Phan Mạnh Hùng, trong bài viết Kiều Thanh Quế nhà nghiên cứu phê bình văn học đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3/2007, đánh giá: “Ông là một trong số ít các cây bút nghiên cứu, p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HUẾ
SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC
CỦA KIỀU THANH QUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2012
Trang 2MỤC LỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HUẾ
SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC
CỦA KIỀU THANH QUẾ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN DƯƠNG
NGHỆ AN - 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Kiều Thanh Quế có một sự nghiệp văn học đa dạng, phong phú
Ở tư cách là một người sáng tác, ông là tác giả của một số tiểu thuyết,truyện ngắn Nhưng trên hết, Kiều Thanh Quế là nhà nghiên cứu, phê bìnhvăn học xuất sắc ở Nam Bộ trước 1945 Tuy nhiên, khi nhắc đến thành tựu
lí luận phê bình văn học Việt Nam hiện đại, tên tuổi tác giả này thường lépsau các tên tuổi khác, hoặc ít được nhắc đến
1.2 Hiện nay, các công trình nghiên cứu, phê bình văn học của KiềuThanh Quế đã và đang được sưu tầm, giới thiệu nhằm tìm hiểu sự nghiệpcủa ông trọn vẹn, đầy đủ hơn
1.3 Tìm hiểu sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học của Kiều ThanhQuế là dịp để nhìn rõ và kỹ đóng góp của ông đối với đời sống văn họcViệt Nam hiện đại
Trên đây là những lý do giải thích tại sao chúng tôi tìm hiểu đề tài này
2 Lịch sử vấn đề
Bằng Giang, trong cuốn Mảnh vụn văn học sử, Nxb Chân Lưu, Sài Gòn,
1974, cho rằng: “Trong lịch sử văn học Việt Nam, chắc không thiếu nhữngtrường hợp hoặc một bút hiệu nào đó rất quen thuộc từ trước “những ngàybinh lửa cháy quê hương” lại biến mất như Kiều Thanh Quế” [17, 178] BằngGiang muốn lưu ý rằng, vì nhiều lý do khác nhau, nhà phê bình này trong mộtthời gian dài không được nhắc tới
Hoài Anh, trong bài viết Kiều Thanh Quế - nhà nghiên cứu phê bình
hiếm có của Nam Bộ, in trong sách Chân dung văn học, Nxb Hội Nhà văn
Hà Nội, 2001, khẳng định: “Kiều Thanh Quế là nhà nghiên cứu - phê bìnhvăn học hiếm có của Nam Bộ” [1, 939]
Trang 5Nguyễn Huệ Chi, trong cuốn Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới,
2004, đánh giá: “Kiều Thanh Quế là cây bút phê bình cấp tiến, đã ghi đượcdấu mốc đáng kể vào bước đi lên của bộ môn phê bình văn học non trẻ ởViệt Nam trước 1945” [7, 749]
Tương tự ý kiến của Hoài Anh, Đoàn Lê Giang, trong bài Văn học
Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 - thành tựu và triển vọng nghiên cứu đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7/2006, nhận định:
“Kiều Thanh Quế có thể coi như nhà phê bình văn học chuyên nghiệp duy
nhất của văn học Nam Bộ” [2, 12] Cũng Đoàn Lê Giang, trong bài Văn
học Nam Bộ 1932 - 1945 (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12/2011), tái
khẳng định: “Kiều Thanh Quế là nhà phê bình viết khoẻ nhất, chuyênnghiệp nhất ở Nam Bộ, chưa có ai trong văn học Nam Bộ thời kì ấy viếtnhiều với một diện quan tâm rộng như ông” [18, 29 - 30]
Phan Mạnh Hùng, trong bài viết Kiều Thanh Quế nhà nghiên cứu phê
bình văn học đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3/2007, đánh giá:
“Ông là một trong số ít các cây bút nghiên cứu, phê bình của Nam Bộ cócông đối với sự phát triển của phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
và đến nay vẫn cần được khám phá thêm” [24, 62]
Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng, trong bài giới thiệu đầu sách
Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (Nxb, Thanh niên, Hµ Néi, 2009), cho
rằng: “Kiều Thanh Quế là một nhà yêu nước, một cán bộ cách mạng chânchính nhưng trước hết ông là một nhà văn, một cây bút phê bình xuất sắccủa Nam Bộ và của cả nước giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX” [45, 6]
Đoàn Ánh Dương, trong bài Kiều Thanh Quế và cuộc tiến hoá của phê
bình văn học (Báo Văn nghệ, số 46/2011), nhận định: “Kiều Thanh Quế
(1914 - 1947) là một trong những cây bút phê bình hàng đầu của văn họcQuốc ngữ Nam Bộ, cũng là một tiếng nói khá độc đáo trong giới phê bìnhvăn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945” [11, 18]
Trang 6Như vậy, trong thời gian gần đõy sự nghiệp nghiờn cứu phờ bỡnhvăn học của Kiều Thanh Quế đó được quan tõm tỡm hiểu, nghiờn cứu.Nhưng phần lớn đú chỉ là những bài nhỏ, thường đi vào khỏi quỏt một
số đặc điểm về con người và sự nghiệp sỏng tỏc mà hiếm những cụngtrỡnh nào nghiờn cứu sự nghiệp nghiờn cứu, phờ bỡnh của Kiều ThanhQuế một cỏch cú hệ thống Nhưng chớnh những bài viết ấy lại là nhữnggợi ý bổ ớch đối với chỳng tụi trong việc nghiờn cứu đề tài
3 Đối tượng nghiờn cứu, phạm vi tư liệu khảo sỏt
Lấy sự nghiệp nghiờn cứu, phờ bỡnh văn học của Kiều Thanh Quế làm
đối tợng nghiên cứu, luận văn tập trung khảo sỏt:
3.1 Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu, phờ bỡnh văn học của Kiều Thanh Quế
trước 1945 được tập hợp và in chung trong cuốn sỏch nhan đề Cuộc tiến
hoỏ văn học Việt Nam, Nxb Thanh niờn, 2009.
3.2 Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu, phờ bỡnh văn học của cỏc nhà nghiờncứu, phờ bỡnh khỏc cựng thời với ụng để so sỏnh, đối chiếu
4 Nhiệm vụ nghiờn cứu
Luận văn nhằm tỡm hiểu:
- Vị trớ của Kiều Thanh Quế trong bối cảnh nghiờn cứu, phờ bỡnh vănhọc Việt Nam núi chung, văn học Nam Bộ núi riờng nửa đầu thế kỷ XX
- Đúng gúp của Kiều Thanh Quế trong việc nghiờn cứu, phờ bỡnh cỏchiện tượng văn học dõn tộc
- Đúng gúp của Kiều Thanh Quế trong việc tiếp nhận, giới thiệu cỏcgiỏ trị văn học thế giới vào Việt Nam
5 Phương phỏp nghiờn cứu
Luận văn sử dụng những phương phỏp nghiờn cứu chủ yếu sau:
- Phương phỏp thống kờ, miờu tả
- Phương phỏp đối chiếu, so sỏnh
- Phương phỏp phõn tớch, tổng hợp
Trang 76 Cấu trúc luận văn
Tương ứng với nhiệm vụ đặt ra, ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu
tham khảo, luận văn được triển khai qua ba chương:
Chương 1 Kiều Thanh Quế trong bối cảnh nghiên cứu phê bình văn
học Việt Nam nói chung, văn học Nam Bộ nói riêng nửa đầu thế kỷ XX
Chương 2 Kiều Thanh Quế với văn học dân tộc
Chương 3 Kiều Thanh Quế với các giá trị văn học thế giới
Trang 8Chương 1 KIỀU THANH QUẾ TRONG BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM NÓI CHUNG, VĂN HỌC NAM BỘ NÓI RIÊNG
Có được bước ngoặt kỳ diệu đó trước hết là nhờ sức sống tinh thần bền bỉ,mãnh liệt của dân tộc, được tiếp sức bởi các phong trào đấu tranh yêu nước
và cách mạng suốt gần nửa thế kỉ, đặc biệt từ sau 1930 với sự ra đời củaĐảng Cộng sản Sự phát triển của văn học thời kỳ này còn do sự thức tỉnh,trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân sau hàng trăm năm bị xã hội kìm hãm.Chính cái tôi cá nhân này là một trong những động lực tạo nên những thànhtựu rực rỡ của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hóa
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm
1945 có vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc.Một mặt, nó kế thừa tinh hoa truyền thống văn học dân tộc trong suốt 10thế kỉ, mặt khác, mở ra một thời kì văn học mới - thời kì văn học hiện đại,
có khả năng hội nhập với nền văn học chung của thế giới
Thể loại lý luận nghiên cứu, phê bình văn học xuất hiện ở Việt Namkhá sớm Bởi công việc phân tích, lý giải, bình luận, ghi chép, biên soạn,các tác phẩm, tác giả đã được ông cha ta tiến hành ít nhất từ thế kỉ XIV -
XV qua những bài tựa, bạt, bình, trao đổi đều mang nội dung nhận định,
Trang 9tổng kết trên cơ sở phân tích, đánh giá, gởi mở định hướng nhằm mục
đích khẳng định thêm giá trị tác phẩm Dương Quảng Hàm, trong Việt Nam
văn học sử yếu, quan niệm thể văn phê bình như sau: “Thể văn phê bình là
thể văn ta mới mượn của Pháp văn Không phải xưa kia các cụ không phêbình, nhưng các lời phán đoán khen chê của các cụ chỉ xen vào trong mộtbài văn hoặc một cuốn sách chứ chưa hề biệt lập thành một văn thể riêng.Mãi đến gần đây các văn gia mới phỏng theo thể phê bình của người Pháp
mà viết tác phẩm thuộc thể ấy” [20, 289]
Đầu thế kỷ XX những biến đổi xã hội ở các mặt kinh tế, văn hóa, khoa
học kỹ thuật đưa đến những biến đổi về thế giới quan, nhân sinh quan Vănhóa dân tộc tiếp bước hòa nhịp với văn hóa khu vực, hội nhập khu vực vàthế giới, chịu ảnh hưởng của ý thức hệ hiện đại: Tư sản và vô sản Bêncạnh, những thể lọai truyền thống có những thể loại mới hình thành trong
đó có nghiên cứu, phê bình văn học Theo Mã Giang Lân, lý luận nghiêncứu, phê bình văn học Việt Nam thực sự có dấu hiệu hiện đại vào đầu thế
kỷ XX: “Tăng cường tư duy phân tích lý luận sử dụng một số khái niệmmang tính công cụ để tiếp cận đối tượng, văn học được coi như một đốitượng khoa học được nhìn nhận đánh giá dưới nhiều góc độ” [26, 345].Những năm đầu thế kỷ, do tồn dư của nền văn học trung đại hay nói đúng
hơn chúng ta vừa phát huy vừa kế tục truyền thống dân tộc, khuynh hướng
phê bình truyền thống của phần đông các nhà Nho đầu thế kỷ còn chịu ảnh
hưởng quan niệm văn học phong kiến Hoạt động nghiên cứu, phê bình củathời điểm này chủ yếu bám sát vào các tác phẩm cụ thể để nhận xét một vài
phương diện nghệ thuật Với các bài phê bình của Phan Khôi trong Nam
âm thi thoại, Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo, Lê Thước trong Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ.
