1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12 trung học phổ thông luận

142 790 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH   ---NGÔ THIÊN PHƯỚC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ ƠRIXTIC ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC 12 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

  

-NGÔ THIÊN PHƯỚC

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ ƠRIXTIC ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC 12 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

  

-NGÔ THIÊN PHƯỚC

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ ƠRIXTIC ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC 12 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học hóa học

Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Ngươi hướng dẫn khoa học:

PGS.TS LÊ VĂN NĂM

TP HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy giáo PGS.TS LÊ VĂN NĂM - Khoa Hóa học - Trường Đại học Vinh,

đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Thầy giáo PGS.TS NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG - Khoa Hóa học -Trường Đại học sư phạm Hà Nội và cô giáo TS NGUYỄN THỊ BÍCH HIỀN - Khoa Hóa học -

Trường Đại học Vinh đã dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn

- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hóa học cùng các thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hóa học khoa Hóa học trường ĐH Vinh và ĐH Sài Gòn đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệu và các đồng nghiệp thuộc trường THCS Trần Danh Ninh, các trường THPT Lương Văn Can, Ngô Gia Tự, Tạ Quang Bửu, Võ Trường Toản, Thạch Lộc, Nam Sài Gòn, Trần Khai Nguyên, Hùng Vương, đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

TPHCM, tháng 7 năm 2012

Ngô Thiên Phước

Trang 4

MỤC LỤC

Phần mở đầu 10

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 11

3 Mục đích nghiên cứu 13

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 14

6 Phương pháp nghiên cứu 14

7 Giả thuyết khoa học của đề tài 14

8 Những đóng góp mới của đề tài 15

Phần nội dung 16

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài 16

1.1 Xu thế đổi mới và phát triển PPDH trên thế giới 16

1.1.1 Những nét đặc trưng cơ bản của xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới hiện nay 16

1.1.1.1 Vai trò của cơ chế thị trường 16

1.1.1.2 Nguyên nhân hình thành của các PPDH hiện đại 16

1.1.1.3 Vai trò của tiếp cận hệ thống 17

1.1.2 Một số định hướng về đổi mới và phát triển PPDH ở nước ta hiện nay 17

1.1.2.1 Tính kế thừa và phát triển 17

1.1.2.2 Tính khả thi và chất lượng mới 18

1.1.2.3 Áp dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp PPDH mang tính công nghệ 18

1.1.2.4 Chuyển đổi chức năng từ thông báo - tái hiện sang tìm tòi ơrixtic 19

1.1.2.5 Cải tiến phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh 19

1.2 Các mô hình đổi mới PPDH hiện nay 19

1.2.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm 19

1.2.1.1 Khái niệm học sinh làm trung tâm 20

Trang 5

1.2.1.2 Quan điểm của chúng ta về việc tiếp thu tư tưởng học sinh làm trung

tâm 20

1.2.1.3 Bản chất của việc dạy lấy học sinh làm trung tâm 22

1.2.1.4 Ưu điểm và hạn chế của quan điểm “Học sinh làm trung tâm” 24

1.2.2 Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học 25

1.2.2.1 Ý nghĩa, mục tiêu của chương trình “Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học” 25

1.2.2.2 Những nét đặc trưng cơ bản của định hướng “Hoạt động hóa người học” 26

1.2.2.3 Phương hướng hoàn thiện PPDH hóa học ở trường PTTH theo hướng hoạt động hóa người học 28

1.2.2.4 Các biện pháp hoạt động hóa người học trong dạy học bộ môn Hóa học ở trường phổ thông 29

1.3 Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic 32

1.3.1 Khái niệm dạy học nêu vấn đề - ơrixtic 32

1.3.2 Cơ sở lý luận của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic 32

1.3.2.1 Cơ sở triết học 32

1.3.2.2 Cơ sở tâm lý học và giáo dục 33

1.3.3 Đặc điểm và bản chất của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic 33

1.3.3.1 Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic là một tiếp cận lý luận dạy học đang phát triển 33

1.3.3.2 Bản chất của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic 34

1.3.3.3 Ưu điểm của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic 34

1.3.4 Bài toán nêu vấn đề - ơrixic và cấu trúc của nó 37

1.3.5 Tình huống có vấn đề 37

1.3.5.1 Định nghĩa tình huống có vấn đề 37

1.3.5.2 Cơ chế phát sinh của tình huống có vấn đề trong dạy học nêu vấn đề .39

1.3.5.3 Các đặc điểm cơ bản của tình huống có vấn đề 39

Trang 6

1.3.5.4 Những cách thức cơ bản xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy

học hóa học 40

1.3.5.5 Dạy học sinh giải quyết vấn đề 42

1.3.5.6 Các mức độ dạy học sinh giải quyết vấn đề 44

1.4 Thực trạng việc sử dụng PPDH ở các trường THPT 44

1.4.1 Mục đích điều tra 44

1.4.2 Nội dung điều tra 45

1.4.3 Đối tượng điều tra .45

1.4.4 Phương pháp điều tra 45

1.4.5 Tiến trình và kết quả điều tra 45

1.4.6 Đánh giá và thảo luận 49

Chương 2 Sử dụng dạy học nêu vấn đề - ơrixtic phần kim loại (Hóa học 12 - THPT) 50

2.1 Vị trí và nhiệm vụ của phần kim loại 50

2.1.1.Chương đại cương kim loại 50

2.1.2 Chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm 50

2.2 Nội dung và cấu trúc chương trình 50

2.2.1 Chương đại cương kim loại 50

2.2.1.1 Nội dung 50

2.2.1.2 Cấu trúc chương trình 51

2.2.2 Chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm 52

2.2.2.1 Nội dung 52

2.2.2.2 Cấu trúc chương trình 53

2.2.3 Các kiểu tình huống có vấn đề trong chương đại cương kim loại và chương kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm 53

2.2.3.1 Tình huống nghịch lí - bế tắc 53

2.2.3.2 Tình huống lựa chọn 54

2.2.3.3 Tình huống tại sao 61

2.3 Thiết kế bài học theo phương pháp dạy học nêu vấn đề 62

Trang 7

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm 72

3.1 Mục đích thực nghiệm .72

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 72

3.3 Tiến hành thực nghiệm 72

3.3.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm 72

3.3.2 Phương pháp kiểm tra và xử lí kết quả thực nghiệm 75

3.3.2.1 Phương pháp kiểm tra 75

3.3.2.2 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 75

3.4 Xử lí kết quả thực nghiệm 78

3.4.1 Kết quả thực nghiệm bài kiểm tra lần 1 78

3.4.2 Kết quả thực nghiệm bài kiểm tra lần 2 81

3.4.3 Kết quả thực nghiệm bài kiểm tra lần 3 84

3.4.4 Kết quả thực nghiệm bài kiểm tra lần 4 87

3.4.5 Kết quả thực nghiệm bài kiểm tra lần 5 90

3.4.6 Kết quả thực nghiệm bài kiểm tra lần 6 93

3.4.7 Kết quả tổng hợp 6 bài kiểm tra 96

3.4.8 Phân tích số liệu thực nghiệm sư phạm 98

Kết luận và đề xuất 101

Tài liệu tham khảo 104

Phần phụ lục 108

Phụ lục 1: Một số giáo án thực nghiệm (Hóa học 12) 108

Phụ lục 2: Mẫu phiếu thăm dò ý kiến GV 141

Trang 8

KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

KLK : Kim loại kiềm

KLKT : Kim loại kiềm thổ

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Chúng ta đang sống trong thời đại mà trình độ khoa học - công nghệ phát triển nhanh chưa từng thấy và đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của mỗi quốc gia, cũng như đến mọi hoạt động hàng ngày của mỗi cá nhân Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đang nỗ lực đổi mới mạnh mẽ về nhiều mặt, trong đó giáo dục và khoa học - công nghệ có vai trò quyết định, để sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển

Một trong các giải pháp phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay là phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục Trong quyết định số 16/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”[2] Trong đó, đổi mới về PPDH

là vấn đề quan trọng “Đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của HS Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS…”[37]

Trong hệ thống các PPDH thì dạy học nêu vấn đề - ơrixtic là một trong những phương pháp theo xu hướng trên Nó có tác dụng phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, tính tích cực tìm tòi nghiên cứu và giải quyết các vấn đề học tập Đồng thời nâng cao năng lực tự học ở học sinh

Trong những năm gần đây, dạy học nêu vấn đề - ơrixtic đang được ngành giáo dục quan tâm vì tác dụng đặc biệt của nó trong việc hình thành nhân cách con người mới năng động, sáng tạo, có khả năng nghiên cứu độc lập PPDH nêu vấn đề - ơrixtic được xem là hình thức tổ chức dạy học vô cùng hiệu quả với nhiều mục đích, nội dung dạy học khác nhau và với nhiều đối tượng tính cách khác nhau

Trang 11

Về lý luận cho thấy PPDH nêu vấn đề - ơrixtic có nhiều tính ưu việt, tuy nhiên để

áp dụng nó thì cần phải người dạy cần đầu tư nhiều thời gian và trí tuệ để nghiên cứu

kỹ nội dung phương pháp, cấu trúc lại nội dung chương trình để từ đó thiết kế các bài giảng Vì vậy, trong thực tế các công trình về việc áp dụng kiểu dạy học này chưa nhiều Gần đây, một số tác giả đã nghiên cứu về cách dạy học nêu vấn đề - ơrixtic phù hợp với chương trình và điều kiện cơ sở vật chất của các trường phổ thông hiện nay Tuy nhiên những công trình này còn ít và chưa đầy đủ Vì vậy, việc nghiên cứu về vấn

