Tuynhiên, trong giai đoạn này, chữ Quốc ngữ chưa phải là đối tượng chính của các nhànghiên cứu mà nó chỉ được đề cập đến thông qua việc nghiên cứu các vấn đề kháccủa tiếng Việt như ngữ â
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2Và thế là, chữ Hán và chữ Nôm chỉ mới ảnh hưởng đến tầng lớp trên của xãhội, còn đa số nhân dân lao động vẫn chưa có chữ viết để biểu hiện tư duy, tình cảm
và tư tưởng của mình Đến thế kỷ XVII các giáo sĩ người châu Âu vào Việt Namtruyền bá Kitô giáo, đã nảy sinh ý tưởng sáng chế ra một thứ chữ viết mới, sau nàygọi là chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ trước khi trở thành chữ viết chính thức củangười Việt đã sử dụng làm công cụ truyền giáo và giao lưu văn hoá giữa người châu
Âu với nhân dân bản xứ Chữ Quốc ngữ phát triển qua nhiều thế kỷ đã có sự biếnđổi về các hình thức chữ viết ngày càng hoàn thiện và trở thành thứ chữ viết tiện lợinhư ngày nay
1.2 Chữ Quốc ngữ là phương tiện quan trọng để gìn giữ bản sắc và hiện đạihoá nền văn hoá dân tộc Việt Nam Nhưng ngày nay, do chịu sự tác động của nềnkinh tế thị trường, một bộ phận người Việt Nam chưa nhìn nhận đúng vai trò, giá trịcủa chữ Quốc ngữ đối với sự tiến hoá của dân tộc nên có tư tưởng xem nhẹ việc họctiếng Việt, học chữ Quốc ngữ Qua nghiên cứu đề tài “Quá trình biến đổi hình thứcchữ Quốc ngữ từ năm 1651 đến 1895”, chúng tôi mong muốn góp phần làm sáng tỏ
sự biến đổi của hình thức chữ Quốc ngữ qua các giai đoạn phát triển
1.3 Chữ Quốc ngữ là loại hình văn tự ghi âm tái hiện lại chuỗi âm thanh củatiếng Việt Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu quá trình vận động và phát triển các hìnhthức chữ Quốc ngữ trong tương quan với sự vận động và phát triển của hệ thốngngữ âm tiếng Việt qua các thời kỳ Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu vềlịch sử phát triển của tiếng Việt và lịch sử chữ Quốc ngữ nên việc nghiên cứu đề tàinày có nhiều thuận lợi Các kiến thức tiếp nhận được từ kết quả nghiên cứu lịch sửcủa tiếng Việt là cơ sở để giải quyết các vấn đề như: sự tồn tại của các hình thứcchữ viết “bl”, “tl”, “tr” và tương quan giữa chúng trong chức năng thể hiện phụ âmđầu tiếng Việt ở thế kỉ XVII
1.4 Nghiên cứu đề tài “Quá trình biến đổi hình thức chữ Quốc ngữ từ năm
1651 đến 1895” còn góp phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu sự biến đổi củachữ Quốc ngữ từ khi phôi thai ra đời đến khi hoàn thiện nhất là nghiên cứu chữQuốc ngữ trong các cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La”, của Alexandre de Rhodes, xuất
Trang 3bản năm 1651;“Từ điển Việt – La”, của Pigneau de Béhaine, năm 1772; “Từ điển
Việt - La”, của Taber, năm 1838 và cuốn “Đại Nam quấc âm tự vị”, của HuỳnhTịnh Của, năm 1895
Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài
“Sự biến đổi hình thức chữ Quốc ngữ từ năm 1651 đến 1895” làm đề tài luận văntốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề
Các vấn đề về chữ Quốc ngữ, từ lâu đã trở thành đề tài cuốn hút nhiều nhàkhoa học tham gia nghiên cứu Giữa thế kỷ XIX, khi chữ Quốc ngữ bắt đầu rờikhỏi cánh cửa của nhà thờ để đưa vào phổ biến rộng rãi trong xã hội, nhiều ngườingay lúc đó đã thấy những hạn chế trong hệ thống chữ viết này Do nhu cầu củaviệc dạy viết, dạy đọc, nhiều vấn đề về chữ Quốc ngữ đã được đề cập đến Tuynhiên, trong giai đoạn này, chữ Quốc ngữ chưa phải là đối tượng chính của các nhànghiên cứu mà nó chỉ được đề cập đến thông qua việc nghiên cứu các vấn đề kháccủa tiếng Việt như ngữ âm, ngữ pháp Đến nửa đầu thế kỷ XX, phong trào cảicách chữ Quốc ngữ phát triển mạnh mẽ và thu hút nhiều tạp chí, nhiều nhà nghiêncứu tích cực tham gia Đỗ Thận đã viết cuốn “Chữ kuốk ngữ mới” liên quan đếnvấn đề này Sau đó, hàng loạt bài báo về cải cách chữ Quốc ngữ đăng trên nhiều tạpchí như: Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, Phụ nữ Tân văn Có nhiều vấn
đề được đưa ra tham khảo, thảo luận và cả tranh luận tạo nên một phong trào hếtsức sôi nỗi
Đến năm 1956, một cuộc hội thảo lớn về cải tiến chữ Quốc ngữ đã được tổchức tại Sài Gòn Sau đó, năm 1961, lại có hội nghị cải tiến chữ Quốc ngữ tổ chứctại Hà Nội Các tài liệu liên quan đến hai cuộc hội nghị đã được xuất bản thànhsách Xung quanh vấn đề này, xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau như: ý kiến về đềnghị cải cách đơn vị cấu tạo chữ viết (viết liền thành từ thay vì viết theo âm tiết nhưcũ); ý kiến về sự thay đổi các dấu trên nguyên âm, các ký hiệu ghi thanh điệu Bên
Trang 4cạnh đó, còn nhiều ý kiến đề nghị thay thế một số hình thức chữ viết ghi phụ âmđầu hoặc phụ âm cuối được coi là bất hợp lý đang lưu hành trước đó.
2.2 Trong Những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, ở miền Nam có nhiều côngtrình nghiên cứu về chữ Quốc ngữ của các linh mục Họ là những người có điềukiện tiếp xúc với các tư liệu lưu trữ trong thư tịch cổ ở thư viện Toà ThánhVanticăng, thư viện của hội thừa sai Paris và thư viện các chủng viện khác Ưuđiểm của các nhà nghiên cứu này là đọc được tiếng Latinh cổ nên có thể hiểu thấuđáo vấn đề Tuy nhiên, họ không phải là các nhà ngôn ngữ học, nên chỉ mới nghiêncứu chủ yếu về phương diện lịch sử Vì mục đích của họ, không phải là nghiên cứungôn ngữ mà là nghiên cứu lịch sử truyền giáo Việt Nam và Giáo Hội đối với vănhoá Việt Nam
Năm 1958, linh mục Thanh Lãng cho xuất bản cuốn “Biểu nhất lãm văn họccận đại”, ông chú ý đến vai trò của nền văn chương công giáo đối với việc phát triểnvăn học Việt Nam ở đầu thế kỷ XIX
Bài viết “Chung quanh vấn đề thành lập chữ Quốc ngữ” của Nguyễn KhắcXuyên (1959) khẳng định: sự thành lập chữ Quốc ngữ nằm trong bối cảnh chung vềcông cuộc Latinh chữ viết một số ngôn ngữ ở Đông Nam Á như Trung Quốc, NhậtBản Nguyễn Khắc Xuyên còn chú ý đến vai trò của Alexandre de Rhodes đối với
sự nghiệp sáng chế ra chữ Quốc ngữ Về vấn đề này, đã có rất nhiều ý kiến khácnhau, phần đông đều thống nhất rằng việc sáng tạo chữ Quốc ngữ là công trình kếtục của nhiều nhà thừa sai Bồ Đào Nha, Ý, Pháp, trong đó, vai trò của Alexandre deRhodes là đặc biệt quan trọng Những bài khảo sát về sau của Nguyễn Khắc Xuyên,Trần Đức Khâm, Nguyễn Khắc Kham liên quan đến các hình thức chữ Quốc ngữ từnăm 1631 đến 1648 Trong bài “Lược khảo về Từ điển Việt-Bồ -La” của Nguyễn KhắcXuyên, đã cung cấp một số tư liệu đáng lưu ý
Bài viết “Những chặng đường của chữ viết Quốc ngữ” của Thanh Lãng
(1961) cung cấp một cái nhìn tổng quát diễn biễn các hình thức chữ Quốc Ngữ từnăm 1662 đến 1838
Trang 5Ngoài ra, còn một số nhà ngôn ngữ học ở miền Nam đã tham gia vào côngcuộc nghiên cứu chữ Quốc ngữ như: Lê Ngọc Trụ, Bùi Đức Tịnh, Vương Hữu Lễ.Trong đó, đáng chú ý hơn cả là những công trình chuyên khảo một số đặc điểm cụthể của hệ thống ghi âm tiếng Việt Bài báo của A.G Haudricounrt về “Nguồn gốccác đặc điểm của bộ chữ cái Việt Nam” đã đi sâu phân tích nguồn gốc và các đặcđiểm của việc vay mượn bộ ngữ cái Latinh để xây dựng bộ chữ cái tiếngViệt.
