Tác phẩm là công trình tổng hợp những thành tựu nghiên cứu của các học giả NhậtBản và nớc ngoài nhằm lý giải, phân tích đánh giá những vấn đề chính tronglịch sử Nhật Bản: Những đặc trng
Trang 1Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
TS Phạm Ngọc Tân - ngời đã gợi ý đề tài và tận tâm hớng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khoá luận.
Tôi cũng nhận đợc sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Lịch sử, nhất là các thầy cô trong tổ Lịch sử thế giới.
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn thầy hớng dẫn các thầy cô giáo, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành khoá luận này.
Vinh, tháng 5 năm 2005 Tác giả
Trang 2Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Nhật Bản ngày nay là một siêu cờng về kinh tế của thế giới Sự pháttriển của Nhật Bản đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều học giảquốc tế, trong đó có các nhà khoa học Việt Nam Tuy nghiên cứu dới nhiềugóc độ khác nhau nhng kết quả của các công trình khoa học thực sự là những
đóng góp có giá trị trong việc nâng cao hiểu biết về con ngời và xã hội NhậtBản, cũng nh về nguyên nhân của sự “ thần kỳ ” Nhật Bản Đi sâu nghiên cứutìm hiểu những vấn đề kinh tế - xã hội Nhật Bản, ngời ta nhận thấy một đặc
điểm nổi bật là xã hội Nhật Bản hiện đại có mối liên hệ hết sức chặt chẽ vớinhững yếu tố truyền thống Có thể nói rằng trong lịch sử Nhật Bản yếu tốtruyền thống luôn luôn đợc phát huy và đó cũng là nét đặc trng trong lịch sửNhật Bản là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Minh Trịduy tân và là động lực tác động trực tiếp đến khuynh hớng phát triển của NhậtBản ngày nay
Từ những phát hiện ấy các nhà khoa học càng chú ý hơn đến mối liên
hệ có tính lịch đại giữa các giai đoạn trong tiến trình lịch sử Trong quá trình
đi sâu nghiên cứu về kinh tế, xã hội Nhật Bản, ngời ta đã đi đến kết luận rằng:những chuyển biến có tính chất bớc ngoặt trong thời kỳ cận đại hoá và hiện
đại hoá, phần lớn bắt nguồn từ những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội đã đ ợchình thành từ thời Tôcgaoa (1603 - 1867) Bởi vì đây không chỉ là thời kỳ pháttriển cuối cùng và cao nhất của chế độ phong kiến Nhật Bản mà nó còn là thời
kỳ tạo ra những tiền đề về kinh tế, xã hội hết sức quan trọng cho sự chuyểnmình nhanh chóng của Nhật Bản từ xã hội phong kiến sang xã hội t bản từ nửasau thế kỷ XIX
Thời kỳ Tôcgaoa, Nhật Bản trong điều kiện hoà bình thống nhất, hầuhết các lĩnh vực đều có bớc phát triển rõ rệt, đặc biệt là kinh tế Những chuyểnbiến trong lĩnh vực kinh tế đã dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu xã hội củaNhật Bản Ranh giới đẳng cấp trong xã hội bị lu mờ dần, sự cách biệt giữatừng đẳng cấp ngày càng giảm bởi sự chi phối của nền kinh tế hàng hoá - tiền
tệ Những chuyển biến theo xu hớng trên là cơ sở cho sự thành công của NhậtBản trong công cuộc duy tân thời Minh Trị Ngợc lại dới tác động của côngcuộc cải cách Minh Trị, xã hội Nhật Bản đã có những chuyển biến có tính chất
Trang 3bớc ngoặt, đa Nhật Bản phát triển theo con đờng t bản chủ nghĩa, đem lạinhững thay đổi kỳ diệu cho đất nớc này Chỉ trong gần 50 năm, Nhật Bảnkhông chỉ đã xoá bỏ những hiệp ớc bất bình đẳng mà Mạc Phủ Tôcgaoa đãtừng ký kết với các cờng quốc Phơng Tây mà còn trở thành cờng quốc ở châu
á Những thay đổi mang tính cách mạng ấy đã kéo theo sự chuyển biến vềmặt cơ cấu xã hội Những giai cấp và tầng lớp cũ của xã hội phong kiến khôngcòn tồn tại mà thay vào đó là những giai cấp và tầng lớp mới của xã hội hiện
tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé công sức của mình vào việc tìm hiểu đấtnớc Nhật Bản trong vòng hơn 3 thế kỷ (1603-1912)
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Từ rất sớm, Nhật Bản đã là đối tợng thu hút sự quan tâm nghiên cứu củacác học giả trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Từ đầu thế kỷXVII để phục vụ cho việc truyền đạo, các giáo sĩ phơng Tây đã bắt đầunghiên cứu về Nhật Bản Việc nghiên cứu Nhật Bản ngày càng đợc chú ý hơntrong những thế kỷ tiếp theo Đã có nhiều công trình, bài viết đề cập đến hàngloạt khía cạnh khác nhau của đất nớc này Trong các tác phẩm đó có thể kể
đến tác phẩm "Nhật Bản cận đại" của Vĩnh Sính xuất bản năm 1991 Tác
phẩm là công trình tổng hợp những thành tựu nghiên cứu của các học giả NhậtBản và nớc ngoài nhằm lý giải, phân tích đánh giá những vấn đề chính tronglịch sử Nhật Bản: Những đặc trng của Nhật Bản, những di sản chính trị, kinh
tế của nớc này trớc Minh Trị duy tân, những cải cách nào đã đa Nhật Bản lênhàng đầu các cờng quốc khoảng 50 năm sau đó
Tác phẩm "Lịch sử Nhật Bản" dài 3 tập của GEORGE SANSOM do Lê
Năng An dịch và đợc xuất bản năm 1995, trong đó tập 3 là cuốn sách trìnhbày về sự phát triển chính trị, xã hội của nớc Nhật kể từ thời Ieyasu - đạinguyên soái đầu tiên của dòng họ Tôcgaoa
Trong cuốn "Cơ cấu xã hội Nhật Bản" của Fukutake Takadashi xuất
bản năm 1991 đã khái quát sơ lựơc về một số giai cấp và tầng lớp trong giai
đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Khi cuộc cải cách Minh Trị diễn ra làm cho xã hội Nhật Bản thay đổinhanh chóng, thực trạng đó đã thu hút đông đảo giới nghiên cứu cả trong vàngoài nớc Nhật Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu ra đời theo khuynh h-ớng ngợi ca công cuộc cải cách
ở Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ, sau phong trào Đông Du thấtbại, vì nhiều lý do khác nhau nên công việc nghiên cứu Nhật Bản cha đợc pháttriển Sau năm 1986, dới tác động của đờng lối đổi mới, việc nghiên cứu NhậtBản ở Việt Nam đã có nhiều khởi sắc Một số cuốn sách khảo cứu về NhậtBản hoặc các bài viết nghiên cứu về Nhật Bản lần lợt ra đời, trong đó tác phẩm
"Lịch sử Nhật Bản" của nhóm tác giả Phan Ngọc Liên, Đinh Ngọc Bảo là
cuốn sách bao quát nhất về lịch sử Nhật Bản Đặc biệt gần đây nhất, tác giảNguyễn Văn Kim với nhiều công trình nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế,
chính trị – xã hội, văn hóa - giáo dục dới thời kỳ Edo nh : Nhật Bản với“
châu á - những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế – xã hội ”, Vị thế“
kinh tế của tầng lớp Samurai ở Nhật Bản thời kỳ Tôcgaoa ”, hay Thời kỳ“
Trang 5Tôcgaoa và những tiền đề cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản hiện đại”… trong đó lớn nhất là công trình luận án tiến sĩ "Chính sách đóng cửa của Nhật Bản dới thời Tôcgaoa - nguyên nhân và hệ quả" đã đợc in thành sách năm
2000 Trong công trình này tác giả đã có nhấn mạnh đến những chuyển biếnkinh tế xã hội dới thời Tôcgaoa
Tất cả những tài liệu trên là cơ sở để chúng tôi tiến hành hệ thống hoá
để triển khai đề tài "Sự chuyển biến cơ cấu xã hội Nhật Bản từ thời kỳ gaoa đến thời kỳ Minh Trị (1603 - 1912)"
Tôc-3 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
3.1 Nguồn tài liệu.
Đề tài này đợc tiến hành trên cơ sở tiếp thu các nguồn tài liệu của NXBCTQG, NXB khoa học xã hội, NXB VHTT, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh,các tạp chí NCNB…và một số tài liệu nớc ngoài đã đợc dịch sang tiếng Việt
3.2 Phơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng tôi chọn phơngpháp phân tích tổng hợp, phơng pháp logic lịch sử để làm phơng pháp nghiêncứu cho khoá luận của mình
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp so sánh, đối chiếu,thống kê … để đi đến từng kết luận cụ thể
Trang 64 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của đề tài.
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tìm hiểu sự chuyển biến cơ cấu xã hội Nhật Bản từ
1603-1912 tức từ thời kỳ xác lập của chế độ Mạc Phủ Tôcgaoa đến khi kết thúc thời
kỳ Minh Trị Đây là thời kỳ lịch sử để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử NhậtBản cận đại và là cơ sở cho sự phát triển của lịch sử Nhật Bản hiện đại
4.2 Giới hạn nghiên cứu.
- Trên cơ sở tìm hiểu thiết chế bộ máy hành chính và cơ cấu giai cấpcủa xã hội Nhật Bản trong các thế kỷ XVII - XVIII, chúng tôi đã nghiên cứuquá trình chuyển biến cơ cấu giai cấp của xã hội Nhật Bản đầu thế kỷ XIX
- Chúng tôi nghiên cứu cải cách Minh Trị dới góc độ là tác động của
nó đối với cơ cấu xã hội
- Chúng tôi mới chỉ có điều kiện nghiên cứu sự chuyển biến của các giaicấp cơ bản trong xã hội Nhật Bản nh :giai cấp phong kiến, nông dân cũng nh sự
ra đời và phát triển của hai giai cấp của xã hội hiện đại là giai cấp t sản và côngnhân mà cha có điều kiện để đi sâu tìm hiểu những tầng lớp và giai cấp khác nhtầng lớp quý tộc t sản hoá, giai cấp t sản, tầng lớp trí thức …
Nếu có điều kiện chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung những vấn đềcòn lại
Là sinh viên do trình độ còn hạn chế nên khi nghiên cứu đề tài này,
chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu sâu, kỹ, về mọi khía cạnh của vấn đề
Do hạn chế về thời gian nên chúng tôi cha thể tiếp cận đợc tất cả các t liệu cầnthiết Bởi vậy nghiên cứu đề tài này chúng tôi sẽ không tránh khỏi những thiếusót, rất mong đợc sự đóng góp và nhận xét của thầy, cô giáo và các bạn
5 Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của khóaluận gồm có 2 chơng:
Chơng 1: Cơ cấu xã hội Nhật Bản thời kỳ Tôcgaoa (1603 - 1867) Chơng 2: Cơ cấu xã hội Nhật Bản thời kỳ Minh Trị (1868 - 1912)
Phần nội dung
Ch ơng 1:
Cơ cấu xã hội Nhật Bản thời kỳ Tôcgaoa (1603 - 1867)
