1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,

77 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón đạm và lân khác nhau đến năng suất cá thể của dòng vừng NV10 Bảng 3.16 a.. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ

- -NGUYỄN VĂN BÌNH

SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG VỪNG

KHÁC NHAU TẠI XÃ NGHI PHONG, NGHI LỘC,

NGHỆ AN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC

Vinh - 12.2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ

- -SỰ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG VỪNG

KHÁC NHAU TẠI XÃ NGHI PHONG, NGHI LỘC,

Trang 3

VINH - 12.2010

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng trong bất kỳ luận văn nào

Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Vinh, 10 tháng 12 năm 2010.

Tác giả

Nguyễn Văn Bình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tìnhcủa thầy Th.S Nguyễn Tài Toàn và các cán bộ khoa Nông Lâm Ngư, TrườngĐại học Vinh Tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Xin chân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Tài Toàn và KS Cao Thị Thu Dungngười đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Xinchân thành cảm ơn các thành viên của hội đồng khoa học, tập thể cán bộ khoaNông Lâm Ngư đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.Xin chân thành cảm ơn thầy Đinh Bạt Dũng đã hướng dẫn, giúp đỡ em vềmáy móc, kỹ thuật và dụng cụ trong quá trình nghiên cứu

Xin bày tỏ lòng cảm ơn tới anh Nguyễn Văn Lan, anh Nguyễn Văn Trungtrong tổ bảo vệ của khoa đã trông coi toàn bộ khu thí nghiệm trong suốt quá trìnhtôi làm đề tài

Qua đây xin được chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, chia

sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2010

Tác giả

Nguyễn Văn Bình

Trang 5

1.2 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu cây vừng

1.3 Nguồn gốc và tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước

1.3.1 Nguồn gốc

1.3.2 Tình hình sản xuất

1.4 Tình hình nghiên cứu cây vừng trên thế giới và trong nước

1.4.1 Tình hình nghiên cứu vừng trên thế giới

1.4.2 Tình hình nghiên cứu cây vừng tại Việt Nam

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2 Vật liệu nghiên cứu

2.3 Dụng cụ thí nghiệm

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung nghiên cứu

Trang 6

2.5.4 Kỹ thuật gieo

2.5.5 Phòng trừ sâu bệnh

2.6 Chỉ tiêu theo dõi

2.6.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều cao cây cuối cùng

2.8 Điều kiện nghiên cứu thí nghiệm

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số đặc điểm hình thái của giống

3.2 Sự sinh trưởng của một số tính trạng hình thái theo thời gian của dòngvừng NV10

3.2.1 Chiều cao cây

3.4.1 Số hoa trên thân chính

3.4.2 Số quả trên thân chính

191919191919202020212323

282830333537

404042434647

494951

Trang 8

LânKaliNăng suấtNăng suất cá thểNăng suất lý thuyếtDuncan's Multiple Range Test(So sánh đa biên độ DUNCAN)

Sự sai khác ở mức ý nghĩa 0,05Không sai khác ở mức ý nghĩa 0,05Analysis of Variance

(Phân tích phương sai)Tổng bình phương tổng sốTrung bình bình phương tổng sốGiá trị Fthực nghiệm (Giá trị Fisher thực nghiệm)Giá trị F lý thuyết (Giá trị Fisher bảng)

Trang 9

Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây theo thời gian của các công

thức thí nghiệm trong vụ Xuân 2010

Bảng 3.3 Động thái tăng trưởng số lá theo thời gian của các công thức thí

nghiệm trong vụ Xuân 2010

Bảng 3.4 Động thái tăng trưởng số đốt của các công thức thí nghiệm theo

thời gian trong vụ Xuân 2010

Bảng 3.5 Động thái ra hoa của dòng vừng NV10 ở các công thức thí

nghiệm trong vụ Xuân 2010

Bảng 3.6 Sự tăng trưởng số quả trên thân chính của dòng vừng NV10 ở các

công thức thí nghiệm trong vụ Xuân 2010

Bảng 3.7 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến chiều cao của dòng vừng NV10

Bảng 3.7 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều cao cây cuối

cùng của dòng vừng VN10

Bảng 3.8 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến số đốt của dòng vừng NV10

Bảng 3.8 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến số đốt cuối cùng của

dòng vừng NV10

Bảng 3.9 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến chiều dài quả của dòng vừng NV10

Bảng 3.9 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều dài quả của

dòng vừng NV10

Bảng 3.10 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến chiều rộng quả của dòng vừng NV10

Bảng 3.10 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều rộng quả của

2126283133363840414243444545

Trang 10

dòng vừng NV10

Bảng 3.11 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến độ dày quả của dòng vừng NV10

Bảng 3.11 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến độ dày quả của

dòng vừng NV10

Bảng 3.12 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến số hoa chính trên thân của dòng vừng NV10

Bảng 3.12 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến số hoa trên thân

chính của dòng vừng NV10

Bảng 3.13 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến số quả trên thân chính của dòng vừng NV10

Bảng 3.13 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến số quả cuối cùng

của dòng vừng NV10

Bảng 3.14 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến số hạt của quả của dòng vừng NV10

Bảng 3.14 b Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và

phân lân đến khối lương 1000 hạt của dòng vừng NV10

Bảng 3.15 a Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến khối lượng 1000 hạt

của dòng vừng NV10

Bảng 3.15 b Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón

đạm và lân khác nhau đến năng suất cá thể của dòng vừng NV10

Bảng 3.16 a Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến năng suất cá thể của

dòng vừng NV10

Bảng 3.16 b Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón

đạm và lân khác nhau đến năng suất lý thuyết của dòng vừng NV10

Bảng 3.17 a Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của các mức bón

đạm và lân khác nhau đến năng suất lý thuyết của dòng vừng NV10

Bảng 3.17 b Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến năng suất lý thuyết

của dòng vừng NV10

464748495051525354555657

585960

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 11

Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm tại Trại thực nghiệm Nông nghiệp

Hình 3.1 Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng mới NV10

Hình 3.2 Sự tăng trương chiều cao cây của dòng vừng NV10

Hình 3.3 Sự tăng trưởng số lá theo thời gian của dòng vừng NV10

Hình 3.4 Sự tăng trưởng số đốt theo thời gian của dòng vừng NV10

Hình 3.5 Động thái ra hoa theo thời gian của dòng vừng NV10

Hình 3.6 Sự tăng trưởng số quả trên cây của dòng vừng NV10

Hình 3.7 Trung bình về chiều cao cây của mức bón đạm với các mức bón

lân khác nhau của dòng vừng NV10

Hình 3.8 Số đốt/thân của các mức bón đạm ở các mức bón lân khác nhau

Hình 3.14 Số hạt/quả của các mức bón đạm ở các mức bón lân khác nhau

Hình 3.15 Khối lượng 1000 hạt của các mức bón đạm ở các mức bón lân

5254565960

MỞ ĐẦU

Trang 12

1 Đặt vấn đề

Vừng, Sesamum indicum L., là một trong những cây lấy dầu quan trọng ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Nó được xem là “hoàng hậu” của cây có dầu thông qua ưu điểm tuyệt hảo của dầu từ hạt vừng (Falusi O.A và cs., 2001) [22] Vừng thuộc họ Pedaliacea và chi Sesamum (Hutchison J và Dalziel 1963) [25] Chi này

có 36 loài, trong đó 19 loài có nguồn gốc ở châu Phi (Weiss 1983; Uzo 1998) [30],

(Trích dẫn qua Akpan-Iwo G và cs., 2006) [19] và chỉ có Sesamum indicum L là

loại duy nhất được sử dụng trong trồng trọt Hàm lượng dầu bình quân trong hạyvừng đạt gần 50% và biến động từ 34,4 đến 59,8% (Ashri 1995) [17]

Dầu vừng tinh được xem là loại dầu ăn hảo hạng và ngày càng được sửdụng nhiều thay thế cho mỡ động vật bởi khi ăn dầu vừng tránh được bệnh xơcứng động mạch Ngoài ra, với đặc tính không bị ôxi hóa, có thể cất giữ được lâu

mà không bị ôi và với hương vị đặc thù nên vừng được sử dụng nhiều trongngành công nghiệp thực phẩm Hạt vừng không chỉ là nguồn cung cấp tuyệt vờicủa mangan và đồng, mà còn là nguồn canxi, magie, sắt, phốt pho, vitamin B1,

kẽm, và chất sơ cung cấp cho con người Cùng với những dưỡng chất quan trọngnày, hạt vừng còn chứa hai hợp chất hữu cơ độc nhất vô nhị: sesamin vàsesamolin Cả hai chất này đều thuộc nhóm chất sơ có ích đặc biệt được gọi làlignan, và có tác dụng làm giảm cholesterol trong người, chống cao huyết áp vàtăng nguồn cung cấp vitamin E ở động vật Sesamin cũng được biết là có khả

năng bảo vệ gan khỏi tác hại ôxi hóa (Kato và cs., 1998) [24] Vừng cũng là loại thực phẩm truyền thống của dân tộc ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới “Muối

vừng” xưa kia là một món ăn phổ biến trong bữa cơm của các gia đình nông thôn

và thị dân nghèo Ngày nay đã được mở rộng phạm vi sử dụng Nhiều người còncho đó như là một món ăn đặc sản

