như việc đánh giá một cách khách quan, khoa học những tác động của quátrình thực dân hoá đối với các nước Đông Nam Á trong thời gian kể trên giúpchúng ta có một cách nhìn khách quan, toà
Trang 1trờng đại học Vinh khoa lịch sử
-*** -khoá luận tốt nghiệp đại học
sự biến đổi kinh tế – xã hội của các nớc đông nam á lục địa (cuối thế kỷ xix, đầu thế kỷ xx)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Giáo viênhớng dẫn : th.s bùi văn hào
Sinh viên thực hiện : nguyễn Thị Hiên
Lớp : 43E2 – Lịch sử
Vinh, 05/2007
Lời cảm ơn
Trang 2Để hoàn thành đề tài này, tôi xin trân trọng cảm ơn Thạc
sỹ Bùi Văn Hào, ngời đã trực tiếp hớng dẫn tôi tận tình chu
đáo kể từ khi tôi nhận đề tài cho đến khi hoàn thành.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử,
tổ Lịch sử thế giới đã tạo điều kiện và thời gian giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn t liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân nên khoá luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý xây dựng của quý Thầy, Cô, bạn bè để đề tài đợc hoàn chỉnh hơn
Vinh, tháng 5 năm 2007
Sinh viên:
Nguyễn Thị Hiên
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Sau một thời gian dài dọn đường, đến thế kỷ XIX các nước phương
Tây-do nhu cầu thị trường và nguyên liệu - đã đồng loạt tiến hành xâm lược cácnước Á, Phi, Mỹ La Tinh trong đó có các nước Đông Nam Á nói chung,Đông Nam Á lục địa nói riêng Cho đến cuối thế kỷ XIX, về cơ bản chúng đãhoàn thành xong quá trình xâm lược vào các nước này: Ba nước Đông Dươngtrở thành thuộc địa của Pháp, Mianma thành thuộc địa của Anh, riêng TháiLan- nhờ chính sách ngoại giao “ngọn cây tre” nên vẫn giữ được độc lập dùnền độc lập ấy chỉ tồn tại trên danh nghĩa
Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược, các nước phương Tây đã nhanhchóng thiết lập nên bộ máy cai trị và tiến hành các hoạt động nhằm khai thácbóc lột các nước thuộc địa và phụ thuộc Dưới ảnh hưởng đó của chủ nghĩathực dân, tình hình kinh tế- xã hội các nước Đông Nam Á nói chung, ĐôngNam Á lục địa nói riêng đã có sự vận động và biến đổi sâu sắc Đó là sựchuyển biến theo xu hướng mới của các thành tố cũ trong xã hội phong kiến
cổ truyền cũng như sự ra đời, phát triển của hàng loạt các nhân tố mới theophương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Tuy nhiên, từ trước đến nay, quá trình thực dân hoá của thực dân phươngTây ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trước đây luôn được nhìn nhận, đánhgiá dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó đi đến những kết luận khác nhau,thậm chí trái ngược nhau Trong khi các sử gia tư sản phương Tây cho rằngquá trình thực dân hoá ở Đông Nam Á nói riêng, phương Đông nói chung làquá trình “khai hoá văn minh” thì các sử gia Đông Nam Á trong đó có ViệtNam lại cho rằng quá trình đó đã để lại những hậu quả nặng nề cho các nướcthuộc địa và phụ thuộc
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu quá trình biến đổi kinh tế- xã hộicủa các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng (cuốithế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) dưới ảnh hưởng của thực dân phương Tây cũng
Trang 4như việc đánh giá một cách khách quan, khoa học những tác động của quátrình thực dân hoá đối với các nước Đông Nam Á trong thời gian kể trên giúpchúng ta có một cách nhìn khách quan, toàn diện cả về mặt tích cực lẫn hạnchế của quá trình thực dân hoá đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc trướcđây ở khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới.
Mặt khác, việc nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề trên còn giúp cho chúng ta cócách đánh giá cũng như nhận thức đúng đắn hơn về quá trình hội nhập theo
xu thế “hoà nhập chứ không hoà tan” của nước ta nói riêng và các nước ĐôngNam Á nói chung trong giai đoạn hiện nay
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Liên quan đến nội dung của đề tài, từ trước đến nay đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước đề cập đến Vì điều kiện ngoạingữ còn hạn chế, chúng tôi chưa có dịp tiếp cận hết các công trình nghiên cứungoài nước có liên quan đến nội dung của đề tài Trên cơ sở những tài liệu đãđược dịch thuật cũng như các công trình nghiên cứu của các tác giả trongnước và các tài liệu, bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, chúng tôi
cố gắng giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
Trong số các công trình nghiên cứu đã được dịch thuật, đáng chú ý nhất
là công trình nghiên cứu của D.G.E.Hall: “Lịch sử Đông Nam Á” [2] Trongcông trình này tác giả đã đề cập đến lịch sử của các nước Đông Nam Á từ thời
cổ đại đến thế kỷ XX trên nhiều phương diện khác nhau Đặc biệt, tác giả có
đề cập tới quá trình xâm nhập, xâm lược của thực dân phương Tây vào cácnước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng cũng như sựchuyển biến tình hình kinh tế- xã hội của các nước Đông Nam Á dưới ảnhhưởng của chính sách cai trị và bóc lột của thực dân phương Tây
Trong số các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, đáng chú ýnhất là công trình nghiên cứu của Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vinh: “Lịch sửcác nước Đông Nam Á” [1] Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp mới nhất
về lịch sử các quốc gia Đông Nam Á, vì vậy đã cập nhật được những tư liệumới cũng như những ý kiến đánh giá về lịch sử Đông Nam Á qua các thời kì
Trang 5lịch sử Trong đó, công trình này có nêu những ý kiến đánh giá mới về ảnhhưởng của quá trình thực dân hoá ở các nước Đông Nam Á nói chung, ĐôngNam Á lục địa nói riêng trong thời gian cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.Bên cạnh đó, các tài liệu chuyên khảo về lịch sử các nước như: “Lịch sửLào” [10], “lịch sử Mianma” [16], “lịch sử Campuchia” [15], “lịch sử Vươngquốc Thái Lan” [14] và các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thờicận đại cũng đã đề cập đến một số vấn đề có liên quan đến nội dung của đềtài.
Ngoài ra, vấn đề trên còn được đề cập đến trong một số bài viết đăngtrên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí lịch sử, tạp chí nghiên cứu ĐôngNam Á và trên một số bài báo
Từ thực tế tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề:
“Sự biến đổi kinh tế- xã hội của các nước Đông Nam Á lục địa (cuối thế kỷXIX, đầu thế kỷ XX) dưới tác động của thực dân phương Tây” làm đề tàinghiên cứu khoá luận tốt nghiệp
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Về không gian: Các nước Đông Nam Á lục địa (tức là các nước nằmtrên bán đảo Trung Ấn)
Về thời gian: Sự biến đổi kinh tế- xã hội của các nước Đông Nam Á lụcđịa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, để thuận lợi cho công việcnghiên cứu, luận văn đã đề cập đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX
Về nội dung: Kinh tế- xã hội là một khái niệm rộng, phức tạp bao gồmnhiều bộ phận, nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ khác nhau Tuy nhiên, luậnvăn chỉ đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất là cơ cấu ngành kinh tế và
cơ cấu giai cấp chứ chưa có điều kiện trình bày tất cả các lĩnh vực trong đờisống kinh tế- xã hội
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Về đặc trưng của khoa học lịch sử, chúng tôi chỉ chủ yếu sử dụng 2 phương pháp: Phương pháp lôgic và phương pháp lịch sử để giải quyết nhữngvấn đề mà đề tài đặt ra Ngoài ra, trong quá trình xử lý tư liệu, một số phương
Trang 6pháp khác như đối chiếu, so sánh, thống kê v.v… cũng được sử dụng để hỗ trợ cho các phương pháp nêu trên.
Chương 3: Một số nhận xét về quá trình thực dân hoá ở các nước Đông Nam Á lục địa (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX)
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP VÀ XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY VÀO CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á LỤC ĐỊA( từ thế kỷ
XVI đến cuối thế kỷ XIX )
1.1.khái quát tình hình các nước Đông Nam Á lục địa trước khi thực dân phương Tây xâm nhập( trước thế kỷ XVI )
1.1.1 Tình hình kinh tế.
Do tài liệu viết về các nước Đông Nam Á nói chung và các nước ĐôngNam Á lục địa nói riêng trước thế kỷ XVI còn quá ít cho nên chúng ta khó cóthể hình dung được một bức tranh toàn diện về nền kinh tế cổ của vùng này.Tuy nhiên, gần đây người ta dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đặc biệt
là những bằng chứng do khảo cổ học đem lại mà chúng ta có thể khẳng địnhrằng trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập vào các nước ĐôngNam Á, đặc biệt là các nước Đông Nam Á lục địa thì nền kinh tế của cácnước này chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, có sự tồn tại của nhiều nghề thủcông truyền thống và bước đầu đã có sự giao lưu buôn bán giữa các vùng tuychưa đáng kể
Biểu hiện của nền kinh tế nông nghiệp là phần lớn cư dân đều sống ở cácvùng nông thôn (chiếm 90% dân số) với hai phương thức canh tác chủ yếu là
du canh và định canh Hình thức du canh được đặc trưng bởi thuật ngữ “đốncây và đốt rẫy”[2 , 340] được áp dụng trên các vùng cao của Đông Nam Á lụcđịa Cư dân ở những vùng này thường phát quang một mảnh rừng bằng cáchđốn cây và đốt rẫy để trồng các loại cây lương thực như ngô, khoai, lúa v.v đến khi năng suất và sản lượng của các loại cây lương thực đó không còn chokết quả cao nữa thì họ lại tự động chuyển sang một khu vực khác với phươngthức canh tác tương tự Tất nhiên phương pháp này chỉ được áp dụng đối vớicác nhóm người có trình độ kinh tế- xã hội còn thấp kém Còn hình thức định
Trang 8canh lại được áp dụng đối với các dân tộc tiên tiến hơn, sống định cư ở cáclưu vực sông hay các châu thổ đã phát triển hệ thống thuỷ nông như lưu vựcsông Hồng ở Việt Nam, sông Iraoađi ở Mianma, sông Mênam ở Thái Lan,ban đầu hình thức canh tác này đòi hỏi phải làm các công việc nặng nhọc như:Phát quang các khu rừng rậm nhiệt đới, tiêu nước khỏi các đầm lầy v.v sau
đó, xây dựng nên các hệ thống thuỷ nông tưới tiêu nước ở các đồng bằng Cóthể nói đây là hình thức nông nghiệp phát triển cao và nó thuộc về các dân tộcvăn minh nhất Cây lương thực chủ yếu được trồng ở những vùng này là câylúa nước một “sản phẩm quan trọng nhất ở Đông Nam Á” [2,341], trong đónhững dân tộc nói tiếng Môn –Khơme là những người đi tiên phong trongviệc canh tác lúa nước ở châu thổ sông Hồng ở Bắc Kỳ (Việt Nam), ở MiếnĐiện và Xiêm vai trò đó lại thuộc về người Môn chứ không phải là ngườiMiến và người Thái
Để tiến hành tưới nước mỗi khi có hạn hán và tiêu nước mỗi khi có lũ lụtthì những cư dân trên các đồng bằng châu thổ buộc phải xây dựng hệ thốngthuỷ nông Điều này được thể hiện rõ nhất sau khi khai quật di tích lịch sửĂng Co (Campuchia), đó hoàn toàn không phải là một quần thể đô thị mà làmột tập hợp các công trình thuỷ lợi có khả năng tưới tiêu nước cho các vùnglân cận Điều đó chứng tỏ vai trò quan trọng của công tác trị thuỷ , thuỷ lợitrong nền kinh tế nông nghiệp ở phương Đông nói chung và các nước ĐôngNam Á nói riêng, và đó cũng chính là một trong những lý do chính dẫn tới sựxuất hiện rất sớm của các nhà nước sơ khai phương Đông cổ đại
Ở các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêngtrước thế kỷ XVI đang còn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế phong kiếnnên về danh nghĩa ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà Vua Nhưngtrên thực tế thì trong các công xã nông thôn đã xuất hiện chế độ tư hữu vềruộng đất Ngoài những vùng đất thuộc sở hữu công hữu của công xã thìngười nông dân vẫn được chia một phần ruộng đất nhất định để canh tác vớiphương thức bóc lột mang tính cổ điển là phát canh thu tô
Trang 9Ngoài lúa gạo là lương thực chủ yếu thì ở các nước Đông Nam Á nóichung, Đông Nam Á lục địa nói riêng vào lúc này còn trồng nhiều loại câytrồng khác như: Bông, lạc, dầu, vừng (tập trung ở miền trung Miến Điện) vàcác loại cây ăn quả như: chuối, đu đủ, xoài, dứa v.v đặc biệt ở các vùng caonguyên người ta còn trồng các loại cây công nghiệp lâu năm như tiêu, chè,đinh hương v v Những sản phẩm đó trở thành các mặt hàng quan trọngtrong thương mại quốc tế.
Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì trong các làng mạc còntồn tại nhiều nghề thủ công truyền thống mang tính chất tự cấp tự túc Ngoàinhững nghề tiểu công nghiệp gia đình như xe sợi, dệt vải, làm gốm, làm nông
cụ v.v thì trong các cộng đồng làng xã vẫn còn có một số chuyên nghề nhấtđịnh như nghề đào mỏ, thiếc, vàng, bạc; nghề tạc tượng thịnh hành ở cácnước theo đạo Phật như Xiêm, Mianma v.v Ở những vùng phát triển về giaothông đường thuỷ, đặc biệt là những vùng ven biển như ở miền Nam Vươngquốc Xiêm, ở Đại Việt còn phát triển nghề đóng tàu thuyền Tuy nhiên nhữngnghề thủ công nghiệp này luôn luôn gắn chặt với nông nghiệp
Trước khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây thì ở cácnước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng đã có sự giaolưu buôn bán giữa các vùng, các miền với nhau Buôn bán được thực hiện trên
cơ sở hàng đổi hàng, còn ở các trung tâm quan trọng hơn thì họ sử dụng kimloại làm tiền Bên cạnh đó việc giao lưu buôn bán với các nước ngoài khu vựccũng được thực hiện thông qua hệ thống giao thông đường biển Do có vị tríđịa lý thuận lợi nên các nước Đông Nam Á nói chung và Đông Nam Á lục địanói riêng đã trở thành khu vực trung chuyển về thương mại, là nơi gặp gỡgiữa các nhà buôn từ phương Đông đến và từ phương Tây sang Do đó các hảicảng chủ yếu ở vùng ven biển như Óc Eo của Phù Nam v.v “đã phát triểnquan hệ thương mại một cách rộng rãi” [2, 345] Tuy nhiên, sự giao lưu buônbán đó lại bị chi phối bởi chế độ phong kiến mà trong đó quyền lực tối caothuộc về nhà Vua với tư tưởng chủ yếu là “trọng nông, ức thương”, coi nhẹthương nghiệp nên mặc dầu đã có sự giao lưu buôn bán ở các nước Đông
Trang 10Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng lúc đó nhưng không đángkể.
Có thể nói khác với các nước phương Tây thì các nước phương Đông nóichung trong đó có các nước Đông Nam Á lục địa như ba nước Đông Dương,Xiêm, Mianma do điều kiện tự nhiên- xã hội quy định nên từ thời cổ đại đãtồn tại một nền kinh tế tự nhiên, khép kín trong các công xã nông thôn và docác công xã nông thôn này tồn tại một cách lâu dài và dai dẳng nên tính chấtcủa nền kinh tế ấy cũng tồn tại một cách dai dẳng và lâu dài Điều đó đã cảntrở sự nảy sinh và phát triển một nền kinh tế hàng hoá mang tính giao lưubuôn bán rộng rãi Do đó, vào trước thế kỷ XVI nếu như ở phương Tây chế
độ phong kiến đã bước vào giai đoạn suy tàn khủng hoảng nhường chỗ choquan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triểntương đối mạnh mẽ thì ở các nước phương Đông trong đó có các nước ĐôngNam Á lục địa nền kinh tế đang nằm trong tình trạng lạc hậu, què quặt, tự cấp
tự túc
1.1.2 Tình hình chính trị, xã hội, văn hoá
Cũng như các nước phương Đông khác trước thế kỷ XVI các nước ĐôngNam Á lục địa đang nằm trong sự thống trị của chế độ phong kiến quân chủchuyên chế trung ương tập quyền cao độ (tuy nhiên, chế độ đó đang dần dầnbước vào giai đoạn suy tàn và khủng hoảng) với quyền lực tối cao tập trungtrong tay nhà Vua Tuy nhiên, lúc bấy giờ ở các nước Đông Nam Á lục địatồn tại rất nhiều vương quốc lớn nhỏ khác nhau Chẳng hạn như trên lãnh thổcủa Mianma ngày nay có các vương quốc của người Môn, người Miến, ngườiPyu v.v trên lãnh thổ của Thái Lan, Lào tồn tại các vương quốc của ngườiMôn, người Thái; trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại các vương quốc của ngườiViệt, Người Chăm v.v Sau này các vương quốc đó qua quá trình đấu tranhthôn tính lẫn nhau thì mới thống nhất lại thành các vùng lãnh thổ như ngàynay
Trong xã hội của các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địanói riêng lúc bấy giờ tồn tại ba giai cấp, tầng lớp chính Giai cấp thống trị
Trang 11gồm nhà Vua, Quý tộc, tăng lữ, địa chủ có mọi đặc quyền, đặc lợi và bóc lộtcác giai cấp khác trong xã hội Dưới đó là giai cấp nông dân chiếm 90% dân
số cả nước và sống trong các công xã nông thôn Đây là lực lượng chính làm
ra mọi của cải trong xã hội nhưng lại là giai cấp chịu sự áp bức nặng nề củacác thế lực phong kiến theo phương thức phát canh thu tô Ngoài ra, giai cấpnày còn phải gánh vác nhiều loại thuế má khác nhau- vốn là nguồn thu nhậpquan trọng nhất của Quốc khố Ngoài việc nộp thuế, họ còn phải lao dịch tạonên các công trình kiến trúc, thuỷ lợi cho Nhà nước và là lực lượng đông đảonhất trong quân đội Một tầng lớp khác bị bóc lột nặng nề nữa là nô lệ Tầnglớp này ở các nước phương Đông nói chung, các nước Đông Nam Á lục địanói riêng chiếm vị trí khá khiêm tốn trong xã hội Nô lệ phần lớn được sửdụng vào các công việc phi sản xuất như hầu hạ trong các gia đình giàu có,trong cung vua Một bộ phận được sử dụng trong các xưởng thủ công, cáccông trình kiến trúc còn trong nông nghiệp nếu có tham gia thì chỉ là nghềphụ, bởi lẽ toàn bộ ruộng đất trong nước đã được giao vào tay nông dân vàcông việc đồng ruộng đã có các gia đình nông dân đảm nhiệm
Nói chung, trong xã hội của các nước Đông Nam Á lúc bấy giờ quan hệsản xuất chủ yếu là giữa giai cấp địa chủ với nông dân Đây cũng là mâuthuẫn cơ bản trong xã hội Những mâu thuẫn ngày càng bộc lộ một cách gaygắt và nó là một trong những nhân tố làm cho các vương triều phong kiến suyyếu, khủng hoảng Đó là điều kiện hết sức thuận lợi để các nước phương Tâyxâm nhập và sau đó là xâm lược các quốc gia Đông Nam Á nói chung, ĐôngNam Á lục địa nói riêng Tuy vậy, trong xã hội của các quốc gia đó lúc nàyhầu như chưa có chuyển biến gì đáng kể về cơ cấu giai cấp vì trật tự giai cấpcủa xã hội phong kiến vẫn đang được giữ nguyên, chưa xuất hiện hoặc lộ diệnnhững giai cấp , tầng lớp mới đại diện cho phương thức sản xuất mới như ởphương Tây Cho nên các cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến của cácnước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng thời kỳ này hầuhết là để nhằm thay thế một vương triều cũ thành một vương triều mới
Trang 12Như vậy, cùng với tình hình kinh tế mang tính tự cấp, tự túc thì tình hìnhchính trị- xã hội của các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địanói riêng lúc này cũng đang bước vào giai đoạn trì trệ khủng hoảng, do đó từthế kỷ XVI trở đi, khi các nước phương Tây bắt đầu xâm nhập vào các nướcnày thì nền kinh tế- xã hội mới dần dần có những chuyển động.
Về văn hoá: Do các nước Đông Nam Á nằm giữa hai trung tâm văn minhlớn của nhân loại nên ngay từ thời cổ đại đã sớm chịu ảnh hưởng của văn hoá
Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa trong đó ảnh hưởng đậm nét nhất là Phật giáo
và Nho giáo Nếu như ở các nước Xiêm, Mianma v.v… Phật giáo đã ăn sâuvào trong tiềm thức của mọi tầng lớp nhân dân thì ở Việt Nam Nho giáo trởthành hệ tư tưởng chính thống, là công cụ để bảo vệ chế độ phong kiến và duytrì trật tự xã hội
1.2 Quá trình xâm nhập và xâm lược của thực dân phương Tây vào các nước Đông Nam Á lục địa ( từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX ).
1.2.1 Khái quát chung.
Ngày nay chúng ta rất khó xác định được sự có mặt đầu tiền của ngườiChâu Âu ở Đông Nam Á nói chung và Đông Nam Á lục địa nói riêng là vàokhoảng thời gian nào? Tuy nhiên, theo một số tài liệu hiện còn lưu giữ đượcthì người Châu Âu đầu tiên có mặt ở Đông Nam Á là người Ý tên là Mác-côPô-lô (MarcoPolo), ông ta đã đặt chân đến nhiều vùng đất ở Đông Nam Á,đặc biệt là các vùng đất thuộc Đông Nam Á lục địa như Miến Điện, Lào, ĐạiViệt, Chăm pa v.v vào cuối thế kỷ XIII Sau đó, với mục đích truyền bá đạo
Cơ Đốc, một số linh mục Châu Âu đã đặt chân đến vùng đất này Tiếp đó vàocác thế kỷ XIV, XV các thương nhân Châu Âu lần lượt vượt biển sang cácnước Đông Nam Á, trong đó có một số nước Đông Nam Á lục địa, đặc biệt làcác vương quốc trên lãnh thổ Mianma ngày nay Và cho đến đầu thế kỷ thứXVI các thương nhân người Bồ Đào Nha đã lập thương điếm để giao lưubuôn bán với các vùng ở Đông Nam Á
Nhưng từ cuối thể kỷ thứ XVI trở đi khi Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đãsuy yếu thì cũng là lúc trung tâm kinh tế Tây Âu chuyển từ khu vực Địa
Trang 13Trung Hải xuống vùng ven bờ Đại Tây Dương thì ưu thế đã thuộc về Hà Lan,tiếp sau đó là thực dân Anh Cả hai nước này đã thành lập “Công ty ĐôngẤn” của riêng nước mình và bắt đầu chinh phục các nước Đông Nam
Á Trong đó thực dân Anh sau khi chiến thắng Ấn Độ đã độc chiếm luôn cảMianma và thao túng vương quốc Xiêm Và sau thực dân Anh thì thực dânPháp cũng phải cạnh tranh quyết liệt với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha để độcchiếm Đông Dương vào cuối thế kỷ XIX
Như vậy, có thể nói rằng đến đầu thế kỷ XX các nước thực dân phươngTây đã hoàn thành việc xâm lược các nước Đông Nam Á nói chung, ĐôngNam Á lục địa nói riêng
1.2.2 Quá trình xâm nhập và xâm lược của thực dân Pháp vào ba nước Đông Dương.
- Đối với Việt Nam.
