Hình 3.9: Ứng dụng của laser trong phép đo khoảng cáchĐồ thị tổng quan về tiến trình phát triển ánh sáng 5761 BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT E hoặc W: năng lượng ánh sáng µ : độ từ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VINH, 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Mã số:60 44 01 09
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN HUY CÔNG
Trang 3VINH, 2012
Ánh sáng “ điều kỳ diệu quanh ta”
Nguyễn Huy Công (1) , Trần Thị Thu Thuỷ (2)
Thế giới con người bắt đầu bằng ánh sáng, tình yêu thương nảy sinh từ thế giới.
Phải chăng ánh sáng và con người là một thể thống nhất ánh sáng tạo ra sự sống và con người cho ánh sáng câu trả lời
“nó là ai?”
Ánh sáng là nguồn sống Nó cho phép chúng ta tri giác
và hiểu thế giới, tiến hóa trong thế giới, tương tác với thế giới, chinh phục các vùng đất, các đại dương và không gian
Ánh sáng giúp ta đánh giá được vẻ đẹp, sự lộng lẫy và hài hòa của vũ trụ quanh ta
Và ánh sáng cho con người niềm tin hi vọng, một khởi đầu mới mẻ, một trái tim tràn đầy yêu thương và một ngày mai tươi sáng.
Hãy yêu cuộc sống vì biết đâu ngày nào đó ta không còn nhìn thấy ánh sáng.
Trang 4
LỜI CÁM ƠN
Khoá luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu trong nhiều tháng
nỗ lực của bản thân em dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của rất nhiều người.
Qua bản khoá luận này cho phép em bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Huy Công đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Em cũng xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy đã đào tạo cho
em không chỉ về kiến thức chuyên môn mà cả về kỹ năng sống, học tập và làm việc.
Khoá luận này cũng là một lời cảm ơn tới những người thân của em
- những người luôn ở bên cạnh quan tâm em giúp đỡ em hoàn thành khoá luận.
VINH, 15/07/2012 Học viên Trần Thị Thu Thủy
(1)Trường Đại học Điện lực
(2)Học viên chuyên ngành quang học Khoá 18, Đại học Vinh
Trang 5MỤC LỤC
TrangTrang giới thiệu
1.1 Ánh sáng trong con mắt của người cổ và trung đại
1.2 Quan điểm về bản chất ánh sáng thế kỷ XVII đến XIX.
28
2832
Trang 62.3 Bản chất lưỡng tính sóng, hạt của ánh sáng.
2.4 Lý thuyết lượng tử về trường ánh sáng
Kết luận chương 2
Chương 3: MỘT SỐ ỨNG DỤNG
CỦA LASER TRONG ĐỜI SỐNG
3.1 Nguyên lý cơ bản về sự khuếch đại ánh sáng
3.2 Cơ chế tạo nghịch đảo nồng độ trong laser rắn
3.3 Sơ lược lịch sử phát triển laser
3.4 Một số ứng dụng của laser trong đời sống.
3.4.1 Sử dụng Laser trong thông tin liên lạc, điều
khiển
3.4.2 Sử dụng Laser trong công nghiệp, cơ khí
3.4.3 Sử dụng Laser trong đo lường tiêu chuẩn
3.4.4 Sử dụng Laser trong y học
3.4.5 Sử dụng Laser trong thiên văn, khí tượng
3.4.6 Sử dụng Laser trong nghiên cứu vũ trụ
Kết luận chương 3
363739
40
4042464949
555758606060
Trang 7Hình 1.6: Thí nghiệm hai khe Young
Hình 1.7: Hạt và sóng đi qua các kính phân cực đặt vuông góc
Hình 1.8: Sự truyền của sóng điện từ
Chương II:
Hình 2.1: Phân bố Planck W( )ω
Hình 2.2: Thí nghiệm về hiệu ứng quang điện
Hình 2.3 Hình ảnh các vân giao thoa
Chương III:
Hình 3.1: Cơ chế khuếch đại ánh sáng
Hình 3.2: Laser thể rắn hồng ngọc
Hình 3.3: Vệ tinh SPOT 4 ở quỹ đạo cách trái đất 832 km
Hình 3.4: Hình ảnh minh họa một tiểu hành tinh đang đâm vào
trái đất
Hình 3.5: Tiểu hành tinh Apophis đang nhằm hướng về Trái Đất
(Ảnh minh họa từ internet)
Hình 3.6: Ảnh minh họa các phi hành gia dùng chất nổ phá hủy
tiểu hành tinh
Hình 3.7: Dùng laser để hàn vật liệu với độ chính xác cao
Hình 3.8: Laser cường độ mạnh dùng vật liệu rất nhanh và chính
xác
141415151717212225
29293334
4141475051
52
54
5555
Trang 8Hình 3.9: Ứng dụng của laser trong phép đo khoảng cách
Đồ thị tổng quan về tiến trình phát triển ánh sáng
5761
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
E( hoặc W): năng lượng ánh sáng
µ : độ từ thẩm của chân không
µ: độ từ thẩm của môi trường
n : chiết suất của môi trường
λ: bước sóng ánh sáng
σ: độ dẫn điện
I: cường độ ánh sáng truyền qua môi trường hoạt
I0: Cường độ ánh sáng trong chân không
G: độ phẩm chất của môi trường hoạt
h
G : hệ số mất mát của môi trường hoạt
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, ánh sáng là đối tượng mà con người tiếp xúcđầu tiên khi mở mắt chào đời và cũng là đối tượng tiếp xúc cuối cùng khicon người vĩnh biệt thế giới này để đi về cõi vĩnh hằng
Người bạn ánh sáng mang đến sự sống và song hành với chúng tatrong cuộc sống hàng ngày được sinh ra từ đâu? Bản chất của ánh sáng lànhư thế nào? Có vô vàn những câu hỏi và những thắc mắc mà con người
đã đặt ra cho ánh sáng Tuy rằng ánh sáng được loài người say mê nghiêncứu, nhưng dường như người bạn này lại rất thích chơi trò “đánh đố”.Gần gũi với con người đến như vậy, nhưng việc hiểu bản chất thực sự của
“người bạn” này cũng như cách thức mô tả nó là cả một vấn đề khoa họchết sức hóc búa và phức tạp
Hết thế hệ này sang thế hệ khác, hết thế kỷ này sang thế kỷ kia, conngười vẫn cứ miệt mài tìm tòi về bản chất của nó Có những giai đoạntưởng chừng như đã tìm ra, nhưng rồi các “gợi ý” mới về bản chất củaánh sáng lại xuất hiện và con người lại cứ tiếp tục kiếm tìm Có nhà khoahọc đã định nghĩa một cách rất độc đáo: “Ánh sáng là chỗ tối nhất củakhoa học”
Vì vậy việc tìm hiểu và trình bày một cách tổng quan, đầy đủ về tiến
trình phát triển của lý thuyết về ánh sáng, theo chúng tôi suy nghĩ, là mộtviệc làm thiết thực và có ý nghĩa, giúp chúng ta có dịp nắm bắt một cáchtoàn diện hơn về ánh sáng, đồng thời biết nâng niu và trân trọng hơn đốivới những thành tựu, những phát kiến vĩ đại của các nhà vật lý từ trướccho đến nay Đó là những nhà khoa học đã miệt mài làm việc để chochúng ta có những kiến thức quý báu về ánh sáng làm cơ sở để phát hiện
ra nhiều hiệu ứng mới, phái minh ra những thành tựu khoa học mới
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài:
TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA CON
NGƯỜI VỀ BẢN CHẤT ÁNH SÁNG
Điều này cũng còn có ý nghĩa trong việc tạo nên niềm đam mê họctập và nghiên cứu, tìm hiểu về ánh sáng trong các thế hệ trẻ tương lai củađất nước Vấn đề bản chất ánh sáng đã từng là chỗ tối nhất trong Khoahọc sẽ dần dần được làm rõ, giúp cho nhân loại hiểu được bản chất thực
Trang 10sự của ánh sáng cũng như tiến một bước xa trên con đường chinh phụcánh sáng
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văngồm 03 chương nội dung:
• Chương 1 nói về lược sử hình thành các quan điểm của bản chấtánh sáng
• Chương 2 trình bày về những thành tựu khoa học của thế kỷ 20 vềánh sáng
• Chương 3, trình bày các ứng dụng của các thiết bị có sử dụng ánhsáng - laser
3 ĐỐI TƯỢNGVÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
a Các quan điểm về bản chất ánh sáng
-Sự ra đời các quan điểm này như thế nào?