1.1 Thiết chế bộ máy hành chính của Nhật Bản thời kỳ Tôcgaoa.
Trang 7Lịch sử Nhật Bản nửa sau thế kỷ XVII đã ghi dấu những sự kiện vôcùng quan trọng Năm 1600, lãnh chúa vùng Edo là Ieyasu Tôcgaoa bằng tài
mu lợc quân sự và ngoại giao, đã đánh bại liên minh đối thủ gồm hơn 40 lãnhchúa khác trong trận Sekigahara để thiết lập nên chính quyền của dòng họTôcgaoa Năm 1603, Ieyasu đợc Thiên hoàng phong chức Shogun( tớngquân ) Thời kỳ Tôcgaoa (1603 - 1867) còn đợc gọi là thời kỳ Edo theo tên gọinơi đặt phủ tớng quân
Ra đời trong hoàn cảnh đất nớc vừa trải qua tình trạng nội chiến cát cứliên miên, bởi vậy mục tiêu hàng đầu của chính quyền Tôcgaoa là thực hiệncác biện pháp nhằm ổn định tình hình chính trị xã hội, xây dựng chính quyềnphong kiến vững mạnh để có thể tồn tại và phát triển lâu dài, tránh cho đất nớckhỏi nạn nội chiến, tình trạng cát cứ và tránh cho dòng họ Tôcgaoa khỏi họamất quyền hoặc vô quyền nh các Mạc phủ trớc đó
Nh đã biết, ngay từ 1598 (trớc khi qua đời), với mục đích củng cố chínhquyền trung ơng ngăn ngừa cát cứ, Hiđêyôsi đã thiết lập một cơ quan lãnh
đạo tối cao, gồm 5 vị đại thần (Tairô) là:
Đối với Thiên hoàng và những ngời kế tục ông trong triều đình ở Kyôtô,Tôcgaoa vẫn tiếp tục duy trì chính sách của các Mạc phủ trớc đây: một mặt,nâng cao uy tín danh nghĩa của Thiên hoàng, mặt khác khống chế và táchThiên hoàng ra khỏi Daimyô để tránh sự liên kết nhằm khôi phục thực quyềncủa nhà vua , đồng thời ngăn cản các Daimyô biến Thiên hoàng thành ngọn cờtập hợp lực lợng
Trang 8Thiên hoàng sống ở Kyôtô chỉ thực hiện vai trò, chức năng nh một tếtửu tối cao của đạo Shinto Giới quý tộc xung quanh Thiên hoàng thuộc triều
đình Kyôtô đợc gọi là "Kuge" hoàn toàn không có ruộng đất Các "Kuge"nhận lơng bổng bằng thóc gạo, không phải từ Thiên hoàng mà từ Mạc phủ
Điều đó đã khiến cho "Kuge" không có đợc sức mạnh chính trị và kinh tế vàtriều đình Thiên hoàng hoàn toàn phụ thuộc vào Mạc phủ Tình trạng này kéodài cho tới tận cách mạng 1868
Chính quyền của Mạc phủ Tôcgaoa không đóng ở Kyôtô mà đóng ởEdo (Tôkyô ngày nay) là trung tâm của miền Đông và vùng đồng bằngKantô của Nhật Nơi đây chính là chỗ dựa căn bản của dòng họ Tôc gaoatrong cuộc đấu tranh giành quyền lực trớc và sau trận Sekigahara Tình trạnghai chính quyền song song tồn tại : Chính quyền Thiên hoàng ở Kyôtô vàchính quyền Mạc phủ ở Edo - kéo dài hơn 2,5 thế kỷ cho đến tận cách mạng1868
Cơ sở của chế độ phong kiến Tôcgaoa đợc xây dựng dựa trên lãnh địacủa các Daimyô (lãnh chúa) đợc gọi là "Han" Có khoảng trên dới 260 Hannhng lại nằm rải rác khắp cả nớc Chính vì vậy mà chế độ thống trị là thể chếBaku - Han Baku nghĩa là Bakufu (Mạc phủ), Han là lãnh địa của cácDaimyô Chính sự lãnh đạo tài giỏi, cơng quyết cùng với những chính sáchmang tính thống nhất cao của các Shogun Tôcgaoa trong thời kỳ đầu làIeyasu (1600 - 1616), Hidetada (1616 - 1623) và Iemitsu (1623 - 1651) đã xâydựng và hoàn thiện các thể chế phong kiến mạc phiên vững chắc, tạo điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa Từ đó, bộ máy hành chính đợcthiết lập và hoàn chỉnh dần dần, để trở thành bộ máy chuyên nghiệp thờngtrực kể từ thời Shogun thứ 3 là Iemitsu Cấu trúc của bộ máy hành chính đó,
về cơ bản, nó bao gồm các cơ quan sau:
1- Viện Tairo (Nguyên lão Nghị Viện) do các lãnh chúa thân tín, dòngdõi thế tập và trung thành nhất nắm giữ Trong thời kỳ Hideyoshi cầm quyền
có năm vị Nguyên lão nh vậy (Go - Tairo) Nhng dới thời chính quyền Bakufu ởEdo số lợng giảm xuống còn 3 vị (năm 1633) rồi xuống 2, cuối cùng chỉ còn
có một Các thành viên của Viện Tairo thờng là những ngời có năng lực, họcùng tớng quân thảo luận và quyết định các chính sách quan trọng Trong tr-ờng hợp tớng quân khi lên nắm quyền còn nhỏ tuổi thì Viện Tairo có thể giữ
Trang 9chức vụ Nhiếp chính.Việc bổ sung các thành viên mới vào Viện này khôngtheo định kỳ, mà chỉ khi cần thiết Những ngời đợc chọn thờng là các lãnhchúa (Fundai) có tài sản không dới 100.000 koku.
2- Viện Roju: Trớc đây là ban Shitsusho, đến năm 1634, đứng trớc nhữngvấn đề mới phát sinh, nó đợc mở rộng thành Viện Roju Viện Roju vừa có chứcnăng t vấn vừa có chức năng cai trị Dới thời Ieyasu chỉ có 2 ngời trông nomViện này, nhng dới thời Hidetada và Iemitsu, số ngời chủ chốt trong Viện lêntới 5 ngời, sau đó rút xuống còn 4 Sau khi mở rộng (1634), có một đạo luật đãquy định rõ chức năng của Viện này cơ bản nh sau:
- Giữ mối quan hệ với nhà vua, với triều đình và với hoàng thân
- Kiểm soát các lãnh chúa có tài sản từ 10.000 koku trở lên
- Soạn thảo và ban bố các văn kiện chính thức
- Kiểm tra công việc nội bộ của phủ đại nguyên soái
- Đúc tiền vàng và bạc
- Trông nom các công trình công cộng
- Theo dõi việc cấp thái ấp
- Kiểm soát các tu viện và đền chùa
- Vẽ bản đồ và các biểu đồ khác
Bốn thành viên chủ chốt trong Viện luân phiên nhau thờng trực mỗingời một tháng Họ quan hệ với đại nguyên soái thông qua các quan chứcSoba - Yônin, tức là các viên thị thần gần gũi nhất với đại nguyên soái ViệnRoju có các Ban, Phòng, Hội đồng Các võ sĩ (quân nhân) có uy tín có thể đợctrao nhiệm vụ làm một phần việc nào đó trong Viện
3- Viện Hyojosho: Là hội đồng xét xử gồm có ngời thuộc Viện Roju vàmột số phái viên (Bugyo) đại diện cho chính quyền điều hành Bakufu Cụ thể
là có những phái viên của thành phố (Machi - Bugyô), phái viên của các tuviện và đền chùa (Jisha - Bugyô), các viên tổng thanh tra hay các quan chức loviệc kiểm duyệt Viện Hyojosho vừa có chức năng xét xử vừa có chức năngcai trị Có thể coi Viện này nh Tối cao pháp viện
Trang 10Dới các viện này là các quan chức đợc giao những nhiệm vụ đặc biệt
nh các chức quan Wakadoshiyori, ÔMetsuke, Jisha Bugyô, Yedo Machi Bugyô, Kanjo - Bugyô và các quan chức khác ở địa phơng
-Wakadoshiyori là chức danh đợc đặt ra lần đầu năm 1634 Đây là quanchức giúp việc cho Roju Năm 1634, sau khi Ban Shitsusho đợc mở rộng thànhViện Roju thì chức năng của các quan chức Wakadoshiyori cũng đợc chínhthức quy định ở Viện Roju, số này có khoảng từ 4 đến 6 ngời, họ có chứctránh kiểm tra công việc của các đội quân bảo vệ hatomoto; công việc củanhững thợ thủ công và thầy thuốc; thanh tra việc xây dựng các công trình côngcộng và các dinh thự; điều hòa hoạt động của các quan chức làm việc trongcác pháo đài lớn ở Kyôtô, Ôsaka, Suruga và các nơi khác Họ còn theo dõihoạt động của các quan chức địa phơng có thu nhập khoảng dới 10.000 koku
Từ năm 1662 trở về trớc, các quan chức Wakadoshiyori đợc bổ nhiệm khôngtheo định kỳ
Ô-Metsuke là chức danh của các viên tổng thanh tra hoặc các quanchức phụ trách việc kiểm duyệt, họ còn có cả nhiệm vụ do thám và theo dõihoạt động của các lãnh chúa khác Họ chịu trách nhiệm trực tiếp trớc ViệnRoju Trong Viện Roju có 4 Ô-Metsuke, dới quyền những ngời này còn có 16ngời giúp việc gọi là Metsuke, họ cũng chịu trách nhiệm trớc cả quan chứcWakadoshiyori Họ có chức năng theo dõi hoạt động của cơ quan bảo vệhatamoto
Jisha - Bugyô là các phái viên, có khoảng 4 ngời chịu trách nhiệm theodõi hoạt động của các cơ sở tôn giáo
Yedo Machi - Bugyô cũng là các phái viên, gồm có 2 ngời chịu tráchnhiệm theo dõi việc cai trị các thành phố, bộ máy cảnh sát và tòa án
Kanjo - Bugyô là chức danh chỉ các quan chức thanh tra tài chính, có 4ngời thanh tra cả công việc quản lý trong lãnh địa của họ Tôcgaoa Họ còn cóchức năng xét các đơn khiếu tố của 8 tỉnh miền Kantô
Các tổ chức chính quyền ở địa phơng đợc tổ chức theo khuôn mẫu bộmáy hành chính trung ơng, chịu sự điều hành trực tiếp của tớng quân (ở vùng
đất thuộc quyền sở hữu của tớng quân) Tuy vậy, ở địa phơng vẫn có các quancai trị do chính quyền Yedo bổ nhiệm ở mỗi địa phơng có 4 quan chức gọi là
Trang 11Gundai trông coi các thái ấp của họ Tôcgaoa ở một số tỉnh quan trọng Còn cókhoảng 40 - 50 quan chức khác gọi là Daikan, cũng là phái viên của chínhquyền, có nhiệm vụ trông coi các tài sản khác của đại nguyên soái Tôcgaoa.
