1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển khoa học kỹ thuật ở cộng hoà nhân dân trung hoa từ 1978 đến 2010

136 333 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn “Trung Quốc xưa và nay” của Lê Giảng đã nêu lên nhiều vấnđề trong đó có đề cập đến chiến lược phát triển KH - KT của Trung Quốc,đồng thời tác giả cũng trình bày về mục tiêu nghiên c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRƯƠNG THỊ MINH NGUYỆT

Sù PH¸T TRIÓN KHOA HäC - Kü THUËT

ë CéNG HßA NH¢N D¢N TRUNG HOA

Tõ 1978 §ÕN 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Vinh - 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRƯƠNG THỊ MINH NGUYỆT

Sù PH¸T TRIÓN KHOA HäC - Kü THUËT

ë CéNG HßA NH¢N D¢N TRUNG HOA

Tõ 1978 §ÕN 2010

Chuyªn ngµnh: LÞCH Sö THÕ GIíI

M· sè: 60 22 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS VĂN NGỌC THÀNH

Vinh - 2010

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS TS Văn Ngọc Thành, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.

Tôi xin trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sau Đại học, BCN Khoa Lịch sử cùng quý thầy, cô giáo trong khoa Lịch sử, Ttrường Đại học Vinh, đặc biệt là các thầy, cô trong Bộ môn lịch sử Thế giới đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.

Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Khoa học và Công nghệ, Thư viện Quân đội, Thư viện Quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn BCN Khoa Tiểu học - Mầm non, Ban Giám hiệu Trường CĐSP Kon Tum cùng các anh chị em đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, những người thân của tôi đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả Trương Thị Minh Nguyệt

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT Ở TRUNG QUỐC TỪ 1978 ĐẾN 2010 9

1.1 Khái quát về sự phát triển của khoa học - kỹ thuật Trung Quốc trước năm 1978 9

1.2 Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trên thế giới 18

1.3 Công cuộc cải cách, mở cửa và quá trình cải cách thể chế KH -KT ở Trung Quốc 19

1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Trung Quốc về khoa học - kỹ thuật 29

* Tiểu kết 5

Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - KỸ THUẬT TRUNG QUỐC TỪ 1978 ĐẾN 2010 36

2.1 Những giải pháp xây dựng và phát triển khoa học - kỹ thuật 36

2.1.1 Ban hành những chính sách và quy định phù hợp 36

Trang 5

2.1.3 Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho nghiên cứu

KH - KT 49

2.2 Những thành tựu chủ yếu 54

2.2.1 Đội ngũ nghiên cứu khoa học 54

2.2.2 Thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật cao, mới 60

2.2.3 Khoa học kỹ thuật trong ngành nông nghiệp 72

2.2.4 Dựa vào kỹ thuật thông tin để cải tạo các ngành nghề truyền thống .76

2.2.5 Thành tựu KH - KT trong bảo đảm y tế, đem lại lợi ích quốc dân .78

2.2.6 Phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường 82

* Tiểu kết 87

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT Ở TRUNG QUỐC TỪ 1978 ĐẾN 2010 88

3.1 Hiệu quả, tác động của sự phát triển KH - KT đối với Trung Quốc .88

3.1.1 Tác động của KH - KT đối với kinh tế 88

3.1.2 Tác động của khoa học - kỹ thuật đến các lĩnh vực khác 93

3.2 Những đặc điểm chủ yếu của quá trình phát triển KH - KT của Trung Quốc từ 1978 đến nay 95

3.2.1 Về tốc độ phát triển và thành quả KH - KT 95

3.2.2 Về huy động nguồn lực 98

3.2.3 Những hạn chế của khoa học kỹ thuật Trung Quốc 101

3.3 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 102

KẾT LUẬN 108

Trang 6

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC

Trang 7

Từ viết tắt Nội dung

UBKHKTNN Uỷ ban Khoa học kỹ thuật nhà nước

Trang 8

Bảng 2.1 Tổng kinh phí chi cho R&D và GDP ở Trung Quốc từ

năm 2000 - 2009 45Bảng 2.2 Tổng kinh phí chi cho R&D ở các nước trên thế giới từ

năm 1981 - 2006 46Bảng 2.3 Tổng kinh phí chi R&D của giới doanh nghiệp ở Trung

Quốc từ năm 2000 - 2006 49Bảng 2.4 nhân viên hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ

ở Trung Quốc từ năm 1992 đến năm 2005 55Bảng 2.5 Sử dụng Internet ở Trung Quốc 70Bảng 2.6 Tỷ lệ tử vong ở trẻ em và tuổi thọ trung bình 80

Trang 9

Biểu đồ 2.1 Ngân sách phân bổ đầu tư cho KH&CN ở Trung ương

và địa phương Trung Quốc từ năm 1995 đến năm 2005 42Biểu đồ 2.2 Số học sinh và sinh viên trúng tuyển trong các loại hình

giáo dục năm 2002 - 2008 ở Trung Quốc 57Biểu đồ 2.3 Tổng nhân lực và số nhà khoa học và kỹ sư NCPT ở

Trung Quốc, 1995-2006 (1000 người, theo đơn vịchuyển đổi toàn thời FTE) 58Biểu đồ 2.4 Cán bộ NCPT chia theo nghề nghiệp, 2005 (%) 58Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ sáng chế công nghệ nano trên thế giới cộng dồn

giữa năm 1995 và 2005 66Biểu đồ 2.6 Số thuê bao điện thoại cố định trên 100 dân 68Biểu đồ 2.7 Số thuê bao điện thoại di động trên 100 dân 69Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng Internet, 2006 (Doanh

nghiệp có 10 nhân viên trở lên) 71Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ số lượng bài báo quốc tế của các tác giả Trung

Quốc trên toàn cầu 96

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoa học - kỹ thuật (KH - KT) có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sựphát triển kinh tế - xã hội loài người nói chung, mỗi một quốc gia nói riêng.Trong lịch sử, để thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng một hình tháikinh tế - xã hội khác cao hơn thì một trong những điều kiện tiên quyết đó là

sự tiến bộ của KH - KT Cuộc cách mạng KH - KT ngày nay diễn ra như vũbão và tác động to lớn, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loàingười Sự thay đổi mạnh mẽ nhất thể hiện rõ ở sự phát triển nhảy vọt chưatừng thấy của sức sản xuất và năng suất lao động; đồng thời cũng làm thayđổi vị trí, cơ cấu các ngành sản xuất và các vùng kinh tế, làm xuất hiện nhiềungành công nghiệp mới, nhiều công cụ sản xuất mới nhờ đó, đời sống củacon người được cải thiện, mức sống được nâng cao Đồng thời, cách mạng

KH - KT làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng được quốc tế hoá cao, sựgiao lưu, hợp tác quốc tế diễn ra mạnh mẽ đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như cácthách thức đối với tất cả các quốc gia, khu vực Trong bối cảnh toàn cầu hóa,

sự cạnh tranh diễn ra hết sức khốc liệt, quốc gia, dân tộc nào tận dụng và pháthuy được sức mạnh của KH - KT thì sẽ giành thắng lợi để phát triển và khẳngđịnh vị thế của mình

Là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, ngay từ rấtsớm người Trung Quốc đã phát minh ra kỹ thuật làm giấy, kỹ thuật in, chế tạothuốc súng và la bàn Nhưng trong suốt thời kỳ dài của lịch sử, KH - KTTrung Quốc phát triển hết sức chậm chạp, thậm chí các phát minh của họtrong thời kỳ trung đại lại được phát triển ở phương Tây Cuộc Chiến tranhthuốc phiện vào năm 1840 với sự thất bại của triều đình Mãn Thanh đã minh

Trang 11

chứng cho sự yếu kém và lạc hậu của Trung Quốc Mãi đến năm 1978, TrungQuốc mới được thức tỉnh khi Đặng Tiểu Bình - người lãnh đạo xuất sắc củaĐảng và Nhà nước Trung Quốc quyết định đưa đất nước bước vào thời kỳ cảicách, mở cửa Trong quá trình cải cách, xây dựng hiện đại hoá, các thế hệlãnh đạo của Trung Quốc nhận thức rất rõ tầm quan trọng của KH - KT, điềunày được thể hiện trong quan điểm: “KH - KT là lực lượng sản xuất thứ nhất”[22]; “muốn thực hiện hiện đại hoá phải phát triển KH - KT” [22] Cho nên,cùng với quá trình cải cách thể chế kinh tế, chính trị, Trung Quốc cũng đồngthời tiến hành cải cách thể chế KH - KT để KH - KT phát huy hết vai trò làmũi nhọn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Cho đến nay, Trung Quốc đãthu được rất nhiều thành tựu và những thành công đó đã góp phần to lớn trongcông cuộc hiện đại hoá đất nước

Mặt khác, việc nhận thức, nghiên cứu lịch sử Trung Quốc còn phiếndiện Bởi khi tìm hiểu về công cuộc cải cách ở Trung Quốc từ năm 1978 đếnnay các học giả thường rất quan tâm tới những thành tựu về kinh tế, chính trị

mà rất ít học giả nghiên cứu về thành tựu KH - KT một cách chuyên sâu và có

hệ thống Do đó, vấn đề phát triển KH - KT ở Trung Quốc cũng cần đượcnghiên cứu để bổ sung tư liệu nhằm giúp độc giả có cái nhìn hoàn thiện hơn

về đất nước Trung Hoa

Việt Nam là một quốc gia láng giềng với Trung Quốc, có điểm xuấtphát tương đồng, có nền văn hoá gần gũi Đặc biệt, cả hai cùng có chung conđường xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cùngthực hiện công cuộc cải cách và đổi mới Trong quá trình xây dựng đất nước,Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển KH - KT cùng với phát triểngiáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnhcông nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước Tại Hội nghị lần thứ

Trang 12

hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) tháng 12 năm 1996 đãthông qua nghị quyết quan trọng: Nghị quyết về định hướng chiến lược pháttriển khoa học và công nghệ (KH&CN) trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm

vụ đến năm 2020 Nghị quyết đã khẳng định từ nay đến năm 2020 phải phấnđấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; KH&CN phảitrở thành nền tảng và động lực cho CNH, HĐH đất nước [23, tr 328] Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX đã thông qua nghị quyết về chiến lược phát triểnKH&CN đến năm 2010 là tập trung xây dựng nền KH&CN nước ta theohướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến trongkhu vực vào năm 2010, đưa KH&CN thực sự trở thành nền tảng và động lựcđẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Chính vì thế, những thành công và bài học

về phát triển KH - KT của Trung Quốc sẽ có ý nghĩa gợi mở hết sức to lớnđối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam

Hơn nữa, là giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Kontum, việc

nghiên cứu về sự phát triển KH - KT của Trung Quốc còn phục vụ cho công

tác giảng dạy của bản thân và cung cấp tư liệu cho sinh viên khi học về lịch

sử hiện đại, đặc biệt là lịch sử Trung Quốc hiện đại

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Sự

phát triển khoa học - kỹ thuật ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa từ 1978 đến 2010” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ thuộc chuyên ngành lịch

Trang 13

Cuốn “Trung Quốc xưa và nay” của Lê Giảng đã nêu lên nhiều vấn

đề trong đó có đề cập đến chiến lược phát triển KH - KT của Trung Quốc,đồng thời tác giả cũng trình bày về mục tiêu nghiên cứu kỹ thuật cấp caođến năm 2000, trình bày về 9 khu mở cửa kỹ thuật tiên tiến… Như vậy tácgiả đã có những đóng góp nhất định khi viết về sự phát triển vượt bậc củaTrung Quốc ngày nay Tuy nhiên cuốn sách cũng chưa nêu được các thànhtựu của KH - KT của Trung Quốc Những biện pháp mà Đảng Cộng sản vàNhà nước Trung Quốc đã thực hiện cũng chưa được tác giả trình bày mộtcách có hệ thống

Cuốn “Trung Quốc thành tựu và triển vọng” tập hợp nhiều bài viết tại

cuộc Hội thảo “Trung Quốc - giai đoạn mới trong quá trình cải cách, pháttriển” do Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc phối hợp với hội Hữu nghịViệt - Trung tổ chức ngày 28 tháng 9 năm 1994 Các tác giả đã công bố, đềcập đến nhiều vấn đề trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội Trung Quốctrong những năm gần đây Các công trình nghiên cứu đã khẳng định nhữngthành tựu to lớn về kinh tế - xã hội Trung Quốc đã giành được trong quátrình cải cách, phát triển 15 năm (1978 - 1993), đồng thời cũng đã tìm hiểu,phân tích những vấn đề tồn tại và phương hướng giải quyết Tuy nhiên,thành tựu về KH - KT lại chưa được các tác giả đề cập đến một cách chuyênsâu và hệ thống

Cuốn “Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn

1992- 2010” của TS Nguyễn Kim Bảo đề cập đến một số chương trình và kế

hoạch phát triển KH&CN mang tính chiến lược của Trung Quốc ở thập kỷ 90

và những năm đầu thế kỉ XXI Tuy nhiên những thành tựu cụ thể về KH - KTlại chưa được tác giả đề cập tới

Cuốn “Trung Quốc cải cách mở cửa những bài học kinh nghiệm” do

Nguyễn Văn Hồng chủ biên là sự tập hợp các bài viết của nhiều tác giả về các

Trang 14

khía cạnh khác nhau của Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa Trong

đó, có một số bài viết trình bày về sự phát triển của Trung Quốc trong các lĩnhvực kinh tế, về đầu tư, về chính sách phát triển nông nghiệp, về KH - KT Tuy nhiên những nội dung này được đề cập hết sức ngắn gọn và khiêm tốn.Các vấn đề về quan điểm, về biện pháp để phát triển KH - KT thì chưa được

đề cập đến

Tạp chí Thông tin KH - KT & kinh tế bưu điện, số 11 năm 2007 có bài

“Các tên lửa vũ trụ của Trung Quốc” của Đỗ Kim Bằng trình bày về các tên

lửa Trường Chinh và các sân bay vũ trụ của Trung Quốc Bài viết cũng đãcung cấp một số thành tựu trong lĩnh vực tên lửa vũ trụ, nhưng cũng chưa đềcập đến các thành tựu khác trong lĩnh vực KH - KT của Trung Quốc

Bài “Lý luận Đặng Tiểu Bình với tầm nhìn chiến lược về giáo dục,

khoa học kỹ thuật” của PGS Nguyễn Văn Hồng đã nêu lên một cách khái

quát một số tư tưởng của Đặng Tiểu Bình về vai trò và tầm quan trọng củakhoa học và giáo dục đối với công cuộc cải cách mở cửa, đặc biệt nhấn mạnhđến quan điểm coi trọng “khoa học là sức sản xuất thứ nhất”

Tạp chí Khoa học, công nghệ, kinh tế số 3.2009 có Tổng luận về Khoa

học Trung Quốc 30 năm cải cách Nội dung của bài đề cập đến các hoạt động

khoa học và công nghệ Trung Quốc cũng như những thành tựu trong 30 nămcải cách Ngoài ra còn có một số bài viết in trên tạp chí Hoạt động khoa họccủa Bộ KH&CN số 6.2006 và số 2 2007; một số bài viết in trên tạp chíNghiên cứu Trung Quốc số 7, số 8, số 9 năm 2008

Tóm lại, vấn đề “Sự phát triển của KH - KT ở CHNDTH từ 1978 đến2010” đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập ở nhiều góc độ khác nhau Trongcác tác phẩm, các bài viết của mình, các tác giả mới chỉ đề cập đến một sốkhía cạnh như: điểm qua một số thành tựu về khoa học vũ trụ, trình bày mục

Trang 15

tiêu nghiên cứu kỹ thuật cấp cao của Trung Quốc đến năm 2000, nêu một sốthành tựu trong kỹ thuật nông nghiệp Tuy nhiên, lý luận phát triển KH - KT,biện pháp phát triển KH - KT chưa được các tác giả nghiên cứu và phân tíchmột cách sâu sắc Nhiều thành tựu khác trong KH - KT như kỹ thuật thôngtin, bảo vệ môi trường, KH - KT trong ngành y tế chưa được đề cập đến.Như vậy, vấn đề trên vẫn thiếu vắng một công trình có tính tổng hợp, cho nênviệc nghiên cứu “Sự phát triển của KH - KT ở CHNDTH từ 1978 đến 2010”

là rất quan trọng vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn, nhất làđối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển của khoa học - kỹ

thuật ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

b Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trên 3 phương diện

sau đây:

+ Về nội dung: tập trung nghiên cứu những nhân tố tác động, các chính

sách, biện pháp thúc đẩy sự phát triển KH - KT, cũng như những thành tựu

KH - KT của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ sau khi cải cách

+ Về thời gian: Nội dung trên được luận văn tập trung trong khoảng

thời gian từ 1978 đến 2010 Tuy nhiên, để đảm bảo tính lịch sử trong quátrình nghiên cứu, một số vấn đề trước năm 1978 cũng được chúng tôi đề cậptrong công trình này

+ Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề trên trong

phạm vi của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa phần lục địa Các vùng lãnhthổ mới sáp nhập, hoặc chưa chính thức sáp nhập như HongKong, MaCao,Đài Loan sẽ không được đề cập ở đây

Trang 16

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Luận văn được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu gốc, bao gồm:

- Các văn kiện, văn bản của chính phủ Trung Quốc công bố; các nhànghiên cứu, các công trình khoa học nêu lên các vấn đề liên quan đến đề tài

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng sử dụng nhiều tàiliệu tham khảo như:

- Các bài báo, niên giám thống kê, tài liệu khai thác trên Internet, trêncác trang webs

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi luôn quán triệtphương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn chú trọng phương pháp lịch

sử và phương pháp logic Bằng hệ thống sử liệu đã được phân tích chúng tôicũng sử dụng phương pháp thông kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, lập bảngbiểu để có thể tái hiện một cách chân thực về sự phát triển KH - KT TrungQuốc từ 1978 đến 2010

5 Đóng góp của luận văn

Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển KH - KT ở Trung Quốc từnăm 1978 đến năm 2010, chúng tôi cố gắng tập hợp, xử lí tài liệu theo từngchuyên mục để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài Từ đó góp phầncung cấp nguồn tư liệu trong nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thế giới, đặcbiệt là lịch sử Trung Quốc hiện đại

Nghiên cứu thành tựu KH - KT của Trung Quốc từ 1978 đến 2010,những biện pháp để Trung Quốc đạt được những thành tựu đó chúng ta sẽ

có được bài học kinh nghiệm về tầm quan trọng của việc phát triển KH - KTđối với sự nghiệp phát triển và hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay

Trang 17

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:

Chương 1 Những yếu tố tác động đến sự phát triển của KH - KT

Trang 18

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN

CỦA KHOA HỌC - KỸ THUẬT Ở TRUNG QUỐC TỪ 1978 ĐẾN 2010

1.1 Khái quát sự phát triển của khoa học - kỹ thuật Trung Quốc trước năm 1978

1.1.1 Khoa học - kỹ thuật Trung Quốc trước cải cách mở cửa

Trung Quốc là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Từrất sớm người Trung Quốc đã có những đóng góp cho loài người về KH - KT.Trong thời kỳ Chiến quốc Khảo Công Ký đã ghi lại 6 loại hợp kim đồng,thiếc và cách sử dụng chúng Thời Tây Hán khoảng thế kỷ II TCN, ngườiTrung Quốc đã phát minh ra phương pháp dùng xơ gai để chế tạo giấy Đếnthời Đông Hán lại cải tiến và nâng cao kỹ thuật và đã làm được loại giấy cóchất lượng tốt Từ đó kỹ thuật chế tạo giấy này được phổ biến, sau đó lantruyền sang các nước châu Á khác như: Việt Nam (thế kỷ III) Triều Tiên (thế

kỷ IV) Nhật Bản (thế kỷ V) Đến giữa thế kỷ VIII kỹ thuật giấy của TrungQuốc truyền sang các nước Arập, sau đó truyền sang các nước châu Âu như:Italia (1276), Đức (1320), Hà Lan (1323), Anh (1460)

Từ thế kỷ III, người Trung Quốc lại phát minh ra đồ gốm Đến thế kỷ

XI kỹ thuật làm gốm truyền đến Ba Tư và đến khoảng những năm 1470truyền sang các nước châu Âu

