1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của cộng hoà ấn độ từ năm 2000 đến năm 2009

138 636 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ với các nước lớn vàcác khu vực thì Ấn Độ luôn có những lập trường cứng rắn hay mềm mỏng cầnthiết để nhằm thu hút những điều kiện thuận lợi cho sự phá

Trang 1

ĐặNG TRọNG BảO

Sự ĐIềU CHỉNH CHíNH SáCH ĐốI NGOạI CủA CộNG Hòa ấN Độ Từ 2000 đến 2009

luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Vinh - 2010

Trang 3

Trong thời gian qua, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Cộng hòa Ấn Độ từ 2000 đến 2009” được

hoàn thành nhờ sự gợi ý và hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS TS Phạm

Ngọc Tân, giảng viên chính khoa Lịch sử, Trường Đại học Vinh.

Luận văn còn có sự giúp đỡ về tài liệu và những ý kiến gợi ý của cácthầy cô giáo thuộc chuyên ngành Lịch sử Thế giới, khoa Lịch sử, khoa Đàotạo Sau Đại học - Trường Đại học Vinh; các Giáo sư, Tiến sĩ Viện Nghiêncứu Đông Nam Á; Trung tâm Thư viện Nguyễn Thúc Hào - Trường Đại họcVinh Ngoài ra, chúng tôi còn nhận được sự động viên khích lệ từ phía giađình và bạn bè đồng nghiệp

Xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo lời biết ơn chân thành và sâusắc nhất

Luận văn đã được hoàn thành nhưng chắc chắn còn nhiều khiếm khuyếtcần được góp ý, sửa chữa Chúng tôi rất mong nhận được những đóng gópcủa các thầy cô giáo và bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

§Æng Träng B¶o

Trang 4

A MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử của vấn đề 2

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Kết cấu luận văn 8

B NỘI DUNG 9

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ TỪ 2000 ĐẾN 2009 9

1.1.1 Sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta 9

1.1.2 Vị trí và vai trò của nước Mỹ sau chiến tranh lạnh 11

1.1.3 Ảnh hưởng khu vực Nam Á và quan hệ với Pakitan 13

1.1.4 Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa 14

1.2 Bối cảnh trong nước 17

1.2.1 Thành tựu của công cuộc cải cách kinh tế ở Ấn Độ từ 1991 đến 2000 17

1.2.2 Những thách thức về chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng 20

1.2.4 Tổng quan về quan hệ của Ấn Độ với Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc trong chiến tranh lạnh và những yêu cầu đặt ra sau chiến tranh lạnh

25

Chương 2 SỰ ĐIỂU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ VÀ QUAN HỆ GIỮA ẤN ĐỘ VỚI MỘT SỐ QUỐC GIA, KHU VỰC TỪ 2000 ĐẾN 2009 36

Trang 5

2.1 Sự điều chỉnh mục tiêu, chính sách đối ngoại Ấn Độ sau năm 2000

36

Trang 6

2.2.2 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Liên bang Nga

54

2.2.3 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Trung Quốc .64

2.2.5 Chính sách hướng Đông của Ấn Độ với khu vực Đông Nam Á 85

Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI 98

3.1 Tác động của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại đối với sự phát triển của Ấn Độ từ 2000 đến 2009 98

3.1.1 Tác động đối với sự phát triển kinh tế 98

3.1.2 Tác động đối với củng cố an ninh quốc phòng 104

3.2 Vai trò, vị trí, triển vọng của Ấn Độ trong khu vực và thế giới 107

3.3 Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong thập niên đầu thế kỷ XXI 112

C KẾT LUẬN 117

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 7

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình DươngASEAN : Tổ chức hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ARF : Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEM : Diễn đàn hợp tác Á - Âu

BJP : Đảng Dân Tộc Hinđu

EU : Liên minh châu Âu

FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế

LHQ : Liên hợp quốc

NAFTA : Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ

NATO : Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

NPT : Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân

SAARC : Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á

SCO : Tổ chức Hợp tác Thượng Hải ()

TTXVN : Thông tấn xã Việt Nam

USD : Đô la Mỹ

WTO : Tổ chức Thương mại thế giới

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bước vào đầu thập niên đầu của thế kỷ XXI, thế giới đã có những thayđổi to lớn trên tất cả lĩnh vực, kinh tế, chính trị, ngoại giao Cuộc Chiến tranhlạnh hơn 40 năm tồn tại đã kết thúc, đưa thế giới bước vào thế thời kỳ mới

Xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, xu hướng khu vực hoá, toàn cầuhoá là hướng đi cơ bản và chủ yếu của tất cả các nước trên thế giới Hoà bình,hợp tác, phát triển đã trở thành xu thế khách quan và chi phối mối quan hệgiữa các nước, buộc tất cả các nước, đặc biết là các nước lớn trong đó có Ấn

Độ phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại để phù hợp với tình hình mới

Những năm đầu thế kỷ XXI, vai trò của nước Mĩ không còn là là mộtsiêu cường duy nhất về kinh tế và chính trị như thời kỳ sau chiến tranh lạnhsụp đổ Trung Quốc sau hơn hai mươi năm cải cách đã vươn lên trở thành mộtcường quốc về kinh tế và quân sự Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế củacác nước thuộc thế giới thứ ba như: Ấn Độ, Braxin…và sự hồi phục của nềnkinh tế nước Nga đã làm thay đổi các mối quan hệ quốc tế

Giai đoạn phát triển kinh tế 1991-2000 Đến đầu thế kỷ XXI kinh tế Ấn

Độ phát triển một cách mạnh mẽ Ấn Độ đã xây dựng được nền kinh tế vớinhững nghành công nghiệp hiện đại có trình độ tự động hoá cao như: Côngnghiệp điện tử, công nghiệp ôtô… Ấn Độ được các nhà nghiên cứu cho đây làmột “hiện tượng” của kinh tế thế giới Chính có sự phát triển mạnh mẽ củanền kinh tế làm cho vị thế quốc tế của Ấn Độ tăng lên nhanh chóng Bướcsang thập niên đầu của thế kỷ XXI, Ấn Độ với tư cách là một nước lớn ở châu

Á, những thay đổi chính sách đối ngoại của Ấn Độ có tác động rất lớn đếnkhu vực và trên thế giới Trong chính sách đối ngoại của mình Ấn Độ chútrọng các nước trong khu vực tuy nhiên Ấn Độ luôn đặc biệt chú ý đến cácchính sách đối ngoại với các nước lớn như: Mĩ, Nga, Trung Quốc, Nhât Bản,