-Nội dung các quan điểm
b Các lý thuyết về bản chất ánh sáng
c Sử dụng Laser trong đời sống
-Sử dụng Laser trong thông tin liên lạc, điều khiển
-Sử dụng Laser trong công nghiệp, cơ
-Sử dụng Laser trong đo lường tiêu chuẩn
-Sử dụng Laser trong y học
-Sử dụng Laser trong thiên văn, khí tượng
-Sử dụng Laser trong nghiên cứu vũ trụ
3.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
-Từ lúc nền văn minh loài người bắt đầu xuất hiện cho đến nay
-Tập trung nghiên cứu các quan điểm, các thuyết có tính chất nền tảngtrong sự phát triển Khoa học nói riêng và Vật lý nói chung
Trang 11-Nghiên cứu qua sách, báo khoa học, các trang kiến thức khoa họctrên internet, các tài liệu tham khảo khác
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Nghiên cứu lý thuyết:
- Tìm tài liệu
- Đọc tài liệu
- Phân tích tổng hợp và so sánh khái quát
- Khảo sát các ứng dụng thực tế của ánh sáng
• Thống kê số liệu: thống kê, xử lí, đánh giá kết quả thực tế đạt được
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
*Xây dựng được bộ tư liệu tương đối đầy đủ về tiến trình phát triển nhận thức của con người về ánh sáng.
* Luận văn có thể được xem như một bức tranh kiến thức cơ
bản khái quát về lược sử hình thành các quan điểm về bản chất ánh sáng từ thời cổ đại cho đến nay Qua bức tranh này chúng ta thấy, mặc dầu ánh sáng là “người hàng xóm” gần gũi với con người song không phải một sớm, một chiều mà con người có thể hiểu đúng, hiểu đầy đủ về bản chất của nó Rất may là cho đến nay, con người đã qua giai đoạn tìm hiểu bản chất của ánh sáng nói riêng và của trường điện từ nói chung Vấn đề bây giờ là trên cơ sở các hiểu biết về ánh sáng, con người đang tìm cách sử dụng nó một cách thiết thực và hiệu quả nhất để phục vụ lại cho chính con người.
* Hy vọng rằng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các nhà vật lý nói chung và cho các thầy, cô giáo ở cấp phổ thông trung học nói riêng có thêm một tài liệu bổ ích giúp cho quá trình giảng dạy của mình về quang học được chính xác và sinh động hơn.
6 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản của ánh sáng,thành tựu và một số ứng dụng quan trọng của ánh sáng, không đi sâu vàokiến thức chuyên ngành
Trang 12Chương 1
LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH CÁC QUAN ĐIỂM VỀ BẢN CHẤT ÁNH SÁNG
Con đường hình thành quan điểm về ánh sáng:
Ánh sáng là một trong những điều kì lạ trong thế giới ta đang sống Ta chưa biết
gì nhiều về ánh sáng và những gì ta biết chưa hẳn là đã hoàn toàn chính xác Người
ta mới chỉ có thể dựa trên tác động của ánh sáng để “mô tả”, chứ chưa thể nói là lý giải một cách thích đáng Câu hỏi lý thú về bản chất của ánh sáng đã được nêu ra ngay từ thời cổ Hy Lạp Câu hỏi đó thoạt đầu càng có vẻ đơn giản bao nhiêu, thì trái lại,việc có được một câu trả lời minh bạch càng khó khăn bấy nhiêu Sau đây, chúng
ta thử tìm hiểu quá trình lịch sử về sự tồn tại các quan điểm về bản chất ánh sáng
1.1 ÁNH SÁNG TRONG CON MẮT CỦA NGƯỜI CỔ VÀ TRUNG ĐẠI
Empédocle (khoảng 490 - 435 TCN) là tác giả của lý thuyết về thị giác
xa xưa nhất Liên quan đến ánh sáng, Empédocle cho rằng mắt truyền
các “tia thị giác” đến thế giới bên ngoài Sở dĩ có lý thuyết về các tia thị
giác này một phần là do niềm tin dân gian cho rằng các con mắt có chứa
“lửa’’ Theo Empédocle, ánh sáng không đi theo một chiều từ mắt tới vật;ánh sáng còn đi theo chiều ngược lại, từ vật đến mắt
Leucippe (khoảng 460-370 TCN): Trái ngược với “lửa” trong mắt của
Empédocle thoát ra thế giới bên ngoài, Leuccipe cho rằng thế giới thị giác
đến với chúng ta, và do đó, về thực chất, thị giác là một trải nghiệm thụ
động[5] Dưới tác động của ánh sáng, các hình ảnh về các vật quanh ta –
mà Leucippe đặt cho một tên riêng bằng tiếng Hy Lạp là các eidonlon có nghĩa là các ảo ảnh – sẽ tách khỏi bề mặt của vật, như da của một con
rắn lột xác tách khỏi cơ thể, và đi đến mắt chúng ta
Démocrite (460-370 TCN): Các quan điểm của Démocrite về ánh sáng
và thị giác đều dựa trên học thuyết nguyên tử Ông chấp nhận bốn màu cơ
bản của Empédocle – đen, trắng, đỏ và vàng-xanh, nhưng thêm vào đócác màu khác gọi là các màu thứ cấp, như lục và nâu Khác vớiEmpédocle, Démocrite không gắn các màu cơ bản cho bốn nguyên tố, màgắn cho các nguyên tử có hình dạng khác nhau Theo Démocrite, các màu(và các đặc tính giác quan khác như mùi và vị) không hiện hữu trong bản
Trang 13thân các vật.Platon (428-347 TCN): Ở Platon, ánh sáng thuộc vào hạng
siêu hình Mặt Trời là con của cái Thiện, và mắt, nhạy cảm với ánh sáng,
là một cơ quan gắn chặt nhất với Mặt Trời
Như vậy thị giác là kết quả của sự tổng hợp của ba quá trình bổ sung
cho nhau Mắt phát ra lửa, lửa kết hợp với ánh sáng xung quanh để tạo
thành một chùm sáng duy nhất Chùm sáng này được phóng thẳng ra phíatrước cho đến khi gặp bề mặt của một vật; ở đó, nó gặp tia các hạt do vậtphát ra dưới tác dụng của ánh sáng xung quanh và kết hợp với chùm sángban đầu Tia các hạt này chứa thông tin về tình trạng của vật, màu sắc vàkết cấu của nó Sau đó chùm sáng co lại để truyền đến mắt những thôngtin này
Aristolte (384-322 TCN), học trò của Platon, là một triết gia thuộc
trường phái tự nhiên, ông có cái nhìn cụ thể hơn và kinh nghiệm hơn vềhiện thực, đồng thời ông cũng là người bác bỏ thế giới Ý niệm củaPlaton Liên quan đến thị giác, Aristolte bác bỏ dứt khoát các “tia thịgiác” của Empédocle, bởi theo ông lý thuyết này không giải thích đượctại sao chúng ta không nhìn thấy trong bóng tối Ông cũng bác bỏ quanniệm của Platon về các hạt thoát ra từ bề mặt các vật để đi vào mắt người
quan sát Theo ông, sự tri giác các vật được thực hiện không phải thông
qua dòng vật chất, mà bởi ấn tượng của chúng lên các giác quan, cũng
giống như sáp tiếp nhận dấu ấn của chiếc nhẫn nhưng không tước mất của
nó cái chất, sắt hay vàng, đã tạo nên chiếc nhẫn đó Như vậy mắt tiếpnhận các ấn tượng về màu sắc, hình dạng, chuyển động,… Aristolte chorằng tồn tại hai màu cơ bản: đen và trắng Tất cả các màu khác bắt nguồn
từ sự hòa trộn hai màu cơ bản này và biểu hiện các “phẩm chất trunggian”,ở đây,ông giải thích sự hòa trộn 2 màu cơ bản tạo thành các màukhác có sự đóng góp của “nhiệt” Các màu khác cũng có thể bắt nguồn từ
sự hòa trộn giữa đen và trắng trong một môi trường bán trong suốt: đó làtrường hợp các màu nâu đỏ hoặc da cam của cảnh hoàng hôn
Euclide (khoảng 300 TCN): Ông đã dùng toán học để áp dụng cho các
hiện tượng tự nhiên, Euclide đưa ra tiên đề về tập hợp các “tia thị giác”chứa trong một hình nón mà đỉnh của nó là tâm của mắt và đáy là phạm
vi nhìn thấy của mắt Nhờ có tiên đề mặt nón thị giác này và nhờ các tínhtoán hình học, ông đã giải thích được tại sao cây ở xa trông lại nhỏ hơncây ở gần
Claude Ptolémée (khoảng 100-178): Ptolémée cho rằng mắt đồng thời
vừa là máy phát vừa là máy thu: mắt phát ra các “tia thị giác” có cùng
bản chất với ánh sáng và màu sắc Ptolémée cũng đưa ra tiên đề về “mặtnón thị giác”, nhưng khác với Euclide, ông cho rằng mặt nón này không
Trang 14chứa một tập hợp các “tia thị giác” tách biệt, mà chứa một continuum cáctia có mật độ lớn nhất ở trung tâm, tại đó mắt nhìn thấy rõ nhất, nhưnggiảm dần ở rìa mép nơi các chi tiết nhoè mờ hơn Theo ông, “mặt nón thịgiác” bản thân nó không đủ; còn cần phải có thêm ánh sáng bên ngoài đểđược khởi phát sự hoạt động của nó Chẳng hạn, khi “mặt nón thị giác”quét lên bề mặt của một vật, nó chỉ tương tác với vật ấy nếu có ánh sángxung quanh Ánh sáng bên ngoài này càng mạnh thì tương tác càng mạnh.Điều này giải thích tại sao chúng ta không nhìn được trong bóng tối[4].