Đến thời nhà Đường, Trung Quốc phát minh ra thuốc nổ, sau đó thuốcsúng được sử dụng để làm vũ khí trong chiến tranh như cầu lửa, pháo, đạnbay các loại vũ khí này không ngừng được cải tiến Vào năm 1132 TrungQuốc đã phát minh ra loại vũ khí hình ống gọi là "hỏa thương" để thiêu cháyquân địch Vào thế kỷ XIII, trong quá trình tấn công Trung Quốc, ngườiMông Cổ học được cách làm thuốc súng của Trung Quốc và đã lan truyền kỹ

Trang 19

thuật này sang các nước Arập, các nước châu Âu Giữa thế kỷ XI, ngườiTrung Quốc đã phát minh ra kim chỉ nam và kỹ thuật in ấn và sau đó đã phổbiến rộng rãi

Như vậy, từ thời kỳ cổ - trung đại, Trung Quốc đã lần lượt xuất hiệnbốn phát minh lớn về KH - KT cho nhân loại và chính họ cũng là ngườisáng tạo ra những tiến bộ trong Toán học và Thiên văn học Với những phátminh và thành tựu đạt được trong thời kỳ này, dân tộc Trung Hoa được xem

là quốc gia tiến bộ về KH - KT vào bậc nhất thế giới Cho đến những năm

60 của thế kỷ XIV, Trung Quốc thực hiện chính sách "bế quan tỏa cảng", do

đó đã ảnh hưởng tới quá trình phát triển KH - KT Sự thất bại trong cuộc

"Chiến tranh thuốc phiện" vào năm 1840 là một minh chứng cho sự yếu kém

về KH - KT quân sự của Trung Quốc dẫn tới hậu quả là đã buộc triều đìnhMãn Thanh phải lần lượt ký các ''Hiệp ước bất bình đẳng" với phương Tâyhết sức nhục nhã

Đến giữa thế kỷ XIX một bộ phận trí thức nhận thức được sự yếu kémcủa đất nước nên tìm đường sang các nước Tây Âu, Hoa Kỳ học tập với khẩuhiệu "khoa học cứu quốc", "giáo dục cứu quốc" nhằm chấn hưng đất nước.Trong số đó học giả Dung Hoằng ở thị trấn Nam Bính - Hương Sơn - QuảngTây trở thành người Trung Quốc đầu tiên tốt nghiệp đại học loại ưu tại Mỹ.Sau đó, từ năm 1872 đến năm 1875 triều đình nhà Thanh lần lượt cử 120thanh thiếu niên sang Mỹ học và đến năm 1905 lại tổ chức cuộc thi đầu tiêncho lưu học sinh trở về nước Những lưu học sinh này đã phát huy đượcnhững kiến thức KH - KT tiên tiến học ở nước ngoài về phục vụ Tổ quốc

Ngày 10 tháng 10 năm 1911 cuộc cách mạng Tân Hợi nổ ra Dưới sựlãnh đạo của Tôn Trung Sơn cuộc cách mạng dân chủ đã xóa bỏ chế độ phongkiến chuyên chế kéo dài hàng nghìn năm và đưa Trung Quốc trở thành nướcCộng hòa Ông cũng là người tiên phong thực hiện chủ trương lấy khoa học

Trang 20

để cứu nước ở Trung Quốc Tuy nhiên, Trung Quốc trước thế kỷ XX vớichính trị bất ổn, điều kiện cơ sở vật chất rất hạn chế do đó KH - KT phát triểnrất chậm Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, "Phong trào ngũ tứ" bùng nổ.Phong trào này đề cao tính dân chủ và khoa học, cho nên KH - KT có nhiềuchuyển biến Ngày 9 tháng 6 năm 1928 chính phủ Quốc dân thành lập ViệnNghiên cứu Trung ương Quốc lập, cơ quan nghiên cứu học thuật cao nhấtTrung Quốc lúc bấy giờ Sau đó, đến tháng 9 năm 1929 thành lập ViệnNghiên cứu Hà Bình Quốc lập Đến năm 1935 cả nước lần lượt xây dựng hơn

70 cơ quan nghiên cứu khoa học Các cơ quan này vẫn duy trì các hoạt độngnghiên cứu khoa học kể cả trong cuộc chiến tranh chống Nhật Đặc biệt, saukhi Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời (năm 1949), nhà nước mới đã bắttay vào xây dựng và phát triển KH - KT trong điều kiện chỉ có hơn 30 cơquan nghiên cứu chuyên ngành, số nhân viên làm KH - KT trong cả nướckhông đến 50.000 người Đến tháng 11 năm 1949, Viện Khoa học TrungQuốc được thành lập Viện trở thành cơ quan nghiên cứu quan trọng và đặtnền móng cho thể chế nghiên cứu khoa học nhà nước sau này Sau đó, TrungQuốc lần lượt thành lập Hiệp hội KH - KT Trung Quốc, Cục Khí tượng TrungQuốc, Bộ Địa chất Quốc gia Từ năm 1949 đến 1965 các ngành của Chínhphủ đều lần lượt thành lập các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành, cơ quan thửnghiệm nghiên cứu từ cấp Trung ương đến các địa phương, kể cả hệ thốngcác trường đại học, cao đẳng Đến năm 1965 cả nước đã có hơn 1.700 cơquan nghiên cứu khoa học, trong đó số người nghiên cứu trong lĩnh vực KH -

KT tự nhiên trong toàn quốc là 2,45 triệu người, nghiên cứu khoa học chuyênnghiệp 12 vạn người [25, tr 11]

Bên cạnh sự phát triển lực lượng nghiên cứu khoa học trong nước,Đảng và Nhà nước Trung Quốc xây dựng, thực thi các chính sách phù hợp đểthu hút lực lượng các nhà khoa học và lưu học sinh du học ở nước ngoài trở

Trang 21

về phục vụ tổ quốc Đến năm 1957, hơn 3000 nhà khoa học đã trở về nướclàm việc, chiếm 50% tổng số học sinh và học giả sinh sống, học tập ở nướcngoài [28, tr 16] Khi trở về Tổ quốc làm việc, phần lớn họ trở thành lựclượng đặt nền móng cho sự phát triển KH - KT Trung Quốc mới và đi tiênphong trong các lĩnh vực nghiên cứu KH - KT mũi nhọn và nhiều ngành khoahọc mới Trong số 233 người mà Viện Khoa học Trung Quốc lựa chọn (saunày gọi là các viện sỹ) thì 2/3 số đó là những nhà khoa học người Trung quốc

ở nước ngoài trở về nước làm việc [28, tr 7] Năm 1956 lịch sử phát triển KH

- KT Trung Quốc bước sang trang mới Đó là vào tháng 1 năm 1956 TrungQuốc ban hành "Quy hoạch triển vọng phát triển KH - KT từ năm 1956 đếnnăm 1967" và đề ra 57 nhiệm vụ lớn với khẩu hiệu "tiến quân vào khoa học".Trong đó, nhiệm vụ quan trọng nhất là đến năm 1962 cần phải xây dựngthành công cơ sở KH - KT mới trên các lĩnh vực năng lượng nguyên tử, điện

tử, chất bán dẫn, tự động hóa, kỹ thuật máy tính, hàng không [28, tr 17] v.v Trên cơ sở hoàn thành trước thời hạn các mục tiêu về "Quy hoạch triển vọngphát triển KH - KT từ năm 1956 đến năm 1967", Chính phủ Trung Quốc lạitiếp tục xây dựng "Cương yếu kế hoạch KH - KT từ năm 1963 đến năm 1972"(gọi tắt là "Quy hoạch 10 năm)

Cuối năm 1958, Ủy ban Kĩ thuật Nhà nước Trung Quốc được thànhlập Các nhà khoa học tự nhiên và các nhà kỹ thuật được động viên, khuyếnkhích sáng chế với khẩu hiệu "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" Nhiều

đề tài nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng phát triển kinh tế, tăngcường quốc phòng đã được hoàn thành xuất sắc Việc Trung Quốc chế tạo vàthử thành công bom nguyên tử (ngày 10 - 10 - 1964) đã phản ánh tiềm lực KH

- KT Trung Quốc lúc bấy giờ Sau một thời gian đầu tư nghiên cứu KH - KT,

từ năm 1949 - 1966 Trung Quốc đã đạt được rất nhiều thành tựu trên các lĩnhvực sau:

Trang 22

Về nông nghiệp: Trung Quốc đã hoàn thành sơ bộ tổng điều tra về thổ

nhưỡng đất canh tác trong toàn quốc Họ cũng thành công trong kỹ thuật chọn

và gây giống cây trồng cũng như việc lựa chọn phương pháp khống chế,phòng trị sâu bệnh

Về công nghiệp: kỹ thuật sản xuất và xây dựng có những bước phát

triển mới trong các ngành luyện kim, dệt, dầu hỏa, hóa chất, chế tạo máy,thủy lợi, thủy điện, giao thông vận tải Trung Quốc đã có thể dựa vào sứcmình thiết kế và xây dựng một số nhà máy lớn, thậm chí bắt đầu xuất khẩumột số thiết bị kỹ thuật hoặc kỹ thuật đồng bộ

Về y tế: Trung Quốc đã thành công trong việc khống chế và xóa sổ

nhiều bệnh truyền nhiễm ác tính, phát triển kỹ thuật bào chế các loại thuốctổng hợp thường dùng và đạt trình độ quốc tế trong lĩnh vực ghép tay, chân

bị bỏng

Về kỹ thuật cao và nghiên cứu cơ bản: Trung Quốc đã đạt được một số

thành quả lớn làm chấn động thế giới như: đã tiến hành thử thành công bomnguyên tử vào năm 1964, tổng hợp nhân tạo thành công Insulin và đây là chấtProtein tổng hợp nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc [8, tr 12]

Những thành tựu tiêu biểu nói trên đã làm tăng thêm sức mạnh, niềmtin để nhân dân Trung Quốc tiếp tục thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nước.Năm 1959 nhà Địa chất học Lý Tứ Quang đã đưa ra lí luận "Đại lục có dầu"đánh bại thuyết " Trung Quốc thiếu dầu" của các học giả phương Tây; năm

1960 nhà Vật lý học Vương Kiềm Xương phát hiện ra chất siêu hạt Năm

1964 trong Báo cáo công tác của Chính phủ Trung quốc, lần đầu tiên Thủtướng Chu Ân Lai đưa ra việc thực hiện "bốn hiện đại hóa" trong các lĩnhvực công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng và KH - KT Do vậy trong thờigian này sự nghiệp KH - KT phát triển rất nhanh Trung Quốc đã xây dựngđược một loạt các sở nghiên cứu trang thiết bị tốt, bồi dưỡng một lượng lớn

Trang 23

đội ngũ nghiên cứu khoa học trình độ cao Đến năm 1965, Trung Quốc cóhơn 1.700 cơ quan nghiên cứu khoa học với 120.000 người làm việc tronglĩnh vực nghiên cứu khoa học trong đó có nhiều nhà khoa học nổi tiếng thếgiới [28, tr 7].