Như vậy, các công trình nghiên cứu về chữ Quốc ngữ như đã nêu, chỉ mới đềcập đến một số vấn đề về lịch sử chữ viết mà chưa tập trung nghiên cứu sự biến đổicủa hình thức chữ Quốc ngữ từ năm 1651 đến 1895 Nhưng các công trình nghiêncứu đó sẽ là những tài liệu tham khảo quan trọng phục vụ cho chúng tôi nghiên cứu
đề tài này
3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Về không gian, đề tài nghiên cứu về “Quá trình biến đổi hình thức chữQuốc ngữ từ năm 1651 đến năm 1895”
- Về thời gian nghiên cứu, đề tài tập trung khảo sát quá trình biến đổi của
chữ Quốc Ngữ từ thế kỷ thứ XVII đến thế kỷ XIX
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được những vấn đề của luận văn đặt ra, về phương pháp chúngtôi sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu vấn đề này
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp
cụ thể sau:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học
- Phương pháp so sánh
- Dùng các thủ pháp so sánh, miêu tả và tổng hợp
Trang 65 Đóng góp của luận văn
Qua nghiên cứu đề tài, chúng tôi cố gắng phác hoạ một cách khái quát nhất diễnbiến của sự thay đổi hình thức chữ Quốc ngữ qua các thế kỉ XVII, thế kỉ XVIII, thế kỉXIX Từ đó, xác lập các xu hướng biến đổi của hình thức chữ Quốc ngữ (về phụ âmđầu, phần vần và thanh điệu) qua từng thời kỳ
Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những kiến thức về lịch sửphát triển của chữ Quốc ngữ, giúp cho cho sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ và thế
hệ trẻ Việt Nam có cách hiểu thấu đáo hơn về lịch sử phát triển của chữ Quốc ngữ,trong quá trình phát triển chung của lịch sử văn tự Việt Nam
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1 Quá trình ra đời của chữ Quốc ngữ
Chương 2 Hình thức chữ Quốc ngữ từ năm 1651 đến 1659
Chương 3 Hình thức chữ Quốc ngữ từ năm 1772 đến 1895
Chương 1 QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA CHỮ QUỐC NGỮ 1.1 Hoàn cảnh ra đời của chữ Quốc ngữ
Trang 71.1.1 Những thứ chữ chính đã lưu hành ở Việt Nam trước khi có chữ Quốc ngữ
Ngôn ngữ là hiện tượng cộng sinh của tư duy Nếu không có một hệ thống tínhiệu biểu hiện những ý niệm, gọi là ngôn ngữ thì chúng ta không thể tư duy được.Ngôn ngữ thông thường tồn tại dưới hai dạng: lời nói và chữ viết
Lời nói là tín hiệu dạng thứ nhất của ngôn ngữ, hoạt động được nhờ khí quanphát ra Trong một thời gian dài, loài người chỉ biết nói nhưng chưa biết viết Chữviết là dấu mốc quan trọng trên chặng đường phát triển của xã hội loài người, cũngnhư của từng dân tộc Chữ viết là tín hiệu thứ hai của ngôn ngữ là tín hiệu của tínhiệu, nó giữ vai trò ghi chép, lưu giữ và quảng bá các nền văn hoá, văn minh Chữviết có hai loại, loại tượng hình tượng ý mà tiêu biểu là chữ Trung Quốc, loại tượngthanh tái hiện chuỗi âm thanh nối tiếp nhau trong khái niệm từ
Dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển trong một hoàn cảnh có những nét đặcthù riêng Sớm giao lưu tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, văn minh Ấn Độ vànhanh chóng du nhập một thứ chữ viết từ bên ngoài, trong khi, sự phát triển nội tạichưa có văn tự, “cho đến nay người ta vẫn chưa tìm thấy dấu tích của chữ Việt cổ, nếucoi văn hoa trên trống đồng là một thứ chữ viết thì cần nghiên cứu lại, vả lại nếu như thếthì đây cũng mới chỉ là những ký hiệu ở dạng rất thô sơ” [57; 13] Dân tộc Việt du nhập vàtiếp nhận chữ Hán làm chữ viết chính thức trong suốt thời kỳ quân chủ, từ đó sáng tạo
ra một thứ chữ viết mới, gọi là chữ Nôm
Trang 8phương Bắc: “Một số người Việt Nam đổ đạt được bổ làm quan trong bộ máy cai trịTrung Hoa như Lý Tiến, Lý Cầm” [60; 516] Như vậy, chữ Hán đã lưu hành ở nước
ta trước thời Sĩ Nhiếp Thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, nhà Hán sai Mã Viện là Phục
Ba tướng quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Sau thắng lợi, Mã Viện lập tức chokhắc sáu chữ lên cột đồng “đồng trụ chiết, Giao chỉ tuyệt” vào khoảng năm 43 saucông nguyên
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu thì chữ Hán xâm nhập vào nước ta từ thờiBắc thuộc, cùng với quá trình xâm lược và đô hộ của chính quyền phương Bắc Từ đó,chữ Hán trong những buổi đầu được tầng lớp quý tộc người Việt tiếp nhận, dần dầnảnh hưởng trong dân gian, và trở thành chữ viết chính thức cho dân tộc Việt trong suốtthời kỳ Bắc thuộc cũng như thời đại của các ông vua quân chủ
Học chữ Hán mất khá nhiều thời gian Người xưa có câu “thập niên đănghoả, bất độc thông văn tự”, tức là mười năm đèn sách chưa đọc nổi cái văn tự Vìvậy, chữ Hán du nhập vào nước ta hàng nghìn năm nhưng chủ yếu là tầng lớp trêncủa xã hội mới đủ sức học hành, đọc thông viết thạo và hiểu tường tận Còn phầnlớn những cư dân nghèo khổ hầu như không thể theo học
Như thế, chữ Hán tuy là sản phẩm du nhập từ bên ngoài, nhưng cha ông đãbiết tiếp nhận và xem nó là văn tự chính thức cho dân tộc trong suốt thời đại quânchủ, làm cơ sở sáng chế ra một thứ chữ mới cho dân tộc gọi là chữ Nôm
- Chữ Nôm
Từ ý thức dân tộc mạnh mẽ, cùng với sự khẳng định về lãnh thổ cũng nhưvăn hoá và chữ viết riêng biệt cho dân tộc, người Việt đã chế tác ra một thứ chữ viếtcho riêng mình, gọi là chữ Nôm Chữ Nôm ra đời từ rất sớm và phát triển ở thời Lý
- Trần, trở thành công cụ trong sáng tác thơ ca ở thời hậu Lê, thịnh hành trong côngcuộc hành chính thời Quang Trung và nở rộ ở thế kỷ XVIII với hàng loạt truyện thơnôm hữu danh, khuyết danh rực rỡ một thời, đồng thời góp phần không nhỏ vào khotàng văn hoá của dân tộc Việt Nam
Trang 9Tầng lớp trí thức có tinh thần dân tộc đã dựa vào chữ Hán sáng tạo ra chữNôm theo các cách sau:
Thứ nhất, dùng những tiếng Việt nào đồng âm với Hán tự thì dùng ngay chữ
ấy làm chữ Nôm
Thứ hai, ghép hai chữ Hán tạo thành một chữ Nôm, một chữ mượn âm, một
chữ mượn nghĩa, gọi là phép hình thanh
Thứ ba, ghép hai chữ Hán cùng biểu ý, gọi là phép hội ý.