Tờ Đông Dương tạp chí (1913) ra đời đã hưởng ứng cuộc vận động
truyền bá chữ Quốc ngữ: “Cổ vũ dân tộc An Nam ai cũng dùng chữ Quốc
Trang 10ngữ mà thế vào cái lối khó khăn, học suốt đời mà chẳng ai biết được lấycách dùng chữ mà thôi, chứ đừng nói học nữa Đó là việc tối yếu của bản
báo” Mục Bình phẩm sách mới do các nhà Nho thực hiện như Nguyễn Đỗ
Mục, Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính một mặt, giới thiệu và bình phẩmcác tác phẩm văn học cổ Việt Nam, mặt khác phiên dịch và giới thiệu cáctác phẩm văn học Pháp
Bốn năm sau, tờ Nam phong tạp chí (1917) xuất hiện Đây là tạp chí
có tính chất bách khoa, chủ xướng cho đăng các công trình dịch thuật, khảocứu về khoa học và là cuốn tạp chí bổ ích cho nhiều trí thức Nho học và
Tây học lúc bấy giờ Mục Văn bình luận trên tạp chí đã thu hút sự quan tâm của độc giả Phạm Quỳnh là người có nhiều bài viết phê bình trên Nam
phong tạp chí tuyên bố mình là người thực hành phương pháp nghiên cứu
phê bình của phương Tây mà cụ thể là của Pháp
Phan Khôi cũng là một học giả được đánh giá tích cực trong làng phêbình những năm đầu thế kỷ XX Ông chủ yếu quan tâm tới các danh nhântrong nền văn học truyền thống như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Trần
Tế Xương
Có thể nói rằng, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học thời kỳ đầu củathế kỷ XX vừa tiếp nối truyền thống nghiên cứu, phê bình trung đại đồng
thời đi tiên phong cho nền phê bình mới khi khuynh hướng nghiên cứu phê
bình mới ra đời Các nhà nghiên cứu, phê bình đã tiếp thu được những tinh
hoa của nền văn học phương Tây mà cụ thể là nền văn học Pháp Ví dụ,những bài nghiên cứu, phê bình về một số tác phẩm văn học Pháp của
Phạm Quỳnh trên Nam phong tạp chí từ 1917 như Chúa bể (1917), Cái
nghĩa chết (1917), Phục thù cho cha (1918)… và những bài phê bình về Truyện Kiều trên Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh, Vũ Đình Long,
Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Triệu Luật từ những năm 1919 trở đi…
Trang 11Nghiên cứu, phê bình mới tuy ra đời muộn, nhưng đã tỏ rõ tinh thầnđổi mới về quan niệm văn học Sang đầu những năm ba mươi, càng về giai
đoạn sau có nhiều cây bút tham gia sôi nổi Khuynh hướng nghiên cứu, phê
bình mới làm thay đổi diện mạo của phê bình văn học những năm ba mươi
của thế kỷ XX Do tiếp thu nền văn học phương Tây, nhiều nhà phê bìnhtìm cho mình hướng đi mang tính khách quan, khoa học không còn yếu tốchủ quan như lối phê bình trước nữa Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu,phê bình đã thực nghiệm trên các công trình nghiên cứu, phê bình của
mình Trương Tửu nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều cho chúng ta một phương pháp phê bình khách quan khoa học, Vũ Ngọc Phan với công trình Nhà văn hiện đại phê bình văn học theo phương pháp khoa học
Tính ưu việt của nghiên cứu, phê bình hiện đại này là phương pháp phântích, nghiên cứu, phê bình linh hoạt và có hệ thống hơn Như vậy, với việctiếp thu học tập phương Tây, các nhà nghiên cứu, phê bình không thụ độngmáy móc, vừa tiếp thu vừa có tinh thần đổi mới phù hợp với hoàn cảnh vàtrình độ tri thức của độc giả
Nửa đầu thế kỷ XX, phê bình văn học đã có những bước tiến nhanhchóng và sôi động tạo nên môi trường, không khí tranh luận học thuật rộngrãi và có nhiều thành tựu lớn: Hiện đại hoá bản thân thể loại và góp phầnhiện đại hoá các thể loại khác như thơ, tiểu thuyết, kịch… Phê bình văn họcđược chuyên sâu hơn, hiện đại hơn từ quan niệm đến thao tác tiếp cận đốitượng Đặc biệt từ năm 1932, văn học Việt Nam phát triển rực rỡ nổi lênvới phong trào Thơ mới hòa chung nền văn học thế giới Nghiên cứu, phêbình văn học phát triển một cách mạnh mẽ thành một bộ môn khoa học độclập Nó đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học Chưa bao giờhoạt động nghiên cứu, phê bình sôi động như những năm này với những
công trình nghiên cứu, phê bình: Quốc văn cụ thể (1932) của Bùi Kỷ, Phê
bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Duy tâm và duy vật (1935) của
Trang 12Hải Triều, Chương Dân thi thoại (1936) của Phan Khôi, Hàn Mạc Tử (1941) của Trần Thanh Mại, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh
& Hoài Chân, Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) của Trương Tửu, Nhà
văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử yếu (1943)
của Dương Quảng Hàm, Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943) của Đào Duy Anh, Văn học khái luận (1944) của Đặng Thai Mai Phù hợp với tiến
trình phát triển xã hội nói chung và nền văn học Việt Nam nói riêng, càng
về sau càng xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu, phê bình hoạt động một cách
có quy mô và sôi nổi hơn Từ đó, khuynh hướng phê bình văn học nổi lênmấy điểm đáng chú ý: Mang đậm dấu ấn chủ quan, tìm cái đẹp và biểudương cái đẹp của tác phẩm Lối phê bình này có mầm mống từ những bàibình thơ văn quen thuộc ở Việt Nam và phương Đông, đến đây có thêmphương pháp phê bình ấn tượng của phương Tây du nhập vào tạo nên sứchấp dẫn và tính thuyết phục cao Với những kinh nghiệm, vốn sống, tri thức
và những quan niệm nhân sinh, xuất hiện nhiều cây bút nghiên cứu, phêbình chuyên nghiệp như Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Đinh GiaTrinh, Trương Tửu Bên cạnh các nhà phê bình chuyên nghiệp còn phải kểđến các nhà văn, nhà thơ tham gia phê bình văn học như Xuân Diệu, LưuTrọng Lư, Thạch Lam, Nguyễn Tuân…
Vậy, so với thời trung đại, bước sang thiên niên kỷ mới, nghiên cứu,phê bình văn học hiện đại Việt Nam phát triển mạnh cả về số lượng lẫnchất lượng Chính khuynh hướng nghiên cứu, phê bình hiện đại góp phầnlàm cho không khí hoạt động văn học thay đổi Theo Mã Giang Lân:
“Dương Quảng Hàm, người có công đầu trong việc biên soạn lịch sử vănhọc Việt Nam theo thi pháp học với cái nghĩa của khái niệm thuật ngữ này
Việt Nam văn học sử yếu (1943) được phác thảo từ những năm 20 tên sách Quốc văn trích diễm (1925) Tác giả dành nhiều thời gian công sức, cẩn
trọng giám định, hiệu đính, chọn lọc và sắp xếp tư liệu xung quanh các vấn
Trang 13đề tác giả tác phẩm theo nguyên tắc “lấy sự thực làm trọng” Với Việt Nam
văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã xử lý một cách khoa học, một khối
lượng lớn tư liệu thể hiện khả năng khái quát và sự hiểu biết sâu sắc vănhọc Việt Nam ” [26 353] Bằng vốn kiến thức và sự hiểu biết của mình,Dương Quảng Hàm giúp cho độc giả hiểu thêm chuyên ngành văn học sử.Đồng thời, thấy được một tinh thần khoa học tỉ mỉ, chính xác, độ tin cậycao và đúng mực
Trên con đường hiện đại hóa nghiên cứu, phê bình văn học, mỗi nhànghiên cứu, phê bình chọn cho mình một hướng nghiên cứu, phê bìnhriêng, nhưng tất cả đều có một tinh thần chung “đổi mới tư duy, quan điểmthẩm mỹ, vận dụng phương pháp và thao tác mới, tiếp thu tri thức Tây họctrên “ tinh thần nòi giống” Tiếp theo là hình thành những khuynh hướng,những phong cách độc đáo, hiện rõ dấu ấn cá nhân với những quan niệmnhân sinh thẩm mỹ riêng” [26, 359]
Hiện đại hóa chuyển biến mạnh mẽ tiến dần vào lĩnh vực chuyên sâu.Tuy không rạch ròi, rõ ràng chính xác, nhưng tính lý luận ngày càng đậm,thể hiện sự vận động của nền văn học, đồng thời thể hiện trình độ tư duy lýluận ở một trình độ nhất định Từ 1932, nhiều công trình nghiên cứu các trithức lý luận về thể loại, quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc trở nên cập nhật
và phong phú hơn
Nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại thực sự khẳng định được
sự có mặt của mình trong đời sống văn học nước nhà bằng những hoạtđộng sôi nổi có tính chuyên nghiệp Đội ngũ các nhà nghiên cứu, phêbình trong thời gian này là những cây bút trẻ, sung sức trong nghiệp
vụ chuyên môn, có trình độ học vấn nhất định Các tạp chí cũng đã đivào hệ thống xây dựng một chuyên mục riêng Hoạt động nghiên cứu,phê bình cũng tạo cho mình bước đi theo từng giai đoạn để lại nhữngdấu ấn riêng, tạo tính ưu việt cho “sản phẩm” của mình Mặc dù sinh