đề này rất cần được quan tâm

Như vậy, việc nghiên cứu, áp dụng PPDH nêu vấn đề - ơrixtic trong giai đoạn đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay là rất cần thiết và áp dụng vào giảng dạy phần Kim loại ở trường THPT là đúng đắn, các bài học về kim loại giữ một vị trí quan trọng trong chương trình Hóa học 12 nói riêng và trong chương trình hóa học phổ thông nói chung Việc học sinh nắm vững các kiến thức về kim loại và các hợp chất của chúng sẽ giúp các em có nhiều liên hệ thực tiễn với đời sống hàng ngày Từ những lý do đó,

chúng tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng dạy học nêu vấn đề - ơrixtic để nâng cao hiệu quả dạy học phần Kim loại (Hóa học 12 - THPT)”.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Dạy học nêu vấn đề hay “dạy học giải quyết vấn đề” là hai cách gọi khác nhau của cùng một kiểu dạy học mới (xuất hiện từ đầu thế kỷ XX) để phân biệt với kiểu dạy học truyền thống Ngay từ thời cổ đại, hiện tượng “nêu vấn đề” đã xuất hiện trong các buổi tọa đàm do Xocrat tổ chức, trong tư tưởng Canhtilian, rồi đến thời Đixtecvec Tuy chưa có một giả thuyết đẩy đủ về bản chất các phương tiện của cách dạy học này, song

đã thể hiện rõ ý tưởng “nên bồi dưỡng tính tự lực cho học sinh, nên phát triển tư duy cho học sinh” Tuy vậy vẫn chưa có ý thức rõ ràng về trình độ cần phải đạt tới và có thể đạt tới

Phương pháp tìm tòi phát hiện trong dạy học nhằm động viên và hình thành năng lực nhận thức cho học sinh bằng cách lôi cuốn họ tự lực tham gia phân tích các hiện tượng có chứa đựng những khó khăn nhất định đã được nêu lên từ những năm bảy

Trang 12

mươi của thế kỷ trước, như các nhà sinh học A.Ia.Ghecđơ, Raicop, các nhà sử học Xtaxiulêvit, Rôgiơcôp, nhà ngôn ngữ học Bantalôn, nhà hóa học Amxtơrong ở Anh.Đến năm 1968, V.Ôkôn đã đạt được những thành tựu lớn nhất về dạy học nêu vấn đề với sự ra đời của cuốn “Những cơ sở của dạy học nêu vấn đề” V.Ôkôn đã nghiên cứu điều kiện xuất hiện tình huống có vấn đề của các môn học khác nhau.

Bắt đầu từ nửa sau những năm năm mươi, các nhà lý luận Xô viết đã đặt vấn đề

về sự cần thiết về sự tích cực hóa hoạt động dạy học như M.A.Đanhilôp và B.P Exicop

Vào những năm sáu mươi người ta quan tâm khai thác, khôi phục và sử dụng những thành tựu đã đạt được từ những năm 20 về phương pháp nghiên cứu, phương pháp tìm tòi phát hiện của các nhà giáo dục như V.V.Polôpxep, B.E.Raicốp, S.T.Chatski và K.P.Iagodôpski

Ở Việt Nam vào những năm 1970 đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết cũng như thực nghiệm về dạy học nêu vấn đề Tiêu biểu là các tác giả:

- Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cương, Dương Tất Tốn, Lê Văn Năm (Hóa học)

- Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Bá Kim (Toán học)

- Lê Nguyên Long, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Hữu Tòng (Vật lý)

- Nguyễn Quang Vinh, Trần Bá Hoành, Nguyễn Thị Dung (Sinh học)

Riêng đối với bộ môn Hóa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc áp dụng dạy học nêu vấn đề cho từng vấn đề cụ thể Tại Khoa Hóa (Trường Đại học Vinh) cũng đã có một số công trình nghiên cứu như:

- Sử dụng dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả dạy học chương trình hóa đại cương và hóa vô cơ ở trường trung học phổ thông (Lê Văn Năm, Luận án tiến

sĩ, 2000)

- Xây dựng và giải quyết các tình huống có vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy hoá học chương "Sự điện li", Hóa học 11, (Nguyễn Thị Thanh Hương, Luận văn Thạc sĩ, 1998)

- Nâng cao hiệu quả giảng dạy các bài sản xuất hóa học ở trường phổ thông trung học bằng dạy học nêu vấn đề, (Vũ Ngọc Tuấn, Luận văn Thạc sĩ, 1998)

Trang 13

- Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy chương trình Hóa học lớp 10 (Nguyễn Thị Bích Hiền, Luận văn thạc sĩ, 2000).

- Sử dụng dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy các khái niệm, định luật và học thuyết hóa học cơ bản trong chương trình hóa học phổ thông (Trịnh Thị Huyên, Luận văn thạc sĩ, 2004)

- Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy phần dẫn xuất halogen - ancol - phenol, Hóa học 11 - Trung học phổ thông (Trần Đình Trọng Luận văn thạc sĩ, 2011)

Kết quả của các công trình nghiên cứu cho thấy việc áp dụng PPDH nêu vấn đề - ơrixtic đã góp phần nầng cao hiệu quả giảng dạy hóa học trong chương trình hóa học phổ thông Riêng việc áp dụng PPDH nêu vấn đề vào phần Kim loại (Hóa học 12 - THPT) thì chưa có một tác giả nào đề cập một cách đầy đủ

3 Mục đích nghiên cứu.

Thông qua việc sử dụng PPDH nêu vấn đề - ơrixtic vào giảng dạy phần Kim loại (Hóa học 12 - THPT) sẽ tạo động lực cho HS phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ năng và trang bị phương pháp nhận thức cho học sinh nghiên cứu tài liệu mới trong quá trình dạy học hóa học,

từ đó hình thành cho học sinh năng lực tư duy phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập cũng như trong đời sống, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, người thực hiện đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Nghiên cứu tổng quan các cở sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng về việc sử dụng các phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học nêu vấn đề nói riêng đối với môn Hóa học ở trường phổ thông hiện nay

- Vận dụng lý thuyết dạy học nêu vấn đề để xây dựng một số giáo án thuộc phần kim loại (Hóa học 12 - THPT)

Trang 14

- Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm kiểm tra mức độ phù hợp, tính khả thi, hiệu quả sư phạm khi áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề đối với phần kim loại.

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông

- Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề - ơrixtic trong một số bài giảng phần kim loại lớp 12 ở trường THPT nhằm phát huy tích cực, tự lực của HS

6 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

- Nghiên cứu các văn bản và chỉ thị của Đảng, Nhà nước và Bộ giáo dục đào tạo

có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan tới đề tài, các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạy học nêu vấn đề, các tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các công trình khoa học liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc nội dung chương trình hóa học lớp 12

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

- Điều tra cơ bản: Tìm hiểu quá trình dạy học hóa học lớp 12 từ đó đề xuất quá trình nghiên cứu

- Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trao đổi, tổng kết kinh nghiệm về vấn đề thiết

kế một số bài giảng hóa học lớp 12 bằng phương pháp nêu vấn đề - ơrixtic với các giáo viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực này ở bậc THPT

- Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, tính hiệu quả của nội dung đề tài

6.3 Phương pháp thống kê toán học trong khoa giáo dục để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Giả thuyết khoa học của đề tài.

Trang 15

Nếu xây dựng được các bài giảng bài giảng phần kim loại lớp 12 theo phương pháp dạy học nêu vấn đề - ơrixtic và tổ chức tốt các bài học này thì sẽ góp phần đáng

kể vào việc kích thích khả năng sáng tạo, rèn luyện trí thông minh, sự nhạy bén cho học sinh Dạy học nêu vấn đề đặt học sinh vào vị trí của nhà nghiên cứu, làm tăng tính tích cực hoạt động của học sinh khi tiếp thu kiến thức, do đó đảm bảo những kiến thức vững chắc

8 Những đóng góp mới của đề tài.

Về mặt lí luận: Đề tài đã góp phần xây dựng một hệ thống tương đối các bài giảng bằng phương pháp dạy học nêu vấn đề - ơrixtic phù hợp với đối tượng trung học phổ thông

Về mặt thực tiễn: Nội dung đề tài giúp cho giáo viên có thêm tư liệu bổ ích trong việc dạy học bằng phương pháp dạy học nêu vấn đề - ơrixtic

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Xu thế đổi mới và phát triển PPDH trên thế giới [7],[18],[27],[29]

1.1.1 Những nét đặc trưng cơ bản của xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới hiện nay.

1.1.1.1 Vai trò của cơ chế thị trường.

Do tác động của cơ chế thị trường, vai trò của giáo dục ngày càng được đề cao và được xem như một động lực trực tiếp nhất để bồi dưỡng nhân lực, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội Do tác động đó, nhà trường muốn tồn tại và phát triển thì phải đổi mới cách dạy học cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp, trong đó phương pháp là yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng đào tạo Để đảm bảo cho sản phẩm đào tạo được nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới, nhà trường phải tạo ra được những hệ dạy học mềm dẻo, đa năng và hiệu nghiệm, thích hợp với đối tượng học sinh rất khác nhau về nhu cầu, trình độ và khả năng Vì thế đã xuất hiện những hệ dạy học phù hợp với quá trình đào tạo phân hóa, cá thể hóa cao độ, như những hệ dạy học theo nguyên

lý "tự học có hướng dẫn" (assisted self - learning) đòi hỏi tỷ trọng tự lực cao ở người học, đồng thời cả sự điều khiển sư phạm thông minh, khéo léo của người thầy

1.1.1.2 Nguyên nhân hình thành của các PPDH hiện đại.

Các PPDH hiện đại được phát sinh từ những tiếp cận khoa học hiện đại, như tiếp cận hệ thống (systemic approach), tiếp cận môđun (modunlar approach), phương pháp grap (graph methods), v.v Đây là những phương pháp giúp điều hành và quản lý kinh

tế - xã hội rất hiệu nghiệm ở quy mô hoạt động rộng lớn và phức tạp Từ những phương pháp đó, đã xuất hiện những tổ hợp PPDH phức hợp, như algorit dạy học, grap dạy học, môđun dạy học, v.v Những tổ hợp phương pháp phức hợp này rất thích hợp với những hệ dạy học mới của nhà trường trong cơ chế thị trường hiện đại, và chỉ có chúng mới cho phép người giáo viên sử dụng phối hợp có hiệu quả với những hệ thống