Thứ tư, đọc chệch âm Hán tự ra Nôm tự, hoặc viết bớt nét của chữ Hán thành
chữ Nôm
Theo học giả Đào Duy Anh, nghiên cứu phương pháp cấu thành chữ Nômdựa theo Lục thư, tức sáu phép tạo chữ Trung Quốc là: “tượng hình, chỉ sự, chuyểnchú, giả tá, hình thanh và hội ý” [5; 61] Ông nêu ra chữ Nôm chỉ dùng ba phép làhội ý, hình thanh và giả tá của lục thư, trong đó hình thanh và giả tá là hai phép chủyếu thông dụng của chữ Nôm Chữ Nôm cũng như chữ Hán học mất rất nhiều thờigian, trong đó chữ Nôm chưa tạo thành những quy tắc thống nhất nên chữ viết ởmỗi vùng có sự khác nhau và mỗi thời mỗi khác
Trong quá trình sáng chế chữ Nôm, chữ Hán không đủ những nguyên âm
và phụ âm như trong tiếng Việt nên có nhiều trường hợp phải dùng âm tương tự,gần giống, “chữ Nôm của ta không có tự mẫu và những âm vận do tự mẫu cấuthành Nó chỉ dùng chữ Hán đọc theo âm Hán Việt để làm phù hiệu ghi âm Vì hệthống âm của tiếng Trung Quốc vốn nghèo hơn hệ thống âm của tiếng Việt, cho nên
so với tiếng Việt thì hệ thống âm Hán Việt cũng nghèo hơn Bởi vậy, dùng chữ HánViệt làm nguyên tố thì không thể tạo nên một thứ chữ ghi âm lý tưởng, nghĩa là biểuhiện ngữ âm hoàn toàn đúng Cụ thể là, thường gặp trường hợp một chữ đọc theonhiều cách khác nhau và có những từ trải qua các thời thì cách viết lại thay đổi, do đóngười ta cho chữ Nôm là một thứ chữ khó đọc” [61; 76]
Trang 10Chữ Nôm cả âm lẫn nghĩa phải vay mượn chữ Hán quá nhiều nét, dẫn đếnkhó viết, khó nhớ Một số thanh trong tiếng Việt có mà chữ Hán không có, nên phải
bổ khuyết bằng những dấu nháy để phân biệt
Như vậy, qua hai thứ văn tự chính là chữ Hán và chữ Nôm lưu hành nhiều thế
kỷ ở Việt Nam đã mang lại những giá trị to lớn trên các lĩnh vực, nhất là trên lĩnhvực văn hoá Tuy nhiên, văn tự chữ Hán và chữ Nôm còn nhiều hạn chế nhất định,đặc biệt là rất khó học, làm cho tầng lớp dân nghèo không có điều kiện theo học rơivào tình trạng mù chữ Từ đó, người Việt Nam chuyển sang hệ thống ghi âm bằngmẫu tự Latinh là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của dân tộc.Trong bối cảnh chung với các nước Đông Nam Á chịu ảnh hưởng sâu sắc văn minhTrung Hoa với hệ thống chữ tượng hình và văn minh Ấn Độ với chữ Phạn, thì chỉduy nhất dân tộc Việt Nam đã Latinh hoá được chữ viết
1.1.2 Xu hướng Latinh hoá chữ viết ở châu Á
Vào các thế kỷ XVI, XVII, ý tưởng Latinh hoá một số ngôn ngữ Á Đông đãmanh nha, nhất là ở Nhật Bản và Trung Hoa
- Nhật Bản
Trước năm 1548, một người Nhật tên là Yajiro đã theo học các nhà truyềngiáo Phan xi cô Xavic Khi Yajiro làm nhiệm vụ thông ngôn cho thầy của mình đã
sử dụng các tài liệu ghi âm tiếng Nhật bằng mẫu tự Latinh Đến năm 1591, dòng tên
đã có nhà in tại Amacusa và cho xuất bản một số sách bằng chữ Komaji, tức là chữNhật được Latinh hoá Năm 1592, cuốn “Giáo lý Kitô” ra đời và năm 1595 cuốn
“Từ điển La - Bồ - Nhật” xuất hiện Năm 1632, Bộ truyền giáo tại Rôma cho xuấtbản 3 tác phẩm bằng chữ Komaji là “cách xưng tội, xét mình”, “Từ điển La - Bồ -Nhật” và “ Ngữ pháp tiếng Nhật”
- Trung Quốc
Trong khi đó tại Trung Hoa, theo nguyệt san “Văn hoá” tháng 9 năm 1959,
số 44 trang 1150, tác giả Nguyễn Khắc Xuyên viết: Từ năm 1604 đến năm 1641 tạiPhilippine đã xuất bản quyển có khuynh hướng dùng chữ Âu châu để phiên âm Hoa
Trang 11ngữ, như bộ “Từ điển Hoa ngữ” Ngoài ra, trước năm 1589 hai cuốn từ điển “Hoa Bồ”, và “Bồ - Hoa” ra đời, đặc biệt là cuốn “Âm vận kinh” của Trigaalt đã sắp xếp
-âm vận Hoa ngữ theo mẫu tự Latinh được sao chép rồi truyền tay nhau sử dụng chođến thế kỷ XVIII, XIX
Như thế, việc Latinh hoá tiếng Nhật và tiếng Hoa như trên cho thấy ở thế kỷXVII xuất hiện khuynh hướng dùng mẫu tự Latinh phiên âm một số ngôn ngữ ởchâu Á và ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình Latinh hoá tiếng Việt Những cuốn từđiển “Bồ - Hoa”, “Hoa - Bồ” của Ricci và Huggieli khiến ta liên tưởng đến nhữngcuốn từ điển “Bồ - Annam”, “Annam - Bồ” của các ông Amaral và Barbôsa Vànhững cuốn “Cách xưng tội, xét mình”, “Từ điển La - Bồ - Nhật” ảnh hưởng đếncác cuốn “Phép giảng tám ngày”, “Từ điển Việt - Bồ - La”
1.2 Sự sáng chế chữ Quốc ngữ
1.2.1 Ch ữ Quốc ngữ thời phôi thai