Tại vùng Bắc Trung bộ nói chung và Nghệ An nói riêng, cây vừng đượcxem là 1 trong 10 cây trồng trọng điểm cần được nghiên cứu và phát triển Câyvừng có một số đặc tính nông học quan trọng như phổ thích nghi rộng, chịu hạnrất tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, phát triển được trên đất nghèo dinh dưỡng,

Trang 13

không cần đầu tư nhiều Vì vậy cây vừng thường được trồng để xen vụ, đặc biệt

là ở những vùng đất bạc màu hoặc đất cát ven biển của các miền nhiệt đới Có lẽcũng chính vì vậy mà sự phân bố của cây vừng tại Nghệ An cũng tập trung ở cácdải đất cát và cát pha ven biển Diện tích trồng vừng trên toàn tỉnh Nghệ Ankhoảng 9.957 ha, phân bố chủ yếu ở các huyện đất cát ven biển như Diễn Châu(3.050 ha), Nghi Lộc (3.303 ha) và Quỳnh Lưu (586 ha)… Măc dù diện tíchtrồng vừng chỉ chiếm khoảng 7% tổng diện tích nhưng giá trị hàng năm vẫn

chiếm tới 15% giá trị của toàn ngành Nông nghiệp (Phan Bùi Tân và cs., 1996)

[11] Có 3 giống vừng được trồng phổ biến như: vừng vàng Diễn Châu, vừng đenHương Sơn (Trần Văn Lài, 1993 [15]) và vừng trắng V6 (Nguyễn Vi và cs.,

1996) [11] Trong đó, vừng vàng Diễn Châu và vừng đen Hương Sơn là 2 giốngđịa phương có nhiều đặc điểm rất tốt như thích nghi với điều thổ nhưỡng khí hậu

ở Nghệ An, đòi hỏi mức đầu tư thấp, chống chịu sâu bệnh, thích hợp với kiểucanh tác quảng canh,… Tuy nhiên, năng suất lại thấp, hàm lượng dầu không cao.Còn giống vừng V6 là giống vừng nhập nội có nguồn gốc Nhật Bản Đây là giống

có năng suất cao, tuy nhiên, thời gian qua quá trình canh tác đã bộc lộ một sốnhược điểm như mẫn cảm với một số loại sâu bệnh nhất là bệnh héo xanh vikhuẩn, quá trình chọn lọc nhằm giữ giống không đảm bảo do đó độ thuần khôngcao, sản lượng không ổn định

Các kết quả nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của việc trồng vừng so với một sốcây trồng khác trong điều kiện thâm canh cho thấy, ở Nghệ An năm 2002 nếu tínhgiá trị bán lạc 350 USD/tấn lạc vỏ, năng suất đạt 1.200kg/ha, lạc đủ tiêu chuẩn xuấtkhẩu Năng suất vừng 500 kg/ha, giá bán 380 USA/tạ thì giá trị thu nhập 1 ngàycông trồng vùng là 1,022 USA/ngày công, còn lạc là 0,736 USA/ngày công Nếuvừng được thâm canh tưới nước, đầu tư giống chống chịu sâu bệnh đưa năng suấtđến 800-1000 kg/ha thì lợi nhuận sẽ là 200 USA/ha, gấp đôi của lạc (Trần Văn Lài

và cs., 1993) [15]; cùng trên 1 diện tích, vừng cho thu hoạch cao gấp 3 lần trồng lúa

mùa cao cây (cây lúa lốc địa phương)

Tuy nhiên vừng là loại cây trồng có độ rủi ro cao, tập quán trồng vừng của

Trang 14

nông dân là ít đầu tư phân bón, thâm canh, chăm sóc dẫn đến sản lượng thấp Dosản lượng thấp và không ổn định vừng lại bị đẩy vào các vùng đất nghèo dinhdưỡng hơn nên sản lượng lại tiếp tục bị giảm sút, điều đó làm cho một số ngườiđánh giá thấp vị trí của cây vừng là loại cây trồng không có tính kinh tế.

Trong những năm gần đây, Nghệ An là một trong những vùng trồng vừngtrọng điểm của Việt Nam Vừng của Nghệ An được đánh giá là có chất lượng tốtnhất so với các địa phương khác trong nước, có hàm lượng dầu cao nhất và đã đượcngười Nhật Bản thu mua với giá cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó thìnghề trồng vừng của tỉnh nhà còn gặp một số hạn chế, khó khăn như: chưa có sự đadạng về giống, một số giống địa phương có năng suất thấp, không ổn định, dễ mắccác loại sâu bệnh, độ thuần chủng không đảm bảo, biểu hiện về sự thoái hoá Đứngtrước những khó khăn như vậy, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An đãtiến hành nhập nội một số giống vừng mới có nguồn gốc từ Nhật Bản như: vừngtrắng V6 và vừng đen V36 có thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao, phẩmchất tốt, thích hợp với chân đất ở Nghệ An và đã tiến hành đưa vào sản xuất đại tràqua nhiều vụ Tuy nhiên tập quán trồng vừng của nông dân ta còn ít đầu tư phânbón, thâm canh, chăm sóc do đó năng suất chưa cao, trong những năm trở lại đây đã

và đang bộc lộ một số đặc điểm xấu, năng suất thấp, chất lượng kém

Trong tình hình đó cần có những công trình nghiên cứu về cây vừng nhiều hơnnhằm tạo ra được các giống mới có tiềm năng suất cao, phẩm chất tốt, phù hợp vớiđiều kiện thổ nhưỡng khí hậu và đáp ứng với nhu cầu ngày càng cao của xã hội, nhằmnâng cao vai trò và giá trị của cây vừng Bên cạnh đó, những nghiên cứu về việc bónphân cho cây vừng nhằm nâng cao năng suất và phẩm chất của cây vừng hiện chưa

được quan tâm đúng mức Chính vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự

sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV 10 ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại Nghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An”, nhằm lựa chọn ra được mức

bón phân đạm và lân phù hợp nhất cho dòng vừng mới này để góp phần làm căn cứkhoa học cho bà con nông dân áp dụng vào chế độ thâm canh tạo năng suất cao

2 Mục đích và yêu cầu

Trang 15

2.1 Mục đích

- Trên cơ sở các mức phân bón khác nhau bón cho dòng vừng NV10 trong

vụ Xuân 2010 để tìm ra mức bón đạm và lân tối ưu nhất

- Góp phần hoàn thiện quy trình canh tác cho dòng vừng NV10 trong điềukiện sinh thái đất cát pha ven biển tại Nghệ An

2.2 Yêu cầu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón phân đạm và phân lân khác nhau đếncác chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10 trong vụ Xuân 2010 tạiNghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón phân đạm và phân lân khác nhau đếnmột số đặc điểm hình thái của dòng vừng NV10 (màu sắc thân, lá, hoa, quả và hạt)

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón phân đạm và phân lân khác nhau đếncác yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dòng vừng NV10

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Giống là yếu tố hàng đầu quyết định đến năng suất của cây trồng, đồng

thời cũng là yếu tố có tầm quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Giống có năngsuất cao, chất lượng tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất Về

số lượng các giống vừng ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng chưanhiều, cần nghiên cứu để bổ sung làm phong phú đa dang thêm về giống, manglại giá trị kinh tế cho cây vừng

- Phân bón là yếu tố không thể thiếu đối với bất kỳ một loại cây trồng nào, phân

bón giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao Nhưng để sử dụngphân bón một cách phù hợp, có hiệu quả thì không phải ai cũng làm được Sử dụngphân bón không hợp lý sẽ làm giảm năng suất cây trồng Cần nghiên cứu để đưa ra mứcbón hợp lý cho từng loại cây trồng nói chung và cây vừng nói riêng

- Những nghiên cứu theo hướng này sẽ giúp cho các nhà khoa học nôngnghiệp đưa ra được lượng phân bón hợp lý cho cây trồng Từ đó có thể phổ biếncho bà con nông dân mức bón phù hợp nhằm đạt hiệu quả kinh tế ở mức tối đa