Ptolémée cũng suy nghĩ về hành trạng của ánh sáng khi nó phản xạ trên
một bề mặt (định luật phản xạ) hay đổi hướng khi đi từ môi trường nàysang môi trường khác (định luật khúc xạ) Ông cũng là người đầu tiênmiêu tả các màu hòa trộn với nhau như thế nào trong mắt của con người.Ông đã vẽ các màu khác nhau trên một bánh xe sau đó quay bánh xe thậtnhanh Mắt không có đủ thời gian để phân biệt từng màu một, mà chỉnhìn thấy các màu này bị trộn vào nhau Ngoài ra, ông còn nhận thấy sựhòa trộn các màu còn có thể là kết quả của khoảng cách: Một bức tranhghép các màu sáng nhìn từ xa có thể cho ấn tượng về màu xám[4]
Claude Galien (130-200) cùng với Hippocrate là hai bác sỹ vĩ đại nhất
thời Cổ đại Ông là một gương mặt lớn góp phần phát triển các ý tưởng
về ánh sáng Galien đã lấy lại một số quan niệm của Aristolte: dưới ảnhhưởng kết hợp của linh khí thị giác và ánh sáng, không khí bao quanh tachịu một biến đổi làm cho mắt nhìn thấy được Các màu sắc cũng làm
cho không khí biến đổi Theo Galien, trung tâm của thị giác là thủy tinh
thể.
Alhazen (965-1040) Theo ông, các tia sáng thật sự tồn tại Chúng lan
truyền theo đường thẳng Khi ánh sáng xung quanh chạm vào một vậtliền bị vật này phản xạ, từ mỗi điểm trên bề mặt của một vật có màu, cácchùm tia sáng lan tỏa theo tất cả các hướng, và chỉ một tỉ lệ nhỏ của
chúng đi vào mắt chúng ta Ở đây Alhazen đã đưa ra ý tưởng về sự tán xạ ánh sáng[5].
Rober Bacon (1214-1292), người Anh Trong các sách chuyên luận về
ánh sáng và màu sắc, ông đã cố gắng tổng hợp các quan niệm củaAristote về ánh sáng và màu sắc (vốn là các “dạng thức” phi vật chất) vàcác quan niệm của Alhazen (màu sắc được truyền bởi các tia phát ra từ tất
cả các điểm của vật) Theo Bacon, mọi vật phóng theo đường thẳng về tất
cả các hướng một cái gì đó thuộc tính chất của nó mà ông gọi là “loài”.Chẳng hạn, Mặt trời phát ra các “loài” sáng
Trang 15Francesco Maria Grimaldi (1618-1663): Ông đã tìm ra phương thức
truyền ánh sáng thứ 4 ngòai 3 phương thức trước đó đã tìm thấy là theo
đường thẳng, bằng phản xạ trên một mặt phẳng như gương chẳng hạn, vàbằng khúc xạ khi thay đổi môi trường Phương thức thứ 4 đó là nhiễu xạánh sáng Nghiên cứu này của ông được công bố vào năm 1665
Những quan điểm này vừa có những mâu thuẫn không được giảiquyết nhưng lại bổ sung cho nhau từ đó bước đầu hình thành những quanđiểm đầu tiên về ánh sáng Và những thế kỷ sau bí ẩn về ánh sáng dầnđược hé mở
Qua việc tìm hiểu những quan điểm về bản chất của ánh sáng trongthời cổ và trung đại, chúng ta có thể nhận ra tầm quan trọng trong việcnhận thức bản chất của ánh sáng khi những quan điểm về bản chất củaánh sáng xuất hiện rất sớm ngay từ lúc nền văn minh loài người bắt đầuxuất hiện Mặc dù có những hạn chế về nhiều mặt nhưng trong thời kỳnày quá trình nhận thức về bản chất ánh sáng của loài người cũng đã cónhững nét đáng lưu ý
1.2 QUAN ĐIỂM VỀ BẢN CHẤT ÁNH SÁNG THẾ XVII ĐẾN XIX
1.2.1 Thế kỉ XVII- XVIII
1.2.1.1 Huygens: Cha đẻ lý thuyết sóng ánh sáng.
Theo Huygens, ánh sáng không thể bắt nguồn từ sự dịch chuyển các
hạt của vật sáng tới mắt Theo ông, ánh sáng lan truyền trong không
Christiaan Huygens (1629-1695) trong một gia đình ưu
tú ở Hà Lan, được coi là nhà toán học và vật lý học lớn
nhất thời kỳ giữa Galileo và Newton.
Trang 16gian cũng giống như sóng được sinh ra khi ta ném một viên đá xuống
ao, nó sẽ truyền trên khắp mặt nước
*Ánh sáng theo quan điểm của Huygens:
Huygens dựa trên khái niệm ánh sáng là sóng: Sóng ánh sáng
truyền trong không gian qua trung gian ête, tồn tại như một thực thể vôhình trong không khí và không gian nhờ vậy mà sóng ánh sáng có thểtruyền chuyển động không những cho tất cả những hạt khác tiếp xúc với
nó mà còn cho tất cả những hạt khác tiếp xúc với hạt đó và cản chuyểnđộng của nó
Hình 1.1: Ánh sáng là sóng
Cơ chế truyền sóng: Theo Huygens, một nguồn sáng bao gồm
vô số các hạt rung động Các hạt này truyền rung động của chúng tới cáchạt ête bên cạnh dưới dạng các sóng cầu có tâm tại mỗi một hạt rung này
Vô số các sóng cầu này được truyền đi, và bán kính tác dụng của chúngtăng dần theo thời gian Chúng chồng chập lên nhau và biểu hiện hỗn độncủa chúng ở gần nguồn sáng giảm dần khi các sóng truyền ra xa nguồnsáng Càng xa nguồn sáng, sóng càng trở nên trơn và đều đặn hơn
Tính chất của sóng ánh sáng: Ánh sáng truyền nhanh hơn rất
nhiều so với âm thanh, điều mà mọi người có thể nhận thấy khi trời cógiống, ta nhìn thấy chớp sớm hơn nhiều khi nghe thấy tiếng sấm.Huygens giải thích sự chênh lệch lớn về vận tốc này là do có độ chênhlệch lớn về độ cứng giữa không khí và ête Vận tốc lan truyền của mộtsóng tăng theo độ cứng của môi trường trong suốt Huygens thừa nhậnrằng các hạt ête cứng và rắn đến mức chúng truyền mọi nhiễu động hầunhư tức thời Chỉ cần một sự rung nhẹ ở đầu bên này của một hạt ête là
Trang 17ngay lập tức nó sẽ được truyền sang đầu bên kia Ngược lại, các hạtkhông khí mềm hơn và truyền các rung động chậm hơn rất nhiều.