Lần theo lịch sử truyền giáo Việt Nam, có thể thấy, trước năm 1583 khôngtìm thấy dấu vết gì của chữ Quốc ngữ, bởi vì, các Giáo sĩ cũng như thương nhânđến Việt Nam trong giai đoạn này chỉ lưu lại một thời gian rất ngắn, nên chắc chắn
sẽ không có điều kiện để tìm hiểu tiếng Việt và càng không thể quan tâm đến vấn đềcấu tạo của chữ viết
Năm 1584, giáo sĩ Bartholomé Ruiz ở lại Đàng Ngoài hơn hai năm, nhưngcũng không để lại dấu tích gì về việc sáng tạo chữ Quốc ngữ Từ năm 1615, thời kỳcác giáo sĩ dòng Tên, mới bắt đầu quan tâm đến việc học và sáng tạo chữ Quốc ngữ
Nhà truyền giáo phương Tây đầu tiên thông thạo tiếng Việt là Francesco dePina Ngay khi đến Việt Nam, Francesco de Pina đã tập trung vào học tập vànghiên cứu tiếng Việt Trong một thời gian ngắn ông đã thông thạo tiếng Việt, rồitrở thành thầy dạy tiếng Việt cho nhiều nhà truyền giáo trong đó có Alexandes deRhodes Ông đã dùng tiếng Việt vào giảng đạo và bắt đầu soạn sách ngữ pháp.Theo trích dẫn của Nguyễn Phước Tương thì giáo sĩ Francesco de Pina từ năm
1620 đến năm 1622 đã biên soạn tại Hội An 4 công trình La tinh hoá tiếng Việt
Trang 12gồm: Chuyên luận từ vựng, Các thanh tiếng An nam, Ngữ pháp tiếng An nam, vàCác truyện cổ tích ở Đàng Trong Trong quá trình nghiên cứu tiếng Việt, Franesco
de Pina nhận được sự giúp đỡ của một trí thức trẻ tuổi người Viêt Nam có tên rửatội là Phêrô Những điều trên chứng tỏ, Francisco de Pina mới là người có công đầutrong quá trình sáng tạo chữ Quốc ngữ mà không phải là Alexandes de Rhodes nhưquan niệm xưa nay Chính Alexandes de Rhodes đã từng xác nhận “ngay từ đầu tôi
đã học với cha Francisco de Pina người Bồ Đào Nha, thuộc Hội Dòng Giê su rấtnhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếngnày và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà khôngdùng thông ngôn” [1; 3] Theo Roland Jacques trong cuốn “Các nhà truyền giáo BồĐào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam” cho rằng: “Chính lờixác nhận của chính linh mục Pina, ngay từ năm 1622, ông đã hoàn thành việc xâydựng một hệ thống chuyển mẫu tự La tinh cho thích hợp với lối phát âm và thanhđiệu tiếng Việt Nam Ông đã làm được một tập tuyển và bắt đầu viết một bản vănphạm Kết quả đó, linh mục Pina đã đạt được một cách vất vả, với sự trợ giúp củamột số ít học sinh Việt Nam quy tụ chung quanh ông”[48; 85]
Tài liệu xưa nhất có dấu hiệu hình thức chữ Quốc ngữ vẫn còn được lưugiữ đến nay là bản tường trình hàng năm của dòng Tên Nhật Bản (1620), mà linhmục giám sát uỷ cho linh mục dòng Tên Joă Roiz dựa theo các báo cáo của ĐàngTrong soạn thảo để gửi cho linh mục Mutio Vitelleschi (Tổng giám mục dòng Tên ở
La mã)
Hình thức chữ Quốc ngữ được ghi nhận ở trong tài liệu này gồm các đơn vị sau: Anam: An nam
Sinoa: Xứ hoá (Thuận Hoá)
ông thầy Ungue: Ông nghè
Cacham: Ca Chàm (Kẻ Chàm hay Thanh Chiêm)
Nuocman: Tên thành phố ở phía bắc Qui Nhơn
Trang 13Cacham: Kẻ chàm
Nuoc man: Nước mặn
Ungúe – Ungue: Ông nghè
Ban cô – Bancó: Bàn Cố
Tài liệu của Critstoforo Borri với nhan đề: “Rélation de la nouvelle Missiondes Pères de la compagnie de jésus au Royaume de la cochinchine” Tài liệu đượcchính thức xuất bản bằng tiếng Ý và được Bonifasy dịch lại sang tiếng Pháp năm
1631 Tài liệu của Critstoforo Borri được các nhà nghiên cứu xem là tài liệu đánhdấu sự mở đầu quan trọng trong công cuộc sáng tạo chữ Quốc ngữ Bởi vì, đây là tàiliệu đầu tiên có số lượng khá nhiều hình thức chữ Quốc ngữ so với các tài liệu trước
đó Chúng ta có thể tìm được rải rác trên các trang của tập ký sự những hình thứcchữ Quốc ngữ nằm xen vào các đoạn văn và các câu viết bằng tiếng Ý hoặc tiếngPháp Kết quả thống kê thu được 70 đơn vị chữ Quốc ngữ (tính theo cách viết củatác giả) với 129 lần xuất hiện Các hình thức chữ Quốc ngữ xuất hiện trong ký sựcủa Critstoforo Borri như sau:
Annam: Annam ( Việt Nam, theo cách gọi thời đó)
Ciampa: Nước Chăm
Tunchina: Đông Kinh
Lai: Lào, Nước Lào
Trang 14Scin mocaij: Xin một cái
Chìa: Trà, chè
Sayc Kim: Sách Kinh
Sayc chiu: Sách chữ
Cò: có
Champa: Nước Chăm
Faifo: Hải phố (Hội An)
Con gnỏ muon bau tlom laom Hoalaom chiam: Con nhỏ muốn vào trong lòngHoalang chăng?
Muon bau dau christiam chiam: Muốn vào đạo Thiên chúa chăng?