Công cuộc xây dựng CNXH bước đầu thu được những thành tựu hếtsức quan trọng thì cuộc "cách mạng văn hóa vô sản" đã đẩy Trung Quốc vàocảnh hỗn loạn suốt 10 năm “Cách mạng văn hoá” đã gây ra những tổn thấtnặng nề về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và kìm hãm sự phát triển của

KH - KT trong một thời gian dài Phần lớn những người làm công tác nghiêncứu khoa học bị đình chỉ công tác và bị đày đi lao động ở nông thôn hoặctrong các nhà máy Nhiều nhà nghiên cứu khoa học lỗi lạc có những cốnghiến đáng quý cho đất nước cũng bị phủ nhận, bị "đả đảo", nhiều người trong

số họ bị hành hạ đến chết Do đó, công tác nghiên cứu khoa học bị rơi vàotình trạng đình trệ, đặc biệt là trong các lĩnh vực nghiên cứu xã hội và nhânvăn Tuy nhiên việc nghiên cứu KH - KT ở một số ngành mũi nhọn vẫn đượcChính phủ quan tâm như khoa học hạt nhân, khoa học vũ trụ và đã thu đượcmột số thành tựu nhất định trong lĩnh vực này:

Ngày 27 tháng 10 năm 1967, Trung Quốc đã thử thành công tên lửađạn đạo mang đầu đạn hạt nhân Ngày 17 tháng 6 năm 1967 Trung Quốc thửthành công bom kinh khí Từ thử thành công bom nguyên tử đến thử thànhcông bom kinh khí, Mỹ phải qua 7 năm 4 tháng, Liên Xô: 4 năm, Anh: 5 năm

7 tháng, Pháp: 8 năm 6 tháng, trong khi Trung Quốc chỉ mất 2 năm 8 tháng.Tiếp đến ngày 23 tháng 9 năm 1969, Trung Quốc lại thử hạt nhân dưới lòngđất thành công Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Trung Quốc phóng thành công vệtinh địa cầu "Đông phương hồng 1"

Như vậy, KH - KT Trung Quốc từ năm 1978 trở về trước đã trải quanhững bước đi thăng trầm So với sự phát triển KH - KT của thế giới lúc bấy

Trang 24

giờ thì những thành tựu mà Trung Quốc đạt được vẫn còn quá nhỏ bé và cũngchưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1.1.2 Thực trạng khoa học - kỹ thuật Trung Quốc trước cải cách mở cửa

Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, các nước TBCN nói chung đã bước vàothời kỳ phát triển tương đối ổn định Mặc dù những nước này chưa hoàn toàntránh khỏi những cuộc khủng hoảng kinh tế, song vẫn có tiềm lực lớn do ápdụng những thành tựu của cuộc cách mạng KH - KT để phát triển

Ở Đông Á và Đông Nam Á, một số nước và lãnh thổ nhỏ và nghèo vốn

là thuộc địa của các nước đế quốc nhưng do lợi dụng được những nguồn vốn,

kỹ thuật và kịp thời thích ứng với sự phân công lao động quốc tế nên pháttriển rất nhanh và đã trở thành những nước công nghiệp mới Tiêu biểu như:Xingapo, Hồng Kông, Đài Loan có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ khiến cảthế giới phải khâm phục Trong khi đó Trung Quốc lục địa vẫn bị coi là

"người khổng lồ rỗng ruột" với nền kinh tế xã hội chậm phát triển, KH - KTlạc hậu và yếu kém

Sự lạc hậu về KH - KT của Trung Quốc thể hiện ở trình độ chuyênmôn của phần lớn đội ngũ nghiên cứu, trang thiết bị, máy móc, chính sáchđầu tư và công tác quản lí Việc nghiên cứu KH - KT chưa gắn với thực tếnhằm phục vụ phát triển kinh tế, cũng như áp dụng trực tiếp vào sản xuất Thêm vào đó cuộc "cách mạng văn hóa vô sản" với những sai lầm của nó đãđẩy KH - KT của Trung Quốc rơi vào cảnh kiệt quệ hơn Theo các tài liệunghiên cứu cho biết, trình độ chung của trang thiết bị, máy móc tham giavào sản xuất lạc hậu hơn so với các nước tiên tiến từ 15-20 năm, trong một

số lĩnh vực còn lạc hậu hơn nữa như: chế tạo ô tô lạc hậu hơn 40 năm, sảnxuất gang thép và chế tạo cơ khí lạc hậu 25 năm, trình độ thiết kế và sảnxuất động cơ máy bay lạc hậu 25 năm, công nghiệp điện tử lạc hậu 25 năm trong khi đó Trung Quốc mới chỉ nhập và sử dụng chưa đầy 1% thành quả

KH - KT trên thế giới [55, tr 189]

Trang 25

Mặt khác, trước thời kỳ cải cách chủ trương cơ bản của Trung Quốc làlấy chính trị chỉ huy khoa học Những người hết lòng làm khoa học bị xem lànhững phần tử "lạnh lùng", coi nề nếp làm việc tốt là "sai quy luật" Trong

"đại cách mạng văn hóa" nề nếp nghiên cứu khoa học bị phá vỡ hoàn toàn,một số lượng lớn đội ngũ trí thức phải về nông thôn để cải tạo, xuống cácnông trường và điều đó đã gây ra tổn thất lớn về nguồn nhân lực nghiên cứu

KH - KT Theo Cục thống kê của Trung Quốc, trước "đại cách mạng văn hóa"năm 1966 tổng số nhân viên làm nghiên cứu KH - KT tự nhiên có 2.458.000người, trong đó có 16.000 nghiên cứu sinh; 1.130.000 học sinh tốt nghiệp đạihọc (các khoa vật lý, công trình, nông nghiệp, y học) Trong "đại cách mạngvăn hóa" Nhà nước đã sát nhập, di chuyển 106 trường cao đẳng, bãi bỏ 198trường trung cấp, các trường vừa học vừa làm, các trường trung học chuyênnghiệp và các trường trung học chuyên ngành khác cơ bản đều bị xóa sạch.Trong mười năm ấy ít nhất cũng bỏ lỡ mất trên một triệu sinh viên tốt nghiệpđại học và vài triệu học sinh trung cấp [22, tr 8] Điều đó dẫn đến đội ngũ cán

bộ bị thiếu hụt, trình độ thấp, tuổi lại cao, thiếu đội ngũ kế cận Hơn nữaTrung Quốc trước thời kỳ 1978 có gần một tỷ dân mà mỗi năm chỉ chiêu sinhvào đại học khoảng 300.000 người, số lượng sinh viên vào đại học không chỉkém các nước phát triển hàng chục lần mà thậm chí còn lạc hậu hơn so với cảcác nước đang phát triển trong thế giới thứ ba Hơn 1,5 triệu người làm KH -

KT được đào tạo trước cách mạng văn hóa đến lúc này tuy đã có 20 - 30 nămkinh nghiệm công tác, nhưng do chế độ thi cử và chế độ đề bạt không kiệntoàn nên có tới trên 80% số người đó về chức danh vẫn thuộc nhân viên kỹthuật sơ cấp, chỉ có trên 10% thuộc diện kỹ thuật trung, cao cấp Phần lớnnhân viên kỹ thuật cao cấp được đào tạo từ 40 năm trước với độ tuổi trungbình là 60 [22, tr 9] Có thể nói, 10 năm cuộc cách mạng văn hóa làm choviệc đào tạo nhân tài KH - KT bị tổn thất nặng nề Ngoài ra, chế độ giáo dục,

Trang 26

bồi dưỡng và chế độ quản lý cán bộ KH - KT của Trung Quốc lúc bấy giờ vẫnthiếu hẳn một hệ thống đồng bộ Nhân tài chuyên ngành một khi đã phâncông thì thường suốt đời chôn chân tại chỗ, họ bị giới hạn trong "chế độ sởhữu đơn vị" Kết quả là có đơn vị ứ đọng nhân tài nhưng lại có đơn vị thiếunhân tài Tình trạng cơ cấu và phân bố đội ngũ nhân viên khoa học của TrungQuốc chưa hợp lí, điều đó thể hiện rõ nhân viên kỹ thuật ở các ngành là giáodục, kinh tế, y tế chiếm 70% trong tổng số nhân viên chuyên nghiệp toàn quốc;còn nhân viên kỹ thuật về vật liệu mới, năng lượng mới, kỹ thuật sinh vật, yhọc hiện đại, bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được nhu cầu các ngành [17, tr.377] Đặc biệt, số nhân tài kỹ thuật cao cùng nhân tài sáng tạo cái mới theokiểu phức hợp thì thiếu hoàn toàn, số lượng này chỉ chiếm 5,5% trong tổng sốnhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp [17, tr 377] Mặt khác sự bố trí giữa cácngành nghề không đồng đều, nhân tài thuộc các ngành thông tin liên lạc, nôngnghiệp, bảo hiểm, tiền tệ và pháp luật thiếu nghiêm trọng Sự phân bố nguồnnhân lực giữa các khu vực và giữa các tính chất sở hữu không cân đối, nhữngvùng nào có kinh tế phát triển thì lực lượng nhân tài tập trung càng lớn còn ởnhững khu vực kinh tế chậm phát triển thì càng ít Đặc biệt, trong cuộc chiếntranh giành giật nhân tài trên thế giới, Trung Quốc đã mất đi một lượng lớnnhân tài do thiếu thể chế quản lí, cơ chế cạnh tranh và động viên khuyến khích.