Trang 9

các nước Tây Âu Trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ với các nước lớn vàcác khu vực thì Ấn Độ luôn có những lập trường cứng rắn hay mềm mỏng cầnthiết để nhằm thu hút những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế củađất nước Những chính sách đó có tác động và ảnh hưỏng rất lớn đến thế giới

tự chủ, rộng mở, “Là bạn đối tác tin cậy với tất cả các nước” Việt Nam đang

mở rộng quan hệ với các nước, đặc biệt là các nước láng giềng, các nước lớntrong đó có Ấn Độ Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ không chỉảnh hưởng đến khu vực và thế giới mà còn ảnh hưởng rất lớn đến Việt Nam.Đặc biệt Việt Nam và Ấn Độ có quan hệ truyền thống lâu đời, mật thiết vớinhau Thông qua đề tài với mong nuốn nghiên cứu về chính sách đối ngoạicủa Ấn Độ chúng ta có thể nắm được chiến lược phát triển của Ấn Độ va một

số nước liên quan, giúp cho chúng ta hiểu sâu hơn vê đối tác Ấn Độ, góp phầncho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam

Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Sự điều chỉnh chính sách đội ngoại của Ấn Độ từ 2000 đến 2009” làm đề tài cho luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử của vấn đề

Bước vào đầu thế kỉ XXI, Ấn Độ có vị thế của một cường quốc châu

Á, quốc gia có vị trí quan trọng đối với khu vực Đông Nam Á nói riêng và cácnước thuộc thế giới thứ ba nói chung Vì thế sự điều chỉnh chính sách đốingoại của Ấn Độ có những tác động rất lớn đến khu vực và thế giới Do tầmquan trọng đó, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ được giới

Trang 10

nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Một số tác phẩm, tàiliệu có đề cập đến vấn đề chính sách đối ngoại của Ấn Độ như:

Cuốn “Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ năm1991 đến

2000”của tác giả Trần Thị Lý, Nguyễn Huy Hoàng, Bùi Minh Sơn, Đỗ Đức

Định, Nguyễn Công Khanh, NXB KHXH, Hà Nội, 2002 Đây là tác phẩmtrình bày toàn diện về sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ từ 1991 đến năm

2000 Sự điều chỉnh về chính sách đối ngoại từ 1991 đến 2000 được trình bàytương đối khái quát, là cơ sở cho chúng tôi mở rộng tìm hiểu vấn đề này vớithời gian dài hơn (2009) và cụ thể hơn

Cuốn Jawaharlal Nehru - Tiểu sử và sự nghiệp (2001) của PGS TS.

Nguyễn Công Khanh giới thiệu tiểu sử Jawarharlal Nehru, nghiên cứu vai tròcủa ông trong phong trào đấu tranh giành độc lập, xây dựng đường lối đối nội,đối ngoại của quốc gia Ấn Độ Vai trò của J.Neru trong việc hoạch định chínhsách đối ngoại với Mỹ bước đầu cũng được tác giả đề cập tới

Cuốn “Vị trí và vai trò của quốc tế của Ấn Độ ở châu Á - Thái Bình

Dương trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI ” của tác giả Nguyễn Quốc Khánh

(chủ nhiêm đề tài) đã giới thiệu về vai trò và vị trí của Ấn Độ ở châu Á - TháiBình Dương Và đã khái quát về chính sách đối ngoại và mối quan hệ giữa Ấn

Độ với một số quốc gia và khu vực trên thế giới

Cuốn “Quan hệ quốc tế và đường lối đối ngoại” của học viện chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, phân viện khoa Quan hệ quốc tế NXBQG - HN năm

2001, dành riêng một phần thế giới thiệu khái quát chính sách đối ngoại cộnghoà Ấn Độ, trình bày một số điều chỉnh cụ thể của chính sách đối ngoại của

Ấn Độ với các nước lớn đặc biệt là đối với Mĩ

Cuốn “50 năm kinh tế Ấn Độ”của tác giả Đỗ Đức Định, NXB Thế giới,

Hà Nội, 1999 trong đó tác giả đã nói đến những chính sách phát triển của nhànước Ấn Độ trong 50 năm qua

Trang 11

Cuốn Lịch sử Ấn Độ (1995) do GS.Vũ Dương Ninh chủ biên là công

trình có giá trị nhất, toàn diện nhất về lịch sử Ấn Độ cho đến nay, trong đóquan hệ Ấn Độ - Mỹ được đề cập tương đối khái quát

Bài viết “Thử nhìn lại quan hệ Mỹ - Ấn Độ trong năm mươi năm

qua”in trong cuốn “Tuyển tập các công trình nghiên cứu lịch sử từ 1990 đến 1999”, Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Vinh, NXB Nghệ An, 1999 Tác giả

PGS.TS Nguyễn Công Khanh đã trình một số nét về cơ bản về chúnh sách đốingoại của nước cộng hoà Ấn Độ từ 1950 cho đến 1999

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ được đề cập phân tántrong các công trình nghiên cứu như công trình của tác giả: Nguyễn Thạc

Dĩnh, Đặng Ngọc Hùng, “Quan hệ Việt Nam và các nước Nam Á từ 1945 đến

năm 2003”; Lương Văn Thắng, Học viện Quan hệ quốc tế, (2006) “Vai trò của Ấn Độ trong việc tăng cường hoà bình và ổn định khu vực Nam Á thời kì sau chiến tranh lạnh”, Và trong các bài viết của TTXVN từ 2001 cho đến

2009 cũng ít nhiều đề cập đên các chính sách đối ngoại của Ấn Độ như:

TTXVN (2002), “Nam Á: Tình hình tiếp tục căng thẳng”, Tài liệu thamkhảo đặc biệt ngày 11/1/2002 TTXVN (2004), Ấn Độ với nhãn quan chiếnlược mới”, tài liệu tham khảo đặc biệt ngày 7/1/2004 TTXVN (2005), “Ấn

Độ một nước lớn đang trỗi dậy”, tài liệu tham khảo đặc biệt ngày 11/8/2005.TTXVN (2007), Xu hướng mới trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ, tài liệutham khảo đặc biệt ngày 23/5/2007

Vấn đề này cũng được đề cập đến trong các bài viết trên các tạp chí

chuyên ngành như của tác giả Nguyễn Công Khanh, J Nehru và chủ nghĩa xã

hội, Thông báo khoa học các ngành KHXH, số 4, 1992; Ngô Minh Oanh, Tư tưởng Không liên kết từ J Nehru đến I Gandhi, Nghiên cứu Lịch sử, số 2,

2005; Nguyễn Thu Hương, Về vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế (1947

-1997); Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2001; Nguyễn Cảnh Huệ, Tìm hiểu tư

Trang 12

tưởng hoà bình trong chính sách đối ngoại của nước Cộng hoà Ấn Độ,

Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1998; 50 năm Ấn Độ độc lập và phát triển, Việt

Nam và Đông Nam Á ngày nay, số 15, 1997…

Để nghiên cứu vấn đề này, ngoài các cuốn sách và bài viết nêu trên,luận văn còn tham khảo và sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau gồm: cáctài liệu về đất nước lịch sử Ấn Độ, các tài liệu có liên quan đến khu vực châu