*Từ đó, ông giải thích các hiện tượng như sau:
Hiện tượng phản xạ: Nguồn sáng phát ra các sóng ánh sáng trải ra
theo mọi hướng Khi chạm lên gương, các sóng bị phản xạ theo góc tới,nhưng với mỗi sóng phản hồi trở lại tạo ra một ảnh đảo ngược
Hình 1.2: Sự phản xạ của sóng ánh sáng
Hiện tượng khúc xạ ánh sáng: Huygens cho rằng vận tốc ánh
sáng trong một chất bất kì tỉ lệ nghịch với chiết suất của nó Như vậy,vận tốc của ánh sáng trong không khí lớn hơn vận tốc ánh sáng trongnước
nó sẽ uốn cong vào môi trường thứ hai, do đó làm thay đổi hướng truyền
Trang 18Hiện tượng nhiễu xạ: Thuyết sóng của Huyghens chưa giải
thích được hiện tượng này
1.2.1.2 Newton: Ánh sáng là hạt
sáng có tính chất hạt Ánh sáng được coi như những dòng hạt đặc biệt
nhỏ bé được phát ra từ các vật phát sáng và bay theo đường thẳng trongmôi trường đồng chất
Ông bác bỏ giả thuyết sóng ánh sáng vì nếu ánh sáng có bản chất
sóng, như âm thanh, thì trong những điều kiện như nhau, chúng ta sẽ phảinhìn thấy ánh sáng giống như nghe thấy âm thanh
*Từ cơ sở đó, ông giải thích các hiện tượng như sau:
Nguyên nhân tạo ra màu sắc: Do kích thước của các hạt Các hạt
nhỏ nhất tạo ra cảm giác màu tím, các hạt lớn hơn gây ra cảm giác về màu chàm, và cứ tiếp tục như vậy hạt màu đỏ sẽ là lớn nhất Bởi vì tồn
tại bảy màu cơ bản, nên các hạt phải có bảy loại kích thước khác nhau.Như vậy sự tổng giác của chúng ta về các màu là biểu thị chủ quan củamột hiện thực khách quan được quy định bởi kích thước của các hạt
Trang 19Giải thích các định luật phản xạ, khúc xạ và nhiễu xạ, Newton đã đưavào các lực hút và đẩy giữa các hạt ánh sáng, những hạt mà nếu để tự dochúng sẽ truyền theo đường thẳng.
Hiện tượng phản xạ: Do sự phản xạ của các quả cầu đàn hồi trong
chùm sáng khi va chạm và các hạt bị nảy lên từ những điểm khác nhau,nên trật tự của chúng trong chùm sáng bị đảo ngược lại tạo ra một hìnhđảo ngược Nếu bề mặt quá gồ ghề thì các hạt bị nảy lên ở nhiều góc khácnhau, kết quả là làm tán xạ ánh sáng
Hình 1.4: Sự phản xạ của hạt ánh sáng
Hiện tượng khúc xạ: Do tác dụng của mặt phân giới lên hạt ánh
sáng làm cho hạt đó thay đổi hướng truyền và bị gãy khúc ở mặt phâncách giữa hai môi trường Vì ánh sáng đi vào môi trường đậm đặc hơn sẽ
bị các phân tử môi trường đó hút và vận tốc sẽ tăng lên dẫn đến vận tốcánh sáng trong môi trường nước hay thủy tinh lại lớn hơn vận tốc ánhsáng trong môi trường khí
Trang 20Tán sắc ánh sáng qua lăng kính: Ông đưa ra giả thuyết cho rằng
trên bề mặt của một vật trong suốt tồn tại một vùng rất mỏng ở đó có mộtlực tác dụng để kéo các tia sáng vào bên trong nó Vì vậy, các hạt màutím, do chúng nhỏ hơn, sẽ bị hút bởi một môi trường đặc hơn không khímạnh hơn so với các hạt lớn hơn có màu đỏ, tức các hạt màu tím bị lệchkhỏi đường đi ban đầu của nó nhiều hơn các hạt màu đỏ Như vậy,Newton đã giải thích được tại sao các chùm đơn sắc khác nhau lại bị lệchhướng khác nhau bởi cùng một môi trường, và tại sao một chùm đơn sắc
bị lệch hướng khác nhau trong các môi trường trong suốt khác nhau
Hiện tượng nhiễu xạ: Ông giải thích là do có một lực đẩy có
tác dụng đẩy các hạt ánh sáng vào trong bóng tối hình học của một vật
Tuy thuyết hạt của Newton đã được sự chấp nhận rộng rãi,nhưng một thí nghiệm đặc biệt, cũng do chính ông thực hiện đã khiếnchúng ta phải suy nghĩ
Khi Newton đặt một thấu kính phẳng lồi lên trên một tấm thủytinh (với mặt phẳng ngửa lên trên) và chiếu sáng tất cả bằng ánh sáng đơnsắc, ông đã phát hiện ra một hiện tượng quang học mới rất lạ Nhiều vòngtròn đồng tâm (ngày nay được gọi là các “vân tròn Newton”) xuất hiện,đan xen giữa vân đen và vân màu Hoàn toàn tự nhiên, Newton giải thíchcác vân đen là vùng ở đó ánh sáng bị thấu kính phản xạ, và các vân màu
là các vùng ở đó ánh sáng được truyền qua Nhưng làm thế nào có thểgiải thích được một hạt ánh sáng, khi đến bề mặt của thấu kính, lúc thìphản xạ lúc thì được truyền qua?
Và do đó ông lại đặt ra một giả thuyết mới, ông cho rằng mỗihạt ánh sáng có một tính chất gọi là “accès” Hạt có “accès” truyền quathì dễ dàng truyền qua còn hạt có “accès” phản xạ thì dễ phản xạ Rõràng, giả thuyết này của Newton đưa ra lại làm nảy sinh thêm vấn đề khicần phải có thêm một lí thuyết mới nữa để giải thích cái tính chất gọi là
“accès” này Như vậy thì lí thuyết hạt của Newton có hoàn toàn hợp líhay không?
Trang 211.2.1.3 Leonhard Euler (1707 – 1783)
Sự hồi sinh của lý thuyết sóng ánh sáng:
Sau khi quyển “Optiks” của Newton được xuất bản năm 1704, suốtthế kỷ XVIII đã diễn ra cuộc tranh luận về bản chất của ánh sáng với haiquan điểm trái ngược nhau: quan điểm cho rằng bản chất ánh sáng làsóng và quan điểm cho rằng bản chất ánh sáng là hạt Suốt thế kỷ này, lýthuyết hạt ánh sáng của Newton đã lấn át tuyệt đối lý thuyết sóng ánhsáng mà Huygens đề xuất Do đó thuyết thuyết hạt ánh sáng được các nhàvật lý trong thời kì này chấp nhận nhưng vẫn có một quan điểm chống lại
quan điểm ánh sáng là hạt đó là quan điểm của nhà toán học Leonhard Euler (1707 – 1783)
Ông cho rằng có sự tương tự
hóa giữa ánh sáng và âm thanh
“có một sự hài hòa tương tự giữa
các nguyên nhân và các tính chất
khác của âm thanh và ánh sáng,
và như vậy lý thuyết âm thanh
chắc chắn sẽ làm sáng tỏ rất
nhiều lý thuyết ánh sáng”.
Một trong những điểm tiến
bộ trong quan niệm sóng của
Euler là ông cho rằng: mỗi một
màu của ánh sáng được đặc trưng
bởi một bước sóng nhất định.
Như vậy, Euler là người đầu tiên gắn kết các khái niệm bước sóng
và tần số với màu sắc.