Nh vậy, ta thấy rằng bộ phận này có vai trò gia thần nhiều hơn là một quanchức hành chính quốc gia
Ngoài ra còn có các viên chỉ huy các pháo đài, có chức vị gọi là Jôdai,Oska, Kyôtô, Sumpu
Tổ chức chính quyền địa phơng với nghĩa hẹp thờng là những ngờitrông nom việc quân sự ở các thành phố, việc xét xử ở các tỉnh phụ cận kinh
đô ở các thành phố quan trọng khác cũng có các phái viên gọi là Bugyô, nhNagasaki, Yamada, Nara và Nikkô Các chức vụ này thờng do các lãnh chúaIudai hoặc các sĩ quan ở các đội bảo vệ hatamoto đảm nhiệm Các lãnh chúaTozama không ai đợc giao việc trong chính quyền địa phơng
Bên cạnh việc tổ chức bộ máy hành chính ngày càng chặt chẽ và luôn
có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế, chính quyền Mạc phủ gaoa còn rất chú trọng đến việc phân tầng xã hội nhằm duy trì sự lãnh đạo tốicao đối với mọi tầng lớp xã hội
Tôc-1.2 Cơ cấu giai cấp ở Nhật Bản TRONG CáC THế Kỷ XVII – XVIII. XVIII.
Xã hội Nhật Bản thời kỳ Tôcgaoa xét về mặt cơ cấu giai cấp đợc xâydựng trên tinh thần đẳng cấp của Nho giáo (Tống nho), theo thứ tự từ trênxuống, từ cao đến thấp có 4 thành phần là: sĩ (shi), nông (nò), công (ko), th-
ơng (sho) "Sĩ" ở đây là võ sĩ, tức là samurai, khác với ở Trung Quốc, ViệtNam, "sĩ" tức là những ngời tri thức
Trang 12có hai loại ch hầu trực tiếp là Hatamoto (kỳ bản) và Gokenin (ngự gia nhân).
"Trong số 6.000 hatamoto thời Tôcgaoa có khoảng 60 ngời đợc coi là ch hầu cao cấp có danh vị là Koke và Kotai - Yoriai Số còn lại cũng đợc chia làm hai là Yushoku (có việc làm) và Musshoku (thất nghiệp) Yushoku bao gồm hai loại là Yakugata (võ sĩ dân sự) và Bangata (võ sĩ) Gokenin, những ngời làm công việc phục vụ Mạc phủ cũng bao gồm nhiều thang bậc khác nhau”
[11, 381] Không chỉ Shogun mới có ch hầu trực tiếp mà bản thân các Daimyô
và Hatamoto cũng có một loại ch hầu trực tiếp riêng gọi là Baishin (bồi thần).Tại các lãnh địa Daimyô cũng có nhiều loại bề tôi của mình, trong số đó cónhững ngời có địa vị cao nhất là Ichimon và thấp nhất là Ashigaru ở một sốHan, đặc biệt là những Han của các lãnh chúa giàu có thì sự phân chia cấp bậccòn phức tạp hơn nhiều
Ngoài ra còn có Kyoshi (võ sĩ quê) và Ronin (võ sĩ vô chủ) Trong tầnglớp võ sĩ quan hệ Mạc phủ - lãnh chúa (Daimyô) có vị trí đặc biệt quan trọng
đối với hệ thống thiết chế chính trị - xã hội thời Mạc phủ Tôcgaoa Để duy trìquyền lực lãnh đạo độc tôn, chính quyền Tôcgaoa đã thi hành biện pháp kiểmsoát khống chế các Daimyô bằng việc phân chia họ thành những bậc địa vịkhác nhau để từ đó có chính sách riêng cho phù hợp Căn cứ vào tiêu chuẩn là
ai đứng về phía mình trớc khi trận Sekigahara (1600) kết thúc, Tôcgaoa chiacác Daimyô ra làm 3 loại, đó là:
Một là: Các Shimpan (thân phiên) bao gồm các Daimyô có quan hệ họhàng thân thích với tớng quân Có khoảng trên dới 20 Daimyô thuộc loại này,
đợc Shogun đặc biệt tin cậy Đứng đầu các Shimpan Daimyô là các "Gosanke"(ngự tam gia - ba nhà lớn) Nguyên là khi Tôcgaoa Ieyasu đợc Thiên hoàngphong chức Shogun đã thiết lập ngành con trởng Edo, kế nghiệp chức Shogun
và lấy 3 xứ Owari, Kii và Mito chia cho 3 ngành con thứ làm lãnh địa, đ ợcquyền thế tập, thụ hởng đất phong nên gọi là Gosanke (ngự tam gia) Ba Hannày án ngự ở những vị trí chiến lợc, giúp việc bảo đảm an ninh cho Edo vàkiểm soát trực tiếp các lãnh chúa ch hầu, đồng thời cũng là nơi chọn ngời nốinghiệp chức Shogun trong trờng hợp ngành trởng ở Edo không có ngời kế vị
Họ đợc hởng những đặc quyền to lớn "Mito ở phía bắc Edo đợc quyền quản
lý một lãnh địa rộng lớn có thu nhập tơng đơng với 350.000 koku thóc Owari nằm ở giữa Edo và Kyôtô, tại vùng đồng bằng Nagoya có mức thu 619.000
Trang 13koku Kii án giữ phía tây nam Kyôtô với trung tâm là Wakayama và cũng có thu nhập 555.000 koku" [11, 266].
Hai là: Fundai Daimyô (phổ đại) gồm khoảng 145 lãnh chúa, họ vốn là
đồng minh của tập đoàn Tôcgaoa từ trớc năm 1600 Mặc dù số lợng đông
nh-ng Fundai thờnh-ng là các lãnh chúa nhỏ, tổnh-ng thu nhập của họ khoảnh-ng 6.700.000koku Các Fundai Daimyô cũng đợc Shogun tin cậy nhng không bằngShimpan Daimyô
Lãnh địa của Shogun, các Shimpan Daimyô và Fundai Daimyô thờng ởmiền Đông của Nhật Bản, ở vùng kinh đô và những vị trí quan trọng nhất của
đất nớc, tạo thế vững chắc cho chính quyền Mạc phủ Các quan lại cao cấptrong bộ máy chính quyền Mạc phủ đều đợc tuyển chọn trong các bộ phậnDaimyô này
Loại Daimyô thứ ba gọi là Tozama Daimyô (ngoại dạng) gồm 97 lãnhchúa Đây chính là các Daimyô chống lại Tôcgaoa Ieyasu trớc và trong trậnSekigahara hoặc chỉ chịu thuần phục Tôcgaoa Ieyasu sau khi bị đánh bại.Những lãnh chúa này sống tập trung ở phía Bắc hoặc miền Tây Nhật Bản CácTozama Daimyô vốn là những dòng họ lớn, có thế lực về chính trị và kinh tế,
họ cũng giàu mạnh không kém gì các Shimpan và Fundai Daimyô Tổng thunhập của các lãnh chúa ngoại dạng lên tới 9.800.000 koku Tuy vậy, họ bịMạc phủ phân biệt đối xử nh là các đối tợng cạnh tranh thờng xuyên và nguyhiểm Lãnh địa của các Tozama Daimyô khá lớn nhng chủ yếu nằm ở phíaTây Nhật Bản, vị trí này cách xa vùng trung tâm chiến lợc của chính quyền.Vì thế, để dể bề kiểm soát, các lãnh địa của Fundai Daimyô đợc đặt xen kẽvới lãnh địa của các Tozama Daimyô Tại các vùng có nhiều lãnh địa củaTozama Daimyô, Mạc phủ cho xây dựng các pháo đài và giao việc cai quảncác công việc liên quan đến chính quyền trung ơng cho các Han khác, để ngănngừa các Tozama Daimyô thiết lập liên minh chống Mạc phủ Mặt khác, đểlàm suy yếu thế lực của các lãnh chúa Tozama, nhất là sau chiến thắngSekigahara (1600 - 1602), chính quyền Mạc phủ đã tịch thu hoàn toàn hoặcthu hẹp lại nhiều lãnh địa của các lãnh chúa Tozama và di chuyển chỗ ở của
họ Những biện pháp trên đây của chính quyền Mạc phủ đã làm suy yếu vềthế lực và đảo lộn về cuộc sống của các lãnh chúa Tozama Số lãnh chúaTozama ngày càng bị Fundai Daimyô và ch hầu Hatamoto lấn át Thậm chí
Trang 14những việc làm đó còn kéo theo hệ quả là võ sĩ ch hầu "mất chủ" biến thànhRonin.
Tuy về bề ngoài, chính quyền Mạc phủ đối xử với họ theo đúng nghi lễ,nhng thực chất là không trọng dụng họ Các lãnh chúa Tozama không đợc bổnhiệm vào các chức vụ trong bộ máy hành chính và buộc phải tuân thủ cácquy định của chính quyền đề ra nh mức trọng tải tàu thuyền, giới hạn quy môthái ấp, tài sản Ngoài ra, họ còn bị chính quyền chi phối thông qua các nghĩa
vụ hàng năm nh tu sửa thành Edo và các pháo đài quan trọng, bắc cầu, đắp ờng
đ-Nh vậy, chính sách của chính quyền Tôcgaoa tiến hành đối với lãnhchúa Tozama ngày càng nghiêm ngặt nhằm khống chế họ trong vòng c ơngtoả của mình
"Sự phân loại các hàng lãnh chúa có thể ví nh là, đối với chính quyền thì Shimpan làm tai mắt, Fundai làm tay chân và Tozama là đối tợng cần phải theo dõi, thận trọng" [25].