Để dọn đường cho việc xâm lược nước ta vào giữa thế kỷ XIX thì ngay
từ các thế kỷ XVI, XVII, XVIII các giáo sỹ phương Tây đã đến Đại Việt đểtruyền bá đạo Thiên Chúa trong đó nổi bật là hoạt động sôi nổi của một giáo
sỹ người Pháp tên là A-lếch-xăng-đơ-rốt (Alexan de Rhôdes) Ngoài việctruyền đạo và hoạt động thương mại thì các giáo sỹ đã bí mật thăm dò tìnhhình để chuẩn bị cho một cuộc xâm lược nước ta trên quy mô lớn
Và vào giữa thế kỷ XIX, trong khi triều đình nhà Nguyễn lâm vào tìnhtrạng khủng hoảng suy vong trầm trọng thì thực dân Pháp đã nổ súng xâmlược nước ta tại Đà Nẵng (01/9/1858) Sau một thời gian dậm chân tại chỗ,thực dân Pháp kéo toàn bộ vào Gia Định và chật vật mãi chúng mới giànhđược thắng lợi Ngày 05/6/1862 trong lúc khí thế chống Pháp của nhân dânmiền Nam đang lên mạnh thì triều đình Huế đã ký với Pháp “Hiệp ước NhâmTuất” với nội dung chủ yếu là triều đình phong kiến phải cắt ba tỉnh miềnĐông cho Pháp (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà), mở rộng các cửa biển BaLạt, Đà Nẵng, Quảng Yên cho tàu bè Pháp tự do thông thương; nộp món tiềnbồi thường chiến phí là 20 triệu quan (280 vạn lạng bạc) Sau khi chiếm xong
ba tỉnh miền Đông, lợi dụng tính chất “hai mặt” của triều đình Huế, thực dân
Trang 14Pháp lại tiến hành các hoạt động cần thiết để chiếm nối ba tỉnh miền Tây vàngày 20/6/1867 kinh lược sứ miền Tây Phan Thanh Giản và Trấn thủ VĩnhLong Trương Văn Uyển đã phải đồng ý cắt ba tỉnh miền Tây cho Pháp (VĩnhLong, An Giang, Hà Tiên).
Như vậy đến tháng 6/1867, “Nam Kỳ Lục Tỉnh” đã rơi vào tay Pháp,chúng nhanh chóng thiết lập bộ máy cai trị ở đây để làm bàn đạp tấn côngchinh phục toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
Vào cuối năm 1873 đầu năm 1874, thực dân Pháp từ Nam Kỳ kéo quân
ra đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, trước sự kháng cự quyết liệt của nhândân, thực dân Pháp đã phải chịu thất bại thảm hại, nhất là trận Cầu Giấy lầnthứ nhất (04/12/1874) Tuy nhiên, do sự nhu nhược của triều đình Huế thựcdân Pháp đã chuyển bại thành thắng bằng việc ký kết Hiệp ước với triều đìnhHuế vào ngày 13/3/1974 Với Hiệp ước này triều đình Huế đã phải thừa nhậnchủ quyền của Pháp trên tất cả 6 tỉnh Nam Kỳ; công nhận quyền đi lại, buônbán, kiểm soát và điều tra tình hình của chúng ở Việt Nam Hiệp ước này làmột thắng lợi quan trọng của thực dân Pháp, tạo điều kiện thuận lợi chochúng tiến hành chiếm trọn lãnh thổ nước ta
Mười năm sau vào năm 1882-1884, thực dân Pháp lại kéo quân ra Bắc
Kỳ lần thứ hai, cũng như lần trước quân giặc cũng vấp phải sự kháng cựmạnh mẽ của nhân dân ta và chúng phải chịu sự thất bại cay đắng tại trận CầuGiấy lần hai (19/5/1883) Tuy nhiên, khác với lần trước, lần này thực dânPháp có nhiều điều kiện thuận lợi nên chúng quyết tâm chiếm bằng được Bắc
Kỳ và kéo quân vào Thuận An uy hiếp kinh thành Huế Triều đình vô cùng lo
sợ và đã cử Nguyễn Văn Trường đi ký hiệp ước với Cao uỷ Pháp là HácMăng (Harmand) gọi là “Hiệp ước Hác Măng” (25/7/1883) Với hiệp ước nàyViệt Nam “ đã mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đãchính thức thừa nhận quyền bảo hộ của nước Pháp, mọi công việc chính trị,kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm ” [8, 55] Ngày 06/6/1884Hiệp ước Patơnốt (Pate notre) lại được ký kết giữa Pháp và Việt Nam đểkhẳng định tiếp sự cai trị của thực dân Pháp lên toàn lãnh thổ Việt Nam
Trang 15Như vậy, với hai điều ước Hác Măng (1883) và Patơnốt (1884) thực dânPháp đã hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam.
- Đối với Campuchia.
Sau một thời kỳ phát triển cực thịnh dưới thời Ăng Co (thế kỷ IX-XV),
từ thế kỷ XVI trở đi Vương quốc Campuchia trước vào giai đoạn suy tàn Ởđây còn tồn tại chế độ phong kiến nhưng tính tập trung lại không cao Vềdanh nghĩa quyền lực tối thượng thuộc về nhà Vua nhưng trên thực tế quyềnlực đó lại phân chia thành ba nhánh với ba Vương phủ
Vương phủ của Phó vương quản lý 7 tỉnh
Vương phủ của Thái tử quản lý 5 tỉnh
Vương phủ của Hoàng Thái Hậu quản lý 3 tỉnh
Cũng vào thời kỳ này các nước Phương Tây đã bắt đầu xâm nhập vàoCampuchia, đi đầu là người Bồ Đào Nha, sau đó là người Tây Ban Nha vàngười Hà Lan nhưng sự thâm nhập đó đều bị thất bại
Sang thế kỷ XVII, người Pháp đã bắt đầu có mặt ở Vương quốc này mànhững người đầu tiên là các cha cố với mục đích là truyền đạo nhưng trênthực tế họ trở thành cố vấn cho các đạo quân, các cơ quan và các nhà chính trịthực dân Sau một thời kỳ dọn đường thông qua việc truyền đạo, buôn bán vàngoại giao vào tháng 4/1863 tức là sau khi hoàn thành việc xâm lược ba tỉnhmiền Đông Nam Bộ (Việt Nam), thực dân Pháp đã đưa quân ngược dòngsông Mê Kông tiến vào Tudon Mặc dù vương triều Xiêm tìm cách ngăn cảnnhưng đại diện của Pháp đã gặp Nôrôđôm và ký một bản Hiệp ước bảo hộvào 11/8/1863 Theo Hiệp ước này thì Pháp nhận bảo hộ Campuchia; Hoàng
đế Pháp cử Khâm sứ bên cạnh nhà Vua Campuchia; mọi việc ký kết và giaotiếp của Campuchia với các nước phải được Pháp đồng ý; người Pháp đượcquyền lãnh sự tài phán, được tự do cư trú, buôn bán đi lại, truyền đạo v.v ởCampuchia Đổi lại Pháp phải cam kết giúp Campuchia chống ngoại xâm vànội phản; công nhận Nôrôđôm là Vua, là Quốc vương v.v
Tuy nhiên, bản Hiệp ước này không những đã gây phản ứng đối với nhândân Campuchia mà còn gây nên nỗi bất bình gay gắt đối với triều đình Xiêm
Trang 16Và dưới áp lực của Xiêm Nôrôđôm đã phải ký một bản Hiệp ước bảo hộ vớiXiêm Nhưng Pháp lại kịch liệt phản đối Hiệp ước này và đe doạ sẽ dùng lựclượng để tấn công Campuchia Trước tình hình đó Xiêm đã phải chấp nhậnxuống thang bằng việc ký “Hiệp ước Pháp- Xiêm” tại Băng Kốc vào năm
1867 Với Hiệp ước này thực dân Pháp đã gạt được Xiêm ra khỏi Campuchia.Sau sự kiện đó thực dân Pháp lại buộc Nôrôđôm ký thêm Hiệp ước17/6/1884 “ Hiệp ước này hầu như đã tước bỏ hoàn toàn quyền lực của nhàVua nước Campuchia và đem lại cho thực dân Pháp quyền cai trị thực sự đấtnước này ” [ 13, 433] Campuchia đã chính thức trở thành thuộc địa của Pháp
- Đối với Lào.
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, vương quốc Lan Xang bị chiathành ba tiểu quốc: Viêng Chăn, Luông pha băng, và Chăm pa xắc và cả batiểu quốc này đều rơi vào ách thống trị của vương quốc Xiêm (từ cuối thế kỷXVIII, đầu thế kỷ XIX)
Vào năm 1860 người Pháp đầu tiên đã đặt chân đến nước Lào với tưcách là một nhà nghiên cứu lịch sử, tự nhiên Đến năm 1866 Pháp đã cử haiphái thuyền ngược dòng sông Mê Kông lên Viêng Chăn và Luông pha băng.Tiếp đó vào năm 1875-1877 một đoàn “thám hiểm khoa học” đã tiến hànhthăm dò các vùng đất ở Lào Cùng đi với các đoàn thám hiểm đó là hàng chụccác giáo sỹ được phái sang đất nước này để truyền đạo và thăm dò tình hình.Năm 1886 sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam Pháp mới chínhthức huy động quân đội tiến vào đất Lào
Cũng từ thời gian này, đặc biệt đầu những năm 90 của thế kỷ XIX, quan
hệ giữa Pháp và Xiêm đã trở nên rất căng thẳng, nhiều cuộc xung đột của hainước này đã nổ ra trên đất Lào nhưng do không được Anh ủng hộ nên cuốicùng Xiêm đã phải nhượng bộ và ký hoà ước với Pháp vào ngày 31/10/1893.Theo Hiệp ước này thì hai bến lấy sông Mê Kông làm ranh giới: PhíaTây thuộc quyền quản lý của Xiêm, phía Đông thuộc quyền quản lý của Pháp.Với Hiệp ước này chế độ cai trị của Pháp được chính thức thiết lập ở Lào
Trang 171.2.3.Quá trình xâm nhập, xâm lược của thực dân phương Tây và sự độc chiếm của Anh đối với Mianma.