Thế kỷ XVIII khép lại, quan niệm ánh sáng là sóng vẫn chìm nổi
với chỉ một tiếng nói bảo vệ thuyết sóng của Euler Tuy chưa đầy đủnhưng luận điểm của Euler đã thể hiện sự tiến bộ so với các tiền bối bởiông đã đưa ra một cách giải thích chấp nhận được về nguồn gốc các màu
Trang 22sắc mà trước đó cả Newton lẫn Huygens đều không thể có một cách giảithích đúng đắn
Bước sang thế kỷ XIX, chúng ta sẽ được chứng kiến sự hồi sinh và
phát triển vượt bậc của lý thuyết sóng ánh sáng Ở nửa đầu thế kỷ này
đã diễn ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực quang học tương tự như cuộc cách mạng của Copernic và Galilée trước đó gần ba thế kỷ Hai
nhân vật có vai trò to lớn cho cuộc cách mạng trong quang học là ThomasYoung và Augustin Fresnel[6]
1.2.2 Thế kỉ XIX
1.2.2.1 Thomas Young (1773 – 1829), người Anh
Gần 100 năm sau khi
Newton và Huygens đề xuất lí
thuyết của họ, một nhà vật lí người
Anh tên là Thomas Young đã thực
được một số loại tương tác xảy ra
khi hai sóng ánh sáng gặp nhau.
Để kiểm tra giả thuyết này, ông
dùng một màn chứa một khe hẹp
để tạo ra chùm ánh sáng kết hợp
(gồm các sóng truyền cùng pha
với nhau) từ nguồn ánh sáng Mặt
Trời Khi các tia sáng Mặt Trời chạm tới khe, chúng trải rộng ra, hay nhiễu xạ, tạo ra một mặt sóng.
Nếu như mặt sóng này được cho rọi tới một màn thứ hai có hai khe đặt rất gần nhau, thì hai nguồn ánh sáng kết hợp nữa, hoàn toàn đồng bộ với nhau, được tạo ra (hình 1.6) Ánh sáng từ mỗi khe truyền tới một điểm nằm giữa hai khe phải hoàn toàn đồng bộ với nhau Tuy nhiên, nếu xét một điểm nào đó nằm về một phía so với điểm chính giữa, thì ánh sáng từ một khe sẽ truyền tới điểm đó qua một đoạn đường dài hơn so với ánh sáng truyền từ khe phía bên kia Ánh sáng từ khe gần hơn sẽ truyền tới điểm thứ hai này trước so với ánh sáng từ khe ở xa, nên hai sóng không còn đồng bộ với nhau, và có thể hủy nhau tạo nên bóng tối.
Trang 23Đúng như ông nghi ngờ, Young phát hiện thấy khi các sóng ánh sáng từ bộ khe thứ hai bị trải ra (hay nhiễu xạ), chúng gặp nhau và chồng chập lên nhau Trong một số trường hợp, sự chồng chập kết hợp đồng bộ chính xác với nhau Tuy nhiên, trong một số trường hợp khác, các sóng ánh sáng kết hợp hoàn toàn không đồng bộ với nhau hoặc chỉ đồng bộ một phần Young nhận thấy khi các sóng gặp nhau đồng bộ, chúng cộng gộp với nhau bằng một quá trình gọi là giao thoa tăng cường Các sóng gặp nhau không đồng bộ sẽ hủy lẫn nhau, hiện tượng này gọi là giao thoa triệt tiêu Ở giữa hai thái cực này, những mức độ khác nhau của giao thoa tăng cường và triệt tiêu xảy ra làm tạo ra sóng
có phổ biên độ rộng Young cũng có thể quan sát thấy các hiệu ứng giao thoa trên màn hình đặt ở một khoảng cách nhất định phía sau hai khe Sau khi nhiễu xạ, ánh sáng tái kết hợp bằng giao thoa tạo ra dải vân sáng và tối dọc theo chiều dài của màn hình.
Hình 1.6: Thí nghiệm hai khe Young.
Mặc dù có vẻ quan trọng, nhưng kết luận của Young không được chấp nhận rộng rãi vào lúc đó, chủ yếu do bởi niềm tin quá mãnh liệt vào thuyết hạt Ngoài quan sát sự giao thoa ánh sáng, Young còn cho rằng ánh sáng có các màu khác nhau gồm các sóng có chiều dài khác nhau, một khái niệm cơ sở được công nhận rộng rãi hiện nay Trái lại, thuyết hạt chủ trương rằng màu sắc ánh sáng khác nhau là do các hạt có khối lượng khác nhau hoặc truyền đi với vận tốc khác nhau.
Hiệu ứng giao thoa không chỉ giới hạn có ánh sáng Các sóng tạo ra trên mặt hồ, hoặc ao, sẽ trải ra theo mọi hướng và chịu sự hành xử tương tự Khi hai sóng gặp nhau đồng bộ, chúng sẽ cộng gộp với nhau tạo ra một sóng hơn bằng giao thoa tăng cường Các sóng chạm nhau không đồng
bộ sẽ hủy nhau qua giao thoa triệt tiêu và tạo ra bề mặt phẳng trên nước Thêm một bằng chứng nữa cho bản chất giống sóng của ánh sáng được phát hiện khi hành trạng của chùm sáng giữa các kính phân cực đặt chéo
Trang 24nhau được nghiên cứu tỉ mỉ (hình 1.7) Kính phân cực có cấu trúc phân
tử độc nhất vô nhị chỉ cho phép ánh sáng có một định hướng nào đó truyền qua chúng Nói cách khác, kính phân cực có thể được xem như một loại màn che đặc biệt có các hàng thanh nhỏ xíu định theo một hướng bên trong chất phân cực Nếu cho một chùm sáng tới đập vào kính phân cực, chỉ có những tia sáng định hướng song song với hướng phân cực mới có thể truyền qua kính Nếu đặt một kính phân cực thứ hai phía sau kính thứ nhất và định hướng giống như kính thứ nhất, thì ánh sáng truyền qua được kính thứ nhất cũng sẽ truyền qua được kính thứ hai.
Hình 1.7: Hạt và sóng đi qua các kính phân cực đặt vuông góc
Tuy nhiên, nếu quay kính phân cực thứ hai đi một góc nhỏ, thì lượng ánh sáng truyền qua nó sẽ giảm xuống Khi quay kính phân cực thứ hai đến vị trí định hướng vuông góc với kính thứ nhất, thì không có ánh sáng nào đã truyền qua được kính thứ nhất sẽ truyền qua được kính thứ hai Kết quả này dễ dàng giải thích được với thuyết sóng, còn việc vận dụng thuyết hạt không thể giải thích được ánh sáng bị chặn lại như thế nào bởi kính thứ hai Thật vậy, thuyết hạt cũng không thể giải thích thỏa đáng hiện tượng giao thoa và nhiễu xạ, những hiệu ứng mà sau này người ta xem là thuộc cùng một hiện tượng Kết quả quan sát với ánh sáng phân cực đủ để phát triển khái niệm ánh sáng gồm các sóng ngang
có các thành phần vuông góc với hướng truyền sóng.
Mỗi thành phần ngang phải có một định hướng đặc biệt cho phép
nó truyền qua hoặc là bị chặn lại bởi một kính phân cực Chỉ những sóng
có thành phần ngang song song với bộ lọc phân cực mới truyền qua được, còn những sóng khác đều bị chặn lại.
1.2.2.2 Augustin Fresnel (1788 – 1827), người Pháp.
Trang 25Fresnel đã công nhận bản chất sóng của ánh sáng qua thí nghiệm về giao thoa mà ông đã tự bố trí (dùng hai gương phẳng đặt lệch nhau một góc gần bằng 180 o , thường được gọi là hai gương Fresnel).
Augustin Fresnel (1788 – 1827)
Fresnel cũng là người đầu tiên theo trường phái sóng ánh sáng đãgiải thích thành công hiện tượng phân cực ánh sáng đã khiến cho nhữngngười bảo vệ lý thuyết sóng phải rất đau đầu ngay cả Thomas Young Bởinếu coi ánh sáng là sóng giống như âm thanh thì cả hai phải có cùng cáchiệu ứng, trong khi không thể tìm ra hiện tượng phân cực ở sóng âm Đểgiải thích hiện tượng này, Fresnel đã đưa ra một lời giải mang tính cách
mạng: mặc dù cả âm thanh và ánh sáng đều có bản chất sóng, nhưng chúng khác nhau về mặt phẳng dao động
Những công trình của Young và Fresnel đã giúp cho lý thuyết sónghồi sinh và trở nên áp đảo lý thuyết hạt vốn đứng vững bởi uy tín củaNewton Ngoài ra, những bằng chứng thực nghiệm được thực hiện saukhi hai ông mất đã khẳng định sự đúng đắn của lý thuyết sóng ánh sáng
Vào giữa những năm 1800, các nhà khoa học không ngừng bị thuyết phục trước đặc trưng giống sóng của ánh sáng, nhưng vẫn còn một chỗ hổng lớn chưa được lấp Đó là ánh sáng thật ra là gì ? Một đột phá được thực hiện bởi nhà vật lí người Anh James Clerk Maxwell khi ông phát hiện thấy tất cả các dạng bức xạ điện từ đều có phổ liên tục và truyền qua chân không với cùng một tốc độ: 186000 dặm một giây Khám phá của Maxwell thật sự đã đóng đinh quan tài cho thuyết hạt, và vào
Trang 26buổi bình minh của thế kỉ 20, hình như những câu hỏi cơ bản về ánh sáng
và lí thuyết quang học cuối cùng đã được trả lời.