Trong xã hội, tầng lớp võ sĩ đợc hởng rất nhiều đặc quyền, đặc lợi và nó
đợc phân chia theo các thang bậc, vị trí của tầng lớp này Vợt lên trên tất cả làShogun (tớng quân) Shogun chiếm 1/4 đất đai của cả nớc, với lãnh địa ởnhững vị trí chiến lợc là đồng bằng màu mỡ, đồng thời là chủ sở hữu nhiềunguồn tài nguyên và trực tiếp điều hành các hoạt động kinh tế ở các thành phốlớn nh Edo, Kyôtô, Osaka, Nagasaki Các lãnh chúa nắm 2/3 đất đai của cảnớc và quy mô của từng lãnh địa đợc tính theo sản lợng gạo thu hoạch, nhỏnhất là khoảng 10.000 koku và lớn nhất là khoảng 50.000 đến 100.000 koku.Các lãnh địa có quyền tự trị riêng, luật pháp riêng và các quan chức hànhchính cũng kiêm nhiệm vai trò lực lợng vũ trang ở các lãnh địa Chính quyềnTôcgaoa không can thiệp vào công việc nội bộ của các lãnh địa Tuy nhiên đểlàm giảm sức mạnh quân sự, kinh tế của các lãnh chúa, ngăn ngừa mối đe dọacho chính quyền trung ơng, Mạc phủ đã ban hành bộ luật Buke Sho Hatto (vũgia ch pháp độ), trong đó có điều khoản về chế độ Sankin - Kotai (luân phiêntrình diện) Theo quy định của chế độ này, cứ cách một năm các lãnh chúa lạiphải về Edo để diện kiến tớng quân (Tôcgaoa Shogun) Khi hết thời hạn quy
định, họ trở về lãnh địa riêng của mình nhng phải để lại vợ con và một số tùytùng thân tín ở lại Edo để làm con tin Để đảm bảo cho cuộc sống ở "kinh đô"
Trang 15và ở lãnh địa, mỗi lãnh chúa phải xây dựng hai cơ sở lu trú và phải có sựchuẩn bị nguồn kinh phí cho chuyến đi Chính vì vậy mà thế lực kinh tế của
họ bị suy giảm đi rất nhiều và kéo theo đó là suy giảm về thế lực quân sự Chế
độ Sankin - Kotai là một biện pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong chính sáchcai trị của chính quyền Tôcgaoa
Mặc dù đều đợc gọi chung là "võ sĩ" nhng sự phân tầng trong cộng
đồng võ sĩ rất sâu sắc, không những cả về địa vị kinh tế mà còn cả về ảnh h ởng chính trị, cơ hội học tập, thăng tiến và sự kính trọng của mọi ngời trongxã hội đối với họ Theo nguyên tắc đợc thiết lập từ khi tầng lớp võ sĩ mới ra
-đời thì các võ sĩ lớp dới phải tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh của võ sĩ cấp trên.Theo đó, trong sinh họat xã hội, con cái họ cũng buộc phải tuân thủ nhữngquy định cụ thể nh phải nói một thứ ngôn ngữ khiêm nhờng, thấp kém hơn con
em các gia đình Samurai có thế lực Các võ sĩ lớp dới phải sống trong nhữngkhu riêng biệt, ít có cơ hội liên hệ với lãnh chúa Họ thờng làm các công việc
nh vệ sĩ, chạy việc vặt, th ký, bu tá Nh vậy, các Samurai lớp dới tuy vẫn đợccoi là thuộc về đẳng cấp lãnh đạo, nắm giữ quyền lực, nhng trên thực tế họcũng chỉ là những kẻ lệ thuộc vào giới võ sĩ cao cấp mà thôi Còn võ sĩ lớptrung đôi khi cũng có cơ hội tiếp kiến lãnh chúa, đợc nhận những trách nhiệmquan trọng hơn Chính vì vậy mà họ đợc hởng mức "lơng" cao hơn các võ sĩbên dới Loại võ sĩ cấp cao, tuy chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhng lại thâu tómnhiều quyền hành và đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định cũng nhthực thi các chính sách của lãnh chúa ở các công quốc Họ sống trong nhữngngôi nhà lớn, sang trọng, gần với các dinh thự của Daimyô Họ có nhiều đặcquyền chính trị và xã hội
Nhìn chung so với các đẳng cấp khác (nông, công, thơng) thì đẳng cấp
sĩ có nhiều đặc quyền nhất trong xã hội Nhật Bản Ngoài các quyền lợi vềkinh tế, chính trị, đẳng cấp sĩ - các Samurai - còn có những đặc quyền trên cáclĩnh vực khác Chẳng hạn đặc quyền về dùng miêu ( Myoji ) và đeo kiếm(Taito), có quyền xử tội (thậm chí chém đầu tại chỗ) các thờng dân bị coi là cótội hoặc vô lễ với mình Mạc phủ cấm các Samurai không đợc làm một nghềgì khác ngoài nghề cung kiếm và bằng việc đó đã tách hẳn họ ra khỏi đời sốngsản xuất trực tiếp, thành tầng lớp phong kiến đặc biệt phân biệt rõ rệt với cáctầng lớp khác trong xã hội Chính vì vậy đơng thời có câu: "Hoa thì có hoa
Trang 16anh đào, ngời thì có võ sĩ", điều này nói lên đặc quyền của giai cấp võ sĩtrong xã hội Tôcgaoa.
1.2.2 Nông dân.
Là giai cấp xếp thứ hai trong trật tự hệ thống đẳng cấp của xã hội Nhật Bảnthời kỳ Tôcgaoa liền sau đẳng cấp võ sĩ Theo quan niệm của học thuyết Nhogiáo, kinh tế nông nghiệp rất đợc coi trọng Trong thời trung cổ, nền kinh tếcủa Nhật Bản chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nông dân chiếm số đông trongdân c và họ có vai trò quan trọng nhất Không thể hiểu đợc lịch sử của NhậtBản nếu không hiểu rõ vai trò của các cộng đồng sống ở nông thôn, trong đónông dân là những thành viên chính Dới thời Mạc phủ Tôcgaoa, giai cấp nôngdân cũng là lực lợng đông đảo nhất trong xã hội, chiếm đến 8/10 dân số của cảnớc Cũng giống nh đẳng cấp võ sĩ, giai cấp nông dân cũng có nhiều bộ phậnbao gồm từ ngời bần nông đến ông chủ trang trại làm ăn khá giả Vai trò củangời nông dân rất quan trọng vì họ là tầng lớp sản xuất lơng thực cung cấp chotoàn xã hội Nhng trong thực tế, họ lại là tầng lớp nghèo khổ và bị áp bức bóclột nhiều nhất Nông dân không phải là ngời sở hữu mà chỉ là ngời chiếm hữu(có tính chất tập thể) các mảnh ruộng mà họ nhận từ lãnh chúa phong kiếntheo chế độ phát canh thu tô Thời kỳ đầu, sự bóc lột của Mạc phủ là nhẹ hơn(phơng thức bóc lột địa tô đợc quy định trong tỷ lệ 40% cho chủ phong kiến
và 60% cho nông dân tính trên thu hoạch mùa màng) Chẳng những thế màluật pháp của chính quyền Tôcgaoa thời kỳ đầu còn có phần bảo vệ nông dânkhỏi giới điền chủ áp bức Một đạo luật của chính quyền Edo năm 1603 chophép ngời dân có thể rời bỏ ruộng đất mình đang cày cấy đi nơi khác nếu nh
bị ngời quản lý ruộng đất đối xử tàn tệ, dẫu đó là ruộng đất của họ Tôcgaoahay ruộng đất riêng của các lãnh chúa, với một điều kiện là trớc khi dời đi nơikhác, nông dân phải trả xong mọi khoản thuế má, sau đó anh ta muốn sốngnơi nào cũng đợc Một chơng khác trong bộ luật nghiêm cấm việc dùng bạolực chống lại nông dân và nêu rõ rằng mọi sự tranh chấp về thuế má nếukhông tự giải quyết đợc giữa địa chủ và nông dân thì đa ra tòa xét xử ở nhiềunơi ngời ta đối xử với nông dân thô bạo, mặc dầu cũng có một số điền chủthiên về thuyết phục hơn là dùng vũ lực Trong thời kì đầu, chính quyền Mạcphủ chủ trơng khoan nới sức dân bằng chính sách mềm dẻo đối với nông dân
Một đạo luật năm 1643 có những đoạn sau đây: "Nếu nh những ngời quản lý
đất đai hoặc đại diện của họ xử sự không đúng và không thể chịu đợc, ngời
Trang 17nông dân có thể ra đi sau khi thanh toán hết các khoản thuế má cũ Họ có thể sang c trú ở làng bên cạnh, nơi mà họ cảm thấy dễ thở hơn".[ 11, 273 ]
Những chính sách mềm dẻo của chính quyền Mạc phủ trong thời kỳ
đầu cùng với tình hình đất nớc hoà bình, thống nhất đã làm cho nông dân yêntâm sản xuất Nông dân không chỉ có đợc một số lơng thực nhu yếu phẩm cầnthiết mà thậm chí còn một phần nhỏ sản phẩm d thừa Điều này có thể cho
phép kết luận: "Trong giai đoạn thành lập và phát triển của nhà nớc trung
-ơng tập quyền thời Mạc phủ Tôcgaoa thế kỷ XVII ở Nhật Bản đã xác lập đợc một quan hệ sản xuất tơng ứng và phù hợp với tính chất và trình độ của lực l- ợng sản xuất" [21, 73].
Tuy nhiên, sự phù hợp ấy cũng chỉ mang tính chất tơng đối, mang tínhchất tạm thời ở nhiều nơi chính sách của chính quyền Mạc phủ không cóhiệu lực, ngời nông dân bị áp bức đã bỏ trốn ngày càng nhiều Chẳng hạn,năm 1642, một đạo luật của lãnh chúa Okayama đã lên án những nhóm nôngdân bỏ trốn để mu nổi loạn và buộc những ngời còn lại trong làng phải càycấy những mảnh đất bỏ hoang Tuy nhiên không phải tất cả những ngời bỏtrốn đều do bị áp bức mà nhiều ngời muốn bỏ nông thôn ra thành phố, nơi họcho rằng kiếm sống dễ hơn Mặt khác, giai cấp địa chủ phong kiến - đẳng cấp
sĩ - luôn cố gắng thiết lập những sự nô dịch mới đối với nông dân, nhất là khi
số lợng Samarai cùng với gia đình của họ ngày càng trở nên đông đảo
Cuối thế kỷ XVII đầu XVIII, tình hình kinh tế của đất nớc nói chung đãbắt đầu xấu đi, khoảng cách mức sống giữa tầng lớp trên của đẳng cấp võ sĩ vànông dân ngày càng lớn Giới quý tộc của Mạc phủ Edo tiến hành nhiều đình
đám hội hè tốn kém Còn các Daimyô bắt chớc cuộc sống xa hoa của Mạc phủ
ở Edo đã tiêu tốn nhiều của cải tiền bạc, nên không ít kẻ lệ thuộc vào thơngnhân và bọn cho vay nặng lãi Hệ quả là các lãnh chúa tăng cờng bóc lột nôngdân hơn nữa Nông dân không phải nộp tô là 40% nh trớc mà 50% - 60% sốsản phẩm thu hoạch, nhng tỷ lệ tô thuế thóc gạo này không phải tính trên sảnlợng mùa màng thu hoạch đợc mà tính theo diện tích ruộng nông dân cày cấy,
do chủ quy định trớc, nếu sản lợng thu hoạch không đủ thì phải bù vào Ngoài
ra nam nông dân từ 17 - 60 tuổi còn phải chịu nghĩa vụ lao dịch không côngcho nhà nớc mỗi năm 60 ngày Chính do chính sách tăng cờng bóc lột của
Trang 18lãnh chúa cộng với nghĩa vụ lao dịch không công đã đẩy nông dân vào cảnhbần cùng và phá sản.