Trang 16

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nông dân Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng đã có tập quán trồngcây vừng lâu đời nhưng việc trồng trọt chủ yếu theo hình thức quản canh, dựavào kinh nghiệm được tích lũy từ đời này qua đời khác mà chưa có những hướngdẫn theo quy trình chăm sóc như những cây trồng khác Từ năm 1994, vị trí câyvừng trong nền nông nghiệp tỉnh Nghệ An đã được chú trọng, đây là 1 trong 10cây trồng ưu tiên của tỉnh và Nghệ An được xem là vùng trồng vừng trọng điểmcủa Việt Nam Tại tỉnh Nghệ An, riêng vụ hè năm 2002 diện tích các loại vừngtrên toàn tỉnh là 9.957 ha, chủ yếu các vùng đất cát ven biển như Diễn Châu(3.050 ha), Nghi Lộc (3.303 ha), Quỳnh Lưu (586 ha),… với 3 giống vừng đượctrồng phổ biến vừng vàng, vừng đen và vừng V6 Trong đó, hai giống vừng vàng

và vừng đen là giống địa phương, còn V6 là giống nhập nội

Cùng với sự cộng tác của công ty Mitsui - Nhật Bản, Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn Nghệ An đã tiến hành nhập nội một số giống vừng mới có nguồngốc từ Trung Quốc và Nhật Bản Qua quá trình khảo nghiệm, các nhà chọn giống đãchọn ra được giống vừng V6 có thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao, phẩmchất tốt, thích hợp với chất đất đồng ruộng ở Nghệ An và đã tiến hành đưa vào sảnxuất đại trà qua nhiều vụ Tuy nhiên, tập quán trồng vừng của nông dân ta còn ít đầu

tư phân bón, thâm canh, chăm sóc do đó năng suất chưa cao

Cũng trong thời gian qua các giống vừng được trồng phổ biến trên vùng đấtcát ven biển Nghệ An đã và đang bộc lộ một số nhược điểm như năng suất không

ổn định, dễ mắc các loại sâu bệnh, độ thuần của các giống nhập nội không đảmbảo, chất lượng không đồng đều ở từng giống

Trong tình hình đó cần có những công trình điều tra nghiên cứu một cách đầy

đủ, có hệ thống các giống vừng này, đặc biệt về chế độ dinh dưỡng, nhằm đánh giáđúng tiềm năng và năng suất, những ưu điểm và hạn chế của giống để góp phần làmcăn cứ khoa học cho việc bảo tồn các giống gen quý và làm cơ sở cho các chiến lượctạo giống mới với năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh,thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai và trình độ canh tác ở Nghệ An

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 17

1.1 Cơ sở khoa học

Trong hệ thống các biện pháp canh tác, sử dụng giống vừng tốt là yếu tố hàngđầu quyết định tăng năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế Giống là tư liệu sảnxuất không thể thiếu được, chọn giống tốt sẽ tăng hiệu quả sử dụng phân bón, thuỷlợi và đảm bảo sản lượng trong những điều kiện bất thuận như: ngập úng, hạn hán,sâu bệnh, phèn, mặn,…vì vậy giống được xem là tư liệu sản xuất, là tiền đề cho việcnâng cao năng suất, đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp

Tất cả các khâu của quá trình sản xuất giống cây trồng đều nhằm mục đíchcuối cùng là tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năngchống chịu với các điều kiện bất thuận cũng như các đối tượng sâu bệnh hại.Trong các khâu của quá trình sản xuất thì việc bón phân là một yếu tố hếtsức quan trọng nhằm tăng năng suất và chất lượng nông sản

Việc bón phân cho cây trồng mang tính khu vực hoá cao, mỗi chân đất vàvùng sinh thái khác nhau yêu cầu liều lượng phân bón là khác nhau, nó phụ thuộcdinh dưỡng của đất, thành phần lý hóa tính của đất và điều kiện khí hậu

Thưc tế cho thấy một số giống tốt được đưa vào sản xuất qua một số năm

đã trở nên thoái hoá giữa tác động trực tiếp của điều kiện tự nhiên như: thời tiết,khí hậu và trình độ thâm canh của người dân làm cho năng suất, phẩm chất vàảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Chính vì vậy việc chọn tạo thử nghiệm và sosánh, khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm nông học để tạo ra các giống ưuviệt nhất, hiệu quả kinh tế cao phù hợp với từng vùng sinh thái và khả năngchống chịu với sâu bệnh hại chính đang là vấn đề đáng quan tâm hiện nay củacác nhà chọn giống Tuy nhiên đi kèm với giống, đặc biệt là các giống nhập nộithì yếu tố phân bón cần phải được quan tâm hàng đầu Vì thế cần nghiên cứu kỹ

về chế độ dinh dưỡng của giống để từ đó đưa ra mức bón hợp lý cho cây vừngnhằm đạt được năng suất cao nhất mà giống có thể đạt được

1.2 Tầm quan trọng của việc nghiên cứu cây vừng

Có hai yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng vừng trên thế giới Yếu tố thứnhất là chất lượng hạt và hàm lượng dầu vừng rất tốt Dầu vừng rất hợp khẩu vị,

Trang 18

dễ phối hợp với các loại khác trong chế biến các món ăn Yếu tố thứ hai liênquan đến văn hoá ẩm thực của nhiều dân tộc, có nhiều món ăn còn có ý nghĩaphòng trị bệnh rất tốt trong đó có vừng Vì vậy vừng là loại thực phẩm truyềnthống của dân tộc ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới Muối vừng xưa kia làmón ăn thường ngày trong các bữa cơm đạm bạc, ngày nay người ta đã thấy nóxuất hiện trong các bữa tiệc quan trọng và trên mâm cơm của nhiều gia đình khágiả, bởi lẽ ngoài ý nghĩa là món ăn, nó còn có tác dụng chữa bệnh, nhất là người

đã có tuổi Trong các bữa ăn chay của nhà Phật, cùng với đậu phụ thì vừng lànguồn thực phẩm chính thay thế các nguồn protein từ động vật Vừng được sửdụng làm nhiều thành phần trong nhiều món ăn Người Nhật thích ăn vừng hạt vìcho rằng đó là loại thực phẩm có lợi cho sức khoẻ, họ còn dùng dầu vừng để trộn

xà lách và rán cá Vừng hạt bóc vỏ được dùng làm bánh Hăm - bơ - gơ, làm bánh

mì, bánh bao có nhân Vừng hạt khi rang lên có mùi vị rất hấp dẫn và được sửdụng trong sản xuất bánh mì, bánh quy, Sô - cô - la và kem Người Hy Lạp dùngvừng hạt để làm bánh ngọt, trong lúc người Tô - Gô, người Châu Phi dùng vừnghạt để nấu xúp Người Mỹ dùng vừng hạt kết hợp với các nguyên liệu khác đểtạo ra các sản phẩm có vừng như: bánh quy vừng, cải trộn vừng, bơ phết vừng,

mù tạt vừng, bánh nướng có vừng, xúp vừng, đậu trộn vừng… Hạt vừng chứa 48

- 63% dầu; 22 - 23% protein; 6,04 chất đường bột; 37,2 - 58,2% axit ôlêic Hàmlượng canxi trong vừng hạt gấp 3 lần trong sữa (Ashri, 1985) [18]

Vừng được xem là một trong những cây trồng lấy dầu quan trọng Dầuvừng tinh chế được xem là dầu ăn hảo hạng và ngày càng được sử dụng nhiềuthay thế cho mỡ động vật bởi khi ăn dầu vừng thì tránh được bệnh xơ cứng độngmạch Ngoài với các đặc tính không bị ôxi hoá, có thể cất dữ được lâu mà không

bị ôi và với hương vị đặc thù nên dầu vừng được sử dụng nhiều trong ngành côngnghiệp thực phẩm Hiện nay các sản phẩm về chống ôxi hoá có nguồn gốc tựnhiên dùng trong công nghiệp thực phẩm đang ngày một tăng nên giá trị thịtrường của dầu vừng lại càng được nâng cao Dùng dầu vừng để rán thì thức ănkhông bị ôi và có hương vị thơm ngon hơn Trong 1g dầu vừng chứa 1,6 - 11,3

Trang 19

mg sesamin, 0,1 - 8,6 mg sesamolin Sau khi ép dầu, khô dầu vừng còn 14,33%chất béo, 36,4% protein, 23,58% chất đường bột và một số chất khác, nên dùnglàm thức ăn gia súc rất tốt, có nơi dùng khô dầu để cất rượu, làm giấm Ngoài ratrong khô dầu còn chứa 5,8% đạm, 3,25% lân, 1,45% kali nguyên chất nên dùnglàm phân bón cho cây công nghiệp, nhất là thuốc lá rất tốt Vừng được sử dụngtrong nhiều ngành công nghiệp Người Châu Phi đã dùng vừng để chế tạo nướchoa và loại nước hoa Cô-lô-nhơ nổi tiếng được sản xuất từ hoa vừng.Axitmyristic có trong hạt vừng được xem là một thành phần không thể thiếutrong ngành công nghiệp mỹ phẩm Chất sesamin, sesalomin trong hạt vừng cócác hoạt tính diệt khuẩn và sâu bọ nên được dùng làm chất tăng cường tác dụngcho thuốc trừ sâu Dầu vừng được làm dung môi hoà tan cho nhiều loài dượcphẩm, thuốc làm mịn da, trong sản xuất bơ thực vật và xà phòng.