Các thương nhận châu Âu đã đến Mianma từ rất sớm, nhất là các thươngnhân người Ý, người Nga nhưng mở đầu cho quá trình xâm nhập vào Mianmachính là người Bồ Đào Nha Sau Bồ Đào Nha là người Hà Lan nhưng đóngvai trò chính trong việc tranh chấp thuộc địa này là người Anh và người Pháp.Cuối cùng với ưu thế về mặt kinh tế, quân sự, hậu phương Anh đã gạt bỏđược những ảnh hưởng của Pháp để độc chiếm Mianma Và quá trình độcchiếm Mianma của Anh cũng phải thông qua ba cuộc chiến tranh
Cuộc chiến lần thứ nhất diễn ra từ năm 1824 đến năm 1826: Đến đầu thế
kỷ thứ XIX quan hệ giữa Anh và Mianma đã trở nên căng thẳng mà nguyênnhân là do sự xung đột giữa lính biên phòng Anh và Mianma Lấy lý do đótháng 3/1824 Anh tuyên chiến với Mianma bằng một cuộc tấn công quy môlớn vào vùng Hạ Miến Về cơ bản Anh đã làm chủ được khu vực này Chođến năm 1826, hai bên đã ký hiệp ước ở Iandabô Theo Hiệp ước này Mianmaphải cắt cho Anh hai tỉnh giàu có là Aracan và Tênátxêrim ở miền duyên hảiphía Nam Mianma phải bồi thường cho Anh một triệu bảng chiến phí
Mặc dù giành thắng lợi nhưng Anh cũng phải trả giá đắt cho cuộc chiếnnày với những chi phí vật chất khổng lồ và hơn 15 nghìn quân đã bị tiêu diệt.Cuộc chiến lần hai nổ ra trong hai năm 1852-1853: Nguyên cớ dẫn đếncuộc chiến này là vụ Thống Đốc tỉnh Pêgu đã phạt hai thuyền trưởng của tàuAnh 1000 Rubi về tội xâm phạm lãnh thổ Mianma Người Anh lấy cớ này đểđòi Vua Miến phải bồi thường 1 triệu Rupi và cắt chức Tỉnh trưởng tỉnh này.Thái độ ngang ngược ấy đã không được triều đình Miến chấp nhận nên Anh
đã gây chiến tranh lần thứ hai vào tháng 4/1852 Bằng lực lượng quân sựhùng hậu Anh đã nhanh chóng chiếm Rănggun và Mataban và những vùngđất còn lại của khu vực Hạ Miến để sau đó lập thành một tỉnh của xứ “MiếnĐiện thuộc Anh” (British Burma)
Cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ ba diễn ra vào năm 1885: Sau khi làmchủ được khu vực Hạ Miến, Anh bắt đầu tập trung sự chú ý vào vùng Thượng
Trang 18Miến Đến năm 1867 đã ký một Hiệp ước bất bình đẳng với vua Miến chophép người Anh được tự do buôn bán ở khu vực Thượng Miến Khu vực nàycũng đã gây sự chú ý đến các cường quốc tư bản khác như Pháp, Đức, Ý, Mỹnhưng khi thực dân Anh từng bước gây ảnh hưởng lên khu vực này thì vuaMiến đã muốn dựa vào Pháp để ngăn chặn sự xâm lược của Anh Vì vậy đầunăm 1885 Hiệp ước giữa Pháp và Mianma đã được ký kết Theo Hiệp ướcnày thì Pháp được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi ở khu vực thượng Miến:được tự do buôn bán, hàng hoá của Pháp được quyền tối huệ quốc, ngườiPháp được hưởng quyền lãnh sự tài phán Ngoài ra vua Miến còn cho ngườiPháp mở đường sắt, lập các đội thương thuyền trên sông Iraoađi, đầu tư vàocác lĩnh vực như ngân hàng, khai thác mỏ v.v Và đổi lại Pháp thừa nhậnMianma là nước trung lập nằm dưới sự bảo hộ của Pháp.
Chính Hiệp ước này đã làm cho thực dân Anh lo sợ vì nếu như kế hoạchtrên được thực hiện thì chắc chắn Thượng Miến sẽ rơi vào tay Pháp, do đónhân khi Pháp đang vướng bận vào vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương vàMađagaxca thì Anh quyết định hành động ngay Vào ngày 30/10/1885, sứthần Anh đã chuyển tối hậu thư cho triều đình Mianma nhưng triều đìnhkhông chấp nhận Vì vậy ngày 14/11/1885 Anh đã huy động lực lượng quânđội hùng hậu tấn công vào vùng Thượng Miến Vua Mianma là Tibao đã phảiđầu hàng và bị đày sang Cancútta Ngày 01/1/1886 phó vương Anh ở Ấn Độtuyên bố sát nhập Mianma vào Ấn Độ Như vậy từ đây Mianma đã trở thànhmột tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh
Trải qua 60 năm thông qua 3 cuộc chiến tranh thực dân Anh đã hoànthành xâm lược Mianma và biến nước này thành thuộc địa của mình
2.1.4 Quá trình xâm nhập của thực dân phương Tây vào vương quốc Xiêm.
Sự xâm nhập của thực dân phương Tây vào vương quốc Xiêm có thểchia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII: Năm 1596thực dân Hà Lan đã đặt chân đến vương quốc Xiêm và ngay lập tức Hà Lan
Trang 19đã giành được quyền buôn bán ở vương quốc này Đến năm 1610 hàng loạtthương điếm của Hà Lan đã được xác lập trên đất Xiêm và giữa Xiêm và HàLan đã ký một hiệp ước Theo đó, Hà Lan sẽ giúp Xiêm trong việc xây dựng
và đóng tàu Sau người Hà Lan, đến lượt người Anh cũng có mặt trên vùngđất này Năm 1612, sứ thần của Anh là Ađamđentơn đã đến Băng cốc vàngười Anh cũng bắt đầu được phép buôn bán trên đất nước này Từ đó đã nảysinh mâu thuẫn giữa Anh và Hà Lan, mâu thuẫn này được biểu hiện bằng sựcạnh tranh giữa công ty Đông Ấn Anh và công ty Đông Ấn Hà với thắng lợithuộc về Hà Lan Còn Xiêm để bảo vệ quyền lợi của mình đã tìm cách nétránh sự lôi kéo của các nước Chính trong điều kiện ấy vào năm 1628 ngườiTây Ban Nha và năm 1630 người Bồ Đào Nha cũng bắt đầu xâm nhập vàođây Trong hoàn cảnh đó, Xiêm buộc phải cầu cứu Hà Lan và với sự giúp đỡcủa Hà Lan thì Xiêm đã giành được thắng lợi Nhưng sau thắng lợi này Xiêmlại bị phụ thuộc rất lớn vào Hà Lan và vì vậy chính quyền Xiêm bắt đầu longại Từ đó có những phản ứng làm cho mâu thuẫn giữa Xiêm và Hà ngàycàng sâu sắc, và cuộc chiến tranh Xiêm- Hà đã nổ ra Khi cuộc chiến tranhnày nổ ra thì quan hệ giữa Xiêm với Anh lại được khôi phục nhưng để giảiquyết tình hình thì bọn thực dân đã sẵn sàng bắt tay nhau nên Hà Lan và Anh
đã đi đến thoả thuận: Anh không cung cấp vũ khí cho Xiêm vì vậy buộc Xiêmphải ký Hiệp ước với Hà Lan vào năm 1664 Đây được coi là Hiệp ước bấtbình đẳng đầu tiên mà Xiêm phải ký với các nước phương Tây Và cũng bắtđầu từ đây quá trình xâm lược của phương Tây vào Xiêm bước sang giai đoạnmới
Giai đoạn từ giữa thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX: Sau thời kỳ “mởcửa”, nhất là cho Anh và Hà Lan vào hoạt động buôn bán ở trong nước thìvương triều Xiêm lại quay về chính sách “đóng cửa” và trong vòng khoảngnửa thế kỷ do hầu hết các nước phương Tây đang trong quá trình tiến hànhcách mạng tư sản cho nên quá trình xâm nhập của các nước phương Tây vàoXiêm cũng đã giảm dần Nhưng kể từ khi các nước phương Tây chuyển sanggiai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì vấn đề thị trường trở nên vô cùng cấp thiết và
Trang 20cũng giống như các nước ở Á, Phi, Mỹ la tinh, thực dân phương Tây gõ cửavương quốc Xiêm và buộc nước này từng bước “mở cửa” trở lại.
Việc “mở cửa” lần này của Xiêm được tiến hành từ từ và bắt đầu từRama III nhưng phải từ Rama IV trở đi thì quá trình đó mới diễn ra một cáchmạnh mẽ Sau khi lên ngôi Rama IV (Mông-Cút) đã xoá bỏ độc quyền vềxuất khẩu gạo và đường Rồi trước sức ép của Anh, Xiêm đã ký với Anh mộtHiệp ước bất bình đẳng trong đó có những nội dung cơ bản như thương nhânAnh được tự do buôn bán, người Anh được hưởng quyền lãnh sự tài phánv.v
Sau khi ký Hiệp ước với Anh, Xiêm lại ký một loạt các Hiệp ước tương
tự như vậy với các nước phương Tây khác như: Mỹ, Pháp, Đan Mạch, BồĐào Nha, Hà Lan, Đức v.v Và năm 1898 ký Hiệp ước với Nga
Và như vậy trước sự đe doạ của thực dân phương Tây, với chính sáchngoại giao “ngọn cây tre”, với việc ký kết một loạt các Hiệp ước bất bìnhđẳng, vương triều Xiêm đã thực thi đường lối mở toang cánh cửa cho cácnước phương Tây tự do xâm nhập vào Xiêm
Trong số các Hiệp ước nêu trên thì quan hệ giữa Pháp và Xiêm còn cóliên quan mật thiết đến vấn đề Campuchia và Lào Bởi vì trước khi Pháp đặtchân xâm lược Campuchia và Lào thì hai quốc gia này vốn phụ thuộc vàovương quốc Xiêm Do đó đã dẫn tới việc tranh chấp giữa Xiêm và Pháp vềvấn đề Campuchia và Lào Vương triều Xiêm muốn dựa vào Anh để chống lạiPháp nhưng giữa Anh và Pháp đã có sự thoả thuận ngầm Cho nên, cuối cùngXiêm đã phải chấp nhận ký các Hiệp ước với Pháp nhằm giải quyết vấn đềCampuchia và Lào Còn thực dân Anh muốn tránh sự đụng độ với Pháp chonên đã chủ trương biến Xiêm thành nước đệm giữa hai hệ thống thuộc địa củahai nước (Đông Dương thuộc Pháp và Mianma, bán đảo Mã Lai thuộc Anh)
Từ đó Hiệp ước Anh- Pháp ra đời vào tháng 1/1896 Và như vậy có thể thấyrằng mặc dù bị cùng một lúc nhiều tên thực dân xâm lược nhưng do chủtrương mở cửa và chấm nhận ký kết các Hiệp ước bất bình đẳng cho nên vềmặt lý thuyết Xiêm không bị một tên thực dân nào xâm lược Do đó, nền độc
Trang 21lập của Xiêm vẫn còn tồn tại mặc dù nền độc lập ấy chỉ tồn tại trên danhnghĩa.