Trang 14hoạt trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt, chịu sự chi phối của xã hội thuộcđịa, hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học còn chịu nhiều thiệt thòi
đó là sự kiểm duyệt khắt khe của chính phủ Pháp Trong một thời gianngắn, nền văn học Việt Nam nói chung và hoạt động nghiên cứu, phêbình văn học Việt Nam nói riêng có nhiều chuyển biến Những thànhtựu trong nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại còn non trẻ nhưng đãbiết vận dụng thời cơ để từng bước trưởng thành
Qua nghiên cứu ở trên, chúng ta thấy diện mạo của nghiên cứu,phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX liên tục phát triển nhanhchóng, phong phú, sôi động tạo nên môi trường tranh luận học thuậtrộng rãi Quá trình hiện đại hóa bản thân thể loại góp phần hiện đạihóa các thể loại khác Đồng thời nghiên cứu, phê bình văn học giaiđoạn này bộc lộ rõ tính dân chủ và vai trò, ý thức cá nhân của tác giả.Mặc dù, những vấn đề lý luận chưa thật hoàn chỉnh, nhưng hoạt độngnghiên cứu, phê bình văn học giai đoạn này rất năng động, mang tínhthời sự cao Quá trình hiện đại hóa nghiên cứu, phê bình văn họcnhững năm đầu thế kỷ XX nằm trong quỹ đạo hiện đại hóa văn họcViệt Nam nói chung Mặc dù ở giai đoạn đầu nghiên cứu, phê bình vănhọc có phần kế thừa nghiên cứu, phê bình truyền thống
1.1.2 Hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX
Văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX là một bộ phận máu thịt của vănhọc dân tộc Từ khi hình thành cho đến 1945, vùng văn học này đã có mộtđời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng mấy trăm tác phẩm,cuốn hút độc giả
Văn học Nam Bộ đã đánh dấu cho bước đi của nền văn học Việt Nam.Những năm đầu thế kỷ XX, văn học Nam Bộ đạt được nhiều thành tựuquan trọng, trở thành bộ phận tiên phong của văn học dân tộc Một trong
Trang 15những thể loại phát triển mạnh lúc bấy giờ là tiểu thuyết, trong khi đó, cácmiền khác ở đất nước chưa biết “tiểu thuyết” là gì? Các tên tuổi lớn củavăn học Quốc ngữ Nam Bộ như: Trương Vĩnh Ký - nhà văn hóa, người viết
ký sự Quốc ngữ đầu tiên, Nguyễn Trọng Quản - nhà tiểu thuyết Quốc ngữđầu tiên, Trương Minh Ký - nhà văn, dịch giả văn học Pháp đầu tiên,Huỳnh Tịnh Của - nhà văn ngữ văn học Quốc ngữ tiên phong, Hồ BiểuChánh - nhà tiểu thuyết xã hội - đạo lý cự phách… Các nhà văn ấy và hàngchục nhà văn khác nữa với hàng mấy trăm tác phẩm đã xây dựng nền móngđầu tiên Từ đó mới phát triển ra miền Bắc, miền Trung, tạo thành tòa lâuđài của văn học thế kỷ XX, khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc.Theo thống kê ban đầu, những tác giả có tác phẩm được xuất bản
từ 1930 đến 1945 còn lưu lại đến nay lên đến hơn 150 người Văn họcNam Bộ 1932 - 1945 là một phần của đời sống tinh thần và tâm hồncủa người Việt ở Nam Bộ Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc nghiêncứu về mảng văn học này chưa được chú ý vì nhiều lý do, trong đó chủyếu là do khó khăn về tư liệu và thói quen thưởng thức Văn học Nam
Bộ là những tư liệu vô giá lưu giữ cho chúng ta ngôn ngữ của ngườiViệt ở Nam Bộ cách đây hàng trăm năm Nó là cứ liệu không gì thaythế để nghiên cứu về tiếng Việt Nam Bộ Nhà văn Nam Bộ viết vănlàm thơ, ngoài những lý do về cảm xúc còn có ý muốn lưu giữ cho concháu, cho dân tộc tiếng Việt ngọt ngào, đằm thắm như những ngườiphụ nữ Nam Bộ, hay là sự khỏe khoắn, bộc trực của những người đànông Nam Bộ Văn học Quốc ngữ Nam Bộ cũng là tư liệu quý báu đểtìm hiểu đời sống, xã hội, phong tục tập quán, tính cách của ngườiNam Bộ Sự trưởng thành của văn học Nam Bộ được đánh dấu bằng sựxuất hiện những nhà nghiên cứu, phê bình văn học chuyên nghiệp:Thiếu Sơn, Trúc Hà, Kiều Thanh Quế, Phan Văn Hùm, Ca VănThỉnh…
Trang 161.1.2.1 Thiếu Sơn
Thiếu Sơn tờn thật là Lờ Sỹ Quý ễng người miền Bắc nhưng thành
danh trờn đất Nam Bộ Thuở nhỏ, ụng chịu cuộc sống vất vả, sớm phảisống thiếu tỡnh cảm gia đỡnh Cha ụng là một cụng chức hào hoa, cụng việcthường xuyờn phải luõn phiờn nay đõy mai đú Sau khi sinh Thiếu Sơn, ụng
đó chia tay với vợ và lấy tiếp hai vợ nữa Thiếu Sơn sống với cha Từ nhỏụng bộc lộ tỡnh yờu văn học, ham mờ đọc sỏch, hơn thế nữa ụng đó đọcsỏch nước ngoài, thử dịch một số sỏch nước Phỏp mà ụng yờu thớch
Do hoàn cảnh gia đỡnh, ụng khụng được ăn học đầy đủ, khụng thi đậuthành chung Trong cuộc thi tuyển nhõn viờn bưu điện Đụng Dương tổchức tại Hà Nội, Thiếu Sơn tham gia thi và đậu, nhưng lại được đưa vàolàm việc tại Gia Định Tỡnh yờu văn học đó sớm đưa ụng tham gia vào nghềbỏo Đến với nghề bỏo, ụng lựa chọn cho mỡnh bỳt danh Thiếu Sơn với
sự lý giải: "Người ta chớ hoặc gởi cho sụng, hoặc để ở nỳi Ở sụng thỡnước chẩy hoài hoài Cũn nỳi thỡ cứ ở yờn một chỗ Tụi khụng thớch sựlưu động Tụi thớch sự vĩnh cửu nờn tụi lựa nỳi Nhưng tụi muốn cho cỏinỳi của tụi phải cứng rắn xanh tươi, phải cú cỏi trỏng khớ của thiếu thời.Bởi thế nờn tụi mới lấy bỳt hiệu: Thiếu Sơn" Từ đấy, cuộc đời và sựnghiệp của ụng gắn liền với vựng đất Nam Bộ Bỳt danh Thiếu Sơn đótrở nờn quen thuộc với độc giả từ những năm đầu của thế kỷ XX với cả
một loạt bài phờ bỡnh văn học trờn tạp chớ Nam phong tạp chớ, sau đú cỏc
tờ Tiểu thuyết thứ bảy, Đại Việt tập chớ, Phụ nữ tõn văn ễng thử bỳt
nhiều thể loại như: Tiểu thuyết, hồi ký, tiểu luận chớnh trị - tiểu luận xóhội, Tản văn… Có thể khẳng định rằng sự nghiệp trớc tác của Thiếu Sơnquả thật phong phú với nhiều thể loại trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nh-
ng nhắc tới Thiếu Sơn trớc hết là nhắc tới một nhà nghiờn cứu,phê bìnhvăn học
Thời gian sau, Thiếu Sơn đó tập hợp cỏc bài phờ bỡnh văn học đó đăng
bỏo của mỡnh in thành tập sỏch Phờ bỡnh và cảo luận (1933), tập sỏch phờ
Trang 17bình văn học đầu tiên của nước ta viết bằng chữ Quốc ngữ Cũng chính từcái mốc đáng nhớ ấy mà mãi cho đến sau này, dù phần lớn quãng đời cònlại của Thiếu Sơn là hoạt động báo chí, người ta vẫn nhắc đến ông như mộtnhà văn, một nhà nghiên cứu, phê bình văn học có đóng góp cho nước nhà.
Cuốn sách đưa lại tên tuổi cho người cầm bút Trong Từ điển văn học (bộ
mới), 2004, Nxb Thế giới, mục Thiếu Sơn, Vũ Thanh viết: “Với Phê bình và cảo luận, ông được coi là một trong những người mở đầu cho
phê bình văn học bằng chữ Quốc ngữ ở Việt Nam Trước đó trong vănhọc Việt Nam, thể văn này chỉ xuất hiện trong những lời bình chú tuỳhứng hay thi thoại xen lẫn trong những cuốn biên khảo để bình giá tác
phẩm, chứ chưa tồn tại như một thể loại độc lâp ( )” [7, 1680] Cũng trong năm 2004, trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Phan Cự Đệ
chủ biên), khi đề cập đến các khuynh hướng trong phê bình văn học ViệtNam giai đoạn 1932 - 1945, Trần Đình Sử đã xếp Thiếu Sơn vào nhómcác nhà phê bình có xu hướng tổng kết: “Ông là người cho xuất bản cuốnsách phê bình văn học đầu tiên, có ý thức trưng ra một thể loại phê bìnhmới, phê bình nhân vật và có quan điểm rõ ràng Gọi là tác giả có xu hướngtổng kết là vì cuốn sách này đã trình bày lần đầu tiên chín chân dung cácnhà văn đầu thế kỷ” [7, 1680]
Trong tác phẩm Phê bình văn học - con vật lưỡng thê ấy, Nxb Hội Nhà văn, 2010, ở phần hai Phê bình văn học Việt Nam nhìn nghiêng từ phương
pháp, Đỗ Lai Thuý đã có những phân tích sắc sảo, tinh tế về Thiếu Sơn cũng
như công trình Phê bình và cảo luận của ông: “Trước hết, Thiếu Sơn có
quan niệm mới về văn chương, chống lại quan niệm văn chương công cụ củaNho giáo (…) Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà ông chính là người châmngòi cho cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhânsinh” (…) Bản thân ông đã đi đầu trong việc trở thành một nhà phê bình có
chuyên môn Sự xuất hiện cuốn Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, là
Trang 18“một viên đá tảng trên con đường trở thành chuyên nghiệp của phê bình vănhọc Việt Nam” [62, 96].