Á - Thái Bình Dương, khu vực Nam Á, các tài liệu liên quan đến chính sáchđối ngoại của Ấn Độ, một số văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam vềđường lối đối ngoại

Có thể thấy rằng, các cuốn sách và các bài viết khi trình bày về sự điềuchỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ chỉ đề cập đến những giai đoạn haykhía cạnh cụ thể của các mối quan hệ; chưa có một công trình nào nghiên cứumột cách hệ thống sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2000 đến

2009 Vì vậy, việc chúng tôi lựa chọn đề tài “Sự điều chỉnh chính sách đối

ngoại của Ấn Độ từ 200 đến 2009” làm luận văn tốt nghiệp là không trùng lặp

với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2000 đến

2009 chúng tôi muốn giải quyết các vấn đề sau:

- Nguyên nhân dẫn đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ

- Kết quả đạt được và những hạn chế của chính sách đối ngoại của Ấn Độ

- Ảnh hưởng của sự điều chỉnh chính sách này đến khu vực và thế giới

- Triển vọng của chính sách đối ngoại của Ấn Độ Qua đó phân tíchtác động của sự điều chỉnh chính sách đối ngoại này đến quan hệ Ấn Độ -Việt Nam

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ấn Độ là một nước lớn ở châu Á và thế giới nên thu hút sự quan tâmcủa nhiều nhà sử học trong và ngoài nước Tiếp xúc với các nguồn tư liệutrong điều kiện có thể, chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu như sau:

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về sự điều chỉnh chính sáchđối ngoại cửa Ấn Độ trong thập niên đầu thế kỷ XXI Tuy nhiên để làm sáng

rõ vấn đề này, đề tài đã khái quát chính sách đối ngoại của Ấn Độ thời kỳchiến tranh lạnh, các nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại như: kinh tế,chính trị, quân sự có được đề cập đến nhưng chỉ được trình bày để bổ sung vàlàm rõ chính sách đối ngoại

Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh chính sáchđối ngoại của Ấn Độ thập niên đầu thế kỷ XXI (2000 - 2009)

Ngoài đối tượng nghiên cứu, giới hạn và nội dung nêu trên, những vấn

đề khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu

- Các công trình nghiên cứu, các bài viết đã được công bố trên các tạpchí chuyên ngành ở Việt Nam như Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu ĐôngNam Á, Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Trung Quốc….; tài liệu tham khảođặc biệt, tài liệu dịch ở Vụ Nam Á - Bộ Ngoại giao, Thông tấn xã Việt Nam,Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ.v.v

Trang 14

- Những công trình nghiên cứu khoa học, đề tài đề cập đến chính sáchkinh tế, chính trị đối ngoại của Ấn Độ

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, luận văn sử dụng phương phápluận Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu lịch sử nhằm tái hiện kháchquan và khoa học quan hệ về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ.Trong đó, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phươngpháp lôgic và các phương pháp bộ môn nhằm giải quyết căn bản những vấn

đề đặt ra

Bên cạnh đó, quan điểm của Đảng về các vấn đề quốc tế, đường lối đốingoại cũng được chúng tôi quán triệt trong quá trình nghiên cứu Khóa luậncòn sử dụng các phương pháp chuyên ngành và liên ngành như tổng hợp,thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và suy luận logic… để giải quyếtnhững vấn đề khoa học đặt ra

5 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở các nguồn tư liệu tiếp cận được, luận văn cố gắng khái quátmột cách hệ thống về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ thời kỳ

Luận văn được thực hiện sẽ giúp ích cho bản thân trong việc giảng dạy

ở trường phổ thông, đồng thời góp thêm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinhviên và những ai quan tâm nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Trang 15

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dungchính của khóa luận được trình bày trong ba chương sau:

Chương 1 Những nhân tố dẫn tới sự điều chỉnh chính sách đối ngoại

của Ấn Độ từ 2000 đến 2009Chương 2 Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Ấn Độ và quan hệ

giữa Ấn Độ với một số quốc gia, khu vực từ 2000 đến 2009Chương 3 Một số nhận xét về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của

Ấn Độ trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Trang 16

B NỘI DUNGChương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ẤN ĐỘ TỪ 2000 ĐẾN 2009

1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực

1.1.1 Sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúcđã mở ra một giai đoạn mới củalịch sử thế giới Một trật tự thế giới mới được hình thành - Trật tự hai cựcIanta Trật tự hai cực Ianta được thiết lập trên cơ sở những thỏa thuận của bacường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh tại Hội nghị Ianta đã chi phối toàn bộ đờisống kinh tế, chính trị cũng như quan hệ quốc tế suốt những năm 1945 đến1991.Trong trật tự thế giới hai cực này đã diễn ra một cuộc đối đầu gay gắt,quyết liệt và kéo dài tới gần bốn thập kỉ giữa hai cực Liên Xô- Mỹ, làm chocục diện thế giới luôn phức tạp, căng thẳng Cuộc đối đầu giữa hai khối Đông

- Tây đã cuốn hút nhiều quốc gia, nhiều khu vực vào vòng xoáy của nó

Sau hơn 40 năm tồn tại, đến năm 1991 trật tự hai cực Ianta đã chínhthức bị phá vỡ do sự sụp đổ của “cực Liên Xô” Nhân cơ hội trật tự hai cực bịphá vỡ, Mỹ liền ra sức vươn lên “thế một cực” trong trật tự thế giới mới, còncác cường quốc khác cố gắng xây dựng một thế giới thế đa cực Chính sự tan

rã của trật tự thế giới hai cực đã dẫn tới sự giảm sút vai trò quốc tế của Ấn Độvới tư cách là trụ cột của Phong trào Không liên kết và là nước có vị thế hàngđầu trong thề giới thứ ba

Một số vấn đề quốc tế nổi cộm trước đây và cũng là những lĩnh vực mà

Ấn Độ đã từng phát huy được vai trò như: Ủng hộ phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc, chống đế quốc xâm lược, giải trừ quân bị, bảo vệ hòa bình,chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc… đã không còn nhiều ý nghĩa trong một

Trang 17

thế giới mà yếu tố kinh tế trở thành yếu tố nổi trội trong quan hệ quốc tế nhưgiai đoạn sau chiến tranh lạnh Đây chính là yếu tố quan trọng khiến Ấn Độphải có những thay đổi về đối ngoại để xác lập cho mình vị trí quốc tế xứngđáng trong một trật tự thế giới mới đang hình thành

Đồng thời với sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta là sự sụp đổ của Liên

Xô đã khiến Ấn Độ mất đi một chỗ dựa vững chắc về mọi mặt Tuy là mộtnước không liên kết nhưng Ấn Độ lại có nhiều quan điểm gần gũi với Liên