đa kênh (multimedia systems), kể cả kỹ thuật vi tính, điều mà các PPDH cổ truyền không có khả năng thực hiện Đặc biệt là tiếp cận hệ thống đang xâm nhập vào giáo dục như một công cụ phương pháp luận hiệu nghiệm

Trang 17

1.1.1.3 Vai trò của tiếp cận hệ thống.

Ngày nay, khi mà mục tiêu của nhà trường trong cơ chế thị trường hiện đại đang định hướng rõ rệt cho việc bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cho một nền kinh tế đang phát triển và biến đổi sâu sắc, nội dung trí dục của nhà trường cũng biến đổi cơ bản theo với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ Do đó, việc đổi mới PPDH phải gắn liền và chịu sự chi phối của cả mục tiêu (M) nội dung (N) và phương pháp dạy học (P) theo cấu trúc:

M N P

Dạy học ngày nay đã đạt đến trình độ công nghệ Do vậy, không chỉ nêu khẩu hiệu: "Cải tiến phương pháp dạy học" đơn thuần mà cần có sự tiến hành, theo tư tưởng tiếp cận hệ thống, cải cách cả hệ thống giáo dục, xác định mục tiêu đào tạo, nội dung trí dục và từ đó đổi mới PPDH

1.1.2 Một số định hướng về đổi mới và phát triển PPDH ở nước ta hiện nay.

1.1.2.1 Tính kế thừa và phát triển.

Việc đổi mới và phát triển phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay là cần thiết và cấp bách Tuy nhiên sự phát triển phải dựa trên điều kiện thực tế hiện tại của đất nước Tức là trước hết "phải thừa nhận bản chất thực tiễn của dạy học", cần xác định rõ trình

độ của hệ thống dạy học ở nước ta hiện nay Tình trạng phổ biến của dạy học ở Việt Nam hiện nay vẫn là các yếu tố truyền thống Vì vậy, "hướng tìm tòi của chúng ta vẫn phải từ trong lĩnh vực các lý thuyết truyền thống về PPDH" Trong LLDH truyền thống, những ưu điểm, những yếu tố hợp lý của nó vẫn còn giá trị và mang tính phổ quát Tuy nhiên, do vào thời đại phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, nếu chỉ bằng lòng như vậy là sẽ bị tụt hậu, là không có khả năng tiếp cận các nhân tố mới đang vận động và phát triển Do đó đổi mới ở đây phải bao gồm cả sự lựa chọn những giá trị (PPDH) truyền thống có tác dụng tích cực vào việc góp phần phát triển chất lượng giáo dục trong thời đại mới

Chẳng hạn ,"LLDH truyền thống cũng có nêu ra việc đặt vấn đề và giải quyết vấn

đề "tích cực hoá quá trình nhận thức của học sinh", nhưng vẫn đặt nó trong khuôn khổ

Trang 18

cứng nhắc của lối truyền thụ một chiều, nặng về vai trò của thầy và chưa đánh giá đúng vai trò hoạt động năng động, sáng tạo, tự thích ứng của học sinh trong xã hội phát triển

Vì vậy, đổi mới phương pháp phải bổ khuyết mặt yếu kém nói trên, nâng trình độ đa dạng, phức hợp, toàn diện của hoạt động dạy học theo yêu cầu ngày càng cao của xã hội phát triển"

1.1.2.2 Tính khả thi và chất lượng mới.

Đây là hai yếu tố quan trọng nhằm đáp ứng với điều kiện thực tiễn và yêu cầu phát triển PPDH Thông thường, do thời gian và ngại khó, nhà trường chúng ta thường nghiêng về nguyên tắc khả thi và lệ thuộc quá nhiều vào ý tưởng này Tâm lý chung của các giáo viên và cán bộ chỉ đạo là dễ chấp nhận các phương án dễ thực hiện, nhanh chóng phổ biến mà không chú ý đến hậu quả của nó "Như thế, khả thi nhưng thấp hơn trình độ hiện thực thì vô nghĩa, đó là một việc làm thừa và còn tai hại nguy hiểm vì đã cản trở bước tiến bộ" Như vậy, trong nghiên cứu, đổi mới và phát triển PPDH, cần đưa

ra những giải pháp khả thi nhưng quan trọng hơn nữa là giải pháp đó phải đưa ra hiệu quả và chất lượng cao hơn tình trạng hiện thực

1.1.2.3 Áp dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để tạo ra các tổ hợp PPDH mang tính công nghệ

Đây là xu hướng phù hợp với công cuộc xây dựng công nghệ dạy học hiện đại trên thế giới Nhiều thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ được ứng dụng vào KHGD Khi nghiên cứu xu hướng này, giáo sư Nguyễn Ngọc Quang đã phát hiện ra một quy luật cơ bản chi phối chiến lược đổi mới và hiện đại hóa PPDH, đó là quy luật

vệ sự chuyển hoá của PPKH kỹ thuật thành PPDH, thông qua xử lý sư phạm (cho thích nghi với môi trường dạy học)

Trang 19

1.1.2.4 Chuyển đổi chức năng từ thông báo - tái hiện sang tìm tòi ơrixtic.

Ở mỗi thời đại, do thực tiễn xã hội và nền tảng kinh tế nên mục đích và chức năng nhà trường khác nhau Trong thời đại ngày nay, khi xã hội tiến vào thời đại "siêu công nghiệp" thì toàn bộ công tác giáo dục phải phục vụ, đáp ứng yêu cầu của xã hội xây dựng trên nền tảng tri thức Con người được giáo dục và đào tạo là con người có tri thức và phẩm chất trí tuệ cao, có năng lực giao tiếp "Các phẩm chất này có đặc trưng

là nhanh, nhạy bén, linh hoạt, mềm dẻo và luôn luôn thích ứng cũng như tự điều chỉnh.Các đặc trưng này được phản ảnh vào quá trình giáo dục, đặc biệt là trong hệ PPDH".Như vậy, chức năng và vai trò của giáo dục chuyển dần sang vai trò nhà tổ chức, giáo dục cho học sinh có được năng lực hoạt động và thích ứng với môi trường xã hội, giúp người học tự tìm được phương pháp tự học, tự sáng tạo lấy hướng đi, hướng phát triển của mình trong đời sống và sự nghiệp

1.1.2.5 Cải tiến phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh.

Cần phải xác định rằng một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng dạy và học chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới của thực tiễn là do công tác kiểm tra và đánh giá chưa được hoàn chỉnh Vì vậy, "việc xây dựng và hoàn chỉnh các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông đến nay vẫn là một trong những vấn đề quan trọng nhất" Có thể xem đây cũng là một khâu đột phá khởi động cho việc đổi mới PPDH Dạy tốt chỉ có thể có ý nghĩa khi kết quả của nó dẫn đến đích

là học tốt Do đó, muốn đánh giá "dạy tốt" thì trước hết phải kiểm tra đánh giá xem có

"học tốt" không đã "Chính nội dung và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học sẽ chi phối mạnh mẽ, điều chỉnh ngay lập tức cách học của học sinh và cách dạy của thầy"

Kiểm tra, đánh giá trong dạy học là một vấn đề hết sức phức tạp, luôn luôn chứa đựng nguy cơ không chính xác, dễ sai lầm Vì vậy đổi mới PPDH thì nhất định phải đổi mới cách thức kiểm tra, đánh giá, sử dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, có tính khách quan và độ tin cậy cao

1.2 Các mô hình đổi mới PPDH hiện nay [4],[12],[14]

1.2.1 Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.

Trang 20

1.2.1.1 Khái niệm học sinh làm trung tâm.

Quan điểm này lần đầu tiên vào đầu thế kỷ XX do nhà sư phạm nổi tiểng J Dewey ở Mỹ Với mong muốn đổi mới về phương châm giáo dục thời đó, J.Dewey đã khởi xướng tư tưởng: "Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục" Đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ thời đó, nó có tác dụng đối trọng với các phương pháp truyền thống

Quan điểm coi học sinh là trung tâm của J.Dewey muốn làm đa dạng hoá hoạt động học tập của học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của thầy giáo ở trường Theo Dewey, dạy học không chỉ là công cụ truyền thụ tri thức mà còn là sự phát triển các kỹ năng và gây hứng thú cho người học Đây là một điều mới mẻ, hấp dẫn và đáng chú ý, trái với lối học trung cổ còn ngự trị trong xã hội phương tây thời bấy giờ mặc dầu chế độ phong kiến đã tiêu vong nhường chỗ cho chế độ tư bản công nghiệp Một điều đáng nói nữa về lý thuyết học sinh là trung tâm là một khuynh hướng tiến bộ lành mạnh nhằm giải phóng năng lực sáng tạo cho con người học sinh

Tuy nhiên, lý thuyết coi học sinh là trung tâm từ khi hình thành đã bị người ta khai thác quan điểm mới mẻ và tiến bộ trên theo nhiều phương diện khác nhau Người

ta đề cao kinh nghiệm và vai trò của học sinh và yêu cầu dạy theo nhu cầu hứng thú của học sinh Đặc biệt, lý thuyết này đã bị điều khiển, chi phối bởi ý thức hệ tư sản, của chủ nghĩa cá nhân, ngày càng xa rời bản chất tốt đẹp của nó và sa vào xu hướng tuyệt đối hóa hứng thú, nhu cầu, hành vi tự phát

Cũng chính vì dựa vào chủ nghĩa hành vi, chủ nghĩa hiện sinh mà từ một tư tưởng nhân văn tiến bộ, lý thuyết học sinh là trung tâm đã trở thành một lý thuyết cực đoan, máy móc, biệt lập với nhiều yếu tố tiến bộ khác trong quá trình giáo dục Và cuối cùng, khi phát hiện ra những yếu tố tiêu cực của nó thì chính các nhà giáo dục nổi tiếng phương tây trước đây đã từng ca ngợi và hưởng ứng tích cực thì sau đó lại quay trở lại phản bác vào những năm của thập kỷ 70 (với lý thuyết của Bruner, kế hoạch Train P hay phong trào New School, New Era )

1.2.1.2 Quan điểm của chúng ta về việc tiếp thu tư tưởng học sinh làm trung tâm.

Trang 21

Nếu xem xét và tìm hiểu một cách nghiêm túc sâu xa thì cơ sở triết học của tư tưởng học sinh là trung tâm là chủ nghĩa Phrơt trong sư phạm Chủ nghĩa này đề cao bản năng vô thức, bản năng tính dục nguyên khai ở con người, tạo điều kiện cho học sinh phát triển nhu cầu, hứng thú cá nhân từ trong nhà trường Đây là những khuynh hướng trái với bản chất nền văn hóa giáo dục của chúng ta, nền giáo dục hướng về cộng đồng, hướng về số đông con người lao động nghèo khổ.