1.2.2.3 Ánh sáng: cuộc hôn phối giữa điện và từ:
James Clerk Maxwell (1831-1879)
Sau khi lý thuyết sóng, lý thuyết hạt ra đời và gây nhiều tranh luậnthì năm 1865 James Clerk Maxwell đưa ra lý thuyết điện từ
Maxwell là người đầu tiên khẳng định sự tồn tại của trường điện từ.Sau khi tổng hợp các kiến thức về điện và từ đã được các nhà vật lý xâydựng trước đó, Maxwell đã đưa ra hệ gồm 4 phương trình, mỗi phươngtrình chỉ dài vỏn vẹn một dòng và được biểu diễn bằng ngôn ngữ toán học
cô đọng Bốn phương trình này được hậu thế biết đến với tên gọi “Hệ phương trình Maxwell”:
H
t
B E
Trang 27nó tồn tại một điện trường Điện trường này có tính chất thế; có nghĩa làcông của lực điện trường dịch chuyển điện tích theo một đường cong kínbằng không Nói cách khác, công thức này mô tả định luật Gauss viếtdưới dạng vi phân.
- Phương trình 2: Nguồn để sinh ra điện trường là sự biến thiên của
từ trường Nghĩa là chổ nào có sự biến thiên của từ trường thì chỗ đó sẽsinh ra điện trường Tuy nhiên điện trường này có bản chất khác hẳn điệntrường do điện tích đứng yên gây ra Sự khác nhau thể hiện ở chỗ:
+ Đường sức của điện trường này là những đưởng cong kín, không có
điểm xuất phát cũng như không có điểm tận cùng
+ Công của lực điện trường xoáy làm dịch chuyển điện tích theo
đường cong kín khác không
- Phương trình 3: Nguồn để sinh ra từ trường chính là dòng điện và
sự biến thiên của điện trường Vì từ trường chỉ có một tính chất duy nhất
là từ trường xoáy Bởi vậy, cả hai nguồn đều có mặt trong cùng mộtphương trình
- Phương trình 4: Nói lên tính chất xoáy của từ trường, nghĩa làđường sức từ trường là những đường cong kín – không có điểm xuất phátcũng như không có điểm tận cùng Tức là trong tự nhiên không tồn tại cáigọi là “từ tích”
Từ các phương trình trên,
Maxwell phát hiện ra rằng sóng
ánh sáng thực chất chỉ thuộc một
vùng bước sóng ( vùng tần số) của
dãi sóng điện từ Bởi thứ nhất, ông
đã dựa vào các phương trình để vẽ
ra một kịch bản về cuộc hôn nhân
giữa điện và từ, theo đó điện và từ
trở thành một cặp thống nhất không
thể tách rời Chúng là hai thành phần của sóng điện từ lan truyền trongkhông gian dưới dạng sóng ngang, tức các đỉnh và các hõm sóng nằm
trong một mặt phẳng vuông góc với phương truyền sóng (hình 1.8) Thứ
hai, vào năm 1873, Maxwell đã tính toán chính xác vận tốc truyền sóngđiện từ, đáp số này hoàn toàn trùng khớp với vận tốc ánh sáng
Trang 28Theo đó ánh sáng là một nhiễu loạn điện từ và vận tốc ánh sáng trongmột môi trường do các hằng số ε và μ của môi trường đó xác định.Thuyết điện từ của Maxwell đã thiết lập mối liên hệ giữa tính chất điện và
từ với tính chất quang theo hệ thức:
c
n
(trong đó c và v tương ứng là vận tốc ánh sang trong chân không và trong
môi trường có hằng số điện môi ε và độ từ thẩmµ, và n là chiết suất của
môi trường).
Tuy nhiên vì các đại lượng ε và μ trong hệ phương trình Maxwellkhông phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng, cho nên lý thuyết điện từ ánhsáng vẫn chưa giải thích được hiện tượng tán sắc ánh sáng
Hệ phương trình Maxwell mô tả động học của trường điện từ cả trênbình diện toán học và bình diện lý thuyết Khoảng 27 năm sau phát hiện
lý thuyết của Maxwell, sóng điện từ đã được chứng minh bằng thựcnghiệm Heinrich Hertz (1857-1894) là tác giả của công trình này vàonăm 1887, khi ông đã tạo ra sóng điện từ và chứng minh được sự tồn tạicủa nó trong các thí nghiệm của mình
Trong lịch sử vật lý, Newton đã thống nhất trời và đất qua định luật vạn vật hấp dẫn thì đến lượt Maxwell đã thống nhất không chỉ điện và từ
mà còn cả quang học, ông được coi là nhà thống nhất vĩ đại thứ hai của vật lý học.
Theo lý thuyết điện tử, tất cả các hiện tượng điện từ trong môi trường cóthể được giải thích nhờ các định luật về sự sinh ra trường điện từ nhờ cácđiện tích và các dòng điện trong chân không Bởi vậy ảnh hưởng củamôi trường lên trường điện từ được phản ánh qua việc xuất hiện các cácđiện tích hay các dòng bổ sung nào đó trong môi trường trong nhữngđiều kiện cụ thể Bằng cách đó, người ta đã giải thích được rất nhiều hiện
Trang 29tượng điện từ trong môi trường vật chất như hiện tượng tán sắc, hấp thụánh sáng;
Tuy nhiên hiện nay, người ta đã biết rằng không phải tất cả các tínhchất điện từ nào của các môi trường vật chất cũng đều được giải thíchnhư vậy Chẳng hạn, bằng cách đó, người ta không thể giải thích được sựtồn tại mô men từ ở các hạt cơ bản hay như những hiện tượng có liên hệtới sự tương tác của ánh sáng với môi trường, đặc biệt là sự phát xạ củavật đen tuyệt đối
Trên cơ sở của thuyết điện tử, người ta đã thiết lập được hệ phươngtrình mới gọi là hệ các phương trình Maxwell – Lorentz Nội dung vật lýcủa hệ phương trình này cũng giống như hệ phương trình Maxwell trongchân không Tuy nhiên hệ phương trình Maxwell trong chân không chỉ làmột trường hợp riêng của hệ phương trình Maxwell – Lorentz mà thôi.Ảnh hưởng của môi trường lên trường điện từ được xác định bởi đặctrưng cụ thể của sự phân bố và sự chuyển động của các điện tích trongmôi trường, kể cả trong các nguyên tử và các phân tử Điều đó được phảnánh trong trong biểu thức của vr
và ρ trong các phương trình của thuyếtđiện tử
• Thuyết điện từ của Maxwell và thuyết điện tử của Lorentz đã chophép hiểu được rất nhiều hiện tượng và quá trình quang học, song lạikhông giải thích được các kết quả thực nghiệm về sự bức xạ của các vậtđen lý tưởng Khi khảo sát mật độ năng lượng bức xạ đơn sắc của vật đen
lý tưởng vào tần số v thì thuyết điện từ của Maxwell chỉ phù hợp với thực
nghiệm ở những tần số thấp (tức bước sóng dài), nhưng ở những tần sốcao tiên đoán lý thuyết không còn phù hợp với thực nghiệm nữa
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong chương này chúng ta đã đề cập, tìm hiểu đến quá trình lịch sử của việc nhận thức về bản chất ánh sáng Lịch sử đã cho thấy rằng từ thời xa xưa, các nhà Khoa học đã tìm hiểu bản chất của ánh sáng bằng việc đưa ra các giả thuyết để giải thích vì sao động vật lại có thể nhìn thấy các đối tượng vật chất khác
Trong quá trình lịch sử này nổi lên hai quan niệm về bản chất ánh sáng khác hẳn nhau đó là: quan điểm cho rằng ánh sáng có cấu tạo từ các hạt, đại diện là Newton Quan điểm kia cho rằng ánh sáng được cấu tạo từ sóng, đại diện là Huygens
Chương2:
NHỮNG THÀNH TỰU KHOA HỌC
Trang 30TRONG THẾ KỶ XX VỀ ÁNH SÁNG
Thuyết điện từ của Maxwell và thuyết điện tử của Lorentz đã cho phép hiểu được một số nhiều hiện tượng và quá trình quang học Và cuộc đấu tranh đưa đến kết luận bản chất “Lưỡng tính sóng - hạt của ánh sáng” trong nhiều thế kỷ Chỉ trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 20 mới đủ sức thuyết phục mang tới câu trả lời toàn diện, và trước sự ngạc nhiên của nhiều người, hóa ra cả hai lí thuyết đều chính xác, ít nhất là trong từng bộ phận.