Xô như: chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóngdân tộc, bảo vệ sự nghiệp hòa bình thế giới… Trong thời kì Chiến tranh lạnh,

sự gắn bó giữa Liên Xô và Ấn Độ đã làm nghiêng hẳn cán cân có lợi cho lựclượng hòa bình, dân chủ và cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Đặcbiệt sau khi quan hệ Xô - Trung căng thẳng và cuộc chiến tranh Trung - Ấn(1962), quan hệ Xô - Ấn ngày càng trở nên mật thiết với bằng chứng là Hiệpước Hòa bình, Hữu nghị và Hợp tác mà hai bên đã kí vào năm 1971 Nếu vềmặt chính trị, quan hệ Ấn - Xô là quan hệ đồng minh chiến lược dựa trên cơ

sở những lợi ích trùng hợp thì về mặt kinh tế Liên Xô cũng là một chỗ dựa vôcùng vững chắc cho Ấn Độ Các nhà máy của Ấn Độ do Liên Xô giúp đã sảnxuất ra 80% tổng sản lượng thiết bị luyện kim, 60% sản lượng thiết bị điện,35% sản lượng thép, 70% sản lượng khai thác dầu, 20% sản lượng điện Vềthương mại, hai bên là thị trường lớn của nhau Liên Xô là bạn hàng lớn thứhai của Ấn Độ và là bạn hàng “dễ tính” của Ấn Độ Chính mối quan hệ mậtthiết dựa trên những lợi ích chính trị là chính, nhiều lúc bất chấp quan hệ hànghóa, tiền tệ theo cơ chế thị trường đã khiến Ấn Độ hụt hẫng nghiêm trọng khiLiên Xô sụp đổ

Như vậy, sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta đã tác động sâu sắc vào vịthế của Ấn Độ, đồng thời với sự sụp đổ của Liên Xô, Ấn Độ đã mất đi chỗdựa tin cậy và là đối tác chiến lược trong suốt hơn 40 năm Yêu cầu tìm kiếm,điều chỉnh chính sách đối ngoại trong tình hình mới đặt ra cấp thiết

Trang 18

1.1.2 Vị trí và vai trò của nước Mỹ sau chiến tranh lạnh

Sau Chiến tranh lạnh kế thúc, Mỹ đóng một vai trò quan trọng trongcác mối quan hệ quốc tế Nước Mỹ đang vươn lên để xây dựng thế giới mộtcực do Mỹ lạnh đạo Mỹ là tên gọi tắt của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (USA).Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, Mỹ là một quốc gia xuất hiệnmuộn màng, song lại có bước phát triển nhanh nhất về kinh tế, quân sự Mỹcủng là nước có lịch sử phong phú độc đáo và đầy biến động Trong vòng haithế kỷ, nước Mỹ phát triển từ khu định cư của người Anh, những khu định cưthuộc địa bị cô lập được trở thành một dân tộc mới Ngày nay, nước Mỹ baogồm 50 bang, diện tích hơn 9372km, rộng thứ tư trên thế giới (sau Nga,Canada, Trung Quốc) [14;13] Năm 1941, nhà báo H Luce (Mỹ) đã đưa rakhái niệm “Thế kỷ của nước Mỹ” trên tờ báo hình ảnh “Life” Ngày nay khinhìn lại, người ta nhận thấy rằng lời tiên đoán của ông đã trở thành hiện thực.Vào đầu thế kỷ thứ XX, người Mỹ đã giải quyết xong cuộc chiến trnh thế giớithứ nhất bằng sự can thiệp của họ ở châu Âu Giữa thế kỷ XX, khi chiến tranhthế giới thứ hai diễn ra, họ lại là những người thu được nhiều lợi nhuận nhấtlại ít bị thiệt hại nhất trong khi các nước tham gia chiến tranh đều trở thànhđống tro tàn đổ nát Bước sang những năm 90 của thế kỉ XX, người Mỹ lạigiành ưu thế khi đối thủ tiềm tàng - Liên Xô bị tan rã Bước vào thiên niên kỷmới nước Mỹ trở thành một siêu cường duy nhất và lần đầu tiên người ta nóiđến từ “Quyền lực toàn cầu”

Về kinh tế, với dân số chỉ bằng 5% dân số thế giới, chiếm 9,4% diệntích đất đai, nhưng nước Mỹ lại tạo ra hơn 32% giá trị tổng sản phẩm toànnhân loại [8;30] Dưới chúnh quyền của B.Clintơn, kinh tế Mỹ bước vào thời

kỳ phát triển chưa từng có kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Ksinh tếtăng trưởng liên tục (124 tháng - tính cho đến tháng 6 năn 2001) Tỉ trọng của

Mỹ trong GDP thế giới liên tục tăng lên: 26,3% năm 1990, 30,2% năm 1999

Trang 19

và 32,5% năm 2000 [53;49] từ năm 1990 dến năm 1998 kinh tế Mỹ tăg 27%(trong khi EU là 15% và Nhật Bản là 9%) [50;47] Từ thời kỳ giữa thập kỹ 80của thế kỷ XX đến năm 2000, tỉ trọng kinh tế Mỹ trong kinh tế thế giới tănghơn 10% (đạt 31% năm 2000 so với 20% năm 1998)

Trên thực tế, nước Mỹ đang tiến nhanh trên con đường con đường tiếntới xã hội thông tin và vượt xa các nước khác Mỹ là nước đầu tiên trên thếgiới tạo được nền công nghiệp và văn hoá thời đại thông tin Nếu ở Châu Âu,

sự tăng trưởng kinh tế nhờ vào sự tăng trưởng châm chạp của các ngành kinh

tế truyền thống như ô tô, chế tạo máy, hoá chất, kỹ thuật điện thì nền côngnghiệp Mỹ được tạo lập băng các ngành công nghiệp mới đang tăng trưởngcủa kỹ nguyên công nghệ cao Đó là các ngành bán dẫn, máy tính, trang thiết

bị viễn thông, dịch vụ thông tin và liên lạc, công nghệ sinh học, dược phẩm,công nghệ môi trường, hàng không, vũ trụ, giải trí v v

Cũng giống như các ngành công nghệ cao, người Mỹ cũng khống chế

cả thị trường tài chính thế giới Đồng đô la là đồng tiền chủ đạo, chiếm hơn60% giao dịch toàn cầu

Về sức mạnh quân sự, Mỹ có ưu thế quân sự vượt trội với kho vũ khíkhổng lồ,với lực lượng quân đội thường trực là 1,6 triệu quân Với hơn 200căn cứ quân sự trên toàn cầu chi phí quân sự của Mỹ bằng hơn một nữa chiphí quân sự của tất cả các nước trên thế giới cộng lại [26;85]

Về chính trị, vị thế siêu cường của Mỹ được duy trì suốt từ năm 1945đến nay, đặc biệt là từ sau Chiến tranh lạnh Trên thực tế Mỹ là hạt nhân đóngvai trò chi phối đời sống chính trị thế giới