Cho nên, coi học sinh là trung tâm trong quá trình đào tạo ở nhà trường là một vấn đề cần phải tiếp thu có nguyên tắc, có lựa chọn và cần phải cân nhắc một cách đồng bộ trong nhiều mối quan hệ giữa con người, nhà trường, xã hội và các yếu tố giáo dục tiên tiến và hiện đại Tuyệt đối không được hiểu quan điểm này một cách máy móc

và cực đoan để đi đến chỗ hạ thấp vai trò người thầy trong quá trình dạy học Lênin đã từng nhắc nhở: "Không ai có thể thay thế được ông thầy trong nhà trường" Còn tục ngữ Việt Nam cũng có câu: "Không thầy đố mày làm nên" Thực tế giáo dục đã cho thấy rằng, dù chương trình, sách giáo khoa và điều kiện học tập tốt đến đâu mà người thầy kém thì không thể có kết quả tốt được Trong khi đó, điều kiện sư phạm có thể không thuận lợi nhưng với những người thầy vừa giỏi vừa có tâm thì vẫn tạo được những kết quả bất ngờ Chẳng hạn trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt, mặc dầu thiếu thốn trăm bề, nhưng với những người thầy vừa giỏi chuyên môn, vừa tâm huyết với sự nghiệp trồng người đã đào tạo cho đất nước bao thế hệ thanh niên ưu tú

Như trên đã nói, chúng ta tiếp thu lý thuyết học sinh là trung tâm có phê phán và lựa chọn sao cho phục vụ tốt hơn mục đích giáo dục toàn diện và lành mạnh của nền giáo dục XHCN

Xét cho cùng, quan điểm này không xa lạ gì đối với lịch sử giáo dục của nước ta Việc chú trọng đến đối tượng người học, đến chủ thể học sinh trong quá trình giáo dục

và đào tạo để phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh đã từ lâu là phương châm mà chúng ta đã có những thành công đáng kể Những khẩu hiệu và phương pháp : "Tất cả vì học sinh thân yêu", "Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự

Trang 22

đào tạo", "Dạy học cá thể hóa", "Dạy học nêu vấn đề", "Học sinh là chủ thể sáng tạo", v.v có thể xem là những nhân tố tích cực của quan điểm học sinh là trung tâm.

1.2.1.3 Bản chất của việc dạy lấy học sinh làm trung tâm.

Ở trên chúng ta đã tìm hiểu lý thuyết "học sinh là trung tâm" theo các quan điểm khác nhau trong quá trình xuất hiện và tồn tại của lý thuyết này Nhằm nghiên cứu sâu hơn việc thể hiện lý thuyết này trong quá trình dạy học chúng ta tiếp tục tìm hiểu bản chất của việc "dạy học lấy học sinh làm trung tâm" Đây là một vấn đề mà các nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm đến trong những năm gần đây Người ta đã bàn nhiều đến việc chuyển từ kiểu "Dạy học lấy giáo viên làm trung tâm" (Teacher centred teaching) sang kiểu "dạy học lấy học sinh làm trung tâm (Learner centred teaching)

Để làm rõ bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm, chúng ta hãy so sánh những điểm khác nhau giữa hai kiểu dạy học theo bảng sau:

Dạy học lấy giáo viên làm trung tâm Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

II Nội dung:

- Sự kiện, thông tin đã có sẵn

- Cấu trúc theo logic nội dung môn học

III Phương pháp:

- Ghi nhớ, diễn giảng, thuyết trình

- Tập trung vào bài giảng

- Học sinh tiếp thu thụ động

- Giáo viên chiếm ưu thế, áp đặt

- Giáo án cấu trúc đường thẳng, chung

cho mọi học sinh, giáo viên chủ động

III Phương pháp:

- Phát huy sự tìm tòi, độc lập, sáng tạo

- Rèn luyện phương pháp tự học, tự khám phá và giải quyết vấn đề

- Người học chủ động tham gia

- Giáo viên là người tổ chức, điều khiển

- Giáo án cấu trúc phân nhánh, phân hoá,

Trang 23

thực hiện theo các bước đã chuẩn bị sẵn linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự

phát triển cá nhân

IV Hình thức tổ chức:

- Không khí lớp học: hình thức, máy

móc

- Chỗ ngồi học sinh và việc bố trí lớp

học cố định Bàn giáo viên và bảng đen

chiếm vị trí trung tâm

- Dùng phương tiện và kỹ thuật dạy học

- Sử dụng thường xuyên các phương tiện

kỹ thuật dạy học

V Kiểm tra - đánh giá:

- Là việc làm của giáo viên, do giáo viên

quyết định

- Nội dung kiểm tra chỉ chú trọng đến

khả năng ghi nhớ và tái hiện

V Kiểm tra - đánh giá:

- Giáo viên đánh giá khách quan

- Người học tự đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau

- Nôi dung kiểm tra ở các mức độ: tái hiện - vận dụng - suy luận sáng tạo

Như vậy trong hai kiểu dạy học trên có sự thay đổi căn bản vai trò của GV và HS

Dạy học lấy GV làm trung tâm Dạy học lấy HS làm trung tâm

Thuyết trình - diễn giảng Cùng tìm tòi - cùng giải quyếtCho sẵn - học thuộc Chủ động - tự giải quyết

Thụ động - giáo điều Độc lập - tự học

Gò ép - bắt chước Năng động - tích cực

Sáng tạo - chiếm lĩnh

Trang 24

Qua sơ đồ trên cho thấy trong quá trình chuyển dần từ kiểu dạy học truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm sang kiểu dạy học mới lấy học sinh làm trung tâm đã có sự thay đổi tỷ trọng và nội dung vai trò của người dạy và người học Trong kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm, thì vai trò tích cực chủ động sáng tạo của người học được phát huy, song vai trò của người dạy không hề bị hạ thấp Ngược lại, kiểu dạy học này yêu cầu người giáo viên phải có năng lực chuyên môn và sư phạm thật tốt, có suy nghĩ tìm tòi sáng tạo, có tâm huyết và quyết tâm đổi mới phương pháp giáo dục để đóng vai trò là người gợi mở, hướng dẫn, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động học tập của học sinh, đánh thức các năng lực tiềm tàng trong mỗi cá nhân, chuẩn bị tốt cho các em tham gia đời sống cộng đồng.

Tóm lại, bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, xem cá nhân người học với những phẩm chất, năng lực riêng của mỗi người - vừa là chủ thể, vừa là mục đích cuối cùng của quá trình đó, phấn đấu cá thể hoá quá trình học tập để cho các tiềm năng của mỗi cá nhân được phát huy tối ưu

Như vậy, định hướng và bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm không

hề mâu thuẫn với quan niệm truyền thống về vai trò quyết định của giáo viên đối với chất lượng và hiệu quả dạy học Điều cần lưu ý là để đảm bảo tính hiệu quả của kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên phải nắm được trình độ của các đối tượng, đặc điểm nội dung của chương trình các môn học, cấp học, các thiết bị dạy học

để vận dụng linh hoạt trong tình huống dạy học

1.2.1.4 Ưu điểm và hạn chế của quan điểm “Học sinh làm trung tâm”.

Đó là những điều hấp dẫn hứng thú, đáng chú ý ở tư tưởng J.Dewey.

Trang 25

b Hạn chế:

Do quá chú trọng phát triển cá nhân tự phát, coi nhẹ vai trò định hướng trong quá trình hình thành nhân cách, coi nhẹ xã hội của con người nên quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đã từ một ý tưởng nhân văn tiến bộ trở thành một lý thuyết cực đoan

mà mục đích cao nhất là tạo mọi đều kiện để đáp ứng nhu cầu hứng thú, của từng cá nhân ngay còn khi đi học

Đó là những khuynh hướng tư tưởng xa lạ với bản chất nền văn hóa giáo dục hướng về cộng đồng , hướng về số đông lao động Vì vậy quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đã bị chính những nhà sư phạm phương tây bác bỏ

1.2.2 Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học [4],[27].

1.2.2.1 Ý nghĩa, mục tiêu của chương trình “Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học”.

Đây là một phương hướng thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa mục đích - nội dung

và PPDH Nó hoàn toàn phù hợp với luận điểm cơ bản của giáo dục học Macxit cho rằng con người phát triển trong hoạt động và học tập diễn ra trong hoạt động

Chương trình này cũng nhằm đáp ứng một cách tích cực yêu cầu đổi mới PPDH

để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Vì

"xét cho cùng, khoa học giáo dục là khoa học về phương pháp, sáng tạo về khoa học giáo dục, xét cho cùng là sáng tạo về phương pháp giáo dục"

Mục tiêu bao trùm của chương trình là tạo chuyển biến trong toàn xã hội về nhận thức và hành động theo hướng hoạt động hóa người học trong giảng dạy và học tập.Mục tiêu cụ thể là xây dựng cơ sở lý luận cho việc đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học Từ đó đưa ra một số mô hình dạy học nhằm giải quyết một

số vấn đề cấp thiết theo các hướng sau:

- Dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của người học

- Hình thành công nghệ kiểm tra, đánh giá

- Sử dụng phương tiện kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin trong quá trình dạy học

1.2.2.2 Những nét đặc trưng cơ bản của định hướng “Hoạt động hóa người học”.

Trang 26

a Xác lập vị trí chủ thể của người học, đảm bảo tính tự giác và sáng tạo của hoạt động học tập.