Tình cảnh của nông dân vô cùng tồi tệ trong nửa sau thế kỷ XVIII và
đầu thế kỷ XIX, khi mức tô thuế đã quá cao, mà lãnh chúa lại bắt nộp trớc vài
ba năm, đồng thời trao cho thơng nhân quyền đợc thu thuế đảm phụ ở nôngthôn Nông dân bỏ đi xiêu tán ngày càng nhiều, Chợ mua bán ngời diễn racông khai ở nhiều nơi kể cả kinh đô Nông dân chết đói đầy đờng, việc bán vợ
đợ con trở thành hiện tợng thờng nhật Do không đủ điều kiện để nuôi sốngnên việc ngời ta giết trẻ con cũng trở nên phổ biến Cũng do bần cùng và quẫnbách nên ngời dân tự sát rất nhiều, đến mức Mạc phủ phải ban hành lệnh cấm
tự tử Đó chính là hệ quả của thứ chính sách mà giai cấp phong kiến thời gaoa từng công nhiên tuyên bố: "Nông dân nh hạt vừng, càng ép càng ra dầu"
Tôc-Nông dân không chỉ bị bóc lột khốc liệt thuần túy về mặt kinh tế màcòn bị trói buộc trong những quy định xã hội khắc nghiệt khác nhau Mạc phủ
đã quy chế hóa mọi hoạt động đời sống của nông dân, nh cấm họ không đợc
ăn cơm gạo trắng, không đợc dùng gạo làm bánh và nấu rợu Sakê Nông dâncũng không đợc mặc quần áo gấm vóc lụa là, mà đợc mặc quần áo bằng vảisợi bông và sợi lanh, kiểu mẫu và màu sắc quần áo cũng đợc quy định chặtchẽ để phân biệt với Samurai Nông dân không đợc xây dựng nhà cửa dinh thựlớn Ranh giới trong hệ thống đẳng cấp ấy đợc Mạc phủ quy định hết sứckhắt khe, theo đó, về nguyên tắc ngời ở đẳng cấp nào thì phải mãi mãi giữnguyên thân phận ở đẳng cấp đó, nên nông dân khó có hy vọng ngoi lên đợc
Tình cảnh bi đát của nông dân Nhật trong thế kỷ XVIII và đầu XIX đãlàm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt Khởi nghĩa nông dân diễn rangày càng nhiều và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp
đổ của Mạc phủ Tôcgaoa vào nửa sau thế kỷ XIX
1.2.3 Thợ thủ công (Shoku Jin)
Ngoài nông dân là lực lợng lao động chủ yếu tạo ra nguồn của cải quantrọng cho đất nớc, thì ở một mức độ thấp hơn, thợ thủ công cũng đợc coi lànhững ngời hữu ích, góp phần làm ra sản phẩm vật chất cho xã hội Họ chếbiến những sản phẩm từ nông nghiệp, chế tạo vũ khí, công cụ và những vậtdụng để phục vụ giới võ sĩ và toàn thể xã hội Do có sự phát triển kinh tế, công
Trang 19nghệ và việc các đô thị hình thành nhanh chóng đã làm cho tầng lớp thợ thủcông ngày càng đông đảo Một loạt các phờng hội thợ thủ công ra đời để liênkết sản xuất và bảo vệ quyền lợi của thợ thủ công Đến nửa đầu thế kỷ XVIII,các công trờng thủ công xuất hiện nhiều ở các khu vực trung tâm và Tây Nam
của đất nớc Có những công trờng thủ công có quy mô tơng đối lớn: "Các công trờng thủ công sản xuất vải lụa ở Han Satsuma sử dụng tới 20 - 30 công nhân làm việc trong mỗi xởng" [21, 76] Tuy công trờng công nghiệp dới thời
Tôcgaoa có bớc phát triển, góp phần đa nền kinh tế Nhật Bản đi lên, nhng tầnglớp thợ thủ công vẫn bị coi rẻ hơn nông dân Thợ thủ công cùng với thơngnhân thờng đợc gọi chung là Chonin (đinh nhân, tức là ngời kẻ chợ) Nh vậy,trên thực tế, sự phân biệt giữa thợ thủ công và thơng nhân là không rõ lắm, họcũng bị xã hội khinh thị Số thợ thủ công sống ở thành phố pháo đài, làm việccho các lãnh chúa chỉ nhận đợc đồng lơng ít ỏi, thế nhng họ lại đợc đặc quyềnbán hàng hóa mà họ sản xuất ra Còn lại thợ thủ công làm công nhật thì không
có một u đãi gì Tuy nhiên có một số thợ thủ công có kiến thức và có tay nghềgiỏi vẫn đợc kính trọng, nhất là thợ sản xuất quân trang Những thợ thủ côngsản xuất áo giáp, sản xuất gơm, kiếm đợc đối xử đặc biệt, đợc trả lơng cao,
có nơi ở tử tế Chính quyền Mạc phủ có nhiều u ái đối với họ Bên cạnh đó,thợ thủ công làm nghề mộc, kim hoàn, may mặc … cũng đợc đối xử tốt
"Chẳng hạn có một số thợ mộc giỏi ở Kyôtô năm 1868 tên là Nakai Mondo
đ-ợc hởng lơng 500 koku và đđ-ợc phép đeo kiếm nh một quân nhân" [23, 58].
Tóm lại, thợ thủ công là một trong 4 đẳng cấp chính của xã hội NhậtBản dới thời Tôcgaoa Tuy có sự tăng trởng về số lợng cùng với sự phát triển
đi lên của nền kinh tế, nhng so với các đẳng cấp khác thì thợ thủ công dới thờiTôcgaoa vẫn còn đang chiếm một tỷ lệ thấp trong c dân Nhật Bản
1.2.4 Thơng nhân (Shonin).
Theo nghề nghiệp, thơng nhân là những ngời thấp nhất trong hệ thống
đẳng cấp của xã hội phong kiến thời kỳ Tôcgaoa Mặc dù có địa vị xã hội thấpnhất, nhng sự sinh thành của đẳng cấp thơng nhân luôn luôn gắn liền vớinhững chuyển biến lịch sử và đời sống kinh tế - xã hội Nhật Bản Đến thờiTôcgaoa, những điều kiện chính trị, kinh tế Nhật Bản đã khác trớc Trongkhuôn khổ của chế độ phong kiến, nền thơng nghiệp Nhật Bản đã có sự pháttriển mạnh mẽ, từng bớc phá vỡ trật tự của nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên,
Trang 20tự cung tự cấp vốn có trớc đây Để có thêm thu nhập trang trải cho mức sốngngày một tăng và thực hiện chế độ Sankin Kotai, cạnh tranh với các công quốckhác hầu hết các lãnh chúa đều phải tìm mọi cách khuyến khích sản xuất và
mở rộng hoạt động thơng mại Nhiều lãnh chúa đã đặt nhà kho, cơ sở buônbán tại những trung tâm thơng mại lớn nh Osaka, Edo Cùng với sự phát triểncủa sản xuất, sự hòa nhập của kinh tế các lãnh địa vào mạng lới kinh tế chung
đã tạo điều kiện cho một thị trờng thống nhất ra đời Đó chính là điều kiện
tăng trởng nhanh chóng của đẳng cấp thơng nhân "Vào thời Genroku (1688 1703), mạng lới thành thị nối liền các điểm dân c cơ bản đã đợc thiết lập và
đến những ngời bán lẻ, bán dạo Mặc dầu chỉ là tầng lớp thơng nhân trunggian nhng Nakagai cũng đồng thời là những ngời đầu cơ hàng hóa Họ thờngtập trung vốn mua một số hàng thiết yếu nh: gạo, cá, muối nên cũng thu đợcnhững khoản lợi nhuận lớn Bên cạnh Nakagai còn có một loại thơng nhân đặcbiệt khác nữa đó là Nakadachi-nin Đây là những thơng nhân mua bán hànghóa giữa những ngời sản xuất và Tonya, giữa Tonya với Nakagai và thậm chígiữa Nakagai với những ngời bán lẻ Mối quan hệ đa chiều đó và tri thức vềmột số mặt hàng tinh xảo, cao cấp, sự nhạy bén về giá cả thị trờng đã đem lạilợi nhuận cao cho tầng lớp thơng nhân này
Tuy hoạt động kinh tế của các thơng nhân rất đa dạng nhng những hoạt
động đó đều đặt dới sự chỉ đạo và chi phối mạnh mẽ của Tonya Không ítTonya nhờ có quyền lợi gắn liền với chính quyền trung ơng mà đã mau chóngtrở thành những thơng nhân tài chính lớn Các đại danh thơng nh gia đìnhMitsui, Konoike, Yodoya đã thâu tóm nhiều lĩnh vực kinh tế ở Nhật Bản lúc
đó Trong xu thế mở rộng quan hệ thơng mại với các trung tâm buôn bán lớncủa địa phơng, từ cuối thế kỷ XVII, ở Nhật Bản đã xuất hiện một loại thơngnhân chuyên bao mua lúa gạo và sản vật mà các lãnh chúa gửi bán(Kuramoto) Các thơng nhân này từng bớc trở thành "đại diện thơng mại" cho
Trang 21nhiều lãnh chúa Một bộ phận của tầng lớp này, thông qua liên hệ với các Han
đã trở thành thơng nhân kiêm cho vay nợ lãi (Kakeya) Họ thờng cho các lãnhchúa vay nợ có khi tơng đơng 2 đến 3 năm thu nhập với lãi suất hàng năm từ
15 - 20% Bằng cách đó, không ít ngời trở thành các chủ đất lớn ở nhiều địaphơng, thế lực kinh tế của các thơng nhân chuyên bao mua lúa gạo và sản vật
mà các lảnh chúa gửi bán và các thơng nhân kiêm cho vay nợ lãi (Kuramoto
và Kakeya) có ảnh hởng không nhỏ đến việc hoạch định chính sách của cácDaimyô Bên cạnh đó còn có một bộ phận thơng nhân Juda – Sashi chủ yếutìm kiếm lợi nhuận từ việc mua bán lúa gạo do các võ sĩ Hatamoto (kỳ bản) vàGokenin (ngự gia lâm) gửi bán Loại thơng nhân này đặc biệt phát triển ở Edo,nơi tập trung một số lợng đông đảo đội ngũ giai cấp võ sĩ cao cấp, có nhiều
đặc quyền do Mạc phủ trực tiếp quản lý
Sự xuất hiện của những hình thức kinh doanh mới với nhiều loại thơngnhân khác nhau vừa là hệ quả của các hoạt động kinh tế đa dạng thời kỳ này,vừa cho thấy bớc phát triển mang tính chất tiếp nối từ những giai đoạn lịch sửtrớc, trong đó phải kể đến vai trò to lớn thơng nhân
Nh vậy, xét về cơ cấu, xã hội phong kiến thời kỳ Mạc phủ Tôcgaoa đợcchia làm 4 giai tầng, trong mỗi giai tầng xã hội lại chia ra nhiều đẳng cấp, từcác lãnh chúa đến ngời nông dân, từ những ngời phú nông đến ngời tá điềnlàm công nhật kiếm sống, từ ngời thợ thủ công lành nghề đến thợ học việc, từnhững thơng nhân giàu có đến ngời bán rong Sự phân hóa thành đẳng cấp đóngày càng rõ, ngời ta thấy trong các cuộc họp làng xã, mỗi loại ngời có vị trí
rõ rệt Trật tự đẳng cấp phong kiến ấy tởng chừng là bất biến, nhng cũngkhông thể tránh khỏi những xáo trộn trớc sự biến đổi của tình hình kinh tế,chính trị, xã hội
1.3 Sự chuyển biến cơ cấu giai cấp ở Nhật Bản (trong nửa đầu thế kỷ XIX
Những biến động trong kinh tế nông nghiệp đã làm xáo trộn các mốiquan hệ cộng đồng truyền thống, là nguyên nhân căn bản dẫn đến các cuộc nổidậy của nông dân thời kỳ này Ngời ta tính đợc rằng, trong khoảng thời gian từ
1813 - 1868 có tới 400 cuộc nổi dậy của nông dân, trong đó có những cuộc lôi
cuốn đến hàng nghìn ngời tham gia "Tháng 3/1823, 100.000 nông dân ở Wakayama đã nổi dậy, tấn công vào những kẻ cho vay nợ lãi, chủ hiệu cầm đồ
Trang 22và giới cầm quyền địa phơng Nhiều nơi Mạc phủ đã phải huy động quân đội từ các lãnh địa láng giềng để trấn áp các cuộc "phiến loạn" đó" [10, 200].