Vừng còn được ứng dụng nhiều trong việc bồi bổ sức khoẻ và trong côngnghiệp dược phẩm Lignan của vừng có đặc tính chống oxi hoá và có hoạt tính

tăng cường sức khoẻ (Kato et al., 1998 ) [22] Cả sesamin và sesalomin đã được

xác định có hàm lượng cao trong vừng đều có tác dụng tăng tốc độ oxi hoá các

axit béo trong peroxyxom và trong ty thể (Sirato-Yasumoto et al., 2001) [26].Dùng vừng hạt làm thực phẩm dường như có tác dụng làm tăng hoạt tính của  -tôcpherol (C29H5O2) là chất được xem là có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư vàbệnh tim, axitmyristic với tỷ lệ trong vừng hạt từ 328 - 1,728 phần triệu cũng cókhả năng ngăn ngừa ung thư Cephalin từ hạt vừng có hoạt tính cầm máu Hạtvừng chứa lecithin với hàm lượng từ 58 - 395 phần triệu là chất có hoạt tínhchống oxi hoá và bảo vệ gan Lecithin có trong hạt vừng cũng có hiệu quả trongviệc giảm chứng mỡ của gan đối với các bệnh nhân dinh dưỡng ngoài ruột trongmột thời gian dài và được dùng để điều trị bệnh viêm da và khô da rất hiệu quả.Dầu vừng còn được dùng làm dung môi cho một số thuốc tiêm vào cơ, dầu vừng

có những đặc tính bổ dưỡng, làm dịu vết viêm, mềm cơ và làm thuốc nhuậntràng Vào thế kỷ IV, người Trung Quốc đã dùng dầu vừng để trị để trị đau răng

và viêm lợi Dầu vừng còn được biết đến trong việc giảm colesterol do có hàm

Trang 20

lượng các chất béo không có khả năng sinh colesterol Những công dụng kháccủa vừng bao gồm điều trị mờ mắt, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu Người Ấn Độdùng dầu vừng để sát khuẩn răng miệng, giảm căng thẳng, lo lắng và mất ngủ.Những thử nghiệm lâm sàng gần đây đã chứng minh rằng dầu vừng có tác dụngtốt hơn nhiều so với giải pháp dùng chất đồng vị của clorua natri (NaCl) trongviệc điều trị chứng khô chất nhầy mũi do khí hậu khô hanh của mùa đông Thêmvào đó dầu vừng dầu vừng chứa một lượng lớn linoleate mà chất này có khả năngngăn chặn một cách có lựa chọn sự phát triển của các khối u ác.

1.3 Nguồn gốc và tình hình sản xuất vừng trên thế giới và trong nước

1.3.1 Nguồn gốc

Cây vừng (Sesamum indicum L) có nơi gọi là Mè theo tiếng Trung Quốc

gọi là Chi Ma

Nguồn gốc có từ Châu Phi Có nhiều ý kiến cho rằng Ethiopia là nguyên sảncủa giống vừng trồng hiện nay Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan-Persitan mới là nguyên sản của các giống vừng trồng Vừng là loại cây trồng códầu được trồng lâu đời (khoảng 2000 năm trước công nguyên) Sau đó được đưavào vùng Tiểu Á (Babylon) và được di chuyển của phía Tây vào Châu Âu và phíaNam của Châu Á, dần dần được phân bố đến Ấn Độ và một số nước Nam Á.Trung Quốc và Ấn Độ cũng được xem như là trung tâm phân bố của vừng

Ở Nam Mỹ, vừng được du nhập qua từ Châu Phi sau khi người Châu Âukhám phá ra Châu Mỹ vào năm 1942 (do Chritophecoloms người Bồ Đào Nha vàTây Ban Nha) đem vừng đi bán

1.3.2 Tình hình sản xuất

* Trên thế giới

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, diện tích trồng vừng khoảng 5 triệu havào năm 1939, đạt sản lượng 1,5 triệu tấn Trong đó Ấn Độ là quốc gia trồngnhiều nhất với diện tích 2,5 triệu ha, kế đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha, Miến Điện700.000 ha, Sudan 400.000 ha, Mêhicô 200.000 ha

Các quốc gia có diện tích trồng < 50.000 ha gồm: Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ,

Trang 21

Ouganda, Megeria.

Sản lượng vừng toàn thế giới năm 1986 khoảng 2,4 triệu tấn, trong đó Châu

Á chiếm khoảng 65% về sản lượng (FAO, 1987) [21]

Hiện nay mặc dù với diện tích không nhiều nhưng vừng đã được trồng khắpcác châu lục trên toàn thế giới

Sản lượng vừng hàng năm khoảng 2 triệu tấn

Hiện nay, diện tích trồng vừng không được mở rộng do tình hình xuất khẩukhông ổn định và giá cả biến động

* Ở Nghệ An

Trang 22

Được xem là một vùng trồng vừng trọng điểm của Việt Nam Riêng vụ hèthu năm 2002 diện tích các loại vừng trên toàn tỉnh là 9.957 ha, với 3 giống vừngđược trồng phổ biến: Vừng vàng, vừng đen và vừng V6 (dẫn theo Hoàng VănSơn, 2004) [5].

1.4 Tình hình nghiên cứu cây vừng trên thế giới và trong nước

1.4.1 Tình hình nghiên cứu vừng trên thế giới

Mặc dù là loại cây trồng truyền thống lâu đời của loài người, nhưng dođược gieo trồng ở những nước đang phát triển, mặt khác chỉ là loại cây trồng phụxen vụ nên trước đây cây vừng ít được chú ý nghiên cứu Tuy vậy khi giá trị củahạt và dầu vừng được xác định, đặc biệt là những giá trị về mặt y học, thì câyvừng đã được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn Đầu thế kỷ XIX (1808 -1824), Thomas Jefferson, nhà làm vườn nổi tiếng của Mỹ, tiến hành những thửnghiệm trên cây vừng khi nó được du nhập vào Mỹ từ Châu Phi đã phát biểurằng “vừng là một trong số những cây trồng giá trị nhất mà đất nước tôi tìm rađược…trước đây tôi không tin rằng có sự tồn tại của một loại dầu hoàn hảo nhưthế để có thể thay thế dầu oliu” Cho đến nay, ngày càng có nhiều công trìnhnghiên cứu về vừng và đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực cần được quan tâmnhư điều tra, thu thập, chọn giống, nông học, hoá sinh,…(Ashri, 1995) [17].Theo nghiên cứu của Thiagalingham và Bennett, với lượng phân bón Nitơ

60 kg/ha bón vào thời điểm gieo dường như là thích hợp đối với các giống Yori

77 Khi lượng phân Nitơ được chia đôi, sự bón Nitơ sau khi ra hoa làm sản lượng

bị sụt giảm Rất ít công trình về phản ứng của vừng đối với phân phốt phát vànhững kết quả sơ bộ không mang tính thuyết phục Về các dinh dưỡng vi lượng,bón 1 mg Bo/kg đất ở các mảnh ruộng thí nghiệm thì tăng lượng quả và trọnglượng hạt trên cây nhưng bón Bo với mức cao hơn làm giảm sự phát triển của rễ

và tăng tỷ lệ chồi cây/rễ

Sản lượng hạt và phản ứng sản lượng của vừng với phân bón bị ảnh hưởngbởi dinh dưỡng đất, ngày gieo, giống, mật độ, khoảng cách hàng và độ ẩm Mỗiyếu tố này có thể ảnh hưởng đến yêu cầu dinh dưỡng của cây và lượng phân bón

Trang 23

tối thích Ước tính từ sự phân tích hạt vừng được thu hoạch, ở các vùng đất khácnhau của Australia rằng một tấn hạt vừng sẽ lấy khoảng 35 - 48 kg N/ha tuỳthuộc vào mức dinh dưỡng của đất và địa phương.