Với định hướng "hoạt động hóa người học", vai trò chủ thể của người học được khẳng định trong quá trình học tập, trong hoạt động và bằng hoạt động của bản thân mình Cụ thể, người học trong quá trình học tập phải là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ chứ không phải là nhân vật bị động hoàn toàn làm theo lệnh của thầy giáo Về tính tự giác tích cực của người học thì từ lâu đã trở thành nguyên tắc của nền giáo dục nước ta Tuy nhiên, việc thực hiện nó đang ở mức tuyên truyền là chính, nó chưa thực sự trở thành nguyên tắc giáo dục với đúng ý nghĩa của nó

HĐHNH phải là hoạt động tự giác tích cực mà được khởi động từ bên trong làm cho người học có động cơ biến nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của chính bản thân mình Việc đưa học sinh vào vị trí chủ thể của người học sẽ tạo điều kiện để học sinh hình thành ý thức tự giác, phát triển tư duy sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề

Tư duy sáng tạo theo Lecne I Ia "là tư duy tạo được cái gì mới, độc đáo, duy nhất và không lặp lại về thế giới và các phương thức hoạt động" Tuy nhiên, đối với học sinh trong quá trình sáng tạo ra cái mới không phải chủ yếu đối với xã hội, mà là đối với chủ quan của mình, nhưng cái mới ấy đồng thời cũng có ý nghĩa xã hội là cá nhân trưởng thành về mặt tư duy sáng tạo Trong nhiều trường hợp, quá trình sáng tạo hầu như bao giờ cũng đòi hỏi phải có sự tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang tình huống mới

b Nghiên cứu đối tượng học sinh để thực hiện quá trình đào tạo.

Theo quan điểm kiến tạo trong tâm lý học, học tập chủ yếu là một quá trình trong

đó người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách liên hệ những nhận thức mới vơí kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng sẵn có, bắc cầu nối giữa cái mới và cái sẵn có Như vậy, đầu óc học trò ban đầu không phải là trống không, mà thường là đã có một số kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nào đó liên quan đến kiến thức của bộ môn cần học Kiến thức và kinh nghiệm có sẵn này có thể làm thuận lợi hoặc gây khó khăn trong quá trình tiếp thu kiến thức mới Vì vậy, để hoạt động hoá người học, người giáo viên phải tìm

Trang 27

hiểu, phải nắm được những quan niệm, kiến thức sẵn có đó của học sinh, từ đó khơi dậy và phát huy những thuận lợi và hạn chế mặt khó khăn cho quá trình học tập, dự kiến những chướng ngại mà họ có thể gặp, những sai lầm mà họ có thể mắc khi xây dựng kiến thức mới, nhờ đó điều khiển việc học có hiệu quả.

c Dạy việc học, dạy cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học

Để hoạt động hoá người học thì cần phải thay đổi hẳn lối giảng dạy "truyền thụ một chiều" đang rất phổ biến, vì dạy như thế sẽ dẫn đến lối học thụ động, ít tự chủ và

tự học nên dẫn đến lượng kiến thức thu được ít, lại không có chiều sâu

Một vấn đề đáng lưu ý hiện nay là do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật trên toàn thế giới dẫn đến những nội dung cần dạy - học lại tăng lên rất nhiều và nhanh, trong lúc đó ở nhà trường thì quỹ thời gian dành cho việc dạy - học lại gần như không đổi, nhà trường không thể nào bắt kịp được lượng thông tin đang phát triển với tốc độ chóng mặt Để chủ động giải quyết nghịch lý giữa lượng thông tin với thời gian hạn chế trong trường học, người thầy phải hết sức chú trọng dạy cho học sinh cách học

và hình thành cho người học nhu cầu tự mình bổ sung kiến thức trong quá trình học tập

và công tác Như vậy, dạy cách học ở đây là dạy cho người học phải tự học, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng quyết tâm phấn đấu và bằng nếp tư duy độc đáo, sáng tạo của bản thân mình Vai trò của trường học bây giờ không phải chỉ nhằm trang bị cho người học tri thức khoa học mà còn phải vũ trang họ phương pháp nghiên cứu, tự bổ sung kiến thức suốt cả đời lao động học tập của mình Vì vậy, thay cho việc dạy cho học sinh cách học nhồi nhét, ghi nhớ máy móc là dạy cách học có suy luận, có tư duy thông minh, sáng tạo Học như thế là "học một biết mười" như cha ông chúng ta đã từng dạy.Việc dạy tự học như trên tất nhiên chỉ có thể thực hiện được trong một cách dạy học mà người học là chủ thể tự hoạt động để đáp ứng nhu cầu của xã hội đã chuyển hóa thành nhu cầu của chính bản thân họ

d Xác định vai trò của người thầy trong "HĐHNH" là người thiết kế, định hướng và điều khiển.

Thiết kế: là lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học cả về mặt mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức

Trang 28

Định hướng: gợi mở cho học sinh các giai đoạn của công việc, biến ý đồ của thầy thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò.

Điều khiển: đảm bảo cho quá trình dạy - học đi đúng hướng, đúng mục tiêu giáo dục đã định Điều khiển ở đây bao hàm cả về mặt tâm lý là động viên, trợ giúp và đánh giá

Tóm lại, qua những điều vừa phân tích, chúng ta có thể cụ thể hoá quan điểm HĐHNH trong PPDH bộ môn theo các vấn đề sau:

- Cho học sinh thực hiện và tập luyện những hoạt động và hoạt động thành phần tương thích với nội dung và mục đích dạy học

- Gợi động cơ, hứng thú cho các hoạt động học tập

- Giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, đặc biệt là tri thức phương pháp như phương tiện và kết quả của hoạt động

- Phân loại hoạt động làm căn cứ điều khiển quá trình dạy học

Đi vào từng bộ môn cần chú ý phát triển một số loại hình tư duy nhất định bằng cách cho học sinh tập luyện những hoạt động đặc trưng của mỗi loại hình tư duy này

Từ định hướng chung này cần đi sâu vào những xu hướng, những biện pháp dạy học cụ thể để thực hiện Định hướng HĐHNH thể hiện rõ nét ở những xu hướng dạy học không truyền thống như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dựa vào lý thuyết tình huống, dạy học chương trình hóa,

1.2.2.3 Phương hướng hoàn thiện PPDH hóa học ở trường PTTH theo hướng hoạt động hóa người học.

Những nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng sử dụng PPDH trong giảng dạy Hoá học ở các trường phổ thông cho phép đề xuất phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường PTTH trong những năm tới như sau:

- Học sinh phải được hoạt động nhiều hơn, phải được trở thành chủ thể hoạt động, đặc biệt là hoạt động tư duy

- Các PPDH hóa học phải thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học đặc trưng của bộ môn Hóa học là thực nghiệm, tận dụng khai thác đặc thù môn Hóa học tạo

ra các hình thức hoạt động của học sinh một cách phong phú và đa dạng Do đó phải

Trang 29

tăng cường sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan, phải dạy cho học sinh biết nghiên cứu và tự học.

- Giáo viên phải chú ý hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh và có biện pháp hình thành từng bước năng lực giải quyết vấn đề từ thấp đến cao Đó cũng là biện pháp quan trọng để tăng mức độ hoạt động tự lực chủ động tích cực của học sinh

và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh

1.2.2.4 Các biện pháp hoạt động hóa người học trong dạy học bộ môn Hóa học ở trường phổ thông.

Trong giảng dạy hóa học có thể làm cho học sinh trở thành chủ thể hoạt động bằng một số biện pháp sau đây

a Khai thác đặc thù môn Hóa học tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng, phong phú của học sinh trong giờ học.

Tức là tăng cường sử dụng thí nghiệm hóa học, các phương tiện trực quan trong dạy học hóa học Sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của học sinh, nhiều PPDH của giáo viên nhằm giúp học sinh được hoạt động tích cực chủ động

Khi lựa chọn, phối hợp các PPDH của giáo viên và các hình thức hoạt động của học sinh, cần lưu ý chọn ưu tiên các hình thức hoạt động và PPDH thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học đặc trưng của bộ môn Hóa học Theo nguyên tắc vừa trình bày thì cần lựa chọn, ưu tiên theo thứ tự sau đây các PPDH của giáo viên và hình thức hoạt động của học sinh:

- Học sinh quan sát thí nghiệm do giáo viên biểu diễn

- Học sinh quan sát đồ dùng dạy học như hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mẫu vật, mô hình,

- Học sinh làm thí nghiệm khi học bài mới (thí nghiệm nghiên cứu trong giờ thực hành, trong hoạt động ngoại khóa)

- Phương pháp nghiên cứu trong dạy học

- Dạy học nêu vấn đề

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp thuyết trình

Trang 30

- Hoạt động học tập của học sinh trên lớp (nghiên cứu sách giáo khoa, làm bài tập, làm bài kiểm tra, đọc tài liệu tham khảo).

- Học sinh xem phim đèn chiếu, phim xinê

- Học sinh xem băng hình hoặc tivi trong giờ học Tham quan sản xuất hóa học hoặc triển lãm về khoa học hóa học và công nghiệp hóa học

- Hội thảo và báo cáo khoa học

Khi sử dụng thí nghiệm hóa học và các phương tiện trực quan, cần lưu ý học sinh thực hiện các biện pháp làm tăng hoạt động của học sinh trong giờ học như học sinh tự quan sát, nhận xét các hiện tượng thí nghiệm, tự lắp ráp dụng cụ và tự làm thí nghiệm trên lớp

b Tăng thời gian dành cho học sinh hoạt động trong giờ học.

Bằng các cách sau:

- Giảm thuyết trình của giáo viên xuống dưới 50% thời gian của một tiết học Tăng đàm thoại (vấn đáp) giữa thầy và trò, trong đó ưu tiên sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện (đàm thoại ơrixtic) Cho học sinh được thảo luận, tranh luận

- Khi học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp, cần yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi tổng hợp đòi hỏi học sinh phải so sánh, khái quát hóa, suy luận nhằm khắc sâu kiến thức Cần nêu những câu hỏi yêu cầu học sinh phải gia công thêm mà không chỉ chép (đọc) nguyên xi từ sách giáo khoa

c Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực của học sinh.