Trong chừng mực nhất định nào đó, chính sách mở cửa của Xiêm đã tạođiều kiện cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển và đó cũng chính là cơ
sở để nước Xiêm tiến hành các cuộc cải cách: cải cách Rama IV (Mông Cút),Rama V (Chulalongcon), Rama VI (Vatriravút)
Như vậy, từ thế kỷ thế XVI cho đến cuối thế kỷ XIX, các nước tư bảnphương Tây đã từng bước tiến hành xâm nhập bằng nhiều con đường khácnhau như buôn bán, truyền đạo v.v vào các nước Đông Nam Á nói chung vàcác nước Đông Nam Á lục địa nói riêng để dọn đường cho các cuộc chiếntranh xâm lược nhằm thôn tính các nước này: Thực dân Pháp xâm chiếm banước Đông Dương, thực dân Anh xâm chiếm Miến Điện biến nước này thànhmột tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh, còn vương quốc Xiêm mặc dầu vẫn giữ đượcnền độc lập của mình nhưng trên thực tế vẫn chịu sự chi phối của các nướcthực dân phương Tây, đặc biệt là hai nước Anh và Pháp Sau khi thôn tínhxong các nước đó thực dân phương Tây nhanh chóng đặt ách cai trị và bóc lộtcủa mình để biến các nước này thành thị trường tiêu thụ và là nơi cung cấpnguyên liệu cho chính quốc
Nói tóm lại, cho đến cuối thế kỷ XIX, ba mươi năm đầu thế kỷ XX cácnước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng đều trở thànhthuộc địa và phụ thuộc vào các nước thực dân phương Tây
Đồng thời với quá trình xâm nhập và xâm lược của các nước phươngTây thì tình hình kinh tế- xã hội của các nước Đông Nam Á nói chung, ĐôngNam Á lục địa nói riêng có nhiều chuyển biến đáng kể
Trong lĩnh vực kinh tế đã xuất hiện những mầm mống của quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa Thị trường trong nước được mở rộng Việc giao lưubuôn bán giữa các vùng trong mỗi nước, giữa các nước trong khu vực cũngnhư với các nước ngoài khu vực được tăng cường hơn, đặc biệt là sự giao lưubuôn bán với các nước phương Tây Hàng xuất khẩu chủ yếu của các nướcnày là lúa gạo, gỗ tếch, hồ tiêu và một số hương liệu khác Nghề thủ công
Trang 22cũng có một bước phát triển đáng kể, đặc biệt là ngành dệt vải v.v Trong cácnước như Miến Điện, Xiêm, Đại Việt đã xuất hiện một số công trường thủcông như xưởng đóng tàu thuyền, khai thác mỏ (sắt, chì, đồng), sản xuất cácloại đồ dùng trong cung Vua v.v Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất mới nàyđược nảy sinh nhưng lại chịu sự kìm hãm của các thể chế phong kiến nên nóphát triển một cách hết sức chậm chạp và yếu ớt Chính vì thế, cho đến trướckhi chủ nghĩa thực dân phương Tây đô hộ các nước Đông Nam Á nói chung,Đông Nam Á lục địa nói riêng thì nền kinh tế của các nước này chủ yếu vẫn
là kinh tế nông nghiệp, mang tính chất tự nhiên và một số nghề thủ công nhỏ
bé, què quặt Phải đợi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nền kinh tế củacác nước này mới thực sự chuyển biến đáng kể
Trong lĩnh vực xã hội ít nhiều cũng có sự xáo trộn, chẳng hạn như sựxuất hiện của các cộng đồng người Châu Âu đến sinh sống ở một số trungtâm buôn bán quan trọng như kinh đô của các nước Bên cạnh các giai cấp cũtrong xã hội thì bắt đầu xuất hiện một số tầng lớp mới đại diện cho phươngthức sản xuất mới như công nhân, tiểu tư sản, tư sản v.v Tuy nhiên, sự biếnđổi đó chưa đáng kể vì trật tự giai cấp của xã hội phong kiến vẫn đang đượcgiữ nguyên như thời kỳ trước thế kỷ XVI, xã hội cũng được chia thành ba giaicấp chính: quý tộc, nông dân và nô lệ Tuy nhiên, điều mà chúng ta không thểkhông đề cập tới là cùng với quá trình xâm nhập và xâm lược của phương Tâythì chế độ phong kiến ở các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lụcđịa nói riêng đã bước vào giai đoạn suy tàn và khủng hoảng trầm trọng Mâuthuẫn trong xã hội trở nên gay gắt, các cuộc khởi nghĩa của nông dân chốngchế độ phong kiến không ngừng diễn ra, đặc biệt là các phong trào khởi nghĩacủa nông dân ở Việt Nam vào thế kỷ XVIII Đồng thời do chính sách bànhtrướng và bá quyền khu vực của một số quốc gia nên đã xẩy ra nhiều cuộcxung đột, thậm chí là các cuộc chiến tranh và chính những cuộc xung đột,những cuộc chiến tranh này đều làm cho cả kẻ thắng lẫn người bại đều bị suykiệt cả về kinh tế, mất ổn định về mặt chính trị và vô hình chung các nướcnày đã tự biến mình thành mồi ngon cho các nước phương Tây
Trang 23Nhìn chung nền kinh tế - xã hội của các nước Đông Nam Á lục địa kể từthế kỷ XVI cho đến cuối thế kỷ XIX ít nhiều có sự chuyển biến so với thời kỳtrước Tuy nhiên, sự chuyển biến ấy cũng chỉ là gợn sóng trên “ao nước tùđọng” của chế độ phong kiến Nền kinh tế thời kỳ này về cơ bản vẫn mangnặng tính chất tự cấp tự túc, quan hệ xã hội cơ bản vẫn là địa chủ với nôngdân Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các nước phương Tây đặtách cai trị và bóc lột, tiến hành khai thác thuộc địa thì kinh tế- xã hội của cácnước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng mới thực sự cónhiều chuyển biến quan trọng.
Trang 24Chương 2 :
SỰ BIẾN ĐỔI KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á LỤC ĐỊA ( CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX ) DƯỚI TÁC
ĐỘNG CỦA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY.
Có thể nói đến cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hầu hết các nước ĐôngNam Á (trừ vương quốc Xiêm vẫn còn giữ được độc lập trên danh nghĩa) đều
bị bọn thực dân phương Tây biến thành thuộc địa, thuộc địa nửa phong kiếnhoặc là nước phụ thuộc Sau đó, chúng nhanh chóng thi hành các chính sáchcai trị và bóc lột của mình
2.1 Sự biến đổi kinh tế - xã hội của ba nước Đông Dương ( cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ).
2.1.1 Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân Pháp.
Để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác và bóc lột thuộcđịa sau khi bình định xong Đông Dương, thực dân Pháp liền thiết lập một bộmáy hành chính cai trị chặt chẽ của chúng trên vùng đất này
Lúc đầu chúng tìm mọi cách chia rẽ đất nước và chia rẽ dân tộc của banước Đông Dương hòng phân tán lực lượng để dễ bề cai trị, nhưng về sau sựchia rẽ đó lại gây nên tình trạng không thống nhất trong khâu quản lý Do đóbuộc chúng phải quan tâm đến sự thống nhất của bộ máy thuộc địa toàn ĐôngDương Chính vì điều đó nên ngày 17/10/1887 “Liên bang Đông Dương”được thành lập theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp Năm đó chỉ mới bao gồmViệt Nam và Campuchia Cho mãi tới năm 1899, Lào mới được thiết lập vàoLiên bang Đông Dương Theo đó Việt Nam bị chia cắt làm ba kỳ: Bắc Kỳ lànửa bảo hộ, Trung Kỳ là đất bảo hộ và Nam Kỳ là đất thuộc địa Lào vàCampuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp Tất cả năm xứ đó hợp thành Liênbang Đông Dương “ Với thủ đoạn này chúng nhằm xoá bỏ tên Việt Nam,Campuchia, Lào trên bản đồ thế giới ” [ 8, 99]
Cùng với việc thành lập Liên bang Đông Dương, thực dân Pháp bắt đầuthực hiện chế độ toàn quyền Đứng đầu Liên bang Đông Dương là một tên
Trang 25toàn quyền người Pháp- thay mặt Chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọimặt Dưới toàn quyền là Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứTrung Kỳ, Lào, Campuchia.
Để thực hiện chính sách “chia để trị” thực dân Pháp chia ba nước ĐôngDương thành các vùng các xứ khác nhau
Đối với Việt Nam chúng chia thành 3 kỳ với ba chế độ chính trị khácnhau Nam Kỳ là đất thuộc địa không phụ thuộc vào Nam Triều, đứng đầu làThống đốc người Pháp Bắc Kỳ là đất “nửa bảo hộ” do Phủ Thống sứ đứngđầu là viên Thống sứ quản lý Riêng ở Trung Kỳ là đất bảo hộ vẫn do chínhquyền nhà Nguyễn cai trị về hình thức nhưng thực chất là do người Pháp chỉđạo Vì vậy bộ máy cai trị này mang tính chất “song hành” hay “lưỡng thể”.Đứng đầu Trung Kỳ là viên Khâm sứ người Pháp Cũng như bộ máy cai trịcủa Pháp ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ, đứng đầu cấp tỉnh ở Trung Kỳ là một viênCông sứ người Pháp Toàn bộ hệ thống chính quyền dưới tỉnh là phủ, huyện,châu (miền núi), xã trên toàn lãnh thổ Việt Nam đều do người Việt quản lý,tầng lớp này cấu kết với thực dân Pháp, làm tay sai cho chúng tiếp tục áp bức,bóc lột nhân dân
Đối với Lào, sau khi chiếm xong đất nước này vào năm 1893, thực dânPháp chia Lào thành hai khu vực: miền Thượng Lào gồm 6 tỉnh lấy LuôngPha Băng làm thủ phủ; miền Hạ Lào gồm 7 tỉnh lấy Khổông làm thủ phủ Đểnắm lấy từng tỉnh Pháp cử đến mỗi tỉnh một tên “uỷ viên Chính phủ” cóquyền hành lớn như Công sứ Năm 1899 để dễ bề cai trị, chúng đã hợp nhấthai miền thành một khu vực lấy Viêng Chăn làm thủ phủ Cũng giống như ởViệt Nam, bên cạnh Vua Lào còn có một vị Khâm sứ người Pháp quản lý vềhành chính và ngoại giao, ngôi Vua chỉ còn là hư vị Cả nước chia thành 9tỉnh, dưới tỉnh là các mường, dưới mường là tàxẻng, mỗi tàxẻng có nhiều bản
Từ mường trở xuống là do người Lào trực tiếp quản lý
Cũng giống như ở Việt Nam, Lào, bên cạnh vua Campuchia cũng là một
vị Khâm sứ người Pháp, bên cạnh các viên quan đứng đầu cấp Tỉnh là một
Trang 26viên Công sứ người Pháp và các vị này phải chịu sự quản lý của Thống đốcNam Kỳ Còn từ cấp huyện trở xuống là do người bản xứ trực tiếp quản lý.Qua chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với ba nước Đông Dươngchúng ta có thể thấy rằng về cơ bản người Pháp chỉ nắm giữ những chức vụquan trọng từ toàn quyền đến cấp tỉnh Còn từ cấp huyện trở xuống thực dânPháp vẫn duy trì hệ thống cai trị của người bản xứ để biến lớp người này trởthành tay sai đắc lực cho chúng.