Onsaij: ông sãi
Quangnghia: Quảng Ngãi
Trang 15Những tài liệu về chữ Quốc ngữ được tìm thấy sau đó phải kể đến như:
Tài liệu viết tay của Alexandre de Rhode năm 1625 có 3 hình thức chữ Quốcngữ:
Ainao: Hải Nam
Tunquim: Đông Kinh
Tunquin: Đông Kinh
Tài liệu viết tay của Gaspa Luis vào năm 1626 có những hình thức sau:
Dinh Cham: Dinh Chàm
Cacham: Ca Chàm (Kẻ Chàm)
Nuocman: Nước mặn
Quanghia: Quảng Nghĩa
Quinhin: Qui Nhơn
Ranran: Ran Ran (Đà Rằng)
Bendâ: Bến đá (tên một làng)
Bôdê: Bồ đề (tên một làng)
Ondedoc: Ông đề đốc
Unghe Chieu: Ông Nghè Chiêu
Nhit la khaum: Nhất là không
Khaum la nhit: Không là nhất
Ondelimbay : Ông đề lĩnh Bảy
Tài liệu viết tay năm 1626 của Antonio de Fontes có các hình thức như :
Dĩgcham: Dinh Chàm
Nuocman: Nước mặn
Sinnua: xứ Hoá
Trang 16Onghe Chieu: Ông Nghè Chiêu
Nhit la khấu, khấu la nhit: Nhất là không, không là nhất
Dinh cham: Dinh Chàm
Trang 17Thực chất, các hình thức này chỉ là sự phiên âm từ cách phát âm của ngườiViệt về một số từ chỉ địa danh và từ miêu tả sự hoạt động trong đời sống hàng ngày.Ngoài ra, cũng còn một số từ chỉ các sản vật, tên riêng và chức tước của một sốngười có mối quan hệ với các giáo sĩ phương Tây thời ấy
Bài ký sự của Cristoforo Borri là văn bản duy nhất được in, do đó, có điềukiện phát hành rộng rãi hơn, còn những tài liệu khác mới ở dạng văn bản chép tay.Những văn bản này, thường là những bản tường trình hàng năm về hoạt động củacác giáo sĩ dòng Tên ở Việt Nam gửi cho Tổng giám đốc dòng Tên ở La Mã Dovậy, các hình thức chữ Quốc ngữ được phổ biến ở phạm vi rất hẹp, chỉ quanh quẩntrong giới công giáo thời đó “Để học tiếng nước ta các vị giáo sĩ phương Tây cũng
đã dùng chữ cái Latinh để ghi chép Nhưng trong buổi đầu, chỉ là công việc của các
cá nhân và để tiện dùng riêng cho các cá nhân Nếu là người Ý thì phiên âm theotiếng Ý, là người Tây Ban Nha thì phiên âm theo tiếng Tây Ban Nha Có thể nói làchưa có một tôn chỉ chung, chưa theo một đường lối thống nhất với những quy luậtxác đáng” [56; 88]
Vì lí do đó, chúng tôi không xem các hình thức chữ viết phiên âm này là chữQuốc ngữ với tư cách là một hệ thống chữ viết của tiếng Việt Các hình thức phiên
âm ở đây chưa phản ánh đúng đặc tính của tiếng Việt và cũng chưa được tổ chứcchặt chẽ như đòi hỏi của một hệ thống chữ viết Chỉ có thể thừa nhận, đây là hìnhthức phôi thai của chữ Quốc ngữ mà thôi
Cần phải lưu ý thêm, đó là, các đơn vị chữ viết tiếng Việt ở giai đoạn này là
tổ hợp âm tiết mà các giáo sĩ xem là từ Đây cũng là ảnh hưởng của ngôn ngữ Ấn,
Âu, bởi vì, đơn vị cấu tạo chữ viết của các ngôn ngữ này là từ Tiếng Việt là loạihình ngôn ngữ đơn tiết, đơn vị hiển nhiên mà người bản ngữ có thể nhận biết là âmtiết nên việc xác định đúng ranh giới của từ là một việc làm tương đối khó khăn.Hơn nữa, việc xác định từ trong các văn bản này có tính chất tuỳ tiện không theomột nguyên tắc nào, nên dẫn đến những điều bất hợp lí
Ví dụ:
Trang 18Ondelimbay: 1 đơn vị từ
Scin mocaij: 2 đơn vị từ
Bên cạnh đó, các chữ cái được sử dụng để phiên âm chưa thống nhất.Nhược điểm này không chỉ gặp trong khi so sánh các văn bản khác nhau mà ngay
cả trong một văn bản, ví dụ như, để ghi âm /S/ của tiếng Việt, Borri đã dùng ba hình
thức khác nhau:
“S” trong từ “Sinnua” (xứ hoá)
“Sc” trong từ “Scin mocaij” (xin một cái)
“x” trong từ “xin”
Có thể hình dung các hiện tượng này theo sự phân tích sau:
Chữ “b” dùng để ghi âm /b/ và /v/ vốn là sự lẫn lộn trong cách phát âm của
nhiều địa phương, ví dụ: “Banco” (bàn cổ) và “bau” (vào), “bùa” (vua)
Các con chữ “ci”, “ch”, “chi” được dùng để ghi âm /c/ là một âm tắc, vô
thanh, mặt lưỡi Hình thức “ci” theo cách viết của tiếng Ý, hình thức “ch” theo cáchviết của tiếng Bồ, hình thức “chi” trong các từ “chiampn”, “chia” (chè), “chiu”
(chữ) cũng xuất phát từ hình thức “ch” trong cách viết của tiếng Bồ cộng thêm
một yếu tố i để thể hiện chính xác hơn cách phát âm một âm /c/ có tính ngạc hoá là /
Cj/ vốn tồn tại trong tiếng Việt cổ (mà hiện nay vẫn còn bảo lưu ở một số thổ ngữcủa vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ) [13; 11]
Theo cách ghi âm tiếng Việt ở giai đoạn này, các dấu nguyên âm chưa được
sử dụng đầy đủ Các nhà truyền giáo ở thời kỳ này, chưa phân biệt rạch ròi sự khácnhau giữa các nguyên âm trong tiếng Việt Đặc biệt là, các nguyên âm tròn môi, nênkhá nhiều trường hợp sử dụng các hình thức chữ viết không thống nhất Ví dụ, từ
“ông nghè” khi thì viết “onghe”, khi thì “ungue” Ngay cả trong cùng một văn bảncách viết cũng khác nhau: “Unsai” (ông sãi), “ungue” (ông nghè), “ontru” (ôngtrùm), “oundelim” (ông đề lĩnh) [11; 31]
Trang 19Các nguyên âm /a/, /ă/ hoàn toàn không được phân biệt về mặt chữ viết, vídụ: “Anam” (An nam), “Nuocman” (nước mặn), “an” (ăn), “ciam” (chẳng) Một sốhình thức ghi dấu âm phụ cũng rãi rác xuất hiện ở thời kỳ này, ví dụ: “laom” (lòng),
“Oundelim” (ông đề lĩnh)
Các phụ âm cuối là âm mũi của tiếng Việt cũng không được nhận diện chínhxác về vị trí cấu âm Thông thường, các nhà sáng tạo chữ Quốc ngữ ở giai đoạn này
sử dụng các con chữ “m” hoặc “n” để ghi các âm cuối là âm mũi này
Chữ “m” được dùng trong các trường hợp sau:
Ghi âm hai môi /m/ ví dụ: “cacciam”
Ghi âm mặt lưỡi // ví dụ: “Tumkim”
Ghi âm gốc lưỡi // ví dụ: “Quangmguya”
Chữ “n” được dùng trong những trường hợp sau:
Ghi âm đầu lưỡi /n/ ví dụ: “Annam”
Ghi âm hai môi /m/ ví dụ: “cacciam”
Ghi âm mặt lưỡi // ví dụ: “Tunbin” (Từ Bình)
Ghi âm gốc lưỡi // ví dụ: “Oundelim”
Ngoài ra, trong một số trường hợp, người ta còn dùng dấu tilde dặt trênnguyên âm để ghi các âm cuối là âm mũi, ví dụ: “Ontru” (ông trùm), “dĩgchàm”(đinh chàm)
1.3 Chữ Quốc ngữ thời kỳ hình thành
1.3.1 Chữ Quốc ngữ trong văn bản viết tay của Gaspar de Amaral 1632