Tình trạng bần cùng hóa của bộ phận dân c nông nghiệp đã đẩy họ khỏicuộc sống nông thôn Không còn con đờng nào khác để kiếm sống, ngời ta
đành tham gia vào các hoạt động kinh tế công - thơng nghiệp Một bộ phậnnông dân đã rời bỏ làng quê, địa bàn c trú trớc đây tìm đến những nơi tậptrung dân c để kiếm sống Điều đáng chú ý là sự mở rộng của nhiều ngành sảnxuất tập trung trong các thành thị đã đủ sức cuốn hút một lực lợng lao động dthừa lớn từ nông thôn Các chủ xởng đã cạnh tranh nhau, khiến cho giá thuêcông nhân không ngừng tăng lên Từ cuối thế kỷ XVIII, ở Nhật Bản lao độnglàm thuê đã từng bớc thay thế cho truyền thống lao động phục vụ Ngời côngnhân làm việc chủ yếu theo những hợp đồng, thỏa thuận hết sức chặt chẽ
Điều đó để lại hệ quả là Nhật Bản đã sớm hình thành nên một thị trờng nhâncông rộng lớn, là tiền đề cho sự phát triển các ngành kinh tế mới hiện đại saunày
Dới tác động của những điều kiện xã hội mới, nông thôn Nhật Bản đãdiễn ra một quá trình tự điều chỉnh Kinh tế nông nghiệp đã đợc đa dạng hóa.Nông dân không chỉ sống dựa vào nguồn thu nhập từ nông nghiệp mà đã trởthành những ngời lao động kiêm nhiệm - tức là vừa làm nghề nông vừa sảnxuất thủ công hay kết hợp với buôn bán Khảo cứu thành phần kinh tế củalàng Uda - Otsu, một làng phụ cận Osaka, có thể thấy vào năm 1843, trong số
277 hộ của làng này chỉ có 40 hộ (chiếm tỷ lệ 14%) là còn làm nông nghiệp
Số còn lại (86%) chủ yếu làm nghề dệt và buôn bán [10, 201] Tơng tự nh vậy,
có rất nhiều làng vốn làm nghề nông nghiệp đã chuyển sang làm hàng thủcông hay vận tải, buôn bán Nhiều nông dân đã trở thành thơng nhân buôn bánchuyên nghiệp Hoạt động của họ phục vụ đắc lực cho nhu cầu sản xuất, cuộcsống thờng ngày ở nông thôn cũng nh góp phần thơng mại hóa các sản phẩmnông nghiệp Thị trờng nông thôn đã trở nên gắn kết chặt chẽ với thị trờngchung, đem lại sức sống mới cho kinh tế nông nghiệp
Đầu thế kỷ XVIII, kinh tế thơng mại và thủ công nghiệp ngày càng đóngvai trò quan trọng trong đời sống kinh tế quốc dân Thành thị Nhật Bản thực
sự trở thành những trung tâm sản xuất, thơng mại và tài chính của cả nớc
Th-ơng nhân thị dân xuất hiện ngày một nhiều và chính họ đã nắm giữ những
Trang 23nguồn lực kinh tế trọng yếu Dới thời kỳ Tôcgaoa, tình trạng di dân, bỏ làngdiễn ra thờng xuyên, chính quyền Edo và các lãnh chúa địa phơng đã phải đề
ra những sắc lệnh quy định việc cấm di dân, bỏ làng Nhng bất chấp nhữngmệnh lệnh đó, nông dân và những ngời sống ở các vùng quê nghèo khổ vẫnrời bỏ nông thôn kéo vào thành phố Họ làm đủ nghề để kiếm sống nh phục
vụ trong các gia đình võ sĩ, cơ sở kinh doanh, nhà trọ, quán ăn, mở quầy hàngtạp hóa với hy vọng tìm đợc việc làm có thu nhập cao hơn sản xuất nôngnghiệp Mặc dầu luồng di c đó đã gây ra không ít những hậu quả xã hội phứctạp, nhng cùng với sự phát triển của thành thị Nhật Bản, c dân các vùng thônquê đã nhanh chóng đợc thị dân hóa, hòa nhập với cuộc sống mới và chính họ
đã góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa đô thị "Không bị ràng buộc chặt chẽ bởi nghiêm lệ của đạo đức phong kiến, cộng đồng thị dân với
đời sống kinh tế - xã hội của mình đã tự xây dựng nên một lối sống mới theo tiêu chí riêng: trần thế, năng động, phóng đạt và chính họ đã sinh ra dòng văn hóa thị dân hấp dẫn, đầy sức sống ở Nhật Bản" [10, 202].
Trong xu thế phát triển chung của nhiều ngành kinh tế, khuynh hớngquý tộc hóa, đua theo lối sống xa xỉ, coi thờng phong tục tập quán, địa vị xãhội là "căn bệnh" chung của xã hội Nhật Bản lúc đó
Sự phát triển của nền kinh tế, mà đặc biệt là sự ra đời của nền kinh tếtiền tệ đã có tác động sâu sắc đối với xã hội phong kiến Nhật Bản lúc bấy giờ.Tiền tệ đã len lỏi vào từng tế bào của thể chế phong kiến quan liêu và đã th -
ơng mại hóa các quan hệ xã hội Tiền bạc và những nguồn lợi từ buôn bán đãkhiến tất cả mọi đẳng cấp, kể cả đẳng cấp Samurai phải từ bỏ những t tởng bảothủ, quên đi nguồn gốc xuất thân, địa vị của mình để tham gia vào các hoạt
động kinh tế, và họ thực sự bị cuốn hút vào nền kinh tế tiền tệ Tình trạng đó
đã gây nên những phẫn uất cho các nhà đạo đức Khổng giáo và chính quyền.Bản thân chính quyền Mạc phủ Tôcgaoa đã phải nhiều lần ban hành nhữngquy định khắt khe để kiểm soát đời sống, sinh hoạt của các tầng lớp bình dân
nh cấm họ không đợc xúc phạm, phỉ báng những Samurai mắc nợ hay thất hẹntrả tiền mua hàng, phải tằn tiện chăm chỉ làm ăn, không đợc mặc quần áo lụa,không đợc dùng đồ gia dụng bằng sơn màu dát vàng, không đợc làm nhà lớn
và lấy vàng bạc để trang trí nhà cửa Tuy nhiên, nhìn chung cuộc sống củanhiều tầng lớp bình dân, mà đặc biệt là thơng nhân vẫn không ngừng đợc cải
Trang 24thiện Những biện pháp hành chính của chính quyền phong kiến đôi khi cũng
tỏ ra bất lực trớc thực tiễn sinh động của đời sống
Việc phân chia xã hội thành 4 đẳng cấp là nhằm để ổn định chính trị,khẳng định địa vị, bổn phận của từng đẳng cấp nhng cũng không thể nào ngăn
đợc khuynh hớng phân hóa tự nhiên Những ngời theo triết lý Khổng giáo dù
có đề cao nghề nông, tinh thần cần kiệm nh là những giá trị đạo đức cao quý
đến đâu thì cũng không thể quay lng trớc uy lực và sức mạnh của đồng tiền.Trớc sức mạnh của nền kinh tế tiền tệ, lúa gạo không còn là loại "bản vị" duynhất để đo sự giàu có nữa Mặc dù nhiều Daimyô vẫn có nguồn thu nhập lớn
từ nông nghiệp nhng những khoản thu nhập đó không còn đủ trang trải chonhu cầu cuộc sống ngày càng một tăng và thực hiện nghĩa vụ với chính quyềntrung ơng Không ít lãnh chúa, kể cả những lãnh chúa có thế lực phải nhờ cậy
đến nguồn tài chính của các thơng nhân giàu có và mặc nhiên họ ngày càngphụ thuộc vào các thơng nhân đó
Để xây dựng một chính quyền phong kiến tập trung và đủ sức đảm
đ-ơng những công việc phức tạp nảy sinh trong điều kiện xã hội mới, một bộphận võ sĩ đã trở thành những viên chức hành chính chuyên nghiệp Nhu cầuquản lý hành chính đã làm đông đảo thêm đội ngũ thống trị quan liêu ở NhậtBản Một số nhà nghiên cứu cho rằng thời Tôcgaoa, Nhật Bản là nớc có tỷ lệnhững ngời thuộc giai cấp thống trị cao nhất so với các nớc Đông Nam ákhác Tình trạng này càng làm cho xã hội Nhật Bản càng trở nên khủnghoảng Có thể nói, đó vừa là hệ quả vừa là tiền đề cho sự chuyển biến của xãhội Nhật Bản dới thời Tôcgaoa
Nguồn sống chủ yếu của giới võ sĩ chủ yếu là dựa vào "lơng" (lúa gạo)
do chính quyền cung cấp Sự hiện diện đông đảo đội ngũ những ngời phi sảnxuất thực sự là gánh nặng cho xã hội nếu nh chúng ta nhìn nhận vấn đề đó dớigóc độ kinh tế Đội ngũ này đã tiêu tốn một khối lợng lớn sản phẩm của xãhội Đặc biệt với lối sống xa xỉ của họ đã làm đảo lộn trật tự đạo đức Khổnggiáo, đảo lộn trật tự xã hội Tuy nhiên, quá trình tập trung hóa một số lợng lớngiới quý tộc võ sĩ trong các đô thị cũng cho thấy sức phát triển của sản xuất,khả năng kinh tế của các cấp chính quyền trong việc chu cấp cho các ch hầucủa mình và đồng thời cũng phản ánh những biến chuyển quan trọng thiết chếchính trị thời kỳ này nhằm hớng tới xây dựng một chính quyền phong kiến tậptrung trên cơ sở luật lệ hóa mọi quan hệ xã hội Mặc dầu đều đợc gọi chung là
Trang 25võ sĩ nhng sự phân tầng giữa các bộ phận trọng đẳng cấp Samurai rất sâu sắc.