Eagleton và Sandover có công trình nghiên cứu đánh giá những triển vọngcho sự sản xuất vừng thương mại dưới điều kiện tưới nước ở miền Tây BắcAustralia vào những năm 80, từ 31 dạng vừng được nghiên cứu thẩm tra, haidạng đã được chọn cho sự đánh giá Hnan Dun một giống của Myanma, với đặcđiểm hạt màu trắng và sinh trưởng phân nhánh đã cho sản lượng 1,2 tấn/ha Đượctrồng trên đát sét Cunurra có tưới nước, chín trong 105 ngày Trên đất cátCockatoo, sản lượng hạt của Hnan Dun là 1,3 - 1,6 tấn/ha Pachequino, mộtgiống không phân nhánh, có nguồn gốc từ Mêhicô, chín chậm hơn so với HnanDun, cho sản lượng lên tới 1,8 tấn/ha trong các thử nghiệm ở trên đất sét Cunurra

và hạt có màu trắng rõ nét được ưa thích trong việc dùng làm bánh kẹo

Trong hai thử nghiệm về phương pháp điều tra thu hoạch Thời điểm tốithích cho phương pháp thu hoạch trực tiếp của Pachequino được phát hiện là 50ngày sau khi gieo, khi khoảng 50% cây trồng đã khô hoàn toàn Sử dụng diquat 2lít/ha để sấy khô các phần thực vật của cây trồng cho phép thu hoạch sớm hơn đểkiểm soát tốt hơn những mất mát về vỏ quả bị nứt Với 6 ha vừng được trồngtrong năm 1985 - 1986 trên đất set Cunurra với các hoạt động canh tác phù hợpnhất đã được xác định trong các thử nghiệm này và được thu hoạch với máy thuhoạch kết hợp với máy quạt gió Harvestaire, tạo ra sản lượng hạt sạch từ 730 -

980 kg/ha

Kogram và Steer kiểm tra đặc điểm sinh lý phát triển của vừng, đặc biệt là

sự phản ứng lại với những tỷ lệ khác nhau của Nitơ trong các thử nghiệm nhàkính và trên đồng ruộng Các giống Aceitera và Hnan Dun dược sử dụng trongcác thử nghiệm nhà kính và Hnan Dun trong các thử nghiệm đồng ruộng Sựcung cấp Nitơ cao đẩy nhanh sự nở hoa đầu tiên nhưng kéo dài thời gian chín củaquả đầu tiên, thời gian chín được tăng lên liên quan đến sự sản sinh thêm lá vàquả Số quả là sự hạn định chính sản lượng hạt trên một cây, trọng lượng từng hạt

Trang 24

và số hạt trên một quả thì kém quan trọng hơn nhiều Trọng lượng khô của quả làmột hàm tuyến tính của diện tích lá trên một cây và cũng tương quan chặt với sảnlượng hạt, cũng như là khoảng thời gian tồn tại của diện tích lá trong thử nghiệmtrên đồng ruộng Sản lượng hạt tăng một cách tuyến tính khi hàm lượng Nitơ củacây tăng tới 1,8 g N/cây nhưng sau đó đạt đến trạng thái ổn định ở 2,7 g N/cây.

Sự cung cấp Nitơ đã ảnh hưởng đến thành phần hoá học của hạt bằng cách tănghàm lượng protein nhưng không có ảnh hưởng đến hàm lượng dầu và hàm lượngcác thành phần khác

Sự sinh trưởng của vừng sau khi nảy mầm chậm và vì thế cỏ dại có thể pháttriển dẫn đến sự giảm sản lượng Hiện chưa có loại thuốc diệt cỏ trước nảy mầm

có hiệu quả, vì vậy đối với sự kiểm soát cỏ dại có hiệu quả chắc chắn phảichuyển sang quản lý lớp phủ bề mặt và các loại thuốc diệt cỏ sau khi nảy mầm.Martin đã đề nghị những thủ tục sau đây để kiểm soát cỏ dại các vụ trồng vừng:

1 Sau khi trồng có mưa, áp dụng thuốc diệt cỏ vào ngày trước khi gieo vãi mộtlớp thực vật để cung cấp một lớp phủ bề mặt có hiệu quả; 2 Gieo ở tỷ lệ cây non

để diệt trừ cỏ dại; 3 Phun thuốc diệt cỏ trước nảy mầm; 4 Trước khi có sự khéptán, đánh giá chắc chắn những thiệt hại do cỏ dai gây ra tại thời điểm khép tán từviệc chuyển đổi trong diện tích bề mặt lá liên quan của cỏ dại; 5 Phun thuốc diệt

cỏ sau khi nảy mầm nếu thấy cần thiết

Yeates và cộng sự đã nghiên cứu về những hệ thống làm đất và luân canhđối với vừng ở miền Tây Bắc Australia Họ cho rằng vừng là loại cây thích hợpcho sự chuyển đổi với những cây trồng chính lấy hạt có khu vực, bởi vì ngàygieo tối thích của nó rơi vào những ngày thu hoạch cây ngũ cốc (ngô và lúamiến) và đậu xanh Họ chỉ ra rằng ít thông tin sẵn có đề cập sự luân canh củavừng và bãi cỏ bị bỏ hoá nhưng cho rằng một sự luân canh giữa vừng và bãi cỏ bịhoang hoá dường như không gây ra bất cứ khó khăn nào Tuy nhiên các cây họđậu trong các bãi bỏ hoang thích nghi với điều kiện địa phương có thể sản sinhphần lớn hạt cứng và những hạt này có thể nảy mầm và cạnh tranh với cây vừng

ở vụ tiếp theo Không có một loại thuốc diệt cỏ nào được lựa chon đã được biết

Trang 25

đến để kiểm soát cỏ dại thuộc loại họ đậu này Làm đất theo phương pháp truyềnthống được ưa thích bởi các nông dân đi đầu trong việc trồng vừng, đó là khônglàm đất khi gieo vì hạt vừng quá nhỏ.

1.4.2 Tình hình nghiên cứu cây vừng tại Việt Nam

Trần Văn Lài và cộng sự (1993) đã mô tả một số đặc điểm hình thái của 5giống vừng, các yếu tố thời tiết ảnh hưởng đến vừng và các biện pháp kỹ thuậtcanh tác, phòng trừ sâu bệnh cho cây vừng

Nghiên cứu về cây vừng ở Việt Nam và nhất là ở Nghệ An được chú ý hơnkhi tập đoàn Kodoya của Nhật Bản đã có những hợp đồng thu mua vừng của ViệtNam, mở ra một thị trường mới cho cây vừng Việt Nam nói chung và cây vừngcủa tỉnh Nghệ An nói riêng Trong 2 năm 1994 và 1995, Nguyễn Vy và các cộng

sự ở viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, viện nghiên cứu dầu thựcvật, viện thổ nhưỡng nông hoá, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An

đã tiến hành 4 vụ khảo nghiệm các giống địa phương của Việt Nam cùng với một

số giống nhập nội và đi đến kết luận các giống địa phương vừa có năng suất thấpvừa không đáp ứng được những tiêu chuẩn về chất lượng để xuất khẩu Trongquá trình khảo nghiệm một số giống nhập nội, bước đầu các nhà khoa học đãchọn được một số giống có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng được nhữngyêu cầu xuất khẩu trong đó có giống vừng V6 (hạt màu trắng) và giống vừng V36

(hạt màu đen) có nguồn gốc từ Nhật Bản được xem là giống có nhiều triển vọng.Giá trị kinh tế của vừng V6 và một số cây trồng khác khi canh tác trên các loại đấtnhư đất cát ven biển, đất bạc màu, đất bạc màu cổ, đất phù sa đã được so sánh vàcác tác giả đã đi đến kết luận trên những vừng đất bạc màu hoặc đất cát ven biểnthì vừng là loại cây trồng cho giá trị kinh tế cao nhất

Trong lĩnh vực điều tra chọn giống, vào năm 1995, đứng trước một thựctiễn là giống vừng V6 có hiện tượng phân ly mạnh khi được gieo trồng trên đấtcát ven biển Nghệ An, Phan Bùi Tân và cộng sự đã tiến hành một chương trìnhchọn lọc các kiểu hình biến dị có năng suất cao, đã chọn và nhân ra được mộtdòng có năng suất cao hơn giống vừng V6 và đặt tên là giống V6-CL Đây có lẽ là

Trang 26

công trình điều tra tuyển chọn giống cây vừng duy nhất trên địa bàn Nghệ An từtrước tới nay được công bố.

Về sự hợp tác quốc tế trong nghiên cứu cây vừng, từ năm 1997 đến năm

2001, Trung tâm khuyến nông - Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ

An đã phối hợp với viện Phốt Phát và Bồ Tạt Canada (Potash & Phosphate

Institute of Canada) tiến hành dự án nghiên cứu dự án mang tên “Balanced

fertilization for maximum economic yield in sesame-based cropping sytems on marine sandy soils in Nghe An province” Kết quả nghiên cứu của dự án cho thấy

với tỷ lệ bón N - P2O5 - K2O là 195 - 165-180 kg/ha kết hợp với phân chuồng sẽcho sản lượng cao nhất và chất lượng hạt vừng tăng đáng kể Cũng theo kết quảnghiên cứu của công trình này thì nếu cây vừng luân canh với lạc và ngô thì sẽcho hiệu quả kinh tế cao và cải thiện đáng kể hàm lượng chất hữu cơ trong đất

Trang 27

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: tại Trại thực nghiệm Nông nghiệp, khoa Nông Lâm Ngư,Trường Đại Học Vinh (xã Nghi Phong - huyện Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An)

- Thời gian nghiên cứu: vụ Xuân 2010 (16/03/2010 - 05/07/2010)

2.2 Vật liệu nghiên cứu

- Vật liệu nghiên cứu là dòng vừng NV10 được chọn lọc từ quần thể cácgiống vừng trong nước và nhập nội Dòng vừng này được tạo ra bằng phươngpháp chọn lọc cá thể

2.3 Dụng cụ thí nghiệm

- Dụng cụ thí nghiệm bao gồm: các dụng cụ làm đất như: máy phay đất,cuốc, cào, vét và các loại dụng cụ khác như: thước đo chiều cao cây, cân điện tử,thước đo đường kính thân…

2.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón phân đạm và phân lân khác nhau đến

các đặc điểm sinh học, sinh thái của dòng vừng NV10

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm và phân lân khác nhau đến

sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mức bón phân đạm và phân lân khác nhau đếncác yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dòng vừng NV10

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Sơ đồ thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu

nhiên hoàn chỉnh (RCB), 16 công thức, 3 lần lặp lại (hình 2.1)

+ Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10 m2

+ Tổng diện tích ô thí nghiệm: 540 m 2 (kể cả giải bảo vệ).