“Chữ Quốc ngữ chuyển sang giai đoạn mới, thời kỳ hình thành từ sự xuấthiện văn bản viết tay của Gaspar de Amaral 1632”[11; 51]
Đây là một bản tường trình hàng năm, dài 97 trang, viết bằng tiếng Bồ ĐàoNha, tại Kẻ chợ (Thăng Long) gửi cho linh mục André Palmeiro, thuộc dòng Têngiám sát các tỉnh ở Nhật và Trung Hoa; viết về địa dư, chính trị Đàng Ngoài, ghi lại
Trang 20những đặc ân mà Chúa Trịnh Tráng ban cho các thương nhân Bồ Đào Nha và viết
về tình hình Giáo Đoàn các xứ
Các hình thức chữ Quốc Ngữ trong văn bản này như sau :
Tum Kim: Đông Kinh
Đàng tlão, đàng ngoày, đàng tlên: Đàng Trong, Đàng Ngoài, Đàng Trên
Cũ nghè: Ông Nghè
nhà thượng đày: Nhà Thượng Đài Cơ quan cấp cao ở Phủ liêu
nhà ti, nhà hién: Nhà Ti, Nhà Hiến
nhà phũ: Nhà Phủ (phủ đường)
ou Khỏu: Ông Khổng, Đức Khổng Tử
Đức Lao : Đức Long (niên hiệu)
Bua: Vua
đức vương: chỉ chúa Trịnh Tráng
chúa ou: Chúa Ông
chúa tũ, chúa dũ, chúa quành: Chúa Tung, Chúa Dũng, Chúa Quỳnh
thanh đô vương: Thanh đô vương
Chúa triết: chúa triết
Kechơ: kẻ chợ (Thăng Long)
yêu nhău: yêu nhau
oũ phò mã liêu: ông Phò mã Liêu
Trang 21tày: Tày (tên riêng)
tàm đàng : tam đàng
bên đou đa: bên Đống Đa
cô bêt: cô Bệt
tri yếu: (nhà thờ) Tri yếu
kẻ hằu: kẻ hầu
ăn dương huyen: An dương huyện
cõu thằn: Công Thành (tên riêng)
Chúa thanh đô: chúa Thanh đô
thic ca: Thich ca
phỗ lô xã: Phố Lô xã (địa danh)
sãy uãy: Sãi Vãi
huyen vịnh lay: Huyện Vịnh Lại (địa danh)thầi uăn chật: Thầy Văn Chật ( tên riêng)làng Ke tranh xuyen: làng Kẻ Tranh xuyên
kẻ trãng: Kể Trăng (địa danh)
sấm phúc xã: Sấm Phúc xã
phúc ăn xã: Phúc An xã
nghỹa ăn xã: Nghĩa An xã
huyen bạyc hặc: Huyện Bạch Hạc
sãy hoà: Sãi Hoà
Thài phù thũi: Thầy phù thuỷ
ou chưỡng tuyèn: Ông Chưởng Tuyền
ou jà nhạc: Ông già Nhạc
Trang 22đinh hàng: Đinh Hàng (tên riêng)
càu lền: cầu Yên (tại đây mới cất một nhà thờ Công giáo)hàng thuóc: hàng thuốc
ou đô đốc hạ: ông đô đốc Hạ
cu chưỡng hương: ông Chưỡng Hương
đức bạ xạ: Đức Bà Xạ
thài: thầy
kẻ báu: kẻ Báu (địa danh)
thuyền thủi: thuyền thuỷ
quãng liẹt xã: Quảng Liệt xã
giỗ: giỗ, Ngày giỗ
chai: chay
Trang 23chặp: chạp, tháng chạp
mă: ma
ou phù mã nham: Ông Phù Mã Nhâm
ou đô đốc hoà: Ông Đô đốc Hoà
xứ Thính hoá: xứ Thanh Hoá
cữa đáy: cửa đáy
Trang 24ou đô đốc đăng: Ông Đô đốc Đăng
kẻ lăm, huyen Tôu sơn: Kể Lâm huyện Tống sơn Nghê an: Nghệ An
đình: Đình, Đình làng
chùa: Chùa
sãy: Cãi, các vị Sư Sãi
bố Chính: Bố Chính
Thuăn hốe: Thuận Hoá
Kẽ quãng: kẻ Quảng, Xứ Quảng
đức ou tâi: Đức Ông Tây
rum: Rum
kẽ uĩnh: kẻ Vĩnh
Thính hoa: Thanh Hoá
Huyen nghi xuon: Huyện Nghi Xuân
Kẽ de: kẻ Dẻ
làng càu: làng Cầu
Trang 25nha nga: Nhà Ngà
vàng may: Vàng may (tên một nhà Thờ)
đấu xá: Đậu xá (địa danh)
đức bà sang phú: Đức Bà Sang Phú (thứ phi Trịnh Tráng)
Thanh đô vương: Thanh đô vương
Hién: Hiến, nhà hiến
bà bõ đau: bà bỏ đạo
bà đau: bà đạo
bà cóy: bà Cối (tên riêng)
phe: Phê (tên riêng)
Trang 26nhiên, điều đáng chú ý nhất là chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này đã có nhiều biếtđổi về hình thức khác trước.
Hai đặc điểm quan trong nhất, giúp cho hình thứ chữ viết tiếng Việt có thể rờikhỏi sự phụ thuộc của nó đối với các ngôn ngữ gốc để có thể khẳng định tính độclập của mình, đó là đặc điểm viết tách rời các âm tiết và việc sử dụng các dấu phụtrên nguyên âm cũng như các ký hiệu ghi thanh điệu
Đặc điểm thứ nhất làm cho chữ Quốc ngữ có thể đi gần với chữ Nôm, trên cơ
sở sự phân tích ra nhiều âm tiết Một đơn vị chữ viết Quốc ngữ sẽ có tương ứng vớimột đơn vị chữ Nôm, điều này giúp cho người Việt vốn quen tiếp xúc với chữ Hán
và chữ Nôm có thể tiếp xúc với chữ Quốc ngữ dễ dàng hơn
Đặc điểm thứ hai làm cho chữ Quốc ngữ có thể phản ánh đúng và đầy đủ hệthống âm vị, đặc biệt là nguyên âm và thanh điệu
Những sự thay đổi này cho thấy, các nhà sáng tạo chữ Quốc ngữ lúc đó đãnắm bắt đúng đặc điểm của tiếng Việt, đó là tính đơn lập, mà đơn vị cơ bản là âmtiết, chứ không phải là từ như ngôn ngữ Ấn, Âu Ngoài ra, các dấu phụ trên nguyên
âm, các dấu hiệu ghi thanh điệu đã làm cho hệ thống chữ Quốc ngữ được định hình.Hai đặc điểm này vẫn được bảo lưu đầy đủ trong hệ thống chữ viết tiếng Việt hiệnđại
1.3.2 Ch ữ Quốc ngữ trong các tài liệu của Alexandre de Rhedos viết
từ năm 1636 đến năm 1647
Tài liệu viết năm 1636 là bản thảo cuốn “TUNCHINENSISHISTORIAE LIBRIDUO” viết bằng tiếng La tinh sau đó được xuất bản bằng tiếng Ý năm 1650, tiếng Pháp năm 1651 và tiếng La tinh năm 1652
Chữ Quốc ngữ trong văn bản này được miêu tả
Tung: Đông
Kin: Kinh
Annam: An nam
Trang 27Ainam: Hai Nam
Chúacanh: cái nhà mạc ở cao Bằng Che ce: Kẻ Chợ (kinh đô Thăng Long) Chúa bàng: Chúa bàng
Chúa thanh do: Chúa thanh do
Uan: văn
Min: Minh, sáng sủa, rõ ràng
bat min: bất minh
Cai phu: Cai Phủ
Cai huyen: Cai huyuện
Cai xã: Cai xã
Bua: Vua
den: Đền (thi đình)
sin do: Sính Đồ
huan com: Hương cốm
Ten si: Tiến sĩ
Tam iau: Tam giáo
Dau nhu: Đạo Nhu (đạo Nho)
Dau thic: Đạo Thích
Trang 28ciúa ou: Chúa Ông
ciúa bang Uuan: Chúa bằng vương ciúa sai: chúa Sãi
thinh hoa: Thanh Hoá
Trang 29Qui nhin: Qui Nhơn
Nam binh: Nam Bình
Bao bom: Bầu Vom (Quảng Nghãi)
Quan nghia: Quảng Nghĩa
Nuoc man: Nước mặn
Bau beo: bầu bèo
Quanghia: Quảng Nghĩa
Bochinh: Bố Chính
ou nghe bo: Ông nghè bô
Trên cơ sở sự đối chiếu, so sánh cho thấy các hình thức chữ Quốc ngữ tronghai tài liệu trên tuy có điểm khác nhau, nhưng trên đại thể thống nhất theo một xuhướng chung Đây vẫn là cách phiên âm tiếng Việt vốn đã tồn tại trước khi có tài
Trang 30liệu của Gaspar de Amaral Xu hướng cấu tạo đơn vị chữ viết ở giai đoạn này là âmtiết, thế nhưng, trong tài liệu vẫn bảo lưu một tổ hợp âm tiết như: “Annam”,
“chuacanh”, “Quanghia”, “Baubom” Trong hai văn bản này có kí hiệu ghi thanh