Sự khác biệt đó không chỉ đợc thể hiện ở sự giàu có, ảnh hởng chính trị, cơ hộihọc tập mà còn ở khả năng tăng tiến và sự kính trọng của xã hội
Trong chính quyền trung ơng, lãnh chúa ở các Han, đặc biệt là bộ phậnSamurai lớp dới đã phải thờng xuyên đơng đầu với những khó khăn về kinh tế.Cơ chế chính trị thời Edo đã sản sinh ra bao nhiêu mối quan hệ phức tạp, đồngthời kéo theo một lực lợng đông đảo những ngời phi sản xuất tham gia vào cơchế đó Khoản lơng mà các võ sĩ đợc nhận không chỉ để chi dụng cho bảnthân, gia đình mình mà còn phải "phân phối" lại cho những ngời phục vụ bêndới Nhìn chung trong suốt thời kỳ Edo, những khoản chu cấp cho từng loại võ
sĩ ít thay đổi, trong khi đó mức sống chung vẫn ngày một tăng khiến chonhiều võ sĩ lâm vào tình trạng bần cùng hóa Đại bộ phận giới thống trị phongkiến, nhất là những ngời lớp dới, đều rơi vào cảnh nghèo túng phải phụ thuộcvào các thế lực kinh tế mới Chế độ Mạc phủ tồn tại trên cơ sở thực hiệnquyền phân cấp về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp đã mất dần đi chỗ dựacăn bản nhất của mình Do vậy mà cũng không còn đủ uy quyền để kiểm soátcác lãnh chúa và duy trì trật tự xã hội nữa Điều tự nhiên là các đẳng cấp bìnhdân bắt đầu thay thế đẳng cấp võ sĩ trong việc nắm giữ sức mạnh kinh tế đất n-
ớc và sau này chính họ cùng với các võ sĩ cấp tiến, là một lực lợng tiên phonglật đổ chế độ phong kiến ở Nhật Bản
Để đảm bảo những chi dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày theo
đúng danh phận, hầu hết các võ sĩ đều phải bán một phần trong khoản thunhập bằng lúa gạo đợc cấp Nhng giá thóc gạo thời Edo luôn biến động Mặc
dù xu hớng chung là giá gạo ngày một tăng nhng giá nhu yếu phẩm cũngkhông ngừng tăng lên Phần lơng thực mà các Samurai muốn bán đi phải quatay các thơng nhân và do họ định đoạt giá cả Vì danh dự, ngời võ sĩ không thểmua bán trực tiếp trên thơng trờng Thêm vào đó, những khoản vay nặng lãi từtrớc đó đã làm thâm hụt thu nhập của đẳng cấp này Điều đáng chú ý là phầnlớn các Samurai thời kỳ này sống ở thành thị Đời sống xa hoa của đô thị đãlàm thay đổi phong cách sống tằn tiện vốn có của giới võ sĩ và tạo ra mức độchênh lệch ngày một lớn giữa thu nhập thực tế và chi dụng hàng ngày Ngaycả các Daimyô cũng lâm vào hoàn cảnh tơng tự Chế độ Sakin Kotai là mộtgánh nặng đối với nhiều lãnh chúa cho dù họ có thể là những ngời giàu cónhất Chế độ Sakin Kotai bắt họ phải để vợ con lại Edo trong khi đó bản thân
Trang 26các Daimyô cứ mỗi năm lại phải đến sống ở đó với rất nhiều tùy tùng Nóitóm lại, họ phải trả một khoản tiền lớn cho việc đi về Edo Trong thời kỳ hòabình, mức sống của các Daimyô ở Edo từng bớc đợc tăng lên, bao gồm giá cả
và chi phí cho sinh hoạt Nhng thói quen xa xỉ của họ cũng ảnh hởng đến lốisống ở địa phơng Vì vậy mà tổng số chi phí của các lãnh chúa tăng lên nhanhchóng Hơn một nửa thu nhập hàng năm của các lãnh chúa phải chi phí chocuộc sống ở Edo và họ phải vay tiền của thơng nhân Do vậy mà loại thơngnhân ở Edo đợc gọi là "những kẻ hút lơng của Samurai" tích tụ thêm của cảicho mình và đẩy các Daimyô vào tình trạng khánh kiệt Cuối thời kỳ Tôcgaoa,nhiều lãnh chúa đã phải thực hiện chế độ Hachinoho, tức là chế độ chỉ trả mộtnửa lơng cho các bề tôi của mình Trên thực tế, ở một số Han, các võ sĩ chỉnhận đợc khoảng 1/4 đến 1/3 mức "lơng" mà Daimyô đã hứa mà thôi
Chúng ta biết rằng, Khổng giáo Nhật Bản với tinh thần võ sĩ đạo coilòng trung thành là giá trị cao quý nhất của ngời võ sĩ Các Samurai đã gửigắm cuộc sống của mình và của gia đình mình vào chủ Sự trung thành trongxã hội truyền thống Nhật Bản tồn tại theo kiểu phả hệ Các võ sĩ cấp dới trungthành với các Daimyô, các Daimyô trung thành với Thiên hoàng Kiểu quan
hệ theo thứ bậc này đợc hình thành qua nhiều thế hệ Ngoài đạo đức, mối quan
hệ này còn đợc ràng buộc bằng luật pháp, kinh tế và hàng loạt các nghi thứcquy định chặt chẽ khác
Đến đầu thế kỷ XIX, kinh tế tiền tệ đã thơng mại hóa các quan hệ xãhội Tình trạng bần cùng hóa của đẳng cấp võ sĩ là một trong những nguyênnhân làm rung chuyển thiết chế chính trị phong kiến Thu nhập hàng năm màngời võ sĩ nhận đợc không chỉ là nguồn sống cho bản thân, gia đình mà cònchứa đựng trong đó lòng biết ơn mà họ phải đền đáp bằng sự phục vụ tận tụy
và đôi khi ngay cả tính mạng của mình, thì giờ đây trong nhiều trờng hợp,khoản chu cấp đó chỉ đợc coi là sự trả công thuần túy Nếu nh trớc đây ngời tarất coi trọng mối quan hệ này thì giờ đây trong nhiều trờng hợp các Samuraicấp dới chỉ coi đây là một phơng thức kiếm sống, thậm chí họ còn so sánh vớinhững nghề mà trớc đây họ coi rẻ và khinh thờng
Cuối thời kỳ Tôcgaoa, nhiều Samurai phải thờng xuyên sống trong cảnhtúng thiếu nợ nần, không ít ngời đã phải đem đồ gia bảo, trang phục, thanhkiếm và những vật báu của cha ông để lại đến hiệu cầm đồ Truyền thống
Trang 27thiêng liêng của họ tộc cũng đợc đem ra đổi bán Do nghèo túng, nhiềuSamurai đã không cần quan tâm đến thể diện hay danh dự của mình, họ đãnhận con của các gia đình thơng nhân làm "con nuôi" để đổi lấy một khoảntiền hoặc để đợc vay nợ Ngợc lại, các thị dân, thơng dân giàu có cũng sẵnsàng chấp nhận cuộc mua bán này nhằm mong cho gia đình mình, con cáimình đợc dễ bề làm ăn hay có cơ hội tiến thân Trên thực tế, con của một sốthờng dân đã trở thành võ sĩ, thậm chí là những võ sĩ cao cấp Thực tế đó đãlàm giảm đi sự thuần khiết trong dòng máu Samurai vẫn đợc giữ gìn cẩn trọng
từ thế hệ này sang thế hệ khác
Cuối thời kỳ Tôcgaoa phần lớn các lãnh chúa đều có cơ sở buôn bán và
đại diện của mình ở Osaka hay một vài thành phố khác Nhng trớc những hoạt
động hết sức đa dạng và phức tạp của đời sống kinh tế đô thị, các th ơng nhân
địa phơng đó không thể cạnh tranh nổi với thơng nhân chuyên nghiệp Bởivậy, những thơng nhân phong kiến nghiệp d đều phải mời các chủ hãng buôn
sở tại làm "đại diện thơng mại" cho mình Đổi lại, họ đợc hởng lơng nh mộtviên chức Samurai và nhiều đặc quyền kinh tế xã hội khác Cảnh tợng các th-
ơng nhân, thị dân mặc trang phục võ sĩ, đeo hai thanh kiếm - biểu tợng thiêngliêng của tinh thần võ sĩ đạo - làm việc trong các sở giao dịch, cửa hàng đãtrở nên phổ biến ở Nhật Bản Nh vậy, đến đây ranh giới giai cấp dần dần bịxóa nhòa Do nhu cầu cuộc sống, vai trò của đẳng cấp Samurai không còn làduy nhất nh trớc đây nữa
Để hạn chế tình trạng bần cùng hóa của tầng lớp võ sĩ, Mạc phủ đã thựcthi một loạt biện pháp nh kêu gọi tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng, trợ cấp khi mấtmùa, cho võ sĩ vay nợ theo mức độ thu nhập Mạc phủ còn dùng quyền lựcchính trị của mình để giảm hay xóa nợ cho các Samurai và quy định chặt chẽ
tỷ lệ lãi suất cho vay Thực tế lịch sử cho thấy, để thoát khỏi nanh vuốt củanhững kẻ cho vay nợ lãi và khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách trầmtrọng, nhiều lãnh chúa đã phải tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nôngnghiệp Với quyền lực chính trị và tiềm năng kinh tế vốn có, họ đã đứng ra tổchức các hoạt động sản xuất buôn bán để tăng thêm thu nhập Tại nhiều Han,nguồn lợi thu đợc từ các ngành kinh tế này đã vợt xa gấp nhiều lần thu nhập từnông nghiệp
Trang 28Việc tham gia vào các hoạt động kinh tế của một số bộ phận Samurai đãlàm cho quá trình phân hóa của đẳng cấp này thêm mạnh mẽ Không ít các võ
sĩ, nhất là các võ sĩ lớp dới, những ngời bị sức ép nặng nề nhất của nền kinh tếtiền tệ nhng đợc hởng ít đặc quyền nhất trong giai cấp phong kiến, đã vơn dậytrở thành các đại diện thơng mại, chủ xởng, nhân viên ngân hàng Tuy nhiên,
số lợng Samurai thành đạt chỉ là thiểu số trong đội ngũ đông đảo hai triệu ngờithuộc đẳng cấp sĩ lúc đó, phần đông còn lại hoặc bị suy kiệt về kinh tế hoặctrở thành "con tin" cho các thơng nhân Rất nhiều lãnh chúa, đại gia võ sĩ trởthành con nợ của "đám tiện dân" t sản mới ở thành thị
Nh vậy, đến giữa thế kỷ XIX, trong xã hội Nhật Bản đã diễn ra nhữngchuyển biến hết sức sâu sắc trên cơ sở sự phát triển của kinh tế công thơngnghiệp Thành thị đã trở thành điểm hội tụ những nhân tố mới trong đời sốngkinh tế Nhật Bản, nơi tập trung đông đảo đội ngũ trí thức, tầng lớp t sản mới