Thực hiện biện pháp này theo các cách sau:

- Tăng cường sử dụng các bài tập (câu hỏi) và bài toán đòi hỏi học sinh phải suy luận sáng tạo, trong đó có những bài tập dùng hình vẽ

Những bài tập và bài toán tổng hợp đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức ở nhiều phần khác nhau của chương trình thuộc một lớp hoặc nhiều lớp khác nhau của môn hoá học, kiến thức của nhiều môn học cũng như những bài toán gồm nhiều dạng toán cơ bản đã được biến đổi và phức tạp hoá cần được sử dụng

- Thường xuyên sử dụng tổ hợp PPDH phức hợp - dạy học nêu vấn đề và dạy cho học sinh giải quyết các vấn đề học tập (các bài toán nhận thức) từ thấp đến cao

Trang 31

- Từng bước đổi mới công tác kiểm tra và đánh giá nhằm đánh giá cao kỹ năng thực hành cũng như kỹ năng biết giải quyết những vấn đề của thực tiễn.

d Điều kiện đảm bảo cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học.

- Nâng cao tiềm lực chuyên môn cho người giáo viên hóa học, trong đó có kiến thức hóa học, kỹ năng thí nghiệm hóa học và kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học

- Nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, trong đó có kỹ thuật dạy học, đặc biệt là năng lực sử dụng các phương pháp dạy học mới, giáo viên phải biết xác định đúng và nắm vững yêu cầu trọng tâm từng giờ học, giảm bớt thì giờ dành cho những phần dễ và tương đối đơn giản để có đủ thời gian tập trung cho những phần trọng tâm của bài, ưu tiên dành thì giờ cho việc sử dụng thí nghiệm hoá học và luyện tập, làm bài tập ở những phần trọng tâm

- Cung cấp đầy đủ hơn cho các trường phổ thông các dụng cụ, hóa chất, các phương tiện trực quan và các phương tiện kỹ thuật dạy học

- Giảm số học sinh trong mỗi lớp học ở trường phổ thông xuống dưới 35 em trong một lớp

- Có chính sách thỏa đáng đối với giáo viên và giáo viên dạy giỏi

- Tiến hành nghiên cứu phối hợp sự đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học với chiến lược đối mới PPDH một cách toàn diện và có hệ thống, trước mắt

là hoàn thiện chất lượng các PPDH hiện có, đa dạng hóa phù hợp với các cấp học, các loại hình trường và sáng tạo ra những PPDH mới

Qua hai mô hình đổi mới PPDH đáng chú ý ở Việt Nam hiện nay Tinh thần cơ bản của các mô hình nói trên (dạy học lấy học sinh làm trung tâm và hoạt động hóa người học) là:

Quá trình dạy học phải đặt trọng tâm ở con người, khuyến khích kỹ năng độc lập nghiên cứu, tự lực trong học tập, coi trọng lợi ích và động cơ người học xuất phát từ vị trí của họ Vì vậy, trong quá trình dạy học hóa học phải ưu tiên lựa chọn những PPDH

Trang 32

hiện đại Đó là những PPDH nhằm tích cực hóa nhận thức, hình thành phương pháp tư duy khái quát hiện đại trong bộ môn Hóa học cho học sinh

1.3 Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic [7],[20],[21],[27],[29].

1.3.1 Khái niệm dạy học nêu vấn đề - ơrixtic.

Dạy học nêu vấn đề không phải là một phương pháp dạy học cụ thể đơn nhất nó là một tiếp cận lý luận dạy học phát triển, nó là tổ hợp những phương pháp dạy học phức hợp tức là tổ hợp nhiều phương pháp liên kết chặt chẽ với nhau và tương tác với nhau trong đó phương pháp (phương tiện) đóng vai trò chủ đạo nhằm tạo ra hiệu quả tích hợp một cách hiệu ứng cộng hưởng phi phương pháp

Ở phương pháp dạy học nêu vấn đề thì phương pháp xây dựng bài toán ơrixtic (tạo ra tình huống có vấn đề) giữ vai trò chủ đạo liên kết các phương pháp dạy học khác như đàm thoại, thuyết trình tạo thành một hệ thống toàn vẹn

1.3.2 Cơ sở lý luận của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic.

1.3.2.1 Cơ sở triết học.

Theo triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và xã hội vốn có mâu thuẫn bên trong Việc phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn đó là động lực thúc đẩy quá trình vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng Do đó, mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn cũng là nguồn gốc của sự vận động và phát triển của quá trình nhận thức

Trong dạy học nêu vấn đề, nhiệm vụ trung tâm là tạo ra tình huống có vấn đề (mâu thuẫn), phát triển vấn đề và giải quyết vấn đề Vấn đề đặt ra cho học sinh trong quá trình học tập chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu của nhiệm vụ nhận thức với kiến thức và kinh nghiệm sẵn có

"Như vậy, cơ sở triết học của dạy học nêu vấn đề là: chuyển phương pháp biện chứng để giải quyết mâu thuẫn nói chung thành phương pháp sư phạm và sau đó, giải quyết mâu thuẫn trong quá trình tiếp thu kiến thức mới"

1.3.2.2 Cơ sở tâm lý học và giáo dục.

Theo các nhà tâm lý học thì "các quy luật của tư duy và các quy luật của quá trình tiếp thu kiến thức ở mức độ đáng kể là trùng nhau Do đó, những quy luật tâm lý của tư

Trang 33

duy cũng quyết định quá trình tiếp thu kiến thức" Mặt khác, cũng theo các nhà tâm lý học, "con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần khắc phục, một tình huống có vấn đề".Dạy học nêu vấn đề đã đặt học sinh vào vị trí nhà nghiên cứu Chính sự lôi cuốn của "vấn đề học tập nghiên cứu" đã làm hoạt động hoá nhận thức của học sinh, rèn luyện ý chí và khả năng hoạt động cho học sinh "Như vậy, dạy học nêu vấn đề đã đáp ứng được nguyên tắc tự giác và tích cực trong dạy học và đồng thời cũng biểu hiện sự thống nhất giữa giáo dục và giáo dưỡng (tức là sự kết hợp giữa truyền thụ kiến thức và rèn luyện phẩm chất đạo đức cho học sinh)".

1.3.3 Đặc điểm và bản chất của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic.

1.3.3.1 Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic là một tiếp cận lý luận dạy học đang phát triển.

Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic có sự kế thừa và hoàn thiện chất lượng của những phương pháp dạy học thường được ca ngợi trước đây như phương pháp gợi mở, Socrat, nêu vấn đề, tìm tòi nghiên cứu Cái mới của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic ở chỗ là nó không phải là một phương pháp dạy học cụ thể đơn nhất mà nó là một tổ hợp PPDH phức hợp bao gồm nhiều PPDH liên kết với nhau chặt chẽ và tương tác với nhau trong

đó phương pháp xây dựng bài toán ơrixtic (tình huống có vấn đề) giữ vai trò trung tâm chủ đạo, gắn các PPDH khác trong tập hợp (như thuyết trình, thí nghiệm, nghiên cứu, ) thành một hệ thống toàn vẹn

Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic không chỉ hạn chế ở phạm trù PPDH mà việc áp dụng tiếp cận này đòi hỏi phải cải tạo cả nội dung và cách tổ chức dạy và học trong mối liên hệ thống nhất Đối với PPDH, dạy học nêu vấn đề - ơrixtic có khả năng xâm nhập vào hầu hết các PPDH khác và làm cho tính chất của chúng trở nên tích cực hơn

Ví dụ: phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, Nếu quán triệt tiếp cận này thì sẽ trở thành thuyết trình ơrixtic, đàm thoại ơrixtic,

1.3.3.2 Bản chất của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic.

Để hiểu được bản chất của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic chúng ta nghiên cứu 3 đặc trưng cơ bản của nó sau đây:

Trang 34

- Giáo viên đặt ra trước học sinh một loạt những bài toán nhận thức có chứa đựng

mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phảỉ tìm (vấn đề khoa học) Đây không phải là những vấn đề rời rạc, mà là một hệ thống có quan hệ lôgic với nhau và được cấu trúc lại một cách sư phạm gọi là bài toán nêu vấn đề ơrixtic

- Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán ơrixtic như mâu thuẫn của nội tâm

mình và được đặt vào tình huống có vấn đề, tức là trạng thái có nhu cầu bên trong muốn giải quyết bằng được bài toán đó

- Trong quá trình giải và bằng cách giải bài toán nhận thức (giải quyết vấn đề) mà

học sinh lĩnh hội một cách tự giác và tích cực cả kiến thức, cả cách giải và do đó có được niềm vui sướng của sự phát minh sáng tạo (eureka)

Như vậy, khác với dạy học kiểu thông báo cổ truyền, học sinh chỉ nhằm mục đích

là giải được bài toán và ghi nhớ kiến thức đã học được Trong dạy học nêu vấn đề ơrixtic thì dạy học bằng bài toán nhận thức (vấn đề nhận thức) là mục đích quan trọng hơn cả Chính bài toán nhận thức đã gây ra nhu cầu và động cơ nhận thức, thúc đẩy sự tìm tòi, sáng tạo của học sinh

1.3.3.3 Ưu điểm của dạy học nêu vấn đề - ơrixtic.