Tình trạng thiếu ngân sách, quản lí ngân sách lại cứng nhắc đã làm hạnchế sự phát triển KH - KT của Trung Quốc trước công cuộc cải cách Bộ máynghiên cứu khoa học đều do nhà nước bao cấp, đề mục nghiên cứu do Nhànước vạch ra, mọi phí tổn do Nhà nước chi tiền, kết quả nghiên cứu do mọingười sử dụng không phải trả giá Từ đó đẫn đến bộ máy bị trùng lặp, lựclượng bị phân tán, toàn bộ cơ quan nghiên cứu và nhân viên KH - KT dù côngtác tốt hay xấu đều "ăn chung nồi cơm to" do Nhà nước gánh chịu Theothống kê, năm 1977 kinh phí nghiên cứu khoa học dân dụng cả nước tính gộp

Trang 27

cả 3 khoản phí sự nghiệp, đầu tư xây dựng cơ bản và kinh phí KH - KT (phítổn làm thử sản phẩm mới, phí tổn thí nghiệm trung gian, phí tổn bổ trợ đềmục nghiên cứu khoa học quan trọng) cộng tất cả là 3,3 tỷ NDT, chiếmkhoảng 0,5% tổng sản phẩm công, nông nghiệp; chiếm 2,8% ngân sách chinăm đó Còn các nước thông thường, kinh phí nghiên cứu khoa học chiếm 3-5% tổng sản phẩm công, nông nghiệp [22, tr 17] Như vậy, ta đã thấy rõ kinhphí nghiên cứu khoa học của Trung Quốc kém xa các nước thông thường.Hơn nữa, hàng năm đều phải phân phối ngân sách nghiên cứu khoa học theo

cơ quan, theo đầu người Các phí tổn có thể thực sự dùng để phát triển côngviệc nghiên cứu khoa học là rất ít Các đơn vị nghiên cứu khoa học lại thiếuchế độ sát hạch hoàn chỉnh, nhiều người thiếu trình độ đào tạo vẫn tham giacông tác nghiên cứu khoa học và vẫn có thể sống đàng hoàng Điều này đãdẫn tới cơ cấu bộ máy nghiên cứu KH - KT ngày càng phình to nhưng hiệusuất nghiên cứu khoa học và hiệu suất kinh tế thấp kém Phương thức quản lítheo chế độ bao cấp đã làm cho tư tưởng bình quân chủ nghĩa phát triển mạnh

và không thể phát huy được tính tích cực của đội ngũ những người làmnghiên cứu KH - KT

Trước thực trạng thất thoát nhân tài, sự lạc hậu và thiếu hụt về số lượngcũng như chất lượng đội ngũ làm công tác nghiên cứu KH - KT, lãnh đạoTrung Quốc nhận thức rõ cần phải xây dựng một cơ chế phù hợp về nghiêncứu KH - KT để phát huy tính tích cực và sáng tạo của đội ngũ trí thức khoahọc của Trung Quốc

1.2 Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới

Từ những năm 70, 80 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng KH&CN diễn ramạnh mẽ và tác động đến hầu hết các quốc gia, dân tộc trên thế giới Cuộccách mạng đó được tiến hành trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, côngnghệ, kinh tế và xã hội Sự phát triển vượt bậc của KH - KT được thể hiện

Trang 28

bằng một loạt các cuộc cách mạng nối tiếp nhau như: cách mạng công nghệmới, cách mạng thông tin, các ngành có "hàm lượng" KH - KT cao nó gópphần đẩy nhanh quá trình tự động hóa sản xuất, làm giảm tỷ trọng các ngànhsản xuất vật chất trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, trong đóngành thông tin phát triển mạnh nhất Dưới tác động của cuộc cách mạngKH&CN nền chính trị xã hội các nước tư bản bước sang một giai đoạn mới -giai đoạn tư bản độc quyền Nhà nước và nó trực tiếp tác động vào mọi ngànhkinh tế quốc dân, mọi lĩnh vực xã hội Nền sản xuất xã hội chuyển từ nền vănminh công nghiệp sang thời đại hậu công nghiệp hay văn minh truyền tin.Cuộc cách mạng KH&CN đã đẩy chủ nghĩa tư bản phát triển lên một bướcmới về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quốc tế hóa, khu vực hóa cáctổ chức kinh tế Cũng nhờ ứng dụng những thành tựu mới của KH&CN, cảitiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức

sở hữu và chính sách xã hội mà các nước tư bản tiếp tục phát triển với tốc độmạnh mẽ chưa từng có

Cách mạng khoa học - kỹ thuật cũng làm cho quá trình quốc tế hóa nềnkinh tế diễn ra mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội cũng như các thách thức đối vớitất cả các quốc gia Trong bối cảnh đó, Trung Quốc muốn vươn lên để pháttriển đất nước, khẳng định vị thế của mình thì phải tiến hành cải cách, mởcửa, phải dùng sức mạnh của KH - KT để phát triển kinh tế, quốc phòng

1.3 Công cuộc cải cách, mở cửa và quá trình cải cách thể chế khoa học

-kỹ thuật ở Trung Quốc

Vấn đề cải cách, mở cửa của Trung Quốc được thế hệ lãnh đạo thứ haiđứng đầu là Đặng Tiểu Bình, đưa ra tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XI củaĐảng Cộng sản Trung Quốc vào cuối năm 1978 Đó là kết quả của quá trìnhnhận thức về tình hình cụ thể của đất nước và xu thế phát triển của thời đại.Trong 20 năm trước cải cách (từ 1958 - 1978) nền kinh tế Trung Quốc rơi vào

Trang 29

tình trạng đình trệ, đời sống của nhân dân hết sức nghèo khổ Chính sách "Đạinhảy vọt", "Ba ngọn cờ hồng", "toàn dân làm gang thép", "công xã nhân dân",đặc biệt là cuộc "Cách mạng văn hóa vô sản" đã đẩy dân tộc Trung Hoa vàotình cảnh đói nghèo, lạc hậu Năm 1976 thu nhập quốc dân, sản xuất côngnghiệp và sản xuất nông nghiệp có mức tăng trưởng âm (-2,7%, -2,4% và -0,4%) so với năm 1975 Trong 11 năm (1965 - 1976) thu nhập bình quân củacông nhân thành phố giảm 2,5%, còn thu nhập của nông dân trung bình theođầu người mỗi năm tăng không đến 1 nhân dân tệ [16; tr 15] Tình hình đólàm cho niềm tin của nhân dân vào đường lối chính sách cũ của Đảng bị suygiảm nghiêm trọng Vai trò của Trung Quốc trên trường thế giới cũng bị giảmsút và cô lập với thế giới bên ngoài.

Mặt khác, trong thời đại mà KH&CN phát triển như vũ bão thì lợi thế

về nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân công rẻ ngày càng ít tác dụngđối với nhịp độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia Điều này cũng tạo rathách thức nhất định đối với Nhà nước Trung Quốc trong quá trình thay đổinhận thức, tiến hành cải cách thể chế kinh tế để tiếp tục xây dựng và pháttriển đất nước theo định hướng XHCN, nhưng phù hợp xu thế phát triển củathời đại trong bối cảnh chủ nghĩ xã hội (CNXH) trên thế giới ngày càng lâmvào tình trạng lạc hậu, trì trệ và khủng hoảng

Đặng Tiểu Bình, người lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước TrungQuốc nói: nền kinh tế của các nước XHCN phát triển chậm chạp chủ yếu là

do thể chế cứng nhắc, thể chế kinh tế của Trung Quốc là thể chế theo mô hìnhcứng nhắc không thích hợp với đòi hỏi của lực lượng sản xuất xã hội Muốnphát triển lực lượng sản xuất mà cứ dựa vào thể chế kinh tế trước đây thìkhông giải quyết được vấn đề, lối thoát là cải cách [54; tr 192] Như vậy, chỉ

có cải cách, xác lập thể chế kinh tế mở cửa, cạnh tranh một cách hòa bình thìmới có thể nhanh chóng chắp nối được thị trường trong nước với thị trường

Trang 30

thế giới, nền kinh tế XHCN mới có được bước phát triển mới trên cơ sở phâncông lao động quốc tế và cạnh tranh thị trường thế giới Mục tiêu cải cách thểchế kinh tế của Trung Quốc là xác lập thể chế kinh tế thị trường XHCNhướng ra thế giới Từ năm 1979 đến 1992, thể chế kinh tế của Trung Quốcđược điều chỉnh và cải cách theo hướng thị trường ngày càng sâu sắc Sảnxuất nông nghiệp về cơ bản do thị trường điều tiết có sự chỉ đạo theo chínhsách và kế hoạch của Nhà nước Trong sản xuất công nghiệp, phần kế hoạchpháp lệnh của nhà nước chỉ chiếm hơn 10% tổng giá trị sản lượng; tuyệt đại

bộ phận hàng tiêu dùng công nghiệp và một bộ phận tư liệu sản xuất đã được

tự do kinh doanh; trong tổng ngạch hàng hóa bán lẻ đã có khoảng 70% do thịtrường điều tiết giá Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa là điều kiện đểthực hiện công cuộc hiện đại hóa đất nước Mà muốn kinh tế đất nước tiến lênthì phải dựa vào KH - KT Nhận thức được vai trò to lớn của khoa học trong

sự phát triển nền sản xuất xã hội của đất nước Trung Quốc tiến hành cải cáchthể chế kinh tế song song với cải cách thể chế nghiên cứu KH - KT Triệu TửDương đã vạch rõ: "Để tiến hành xây dựng bốn hiện đại hóa càng đón chờcuộc cách mạng kỹ thuật mới, không thể không cải cách thể chế KH - KT”.Ông còn khẳng định: “nay đã đến lúc phải đưa việc cải cách thể chế KH - KTvào chương trình nghị sự chậm nữa sẽ hỏng việc” [22, tr 1] Việc cải cáchthể chế KH - KT ở Trung Quốc được thực hiện theo hướng từng bước xã hộihóa, tăng cường mối quan hệ giữa các bộ môn nghiên cứu khoa học với cácđơn vị sản xuất, từng bước xây dựng mô hình thể liên hợp kỹ thuật - kinh tế,chỉnh đốn và điều chỉnh các đơn vị nghiên cứu khoa học độc lập từ cấp địakhu, thành phố trở lên Ngày 18 tháng 3 năm 1978, tại Đại hội khoa học toànquốc, Đặng Tiểu Bình đưa ra khẩu hiệu “KH - KT là sức sản xuất” và đặt ranền tảng cho KH - KT hướng vào xây dựng kinh tế [13, tr 45]