Sau Chiến tranh lạnh Mỹ vẫn tiếp tục củng cố thực lực của mình là vịtrí siêu cường duy nhất Thiết lập một thế giới mới do Mỹ lạnh đạo mà ở đócác giá trị của Mỹ được phổ biến, ngăn chặn không cho nước nào nổi lên đedọa vai trò và vị trí của Mỹ, thúc đẩy một nền kinh tế mở toàn cầu, tự do hóa

Trang 20

thương mại, dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới đây là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt mục tiêu dài hạn của Mỹ

Sau sự kiện ngày 11/9/2001.Các ưu tiên trong chính sách đối ngoạicũng có sự điều chỉnh Chống khủng bố quốc tế là ưu tiên hàng đầu Cácchính sách kinh tế, chính trị, quân sự đều phục vụ cho ưu tiên này Một ưutiên khác với các nước chủ chốt trên thế giới vì Mỹ coi đây chính là “Chìakhóa đưa cuộc chiến chống khủng bố đi tới kết thúc thành công” Quan hệ đốitác là khẩu hiệu trong chiến lược của Mỹ và trong các cường quốc đó, Mỹ tậptrung vào một số nước có quan hệ không suôn sẻ trong quá khứ là Nga, TrungQuốc, Ấn Độ Vì thế vai trò và sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ đã có tácđộng đến nhiều nước trong đó có Ấn Độ

1.1.3 Ảnh hưởng khu vực Nam Á và quan hệ với Pakitan

Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) được thành lập vào ngày8/11/1995 Thành viên của SAARC bao gồm các nước Banglađét, Butan, Ấn

Độ, Malđivơ, Nêpan, Pakistan và SriLanca

Hiệp hội cung cấp nền tảng cho nhân dân các nước Nam Á làm việc vớinhau trên tinh thần bạn hữu tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, nhằm mục đích tăngcừng phúc lợi cho nhân dân các nước Nam Á và tăng cường chất lượng cuộcsống thông qua tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và văn hoá trong khuvực Hợp tác trong tổ chức SAARC dựa trên cơ sở quyền tự chủ, lãnh thổ,độc lập dân tộc, không can thiệp vào nội bộ của các nước thành viên và cùngnhau có lợi

Khu vực Nam Á là một trong những khu vực có dân số hàng đầu thếgiới, nhưng các nước Nam Á vẫn thuộc các nước chậm và đang phát triển Tổchức SAARC từ khi thành lập đến nay vẫn chưa phát huy hết vai trò của mình

do hai thành viên chính của tổ chức là Ấn Độ và Pakistan luôn mâu thuẫn, bấtđồng khiến cho Hiệp hội chưa tìm ra được tiếng nói chung Tuy nhiên trong

Trang 21

bối cảnh mới cả Ấn Độ và Pakistan đều nhận thấy những lợi ích từ hợp táckhu vực, qua đó tăng cường sức mạnh nền kinh tế của hai nước nói riêng vàkhu vực nói chung Bởi vì hiện nay xu thế khu vực là xu thế toàn cầu, sễ rấtkhó khăn cho quốc gia nào không thuộc tổ chức nào cả

Kể từ năm 1947 cho đến thời điểm hiện nay, giữa Ấn Độ và Pakistan

đã xẩy ra ba cuộc chiến tranh và nhiều lần xung đột Trong suốt thời kỳ Chiếntranh lạnh, quan hệ giữa hai nước hầu như ở trong tình trạng đối đầu căngthẳng mà nguyên nhân chính là vấn đề Kashmir vẫn chưa thể giải quyết được.một phần là do cả hai nước đều muốn khẳng định chủ quyền của mình ởKashmir nên đã dẫn đến tranh chấp nhưng phần khác cũng do vấn đề Kashmir

đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc Chiến tranh lạnh Thực tế trong suốt thời

kỳ Chiến tranh lạnh, Ấn Độ và Liên Xô đã mâu thuẫn sâu sắc với Mỹ vaPakistan, với cả Trung Quốc, tạo nên quan điểm đối lập nhau khi giải quyếtvấn đề Kashmir Vì thế vấn đề Kashmir vốn đã phức tạp do mâu thuẫn tôngiáo, sắc tộc,biên giới lại chịu thêm sự tác động của nhân tố ngoại cảnh nêncàng phức tạp chồng chéo

Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới, khu vực Nam Á đã cónhiều biến động khiến cho tất cả các quốc gia đều phải tự mình điều chỉnhchính sách đối ngoại cho phù hợp với bối cảnh mới trước sự thay đổi chínhsách của các nước lớn như: Mỹ,Trung Quốc, Nga và trên cơ sở tính toán thựcdụng vì quyền lợi của đất nước Cả Ấn Độ và Pakistan đều đã linh hoạt hơntrong chính sách đối ngoại của mình

1.1.4 Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa

Chiến tranh lạnh chấm dứt đã làm thay đổi căn bản, bản chất các mốiquan hệ giữa các nước Các quốc gia bước ra khỏi cuộc chiến đều đứng trướcmột thực tế, thế giới của thời kì sau Chiến tranh lạnh là một thế giới tập hợpcác quốc gia độc lập, ít ràng buộc nhau hơn về mặt tư tưởng, vừa phụ thuộc

Trang 22

nhau vừa cạnh nhau gay gắt Cho nên có thể thấy trong chiến lược của tất cảcác quốc gia nhất là các nước lớn, vấn đề phát triển kinh tế đều được coitrọng Quá trình toàn cầu hóa có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: Quá trình tự do hóa thương mại, mở rộng thị trường về chiềusâu, tự do hóa lưu chuyển vốn, sự hòa nhập của cơ cấu tài chính, sự phâncông chuyên môn hóa sản xuất, Toàn cầu hóa đang diễn ra một cách sôi động,lôi cuốn các quốc gia lớn nhỏ, từ trung tâm đến ngoại vi vào vòng xoáy của

nó tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn Từ đó, sự đan xen về lợi íchcũng như thống nhất, mâu thuẫn luôn diễn ra trên phạm vi quốc gia, liên quốcgia, khu vực và toàn cầu

Thứ hai: Sự kiên kết giữa các nước diễn ra theo mối liên hệ từ mộtngành đến nhiều ngành, từ kinh tế đến khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao,chính trị, ngoại giao Sự liên kết và tương tác như vậy đã lan tỏa từ trung tâmđến ngoại vi, vượt qua mọi biên giới quốc gia và thể chế chính trị khác nhauvới mức độ không giống nhau

Thứ ba: Quá trình toàn cầu hóa vận động có xu hướng đối lập nhau.Bên cạnh việc hợp tác liên kết hình thành cộng đồng thế giới thì lại diễn ra xuhướng co cụm theo khu vực địa lý Chẳng hạn sự hình thành NAFTA giữa