điệu, nhưng việc sử dụng các dấu thanh chưa nhiều và còn mang tính chất tuỳ tiện.Nói đúng hơn, ở giai đoạn này, Alexandre de Rheos chưa có thói quen sử dụng dấuthanh và các dấu phụ trên nguyên âm chưa được sử dụng nhiều Thực ra, cũng như
ở giai đoạn trước, việc nhận diện đúng nguyên âm tiếng Việt vẫn là điều khó khănđối với các giáo sĩ
Xu hướng vay mượn chữ cái để cấu tạo chữ viết, chịu ảnh hưởng của tiếng Ýnhiều hơn tiếng Bồ, như vẫn dùng chữ “gn”, “ci” để ghi các âm mặt lưỡi // và /c/ ví
dụ: “ciúa” (chúa), “gna” (nhà); dùng chữ cái “ch” để ghi âm gốc lưỡi /k/ ví dụ :
“chece” (kẻ chợ); hình thức “gh” được dùng để ghi phụ âm mũi gốc lưỡi //, ví dụ:
“on ghe bo” (ông nghè bộ), “Quanghia” (Quảng Nghĩa).Có lẽ đây là hệ quả của việc
phân chia tổ hợp âm tiết trong hình thức chữ viết trước đây thành âm tiết riêng lẽtheo xu hướng cách viết lúc đó Ngoài ra, cũng có trường hợp dùng “ngh” để ghi âm//, ví dụ; “ou” “nghe” “bo” (ông nghè bộ) Mặc dù, đã có 4 hình thức “m”, “n”,
“nh”, “ng” khác nhau để ghi các phụ âm cuối tương ứng /m/, /n/, //, // nhưng haihình thức “m”, “n” vẫn còn được dùng để thay thế cho các hình thức khác như trướcđây vẫn gặp, ví dụ: “sindo” (sinh đồ), “dum” (đồng), “huancom” (hương cốm) Chữcái “d” vẫn được dùng để ghi âm như trước đây, ví dụ: “dau nhu” (đạo nho),
“sindo” (sinh đồ), “bênđá” (bến đá)
1.3.3 Chữ Quốc ngữ trong hai “ biên bản các cuộc họp về mô thức rửa tội” được các nhà truyền giáo châu Âu thực hiện vào những năm 1645 - 1648
Đây là tài liệu được các nhà truyền giáo người châu Âu thực hiện vào nhữngnăm 1645 – 1648, đã xuất hiện một số hình thức chữ Quốc ngữ, cụ thể như sau:
ba ba
bãy bãy
Trang 31bàng bàng blai trai blờy blời ậy vậy con con căt cắt
cuôn quân cuốc quốc
Trang 32phảy phải
ruột ruột ràng rằng
Trang 33trong tiếng Việt là “tl” (tlom), “bl” (blời).
1.4 Tiểu kết
Như vậy, giai đoạn phôi thai của chữ Quốc ngữ, có hai khuynh hướng cấu tạochữ viết khác nhau, cùng tồn tại song song Khuynh hướng thứ nhất, chịu ảnhhưởng lớn của tiếng Latinh như, hình thức chữ Quốc ngữ trong các tài liệu củaCristoforo Borri, Gaspar Luis và Alexander de Rhodes Khuynh hướng thứ haingoài ảnh hưởng của tiếng Latinh còn chịu ảnh hưởng của tiếng Bồ đào Nha, màtiêu biểu là tài liệu của Gaspar de Amaral và các biên bản cuộc họp về mô thức rửatội năm 1645 và năm 1648
Hai khuynh hướng này vẫn song song tồn tại và phát triển Càng về sau khuynh hướng thứ hai có vẻ được sử dụng phổ biến hơn và chính nó là cơ sở cho sự
ra đời của cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La”, năm 1651
Trang 34Chương 2 HÌNH THỨC CHỮ QUỐC NGỮ TỪ NĂM 1651 ĐẾN 1659
2.1 Hình thức chữ Quốc ngữ trong “Từ điển Việt - Bồ - La”, năm 1651 2.1.1 Khái quát về nội dung cuốn “ Từ điển Việt - Bồ - La”
Sự xuất hiện của cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La”, năm 1651 của Alexandre deRhodes, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành của chữ Quốc ngữ,chữ Quốc ngữ về cơ bản đã có một hệ thống ghi âm tiếng Việt
Trước khi cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La” ra đời, đã có hai cuốn “Từ điển Việt
- Bồ” của Gaspar de Amaral và “Từ điển Bồ - Việt” của Antonoi Barbosa Tuynhiên, hai cuốn này chỉ được biết đến qua lời giới thiệu của Alexandre de Rhodes,trong “Từ điển Việt -Bồ - La” Alexandre de Rhodes thì đã sử dụng hai cuốn từđiển này vào việc biên soạn cuốn từ điển của mình “Tôi đã sử dụng những công
Trang 35trình của nhiều cha khác cùng một Hội Dòng nhất là của cha Gaspar de Amaral vàcha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển, ôngtrước bắt đầu bằng tiếng Annam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào, nhưng cả hai ông đều
đã chết sớm” [1; 3] Các cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La” và “Phép giảng tám ngày” lànhững tài liệu về chữ Quốc ngữ đầu tiên được xuất bản, tại Rôma, năm 1651
Cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La” gồm có ba phần chính
Phần 1: Báo cáo tóm tắt về tiếng Annam hay Đông kinh, 31 trang được sắpxếp lên đầu cuốn từ điển và được đánh số trang tách biệt với cuốn từ điển Đây
là cuốn ngữ pháp tiếng Việt được soạn bằng tiếng Latinh với mục đích cho ngườiphương Tây học tiếng Việt
Phần II: Từ điển Annam - Lvsitan - Latinh, phần này gồm 900 cột ghi 22mẫu tự Từ mẫu tự này đến mẫu tự khác thường cách nhau những trang giấytrắng Trong đó, ngoài những mẫu tự như hiện nay còn xuất hiện thêm mẫu tự //đặt sau “b” Hai mẫu tự “v” và “u” được xếp chung vào một mục
Phần III: Từ Latinh đã được nhắc đến gồm 175 trang (trong tác phẩm khôngđánh số trang) Phần này nhằm mục đích giúp người đọc biết tiếng Latinh có cơ
sở để tra tìm tiếng Việt tương ứng
Về các hình thức chữ Quốc ngữ trong “Từ điểnViệt - Bồ - La” sẽ được khảosát qua các phần sau:
2.1.2 Về phụ âm đầu
So với tiếng Việt hiện đại, hệ thống chữ viết ghi phụ âm đầu trong “Từ điểnViệt - Bồ - La” phức tạp hơn Sự phức tạp này được thể hiện chủ yếu ở hình thứcphụ âm kép và một số hình thức ghi các âm đặc biệt đã được sử dụng trong thế kỷnày Các hình thức chữ viết được vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau và cách thứcvay mượn cũng khác nhau Đa số, các trường hợp vay mượn đều dựa trên tươngứng hoàn toàn hoặc bộ phận về cách phát âm từ một ngôn ngữ gốc Ngoài ra, cũng
có trường hợp chỉ vay mượn chữ cái hoặc kí hiệu để ghi một số âm đặc biệt tồn tạitrong tiếng Việt khá xa lạ với các ngôn ngữ Ấn, Âu Có thể, tập hợp các hình thức
Trang 36chữ viết ghi phụ âm đầu tiếng Việt trong “Từ điển Việt - Bồ - La” theo bảng thống
kê sau:
Bảng 2.1: Bảng thống kê các hình thức chữ viết ghi phụ âm đầu tiếng Việt
trong “Từ điển Việt - Bồ - La”
Trang 37Các trường hợp 1, 2, 4, 13, 16, 17, 18, 25, 27, 29, 31 xác định theoHaudricourt nguồn gốc các đặc điểm của bộ chữ cái Việt Nam.