Trang 28

Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm tại Trại thực nghiệm Nông nghiệp.

Ghi chú: Mức bón tính cho 1 ha.

Công thức 1 (CT-1): 5 tấn PC + 30kg N + 30kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 2 (CT-2): 5 tấn PC + 30kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 3 (CT-3): 5 tấn PC + 30kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O.Công thức 4 (CT-4): 5 tấn PC + 30kg N + 0 kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 5 (CT-5): 5 tấn PC + 60kg N + 30kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 6 (CT-6): 5 tấn PC + 60kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O

Trang 29

Công thức 7 (CT-7): 5 tấn PC + 60kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 8 (CT-8): 5 tấn PC + 60kg N + 0kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 9 (CT-9): 5 tấn PC + 90kg N + 30kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 10 (CT-10): 5 tấn PC + 90kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 11 (CT-11): 5 tấn PC + 90kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 12 (CT-12): 5 tấn PC + 90kg N + 0kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 13 (CT-13): 5 tấn PC + 0kg N + 30kg P2O5 + 60kg K2O Công thức 14 (CT-14): 5 tấn PC + 0kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O.

+ Phân đạm: 1/2 lượng phân đạm ở các công thức thí nghiệm

+ Suppe lân: 1/2 lượng phân lân ở các công thức thí nghiệp

+ Kali clorua: 1/2 lượng phân kali ở các công thức thí nghiệm

Trang 30

- Gieo hốc: dùng dụng cụ gieo hốc là cự với chiều dài 20 cm, chiều rộng 10

cm, chiều sâu 3 cm để đục hốc gieo Sau đó mỗi hốc bỏ 4 - 5 hạt vừng vào rồiphủ đất lại

+ Sâu ăn lá: sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu rõm, sâu khoang…

+ Giòi đục thân phá hại cây non, rệp hại thân và lá

+ Sâu đục quả

- Bệnh hại chính: Bệnh thối cây con, lở cổ rễ, thán thư…

- Phòng trừ sâu bệnh băng biện pháp sinh học, dùng hoá bảo vệ khi cần thiết

2.6 Chỉ tiêu theo dõi

Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng và phát triển của cây vừng dưới cácmức phân bón khác nhau được tiến hành theo phương pháp của IPGRI (2001).Tiến hành đánh giá theo nguyên tắc đường chéo 5 điểm, mỗi điểm 2 cây

2.6.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều cao cây cuối cùng

- Sau 20 ngày thì theo dõi chiều cao cây, chọn 10 cây đã đánh dấu rồi cứ 7ngày đo một lần

- Cách đo: Đo từ mắt thứ nhất đến đỉnh cây

Trang 31

- Đếm số hoa 10 cây đã đánh dấu.

- Xác định tỷ lệ hoa hữu hiệu:

Tỷ lệ hoa hữu hiệu =.100%

2.6.5 Các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Đếm tổng số quả trên cây; Xác định tổng số quả bình quân/cây (đếm cảquả già, quả bánh tẻ và quả non), cứ 7 ngày đếm một lần, đếm sau 45 ngày

- Khối lượng 1000 hạt: Lấy khối lượng 1000 hạt mối công thức thí nghiệm

khác nhau, mỗi công thức lấy khoảng 3 mẫu cân nhắc lại 3 lần

- Đếm số hạt/quả: Lấy 20 quả, bóc tách hạt từng quả rồi tính số hạt mối quả

ở từng ô khác nhau

- Chiều dài quả: Lấy 20 quả ở từng ô khác nhau rồi đo chiều dài, chiều rộng

và độ dày quả từng quả ở các công thức khác nhau đó

- Năng suất thực thu:

+ Năng suất thực thu = (tạ/ha)

+ Mỗi công thức thí nghiệm lấy 10 cây Vặt quả và xác định:

(+) Tổng số quả bình quân trên cây =

(+) Tổng số quả chắc bình quân trên cây =

- Năng suất cá thể (g/cây)

+ Bóc quả và lấy hạt vừng ra cân khối lượng của tất cả các hạt trên từng câyrồi cân lên sau đó lấy trung bình

- Năng suất lý thuyết (NS LT) (tạ/ha)

- NSLT = Năng suất cá thể (gam) x Mật độ cây/m2/10 (tạ/ha)

2.7 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý dựa trên phương pháp thống kê toán học với sự trợ giúp củaphần mềm Excel 2003, phần mềm GenStat 13th Edition Số liệu của lần lấy mẫu cuốicùng được kiểm tra độ tin cậy theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA -Analysis of Variance) và sự tương tác giữa đạm và lân đến các chỉ tiêu nghiên cứu

2.8 Điều kiện nghiên cứu thí nghiệm

* Đặc điểm địa hình

Nghệ An nằm ở phía Đông Bắc của dãy Trường Sơn, có toạ độ địa lí từ 18o

Trang 32

35-19o30 vĩ độ Bắc và 103o52- 105o42 kinh độ Đông với tổng diện tích tự nhiên1.637.068 ha (bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam, thống kê 2003), trong đó miềnnúi chiếm 3/4 diện tích, phần lớn đồi núi tập trung ở phía Tây của tỉnh Dải đồng bằngnhỏ hẹp chỉ có 17% chạy từ Nam đến Bắc giáp biển Đông và các dãy núi bao bọc.Địa hình của tỉnh bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi dày đặc và những dãy núi xen kẽ,

vì vậy gây không ít trở ngại cho sự phát triển giao thông và tiêu thụ sản phẩm

* Khí hậu

Khí hậu là yếu tố đóng vai trò quân trọng trong quá trình phát triển của câytrồng nói chung và cây vừng nói riêng Mỗi quá trình sinh lý diễn ra trong cây,mỗi giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây vừng đều cần điều kiện khí hậuthuận lợi nhất định riêng Khí hậu gồm nhiều yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng,lượng mưa,… Kết quả theo dõi các yếu tố khí hậu trong thời gian thí nghiệm (từ16/3 - 05/7/2010) được thể hiện qua bảng 2.1

Bảng 2.1 Bảng khí hậu, thuỷ văn năm 2010 tại xã Nghi Phong, huyện

Trang 33

+ Lượng mưa: Đây la thời kỳ của mùa khô nên lượng mưa tương đối thấp.Bên cạnh đó, điều kiên thời tiết năm nay khô hạn hơn mọi năm, lượng mưa thấpnhất là tháng III chỉ đạt 11,7 mm và cao nhất ở tháng VI cũng chỉ đạt 77,0 mm (ởtháng IV) Nhìn chung, đây là thời kỳ tương đối khô hạn của Nghệ An nói chung

và Nghi Phong – Nghi Lộc nói riêng Lượng mưa ít ảnh hưởng không nhỏ đếnquá trình sinh trưởng và phát triển cửa cây vừng

+ Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí dao động từ 67 - 88 % Trong đó cáctháng III, IV có độ ẩm tương đối cao (từ 83 - 88 %) và giảm dần ở các tháng V,

VI, chỉ còn 78 % và 67 % Độ ẩm không khí thấp ở giai đoạn cuối thuận lợi choquá trình chín và thu hoạch vừng

Nhìn chung, điều kiện thời tiết năm nay ở Nghi Phong không thực sự thuậnlợi cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây vừng Điều kiện thời tiết năm nayảnh hưởng không nhỏ đến các chỉ tiêu theo dõi của cây vừng

* Tài nguyên đất

Về địa hình thổ nhưỡng, Nghệ An có địa hình phức tạp với nhiều dạng đấtkhác nhau Riêng huyện Nghi Lộc mang tính chất đặc trưng của đất cát ven biển,

có độ phì nhiêu thấp (Nguyễn Vy, Trần Khải, 1978)

Đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh có khoảng 196.000 ha, chiếm gần 11,9%diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp có trên 685.000 ha (41,8%); đất chuyên dùng59.000 ha (3,6%); đất ở 15.000 ha (0,9%) Hiện quỹ đất chưa sử dụng còn trên

600 nghìn ha, chiếm 37% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất trống, đồinúi trọc Số diện tích đất có khả năng đưa vào khai thác sử dụng trong sản xuấtnông nghiệp, trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây ăn quả là 20 - 30nghìn ha, lâm nghiệp trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ và tái sinh rừng trên 500nghìn ha Phần lớn diện tích đất này tập trung ở các huyện miền núi vùng TâyNam của tỉnh