Mỹ, Mêhicô và Canađa, sự thống nhất các quốc gia trong EU, ASEAN…Đồng thời với xu hướng liên kết là xu hướng phân rã, chia rẽ các liên bang,các khu vực liên kết thành các quốc gia độc lập, vùng tự chủ theo sắc tộc, tôngiáo, địa lý…

Thứ tư: Về cơ bản, quá trình toàn cầu hoá đang diễn trong khung cảnhhòa bình, đối thoại thay cho đối đầu Song không phải chiến tranh đã hoàntoàn kết thúc, máu đã ngừng đổ mà các thế lực phản động quốc tế vẫn đangtìm mọi cách để áp đặt hệ tư tưởng chính trị của mình lên toàn nhân loại vàkhi bị phản ứng chúng sẵn sàng dùng vũ lực để chống đối Do vậy, nền hòa

Trang 23

bình thế giới vẫn đang bị đe dọa, mọi quốc gia dân tộc đều có trách nhiệm bảo

vệ vững chắc nền hòa bình cho nhân loại

Thứ năm: Sự hình thành về mặt tổ chức các thiết chế liên quốc gia vàquốc tế tiếp tục đẩy mạnh Song bình đẳng của các nước trong các thể chế đóluôn là vấn đề nổi cộm Các tổ chức này tuy đã góp phần không nhỏ vào việcgiải quyết nhiều vấn đề quốc tế mà thành quả của no mang lại lợi ích chungcho cả cộng đồng thế giới, song trên thực tế nó đã bị Mỹ và một số cườngquốc phương Tây khống chế Trong việc giải quyết những vấn đề hệ trọng,thường các tổ chức này lại trở thành bình phong che đậy cho việc thực hiện ý

đồ của Mỹ và một số nước phương Tây

Như vậy, với những đặc trưng cơ bản của quá trình toàn cầu hóa là tự

do hóa mà trước hết là tự do hóa về kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật và mởrộng sự giao lưu quốc tế về các vấn đề chính trị- xã hội, toàn cầu hóa đangđưa lại một khả năng to lớn đối với các quốc gia trong việc hợp tác nhằm khaithác các nguồn lực quốc tế để phát triển Xu thế tập trung phát triển kinh tế đểtránh tụt hậu khiến tất cả các nước phải hợp tác với nhau, từng nước đều thihành chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình này càng làmcho toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn, đồng thời thúc đẩy sự phụ thuộc lẫnnhau, đan xen lợi ích quốc gia của các nước với nhau; do đó giảm thiểu nguy

cơ chiến tranh và xung đột, khuyến khích xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranhhòa bình Tiến trình này mở ra thời kì mới với vai trò ngày càng quan trọngtrong quan hệ quốc tế nói chung và trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêngcủa các chủ thể phi nhà nước như các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế và đaphương APEC, WTO, IMF… Trong quá trình đó, Ấn Độ cũng không tránhkhỏi sức ép, chính sách áp đặt của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế khigia nhập với tư cách thành viên

Tóm lại, trước xu thế toàn cầu nói trên, tất cả các nước phải điều chỉnhchính sách để thích hợp với hoàn cảnh mới Quá trình toàn cầu hóa đã tác

Trang 24

động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của cộng hòa Ấn Độ, đặt

ra cho Ấn Độ những thách thức, trong đó có việc điều chỉnh chính sách đốingoại một cách phù hợp và hiệu quả

1.2 Bối cảnh trong nước

1.2.1 Thành tựu của công cuộc cải cách kinh tế ở Ấn Độ từ 1991 đến 2000

Từ khi giành độc lập, Ấn Độ đã xây dựng một nền kinh tế tự lập, tựcường với hai thành phần chính: khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân pháttriển trên cơ sở kế hoạch hoá với mục tiêu xây dựng nền kinh tế hoàn chỉnh,vững chắc

Từ những kế hoạch 5 năm đầu tiên, Ấn Độ tập trung phát triển côngnghiệp, chú trọng công nghiệp nặng, coi nông ngiệp là lĩnh vực quan trọng, lànguồn tích luỹ để phát triển công nghiệp; công nghiệp và nông nghiệp là hailĩnh vực then chốt của nền kinh tế và phát triển theo hướng tự lực cánh sinh;các ngành công nghiệp trong nước được bảo hộ cao để chống cạnh tranh từbên ngoài, khu vực nhà nước nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, có tráchnhiệm kiểm soát hoạt động kinh tế xã hội, đi đầu về khoa học kỹ thuật, tạo ravốn để đầu tư và phát triển, tạo công ăn việc làm cho nhân dân Nhưng đếnnhững năm 80 của thế kỉ XX, tình hình kinh tế của Ấn Độ đi vào khủnghoảng do mô hình kinh tế cũ đã mất đi vai trò là động lực để phát triển kinh

tế Đến cuối thập kỉ 80, Ấn Độ đã cố gắng thực hiện một số biện pháp điềuchỉnh quan trọng để vực dậy nền kinh tế nhưng do nhiều nguyên nhân những

cố gắng trên chưa mang lại những kết quả mong muốn

Về thương mại, Liên Xô là thị trường lớn thứ hai trong số các bạn hàngcủa Ấn Độ Hàng năm, Liên Xô đều dành một khoản tín dụng lớn thậm chíbán chịu hàng cho Ấn Độ, tính tới khi Liên Xô tan rã, Ấn Độ còn nợ Liên Xô

11 tỷ USD Do đó, khi Liên Xô tan rã, nền kinh tế trì trệ của Ấn Độ đã rơi vào

Trang 25

cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Mức tăng GDP sụt xuống còn 0,8% vàonăm tài chính 1991 - 1992, lạm phát dâng cao trên 13%, dự trữ ngoại tệ đếntháng 5/1991 chỉ còn khoảng 1 tỷ USD Đầu tư nước ngoài chỉ đạt trung bìnhkhoảng 100 triệu USD mỗi năm Cán cân thanh toán bị thiếu hụt lớn, Ấn Độkhông còn khả năng để trả lãi cho các khoản nợ nước ngoài là 70 tỷ đôla vàcác ngân hàng nước ngoài không chịu cho vay thêm nữa” [25;35]

Thủ tướng N.Rao đã phải nói: “Tình hình ngoại tệ gần như tuyệt vọng.Tình hình tài chính tồi tệ Chúng tôi đã đến mức như một nước vỡ nợ với Quỹtiền tệ quốc tế trong thời gian vài ngày” [25;35] Còn đối với người dân Ấn

Độ thì hậu quả trực tiếp mà họ phải gánh chịu từ cuộc khủng hoảng kinh tế là

sự tăng vọt của giá cả sinh hoạt, đặc biệt là những mặt hàng thiết yếu như gạo,rau quả, đường, sữa… Tình trạng này đã gây tâm trạng hoang mang, hoảngloạn trong dân chúng và trong một số bộ phận của chính tầng lớp lãnh đạo

