và tiến tới bắt chước như ẫu để HS quan sát và tiến tới bắt chước như đểu khái niệm HS quan sát v ti n t i b t chàm mẫu để HS quan sát và tiến tới bắt chước như ến tới TĐG việc hiểu khái niệm ới TĐG việc hiểu khái niệm ắt chước như ưới TĐG việc hiểu khái niệmc nhưsau:
Trang 33Hoạt động của GV Hoạt động của HS
1) Đường thẳng d đi qua điểm
Yêu cầu HS làm bài và gọi 3 em HS lên
bảng trình bày bài làm của mình
Vận dụng kiến thức kĩ năng lĩnhhội được làm bài
Yêu cầu HS kiểm tra lại bài làm của
mình và của bạn để chỉnh sửa (nếu có)
TĐG kết quả
Sau khi làm bài xong, yêu cầu HS nhận
xét bài làm của bạn ở trên bảng
ĐG bài làm của bạn
GV chiếu bảng hướng dẫn ĐG lên bảng HS theo dõi hướng dẫn ĐG của
GV để kiểm tra lại TĐG KQHTPhân tích đáp án, nhận xét, ĐG câu trả
lời của hai HS làm trên bảng và cả các
nhận xét của HS khác
Chính xác hóa việc ĐG và TĐGvừa thực hiện
Yêu cầu HS khác tự đối chiếu và TĐG
bài làm của mình
TĐG về kiến thức - KN và TĐGviệc thực hiện theo hướng dẫn ĐGcủa GV, sữa chữa sai lầm nếu cóMinh họa hướng dẫn đánh giá được xây dựng theo tiến trình bài làmcủa HS, với yêu cầu mức độ từ thấp đến cao, từ chưa đạt đến mức tốt
Trang 34Mức tốt Mức khá Mức trung
bình
Mức dưới trung bình (chưa đạt)
Hiểu dạng
Toán
Câu hỏi trắc nghiệm kháchquan dạng nhiều lựa chọn, trong
đó chỉ có mộtphương án đúng Xác định đúng phần dẫn và phần lựa chọn
Câu hỏi trắc nghiệm kháchquan dạng nhiều lựa chọn, trong
đó chỉ có mộtphương án đúng
Câu hỏi trắc nghiệm kháchquan dạng nhiều lựa chọn
Không hiểu dạng toán là trắc nghiệm khách quan
Biết được yếu
tố đã cho
Hiểu rõ rằng đường thẳng
đi qua qua điểm A(3 ; 4 ; 5) và
có vtcp là u
(-1 ; 1 ;-2)
Nhận ra đượchai yếu tố là điểm
1 điểm và có vtcp
Không nhận
ra đường thẳng đi qua một điểm và
có vtcp
Hiểu cách
làm
Đọc đúng cácyếu tố có trong phươngtrình tham số của đường thẳng
Viết đúng phương trình tham số của đường thẳng
đi qua điểmA(3 ; 4 ; 5) và
và có vtcp là
Viết đúng phương trình tham số của đường thẳng
đi qua điểm A(3 ; 4 ; 5) và
và có vtcp là
Không viết được PT của đường thẳng đó
Trang 35u (-1 ; 1 ;-2) (hoặc dạng phương trình khác của đường thẳng đó)
Chỉ ra phương án đúng là D saukhi viết được phương trình tham số (hoặc
PT dạng kháccủa đường thẳng đó)
Chỉ ra phương án đúng là D saukhi viết được
PT tham số
Không chỉ ra được phương
án đúng
Mức độ 2 : Biết TĐG KQHT GV yêu cầu HS thực hiện việc TĐG, sau
đó GV nhận xét, bổ sung và điều chỉnh (nếu cần) Qua đó HS tự mình thựchiện việc TĐG KQHT, GV điều chỉnh kịp thời giúp cho HS có thể TĐG tốthơn, chính xác hơn
Trang 36Ví dụ 1.2 GV có thể giúp HS biết TĐG KQHT như sau :
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
Yêu cầu HS thực hiện hoạt động 2
(SGK Hình học 12)
Hiểu và thực hiện nhiệm vụ
Sau khi HS làm xong GV yêu cầu HS
lập bảng hướng dẫn ĐG theo mẫu
của GV đưa cho
Vận dụng kiến thức - KN đã được học
để làm bài lập bảng ĐG KQHT theo mẫu của GV và TĐG theo từng phần.Gọi HS lên bảng trình bày bảng