Trang 31

Vào cuối tháng 12 năm 1980, Trung Quốc triệu tập Hội nghị công tác

KH - KT toàn quốc đưa ra phương hướng phát triển KH - KT Sau Hội nghị,vào ngày 23 tháng 2 năm 1981, Ủy ban KH - KT Nhà nước (UBKHKTNN)

đã đề ra “đề cương hội báo phương châm phát triển KH - KT” Ngoài việc đề

ra phương châm “phát triển KH - KT phải kết hợp với xây dựng kinh tế”,UBKHKTNN còn yêu cầu cải cách thể chế KH - KT phải chú trọng nắm chắccác công tác sau:

- Tăng cường nghiên cứu KH - KT của xí nghiệp;

- Xúc tiến kết hợp đơn vị nghiên cứu KH - KT với các đơn vị sản xuất;

- Chỉnh đốn cơ cấu nghiên cứu khoa học;

- Cải tiến quản lý kinh phí nghiên cứu khoa học

Tháng 11 năm 1982, Đặng Tiểu Bình đã nói, cải cách thể chế quản kýđội ngũ KH - KT là “vấn đề bức thiết nhất hiện nay", ông còn nói phải thànhlập một cơ cấu quyền lực vừa nắm nghiên cứu khoa học dân dụng vừa nắm

KH - KT quốc phòng để phá bỏ cái khuôn chế độ sở hữu theo bộ môn, xúctiến sử dụng hợp lý lực lượng KH - KT Quốc Vụ viện dựa vào đó đã thànhlập “Tổ lãnh đạo KH - KT Quốc Vụ viện” vào tháng 1 năm 1983 Đây là cơquan đi đầu cải cách thể chế KH - KT do Triệu Tử Dương làm tổ trưởng Đểthực hiện việc cải cách thể chế KH - KT, Trung Quốc đã tiến hành cải cáchthí điểm ở trên 500 đơn vị Mở đầu là việc sửa chế độ chi tiêu kinh phí sựnghiệp của các đơn vị nghiên cứu khoa học thành chế độ hợp đồng có đền bù.Ngay sau đó Trung Quốc lại tổ chức Hội nghị tọa đàm cải cách thể chế KH -

KT toàn quốc tại Hà Bắc Ngoài việc chỉ rõ “cải cách thể chế KH - KT cầnđược tiến hành, không cải cách sẽ không có lối thoát” thì Hội nghị còn đề racải cách ở 5 mặt sau:

Một là: Các đơn vị nghiên cứu khoa học làm công việc phát triển kỹ

thuật và công việc ứng dụng, thực hành chế độ hợp đồng có đền bù

Trang 32

Hai là: Thực hành chế độ Quỹ nghiên cứu khoa học trong một số lĩnh

vực nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng

Ba là: Tổ chức một cách phổ biến ở mọi nơi các thể liên hợp nghiên

cứu khoa học-sản xuất liên ngành, liên nghề, liên bộ môn, liên địa phương đểrút ngắn chu kỳ sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế của các thành tựu nghiêncứu khoa học

Bốn là: Cải cách thể chế KH - KT ở nông thôn.

Năm là: chọn một số thành phố và ngành nghề để làm thí điểm cải cách

thể chế KH - KT [22, tr 15-16]

Kết hợp với cuộc cải cách này, Trung Quốc đã xây dựng một vài mẫuđơn vị thí điểm để dựa vào đó mở rộng ra và đã thu được những kết quả banđầu, điển hình như: Ủy ban KH - KT tỉnh Cát Lâm từ đầu năm 1985 bắt đầuthực hiện thử chế độ công khai chiêu mộ hạng mục KH - KT, khuyến khíchnhân viên KH - KT tự do lựa chọn các hạng mục nghiên cứu khoa học, tăngthêm sức sống cho đơn vị nghiên cứu khoa học Biện pháp mới quy định cáchạng mục KH - KT công khai chiêu mộ sẽ theo chế độ khoán kinh phí Saukhi hoàn thành hạng mục theo hợp đồng, kinh phí tiêu quá mức sẽ không bù,tiêu chưa hết sẽ được hưởng, nhân viên KH - KT nào có cống hiến đột xuấtthì sẽ được thưởng một tỷ lệ nhất định trong số kinh phí dư ra Uỷ ban KH -

KT của Tỉnh còn bảo đảm cho các đơn vị thí điểm cải cách cơ cấu nghiên cứukhoa học được ưu tiên tuyển chọn trong điều kiện chiêu mộ như nhau Đồngthời còn đề xướng các đơn vị nghiên cứu khoa học, các trường, viện và đơn vịsản xuất liên hợp ứng mộ Các hạng mục chiêu mộ đợt đầu năm này có 26khoản, bao gồm 48 đề mục như chọn giống mới cho cây trồng, phát triển kỹthuật chăn nuôi, phát triển kỹ thuật nguồn đặc sản, nghiên cứu kỹ thuật côngnghiệp mới Kết quả, tỉnh này đã có 151 đơn vị nghiên cứu khoa học đề nghịứng mộ

Trang 33

Một ví dụ điển hình khác như: Trung tâm nghiên cứu hệ thống điều tốccục đường sắt Cáp Nhĩ Tân đã đột phá khuôn cũ “tiền Nhà nước lo, đơn vịnghiên cứu khoa học thuần túy”, nay đơn vị này đã liên hợp với xưởng cơ khíĐông An, lấy nghiên cứu khoa học làm chính, đồng thời tăng cường lực lượngsản xuất bộ phận giảm tốc Trung tâm này còn liên hợp với trường Đại họcCông nghiệp Cáp Nhĩ Tân, vừa có lý luận vừa có nhân tài, tập trung sức lại đểvượt cửa ải Đồng thời họ còn triển khai phục vụ kỹ thuật, đưa nhu cầu của các

hộ sử dụng vào phạm vi phục vụ nghiên cứu khoa học của đơn vị mình, rútngắn chu kỳ ứng dụng để mở rộng các thành tựu nghiên cứu khoa học, nhanhchóng hình thành sản xuất mới, tiến lên mở rộng phạm vi kinh doanh Từ thiết

kế phương án ứng dụng hệ thống điều tốc tới chỉ đạo lắp ráp tại hiện trường,bảo quản hàng ngày và cung ứng thiết bị, phối kiện đều thực hiện khoán theophương thức hợp đồng có đền bù Nhờ thế, Công ty này đã thu được nhiều lợinhuận Sau đó họ đã tiến hành cải cách thể chế KH - KT, bãi bỏ 11 khoa,phòng, thực hiện toàn diện chế độ khoán đề mục, mở rộng quyền tự chủ đềmục, thực hiện đề mục hạch toán độc lập, đả phá “ăn chung nồi cơm to”, đảphá xếp hàng cán bộ theo tư thâm, đả phá chế độ giữ chức suốt đời, khiến nhânviên KH - KT có cơ hội phát huy tài trí thông minh của mình

Công cuộc cải cách thể chế KH - KT của Trung Quốc thu được nhiềuthành tựu nhưng cũng gặp không ít khó khăn Đầu năm 1985 chính phủTrung Quốc đã bắt đầu làm bản dự thảo cải cách thể chế KH - KT, đến tháng

3 đã mở Hội nghị công tác KH - KT toàn quốc tại Bắc Bình để thảo luận vấn

đề cải cách thể chế Tại hội nghị, Đặng Tiểu Bình trình bày văn kiện “Quyếtđịnh cải cách thể chế KH - KT” do Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương chủ trìsoạn thảo Mục đích cải cách là để giải phóng sức sản xuất, bao gồm nhữngnội dung:

Trang 34

Một là: “Chấn hưng kinh tế, thực hiện 4 hiện đại hoá là trọng tâm của

mọi công tác của toàn Đảng và nhân dân toàn quốc Công tác KH - KT phảiphục vụ trọng tâm này Thực hiện phương châm chiến lược xây dựng kinh tếdựa vào KH - KT hướng về xây dựng kinh tế, tôn trọng quy luật phát triển của

KH - KT, xuất phát từ thực tế, tiến hành cải cách thể chế KH - KT một cáchkiên quyết và theo thứ tự từng bước"

Hai là: Cải cách chế độ cấp kinh phí của cơ cấu, dựa theo đặc điểm

khác nhau của các hoạt động KH - KT khác nhau để thực hiện phân loại quản

lý kinh phí, có nghĩa là từ nay phải tăng dần lên cao hơn tốc độ tăng trưởngthu nhập thường xuyên của ngành tài chính Đối với cơ quan làm công tácphát triển, nhiên cứu ứng dụng kỹ thuật sẽ phải từng bước áp dụng chế độ hợpđồng kỹ thuật, kinh phí sự nghiệp hàng năm sẽ giảm Đối với cơ quan nghiêncứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, một phần thực hiện chế độ quỹ KH - KT

Cơ quan làm việc công ích và làm công tác nghiên cứu phục vụ KH - KTđược áp dụng chế độ khoán kinh phí Sự thay đổi này sẽ kích thích được sứcsống của các đơn vị nghiên cứu khoa học

Ba là: Xúc tiến “thương phẩm hoá” các thành tựu KH - KT, phát triển

thị trường kỹ thuật để thích ứng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá XHCN.Sửa đổi cách làm chuyển nhượng không có đền bù thành tựu KH - KT đơnthuần theo thủ đoạn hành chính, tích cực phát triển nhiều hình thức hoạt độngmậu dịch kỹ thuật như chuyển nhượng thành tựu kỹ thuật, khoán kỹ thuật, cốvấn kỹ thuật, phụ vụ kỹ thuật Giá cả thành tựu kỹ thuật do hai bên giao dịchbàn định, thu nhập đều miễn thuế, đồng thời có thể lấy ra một phần để thưởngnhững người trực tiếp làm công tác phát triển

Bốn là: Điều chỉnh cơ cấu tổ chức hệ thống KH - KT, khuyến khích sự

liên hợp của cơ cấu nghiên cứu, giáo dục, thiết kế với các đơn vị sản xuất,nâng cao năng lực tiếp thu kỹ thuật của xí nghiệp và năng lực phát triển

Trang 35

Khuyến khích viện Khoa học Trung Quốc, các cơ quan nghiên cứu cao cấp vàtrực thuộc các bộ, các uỷ ban liên hợp theo nhiều hình thức với các xí nghiệp,các cơ quan thiết kế dựa theo nguyên tắc tự nguyện cùng có lợi Cơ quannghiên cứu KH - KT quốc phòng cũng phải hướng vào xây dựng kinh tế, triểnkhai nghiên cứu làm hàng dân dụng.