Nhìn chung những ý kiến đánh giá về công lao của Thiếu Sơn đối với
sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học nước nhà là tương đối thống nhất:Thiếu Sơn là một trong những người đã có công lớn trong việc đặt nềnmóng cũng như đi tiên phong trong sự nghiệp nghiên cứu, phê bình vănhọc Việt Nam hiện đại nói chung, Nam Bộ nói riêng Ông được xem là nhàphê bình văn học có tư duy hiện đại, sắc sảo và tinh tế trong nhận địnhđánh giá những sáng tác, các chân dung văn học nửa đầu thế kỷ XX
Năm 1929, Phan Văn Hùm bị thực dân bắt vì bị vu cáo là “đánh lính
kín” Thời gian trong tù, ông viết quyển Ngồi tù Khám lớn, đây cũng là mốc đánh dấu sự nghiệp văn chương của mình Quyển Ngồi tù Khám lớn nhằm
vạch tội thực dân Pháp cố tình vu khống và gài bẫy bắt nhà yêu nước Nguyễn
An Ninh, đồng thời lên án chế độ cai trị tàn nhẫn và nhà tù hà khắc của thựcdân ở Đông Dương Một năm sau (1930), Phan Văn Hùm ra tù và sang Pháp
du học chuyên về triết học tại trường Đại học Sorbonne ( Pháp) Tốt nghiệpnăm 1933, ông trở về quê hương, không làm công chức, mà chỉ viết báo vàdạy học tại các trường tư thục, cùng Phan Văn Chánh, Nguyễn Phi Oanh, Tạ
Trang 19Thu Thâu Ông thường xuyên viết bài đăng trên các báo: Mai, Phụ nữ tân
văn, Việt Thanh, Dân quyền, Thần chung, Văn Lang
Năm 1936, ông cùng Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo đắc cử vào Hộiđồng Thành phố Sài Gòn Đến năm 1939, ông ứng cử vào Hội đồng Quảnhạt Nam Kì và đắc cử nhưng bị thực dân gian lận Do một số bài đăng trên
các báo, nhất là báo La Lutte, ông bị thực dân bắt giam và kết án đày đi
Côn Đảo Năm 1942, ông được trả tự do, nhưng vẫn bị quản thúc tại TânUyên (Biên Hòa)
Ngoài một nhà hoạt động chính trị, Phan Văn Hùm còn là một nhànghiên cứu, phê bình văn học những năm đầu thế kỷ XX Ông từng xuất
bản nhiều sách Ngồi tù Khám lớn (báo Thần chung xuất bản, 1929), Biện
chứng pháp (Đỗ Phương Quế, 1937),… Nghiên cứu về Vương Dương
Minh, viết nhiều bài khảo cứu về các vấn đề triết học, y học cổ truyền, phật
giáo, lịch sử trên các báo Tri tân, Văn Lang, Đồng Nai, Phụ nữ tân văn
Cách mạng tháng Tám thành công, ông hăng hái tham gia các công tác
ở Sài Gòn Ông mất vào đầu năm 1946 tại miền Đông Nam Bộ
Cuốn hồi ký của Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu viết về ông: “Phan Văn
Hùm, Thân thế và sự nghiệp” Tác giả viết khá kỹ về thân thế và sự nghiệp
của nhà ái quốc trí thức Phan Văn Hùm Ông đã ghi lại những sự kiện lịch
sử qua cái nhìn trung thực và giá trị của một bác sĩ về một giai đoạn lịch sử
đen tối ở miền Nam Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu đã bày tỏ hoàn cảnh của
mình khi viết về Phan Văn Hùm: Trong hoàn cảnh khó khăn hiện tại,không thể về Việt Nam sưu tầm tài liệu, sách vở - nhất là vì sách vở miềnNam, sau 30/4/1975, đã bị nhà cầm quyền ra chỉ thị ngu xuẩn cho một lũthừa hành dốt nát thiêu hủy - nên tôi chỉ làm được có bấy nhiêu Trước bànthờ ông Phan Văn Hùm ở nhà giáo sư Phan Kiều Dương ở Paris, tôi đã hứa
cố gắng viết một quyển sách về đời ông Mặc dầu biết không có tài, nhưngtôi đã viết với tất cả tấm lòng, để ghi lại phần nào cuộc đời và sự nghiệp
Trang 20của một nhà cách mạng, một học giả mà dân chúng miền Nam hằng mếnphục và thân thương tặng cho danh hiệu “Cọp Đồng Nai.”
1.1.2.3 Phan Khôi
Phan Khôi (1887-1959) là người miền Trung, nhưng có thời gian sống
và hoạt động báo chí, văn học ở Sài Gòn Ông học giỏi Nho văn và đỗ tútài năm 19 tuổi
Trước Cách mạng, năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia phong
trào Đông Kinh nghĩa thục và công tác với tạp chí Đăng cổ tùng báo.
Được một thời gian, ông về Hải Phòng, rồi sau đó về quê hương tham giaphong trào Văn thân Tại quê nhà, ông tham gia biểu tình đòi giảm thuế.Ông bị bắt giam tại nhà tù Quảng Nam Năm 1914, ông được ân xá Ra tù,
Phan Khôi trở ra Hà Nội cộng tác cho báo Nam phong Chỉ một thời gian
ngắn, ông lại trở vào Sài Gòn
Phan Khôi góp mặt với báo chí Sài Gòn từ năm 1919 và từ đó đếnđầu thập niên 1940 đã liên tục gắn với đời sống văn chương báo chí SàiGòn Môi trường báo chí văn chương Sài Gòn đã là nơi nuôi dưỡng câybút Phan Khôi từ điểm định hình đến độ trưởng thành Tờ báo đầu tiên ở
Sài Gòn mà Phan Khôi đăng bài có lẽ là tờ Lục tỉnh tân văn Thời gian
cộng tác với tờ báo này cũng rất ngắn, chỉ trong vòng vài tháng Ông lại
trở ra Hà Nội cộng tác với các tờ Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu
thanh, nhận lời cộng tác dịch Kinh Thánh Ki-tô giáo cho Hội Thánh Tin
lành Vài ba năm sau, Phan Khôi lại vào Nam Vì một lý do gì đó, PhanKhôi phải chạy xuống Cà Mau ẩn náu nơi nhà một người bạn là chủ đồnđiền, dành thời gian tự học thêm tiếng Pháp qua thư từ với Djean de laBâtie, một nhà báo tự do người Pháp ở Sài Gòn Phan Khôi góp mặt với
báo Chương Sài Gòn có thể tính từ đầu năm 1928 Thời kỳ này kéo dài đến năm 1933 hoặc 1934, gắn với các tờ Đông Pháp thời báo, Thần chung,
Phụ nữ tân văn, Trung lập Ông viết nhiều mảng như sáng tác, dịch thuật,
Trang 21nghiên cứu, phê bình văn học nhưng thành danh nhất vẫn là phê bình vănhọc Ông cũng là một học giả nhiệt tình quan tâm tới các nhà văn, nhà thơtrong văn học quá khứ như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Trần TếXương
Trên báo Phụ nữ tân văn, khi viết về Phan Khôi, Thiếu Sơn khẳng
định rằng trong văn giới, Phan Khôi là người tai mắt; trong báo giới,Phan Khôi là bậc đàn anh Đóng góp của Phan Khôi là ở “công lậpngôn” Qua hoạt động báo chí, Phan Khôi đã góp phần thống nhất ngônngữ trên cả nước Đó cũng là một trí thức Nho học đã sở đắc được cáimới và tạo thành một khuynh hướng riêng Đồng thời, Thiếu Sơn cũngnhận ra rằng Nho học là gốc rễ của Phan Khôi trong khi Tây học là
“người tình mới”
1.2 Kiều Thanh Quế - nhà nghiên cứu, phê bình văn học xuất sắc
ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
1.2.1 Kiều Thanh Quế - con người và cuộc đời
Kiều Thanh Quế sinh năm 1914 ở làng Hắc Lăng, xã Tam Phước (naythuộc xã Tam An, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) trong một giađình có truyền thống yêu nước Cha ông là Kiều Văn Mười, mẹ là Tô Thị
Lê Kiều Thanh Quế là anh cả của hai người em, em trai là Kiều NguyênTrung và em gái là Kiều Thị Vạn Trong kháng chiến, họ đều tích cực thamgia vào các phong trào khởi nghĩa chống giặc Hiện nay, chỉ còn người emtrai Nguyễn Văn Trung sống ở Thị xã Bà Rịa - Vũng Tàu
Thời thơ ấu và niên thiếu, Kiều Thanh Quế sống trong gia đình trung lưutại Bà Rịa Ông được gia đình nuôi ăn học Khi còn nhỏ, ông học ở Bà Rịa,sau đó lên Sài Gòn học ở trường Pétrus Ký Trong thời gian học tại trườngPétrus Ký, ông đã hăng hái tham gia vào các tổ chức yêu nước Không khíđấu tranh sôi động của nhân dân đã nhen nhóm trong tính cách và tâm hồncủa chàng trai trẻ tuổi những tình cảm yêu nước Cũng trong thời gian này,
Trang 22Kiều Thanh Quế có nhiều điều kiện để dùi mài kinh sử Sau khi lấy bằngthành chung, ông xin vào dạy học ở Trường trung học Nguyễn Văn Khuê,nhưng chỉ hai năm sau xin nghỉ Do nhiều biến cố trong lịch sử, đất nước đangtrong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bằng tình yêu quê hươngđất nước, ông không trực tiếp cầm gươm giáo ra chiến trường, mà bằng ngòibút tấn công rất mạnh vào bọn thực dân Tinh thần chống Pháp không chỉ thểhiện bằng những bài viết đăng trên báo mà qua hành động Cũng bằng ngòibút của mình, Kiều Thanh Quế với nhiều bút danh khác nhau như Mộc Khuê,
Tô Kiều Phương, Quế Lang, Nguyễn Văn Hai đã tấn công một người Ấn cóquốc tịch Pháp thu thuế chợ Lương Điền Dưới quyền cai trị của bọn thực dânPháp, ông đã bị quản thúc tại Bà Rá (1939), một thời gian sau chuyển về CầnThơ (1940) Cuối năm 1942, mãn hạn quản thúc, Kiều Thanh Quế trở về SàiGòn dạy môn Việt văn tại trường Nguyễn Văn Khuê Tại đây, ông tiếp tục
cộng tác với tạp chí Tri tân Năm 1943-1944, ông cùng Ngươn Long - đại
diện Nhà xuất bản Đức Lưu Phương ra thăm Hà Nội, nhưng lại gặp máy bay
Đồng minh ném bom Ông trở về Nam, tiếp tục cộng tác viết bài cho Tri tân.