Như vậy, cùng với những nhân tố khách quan, chính yêu cầu phát triển

và những nhưng khủng hoảng nội tại đã khiến cho Ấn Độ đang “đứng trước

bờ vực”, đã buộc Chính phủ Ấn Độ phải có những quyết sách, chuyển hướngkịp thời, mạnh mẽ về tất cả các mặt để thích ứng với tình hình mới và đáp ứngnhu cầu phát triển của đất nước

* Chính sách kinh tế và thành tựu của nó từ 1991 đến 2000

Tháng 6/1991, Đảng Quốc Đại dưới sự lãnh đạo của Naraximha Rao đãthắng cử Chính phủ mới của Thủ tướng N.Rao đã thực hiện một số cải cáchkinh tế theo cơ chế thị trường và tự do hoá, mở cửa, khuyến khích đầu tưnước ngoài… Mặc dù còn nhiều khó khăn, Chính phủ Ấn Độ đã từng bướcđưa đất nước thoát ra khỏi khủng hozngr và đạt được nhiều thành tựu

Nhờ thực hiện công cuộc cải cách kinh tế Ấn Độ đã thoát khỏi khủnghoảng và trì trệ năm 1991- 1992, đưa mức tăng trưởng GDP từ 0,8% năm1991- 1992 lên 6,7% trong những năm 1994- 1996, nhưng sau đó lại giảmxuống 4- 5% vào các năm 1997- 2000 [11;64]

Trang 26

Sự phục hồi và phát triển của nền kinh tế Ấn Độ những năm 90 trướchết là do những biện pháp tự do hoá nền kinh tế đã tạo nên một sung lực mớithúc đẩy nền kinh tế phát triển, làm tăng khả năng mở rộng quan hệ thươngmại và đầu tư Hiện nay Ấn Độ có khoảng trên 2,5 triệu công ty cỡ nhỏ cóvốn đầu tư ban đầu khoảng 6 triệu rupi

Về công nghiệp, tuy chú trọng bảo hộ sản xuất hàng hoá trong nướctheo đường lối Swadesshi, nhất là những ngành sản xuất nhỏ, song Ấn Độ vẫntiếp tục những cải cách giảm bớt thủ tục hành chính, giảm bớt các hạn chếtrong hàng rào thuế quan nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành côngnghiệp chủ chốt như khai thác chế biến dầu lửa và khí đốt tự nhiên, khai thác

và sử dụng than đá, chế tạo máy…, tiến hành sửa đổi bổ sung luật lao độngtrong công nghiệP.Về năng lượng, Ấn Độ xúc tiến việc cải thiện hệ thốngtruyền tải điện, xây dựng hai nhà máy nhiệt điện lớn, tăng thêm 80 000 MWđiện trong 10 năm, nhập hai lò phản ứng hạt nhân của Nga và xúc tiến đàmphán nhập lò phản ứng hạt nhân của Pháp phục vụ mụch đích dân sự, đàmphán với Bănglađet và Nêpan về dự án xây dựng đập thuỷ điện ở gần đầunguồn sông Hằng

Một trong những ngành công nghiệp giành được nhiều thắng lợi nhấtnhờ cải cách kinh tế ở Ấn Độ là ngành công nghiệp phần mềm Ngành này đãtăng doanh thu xuất khẩu khoảng 55%, đạt 6,2 tỷ USD trong tài khoá kết thúcvào tháng 3/2001.62% trong tổng doanh thu xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ

là sang Mỹ, 24% sang châu Âu sang năm 2002 doanh số xuất khẩu phầmmềm Ấn Độ đạt 8,7% tỷ USD, trong đó thị phần của Mỹ sẽ vẫn khoảng 60%,mặc dù có sự sa sút kinh tế Ấn Độ đang phấn đấu để trở thành một trung tâmcông nghệ thông tin của thế giới

Về nông nghiệp, Ấn Độ đã giảm bao cấp về phân bón, điều chỉnh lạiviệc phân bổ nguồn nhân lực cho các bang, bỏ hạn chế xuất khẩu nông sản,

Trang 27

cải thiện chế độ tín dụng và bảo hiểm cho nông dân, tự do hoá thị trườngnông nghiệp, giải quyết những đòi hỏi về gia tăng lương thực, thực phẩmthông qua việc tăng lao động và thu nhập, tăng năng suất và tăng hoạt độngkinh tế ở nông thôn, tăng gấp hai lần sản lượng lương thực, thực phẩm trong

10 năm, đạt 300 triệu tấn lương thực, đảm bảo đủ cung cấp cho dân số 1 tỷngười vào năm 2007, mỗi người dân dưới mức nghèo khổ được cấp 10kglương thực với giá giảm 50% Nhà nước đã tiến hành nhập nhiều mặt hàng,chịu lỗ, bán hạ giá để ổn định giá thị trường

Về khoa học kỹ thuật, Ấn Độ đã đạt được những thành tựu đáng khâmphục Sau nửa thế kỷ phát triển, Ấn Độ đứng hàng thứ ba trên thế giới (sau Mỹ,Nga) về đội ngũ các nhà khoa học được đào tạo trong nước Các nhà khoa học

Ấn Độ có nhiều cống hiến quan trọng, nổi bật trong các lĩnh vực công nghiệp,nông nghiệp, nhất là trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, chinh phục vũ trụ…Năm 1996, việc phóng thành công tàu phóng vệ tinh điạ tĩnh, Ấn Độ trở thànhmột trong sáu nước trên thế giới có khả năng phóng vệ tinh lên vũ trụ Năm2002.Ấn Độ có 7 vệ tinh nhân tạo đang hoạt động trong vũ trụ

Bước vào thế kỷ XXI, Ấn Độ đang phải đối mặt với những thách thứclớn, như tình trạng khủng bố qua biên giới, các cuộc xung đột tôn giáo trongnước Hi Chính phủ Ấn Độ đang hướng tới mục tiêu đưa đất nước có dân sốlớn thứ hai thế giới (với hơn 1 tỉ dân) phát triển nhanh, đẩy lùi nghèo đói, thấtnghiệp và trở thành một nước phát triển vào năm 2020

1.2.2 Những thách thức về chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng

Từ khủng hoảng kinh tế đã dẫn tới những biến động sâu sắc trong đờisống chính trị, xã hội ở Ấn Độ Đảng Quốc Đại bị mất quyền lãnh đạo trongcuộc bầu cử năm 1989 và sau đó Thủ tướng R Gandhi bị ám sát trong khiđang vận động tranh cử ở Sriperumbudurr vào ngày 21/5/1991.Sự khủnghoảng chính trị và khiến cho các chính phủ cầm quyền ở Ấn Độ trong hai năm

Trang 28

1989- 1991 như chính phủ của Đảng Janata Dal, Chính phủ của Thủ tướngP.V.Singh, Chính phủ của Thủ tướng C.Shekhar không có được những chínhsách phù hợp, kịp thời về mặt đối ngoại để hỗ trợ cho công cuộc khôi phụcđất nước