Năm là: Cải cách thể chế KH - KT nông nghiệp, làm cho nó phù hợp

với việc điều chỉnh kết cấu kinh tế nông thôn, thúc đẩy kinh tế nông thônchuyển biến theo hướng chuyên nghiệp hoá, thương phẩm hoá, hiện đại hoá.Đối với các hạng mục quan trọng phát triển kỹ thuật nông nghiệp hoặc hạngmục phát triển khu vực, phải phá bỏ sự hạn chế về bộ môn và địa phương,thực hành công khai chiêu mộ, chọn nơi ưu việt để giao việc Cơ quan khoahọc nông nghiệp từ cấp tỉnh trở lên và trường nông nghiệp cao cấp phải tăngcường hợp tác với nhau, tiến hành công tác nghiên cứu phát triển sớm mộtbước Áp dụng chế độ khoán kỹ thuật gắn bó hiệu quả kinh tế với thù lao Cơcấu KH - KT nông nghiệp còn thực hiện chế độ khoán kinh phí, từng bước sẽđạt tới chỗ tự cấp kinh phí sự nghiệp

Sáu là: Bố trí hợp lý có chiều sâu đối với việc nghiên cứu khoa học để

bảo đảm chắc chắn sức lực kế tiếp của sự phát triển kinh tế và KH - KT Tăngcường nghiên cứu ứng dụng, làm cho công tác nghiên cứu cơ bản tiếp tụcphát triển một cách ổn định Chọn các đề mục hy vọng thu được hiệu qủa lớn

để tập trung nhân vật lực một cách có trọng điểm, tranh thủ đạt được thànhquả có tính chất đột phá

Bảy là: Mở rộng quyền tự chủ của cơ quan nghiên cứu, cải thiện việc

quản lý toàn cục của cơ cấu chính phủ đối với công tác KH - KT Ngoài đềmục nghiên cứu do Nhà nước giao và các viện trưởng, sở trưởng do cấp trênbổ nhiệm hoặc mời nhận chức ra, việc quản lý kế hoạch, kinh phí, nhân sự vàkết cấu tổ chức nội bộ đều do cơ quan nghiên cứu tự chủ, quyết định trong

Trang 36

phạm vi pháp lệnh quy định của Nhà nước Sở nghiên cứu áp dụng chế độ sởtrưởng phụ trách, mở rộng thích đáng quyền hạn của tổ trưởng đề mục Đảngđoàn phải thông qua công tác chính trị, tư tưởng để bảo đảm và giám đốc việnquán triệt các phương châm Quốc vụ viện cũng phải giao quyền, cải thiệntrình tự ra quyết định của công tác KH - KT.

Tám là: Mở cửa với bên ngoài, hướng ra thế giới là một chính sách cơ

bản lâu dài phát triển KH - KT Đặt việc nhập kỹ thuật vào vị trí quan trọng,các đặc khu và thành phố ven biển phải lợi dụng điều kiện có lợi mà trở thànhkhu vực đi trước tiên tiến trong nhập kỹ thuật Tích cực triển khai giao lưuhọc thuật quốc tế, phái thêm các nghiên cứu sinh đi du học, tích cực phát triển

hệ thống kiểm nghiệm mang tính quốc tế, kịp thời nắm chắc hướng phát triểnmới nhất

Chín là: Cải cách chế độ quản lý nhân viên KH - KT nhằm bồi dưỡng

được nhiều nhân tài, tận dụng tài năng của mọi người phục vụ cho sự pháttriển KH - KT Người đi trước có trách nhiệm dẫn dắt người đi sau, ủng hộthanh niên tài giỏi vượt lên Chọn nhân viên KH - KT ưu tú đảm nhiệm cácchức vụ lãnh đạo, xúc tiến luân chuyển hợp lý nhân tài Điều kiện công tác,sinh hoạt của nhân viên KH - KT phải tích cực được cải thiện, thực hiện khenthưởng vật chất và khen thưởng tinh thần khi cần thiết, bảo đảm tự do tìm tòitrong học thuật, tự do thảo luận, phản đối lạm dụng thủ đoạn hành chính canthiệp vào tự do học thuật [22, tr 26-31]

Đây được coi là giai đoạn mở đầu của quá trình cải cách thể chế KH

-KT, đánh dấu sự “cởi trói” đối với ngành KH - KT Tuy nhiên, để hoàn thiệnthể chế, trong quá trình thực hiện Đảng và Nhà nước Trung Quốc còn phảitiếp tục tiến hành cải cách sâu hơn để KH - KT phát huy hết vai trò của mìnhtrong quá trình phát triển đất nước

Trang 37

Năm 1992, Quốc Vụ viện Trung Quốc quyết định tiếp tục cải cách sâuhơn thể chế KH - KT, với hai quan điểm chỉ đạo: Một là, biến xí nghiệp trởthành chủ thể tiếp nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;khuyến khích chuyển đổi viện nghiên cứu ứng dụng và thiết kế thành doanhnghiệp, khuyến khích doanh nghiệp lớn và trung bình xây dựng và kiện toàntrung tâm KH&CN trong doanh nghiệp Hai là, tổ chức lại hệ thống nghiêncứu phát triển gắn với sản xuất Tinh thần chủ đạo trong giai đoạn này là “ổnđịnh một đầu, thả cửa một mảng” “Ổn định một đầu” là chỉ “đối với bộ máynghiên cứu cơ bản, nghiên cứu tính công ích không giảm hoặc không giảmthiểu kinh phí sự nghiệp nghiên cứu khoa học”; cái gọi là “thả cửa một mảng”

là chỉ “đối với cơ cấu nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu với khai phát, khuyếnkhích họ hướng tới thị trường, thực hiện chuyển nhượng có hoàn lại thành quả

KH - KT, hoặc mở công ty,… [26, tr 542]

Từ năm 1997 đến 1999, Trung Quốc tiến hành chuyển đổi một số việnnghiên cứu Quốc Vụ viện đã quyết định chuyển 242 viện nghiên cứu thànhdoanh nghiệp thuộc 10 bộ Kết quả là việc chuyển đổi lần này có 131 việnchuyển thành doanh nghiệp, 40 viện thành doanh nghiệp KH&CN, 18 Việnthành đơn vị dịch vụ tư vấn, 24 viện chuyển vào trường đại học hoặc các bộkhác với tư cách bộ phận nghiên cứu trực thuộc, 29 viện chuyển vào 12 tổngcông ty lớn do Trung ương quản lý [25, tr 42]

Từ năm 2000 đến nay là giai đọan thay đổi cấu trúc hệ thống nghiên

cứu và phát triển Giai đoạn này được thực hiện với 3 nguyên tắc: Một là, Nhà

nước tập trung kinh phí đầu tư cho một số tổ chức nghiên cứu thuộc lĩnh vực

Nhà nước cần phát triển ở trình độ cao Hai là, tăng cường sáng tạo KH&CN,

đẩy nhanh chuyển hóa thành quả khoa học Ba là, phục vụ phát triển kinh tế

-xã hội, tôn trọng quy luật thị trường và khuyến khích cạnh tranh Tháng5/2000, qua kinh nghiệm chuyển đổi 242 viện, Bộ KH&CN đề nghị phương

Trang 38

án tiếp tục chuyển đổi toàn diện, kể cả các viện trực thuộc Quốc Vụ viện.Tháng 7/2000, Bộ KH&CN cùng 6 bộ khác ban hành Thông tư chuyển 134viện còn lại của các bộ ngành khác trở thành xí nghiệp Trong đó có 85 việnchuyển vào thành 45 đơn vị nghiên cứu và phòng thí nghiệm trong 21 xínghiệp [25, tr 42].

Như vậy, những nội dung cải cách mà Trung Quốc đã đề ra và thựchiện đã làm thay đổi một cách tích cực lề lối làm việc, chính sách, những quyđịnh liên quan đến sự phát triển KH - KT Mục đích của Trung Quốc nhằmtạo động lực cho KH - KT phát triển, phát huy vai trò là sức sản xuất thứ nhấtphục vụ kinh tế, xã hội và quốc phòng, nâng cao vị thế của dân tộc trêntrường quốc tế Vì thế có thể nói rằng, trong quá trình thực hiện công cuộc cảicách đất nước trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, Trung Quốc cũng đồng thời tiếnhành cải cách thể chế KH - KT Đến lượt nó, KH - KT lại tác động tích cực,tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, góp phần thành công trong công cuộchiện đại hóa Trung Quốc

1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Trung Quốc về khoa học - kỹ thuật

Trong quá trình cải cách, mở cửa xây dựng đất nước tiến theo conđường XHCN mang “đặc sắc Trung Quốc”, Đảng và Nhà nước phải xây dựng

hệ thống lý luận mới, trong đó có lý luận về phát triển KH - KT làm kim chỉnam soi đường cho những bước đi chiến lược tiến quân vào xây dựng kinh tế,xây dựng CNXH thành công

Xuất phát từ xu thế phát triển của thời đại KH - KT và thực tiễn pháttriển đất nước, Trung Quốc đã đưa ra những quan điểm lý luận sáng tạo đúngđắn về vị trí của KH - KT trong lực lượng sản xuất Năm 1975, khi chủ trìcông việc hàng ngày của Trung ương, Đặng Tiểu Bình đã vạch ra rằng, khoahọc kỹ thuật là lực lượng sản xuất, nhân viên khoa học kỹ thuật là người laođộng Cách nhìn nhận trí tuệ đó đã đem lại sinh khí mới để Trung Quốc hồi