Sau Cách mạng tháng Tám, năm 1945, Kiều Thanh Quế hăng hái thamgia cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc Trở về quê hương, KiềuThanh Quế ngày càng gắn bó với lực lượng vũ trang và trở thành người củaQuốc vệ đội do Đoàn Hồng Tâm làm chỉ huy trưởng Thật không may donhiễu loạn thông tin và bởi đòn phản gián của quân Pháp, vào một ngàyđầu tháng 4/1947, hơn một trăm cán bộ chiến sĩ và nhân viên thuộc hai đơn
vị Ty Công an và Quốc vệ đội Bà Rịa bị bắt, trong đó có cả trưởng ty Công
an Huỳnh Công Vinh Riêng Kiều Thanh Quế và chỉ huy trưởng Quốc vệđội Đoàn Hồng Tâm bị án oan vào ngày 7/4/1947
Kiều Thanh Quế là một nhà yêu nước, một cán bộ cách mạng chânchính đồng thời cũng là nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình Nhưng trướchết, nhắc đến Kiều Thanh Quế là nhắc đến một cây bút nghiên cứu, phê
Trang 23bình cấp tiến đã ghi được dấu mốc đáng kể vào bước đi lên của bộ mônnghiên cứu, phê bình văn học non trẻ ở Việt Nam trước 1945 Theo ThanhLãng, ông là “người thứ nhất phác họa một bộ mặt của văn học mới, ghinhận sự diễn tiến của văn học mới”`, “Kiều Thanh Quế có thể coi như nhàphê bình văn học chuyên nghiệp duy nhất của văn học Nam Bộ” (Đoàn LêGiang) Ông được khẳng định là nhà nghiên cứu, phê bình xuất sắc củaNam Bộ nửa đầu thế kỷ XX Đến nay, một số tác phẩm của ông thuộc lĩnhvực nghiên cứu, phê bình đã và đang được tập hợp in lại Tên tuổi của ôngcũng chính thức được khẳng định trong một số bộ lịch sử văn học, tuyểntập phê bình, từ điển văn học
1.2.2 Khái quát về sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học của
Kiều Thanh Quế đến với sự nghiệp văn học từ những năm 1930, thửbút qua nhiều thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, dịch thuật với nhiều bútdanh khác nhau như Mộc Khuê, Nguyễn văn Hai, Tô Kiều Phương Ôngcòn là cộng tác viên với nhiều báo, tạp chí và nhà xuất bản trong Nam
ngoài Bắc như: Mai, Tin điện Sài Gòn, Văn Lang tuần báo, Tiểu thuyết thứ
bảy, Tạp chí Tri tân, Độc lập So với các tác giả cùng thời, số lượng tác
phẩm mà Kiều Thanh Quế để lại quả là không nhỏ
Ngay ở giai đoạn đầu cầm bút cộng tác với báo Mai do Đào Trinh
Nhất (1900 - 1951) làm chủ bút, nhà nghiên cứu, phê bình Kiều Thanh Quếmới ngoài hai mươi tuổi đã có được tiếng nói thực sự tự tin So với các câybút sáng tác và nghiên cứu, phê bình cùng trang lứa, Kiều Thanh Quế đã làhiện tượng một trí thức trẻ tài năng và bản lĩnh Mới bước vào nghề nhưngKiều Thanh Quế đã tạo lập được phong thái nghiên cứu, phê bình đúngnghĩa, có nghề và đứng từ góc độ nghề nghiệp mà xem xét tác phẩm, chưanhuốm các bệnh phê bình văn chương xu thời, quảng cáo, áp đặt một chiều,công thức máy móc Các bài phê bình của ông mang tính thời sự nóng bỏng,thể hiện một con người luôn đứng giữa đời sống nghiên cứu, phê bình văn
Trang 24học, như: Bỉ vỏ của Nguyên Hồng (Mai, 22/6/1938 ), Làm đĩ, Thanh niên
S.O.S, Người đàn bà trần truồng và quan niệm tình dục trong văn chương Việt Nam (Mai, 27/ 9/ 1939), “Trở vỏ lửa ra” Phan Khôi, hay là trả Phan Khôi lại địa hạt của Phan Khôi (Mai, 29/9/1939), Ngược dòng (Mai,
11/8/1939), Lều chõng (Tri tân, số 23/1941), Cuộc kỳ ngộ Lan Khai-Sweig
“Tội và thương” gặp “La peur” (Tri tân, số 46/1942), Phê bình “Hàn Mạc Tử” của Trần Thanh Mại (Tri tân, số 46/1942), Phê bình quảng cáo (Tri tân,
số 98/1943), Phê bình văn học sử (Tri tân, số 118/1943), Vì yêu chân lý (Tri
tân, số142/1944), Đại chúng văn học (Tri tân, số 151/1944) Những bài này
về sau được tập hợp lại và biên soạn thành các bộ sách nghiên cứu, phê bình
như: Phê bình văn học, Ba mươi năm văn học, Cuộc tiến hóa văn học Việt
nam, Đàn bà và nhà văn, Xuân phong văn tập, Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa tả thiệt xã hội, Cuộc vận động cứu nước trong “ Việt Nam quốc sử”
Trong khoảng mười năm cầm bút - thời gian không dài , sự nghiệp củaKiều Thanh Quế nổi trội hơn cả là thể loại nghiên cứu, phê bình văn học.Bằng Giang cho rằng, ở vào giai đoạn này, Kiều Thanh Quế là một trong
những cây bút “viết khỏe nhất” cho tạp chí Tri tân.
Điều đáng nói ở đây là lĩnh vực nghiên cứu, phê bình vốn đòi hỏi cảnguồn kiến văn sâu rộng và những trải nghiệm cá nhân, sự nhạy cảm vàtinh thần nhập cuộc, năng lực bao quát vấn đề và bản lĩnh phát hiện “tínhvấn đề” trong những vấn đề mà đời sống văn chương đang đặt ra, vậy mà,nhà phê bình trẻ Kiều Thanh Quế đã làm được Với những bài nghiên cứu,phê bình, ông mới thực sự có niềm tin vào tài năng và con đường vănchương mà mình đã chọn
Bên cạnh nghiên cứu, phê bình, Kiều Thanh Quế còn sáng tác dịchthuật Thể loại tiểu thuyết, truyện ký, được ông viết vào những năm trước
Cách mạng: Hai mươi tuổi (1940), vừa có tập truyện Đứa con của tội ác
Trang 25(1941) Tập sau được chia thành hai chương, thực chất là hai truyện (Đứa
con của tội ác và Đêm hè)
Thể loại dịch thuật: Sách Nam - mô A - di - đà Phật (1941), sách Một
ngày của Tolstoi (1942)
1.3 Quan niệm của Kiều Thanh Quế về nghiên cứu, phê bình văn học Với các công trình nghiên cứu, phê bình dài hơi xét trong khoảng từ
năm 1935- 1945 của mình, Kiều Thanh Quế đã cho thấy rằng nhiệm vụ củangười làm phê bình văn học là chú ý đến sự kiện trong đời sống văn học và
cố gắng tác động, thúc đẩy cho văn học phát triển Việc các nhà nghiêncứu, phê bình văn học như Kiều Thanh Quế thời bấy giờ, chờ đón và vuimừng giới thiệu những đứa con tinh thần của nhà văn trên báo chí, đồngthời chú ý tổng kết từng phong trào, từng thời kỳ văn học, từng năm, quabước chuyển của đời sống văn học, buộc những ai làm văn hóa, văn họchôm nay đáng phải suy nghĩ Trong khi, vào thời điểm đầu thế kỷ XX, giữa
sự bề bộn và phức tạp của đời sống văn học, báo chí, không ít nhà nghiêncứu, phê bình tự hạ thấp giá trị và chức năng của nghiên cứu, phê bình vănhọc thì Kiều Thanh Quế đã chỉ ra điều này: “Lối phê bình quảng cáo củanhiều nhà báo nước ta (và cả nước Pháp nữa) chỉ giá trị bằng những lời raocủa bọn trẻ bán báo - không hơn không kém! Hoặc nhận tiền của nhà xuấtbản, hoặc cảm tình riêng với tác giả, các nhà phê bình quảng cáo hạ giángòi bút, viết lên mạt báo những lời ca ngợi, xem hớ hênh đến buồn cười”[45, 101]
Kiều Thanh Quế cũng định nghĩa thể văn nghiên cứu, phê bình, giớithiệu khái quát tình hình đời sống nghiên cứu, phê bình văn chương đươngđại Theo ông: “Phê bình văn học chính là linh hồn của đời sống văn học.Nhà phê bình chân chính là người có đủ lực lượng, quyền hạn, điều kiện đểkhông phải làm việc quảng cáo như bọn con buôn, trả thù như đàn bà haytiểu nhân, mà để chính đáng giới thiệu những nhân tài không may bị chìm
Trang 26đắm trong bóng tối, cộng tác với nhà văn hữu danh, cốt làm sao tạo cho nềnvăn học nước nhà những áng văn chương toàn bích” [45, 19].
Với ý thức của nhà nghiên cứu khoa học, Kiều Thanh Quế dám nhìnthẳng vào sự thật và nói lên sự thật của công việc phê bình văn học lúc bấygiờ Bằng tình yêu nghề và sự nâng niu trân trọng những thành công trongcông tác nghiên cứu, Kiều Thanh Quế đã mạnh dạn góp ý với đồng nghiệpcủa mình bằng những tư tưởng tích cực Ông đã nhận xét về Phan Khôi:
“Ông Phan Khôi viết bằng một lối văn giống hệt Ngô Tất Tố dùng viết Tắt
đèn, hay Hồ Biểu Chánh dùng viết Nợ đời Phan Khôi cố giải phẩu tình yêu
cho dễ hiểu mà thành ra buồn cười, Xuân Diệu dửng dưng nói chuyện tìnhyêu mà sâu sắc” Cuối bài viết, Kiều Thanh Quế cho rằng: “Ông Phan Khôinên dành để nghệ thuật quý báu của mình (nghệ thuật khảo cứu) mà phụng
sự những điều mình sở đắc” [45, 36]
Kiều Thanh Quế cho rằng, một phẩm chất đáng quý của người làm phêbình văn học là sự chân thành thẳng thắn, ngay cả giới họ Phan mà người khảkính trong giới học Hay là những lời khuyên chân thành của ông với ĐoànPhú Tứ Từ những công việc trên, ông đã nhận ra một số mặt ưu việt trongcông tác làm nghiên cứu, phê bình văn học Kiều Thanh Quế trân trọng giớithiệu một số gương mặt nhà nghiên cứu, phê bình tiêu biểu trong thời điểmlúc bấy giờ như: Phan Khôi, Lê Thước, Phạm Quỳnh, Thái Phỉ, Hoài Thanh,Trương Tửu, Lê Thanh, Thiếu Sơn, Trương Chính, Trần Thanh Mại
Kiều Thanh Quế khẳng định: “Phê bình văn học là địa hạt của hiệnđại”, nó luôn hướng chủ yếu về tác phẩm mới xuất hiện để nói ra một cáchmới mẻ về tác phẩm đó, khó có thể dựa dẫm vào người khác Chỉ bằng vàolinh cảm, trực giác, dựa vào sự tích lũy kiến văn, hiểu biết và từng trải, baogồm cả sáng tạo, táo bạo và ngẫu nhiên nữa, mà nhà nghiên cứu, phê bìnhthực thi công việc chọn lọc sáng suốt trong kho tàng văn nghệ do các nhàxuất bản đưa ra hàng tháng Lựa chọn ở đó những thiên tài trong nghiên
Trang 27cứu, phê bình những năm đầu thế kỷ XX, đồng thời loại bớt những cây bútviết nhiều mà không hy vọng.