hướng dẫn ĐG và TĐG theo bảng,
yêu cầu HS khác nhận xét, đánh giá
HS đối chiếu với bảng Hướng dẫn đánh giá của mình và theo dõi TĐG của bạn
TĐG KQHT khi tự học không có sự hướng dẫn của GV
Thông qua việc thiết kế và tổ chức các hoạt động theo hướng hìnhthành và rèn luyện KN TĐG KQHT như trên HS chẳng những tiến hànhcác hoạt động học tập theo kiến thức - KN môn Toán mà còn có thể họcđược cả việc TĐG KQHT Do đó, việc giúp HS TĐG KQHT có thể đượclồng ghép ngay trong quá trình giảng dạy bộ môn mà không đòi hỏi phảithay đổi nội dung, chương trình và thời lượng hiện hành Hơn nữa, đểgiúp HS hình thành và rèn luyện KN TĐG trong DH môn Toán chỉ cần
GV hiểu về TĐG, KN TĐG và các bước hướng dẫn khéo léo thực hiện là
có thể đạt được
Trang 371.5 Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày một số vấn đề cơ bản thuộc cơ sở lý luận vàthực tiễn về ĐG và TĐG KQHT trong dạy học; trong đó chú trọng nghiêncứu tự đánh giá KQHT của HS
Để rèn luyện được KN TĐG cho HS cần chú trọng: Các KN trongnhóm 1 (KN TĐG tiềm năng bản thân), nhóm 2 (KN TĐG về động cơ,thái độ,
ý thức học tập) là những KN tác động vào tâm lí, ý thức của HS; Các KNtrong nhóm 3 (KN TĐG tự tổ chức việc học tập) tác động vào việc học; các
KN trong nhóm 4 (KN TĐG việc lĩnh hội kiến thức, vận dụng KN) tác độngvào quá trình học; Các KN trong nhóm 4 (KN TĐG việc lĩnh hội kiến thức,vận dụng KN) tác động vào quá trình học (học trên lớp và ở nhà)
Những kết quả nghiên cứu này tương đối chặt chẽ, đầy đủ, khoa học vàmang tính thực tiễn Vận dụng những lý luận đó cùng với thực tiễn dạy học đãgiúp chúng tôi trình bày việc rèn luyện kĩ năng TĐG KQHT cho HS THPTtrong môn Hình học 12 qua chương III “Phương pháp tọa độ trong khônggian” một cách dể dàng hơn và có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc triểnkhai Tuy còn nhiều việc phải làm, nhưng có thể thấy rằng: Nghiên cứu vàvận dụng việc rèn luyện kĩ năng TĐG KQHT áp dụng trong dạy học mônToán ở trường phổ thông là cần thiết, có tác dụng tốt trong công tác kiểm trađánh giá KQHT của HS, phát huy hết những ưu điểm của ĐG, góp phần đổimới PPDH và kiểm tra đánh giá
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG THPT
2.1 Mục đích khảo sát
Tìm hiểu thực trạng KN TĐG KQHT môn Toán của HS và việc GVrèn luyện KN TĐG KQHT môn Toán cho HS
2.2 Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát là các GV toán, cán bộ quản lí, HS và phụ huynh
HS của một số trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An
2.3 Nội dung khảo sát
Tìm hiểu mức độ hiểu của GV, cán bộ quản lí về vấn đề TĐG; thựctrạng KN TĐG và rèn luyện KN TĐG KQHT môn Toán của HS
Qua kết quả trả lời phiếu hỏi, qua phỏng vấn và dự giờ một số tiết học
và tổ chức cho 32 cán bộ quản lí trả lời phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lí(phụ lục), và 112 giáo viên trả lời phiếu hỏi dành cho giáo viên (phụ lục), 150