Sau khi thiết lập bộ máy cai trị của mình thực dân Pháp không ngừng cảitạo và hoàn chỉnh dần qua thực tế cai trị trên toàn cõi Đông Dương Cho đếnđầu thế kỷ XX, đặc biệt là từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất về cơ bản môhình, cơ cấu tổ chức và phương thức chỉ đạo của chính quyền thuộc địa đãđược xác định, từng bước được củng cố và ngày càng hoàn chỉnh hơn
Sau khi đặt ách cai trị lên ba nước Đông Dương, thực dân Pháp bắt đầutiến hành khai thác và bóc lột thuộc địa của mình
Từ cuối thể kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX thực dân Phápthực hiện hai chương trình khai thác thuộc địa Chương trình khai thác thuộcđịa lần thứ nhất tiến hành từ năm 1897 đến năm 1914 Trong lần khai thácnày chúng chú trọng đầu tư vào ngành giao thông vận tải và khai mỏ, bởi vìmuốn tiến hành khai thác và bóc lột nguồn của cải ở Đông Dương thì Phápphải tạo dựng lên một cơ sở hạ tầng và các thiết bị phương tiện cần thiết, mặtkhác chúng đầu tư khai thác mỏ vì ngành này vừa đầu tư ít lại vừa nhanhchóng thu được lợi nhuận Chương trình khai thác thuộc địa lần hai tiến hành
từ năm 1918 đến 1929 Pháp lại chú trọng đầu tư vào ngành nông nghiệp, chủyếu là đồn điền cao su và công nghiệp chủ yếu là khai thác khoáng sản
Đi đôi với công cuộc khai thác thuộc địa là chính sách thuế khoá hết sứcnặng nề đối với nhân dân ba nước Đông Dương Ngoài những thuế cũ củathời phong kiến chúng còn đặt ra nhiều loại thuế mới như thuế thân, thuế laodịch, thuế muối, thuế rượu, thuế thuốc phiện v.v Nguồn lợi của các loại thuếnày chính là nguồn thu của ngân sách tài chính Đông Dương Đây là nguồn
Trang 27vốn chủ yếu để thực dân Pháp đầu tư vào Đông Dương tiến hành khai thácthuộc địa.
Như vậy, chính sách cai trị và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp ởĐông Dương đã góp phần làm cho nền kinh tế- xã hội ở đây biến chuyểnmạnh mẽ
2.1.2 Sự biến đổi về kinh tế- xã hội.
- Sự biến đổi về kinh tế.
Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) là khu vực rất giàu tài nguyên thiênnhiên và có một nguồn lao động dồi dào, rẻ mạt nên nơi đây có đủ những điềukiện thuận lợi cho thực dân Pháp tiến hành khai thác và bóc lột kinh tế Vàtrên thực tế chúng đã tiến hành hai chương trình khai thác thuộc địa lần thứnhất (1897-1911), lần hai (1919-1929) Dưới tác động của hai chương trìnhkhai thác thuộc địa đó cùng những chính sách bóc lột khác của thực dân Pháp,tình hình kinh tế Đông Dương đã có nhiều chuyển biến quan trọng Trước hết
là sự biến đổi trong các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, thủ côngnghiệp và sự hình thành khu vực kinh tế hiện đại như công nghiệp, ngoạithương, giao thông vận tải v v
Nông nghiệp vốn là ngành kinh tế truyền thống của Đông Nam Á nóichung và Đông Dương nói riêng, đồng thời đây là lĩnh vực cần ít vốn nhưnglại dễ dàng thu được lợi nhuận cao Do đó, ngay từ khi tới Đông Dương Pháp
đã rất chú trọng đến ngành kinh tế này Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XXchúng đã dùng mọi thủ đoạn để cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ĐôngDương, lập đồn điền trong đó chủ yếu là đồn điền trồng lúa và đồn điền cao
su
Theo số liệu thống kê vào cuối thế kỷ XIX diện tích trồng lúa trên toànĐông Dương là trên 3 triệu ha, trong đó Việt Nam chiếm 2,6 triệu ha Vàonhững năm từ đầu thế kỷ XX con số này là 5,5 triệu ha, trong đó Việt Nam là4,4 triệu ha “ So với thời kỳ cuối thế kỷ XIX, năng suốt lúa trung bình trêntoàn xứ Đông Dương đầu thế kỷ XX đã tăng gấp 5 lần (từ 2,3 tạ/ha đến 10,7tạ/ha)’’ [ 6,55] Về năng suất lúa tính riêng năm 1913 ở Việt Nam thu hoạch
Trang 28được 3,9 triệu tấn trong đó một nửa được đem đi xuất khẩu Có thể nói lúagạo luôn luôn đứng hàng đầu trong các mặt hàng xuất khẩu, nó chiếm tới trên60% tổng giá trị hàng xuất khẩu Trong thời kỳ từ 1899 đến 1903 ĐôngDương đã xuất khẩu mỗi năm trên 800 nghìn tấn gạo và trong chương trìnhkhai thác thuộc địa lần thứ hai, số lượng này tăng lên gần 1,4 triệu tấn Mặthàng này đã đem đến một nguồn lợi nhuận rất cao cho thực dân Pháp Lượnggạo xuất khẩu chủ yếu xuất phát từ hai khu vực Bắc Kỳ và Đồng Bằng SôngCửu Long, trong đó Nam Kỳ là nơi có diện tích canh tác lớn nhất và chonhiều sản lượng lúa nhất Trong nền nông nghiệp Đông Dương sau lúa thì ngô
là cây lương thực quan trọng thứ hai Đầu thế kỷ XX ước tính diện tích trồngngô trên toàn lãnh thổ Đông Dương là trên 200.000 ha Trong đó chủ yếu làphía Bắc và Trung Kỳ, với sản lượng trung bình mỗi năm là trên 200.000 tấn,trong đó phần lớn được đem đi xuất khẩu Thị trường xuất khẩu ngô chủ yếucủa Đông Dương là Pháp Cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX “ĐôngDương là nơi xuất khẩu ngô lớn nhất Châu Á và đứng hàng thứ tư thế giới”[6, 92]
Bên cạnh việc vơ vét xuất khẩu lương thực chủ yếu là lúa gạo thì kinh tếđồn điền cũng được thực dân Pháp chú trọng phát triển, đặc biệt là đồn điềncao su Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do nhu cầu cao su trên thị trường thếgiới tăng cao nên tư bản Pháp đổ xô vào kinh doanh cao su Do đó diện tíchcao su không ngừng được tăng lên Nếu như năm 1919 diện tích trồng cao su
là 15.850ha đến năm 1925 là 18.000ha thì 5 năm sau đã tăng vọt lên bốn lầnđạt 78.620ha Loại cây này phân bố chủ yếu ở Nam Kỳ và Cao Miên Trongthời gian này theo ước tính trên toàn lãnh thổ Đông Dương đã thành lập đượcgần 800 đồn điền cao su, trong đó người Pháp chiếm một nửa nhưng lạichiếm tới 90% tổng số diện tích Sản lượng thu hoạch cao su cũng ngày cànglớn từ 3.500 tấn năm 1919 lên tới 6.796 tấn vào năm 1924 và năm 1929 con
số đó là 10.300 tấn Các hoạt động kinh doanh cao su được tập trung vào 3công ty lớn: Công ty Đất đỏ, công ty Mitsơlanh và công ty trồng cây nhiệtđới Có thể nói vào những thập niên đầu thế kỷ XX “ diện tích trồng và sản
Trang 29lượng cao su của Đông Dương đứng hàng thứ hai thế giới chỉ sau Malaixia’’ [6,88]
Ngoài cao su, các cây công nghiệp khác cũng được trồng trọt trong cácđồn điền như cà phê, hồ tiêu, mía v.v
Như vậy, vào thời điểm này, bên cạnh cây lúa thì diện tích trồng các loạicây công nghiệp, nhất là cây cao su không ngừng được mở rộng, góp phầnxoá bỏ tính độc canh của nền nông nghiệp Đông Dương Bên cạnh đó, để khaithác tối đa ngành kinh tế này thực dân Pháp cũng tăng cường đầu tư một sốtrang thiết bị kỹ thuật như máy móc, phân bón v.v cũng như cho xây dựngcác công trình thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Nhưng điều đặcbiệt hơn cả là việc xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp như lúa gạo, cao suv.v đã không những đẩy mạnh sự phát triển của sản xuất mà còn góp phầnđưa nền nông nghiệp Đông Dương dần dần thoát khỏi tính chất tự cấp, tự túc
để bước sang nền sản xuất hàng hoá Điều đó chứng tỏ quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa đã xâm nhập vào nông nghiệp Tuy nhiên, do bản chất thực dânnên Pháp chỉ chú trọng đầu tư trong các lĩnh vực đem lại lợi nhuận như vơvét xuất khẩu lúa gạo và kinh tế đồn điền, còn về cơ bản chúng vẫn giam hãmngành kinh tế này trong vòng lạc hậu
Một ngành kinh tế truyền thống thứ hai gắn liền với nền kinh tế nôngnghiệp là thủ công nghiệp Dưới ảnh hưởng của các chính sách bóc lột khaithác thuộc địa của thực dân Pháp ngành kinh tế này cũng có nhiều biến đổikhác trước Ngoài các nghề thủ công truyền thống có từ trước như nghề dệt,nghề gốm sứ v.v còn xuất hiện thêm một số ngành nghề mới như nghề xayxát gạo, làm bột, làm bún, ép dầu v.v
Nghề dệt là một trong những nghề có truyền thống lâu đời ở ĐôngDương Trong cả hai chương trình khai thác thuộc địa thực dân Pháp chútrọng phát triển ngành này vì những sản phẩm của nó có thể đem đi xuất khẩuthu lại lợi nhuận cao Đến đầu thế kỷ XX chúng cho xây dựng một số cơ sởchăn tằm kiểu mẫu và các nhà máy dệt lụa ở Nam Định, Bình Định v.v Theoước tính số tiền đầu tư vào nghề tơ tằm lên tới 1 triệu đồng Đông Dương
Trang 30Đồng thời diện tích trồng dâu cũng không ngừng tăng lên lên tới hàng chụcnghìn ha, trong đó tập trung chủ yếu ở Trung Kỳ (13.500 ha) Phần lớn sảnlượng tơ tằm được đem đi xuất khẩu, số còn lại làm nguyên liệu cho ngànhdệt trong nước Do đó ngành dệt lụa ngày càng phát triển mạnh mẽ, nghề nàytập trung chủ yếu ở Bắc Kỳ với các trung tâm nổi tiếng như Hà Đông, NamĐịnh, Thái Bình
Bên cạnh nghề dệt còn có nghề gốm sứ, nghề này cũng phát triển hơntrước, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất Sản phẩm gốm nhìnchung đã có sự cải tiến về mẫu mã, kỹ thuật sản xuất và chất lượng sản phẩmđược nâng cao hơn Những nơi xuất khẩu gốm nhiều nhất là Bát Tràng,Thanh Trì (Hà Nội); Thổ Hà (Bắc Ninh) v.v
Bên cạnh hai nghề thủ công truyền thống kể trên thì các nghề thủ côngkhác như nghề đan lát, nghề làm đồ trang sức, đặc biệt là các nghề thủ công
mỹ nghệ như mộc, điêu khắc, vẽ, trảm, khảm cũng tương đối phát đạt Nhiềusản phẩm thủ công mỹ nghệ được đem bán ở cả nước ngoài
Ngoài các nghề thủ công truyền thống thì ở Đông Dương lúc này xuấthiện thêm một số nghề thủ công mới như các nghề chế biến thực phẩm: nghềhàng xáo, làm bún, chế biến chè, ép dầu v.v Trong đó nghề làm hàng xáo lànghề phát triển nhất tập trung chủ yếu ở Bắc Kỳ Kế đó là nghề nấu rượucũng được khuyến khích phát triển do chính sách đầu độc rượu cồn của thựcdân Pháp đối với nhân dân Đông Dương
Như vậy, trong thời gian Pháp thực hiện hai chương trình khai thác thuộcđịa các ngành nghề thủ công nghiệp Đông Dương có những bước phát triểnđáng kể Biểu hiện đó là số lượng các ngành nghề cũng như số thợ thủ côngkhông ngừng tăng lên Theo ước tính thì thời kỳ này cả Đông Dương tồn tạikhoảng trên 100 nghề thủ công khác nhau với hàng trăm thợ thủ công Kỹthuật cũng như trình độ sản xuất tiến bộ nhiều hơn so với trước Tuy nhiên,những tiến bộ ấy chỉ mang tính chất nhất thời và chỉ ở một số ngành nghề chủyếu còn lại nghề này vẫn còn gắn chặt với nông nghiệp và mang năng tínhchất gia đình tự cấp tự túc
Trang 31Song song với sự chuyển biến trong các nghề thủ công truyền thống thì ởĐông Dương lúc này hình thành một khu vực kinh tế hiện đại: công nghiệp,giao thông vận tải, thương nghiệp.