Lao động của nhà phê bình văn học, theo Kiều Thanh Quế, là laođộng tự mình, trước hết xuất phát từ nơi mình Nhà phê bình huy độngtổng lực thế giới tinh thần của mình để tiếp cận tác phẩm, tác giả vănchương Bài phê bình phải cho độc giả thấy ý nghĩ, quan niệm, nguyêntắc xem xét tác giả, tác phẩm; những cảm xúc, rung động của mình từ tácphẩm và sự nghiệp của nhà văn; thái độ và sự đánh giá của nhà phê bình
về tài năng nghệ thuật và vị trí của nhà văn trong đời sống văn học hômnay và mai sau
Không những đòi hỏi cao ở nhà nghiên cứu, phê bình, Kiều ThanhQuế còn nhấn mạnh sự chủ động, tích cực của người đọc Ông phê phánloại độc giả lười biếng, nông nổi, nhưng muốn làm ra vẻ ta đây tronggiao tiếp, đã thay vì việc trực tiếp đọc tác phẩm trước đã bằng cách chỉtìm đọc nhờ cậy vào bài nghiên cứu, phê bình không thôi, rồi dựa vào đó
mà phán bảo điều này, điều nọ về tác giả, tác phẩm mà chính anh ta kỳthực chưa từng đọc một dòng nào
Kiều Thanh Quế đòi hỏi, với người đọc, trước khi đọc bài nghiên cứu,phê bình phải dành thời gian và tâm sức chịu khó đọc vào tác phẩm của nhàvăn Từ đó, họ có được những nhận xét và cảm tưởng riêng, sau đó mới tìmđến các bài nghiên cứu, phê bình mà so sánh, bồi bổ kiến văn và thị hiếuthẩm mỹ của mình, nếu ở đó quả thực là nhà phê bình đã có những nhậnxét sáng suốt và có căn cứ thuyết phục Việc đọc của người đọc phổ thôngbất kỳ luôn luôn phải là độc lập, chủ động, trong sự tiếp thu, đối thoại vớicác cách đọc khác, trong đó có cách đọc chuyên nghiệp, có nghề của nhàphê bình, theo tinh thần “đi một ngày đàng học một sàng khôn”
Từ những ý kiến tâm huyết và tiêu biểu trên đủ cho thấy việc nhậnthức bản chất, đối tượng và đặc thù của lao động nghiên cứu, phê bình văn
Trang 28học, việc đọc trực tiếp tác phẩm sáng tác và tác phẩm phê bình trong hoạtđộng tiếp nhận văn học, quả là những vấn đề căn cốt được quan tâm địnhhướng rõ ràng ngay từ những bước đi ban đầu của phê bình văn học trongmối quan hệ gắn bó giữa nhà văn - nhà phê bình với người đọc.
Một trong những lý do quan trọng nhất để nhà phê bình tồn tại là gópphần xác định đúng giá trị của những hiện tượng văn chương khi dư luậncòn có những ý kiến khác nhau, khi mà vàng thau còn lẫn lộn Nhà nghiêncứu, phê bình chân chính là người phát ngôn cho những chân lý vănchương chứ không nhất thiết thuận theo số đông Kiều Thanh Quế là mộtnhà nghiên cứu, phê bình như vậy
Tiểu kết 1
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945đổi mới mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, tức là thoát khỏi những đặctrưng của văn học trung đại, tạo nên được những đặc điểm, tính chất củamột nền văn học hiện đại Cùng với sáng tác, nghiên cứu, phê bình văn họccũng phát triển đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Từ đầu nhữngnăm 1930 đến 1945, có một số nhà nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệpthật sự có tài năng như Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ NgọcPhan, đã góp phần thúc đẩy nền văn học phát triển Kiều Thanh Quế là mộttrong số đó
Nếu Thiếu Sơn là người có tác phẩm phê bình xuất bản sớm nhất (Phê
bình và cảo luận, 1933), nhưng về sức viết và công việc cập nhật đời sống
văn học thì Kiều Thanh Quế có phần vượt trội Không phải người đặt viêngạch đầu tiên cho lĩnh vực nghiên cứu, phê bình hiện đại nhưng KiềuThanh Quế đã tạo cho mình một bước đi riêng Với các công trình nghiêncứu, phê bình, Kiều Thanh Quế đã chứng minh cho bạn đọc thấy được bảnlĩnh của mình trong quá trình nghiên cứu văn học
Trang 29Không phải ngẫu nhiên, trong phần viết về lí luận phê bình văn học ViệtNam thế kỷ XX, Giáo sư Trần Đình Sử đã xếp Kiều Thanh Quế vào vị trí củacác nhà văn học sử và biên khảo Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại,Kiều Thanh Quế đã có vị trí xứng đáng khi tên tuổi và tác phẩm của ông đượclần lượt giới thiệu trong các cuốn sách của những tác giả có uy tín.
Trang 30
Chương 2 KIỀU THANH QUẾ VỚI VĂN HỌC DÂN TỘC
2.1 Kiều Thanh Quế với di sản văn học quá khứ: Truyện Kiều và Truyện Hoa Tiên
Nhắc đến văn học trung đại, chúng ta không thể quên được Truyện
Kiều của Nguyễn Du Xưa nay, Truyện Kiều được xem là tài sản tinh thần
của dân tộc Việt Người ta cũng thường nói “không ai không thuộc một câu
Kiều” Chính vì thế, từ khi ra đời đến nay, Truyện Kiều đã gây được sự chú
ý cho các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Xưa nay, người ta đánh giá:
“Truyện Kiều là một áng văn chương không tiền tuyệt hậu” [45, 65].
Truyện Kiều từng là niềm say mê lớn đối với hàng triệu người Chính niềm
say mê đó đã khiến cho bao người Việt Nam và cả nước ngoài đọc và
nghiên cứu phê bình Truyện Kiều.
Với bài Nỗi lòng Tố Như dưới triều Gia Long, Tri tân, số 50 tháng
6/1942, Kiều Thanh Quế đã tìm một hướng đi trong việc nghiên cứu, phê
bình địa phận văn học quá khứ Đó là việc ông so sánh hai tác phẩm
Truyện Kiều với Hoa Tiên Kiều Thanh Quế được xem là người đặt móng
khởi đầu cho việc nghiên cứu, phê bình đối sánh
Việc đầu tiên, Kiều Thanh Quế đi vào nghiên cứu, phê bình tác giả.Điều mà ông chú ý và trăn trở chính là nỗi lòng của Tố Như Ông tìm các
tư liệu để nghiên cứu với “cuốn sách Chánh biên liệt truyện: Khi Tố Như
tiên sanh bị bệnh nặng, tiên sanh không chịu uống thuốc Lúc sắp lâmchung, tiên sanh bảo người nhà giở tay cho mình coi ra sao, khi biết tứ chilạnh cả rồi, tiên nghẹn ngào hắt ra một tiếng khóc: Thôi được! Nói xong thì
tắt thở không có một lời trối lại Cho đến câu chuyện người đời sau kể lại,
có người bảo rằng Tố Như tiên sanh lúc lâm chung có thốt ra hai câu trăntrở cho mình
Trang 31Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Hay Phan Văn Hùm khi nghiên cứu về Truyện Kiều đã chứng minh hoàn cảnh ra đời Truyện Kiều, cuối cùng kết luận lại “…Đến ngày chết
Nguyễn Du vẫn mang canh cánh bên lòng truyện Thúy Kiều” “Thúy Kiềukhóc Đạm Tiên Tố Như tự làm truyện Thúy Kiều Việc tuy khác nhau màlòng thì là một người đời sau thương người đời nay Người đời nay thươngngười đời xưa, hai chữ tài tình thật là một cái thong lụy của bọn tài tử khắptrong gầm trời và suốt cả xưa nay vậy” [45,63]
Nỗi lòng Tố Như dưới triều Gia Long của Kiều Thanh Quế cho thấy, Kiều
Thanh Quế với ý thức lao động miệt mài và sưu tầm tư liệu khá công phu Nộidung bài viết đầy đủ, tập hợp tư liệu, đi đến phân tích rõ ràng chi tiết Nghiêncứu cuộc đời và con người Nguyễn Du, Kiều Thanh Quế phân tích rất kỹ từnggiai đoạn: Tố Như sống dưới thời vua Gia Long và ra làm quan dưới triều GiaLong, giữ nhiều chức vụ nhưng ông không mặn mà với việc quan trường Năm
1813, Tố Như lên chức được sang Tàu tiến cống, chuyến đi này ông rất vui vìtiên sanh được du lãm qua các danh lam thắng cảnh trên đất Tàu Cuộc ngao du
cho tiên sanh hiểu biết thêm về tri thức và thôi thúc viết Truyện Kiều Từ đó
giúp độc giả biết thêm hoàn cảnh ra đời của tác phẩm mà lâu nay để lại một
luồng tranh luận khá mãnh liệt Khi nghiên cứu về Truyện Kiều, Kiều Thanh
Quế khẳng định: “Truyện Kiều, phản ánh tấm lòng Tố Như dưới triều GiaLong quả là tác phẩm đáng viết như nhận xét này của nhà phê bình nước PhápTaine: “Các tác phẩm là những phát hiện của cách nghĩ và cảm về một chủngtộc, và bất cứ hoàn cảnh nào, trong một phong thổ nào” [45, 65]
Khi nghiên cứu về Hoa Tiên, Kiều Thanh Quế giúp người đọc hiểu hoàn cảnh ra đời của Hoa Tiên: “Truyện Hoa Tiên do Nguyễn Huy Tự đời
hậu Lê phỏng theo một tiểu thuyết Tàu viết ra Đến đời Gia Long ông chútiên sanh là Nguyễn Thiện nhuận sắc lại” [45, 65]
Trang 32Xét về hoàn cảnh ra đời của hai câu chuyện chúng ta nhận thấy ngay
Truyện Kiều ra đời sau Hoa Tiên Nhưng hai tác phẩm đều viết cùng thể
loại truyện thơ Nôm Đem những dòng chép trong Truyện Kiều và trongHoa Tiên đối chiếu nhau [45, 66-69], Kiều Thanh Quế khẳng định:
“Truyện Kiều về giá trị văn chương ăn đứt Hoa Tiên và xem Truyện Kiều là
áng văn chương không tiền, tuyệt hậu” [45, 65] Truyện Kiều ra đời sau, nó
có điều kiện thuận lợi hơn Hơn thế nữa, tác giả Truyện Kiều chắc cũng đã được đọc Hoa Tiên Cho nên, những vấn đề khiếm khuyết trong Hoa Tiên,
tiên sanh đều tránh được
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cho thấy Kiều Thanh Quế nhận định đánh
giá về Truyện Kiều có phần kĩ hơn Hoa Tiên Đi vào nội dung Truyện
Kiều, Kiều Thanh Quế cũng chỉ mới dừng ở tác giả, còn tác phẩm thì chỉ
nêu nguồn gốc ra đời và trích dẫn văn bản để so sánh Còn Hoa Tiên quá
mờ nhạt chỉ nêu ra được hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và trích dẫn vănbản để đối chiếu Cả hai tác phẩm chưa đi vào nội dung và nghệ thuật màchỉ là những lời nhận xét khái quát Thiết nghĩ, Kiều Thanh Quế có nhữngđánh giá sát thực hơn về hai tác phẩm từ nội dung đến nghệ thuật thì bài
nghiên cứu, phê bình Nổi lòng Tố Như dưới triều vua Gia Long sâu sắc
hơn, gây được tình cảm trong lòng độc giả
Qua nghiên cứu, Kiều Thanh Quế chứng minh với độc giả ý thức làmviệc của mình Ông đi tìm tư liệu khá đầy đủ để đối chiếu so sánh, từ đólàm nên phong cách nghiên cứu, phê bình
2.2 Kiều Thanh Quế với việc nghiên cứu, phê bình một số hiện tượng văn học đương thời
2.2.1 Kiều Thanh Quế với mảng sách sáng tác
2.2.1.1 Với thể loại truyện
Điểm lại các công trình nghiên cứu, phê bình của Kiều Thanh Quế
với các sáng tác văn xuôi, ta thấy ông quan tâm rất nhiều tác phẩm Mỗi tác
Trang 33phẩm dưới quan điểm nghiên cứu, phê bình khác nhau, Kiều Thanh Quế đã
để lại cho độc giả những ấn tượng riêng
Tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng gây được tình cảm với Kiều Thanh Quế, đồng thời thôi thúc ông viết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng đăng trên
Mai, số 58, ngày 22/10/1938 Kiều Thanh Quế đã dày công nghiên cứu
Nguyên Hồng và tiểu thuyết Bỉ vỏ Tìm hiểu bài phê bình Bỉ vỏ của
Nguyên Hồng của Kiều Thanh Quế, chúng ta nhận thấy:
Điểm thứ nhất, cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyên Hồng gây sự chú ýcho Kiều Thanh Quế Ông cho rằng: “việc sử dụng tiếng lóng của nhà văn
là một điều không xa lạ “Trải qua một thời hoa niên trong chốn lao tù, ôngNguyên Hồng đã quen miệng với những tiếng lóng Bãi rác khắp quyểnsách của ông non ba trăm trang…” Ngay từ nhan đề tác phẩm, Nguyên
Hồng đã sử dụng tiếng lóng, Bỉ vỏ - đàn bà ăn cắp Càng nghiên cứu, nhà phê bình càng nhận thấy tiểu thuyết Bỉ vỏ sử dụng mật độ rất dày các tiếng lóng: Chạy vỏ - bọn ăn cắp đường (ăn cắp chợ), chạy dọc - bọn ăn cắp trên
xe ô tô ( xe đò, xe điện), Hiếc – lấy (lần lưng, móc túi), Khai - cắt túi (xẻo dây), Hắc - cẩn thận (khôn ngoan) Theo ông, việc sử dụng tiếng lóng,
mới đọc nghe nghịch lỗ tai, nhưng khi đã quen miệng lại nghe nó hay hay,
nghe cũng ngộ ngộ Tiếng lóng được sử dụng trong làng chạy vỏ như Bỉ vỏ
là rất thích hợp” [45, 27]
Điểm thứ hai, theo Kiều Thanh Quế thành công của Bỉ vỏ thể hiện ở nghệ thuật kết cấu truyện Ông khẳng định: “Trong Bỉ vỏ của Nguyên
Hồng, từ chương đầu đến chương chót, đều thấy quan thiết đến hành vi,
tâm tính trạng thái tinh thần của một Bỉ vỏ - một người đàn bà ăn cắp.