Trang 39

sinh phát triển, đồng thời cũng thu hút được cả một đội ngũ đông đảo trí thứckhoa học đang bị nghi ngờ, coi thường, thậm chí bị đày đọa ở nông thôn,trong các công trường trở về hoạt động nghiên cứu, cống hiến cho ngành KH

- KT [18] Đến năm 1978, tại lễ khai mạc Đại hội khoa học toàn quốc, ĐặngTiểu Bình lại vạch ra rằng, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất xãhội, sự nâng cao năng suất lao động, điều chủ yếu nhất là dựa vào lực lượngkhoa học, lực lượng kỹ thuật [18] Năm 1988, Đặng Tiểu Bình khái quát mộtcách sâu sắc thành một mệnh đề mới: “khoa học - kỹ thuật là lực lượng sảnxuất thứ nhất”, đó là sự kế thừa luận điểm của C.Mác và phát triển luận điểmcủa C.Mác lên một tầm cao mới [18] Điều này phản ánh vị trí của KH - KTtrong tình hình mới và đối với công cuộc xây dựng hiện đại hóa Trung Quốc.Khoa học kỹ thuật cần phải lấy việc tăng cường dịch vụ kinh tế, thúc đẩy sảnphẩm hóa các thành quả KH - KT, mở rộng thị trường kỹ thuật làm phươngchâm và chính sách, thúc đẩy sản xuất phát triển Khi nhấn mạnh vai trò của

KH - KT, Đặng Tiểu Bình cũng đã nêu lên vai trò của giáo dục đối với sựphát triển của KH - KT: “Muốn thực hiện hiện đại hóa, phải phát triển KH -KT” Nhưng “phát triển KH - KT, không nắm giáo dục không được Nóisuông không thể thực hiện hiện đại hóa, cần phải có tri thức, có nhân tài,không có nhân tài làm sao mà tiến lên được” [18] Năm 1992, trong bài nóichuyện tại Miền Nam, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh: “Tôi nói KH - KT là lựclượng sản xuất thứ nhất, vài chục năm gần đây KH - KT trên thế giới pháttriển rất nhanh! Mấy năm nay không có KH - KT chúng ta có tăng trưởngđược nhanh như vậy không? Phải khuyến khích khoa học, dựa vào khoa họcthì mới có tiền đồ” Liên quan đến mệnh đề KH - KT là lực lượng sản xuấthàng đầu, Đặng Tiểu Bình đã đề ra một loạt tư tưởng chiến lược, như “TrungQuốc muốn phát triển thì phải dựa vào khoa học”, thực hiện hiện đại hóa

“mấu chốt là khoa học kỹ thuật”, chúng ta phải lấy thành quả KH - KT tiên

Trang 40

tiến trên thế giới làm khởi điểm phát triển của mình, “phải tiến thêm mộtbước giải quyết vấn đền kết hợp khoa học kỹ thuật với kinh tế”… [18].

Khẳng định “khoa học là sức sản xuất thứ nhất”, cho nên trong quátrình phát triển KH - KT, Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã đưa ra nhiềuquan điểm nhằm định hướng cho công tác KH - KT Trong Hội nghị toànTrung Quốc về KH - KT tại Bắc Kinh từ ngày 8 đến 10 tháng 3 năm 1988,với sự có mặt của hơn 400 nhà khoa học, kỹ sư và đại diện các bộ và cơ quanQuốc Vụ viện CHND Trung Hoa, Thủ tướng Lý Bằng đã nêu lên quan điểm:chỉ có dựa vào tiến bộ KH - KT bao gồm cả việc quản lý khoa học, tiên tiến,Trung Quốc mới có thể nâng cao rõ rệt hiệu quả kinh tế, tăng sản xuất vàthoát khỏi nhanh chóng sự nghèo nàn và lạc hậu Việc đẩy nhanh tiến bộ KH -

KT ở Trung Quốc không chỉ là điều cực kỳ quan trọng, mà còn là việc hoàntoàn có thể thực hiện được Đồng thời ông cũng nêu lên chủ trương của Đảng

và Nhà nước là cần phải tăng cường và đi sâu cải cách thể chế quản lý KH

-KT Bởi vì, KH - KT cần phải và tiếp tục được hướng vào xây dựng kinh tế,còn xây dựng kinh tế cần và sẽ phải dựa vào tiến bộ KH - KT Vấn đề trungtâm của cải cách là phải gắn chặt KH - KT với xây dựng kinh tế, chỉ trongmối liên kết với kinh tế thì vai trò của KH - KT mới thể hiện đầy đủ, mới cóthể phát triển Mặt khác, Thủ tướng cũng nêu lên quan điểm là cần phải vạch

rõ đầy đủ vai trò của những người làm công tác KH - KT công trình [49] Bởi

vì họ không chỉ là những người chịu trách nhiệm về sự tiến bộ của KH - KT

mà cả về việc áp dụng những kết quả lao động của mình vào sản xuất Độingũ những người làm công tác KH - KT công trình của các xí nghiệp là mộtlực lượng hùng hậu, vai trò của họ trong việc đảm bảo cho xí nghiệp hoạtđộng bình thường, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra các sản phẩm mới,giảm mức hao phí, ứng dụng công nghệ mới trong việc tìm tòi sáng tạo là rất

to lớn

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thế Anh (2007), Báo cáo chính trị Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII: Xây dựng xã hội với cải thiện dân sinh là trọng điểm, Nghiên cứu Trung Quốc, số 9 - trang 33 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII: Xây dựng xã hội với cải thiện dân sinh là trọng điểm
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 2007
2. Bản tin Trung Quốc, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam - tháng 1/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin Trung Quốc
3. Nguyễn Kim Bảo (2003), Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc, (1999 - 2010), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc, (1999 - 2010)
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
4. Georges TAN EHC BOK, việc hiện đại hóa nền quốc phòng của Trung Quốc và những giới hạn của nó, Tạp chí Despeense nationale, nai 1978 (bản dịch tại Thư viện Quân đội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: việc hiện đại hóa nền quốc phòng của Trung Quốc và những giới hạn của nó
5. James C. Bussert (người dịch: Phi Hùng), Trung Quốc theo đuổi tác chiến chống ngầm, Tạp chí Mỹ "Signal", tập 59, số 3, tháng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Signal
6. Đỗ Minh Cao (2008), Năng lượng tái sinh ở Trung Quốc, Nghiên cứu Trung Quốc số 6 - 2008, tr 3 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lượng tái sinh ở Trung Quốc
Tác giả: Đỗ Minh Cao
Năm: 2008
7. Đỗ Minh Cao (2005), Chiến lược năng lượng của Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI, Nghiên cứu Trung Quốc số 5 - 2005; tr 25 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược năng lượng của Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Đỗ Minh Cao
Năm: 2005
8. Chắp thêm đôi cánh cho dân tộc Trung Hoa bay lên, nhìn lại 50 năm sự nghiệp khoa học kỹ thuật Trung quốc, Bản tin Trung Quốc; số 1.2000, tr 3 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chắp thêm đôi cánh cho dân tộc Trung Hoa bay lên, nhìn lại 50 năm sự nghiệp khoa học kỹ thuật Trung quốc
9. Nguyễn Xuân Cường (2007), Quan điểm phát triển khoa học - Điểm nhấn lý luận của Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nghiên cứu Trung Quốc số 9 - 2007, tr 3 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm phát triển khoa học - Điểm nhấn lý luận của Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Xuân Cường
Năm: 2007
10. Giang Trạch Dân- Lý Bằng (1992), Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, NXB Sự thật - Hà Nội 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc
Tác giả: Giang Trạch Dân- Lý Bằng
Nhà XB: NXB Sự thật - Hà Nội 1992
Năm: 1992
11. Đặng Tiểu Bình Văn tuyển (tập III), Nhân dân xuất bản - 1993 (tiếng Trung) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Tiểu Bình Văn tuyển
12. Đẩy nhanh cải cách thể chế khoa học kỹ thuật, xúc tiến chuyển hoá thành quả khoa học kỹ thuật, Nhân dân nhật báo, ngày 24-4-1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy nhanh cải cách thể chế khoa học kỹ thuật, xúc tiến chuyển hoá thành quả khoa học kỹ thuật
13. Đề cương học tập lý luận của đồng chí Đặng Tiểu Bình về xây dựng Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc , NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương học tập lý luận của đồng chí Đặng Tiểu Bình về xây dựng Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
14. Lê Giảng (2005), Trung Quốc xưa và nay, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc xưa và nay
Tác giả: Lê Giảng
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2005
15. Nguyễn Hoàng Giáp, Những thành tựu của Trung Quốc trên hành trình phát triển công nghệ vũ trụ, Nghiên cứu Trung Quốc số 4 - 2002, tr 4 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của Trung Quốc trên hành trình phát triển công nghệ vũ trụ
16. Lưu Kim Hâm (2004), Trung Quốc - thách thức nghiêm trọng của thế kỷ XXI, NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc - thách thức nghiêm trọng của thế "kỷ XXI
Tác giả: Lưu Kim Hâm
Nhà XB: NXB Văn hóa - thông tin
Năm: 2004
17. Nguyễn Minh Hằng (1995), Cải cách kinh tế ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lựa chọn mới cho sự phát triển, NXB Khoa học xã hội, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách kinh tế ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lựa chọn mới cho sự phát triển
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
18. Nguyễn Văn Hồng, Trung Quốc với tầm nhìn chiến lược về giáo dục, khoa học kỹ thuật và đào tạo nhân tài, Thông tin khoa học xã hội, số 3.2005, tr 5 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với tầm nhìn chiến lược về giáo dục, khoa học kỹ thuật và đào tạo nhân tài
19. Nguyễn Văn Hồng (2008), Văn hoá Trung Quốc trên con đường mở cửa phát triển hội nhập - Tiếp cận tư duy và nhận thức , Nghiên cứu Trung Quốc, số 5. 2008, tr 49 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Trung Quốc trên con đường mở cửa phát triển hội nhập - Tiếp cận tư duy và nhận thức
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Năm: 2008
20. Nguyễn Văn Hồng (2003), Trung Quốc cải cách mở cửa những bài học kinh nghiệm, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc cải cách mở cửa những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w