Trong quá trình xây lược Đông Dương, thực dân Pháp đã cho xây dựngmột số cơ sở công nghiệp như các công xưởng sửa chữa tàu, chế biến nôngsản, các cơ sở khai thác mỏ khoáng sản nhưng những cơ sở này còn rất sơkhai Vào cuối thế kỷ XIX sau khi xâm chếm xong Đông Dương, thực dânPháp mới bắt đầu tiến hành mở mang các ngành nghề công nghiệp đặc biệt làcông nghiệp khai mỏ và chế biến
Năm 1888, Công ty than Bắc Kỳ được thành lập và tiến hành thăm dò vàkhai thác mỏ Tính đến cuối thế kỷ XIX sản lượng khai thác mỏ trên toàn lãnhthổ Đông Dương (chủ yếu là Viêt Nam) lên tới gần 300 tấn Sang đầu thế kỷ
XX Pháp đặc biệt coi trọng đến ngành này, chúng đã cấp hàng trăm giấy pháp
đi tìm mỏ với tổng sản lượng khai thác đến năm 1914 là 620 tấn trong đóphần lớn được đem đi xuất khẩu Lượng than xuất khẩu một phần được đưa
về Pháp, phần khác là đem bán cho một số nước ở vùng viễn Đông như NhậtBản, Trung Quốc v.v Hoạt động khai thác than trong tay các công ty như:Công ty mỏ than Bắc Kỳ, Công ty than Tuyên Quang v.v Trong chươngtrình khái thác thuộc địa lần hai ngành này tiếp tục phát triển về quy mô vàsản lượng khai thác Nếu như năm 1911 diện tích khai mỏ là 60.000 ha thìđến năm 1930 là 430.000 ha Đồng thời thực dân Pháp còn đầu tư vốn và cáctrang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho các cơ sở khai thác có từ trước và mở thêmnhiều công ty mới như Công ty than Hạ Long – Đồng Đăng, Công ty than vàkim khí Đông Dương v.v Do đó sản lượng khai thác than trung bình trongthời kỳ này lên tới gần 2.000 tấn Khu vực Bắc Kỳ là nơi tập trung nhiềuthanh nhất Đông Dương chiếm gần tới 83%, sau đó là Lào chiếm 12%
Bên cạnh mỏ than Pháp còn tổ chức khai thác nhiều mỏ kim loại khác:
mỏ thiếc, kẽm, đồng, vàng v.v Tổng giá trị khai khoáng ở Đông Dương vàonăm 1906 là 2.000.000 đồng Đông Dương đến năm 1916 tăng lên 8.000.000
và trong chương trình khai thác thuộc địa lần hai con số đó tăng lên hàng chục
Trang 32triệu Để khai thác được nhiều hơn các loại khoáng sản, tư bản Pháp chú trọngcải tiến các kỹ thuật khai thác song về cơ bản vẫn chủ yếu vẫn thực hiện bằngtay với các công cụ cụ khai thác thô sơ nhằm triệt để sử dụng nguồn lao độngdồi dào ở Đông Dương
Bên cạnh công nghiệp khai khoáng các ngành công nghiệp nhẹ và côngnghiệp chế biến vào thời kỳ này cũng được đầu tư và phát triển Lúc đầu donắm được thế mạnh của Đông Dương là lấy nông nghiệp làm ngành kinh tếchính nên trước hết chúng tiến hành đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến nôngsản Năm 1895 ở Nam Kỳ có 200 xưởng xay xát gạo chuyên chế biến gạoxuất khẩu Ngoài nghề này tư bản Pháp còn cho xây dựng một số cơ sở nấurượu, sản xuất diêm, làm giấy Năm 1891 một cơ sở dệt bằng máy móc lầnđầu tiên xuất hiện tại Bắc Kỳ Năm 1893 nhà máy điện Hải Phòng và ba nămsau là nhà máy điện Hà Nội được xây dựng Vào đầu thế kỷ XX, do nhu cầucủa công cuộc khai thác thuộc địa cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước, thực dân Pháp lại cho xây dựng nhiều cơ sở công nghiệp chế biến vàcông nghiệp nhẹ như: Công ty vải Bắc Kỳ, Công ty điện nước Đông Dương,Công ty rượu Đông Dương v.v vào thời kỳ này ở Nam Kỳ số lượng các nhàmáy xay xát gạo tăng nhanh, ở Bắc Kỳ các ngành công nghiệp chế biến pháttriển mạnh nhất là chế biến rượu Đặc biệt là ba nhà máy dệt được xây dựngtại Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng chứng tỏ ngành dệt cũng được đầu tư pháttriển Bên cạnh đó ở Trung Kỳ đó còn xuất còn xuất hiện một số nhà máynhư: nhà máy diêm Bến Thuỷ, nhà máy sửa chữa xe lửa Tràng Thi v.v Đếnchương trình khái thác thuộc địa lần thứ hai thì hầu hết các cơ sở công nghiệpnhẹ và công nghiệp chế biến đã có từ trước đều được bổ sung thêm vốn vàđầu tư trang thiết bị kỹ thuật Song song với điều đó là sự ra đời của một sốnhà máy, xí nghiệp mới như Công ty sợi Sài Gòn, Công ty dệt lụa Nam Địnhv.v
Có thể nói vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nền công nghiệp thuộcđịa ở Đông Dương đã được ra đời và phát triển chủ yếu là công nghiệp khai
mỏ và chế biến Điều đó chứng tỏ trình độ sản xuất tiên tiến của phương Tây
Trang 33đã được du nhập vào Đông Dương Tuy nhiên, chủ trương của thực dân Pháp
là chỉ phát triển một nền công nghiệp dịch vụ và phục vụ (chủ yếu là sản xuấtcác mặt hàng tiêu dùng và cung cấp nguyên liệu cho chính quốc) còn mộtngành công nghiệp nặng (luyện kim, cơ khí) ở Đông Dương chưa thực sự rađời
Để phục vụ thuận lợi cho công cuộc khai thác thuộc địa cũng như dễdàng đem quân đi đàn áp các phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dânnên trong quá trình xâm lược cũng như sau khi bình định xong Đông Dương,thực dân Pháp tăng cường đầu tư xây dựng các các hệ thống giao thông:đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không
Vào cuối thế kỷ XIX, đường sắt được coi là hệ thống giao thông hiện đại
và lần đầu tiên xuất hiện ở Đông Dương Năm 1881, tuyến đường sắt Sài Gòn– Mỹ Tho được xây dựng, đến năm 1890, tuyến đường sắt Hà Nội – ĐồngĐăng trải qua 13 năm chật vật cũng được hoàn thành vào năm 1902, cũngtrong năm này hoàn thành tuyến đường sắt Hà Nội- Hải Phòng Riêng tuyếnđường sắt Hà Nội- Sài Gòn được xây dựng trong thời gian 36 năm Lúc đầuPháp cho xây dựng các đoạn đường từ Hà Nội- Vinh, Đông Hà- Đà Nẵng,Nha Trang- Sài Gòn Sau đó, trong chương trình khai thác thuộc địa lần 2,chúng mới tiến hành cho xây dựng các đoạn đường còn lại từ Vinh – Đông
Hà, Đà Nẵng- Nha Trang Nếu như năm 1912, tổng số đường sắt ở ĐôngDương là 2059km thì đến năm 1930 con số này là 2.600km Có thể nói “sựxuất hiện của hệ thống đường sắt là một nét mới, một bước tiến trong quátrình hiện đại hoá và hoàn chỉnh mạng lưới giao thông”[6,46] ở Đông Dương.Cùng với việc xây dựng đường sắt, hệ thống đường bộ cũng được gấp rútxây dựng Ngoài trục đường xuyên Đông Dương, Pháp đã xây dựng nhiềutuyến đường liên tỉnh dẫn tới những vùng biên giới xa xôi và cao nguyênhoang vắng như Vinh- Sầm Nưa, Hà Nội- Cao Bằng, Sài Gòn- Tây Ninh tớibiên giới Campuchia Đến năm 1913 tổng số chiều dài đường bộ được xâydựng là 20.000km Năm 1930 tăng lên 30.000km Ngoài ra để phối hợp và tạođiều kiện thuận lợi cho các tuyến đường bộ, đường sắt hoạt động thực dân
Trang 34Pháp còn cho xây dựng các cây cầu bắc qua những dòng sông lớn như cầuHàm Rồng (Thanh Hoá), cầu Thạch Hãn (Quảng Trị), cầu Tràng Tiền (Huế),cầu Long Biên (Hà Nội) v.v Việc xây dựng các cây cầu bằng sắt, thép và ximăng như thế này là một bước tiến mới trong ngành giao thông vận tải, đócòn thể hiện trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến của người Pháp trên đấtthuộc địa.
Bên cạnh đó, đường thuỷ cũng được khai thông mở rộng trên các dòngsông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Thái Bình, sông Mê Công v.v Đồng thời để tạo điều kiện cho việc đi lại, đặc biệt là ở Nam Bộ, Pháp chođào thêm hàng nghìn km kênh rạch và tu bổ khai khẩn thêm các kênh rạch cũcũng như kênh Vĩnh Tế, Vĩnh An, Cà Mau v.v Vào đầu thế kỷ XX, các bếncảng cũ cũng được mở rộng và cho xây dựng thêm các cảng mới, nhất là cảngHải Phòng, Cam Ranh, Đà Nẵng, Sài Gòn, trong đó Sài Gòn là thương cảnglớn nhất Đông Dương Và có thể nói vào thời kỳ này “Đông Dương là nơi có
hệ thống giao thông tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á”[8,215]
Ngoài đường sắt, đường thuỷ, đường bộ thì vào đầu thế kỷ XX ở ĐôngDương còn xuất hiện một hệ thống giao thông hiện đại nữa là đường hàngkhông Năm 1917 Sở hàng không Đông Dương được thành lập lúc đầu chỉ đểphục vụ công tác quân sự nhưng chỉ sau một năm nó đã được vận dụng tronglĩnh vực dân sự Và cho đến đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX có thể đi lại bằngmáy bay đến thủ đô 3 nước Đông Dương cũng như tới được tất cả các hảicảng và thành phố lớn trên bán đảo Đông Dương
Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng so với thời kỳ trước thì vàocuối thế kỷ XIX, ba mươi năm đầu thế kỷ XX ngành giao thông vận tải ĐôngDương có nhiều tiến bộ vượt bậc Đó là việc xây dựng thêm nhiều hệ thốnggiao thông quan trọng hiện đại: đường sắt, đường hàng không; đó là việc tu
bổ, mở rộng thêm giao thông đường bộ, đường thuỷ Tuy nhiên, thực dânPháp chỉ cho mở rộng các đường giao thông mang tính huyết mạch nhưđường quốc lộ, đường liên tỉnh, còn các đường giao thông khác như liên
Trang 35huyện, liên xã chúng không hề chú ý tới Do đó về cơ bản ở nông thôn, đặcbiệt là ở Lào và Campuchia đường giao thông vẫn ít có sự chuyển biến.