- Bảo đảm vị thế tích cực, chủ động của người học: Người học được đặt vào vị trí chủ động nhất: tìm tòi, phát hiện và độc lập giải quyết (thông qua các nghiên cứu lý luận và thực tiễn do chính mình thực hiện) các vấn đề lý luận và thực tiễn của từng bộ môn, từng lĩnh vực tri thức

- Hình thành phương pháp làm việc khoa học: Ở đây người học được tập luyện tối

đa phương pháp làm việc theo đúng quy trình nghiên cứu khoa học Điều này tạo cơ sở vững chắc cho việc hình thành ở người học các phẩm chất và năng lực, kỹ năng và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học - yêu cầu bắt buộc đối với người trí thức thời đại kinh tế tri thức và xã hội học tập

- Phát triển hứng thú nhận thức, thỏa mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá của người học Trong hướng dạy học này người học không chỉ tự mình tìm cách giải quyết các vấn đề đặt ra mà còn tự phát hiện ra các vấn đề mới cần giải quyết Điều này thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của con người - nhu cầu tìm tòi khám phá Những cảm xúc có được

Trang 35

thông qua sự tìm tòi khám phá, cảm xúc thành công và cảm xúc về sự hoàn thành trọn vẹn một công việc là những củng cố tích cực cho việc hình thành và phát triển nhu cầu

và hứng thú nhận thức của người học

- Bảo đảm tốt nhất yêu cầu cá biệt hóa dạy học: Phù hợp với tốc độ, nhịp độ học tập của từng người học Mỗi người học đặt ra và giải quyết các vấn đề trong khả năng của mình, với tốc độ và nhịp độ phù hợp nhất với mình Điều này cho phép hiện thực hóa tối đa yêu cầu cá biệt hóa dạy học, đồng thời cũng bảo đảm một sự đánh giá khách quan nhất những tiến bộ của người học

- Phù hợp đặc điểm tâm lý - nhận thức, nhân cách của người học trưởng thành G.A.Kelly, nhà tâm lý học xuất sắc thế kỷ XX, nhìn nhận mỗi con người là một nhà khoa học, nó cố gắng hiểu, lý giải, dự đoán, kiểm soát thế giới các sự kiện để có thể tác động qua lại có hiệu quả với chúng Cách thức nhận thức thế giới của con người giống hệt như cách thức nhận thức của nhà khoa học Người trưởng thành lại có xu hướng học thông qua giải quyết các vấn đề (Knowles), họ chủ động xây dựng kiến thức cho bản thân bằng cách tạo các biểu tượng của chính họ về những điều cần học, lựa chọn thông tin mà họ nhận thấy là thích hợp và diễn giải thông tin trên cơ sở kiến thức và nhu cầu hiện có của họ (Prawat & Floden, 1994) Chính những lý do này cho phép khẳng định: về mặt tâm lý học, dạy học theo phương pháp nêu vấn đề ơrixtic là phù hợp hơn cả đối với người học trưởng thành

- Gắn đào tạo với việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn: Bằng việc phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong từng môn học, từng lĩnh vực tri thức, quá trình học tập, đào tạo được gắn một cách hữu cơ vào cuộc sống xã hội, vào đời sống khoa học Nói một cách khác, bằng cách này nguyên lý “học đi đối với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn” được thực hiện triệt để hơn cả Đồng thời, người học thấy được giá trị thực tiễn của các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo học được, điều này tạo ra động cơ tích cực cho việc học

- Bảo đảm xu hướng dân chủ hóa nhà trường: Đây là xu thế chung của giáo dục thế giới hiện đại Với việc dạy học theo phương pháp nêu vấn đề - ơrixtic, người học sẽ

có cơ hội nhìn vấn đề từ nhiều góc độ, nhiều quan điểm nghiên cứu, tránh bị áp đặt một

Trang 36

hướng nhìn duy nhất, có cơ hội đưa ra giải pháp mang tính sáng tạo và dấu ấn cá nhân Đây là tiền đề quan trọng cho việc dân chủ hóa nhà trường và giáo dục.

- Phù hợp với đặc điểm người dạy học: Người dạy học là giáo viên - nhà nghiên cứu Dạy học theo phương pháp nêu vấn đề - ơrixtic sẽ là “tự nhiên” đối với họ, hoạt động dạy học và nghiên cứu khoa học được hòa quyện với nhau theo cùng một lôgic Những kinh nghiệm nghiên cứu khoa học được áp dụng tối đa cho đào tạo và điều này bảo đảm một sự thành công gần như chắc chắn đối với hầu hết mọi nhà giáo Nhà khoa học và nhà giáo thống nhất với nhau

- Phù hợp với điều kiện không gian và thời gian của việc đào tạo trong xã hội hiện đại Mạng thông tin toàn cầu được khai thác tối đa bởi học viên để phục vụ việc tìm kiếm và giải quyết các vấn đề bởi lẽ người học phải tự đặt ra và giải quyết các vấn đề

mà không thể trông chờ ở sự cung cấp của giáo viên Dạy học theo phương pháp nêu vấn đề - ơrixtic cũng cho phép sử dụng tối ưu quỹ thời gian của người học Điều này phù hợp với xu thế chung của các chương trình giáo dục trên thế giới - giảm thời gian đào tạo trên lớp

Nói tóm lại, dạy học theo phương pháp nêu vấn đề - ơrixtic bảo đảm tốt nhất mục tiêu giáo dục trong khung cảnh thời đại mới như yêu cầu của Luật giáo dục: “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”, và yêu cầu của Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 - 2010: “Dạy người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, tăng cường tính chủ động, tính

tự chủ của sinh viên trong học tập” Sự định hướng vào phương pháp dạy học này hoàn toàn phù hợp với định hướng của Nghị quyết 02-NQ/HNTW BCH TW Đảng khóa VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”

1.3.4 Bài toán nêu vấn đề - ơrixic và cấu trúc của nó.

Trang 37

Bài toán nêu vấn đề - ơrixtic là công cụ trung tâm và chủ đạo của dạy học nêu vấn

đề ơrixtic Vì vậy, cái quyết định đối với hiệu quả của dạy học nêu vấn đề là cấu tạo thành công bài toán nêu vấn đề - ơrixtic Đây là bài toán tìm tòi chứ không phải là bài toán tái hiện và có các đặc điểm sau:

- Bài toán phải xuất phát từ cái quen thuộc, cái đã biết và vừa sức đối với người

học

- Bài toán nêu vấn đề không có đáp án số đã chuẩn bị sẵn, tức là phải chứa đựng

một chướng ngại nhận thức mà người giải phải tìm tòi phát hiện chứ không thể dùng sự tái hiện hay sự thực hiện thao tác đơn thuần để tìm ra lời giải

- Mâu thuẫn nhận thức trong bài toán ơrixtic phải được cấu trúc một cách sư phạm để thực hiện đồng thời cả hai tính chất trái ngược nhau (vừa sức, xuất phát từ cái quen biết và không có lời giải sẵn) Cấu trúc đặc biệt này còn có tác dụng kích thích học sinh tìm tòi phát hiện (đặt vào tình huống có vấn đề)

1.3.5 Tình huống có vấn đề.

Nếu như bài toán ơrixtic là công cụ trung tâm và chủ đạo của dạy học nêu vấn đề ơrixtic thì tình huống có vấn đề lại là cốt lõi của bài toán ơrixtic Vì chính nội dung kiến thức và bản chất của tình huống có vấn đề là cơ sở để xây dựng hợp lý bài toán nêu vấn đề Và do vậy, nên tác dụng trực tiếp của bài toán ơrixtic đến người học chính

Sau đây chúng ta nêu một số định nghĩa điển hình

a Theo tâm lý học: Bài toán ơrixtic có chứa đựng mâu thuẫn nhận thức Mâu

thuẫn này phải có tác dụng sao cho chủ thể tiếp nhận nó không phải như một mâu

Trang 38

thuẫn bên ngoài, mà như một nhu cầu bên trong Lúc đó chủ thể ở trạng thái tâm lý độc đáo gọi là tình huống có vấn đề.

Đặc trưng cơ bản của "tình huống có vấn đề" theo Ôkon là những lúng túng về lý thuyết và thực hành để giải quyết vấn đề, nó xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của chính người học "Tình huống có vấn đề là một hiện tượng chủ quan, là một trạng thái tâm lý của chủ thể, trạng thái lúng túng xuất hiện trong quá trình nhận thức như một mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong hoạt động con người"

Với mục đích nhấn mạnh vai trò của tình huống có vấn đề đối với hoạt động tư duy sáng tạo, M I Macmutop định nghĩa:

"Tình huống có vấn đề đó là trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi họ chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa có thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc Tình huống này đòi hỏi con người tìm cách giải thích hay hành động mới Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo có hiệu quả Nó quy định sự khởi đầu của tư duy hành động, tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu và giải quyết vấn đề

b Theo thuyết thông tin: Tình huống có vấn đề là trạng thái của chủ thể có một

độ bất định nào đó trước việc chọn lựa một giải pháp cho tình huống trong nhiều khả năng có thể có, mà chưa biết cái nào trong số đó sẽ xuất hiện

c Theo lý luận dạy học:

"Vấn đề học tập" là những tình huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo đã biết với cái chưa biết

và mâu thuẫn này đòi hỏi được giải quyết

Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức được học sinh chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới

Như vậy, tình huống có vấn đề chỉ xuất hiện và tồn tại trong ý thức học sinh, chừng nào đang diễn ra sự chuyển hóa mâu thuẫn khách quan bên ngoài của bài toán ơrixtic thành mâu thuẫn chủ quan bên trong của học sinh

1.3.5.2 Cơ chế phát sinh của tình huống có vấn đề trong dạy học nêu vấn đề.

Trang 39

Bài toán nêu vấn đề - ơrixtic chỉ trở thành đối tượng của hoạt động nhận thức chừng nào nó làm xuất hiện trong ý thức học sinh một mâu thuẫn nhận thức tự giác, một nhu cầu bên trong muốn giải quyết mâu thuẫn đó Tức là khi mâu thuẫn khách quan của bài toán đã được chuyển vào trong ý thức của học sinh thành cái chủ quan Đây là momen quyết định đối với dạy học nêu vấn đề, tức là đã tạo ra tình huống có vấn đề và lúc này học sinh mới bắt đầu học Đúng như X.L.Rubinstein đã viết: "Người

ta bắt đầu tư duy khi có nhu cầu hiểu biết về một cái gì Tư duy thường xuất phát từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ một sự ngạc nhiên hay một điều trăn trở"