em học sinh lớp 10,11,12 trả lời phiếu hỏi dành cho học sinh và 42 phụ huynhhọc sinh trả lời phiếu hỏi dành cho phụ huynh học sinh (phụ lục) Chúng tôithu được các kết quả sau:
Về mặt định lượng:
Đối với cán bộ quản lí và giáo viên:
- Quan niệm về các khái niệm cơ bản:
Trang 39Có 72% cán bộ quản lí và 84% giáo viên được hỏi cho rằng TĐGKQHT là quá trình thu nhập, phân tích và xử lí thông tin về kết quả học tậpcủa HS, trên cơ sở đó đối chiếu với mục tiêu học tập Tuy nhiên một số cán
bộ quản lí và giáo viên hiểu chưa đầy đủ về TĐG kết quả học tập Một số cònnhầm lẫn giữa đánh giá và kiểm tra
- KN TĐG kết quả học tập:
Gần một nửa cán bộ quản lí và giáo viên cho rằng học sinh THPT đã có
KN TĐG kết quả học tập ở mức độ trung bình, một số ít cho rằng KN TĐGkết quả học tập của HS ở mức độ thấp
- Vai trò của việc rèn luyện KN TĐG kết quả học tập của học sinh:
Đa số cán bộ quản lí và giáo viên (chiếm 93%) đều hiểu rõ vai trò củaviệc rèn luyện KN TĐG KQHT cho học sinh chỉ một số rất ít hiểu chưa đầy
đủ về vai trò của TĐG KQHT của HS
- Biểu hiện của KN TĐG kết quả học tập môn Toán của HS:
Kết quả điều tra cho thấy đa số các giáo viên đều xác định đúng cácbiểu hiện của KN TĐG kết quả học tập môn Toán của HS
Tất cả cán bộ quản lí và giáo viên trả lời phiếu đều cho rằng việcrèn luyện KN TĐG cho học sinh THPT là cần thiết, một nửa cho rằng việc
đó là rất cần thiết, nửa còn lại cho rằng cần thiết Tuy nhiên, trên thực tế
GV đều chưa thường xuyên tạo điều kiện để cho học sinh TĐG KQHTcủa họ
- Nguyên nhân học sinh chưa có KN TĐG như hiện nay:
Các cán bộ quản lí và giáo viên được hỏi (chiếm 96%) đều xác địnhchủ yếu là do ba nguyên nhân: GV chưa chú trọng rèn luyện KN TĐG kết quảhọc tập cho HS trong quá trình giảng dạy, cách đánh giá kết quả học tập cònchưa đổi mới, phương pháp dạy học còn chưa theo định hướng giúp HS TĐGkết quả
Trang 40Đối với phụ huynh học sinh:
- 55% các phụ huynh được hỏi thường xuyên quan tâm đến việc học tập
ở nhà của con (cháu) mình, 22% thỉnh thoảng, còn lại thì không bao giờ quantâm đến việc học ở nhà của con
- Rất ít em học sinh (chiếm 13%) khi học tập ở nhà có hỏi phụ huynh
về các bài toán khó, hay những kiến thức khó hiểu, đa số là các em khôngbao giờ hỏi phụ huynh khi học tập ở nhà, rất ít phụ huynh được hỏi (chiếm8%) có dành thời gian kiểm tra việc học bài của con cháu mình Đa số phụhuynh chỉ quan tâm việc học của con cháu mình bằng việc hỏi “Con học bàixong chưa?”
- Đa số phụ huynh học sinh có quan tâm đến việc học tập của con(cháu) mình tuy nhiên, chỉ có ít phụ huynh (chiếm 5%) có quan tâm, yêu cầuchúng tự đánh giá về các bài tập trước khi đến lớp hay tự đánh giá điểm sốtrước khi giáo viên trả bài kiểm tra
Đối với học sinh:
- Qua thăm dò ý kiến của học sinh về phương pháp học ở nhà thì đa sốcác em chỉ thực hiện những nhiệm vụ mà GV đã giao cho chỉ có rất ít em(chiếm 23%) các em khi học bài có thực hiện các hoạt động tự kiểm tra bàiđối chiếu với đáp án, hay mục tiêu đã đề ra