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, ngành thương nghiệp của ĐôngDương không hề được coi trọng do tư tưởng “trọng nông , ức thương” vàchính sách “bế quan toả cảng” của các triều đình phong kiến Nhưng khi Phápxâm lược toàn bộ Đông Dương chúng đã chú ý ngay tới hoạt động thươngmại Tuy nhiên, ngay từ trước hoạt động buôn bán trên vùng đất này lại nằmtrong tay tư bản Hoa và Ấn Kiều Để đối phó lại năm 1887 Pháp bắt đầu thựchiện chính sách bảo hộ thương mại trong đó quy định hàng Pháp vào ĐôngDương chỉ đóng thuế 2,5%, còn hàng các nước khác là 5% Năm 1892 chúnglại ra một đạo luật mới quy định hàng Pháp được miễn thuế, còn hàng cácnước khác phải đóng thuế 25-120% Thông qua hai đạo luật đó, hàng Phápdần dần chiếm lĩnh thị trường Đông Dương Từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sauchiến tranh thế giới thứ nhất hoạt động thương mại của Đông Dương khôngngừng tăng lên Nếu như từ năm 1899 đến năm 1903 toàn lãnh thổ ĐôngDương xuất khẩu được 62 triệu đồng Đông Dương thì năm 1930 tăng lên 154triệu Tuy nhiên, là một xứ thuộc địa nên các mặt hàng xuất khẩu của nơi nàychủ yếu là hàng thô, mới qua sơ chế, giá trị còn thấp trong khi đó hàng nhậpkhẩu là hàng hoá của nền công nghiệp hiện đại Trong số các mặt hàng đem đixuất khẩu thì gạo đứng hàng đầu chiếm tới 65% tổng giá trị hàng xuất khẩu,sau lúa gạo là ngô, sau ngô là cao su Cả ba sản phẩm này chiếm tới 78% tổnggiá trị hàng xuất khẩu của Đông Dương Ngoài ba mặt hàng kể trên thì ĐôngDương còn xuất khẩu một số các sản phẩm khác như chè, cà phê, hồ tiêu, thanv.v Hàng nhập khẩu vào Đông Dương chủ yếu là các mặt hàng tiêu dùng cònmáy móc chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ Trong số các mặt hàng nhập khẩu ở trên thìhàng Pháp chiếm tỷ lệ chủ yếu (63%) Trước đây Đông Dương chỉ buôn bánchủ yếu với các nước Trung Quốc, Nhật Bản thì đến giai đoạn này đã mởrộng quan hệ giao lưu không những với các nước khác trong khu vực mà cònbuôn bán với các nước phương Tây như Anh, Đức, Mỹ, Ytalia v.v , trong đótất nhiên bạn hàng chính của Đông Dương vẫn là Pháp Song song với hoạt
Trang 36động ngoại thương thì hoạt động nội thương cũng được tăng cường so vớitrước Quan hệ giao lưu buôn bán giữa các vùng trong nước được đẩy mạnh.Tuy nhiên, hoạt động đó chủ yếu nằm trong tay người Pháp và Hoa kiều.Như vậy, dưới tác động của chính sách cai trị và bóc lột thuộc địa củathực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nền kinh tế Đông Dương
có nhiều chuyển biến quan trọng khác trước Trong khu vực kinh tế truyềnthống như nông nghiệp, thủ công nghiệp đã dần dần thoát khỏi tính chất tựcấp tự túc và tiếp cận với kinh tế hàng hoá Bên cạnh đó là sự ra đời khu vựckinh tế hiện đại như công nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương v.v đãkhẳng định việc du nhập của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nềnkinh tế Đông Dương Tuy nhiên, đối với Pháp việc đầu tư vào nơi đây khôngnhằm mục đích phát triển kinh tế mà chủ yếu là khai thác để kiếm lời nên về
cơ bản chúng kìm hãm nền kinh tế thuộc địa trong vòng lạc hậu và trói chặtvới kinh tế chính quốc
- Sự biến đổi về xã hội.
Việc thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị và bóc lột không nhữnglàm cho nền kinh tế có nhiều biến đổi so với trước mà còn kéo theo sự biếnđổi sâu sắc trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong cơ cấu giai cấp Đó là sựphân hoá của các giai cấp cũ trong nông thôn là nông dân và địa chủ; sự rađời của các giai cấp, tầng lớp mới ở đô thị: giai cấp công nhân, giai cấp tư sản
và tầng lớp tiểu tư sản
Giai cấp nông dân là thành phần chiếm đại đa số trong xã hội, chiếm tới95% dân số vào cuối thế kỷ XIX, 90% dân số vào đầu thế kỷ XX Trong quátrình sản xuất giai cấp này bị phân hoá thành các tầng lớp sau:
Tầng lớp phú nông- một đại diện cho thành phần kinh tế tư bản chủnghĩa ở nông thôn Lúc đầu họ cũng chỉ là những người nông dân bìnhthường nhưng trong quá trình sản xuất do biết cách làm ăn mà trở nên giàu
có Mặc dầu tiềm lực kinh tế chưa lớn nhưng tầng lớp này có một thế lựcđáng kể trong nông thôn
Trang 37Tầng lớp trung nông là lực lượng sở hữu khoảng từ 3 mẫu ruộng đất trởlên, tức là sở hữu tương đối đủ ruộng đất và các công cụ sản xuất để có thể tựsản xuất và nuôi sống bản thân mình, không phải đi bán sức lao động Tuynhiên, tuỳ vào thời điểm cụ thể mà tầng lớp này, đặc biệt là một số trung nônglớp dưới vẫn phải đi làm thuê kiếm sống.
Tầng lớp bần nông bao gồm những người thiếu ruộng đất canh tác vàthiếu công cụ sản xuất Do đó họ buộc phải thuê ruộng đất, trâu bò, nông cụcủa địa chủ để cày cấy Tầng lớp này chiếm 35% số hộ nông dân ở Việt Nam
và chiếm tới 80% dân số nông thôn ở Campuchia
Tầng lớp cố nông là lực lượng nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong giaicấp nông dân Họ không có một mảnh đất cắm dùi, không có công cụ sản xuất
và buộc phải đi làm thuê cuốc mướn qua ngày Tầng lớp này chiếm gần 21%
số hộ nông dân ở Việt Nam
Như vậy vào thời điểm này giai cấp nông dân Đông Dương chiếm 90%dân số nhưng chỉ có trong tay 42,4% diện tích canh tác và trong giai cấp nôngdân chỉ có tầng lớp phú nông, tầng lớp trung nông về cơ bản là có đủ điềukiện để tự sản xuất và nuôi sống chính mình, còn đa phần phải đi làm thuêbán sức lao động Nông dân là giai cấp chiếm đa số trong nhân dân, là lựclượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, nhưng cũng làgiai cấp bị bóc lột nặng nề nhất, họ ngày càng bần cùng hoá, phá sản hàngloạt buộc phải bỏ quê hương bản quán đi làm thuê trong các nhà máy, xínghiệp ở thành phố hay trong các đồn điền, nhưng đa phần trong số đó phảiquay về vì không tìm được việc làm và tiếp tục cuộc sống không lối thoát.Trong chính sách cai trị của thực dân Pháp chúng chỉ nắm chính quyền
từ cấp tỉnh trở lên, còn từ cấp huyện trở xuống chúng vẫn duy trì hệ thống caitrị phong kiến làm chỗ dựa trong quá trình thống trị Trong đó giai cấp địachủ là tầng lớp tay sai đắc lực nhất cho thực dân Pháp và được chúng nâng đỡ
cả về kinh tế lẫn chính trị Do đó giai cấp này không những không bị suygiảm mà ngày càng phát triển lớn mạnh hơn trước Tầng lớp này được phânthành 3 loại: Đại, trung, tiểu địa chủ
Trang 38Tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ (trung và tiểu địa chủ) tuỳ vào từng khu vực
mà có số lượng lớn nhỏ khác nhau Ở Bắc Kỳ tầng lớp này chiếm 8,4% sốchủ ruộng và chiếm khoảng 20% diện tích canh tác Ở Trung Kỳ con số này là6% và 15% Ở Nam Kỳ con số tương đương là 25,7% và 45%
Tầng lớp đại địa chủ chiếm một con số nhỏ hơn so với hai tầng lớp kia
Ở Bắc Kỳ có trên 1000 người chiếm 0,1% số chủ hộ nhưng chiếm tới 20%diện tích canh tác Ở Trung Kỳ có 350 đại địa chủ chiếm 1,4% tổng số chủruộng và khoảng 10% diện tích canh tác Ở Nam Kỳ con số này lớn hơnnhiều, số đại địa chủ chiếm gần 3000 người
Đây là sự phân hoá giai cấp địa chủ ở 3 xứ của Việt Nam còn ở Lào vàCampuchia tình hình giai cấp này cũng có những thay đổi nhưng không đángkể
Tóm lại, giai cấp địa chủ ở Đông Dương vào cuối thế kỷ XIX, ba mươinăm đầu thế kỷ XX chiếm khoảng 7 đến 10% dân số ở nông thôn nhưng đãnắm trong tay ½ diện tích canh tác Sự tập trung ruộng đất ngày càng cao vàotay giai cấp địa chủ lại được thực dân Pháp che chở nên chúng rất hống hách
và ra sức bóc lột giai cấp nông dân bằng hình thức cho lĩnh canh ruộng đất vàthu tô thuế (bằng tiền hoặc bằng hiện vật) Vào đầu thế kỷ XX, do tác độngcủa chính sách thực dân nên giai cấp nông dân Đông Dương ngày càng bị bầncùng hoá và phá sản hàng loạt, do đó đời sống của họ bị phụ thuộc hoàn toànvào địa chủ Điều đó càng làm cho lực lượng này ngày càng giàu có thêm và
có ưu thế rất lớn về kinh tế trong nông thôn Bên cạnh đó do chính sách cảicách hành chính ở thôn xã của thực dân Pháp, giai cấp này được đưa vào nắmgiữ hầu hết các chức vụ trong cơ cấu chính quyền của các hương thôn Đồngthời Pháp còn tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng địa chủ tham gia vào cácchức vụ bên trên như Hội đồng dân biểu, Hội đồng quản hạt v.v Do đó địa vịcủa giai cấp này không ngừng được nâng cao về cả kinh tế lẫn chính trị
Bên cạnh tầng lớp, giai cấp đại diện tiêu biểu cho xã hội Đông Dươngtruyền thống thì trong tình hình mới cũng xuất hiện thêm nhiều tầng lớp, giai