Người ấy là vai chủ động Người ấy là Bính” [45, 27] Kiều Thanh Quế cònnhận định: “Về văn chương của Nguyên Hồng, ai cũng phải công nhận nódài và hơi nặng nề Có nhiều câu đọc xong, ta nhận thấy ngay nó đã mất cái
lẽ quân bình của nó ( …) Nhưng phê bình một tác phẩm có giá trị về cốt
Trang 34truyện mà không để ý lối hành văn của tác giả, chưa phải là làm được mộtcông việc theo ý muốn của các nhà phê bình” [45, 28]
Điểm thứ ba, Kiều Thanh Quế chú trọng vào thể loại Nhắc đến Bỉ
vỏ của Nguyên Hồng ai cũng biết đó là tiểu thuyết nổi tiếng Cũng tiểu
thuyết này đã làm sáng tên tuổi của ông trên văn đàn từ trước tới nay.Nhưng theo Kiều Thanh Quế đây là thể loại phóng sự tiểu thuyết Để
hiểu rõ Bỉ vỏ là tiểu thuyết hay phóng sự tiểu thuyết, chúng ta cần hiểu
thêm về thể loại Phóng sự là một thể văn báo chí nên thể văn này phảighi chép kịp thời, tức thì những sự việc nóng bỏng tính thời sự mớidiễn ra trong cuộc sống thực, liên quan đến hoạt động và số phận củamột hoặc nhiều người Những sự việc, sự kiện được miêu tả trong tiểuthuyết diễn ra suốt cả thời gian từ quá khứ đến hiện tại và tương lai
Đó là những sự kiện đã, đang và sẽ tiếp diễn Còn trong phóng sự, sựviệc, sự kiện được đề cập tới chủ yếu ở thì hiện tại, đang diễn ra Nếutrong phóng sự có nói tới quá khứ thì cũng là quá khứ rất gần, quákhứ của sự liên tưởng, so sánh theo lối “ôn cố tri tân” chứ không phảiquá khứ của phép đồng hiện Điều này thể hiện sự nhạy bén, kịp thờicủa thể phóng sự so với tiểu thuyết Trong khi đó, để viết một thiêntiểu thuyết, nhà văn phải “thai nghén”, phải ấp ủ đến hàng chục năm :
“Nghệ thuật là lâu dài.Thời gian thì ngắn ngủi” (Baudelaire, 1867) Nhà văn viết một cuốn tiểu thuyết về một câu chuyện đã, đang
1821-và sẽ diễn ra Còn nhà báo viết một thiên phóng sự về những sự việc,
sự kiện mới diễn ra, đang diễn ra Mặc dù phóng sự là văn báo chí,tiểu thuyết là văn hình tượng - văn chương, nhưng phóng sự và tiểuthuyết đều thuộc loại hình tự sự Ranh giới do đặc trưng thể loại tạonên và ranh giới ấy bị xóa nhòa do sự tương hợp, dung hợp và giaothoa giữa thể loại phóng sự và thể loại tiểu thuyết Kiều Thanh Quếnhận thấy câu chuyện Nguyên Hồng viết ra có tính thời sự, nhưng câu
Trang 35chuyện ấy cũng là sự ấp ủ của nhà văn từ ngày này qua ngày khác.
Đấy là lý do để Kiều Thanh Quế xếp Bỉ vỏ của Nguyên Hồng vào thể
loại phóng sự tiểu thuyết
Khi nghiên cứu về văn phóng sự, Kiều Thanh Quế cho rằng: “Vănphóng sự là một lối văn có rất muộn Ở Pháp mãi đến cuối thế kỷ XIX, vẫnchưa nghe nói đến Nhưng tới gần đây, ở Pháp cũng như ở ta, phóng sự tiểuthuyết đã thay cho phong tục tiểu thuyết mà chiếm một địa vị quan trọngtrong văn giới Ngày nay, ở nước ta đã có những ngòi bút phóng sự hữu giáTrọng Lang, Tam Lang, Vũ Trọng Phụng Giờ trong làng văn phóng sự
xin thêm tác giả Bỉ vỏ, ông Nguyên Hồng” [45, 29] Kiều Thanh Quế nhận
định: “Đem văn chương Việt Nam phóng sự tiểu thuyết, một đối tượng(obje) mới: Nghề “ chạy vỏ”, “chạy dọc” Ông Nguyên Hồng quả có công
với văn giới” [45, 29] Thành công tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng
đánh dấu bước phát triển về phóng sự tiểu thuyết
Phê bình “Lều chõng”, Tri tân, số 33, tháng 1/1942, Kiều Thanh Quế
giúp độc giả hiểu thêm về Ngô Tất Tố và tiểu thuyết Lều chõng Ông
nghiên cứu kỹ về khái niệm thể loại và xác định đặc trưng thể loại
Trước hết, khi xác định thể loại của tác phẩm Lều chõng, ông đã phân
tích hai thể loại lịch sử tiểu thuyết và phong tục tiểu thuyết Kiều Thanh
Quế, khẳng định: “Lều chõng của Ngô Tất Tố là một phong tục tiểu thuyết,
nhưng lại có tính cách lịch sử - lịch sử khoa cử ngày xưa! Các nhân vậtcủa lịch sử không có trong đó; nhưng cả một thời đại của quá khứ trong đóđược tiểu thuyết hóa bởi một nhân vật của lịch sử khoa cử Việt Nam: Ôngđầu xứ Ngô Tất Tố” [45, 48]
Sau khi nghiên cứu về thể loại, Kiều Thanh Quế tiếp tục khám phánội dung tác phẩm Nội dung tác phẩm đề cập là vấn đề khoa cử ngày xưamột cách công phu từ trường thi đến sĩ tử đến dự thi Hình ảnh trường thithật buồn Kiều Thanh Quế xác định đó là trường thi Hương Nhâm tử
Trang 36(1912): Khoa ấy, luống đất trường thi “bị nước ngấm vào nó thành ra luốngbùn, không đủ sức để đỡ cái chõng và một người ngồi Vì vậy cái chõngphải thụt xuống, thụt cho đến khi bốn chân ngập hết nhô bốn cái cọc mớithôi” [45, 48] Qua việc phân tích đó, độc giả hiểu thêm được hoàn cảnhcủa đất nước trong thời kỳ thực dân nửa phong kiến.
Hình ảnh sĩ tử lại buồn hơn: “Vân Hạc cũng như hết thẩy mọi ngườituy ngồi trên chõng vẫn không khác gì ngồi dưới đáy ao, đít ao, đũng quần,nước bùn thấm vào bê bết….” [45, 48]
Kiều Thanh Quế đã tập hợp được tư liệu, dẫn ra một cách cụ thểchứng minh cho độc giả thấy việc khoa cử ngày xưa đầy vất vả gian truân.Không chỉ năm Nhâm tử (1912), mà sau đó kì thi Hương năm Ất mão(1915) ở trường thi Nam Định cũng không kém Cũng từ đó, kì thi Bắc Hàcũng được bãi bỏ Ba năm sau (1918), khoa cử ở Huế cũng bãi bỏ Từ bấyđến nay, không ai lận đận trường ốc nữa
Theo ông, “chế độ khoa cử ngày xưa càng ngày càng hóa ra món đồ cổ
ít người mó đến Trưng bày món đồ cổ ngày nay, trong lúc phong trào Hán
học bắt đầu hồi phục lại khắp xứ ta, tác giả Lều chõng như cố thử thách độc
giả ai là người hiếu cổ đâu hãy tỏ ra mình vẫn còn tưởng nhớ đến phường
võng lọng Đọc Lều chõng, nhiều người chỉ nghĩ đến những chỗ khả quan
của một chế độ khoa cử phiền phức ngày xưa thôi Chớ mặt trái chế độ ấycòn chứa đựng biết bao nhiêu là chi tiết đáng thương tâm: Nào là phải đóngquyển văn viết bài thi cho hợp phép; nào là không được đồ, di, câu, cải, nếukhông, phạm trường qui Ngoài ra, còn nào là ngoại hạn, ngoại hàm, khiếmtrang, khiếm tị, phạm úy, v.v Kể sao cho xiết những điều vô ý thức ấy?