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số đặc điểm hình thái của giống

Trang 34

Hình 3.1 Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng mới NV10

A Cây trên đồng ruộng; B Cây lúc quả chín sinh lý; C Ruộng vừng; D-E-F Quả trên thân; G Lá ở các tầng trên thân; H-K Hoa và sự phát triển của hoa; L Cấu trúc của bao phấn và vòi nhụy; M Bao phấn lúc đã tung phấn (ở trên) và chưa tung phấn (ở dưới);

N Rễ; O-P Quả và hạt

* Rễ

Dòng vừng NV10 có rễ cọc ăn sâu, hệ thống rễ chùm phát triển Trên rễ cáiđâm ra nhiều rễ cấp 1, trên rễ cấp 1 đâm ra nhiều rễ cấp 2 Thời kỳ cây con rễ cáisinh trưởng tương đối nhanh hơn rễ bên, nhưng thời kỳ bắt đầu ra hoa thì ngược lại

* Thân, cành

- Thân: Thân vừng NV10 có tiết diện cắt ngang hình vuông, lõm ở giữa, thânvừng có màu xanh, trên thân có nhiều lông màu trắng ngắn và thưa Chiều caocủa thân vừng đạt trung bình 122,87 cm Đây là một tính trạng thuận có liên quankhá chặt với năng suất hạt, thể hiện sức sinh trưởng của cây vừng Nếu thânchính có chiều cao lớn sẽ cho số lá và số quả nhiều, tạo tiền đề cho việc tổng hợpchất hữu cơ và năng suất cây trồng Nhưng chiều cao thân chính sinh trưởng quámức sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng chống chiu với điều kiện ngoại cảnh kém,sinh trưởng, phát triển tốt đạt chiều cao đặc trưng của giống là việc làm có ýnghĩa lớn (Nguyễn Vi, 2003)[10] Chiều cao từ gốc đến quả đầu tiên đạt trung

Trang 35

bình 37,25 cm Quả trên thân được chia làm 3 tầng khác nhau với kích thướclóng là khác nhau: ở tầng dưới chiều dài lóng là dài nhất đạt bình quân 3,83cm/lóng; tiếp theo là tầng giữa đạt bình quân 3,02 cm/lóng; ở tầng trên, càng gầnphía ngọn, chiều dài lóng càng ngắn và đạt bình quân là 2,26 cm/long

- Cành: Dòng vừng NV10 có đặc tính không phân cành, cây chỉ có một thânchính Tuy nhiên khả năng phục hồi của dòng vừng này rất cao Trong trườnghợp bị mất đỉnh sinh trưởng vì một số lý do nào đó như bị gãy do gió, bị sâucuốn lá gây hại thì cây sẽ phân cành từ đốt thứ 2 hoặc đốt thứ 3 Tại đây, từ thânchính mọc ra 2 cành đối nhau

* Đốt thân:

Đối với cây vừng, trong từng giống số đốt (tương ứng với số mắt) trên thânchính liên quan mật thiết với số lượng quả Số đốt càng nhiều thì số quả càngnhiều Bên cạnh đó, chiều cao cây ảnh hưởng mật thiết với số đốt trên cây, dovậy để tăng số đốt trên cây thì ngoài phụ thuộc vào từng giống thì yếu tố quantrọng là cung cấp đầy đủ chất dinh dưởng và điều kiện thời tiết thích hợp(Nguyễn Vi, 2003)[10] Đối với dòng vừng mới NV10, số đốt trên thân chính biếnđộng từ 28 đến 32 đốt/cây

* L á

- Lá mầm có màu xanh, dạng dẹt, có cuống lá nhỏ, dài 0,2 - 0,5 cm Đây làchỉ tiêu quan trọng quyết định đến quá trình quang hợp, tích lũy chất khô trongthân, lá và quả

- Dòng vừng NV10 có lá thật hình thuôn dài, mép lá trơn, thỉnh thoảng cómột vài chỗ trên mép lá có răng cưa không theo quy luật Lá có màu xanh, mọcđối xứng Trên mặt lá có lông tương tự như màu lông của thân nhưng trơn và íthơn trên thân Không có lá kèm phân bố dọc thân, góc đính lá nhọn Cấu trúc látrên thân được chia thành 3 tầng rõ rệt, lá rộng ở tầng dưới, hẹp dần ở giữa vàthuôn dài, nhỏ ở phía ngọn phù hợp cho việc xuyên qua của ánh sáng để tănghiệu suất quang hợp Lá bị rụng khi quả chín sinh lý phù hợp cho quá trình thuhoạch Những đặc điểm về lá và cấu trúc bộ lá hoàn toàn phù hợp theo mô hình

Trang 36

lý cây vừng lý tưởng của Ashri năm 1995 Kết quả thực nghiệm cho thấy tốc độ

ra lá của dòng vừng NV10 là rất mạnh, nhanh Không có sự chênh lệch nhiềutrong tốc độ tăng trưởng của lá giữa các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của vừng

* Hoa

- Hoa được mọc từ nách lá trên vị trí của thân và cành Số đốt từ gốc đếnchùm hoa đầu tiên là 4 - 5 đốt Dấu hiệu đầu tiên của sự ra hoa là sự xuất hiện 4núm nhỏ màu vàng mọc đối xứng hai bên của nách lá, sau đó xuất hiện núm hoa,sau đó lá đài và cuống nhỏ xuất hiện, tiếp theo là tràng hoa xuất hiện ở trong đàihoa và lớn dần cả chiều ngang lẩn chiều dài Hoa có dạng hình chuông, dài 3 cm

và thuộc loại hoa lưỡng tính hoàn toàn Đài hoa chia làm 5 thuỳ nông, tràng hoachia 5 thuỳ ống, màu trắng tím nhạt, trên tràng hoa có nhiều lông, hoa hìnhchuông với 2 hoa môi yếu ớt, môi trên có màu trắng, 3 tràng dưới liên kết làmthành môi dưới có màu trắng xen lẫn màu tím nhạt Ở trong tràng hoa, ban đầuvòi nhụy phát triển dài hơn vòi nhị, đến thời kỳ hoa nở thì vòi nhị phát triểnnhanh và đạt chiều dài tương đương hoặc dài hơn vòi nhụy để phù hợp cho quátrình tự thụ phấn, thụ tinh Nhị đực có 5 cái mọc ở phía trong vách ống tràng, 1cái bất dục đính trên ống tràng, 4 cái hoạt động, 2 dài, 2 ngắn, đầu mang túi phấnmàu vàng, chứa nhiều hạt phấn

- Nhụy cái màu trắng sữa, gồm bầu nhụy, chỉ nhụy và đầu nhụy phân nhánhtương ứng với số tâm bì Bầu nhụy có 2 ngăn, mỗi ngăn có 2 hàng phôi châu đínhvào thai sau sẽ thành hạt Gốc bầu nhụy có tuyến mật nhưng phát triển yếu ớt

- Thời gian từ mọc đến khi ra hoa khoảng 35 ngày Hoa nở suốt ngày từ 4giờ sáng đến 6 giờ chiều nhưng nở rộ nhất từ lúc 9 giờ sáng Số lượng hoa ở mỗinách lá là 1

* Quả

- Quả thuộc quả nang, trong quả chứa nhiều hạt xếp dọc từng ngăn do các

vách giả tạo thành Mỗi quả có 2 múi, mỗi múi lại có 1 màng ngăn thành 2 ngăn

- Dạng quả, thuôn dài, chiều dài đạt bình quân 3,36 cm, chiều rộng quả đạt

1,05 cm và chiều dày quả đat 0,94 cm Trên quả có lông thưa và ngắn, quả mới

Trang 37

hình thành màu xanh, khi già có màu vàng sẫm và khi chin có màu vàng nâu.Dòng vừng NV10 có đặc tính ít nứt quả trên cây Khi quả khô, đầu quả bắt đầu

mở ra, tuy nhiên hạt vẫn được giữ bên trong vỏ quả Hạt chỉ bị rơi ra ngoài nếudốc ngược quả xuống dưới Điều này làm hạn chế về sự tổn thất về năng suấttrong quá trình canh tác Trên cây, số quả đạt bình quân 54 quả/cây

Bảng 3.1 Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng NV10

(Số liệu nghiên cứu vụ Hè Thu 2009)