Như vậy tình huống có vấn đề chỉ xuất hiện và tồn tại trong ý thức học sinh chừng nào đang diễn ra sự chuyển hóa mâu thuẫn khách quan bên ngoài của bài toán ơrixtic thành mâu thuẫn chủ quan bên trong của học sinh Trong quá trình này, học sinh là chủ thể và bài toán là đối tượng của hoạt động nhận thức, chúng liên hệ, tương tác và thống nhất với nhau, sinh thành ra nhau

1.3.5.3 Các đặc điểm cơ bản của tình huống có vấn đề.

Tổng hợp tất cả các định nghĩa về tình huống có vấn đề và cơ chế phát sinh ra nó

đã nêu ở trên, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm (yếu tố) cơ bản của tình huống có vấn đề như sau:

a Có mâu thuẫn nhận thức: Có tồn tại một vấn đề mà trong đó bộc lộ mâu thuẫn

giữa cái đã biết và cái phải tìm, chủ thể phải ý thức được một khó khăn trong tư duy hoặc hành động mà vốn hiểu biết sẵn có chưa đủ để vượt qua Điều chưa biết đó sẽ được khám phá trong tình huống có vấn đề

b Gây ra nhu cầu nhận thức:

Khi mâu thuẫn khách quan trong bài toán nêu vấn đề chuyển hóa thành mâu thuẫn chủ quan bên trong của chủ thể gây ra nhu cầu nhận thức cho chủ thể Thế năng tâm lý của nhu cầu nhận thức là động lực khởi động hoạt động nhận thức của học sinh, nó sẽ góp phần làm cho học sinh đầy hưng phấn tìm tòi phát hiện, sáng tạo giải quyết nhiệm

vụ đặt ra Nếu bài toán nêu vấn đề chưa được giải quyết, thì chủ thể vẫn ở trạng thái

"có vấn đề"

c Phù hợp với khả năng của học sinh để gây niềm tin:

Trang 40

Một vấn đề đưa ra tuy có hấp dẫn nhưng nếu cao quá so với khả năng vốn có của học sinh thì không gây ra cho họ nhu cầu nhận thức nào cả Tức là chủ thể sẽ không đi vào trạng thái "có vấn đề" Điều này nếu diễn ra nhiều lần thì sẽ dẫn đến học sinh mất hứng thú học tập, mất niềm tin vào khả năng nhận thức của bản thân Vì vậy, tình huống có vấn đề nên bắt đầu từ cái quen thuộc, bình thường (từ vốn kiến thức cũ của học sinh, từ những hiện tượng thực tế, ) mà đi đến cái bất thường (kiến thức mới) một cách bất ngờ nhưng logic "Cần làm cho học sinh thấy rõ, trong họ chưa có ngay lời giải, nhưng đã có một số kiến thức, kỹ năng liên quan đến vấn đề đặt ra và nếu họ tích cực suy nghĩ thì có nhiều hy vọng giải quyết được vấn đề đó".

1.3.5.4 Những cách thức cơ bản xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học hóa học.

Hóa học là một khoa học thực nghiệm có lập luận, quá trình hình thành và phát triển của nó dựa trên những thành tựu của biết bao thế hệ các nhà hóa học Cứ mỗi phát hiện của hóa học lại là đáp số cho một bài toán ơrixtic Vì vậy, chương trình hóa học ở trường PTTH chứa đựng vô vàn những tư liệu quý giá để chúng ta chuyển hóa thành những bài toán nêu vấn đề - ơrixtic và áp dụng dạy học nêu vấn đề - ơrixtic

Theo nguyên tắc chung này, có thể nêu ra 3 cách tạo ra các tình huống có vấn đề,

đó cũng là 3 kiểu tình huống có vấn đề cơ bản trong dạy học hóa học

a Cách thứ nhất: (Tình huống nghịch lý - bế tắc).

Tình huống có vấn đề được tạo ra khi kiến thức học sinh đã có không phù hợp (không đáp ứng được) với đòi hỏi của nhiệm vụ học tập hoặc với thực nghiệm Vấn đề đưa ra mới nhìn thì thấy dường như vô lý, trái với những nguyên lý đã công nhận chung Theo nguyên tắc này sẽ tạo ra tình huống nghịch lý và bế tắc Có thể coi đây là một dạng tình huống có vấn đề với 2 đặc điểm hoặc tách ra 2 kiểu tình huống nhỏ: nghịch lý và bế tắc:

- Tình huống nghịch lý: Giáo viên đưa ra vấn đề mà mới nhìn thấy dường như rất

vô lý, trái ngược với những nguyên lý chung đã được công nhận

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alecxeep Onhisuc V - Crugliac M - Zabottin - Vecxle X (2002), Phát triển tư duy học sinh. NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy học sinh
Tác giả: Alecxeep Onhisuc V - Crugliac M - Zabottin - Vecxle X
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2002
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ giáo dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
3. Nguyễn Cương (1976), Cách tạo tình huống có vấn đề trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tạo tình huống có vấn đề trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Cương
Năm: 1976
4. Nguyễn Cương (1999), Phương pháp dạy học và thí nghiệm Hóa học. NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học và thí nghiệm Hóa học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1999
5. Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Mạnh Dung (2000), Phương pháp dạy học hóa học - Sách Cao đẳng Sư phạm. NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học - Sách Cao đẳng Sư phạm
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Mạnh Dung
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2000
6. Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Đức Dũng, Lê Văn Năm, Hoàng Văn Côi, Trịnh Văn Biểu, Đào Vân Hạnh (2007), Thực trạng về phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Thị Sửu, Nguyễn Đức Dũng, Lê Văn Năm, Hoàng Văn Côi, Trịnh Văn Biểu, Đào Vân Hạnh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
7. Nguyễn Cương (2008), Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học (những vấn đề cơ bản). NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học (những vấn đề cơ bản)
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Dueva (1998), Phát triển học sinh trong giảng dạy hóa học. NXB Giáo dục 9. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học và kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển học sinh trong giảng dạy hóa học". NXB Giáo dục 9. Vũ Cao Đàm (2005), "Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Dueva (1998), Phát triển học sinh trong giảng dạy hóa học. NXB Giáo dục 9. Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục 9. Vũ Cao Đàm (2005)
Năm: 2005
10. Đỗ Ngọc Đạt (1997), Tiếp cận hiện đại trong hoạt động dạy học. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại trong hoạt động dạy học
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
11. Cao Cự Giác, Nguyễn Xuân Trường (2005), Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông hiện nay. Tạp chí Giáo dục (128), tr.34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông hiện nay
Tác giả: Cao Cự Giác, Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2005
12. Nguyễn Kế Hào (1994), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Năm: 1994
14. Trần Bá Hoành (1994), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1994
15. Nguyễn Thị Bích Hiền (2000), Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy chương trình hóa học lớp 10. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng thí nghiệm nêu vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy chương trình hóa học lớp 10
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hiền
Năm: 2000
16. Nguyễn Sinh Huy (1995), Tiếp cận đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy
Năm: 1995
17. Trịnh Thị Huyên (2004). Sử dụng dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy các khái niệm, định luật và học thuyết hóa học cơ bản trong chương trình hóa học phổ thông. Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng dạy học nêu vấn đề để nâng cao hiệu quả giảng dạy các khái niệm, định luật và học thuyết hóa học cơ bản trong chương trình hóa học phổ thông
Tác giả: Trịnh Thị Huyên
Năm: 2004
18. Đặng Thành Hưng (1994), Quan niệm về xu thế phát triển phương pháp dạy học trên thế giới. Viện Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về xu thế phát triển phương pháp dạy học trên thế giới
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 1994
19. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Xây dựng và giải quyết các tình huống có vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy hóa học chương "Sự điện li" (Hoá học 11).Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự điện li
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Năm: 1998
22. Lê Văn Năm (1997), Tạo tình huống có vấn đề bằng các thí nghiệm biểu đạt trong giảng dạy hóa học. Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo tình huống có vấn đề bằng các thí nghiệm biểu đạt trong giảng dạy hóa học
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 1997
23. Lê Văn Năm (1998), Hoạt động hóa nhận thức học sinh qua việc truyền thụ khái niệm phản ứng ion bằng dạy học nêu vấn đề. Thông báo Khoa học - Đại học Vinh, số 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động hóa nhận thức học sinh qua việc truyền thụ khái niệm phản ứng ion bằng dạy học nêu vấn đề
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 1998
41. Vũ Hồng Tiến. Một số phương pháp dạy tích cực. Website http://hnue.edu.vn/index.php?showpost=533 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tình hình chung và học lực của các lớp         Đặc điểm - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.1. Tình hình chung và học lực của các lớp Đặc điểm (Trang 73)
Bảng 3.5. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.5. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1 (Trang 79)
Bảng 3.8. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 2 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.8. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 2 (Trang 81)
Bảng 3.11. Bảng điểm bài kiểm tra lần 3 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.11. Bảng điểm bài kiểm tra lần 3 (Trang 84)
Bảng 3.13. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 3 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.13. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 3 (Trang 85)
Bảng 3.16. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 4 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.16. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 4 (Trang 87)
Bảng 3.17. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 4 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.17. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 4 (Trang 88)
Bảng 3.18. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 4 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.18. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 4 (Trang 89)
Bảng 3.21. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 5 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.21. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 5 (Trang 91)
Bảng 3.22. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 5 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.22. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 5 (Trang 92)
Bảng 3.24. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 6 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.24. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra lần 6 (Trang 93)
Bảng 3.25. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 6 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.25. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 6 (Trang 94)
Bảng 3.26. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 6 - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.26. Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra lần 6 (Trang 95)
Bảng 3.27. Tổng hợp kết quả của 6 bài kiểm tra - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.27. Tổng hợp kết quả của 6 bài kiểm tra (Trang 96)
Bảng 3.29. Tổng hợp kết quả học tập của 6 bài kiểm tra - Sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề ơrixtic để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn hóa học 12   trung học phổ thông  luận
Bảng 3.29. Tổng hợp kết quả học tập của 6 bài kiểm tra (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w