Nó chỉ tổ làm khổ, làm mờ tối niên lực sáng tạo của sĩ phu ta thuở trướcthôi!” [45, 49]
Tuy nhiên, bài nghiên cứu, phê bình Phê bình “Lều chõng”của Kiều
Thanh Quế chỉ đi vào nội dung khoa cử ngày xưa Nếu Kiều Thanh Quế đề
Trang 37cập đến vấn đề nghệ thuật của tác phẩm thì bài viết sâu sắc hơn, cuốn hútngười đọc hơn.
Tiểu thuyết Quê người (1941) của Tô Hoài tái hiện một cách chân
thực cuộc sống của con người vùng kẻ Bưởi quê ông Bức tranh ấy xoayquanh hai cặp vợ chồng Hời và Ngây, Thoại và Bướm Mở đầu tác phẩmnày, Tô Hoài vẽ lại những ngày thơ mộng chốn thôn quê Thuở ấy, cuộcsống thật êm đềm, những đêm trăng thanh, trai gái xóm Đuối, xóm Giếnglàng Nha tụ tập hát cho nhau nghe, nói với nhau những lời ý nhị, chân tình.Nhưng tình thế đổi thay thật nhanh chóng Nếp sống thanh bình biến mất.Đói khát, cùng quẫn, tệ nạn đã khiến làng Nha trở nên tiêu điều Nhữngthành viên của làng Nha tồn tại một cách lay lắt trên quê mình mà ngỡ nhưđang phiêu bạt ở quê người Cái vùng đất ấy, tự trong bản chất, vẫn là mộtvùng quê thuần túy Nhưng chỉ bước ra một loáng là va chạm vào đời sốngthị thành Vì thế, chuyện “hương đồng gió nội” bay đi ít nhiều, chuyện phảiđối mặt với những huyên náo và chịu sự tác động, chịu ảnh hưởng lối sốngthị thành nhanh hơn các vùng nông thôn khác cũng là điều dễ hiểu Có baonhiêu chuyện đau lòng đã diễn ra ở đất kẻ Bưởi trong buổi giao thời đầu thế
kỷ XX Từ khi ra đời truyện Quê người đã để lại sân chơi cho độc giả, đặc
biệt trong giới nghiên cứu, phê bình văn học
Với Phê bình Đọc “Quê người”- tiểu thuyết của Tô Hoài, Kiều Thanh
Quế đã xây dựng nội dung của bài nghiên cứu, phê bình, gồm hai phần:Thứ nhất, tóm tắt cốt truyện Cuộc đời của người dân quê hiện lên vớinhiều phẩm chất tốt hiền lành giản dị Đó là cuộc đời của Hời và Thoại,Anh Hời chỉ ao ước lấy được một người vợ, cất được một cái nhà gạch Cái
mơ ước thật giản dị kia anh cũng chỉ thực hiện được có một là lấy vợ Cuộcsống thật khốn khổ cái nhà gạch không có đã đành, cái nhà tranh anh cũngphải gán nợ Thoại, vì đói khát, mà đi đập chó trộm, chó không đập được,
Trang 38anh bị dân làng đánh cho… Bên cạnh đó, Tô Hoài cho chúng ta thấy baocảnh đời đáng thương hiện ra trong tác phẩm…
Thứ hai, Kiều Thanh Quế đề cập đến những cảnh đời, những số phậncon người Ông đã trích dẫn những đoạn văn hay mang tính khái quát caokhi viết về số phận, những cảnh đời trong tác phẩm Ví dụ, Bà Ba chẳngnhững chửi hay, bà nằm vạ còn tài “phăng phăng ra cửa chạy thảng xuốngnhà lão thủ Dân… Đến trước ngõ nhà ông thủ Dân, bà Ba gào lên mấytiếng: “Ối! Làng nước ôi! Bố con thằng thủ Dân nó đánh chết tôi” rồi bànằm phục xuống quằn quại Đầu tóc bà rũ rượi ra Miệng bà rên la râmrỉ…” [ 45, 90]
Qua hai nội dung nghiên cứu, Kiều Thanh Quế có cái nhìn tổng hợp về
tác phẩm Ông đánh giá: “Quê người là tổng hợp của nhiều cảnh đời, nhiều
nhân vật vừa hài vừa bi, quanh năm sống vất vả sau lũy tre xanh” Bêncạnh nội dung, Kiều Thanh Quế đi sâu nghiên cứu tài năng nghệ thuật của
tác phẩm Ông nhận định: “Tác giả Quê người là tay thợ nề khéo, chỉ đưa
qua những nhát bay giản dị, đủ tô nên bức tường lớn phẳng phiu Nhữngnhát bay giản dị là: Câu văn ngắn mà đủ nghĩa và linh động, nhờ nhữngchữ không cầu kỳ mà đặt đúng chỗ Còn bức tường lớn phẳng phiu mà có
người không bằng lòng đem quyển Quê người đối chiếu Cũng hữu lý thay người ấy! Vì Quê người với nhiều nhân vật của nó, xem thoáng qua như không được “phẳng phiu” Phẳng phiu ở đây có nghĩa là trật tự Quê người bề ngoài
hình như thiếu trật tự Nhưng với một quan niệm nghệ thuật rộng rãi, chúng ta
sẽ thấy được trật tự nội tại (odre imcanente) của nó” [45, 90]
Khác với các bài nghiên cứu, phê bình khác, Đọc “Quê người” tiểu
thuyết của Tô Hoài, Kiều Thanh Quế thành công trong việc dẫn dắt vấn đề.
Từ việc đề cập hình ảnh và cuộc sống của người dân quê, làm cho các nhânvật hiện lên một cách sinh động, từ những mảnh đời đáng thương như Hời
- Thoại đến những nhân vật trò hề, ngây ngô “Kể bà chửi cũng hay thực
Trang 39Hôm nay có nhiều bà và nhiều cô gái cố lắng nghe học lỏm lấy những câuhóc hiểm để hòng có bận nào chửi nhau với ai chăng” [45, 90].
Nội dung bài nghiên cứu, phê bình Đọc “Quê người” tiểu thuyết của
Tô Hoài đã giúp cho Kiều Thanh Quế khái quát mảng truyện đồng quê ở
Bắc Hà thành công hơn ở Nam Kỳ [45, 91]
Cùng với việc nghiên cứu Bỉ vỏ (Nguyên Hồng), Lều chõng (Ngô Tất Tố), Quê người (Tô Hoài), Kiều Thanh Quế còn phê bình “Bóng mơ” -
tiểu thuyết của bà Tú Hoa” (Tri tân, số 59 tháng 8/1942) Nhà phê bình
phân tích đặc điểm cốt truyện, nội dung và tính cách nhân vật
Với việc nghiên cứu về đặc điểm cốt truyện, Kiều Thanh Quế chorằng: Bà Tú Hoa viết về cuộc hôn nhân giữa Chương - Lan không phải vìtình yêu Hai người không hiểu nhau, dẫn đến cuộc tình duyên rạn nứt Langhen tuông Ý định báo thù nổi dậy trong lòng Lan…
Điểm mạnh ở bài nghiên cứu này là, Kiều Thanh Quế đi sâu nghiêncứu tài năng nghệ thuật của tác phẩm Với việc nghiên cứu về tính cáchnhân vật, Kiều Thanh Quế cho rằng: “Ghê gớm thay sự báo thù kín đáocủa người đàn bà! “Trong báo thù cũng như trong ái tình, người đàn bà
dã man hơn đàn ông” Ông so sánh và đánh giá “Bà Tú Hoa trong Bóng
mơ, đã cố hiểu kẻ khác qua tâm hồn mình Các nhân vật của bà rất linh
động Tả tâm lý đàn bà, bà tỏ ra có nhiều chỗ khám phá Bức thư Oanh(tình nhân của Chương) viết cho bạn lời lẽ quả của một người đàn bàtrăm phần trăm Chúng tôi ít gặp các ngọn bút đàn ông những bức thư
viết dùm cho các nhân vật đàn bà như trong bức thư của Oanh ở Bóng
mơ” [45, 85] Nghiên cứu văn tài tác giả Bóng mơ, ông nhận định “chúng
tôi có cảm giác như cô dâu về nhà chồng: Rụt rè, dè dặt nhưng không
khỏi vụng về! Nhiều bạn làng văn ở Nam Kỳ bảo rằng trước Bóng mơ,
Bà Tú Hoa dưới bút danh khác, đã có nhiều tiểu thuyết rồi Bảo thế làngụ ý rằng ngọn bút Tú Hoa cũng đã quen nghề văn lâu rồi Nhưng các
Trang 40tác phẩm của bà xuất bản từ trước đều viết theo một lối văn xưa, nghĩ saoviết vậy không đếm xỉa đến cú pháp là gì cả! Ngày nay khác, bà hành văntheo lối mới, đúng ngữ pháp và cốt được giản dị, rõ ràng Bước đầu thayđổi nghề văn này hay là sự phôi thai của tài nghệ bao giờ cũng là giai đoạnngượng nghịu, ngỡ ngàng của bà Tú Hoa rồi đi qua, để đưa ngòi bút của bàđến thời kỳ điêu luyện” [45, 85]
Qua phân tích, Kiều Thanh Quế dựng lên bức tranh toàn cảnh tác
phẩm Bóng mơ từ cách xây dựng nội dung, nhân vật, đến giọng điệu của
tác giả Kiều Thanh Quế đã có một cách nhìn khái quát về tác phẩm và cócách nghiên cứu sâu về tác phẩm từ nội dung đến nghệ thuật mà các bàinghiên cứu trên chưa làm được
2.2.1.2 Với thể loại thơ
Nghiên cứu về thơ ca, Kiều Thanh Quế chú ý dòng chảy thơ ca dân tộc
từ những bài thơ trong văn học quá khứ đến văn học hiện đại Ông đọc đếnhơn 30 nhà thơ với những bài thơ nổi lên trong phong trào Thơ mới Nhưng
bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư đã gây được ấn tượng nhất Đây là lý
do để ông viết bài Thi sĩ Lưu Trọng Lư với Tiếng thu (Tri tân, số 138, tháng
4/1944)
Phê bình Thi sĩ Lưu Trọng Lư với Tiếng thu, Kiều Thanh Quế đề cao
chất nhạc trong thơ Lưu Trọng Lư: “Đừng ai cố tìm tư tưởng trong thơ LưuTrọng Lư Vì vô ích Lưu Trọng Lư bao giờ cũng chỉ biết chú trọng có âmthanh và nhạc điệu ” [45, 138]
Bàn về nhạc điệu trong thơ Lưu Trọng Lư, Kiều Thanh Quế đã nhận
sự đồng tình của công chúng bạn đọc, bởi ông chỉ ra được sự phong phú, đadạng của nhạc điệu trong thơ Lưu Trọng Lư bằng những minh chứng cụthể: “Nhạc điệu thơ Lưu Trọng Lư gồm nhiều thuộc tánh Khi thì nỉ non Khi thì lẳng lơ Khi thì sang sảng như “tiếng hát chị đò đưa” Khi thìbuồn bã Khi lại ai oán não nùng đầy vơi niềm trắc ẩn, tràn ngập lòng xót