2.1 Lý thuyết lượng tử năng lượng:
Trước năm 1900, ở lĩnh vực nhiệt động học, trong vật lý học có mộtvấn đề nhỏ, dường như không quan trọng nhưng không thể bỏ qua được
Ta tưởng tượng có một vật đen lý tưởng, không phản xạ sóng điện từ màhấp thụ toàn bộ bức xạ truyền tới Vật thể như thế sẽ bức xạ một phổ sóngđiện từ chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ của nó, chứ không hề phụ thuộc vào
Nhà vật lý học vĩ đại Max Planck (1858-1945),
cha đẻ thuyết lượng tử
Trang 31chất liệu mà nó được tạo ra hay các ảnh hưởng khác Bức xạ này gọi làbức xạ của vật đen.
Lý thuyết lượng tử năng lượng được Plăng đưa ra năm 1900 để giảiquyết những khó khăn trong việc giải thích sự bức xạ nhiệt của vật đen.Theo Plăng sự phát xạ trường điện từ do vật không thể xảy ra một cáchliên tục mà là gián đoạn, nghĩa là thành từng lượng năng lượng tỉ lệ vớitần số bức xạ (hay tỉ lệ nghịch với bước sóng) Những nguyên tử hayphân tử vật chất hấp thụ hay bức xạ năng lượng thành từng phần riêngbiệt, gián đoạn, mỗi phần mang một năng lượng có độ lớn hoàn toàn xácđịnh
Ông khám phá rằng sự hấp thu hay phát xạ năng lượng của một vật thểđen (kim loại được đun nóng lên đến một nhiệt độ nào đó) không diễn raliên tục như người ta nghĩ, mà chỉ diễn ra ở dạng các gói rời rạc (discretepackages), và các "chùm" năng lượng này được gọi là lượng tử(quantum) Giống như bia, không phải được phân phối bằng một cái vòichảy liên tục mà là dưới dạng các lon bia, chai bia hay thùng bia, kích cỡkhác nhau, nghĩa là dạng "các gói rời rạc" Nếu E là năng lượng được trao
đổi đó, thì Planck đưa ra công thức E = hv bất tử đi vào lịch sử, trong đó
h là hằng số, sau này được gọi là hằng số Planck[2], và ν là tần số củaánh sáng
Hình 2.1 Phân bố Planck W( )ω
Đồ thị trên hình 2.1, cho ta vị dụ về những hàm phân bố phổ khácnhau của vật đen ở những nhiệt độ khác nhau Trên trục tung là công suấtbức xạ (năng suất bức xạ) còn trục hoành là tần số của bức xạ điện từ.Những giá trị này có thể thu được bằng thực nghiệm
Tuy nhiên, khi so sánh lý thuyết và thực nghiệm của bức xạ vật đen,người ta thấy rằng chúng mâu thuẫn với nhau Lý thuyết trước đây nói
Trang 32rằng năng suất bức xạ tỷ lệ thuận với bậc hai của tần số (hay tỷ lệ nghịchvới bậc 4 của bước sóng) theo công thức thực nghiệm Rayleigh – Jeans:
8
λ
π πν
Điều này có nghĩa là phân bố phổ phải có dạng sao cho khi bước sóngcàng nhỏ λ → 0 hay ( ν → ∞ ) thì công suất bức xạ phải tiến tới vôcùng Điều này đương nhiên mâu thuẫn với thực nghiệm (hình 2.1) vì lúc
đó thực nghiệm cho thấy công suất bức xạ tiến tới 0 Hiện tượng lý thuyếttiên đoán ở đây được gọi là thảm họa tử ngoại
Thảm họa này được giải quyết như thế nào ?
Như trên đã đề cập, ngay trước thềm thế kỷ XX, tại hội nghị có thểnói là quan trọng nhất về lý thuyết lượng tử ngày 14/10/1900, MaxPlanck đã làm nên giờ phút sinh thành của vật lý lượng tử và do đó tựmình trở thành cha để của lý thuyết này Ông đã giải bài toán về thảm họa
tử ngoại của phân bố phổ bức xạ của vật đen bằng cách đưa ra một cáchthiên tài công thức bức xạ hoàn toàn mới
Cũng thật thú vị khi nhớ lại rằng chính Planck đã mô tả công thức của
mình như là một ‘‘sự can thiệp nhân tạo’’ khi biến đổi công thức bức xạ
cổ điển để đưa ra hàm phân bố phổ lý thuyết về gần phù hợp với kết quảthực nghiệm [6] Ông thường nhấn mạnh rằng, ông đã tìm ra công thứcmới này khi buộc phải có ‘‘một hành động đáng nghi ngờ’’ Điều tuyệtvời là, công thức bức xạ do Planck mới tìm ra nhờ giả thuyết lượng tửcho phép mô tả các kết quả thực nghiệm rất hoàn hảo trong phạm vi độchính xác của phép đo (sai số chỉ vài phần lẻ)
Định luật mang tính cách mạng này được gọi là định luật bức xạPlanck, để vinh danh cho người tìm ra nó Biểu thức của định luật này là:
( )
1
8
/ 3
W ν πν ν ν
Ta sẽ không đi sâu vào các chi tiết dẫn giải dài dòng và phức tạp cũngnhư cách xây dựng chính xác của công thức bức xạ này Cái mà chúng taquan tâm là sự đổi mới cơ bản của Planck, là giải thuyết có tính cáchmạng của ông
Trang 33Trong công thức trên, ý tưởng đột phá, trái ngược với cách tiếp cận
cổ điển, là một quan niệm có tính lượng tử về bức xạ cũng như sự hấp thụbức xạ điện từ ở trong vật đen[1] Theo đó, vật đen hấp thụ nhiệt lượngqua những phần nhỏ nhất gọi là lượng tử, tức là những ‘‘bó năng lượngnhỏ’’, và khi bức xạ cũng phát ra từng ấy lượng tử như vậy Theo giảthuyết của Planck, năng lượng của mỗi lượng tử như vậy phụ thuộc vàotần số ν và một hằng số sau này có tên là lượng tử tác dụng hay cònđược gọi là hằng số Planck h Giá trị của hằng số này là h= 6,625.10-34Js.Như thế, năng lượng của mỗi lượng tử bức xạ điện từ, theo giả thuyết
Planck sẽ là: W = h.v
Ngay từ thời đó, thật đáng ngạc nhiên là Planck đã có thể đưa ra mộtgiá trị bằng số khá chính xác của h Về sau, giá trị chính xác của hằng sốnày đã được thực nghiệm xác nhận
Như vậy chúng ta thấy rằng Planck đã đặt hòn đá tảng làm nền móngcho việc hình thành lĩnh vực quang lượng tử khi giả thiết về tính giánđoạn của năng lượng Nhờ đó, chúng ta đã giải thích được sự phân bốgián đoạn của phổ bức xạ năng lượng của vật đen tuyệt đối
Mặc dù vậy, lý thuyết lượng tử năng lượng chỉ mới đề cập đến tínhchất gián đoạn của năng lượng bức xạ của vật đen tuyệt đối mà chưa nêu
rõ được bản chất lượng tử năng lượng này
Cuối cùng, có lẽ cũng nên lại câu chuyện hơi có màu sắc giai thoại
như sau: Khi thực hiện lượng tử hóa trong thế giới vi mô (bằng cách đưavào hằng số h), chính Planck chỉ xem đó như một hỗ trợ về mặt toán học
để kết quả tính toán lý thuyết phù hợp với phân bố phổ của bức xạ của vậtđen được tìm thấy bằng thực nghiệm
Mãi đến năm 1905, khi nghiên cứu hiệu ứng quang điện, AlbertEinstein mới nhận ra rằng, lượng tử hóa năng lượng không chỉ đóng vaitrò là hỗ trợ toán học, mà còn diễn đạt một tính chất cơ bản của bức xạđiện từ
2.2 Lý thuyết lượng tử ánh sáng:
Đầu thế kỷ XX, một luồng gió mới lại thổi tới trong vấn đề bản chất của ánh sáng với một công trình của chính Albert Einstein về “Hiệu ứng quang điện”.Theo Einstein, các hiện tượng của hiệu ứng quang điện không thể giải thích được khi ta xem ánh sáng là sóng mà chỉ có thể giải thích được xem ánh sáng là một dòng hạt Đó là các hạt photon ánh sáng.