và cả giới võ sĩ cấp tiến, sẵn sàng đón nhận những tri thức khoa học, t tởnghiện đại Chính thành thị là nơi nảy mầm nuôi dỡng t tởng và thực thi cải cách.Kết quả của quá trình cải cách đã đa Nhật Bản nhanh chóng hòa nhập với xuthế phát triển chung của thế giới
Tiểu kết
Trong vòng hơn 200 năm, cơ cấu xã hội Nhật Bản đã trải qua những bớcchuyển biến hết sức sâu sắc Có thể nói rằng, sự chuyển biến trong cơ cấu xãhội ở Nhật Bản thời kỳ Tôcgaoa là hệ quả của sự phát triển kinh tế từ một xãhội nông nghiệp, dới tác động của nhiều nhân tố, kinh tế Nhật Bản ngày càngphát triển theo khuynh hớng đa dạng hóa chứa đựng nhiều nhân tố mới, đặcbiệt là trong các lĩnh vực thơng nghiệp, thủ công nghiệp và kinh doanh tiền tệ.Cùng với sự vận động của quy luật phát triển tự nhiên, những chuyển biếnkinh tế - xã hội thời kỳ này còn chịu ảnh hởng trực tiếp từ những chính sách
và thiết chế chính trị do Mạc phủ tạo lập nên ở Nhật Bản
Sau khi giành đợc chính quyền, Mạc phủ Edo đã đồng thời thực hiệnnhiều biện pháp về chính trị và kinh tế để khẳng định uy lực của mình, xác lậpnền hòa bình và thống nhất ở Nhật Bản Điểm mấu chốt trong hệ thống chínhtrị thời kỳ này là Mạc phủ đã thiết lập một bộ máy hành chính trên cơ sở mộtcơ chế tơng đối cân bằng về quyền lực giữa chính quyền Edo (trung ơng) với
Trang 29các lãnh chúa (địa phơng) Sự cân bằng đó trong cơ chế Baku han taise khôngchỉ giúp cho chính quyền Mạc phủ có thể duy trì đợc địa vị thống trị của mình
mà còn tạo ra những nhân tố khách quan cho sự phát triển đa dạng, năng độngcủa các địa phơng Thêm vào đó, sự phát triển có tính chất cạnh tranh giữa cáclãnh địa là nhân tố thúc đẩy những bớc biến chuyển lớn trong nhiều ngànhkinh tế Kinh tế nông nghiệp vốn đợc coi là lĩnh vực "bảo thủ trì trệ" nhất cũngcho thấy những phát triển vợt bậc Đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của kinh
tế công thơng nghiệp và kinh doanh tiền tệ Những chuyển biến trong nềnkinh tế đã kéo theo những thay đổi trong cơ cấu xã hội Nhật Bản thời kỳ này
Sự thay đổi trong kinh tế nông nghiệp đã đồng thời làm thay đổi địa vị kinh tếcủa nhiều tầng lớp trong nông thôn Hiện tợng mua bán, gán nợ, bao chiếmruộng đất ngày càng phổ biến đã dẫn đến tình trạng hàng loạt nông dân bị mất
đất bỏ làng đi xiêu tán hoặc phải tham gia vào những ngành sản xuất phi nôngnghiệp
Thời kỳ Tôcgaoa bên cạnh một xã hội nông thôn với cơ sở kinh tế nôngnghiệp cùng đồng thời tồn tại một xã hội thành thị dựa vào nền tảng của kinh
tế thơng nghiệp Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế công thơng nghiệp đãlàm đảo lộn trật tự xã hội vốn tồn tại hàng trăm năm Trật tự đẳng cấp - vốn làmột nhân tố để đảm bảo ổn định chính trị xã hội giờ đây cũng bị thay đổi.Ranh giới đẳng cấp không còn rõ ràng nh trớc đây Do nhu cầu cuộc sống,
đẳng cấp võ sĩ đã phải tạm thời từ bỏ những danh tiếng của mình để tham giavào các hoạt động kinh tế, đặc biệt là hoạt động buôn bán - một nghề mà tr ớc
đây họ cho là thấp hèn, ti tiện Nh vậy, các Samurai đã trở thành những thơngnhân ngoài ý muốn của họ Ngợc lại, từ những kẻ "tiện dân", nhờ có tiềm lựckinh tế mà thị dân (thơng nhân và thợ thủ công) đã vơn lên trở thành nhữngngời có thế lực Sự xáo trộn về địa vị kinh tế xã hội diễn ra ở Nhật Bản từ cuốithời kỳ Edo đã làm cho chính quyền Tôcgaoa lâm vào khủng hoảng Có thểnói rằng, những chuyển biến kinh tế - xã hội thời kỳ này là nguyên nhân cănbản dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Tôcgaoa nói riêng và chế độ phongkiến quân sự ở Nhật Bản nói chung
Những nhân tố kinh tế xã hội mới đợc hình thành dới thời Tôcgaoa lạivừa là tiền đề vừa là động lực căn bản để dẫn đến một cuộc cải cách xã hội lớnlao Để rồi trong khi giới lãnh đạo phong kiến Trung Quốc cũng nh các đế chếphong kiến tại những quốc gia chịu ảnh hởng sâu đậm văn hóa Trung Hoacòn đang mải mê theo đuổi những khuôn phép t tởng đã có phần lỗi thời thì ở
Trang 30Nhật Bản, "chủ nghĩa dân tộc" đã trào dâng vào cuối thời kỳ Tôcgaoa, khi việcthực hiện chính sách cô lập là không thể thực hiện đợc đã trở nên rõ ràng Ng-
ời Nhật đã hoàn toàn thay đổi đờng lối và đã giành toàn bộ nghị lực cho việcchiếm lĩnh công nghệ phơng Tây Quá trình thức tỉnh đó đã tạo đà cho NhậtBản vơn lên bắt kịp với biến chuyển của thời đại Những thành tựu văn hóa t t-ởng với t cách là sản phẩm lịch sử của thời kỳ này đã thực sự trở thành nhữnglực lợng vật chất thiết yếu, góp phần đa cuộc cải cách t sản Nhật Bản đếnthành công, đa nớc Nhật trở thành một siêu cờng của quốc tế nh ngày nay
Trang 31Ch ơng 2:
Cơ cấu xã hội Nhật Bản thời kỳ minh trị (1868 - 1912)
2.1 những nhân tố tác động đến sự thay đổi cơ cấu xã hội Nhật Bản thời kỳ minh trị.
2.1.1 Cải cách Minh Trị.
Cuộc cách mạng Minh Trị (1868) thắng lợi, chính phủ mới của Thiênhoàng đợc thành lập (3/1/1868), đã chính thức khôi phục lại quyền lực củaThiên hoàng, đồng thời ban bố các chính sách cải cách nhằm mở đờng chochủ nghĩa t bản phát triển ở Nhật Bản Tuy vậy, cách mạng Minh Trị không
đem chính quyền về tay giai cấp t sản, bởi thành phần chủ yếu trong chínhquyền Thiên hoàng lại là tầng lớp võ sĩ có quan hệ chặt chẽ với giai cấp t sản
Do vậy, đây là cuộc cách mạng không triệt để và chế độ quân chủ của giai cấp
địa chủ, t sản hình thành sau cách mạng 1868 dần dần chuyển thành chế độquân chủ t sản Mặt khác, sự thành công của cách mạng Minh Trị ngay từ đầu
đã vấp phải những trở ngại do chế độ phong kiến để lại Điều đó đã ảnh h ởng
đến quyền lợi của các giai tầng trong xã hội và sự phát triển của chủ nghĩa tbản ở Nhật Bản lúc bấy giờ Trong bối cảnh đó, yêu cầu cấp bách của xã hộiNhật Bản là phải thi hành cải cách nhằm đa đất nớc phát triển theo con đờngchủ nghĩa t bản
Ngày 6/4/1868, Thiên hoàng Minh Trị cùng các quan chức và lãnh chúatrong chính quyền đã ra tuyên bố cải cách đất nớc theo ý nguyện của nhândân Lời tuyên thệ gồm có 5 điều (ngũ điều ngự thệ văn):
Nghị hội đợc mở rộng rãi và quốc sự phải do công luận quyết định;
Trên dới phải một lòng tích cực lo cho việc kinh luận;
Trên dới bách quan văn võ cho đến thờng dân, mọi ngời phải đợcphép theo đuổi chí nguyện của mình để trong đất nớc không còn mốibất mãn;
Phải phá bỏ những tập quán xấu xa và mọi việc phải dựa trên công
đạo (quốc tế công pháp);
Phải thu thập tri thức trên thế giới để chấn hng cơ bản hoàng triều
Trang 32Những nội dung của lời tuyên thệ có thể cha đề cập đầy đủ trên mọi
ph-ơng diện, nhng là cơ sở để tiến hành các cuộc cải cách về nhiều phph-ơng diệncủa Nhật Bản lúc bấy giờ
* Tiếp thu văn minh phơng Tây:
Ngay sau khi thành lập, chính phủ Minh Trị đứng trớc một tơng laikhông mấy sáng sủa Giới lãnh đạo là những ngời trẻ tuổi cha có kinh nghiệmgánh vác công việc quốc gia Thêm vào đó là sự lạc hậu, cách xa phơng Tây
về khoa học kỹ thuật, rồi hậu quả của các điều ớc bất bình đẳng mà chínhquyền Tôcgaoa đã ký trớc đây với phơng Tây Chính vì vậy, chính quyềnMinh Trị đề ra mục tiêu là: Độc lập quốc gia và từng bớc tiến lên bình đẳngvới các nớc Tây phơng Phơng châm chính phủ Minh Trị đề ra cho cả nớc là
"phú quốc cờng binh” (Fukoku kyoha) Theo đó, giới lãnh đạo đã hô hào tiếpthu văn minh phơng Tây, họ đề ra khẩu hiệu "Học hỏi Tây phơng, bắt kịp Tâyphơng, đi vợt tây phơng" Tức là họ xem sự tiếp thu văn minh tiên tiến của Tâyphơng là phơng tiện hữu hiệu nhất để bảo vệ độc lập đất nớc Nhật Điều 5trong bản tuyên thệ (4/1868) chính là đề cập đến việc tiếp thu văn minh phơngTây
Về lập pháp: Viện Quý tộc (vai trò nh Thợng nghị viện) gồm những
ng-ời có tài năng, đức độ ở địa phơng do các lãnh chúa tự chọn Đây là cơ quan tvấn cho chính phủ, nhng trên thực tế, nó chỉ triệu tập hai lần rồi hầu nh khônghoạt động nữa
Về hành pháp: Thành lập chính phủ trung ơng gồm một cơ quan dotổng trởng đứng đầu với 7 bộ để điều hành đất nớc Mỗi bộ đều có một Quốc
vụ đại thần đứng đầu
Về t pháp: Khởi đầu do Bộ Hình đảm nhận nhiệm vụ cảnh sát kiêm xử
án, về sau mới có các cơ quan riêng biệt