Trong 31 hình thức chữ viết ghi phụ âm đầu tiếng Việt trong “Từ điển Việt
-Bồ - La”, có 27 hình thức đã xuất hiện trong tài liệu viết tay của Gaspa de Amaral
(chỉ có 4 hình thức sau đây chưa gặp trong các tài liệu trước đây: “bl” ghi âm /bl/;
“g”, “gh” ghi âm /gh/ và “ml” ghi âm /ml/
Trang 38Các chữ “q”, “k”, “c” đều được sử dụng để ghi âm /k/ Theo lời giải thích củatác giả “chúng tôi dùng c ở đầu tiếng chỉ với các nguyên âm a, ơ, ư và u, với e và ithì chúng tôi dùng chữ k hoặc chữ s ”[1; 6].
“Q được thông dụng giống như trong tiếng Latinh cùng với u, âm lỏng thí dụqua” [1;9]
Điều kiện phân bố này, chúng ta đã bắt gặp trong thực tế sử dụng hình thứcchữ Quốc ngữ ở tài liệu Gaspar de Amaral
Theo thống kê cho thấy, có một số trường hợp quy luật phân bố trên khôngđược tôn trọng, ví dụ:
“Từ điển Việt - Bồ - La”
coencoâncuienquoro
Cách viết thông dụng theo quy luật
quenquânquyểncoroCác con chữ “v” và “u” dùng để ghi âm /v/ và /u/ không được Alexandre deRhodes phân biệt ranh giới trong “Từ điển Việt - Bồ - La” Chẳng hạn, trong
phần “Báo cáo vắt tắt về tiếng Annam hay Đông kinh” tác giả chỉ viết về “u thông
dụng vừa như là nguyên âm vừa như là phụ âm” [1; 9] Nhưng ở phần phụ lục tácgiả lại viết: “mặc dầu, trong phần dẫn nhập để tránh gia tăng dấu hiệu hay các dấutôi đã lưu ý là tôi không muốn dùng hai dấu chấm chỉ nghĩa sự chia cắt âm tiết(phân biệt sự khác nhau giữa vần ai hay ay), tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy rằngtrên chữ “v”, nhất là khi chữ này, đặt ở đầu từ và là âm lỏng, tức là khi nó là nguyên
âm thì không có dấu nào thích hợp hơn dấu hai chấm (ii), ví dụ, ui (đuôi ngựa) phânbiệt với ủi (ui: an ủi)” [1; 684] Mặc dù vậy, trong “Từ điển Việt - Bồ - La” vẫn còntrường hợp dùng “ii” để ghi âm /v/, ví dụ: uiêi (vậy) Có lẽ, lý giải như Haudricourt
là hợp lí “trong tiếng Latinh người ta không phân biệt v và u, sự lẫn lộn trong chữviết còn mãi đến thế kỷ XVII” [20; 66]
Trang 39Các chữ “d”, “đ” dùng để ghi hai âm đầu, đều có cách phát âm có điểm tươngđồng và khác biệt đối với một âm được ghi chữ “d” trong tiếng Latinh Đối với âmđược ghi bằng chữ “d” được mô tả: “một chữ khác được ghi bằng dấu hiệu này thìhoàn toàn khác chữ của chúng ta và khi phát âm thì phải nâng chóp lưỡi ra tức thì
mà không được chạm răng bằng bất cứ giá nào, ví dụ đađa” [1; 6]
Theo cách mô tả trên, có thể nhận ra rằng, âm được viết bằng chữ “d” là một
âm đầu lưỡi ngạc được ký âm là /dj / mà hiện nay vẫn còn tồn tại ở một số thổ ngữtrong phương ngữ Bắc Trung bộ
Chữ “đ” là một hình thức chữ viết đặc biệt vốn không có ở Châu Âu Hìnhthức này được vay mượn từ chữ “d” Latinh với một dấu phụ mà các nhà truyềngiáo gọi một cách đơn giản là “d” cắt Đúng về mặt cấu âm mà xét, “đ” là một âm
“d” có tính yết hầu hoá Thực ra, sự phân biệt “d” và “đ” chỉ bắt đầu xuất hiện trongtài liệu của G.de Amaral Trước Amaral, các nhà sáng tạo chữ Quốc ngữ thườngdùng chữ “d” Latinh để ghi cả hai âm /d/, /đ/ nói trên
Các chữ cái “gi”,”g” được dùng để ghi âm /dz/ đó là một âm tắc xát đầu lưỡi,được A.de Rhodes đã đề cập đến như sau:“ cũng thế cả những tiếng gia, gio, giu,giơ, đều được phát âm theo lối ý vì như vậy xem ra tiện lợi hơn cũng vậy chúngtôi viết ge, gi bằng chữ g chứ không viết bằng phụ âm (J) sợ sinh ra sự lẫn lộn nàochăng” [1; 677]
Đối với âm này, trong “Từ điển Việt - Bồ - La” có hai cách thể hiện Dùngcon chữ “gi” khi nó là các nguyên âm dòng giữa và dòng sau tròn môi Ví dụ: “giađình”, “giặc giã” Chữ cái “g” khi nó là các nguyên âm dòng trước, ví dụ: “gì”.,
“gé”, “geo”, “gep” (gì, gou, gié, dep) Như vậy, cách ghi “gì” như hiện nay là bảolưu cách ghi ở thế kỷ XVII, trong khi các hình thức khác đã thay đổi, ví dụ như:(geo-gieo, gé-gie, gếy-giấy) Tác giả còn dùng con chữ “j” để ghi âm /dz/ như đãnói trên, ví dụ: “jà” (già), “jũ” (giũ)
Chữ cái “” dùng để ghi cách phát âm đặc biệt ở thế kỷ XVII Trong “Từđiển Việt - Bồ - La”, chữ cái “” được sử dụng như một mẫu tự riêng đặt sau mẫu tự
Trang 40“b” gồm 95 mục từ Đa số các từ có phụ âm ghi bằng “” khác với các từ có phụ âmđầu ghi bằng “v”, ví dụ:
“ruầi âu” và “ruồi bâu”
Thực ra, trong thời kì này, các âm /j/, /v/ và /b/ đã có những tương quan kháphức tạp Một số địa phương có sự lẫn lộn giữa /b/, /v/ và /j/ và thực tế này đã đượcphản ánh trong “Từ điển Việt - Bồ - La”
Các tổ hợp “bl”, “tl”, “tr”, được sử dụng để ghi ba cách phát âm phân biệt củatiếng Việt ở thế kỷ XVII trở về trước, chủ yếu là cách phát âm địa phương Các hìnhthức “bl”, “tl” được dùng để ghi các phụ âm kép /bl/, /tl/ vốn tồn tại trong tiếng Việt
cổ Trong khi “tr” được sử dụng để ghi một phụ âm đơn đó là /t/ quặt lưỡi kí âm là /
/ hay /t/
Theo cách viết của A de Rhodes, các hình thức này không còn hoàn toànphân biệt mà thực tế chúng đã xâm nhập vào nhau Theo sự thống kê của chúng tôi,các đơn vị có phụ âm đầu ghi bằng con chữ “tr” phần lớn là các âm tiết Hán Việttrong khi đó các phụ âm kép “bl”, “tl” thường dùng trong các từ thuần Việt, trừ một
số trường hợp sau có hai cách ghi:
trá - blá (dối trá)
tràng - blàng (hột)