2.2.1 Hiệu ứng quang điện:
Trang 34Hiệu ứng quang điện là một hiện tượng trong đó các electron thoát
ra khỏi bề mặt của một tấm kim loại khi có ánh sáng chiếu vào Theo nhưquan điểm cổ điển thì với cường độ ánh sáng càng mạnh thì electron ngàycàng tích tụ được nhiều năng lượng để bức ra khỏi kim loại, nhưng trênthực tế thí nghiệm lại không phải như vậy
Einstein đã nhận thấy rằng,
nếu chiếu một ánh sáng có tần số
thấp vào một kim loại, thì hiệu
ứng vẫn không thể xảy ra, dù
chiếu với cường độ mạnh bao
nhiêu đi nữa Ngược lại khi chiều
ánh sáng với tần số cao, như ánh
sáng cực tím thì hiệu ứng lại lập
tức xảy ra mà không cần khoảng
thời gian để electron tích lũy năng
lượng
Để giải thích về hiện tượng
kì lạ này, Einstein đã đặt vấn đề
cần xem xét lại bản chất của ánh
sáng Ông đã đưa ra một giả
thuyết táo bạo rằng hiệu ứng
quang điện chỉ có thể giải thích
được nếu sóng ánh sáng bị kim loại hấp thụ không phải là một sóng liêntục mà được cấu thành từ các “hạt” hay các lượng tử năng lượng xácđịnh Năng lượng này không thể tùy tiện lấy bất kì, mà đúng bằng mộtbội số của tần số Einstein đã phát triển thuyết lượng tử Planck đưa rathuyết lượng tử ánh sáng để giải thích các định luật quang điện Theothuyết này thì: ánh sáng không những được bức xạ mà còn bị hấp thụ vàtruyền đi thành từng lượng năng lượng gián đoạn gọi là lượng tử ánhsáng
Lượng tử ánh sáng về sau được gọi là photon, và thuyết lượng tử ánhsáng còn gọi là thuyết photon Thuyết lượng tử ánh sáng đã giải thíchđược hàng loạt hiện tượng mà thuyết điện từ tỏ ra bất lực như: sự phát xạ,hấp thụ ánh sáng, các hiện tượng quang điện, huỳnh quang,…Thuyếtlượng tử ánh sáng không giống với thuyết hạt ánh sáng vì nó vẫn giữ cảnhững khái niệm sóng Như vậy ánh sáng vừa có tính chất sóng vừa cótính chất hạt, ta nói nó có lưỡng tính sóng – hạt
Trong khuôn khổ giả thuyết này thì Einstein đã giải thích được tất cảcác sự kiện thực nghiệm quan sát được Như vậy, một lần nữa ánh sánglại được khẳng định về bản chất hạt của nó, tuy nhiên ta có thể thấy quanniệm “hạt ánh sáng” do Einstein đưa ra là khác với quan niệm trước đâycủa Newton, đó không phải là những hạt cơ học đơn giản như quan niệmcủa Newton mà có những thuộc tính riêng của nó Nhờ vào giả thuyết về
Trang 35Hình 2.2 Thí nghiệm về hiệu ứng quang điện
lượng tử ánh sáng này Einstein đã hoàn toàn giải thích được 3 thí nghiệmcủa mình về hiệu ứng quang điện Chính “Hiệu ứng quang điện” này làcông trình đã mang đến cho Einstein giải thưởng Nobel chứ không phải là
“Thuyết tương đối hẹp” như nhiều người vẫn thường lầm tưởng
2.2.2 Lý thuyết lượng tử ánh sáng:
Năm 1905, Albert Einstein đề xuất rằng ánh sáng thực ra có một số
đặc trưng hạt, bất chấp những bằng chứng tràn ngập cho bản chất giốngsóng của ánh sáng Einstein là khoa học gia được giải Nobel về khoa học(1921) khi ông xác minh được ánh sáng có
bản chất hạt trong thí nghiệm quang điện
Ánh sáng được rọi vào một tấm kim loại,
là vật liệu giàu điện tử Khi Einstein thay
đổi tần số của ánh sáng tới (tức là thay đổi
màu ánh sáng) đến một giá trị nào đó thì
cây kim trên máy đo bắt đầu chuyển động,
chỉ dấu cho một dòng điện chạy
Thay đổi cường độ
nhân với một hằng số gọi là hằng số Planck Hạt cơ bản này gọi là quang
tử Khi tần số của ánh sáng tới lớn hơn một giá trị nào đó thì năng lượngcủa quang tử đủ lớn để đánh rời hạt điện tử đang liên kết với các nguyên
tử trên bề mặt kim loại để chúng tự do bay từ mặt kim loại bên phải(được rọi sáng) qua mặt kim loại bên trái Sự chuyển động của các hạtđiện tử, theo định nghĩa, chính là dòng điện, gọi là quang điện
Trong khi phát triển thuyết lượng tử của ông, Einstein đề xuất về mặt toán học rằng các electron gắn liền với các nguyên tử trong kim loại có thể hấp thụ một số lượng ánh sáng nhất định (ban đầu đặt tên là lượng
Trang 36tử, nhưng về sau đổi tên là photon), và như thế nó có năng lượng để thoát
ra ngoài Ông cũng cho rằng nếu năng lượng của photon tỉ lệ nghịch với bước sóng thì các bước sóng càng ngắn sẽ tạo ra những electron có năng lượng càng lớn, một giả thuyết được hình thành trên cơ sở những kết quả nghiên cứu của Lenard.
Hình 2.3 Hình ảnh các vân giao thoa
Mặc dù thí nghiệm quang điện chủ yếu xác minh tính hạt của ánh sáng, nó cũng hàm chứa tính sóng vì năng lượng của quang tử tỉ lệ với tần số dao động; một đặc điểm của tính sóng
Tuy nhiên, cần phải có thí nghiệm Young về hiện tượng giao thoa thì người ta mới biết chắc chắn ánh sáng có tính sóng nữa.
Trong thí nghiệm Young một chùm ánh sáng (bao gồm nhiều quang tử) được bắn qua hai kẻ hở sát nhau trên màn chắn Trên màn hình phía sau, xuất hiện ra những vân sáng và tối xen kẽ nhau Hiện tượng này được là gọi hiện tượng giao thoa Giao thoa là bằng chứng của tính sóng (như sóng biển) của ánh sáng Các vạch sáng tối là do sự cộng hưởng của hai hàm số sóng Các vạch tối là do sự khử nhau của hai hàm số sóng Schrodinger Hàm số sóng là gì? Theo thuyết lượng tử, chúng ta không thể biết chính xác vị trí của hạt vi mô (nguyên lý bất định Heisenberg) nhưng biết được xác suất có thể tìm thấy nó ở đâu Giá trị bình phương của hàm số sóng chính là xác suất tìm thấy của hạt vi mô
đó Do vậy, các vạch sáng là những nơi tìm thấy được các quang tử; Hình ảnh các vân giao thoa các vạch tối là các vùng "cấm điạ," là nơi quang tử không thể tới được Do vậy, ánh sáng giao thoa là sự giao thoa của các hàm số sóng của những quang tử Tuy nhiên, khi người ta bắn từng quang tử một, mỗi lần chỉ một hạt, qua hai khe hở thì các vạch sáng