5 Tiết diện thân cắt ngang Vuông, lõm ở các mép

8 Cấu trúc lá trên thân Bản lớn ở dưới, nhỏ dần ở giữa và

Trang 38

17 Chiều dài vòi nhụy Giấu ở trong

19 Chiều cao từ gốc đến chùm hoa

đầu tiên Từ đốt thứ 4 hoặc 537,25 ± 1,88 cm

21 Chiều dài lóng tầng dưới 3,85 ± 0,18 cm

22 Chiều dài lóng tầng giữa 3,02 ± 0,02 cm

23 Chiều dài lóng tầng ngọn 2,26 ± 0,09 cm

43 Thời gian sinh trưởng 90 ngày (vụ Xuân)

48 Năng suất thực thu 14,8 ± 0,05 tạ/ha

Một số đặc điểm sinh hóa

3.2 Sự sinh trưởng của một số tính trạng hình thái theo thời gian của dòng vừng NV 10

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn - viện khoa học nông nghiệp Việt Nam (2002), kết quả nghiên cứu giống vừng V 6 , tuyển tập các công trình nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp, NXB NN, HN, tr 287-295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập các công trìnhnghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn - viện khoa học nông nghiệp Việt Nam
Nhà XB: NXB NN
Năm: 2002
3. Đặng Văn Phú, 1981. Cây vừng. NXB Nông Nghiệp, sổ tay kỹ thuật cây công nghiệp, tr 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sổ tay kỹ thuật câycông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
4. Đinh Văn Lữ, Lê Song Dự, Lê Mạnh Trinh và Phạm Văn Côn: 1970.Thâm canh cây vừng. NXB KH KT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm canh cây vừng
Nhà XB: NXB KH KT Hà Nội
5. Hoàng Văn Sơn (2003-2004), “ một số đặc điểm nông học của một số giống vừng ở Nghệ An, Báo cáo tóm tắt đề tài khoa học. Khoa Nông - Lâm - Ngư, trường Đại Học Vinh .19 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số đặc điểm nông học của một sốgiống vừng ở Nghệ An
6. Klein, K. M. D. T. Klein (1979), phương pháp nghiên cứu thực vật, NXB KHKT, HN, Tập1, 346 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), phương pháp nghiên cứu thực vật
Tác giả: Klein, K. M. D. T. Klein
Nhà XB: NXBKHKT
Năm: 1979
8. Nguyễn Tiến Mạnh (1995), Kinh tế cây có dầu, NXB NN, HN. 160 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế cây có dầu
Tác giả: Nguyễn Tiến Mạnh
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1995
9. Nguyễn Thị Tỵ, Tống Quỳnh Mai, Phan Văn Chi, Nguyễn thi Bích Nhi (2003), Thành phần axit amin và giá trị dinh dưỡng của protêin trong hạt một số giống vừng địa phương và ngoại nhập ở Việt Nam, Tạp chí sinh học, Tập 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí sinhhọc
Tác giả: Nguyễn Thị Tỵ, Tống Quỳnh Mai, Phan Văn Chi, Nguyễn thi Bích Nhi
Năm: 2003
11. Nguyễn Vi, Phan Bùi Tân, Phạm Văn Ba (1996), cây vừng - vị trí mới -Giống mới - Kỹ thuât trồng mới, NXB NN, HN, 60 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), cây vừng - vị trí mới-Giống mới - Kỹ thuât trồng mới
Tác giả: Nguyễn Vi, Phan Bùi Tân, Phạm Văn Ba
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1996
12. Phạm Hữu Trinh, Vũ Đình Thắng và Trần Thị Mai. 1986. Cây Mè. Phan Hữu Trinh chủ biên. Cây hoa màu xuất khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Mè
14. Trần Đình Long (1991). Tiến bộ kỹ thuật trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam, NXB NN, tr 34 - 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bộ kỹ thuật trồng lạc và đậu đỗ ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Long
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1991
15. Trần Văn Lài, Trần Nghĩa, Ngô Quang Thắng, Lê Trần Tùng, Ngô Đức Dương (1993), kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng, NXB NN, HN, tr 74 - 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng
Tác giả: Trần Văn Lài, Trần Nghĩa, Ngô Quang Thắng, Lê Trần Tùng, Ngô Đức Dương
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1993
16. Trần Xuân Bí (1995), Kết quả nghiên cứu và khảo nghiệm các giống vừng mới ở Nghệ An, Báo cáo tại hội nghị khoa học thuộc chương trình vừng Việt - Nhật.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội nghị khoa học thuộc chương trình vừngViệt - Nhật
Tác giả: Trần Xuân Bí
Năm: 1995
17. Ashri, A. (1995), Sesame breeding. Plant Breed. Rev. 16: tr 179 - 228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sesame breeding. Plant Breed
Tác giả: Ashri, A
Năm: 1995
18. Ashri, A. (1998), Increased genetic variability for sesame improvement by hybridization and introduced mutations, In: Sesame: Status and Improvement, FAO plant production and protection paper 29,A. Ashri (ed), Rome pp. 141 - 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Increased genetic variability for sesame improvementby hybridization and introduced mutations, In: Sesame: Status andImprovement, FAO
Tác giả: Ashri, A
Năm: 1998
19. Akpan-Iwo G., Idowu A.A., Misari S.M. Collection and evaluation of sesame (Sesamum spp.) germplasm in Nigeria. IGPR/FAO, 142:59-62, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IGPR/FAO
21. FAO (1976), Hand Book on Human Requirement in Food Stuffs, Geneve Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hand Book on Human Requirement in Food Stuffs
Tác giả: FAO
Năm: 1976
22. Falusi O.A. and Salako E.A. Assemblage of sesame germplasm for conservation and genetic improvement in Nigeria. Plant Genetic Resource Newsletter, No.127: 35-38, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plant Genetic Resource Newsletter
23. Kang, C.W. (2001), Breeding sesame for diseases and shatter resistanthigh yielding cultivart with induced mutation, p. 41-50. In: L.Van Zanten (ed), Sesame improvement by inducced mutation, proc. Final FAO/IAEA Co-ord Res. Mtng, IAEA, Vienna, TECDOC - 1195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Breeding sesame for diseases and shatterresistanthigh yielding cultivart with induced mutation
Tác giả: Kang, C.W
Năm: 2001
24. Kato, M.J., A. Chu,et al. (1998), Biosynthesis of antio xidant lignans in Sesamum indicum seeds, phytochemistry Oxford, 47 (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biosynthesis of antio xidant lignans inSesamum indicum seeds
Tác giả: Kato, M.J., A. Chu,et al
Năm: 1998
7. Kỹ thuật thâm canh cây vừng. Trang thông tin điện tử Nghệ An.http://www.nghean.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ thí nghiệm tại Trại thực nghiệm Nông nghiệp. - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Hình 2.1. Sơ đồ thí nghiệm tại Trại thực nghiệm Nông nghiệp (Trang 28)
Hình  3 .1. Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng mới NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
nh 3 .1. Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng mới NV 10 (Trang 34)
Bảng 3.1. Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.1. Một số đặc điểm hình thái của dòng vừng NV 10 (Trang 37)
Bảng 3.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây theo thời gian của các công                                     thức thí nghiệm trong vụ Xuân 2010 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.2. Động thái tăng trưởng chiều cao cây theo thời gian của các công thức thí nghiệm trong vụ Xuân 2010 (Trang 39)
Hình 3.2. Sự tăng trương chiều cao cây của dòng vừng NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Hình 3.2. Sự tăng trương chiều cao cây của dòng vừng NV 10 (Trang 40)
Hình 3.3. Sự tăng trưởng số lá theo thời gian của dòng vừng NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Hình 3.3. Sự tăng trưởng số lá theo thời gian của dòng vừng NV 10 (Trang 43)
Bảng 3.4. Động thái tăng trưởng số đốt của các công thức thí nghiệm theo - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.4. Động thái tăng trưởng số đốt của các công thức thí nghiệm theo (Trang 44)
Hình 3.4. Sự tăng trưởng số đốt theo thời gian của dòng vừng NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Hình 3.4. Sự tăng trưởng số đốt theo thời gian của dòng vừng NV 10 (Trang 45)
Hình 3.5. Động thái ra hoa theo thời gian của dòng vừng NV 10 . - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Hình 3.5. Động thái ra hoa theo thời gian của dòng vừng NV 10 (Trang 48)
Bảng 3.6. Sự tăng trưởng số quả trên thân chính của dòng vừng NV 10  ở - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.6. Sự tăng trưởng số quả trên thân chính của dòng vừng NV 10 ở (Trang 49)
Hình 3.6. Sự tăng trưởng số quả trên cây của dòng vừng NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Hình 3.6. Sự tăng trưởng số quả trên cây của dòng vừng NV 10 (Trang 50)
Bảng 3.7. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.7. Kết quả phân tích phương sai ảnh hưởng của phân đạm và (Trang 51)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều cao cây cuối - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều cao cây cuối (Trang 52)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến số đốt cuối cùng của                                           dòng vừng NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến số đốt cuối cùng của dòng vừng NV 10 (Trang 54)
Bảng 3.12.  Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều dài quả của                                               dòng vừng NV 10 - Sự sinh trưởng, phát triển của dòng vừng NV10, ở các mức bón phân đạm và phân lân khác nhau tại xã nghi phong, nghi lộc,
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của mức bón đạm và lân đến chiều dài quả của dòng vừng NV 10 (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w