Có thể nói rằng, nếu như về mặt đối nội, tình trạng của Ấn Độ vào đầuthập kỉ 90 như lời của Thủ tướng N.Rao nói với giới báo chí là đã “đứngtrước bờ vực” thì về mặt đối ngoại có thể dẫn ra đây nhận xét của Thủ tướngR.Gandhi trước khi ông bị ám sát một ngày: “Trong 15 tháng qua, Ấn Độ đã

bị lu mờ như không thể còn tồn tại Chúng ta phải đảm bảo làm sao Ấn Độxuất hiện trở lại như một nước tiền tuyến” [14;45] Tất cả sự bất ổn chính trị

đó đòi hỏi Chính phủ của Thủ tướng N.Rao phải có được những quyết sáchđối ngoại và đối nội đúng đắn để xoay chuyển tình hình

Sự suy thoái của nền kinh tế và đấu tranh chính trị đã dẫn đến nhữngrối loạn nghiêm trọng về xã hội Những mâu thuẫn giữa các đẳng cấp, sắc tộc,cộng đồng, tôn giáo trong một đất nước Ấn Độ rộng lớn, đa dạng, phức tạpđến lúc này càng có điều kiện phát triển như: Bạo động đòi ly khai ở bangAssam (Đông Bắc), bang Kashmir, Punjap (phía Bắc); có hơn 60 000 ngườigốc Ấn Độ sống ở Tamin (Sri Lanka) đã tràn về tị nạn ở Ấn Độ và tiếp tụctăng do đòi quyền tự trị ở Sri Lanka chưa được giải quyết… vụ tự thiêu củacác thanh niên thuộc đẳng cấp trên của xã hội để phản đối đạo luật Mandalgiành 27% công ăn việc làm cho tầng lớp cùng khổ (Paria) của Chính phủ củaThủ tướng V P.Singh (1989- 1990) Sau Chiến tranh lạnh kết thúc, Ấn Độ đã

có những điều chỉnh trong các chính sách về kinh tế, chính trị, đối ngoạinhưng những mâu thuẫn trong xã hội vẫn tồn tại hết sức phức tạp Sự chênhlệch giàu ngèo, nạn thất nghiệp đang diễn ra phức tạp ở Ấn Độ Điều đóđang thúc đẩy các nhà lãnh đạo của Ấn Độ, tiến hành điều chỉnh chính sáchđối nội cũng như đối ngoại để đưa đất nước phát triển về kinh tế, ổn địnhchính trị - xã hội và vươn lên trở thành một cường quốc trên thế giới

Trang 29

Về an ninh - Quốc phòng: Mặc dù Ấn Độ đã sở hữu vũ khí hạt nhân, cómột lực lượng quân đội trên một triệu quân, nhưng vũ khí và phương tiệnchiến tranh của Ấn Độ đã lạc hậu so các nước lớn trên thế giới Những mâuthuẫn biên giới, lãnh thổ giữa Ấn Độ và Pakitan có phần bớt căng thẳngnhưng những phần tử khủng bố là mối đe dọa thường trực đối với dân thường

và các lực lượng an ninh của Ấn Độ Đặc biệt sự phát triển nhanh chóng củanền kinh tế Trung Quốc đã đưa nước này nhanh chóng có tham vọng trởthành một cường quốc về quân sự Việc Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư choquốc phòng ngày càng tăng và nhanh chóng bắt tay với nhiều nước ở Nam Ánhư: Pakistan, Bangladets, Xirilanca, Nepan và hiện diện ngày càng lớn ở khuvực Biển Đông đã làm cho Ấn Độ lo lắng bởi Ấn Độ đã nằm trong vòng vâycủa các nước thân Trung Quốc Vì thế Ấn Độ phải nhanh chóng thay đổi vềchiến lược để phát triển kinh tế đầu tư mạnh mẽ cho quốc phòng và điềuchỉnh chính sách đối ngoại đa dạng và linh hoạt hơn trước sự vươn lên mạnh

mẽ của Trung Quốc

Tóm lại, trước những bất ổn về chính trị,xã hội và những thách thức về

an ninh quốc phòng cùng với những nhân tố khách quan, chính yêu cầu pháttriển đất nước, đã buộc Chính phủ N.Rao phải có những quyết sách, chuyểnhướng kịp thời, mạnh mẽ về tất cả các lĩnh vực để thích ứng với tình hình mới

và đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước

1.2.3 Vai trò của Ấn Độ trong Phong trào Không liên kết

Người đầu tiên đưa ra khái niệm “Không liên kết” và coi đó là chínhsách là Thủ tướng Ấn Độ J Nehru Trong một bức thư mà Nehru đã gửi cho

Gen- Cariappa - người lãnh đạo quân đội Ấn Độ, ngày 5/5/1950 có nói: “Tôi

và Chính phủ của mình đã thể hiện rất rõ ràng chính sách đối ngoại của chúng ta, đó là không liên kết với bất cứ một khối quyền lực (Power bloc) nước lớn nào” [19;72] Ngày hôm sau, Nehru đã gửi thư cho Ngoại trưởng Ấn

Trang 30

Độ V.K Krishna Menon để nói với ông ta về những vấn đề quan trọng của

văn kiện trên để cho giới lãnh đạo quân sự biết về “chính sách không liên kết

Cuối những năm 40 đầu những năm 50, trước sự thắng lợi giòn giã củaphong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á,Phi, Mỹ latinh, các nước đế quốc thực dân tăng cường cấu kết, tập hợp đồngminh hòng “ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản” và đối phó với phong trào giảiphóng dân tộc Mỹ đã thành lập một loạt các khối quân sự như NATO,SEATO, ANZUS, CENTO… Trước nguy cơ độc lập chủ quyền của mình bị

đe doạ, các nước mới độc lập thấy cần thiết và cấp bách phải tìm ra nhữngnguyên tắc chỉ đạo mối quan hệ giữa các nước châu Á và châu Phi với nhau

và với các nước lớn

Tháng 4/1954, Nguyên thủ 5 nước Ấn Độ, Miến Điện, Xây Lan (nay làSri Lanka), Pakixtan và Inđônêxia họp tại Colombo (Sri Lanka) để thảo luậncác vấn đề quan tâm chung như: chống thực dân và phân biệt chủng tộc, chiếntranh lạnh, vấn đề thử vũ khí hạt nhân và hợp tác kinh tế Tại đây, Thủ tướngNehru đã tuyên bố rằng đa số các nước tham dự hội nghị theo đuổi chính sáchđối ngoại không liên kết Theo đề nghị của Inđônêxia, 5 nước này đã triệu tậpmột hội nghị các quốc gia độc lập như châu Á và châu Phi trong năm 1955

Trang 31

Sau đó 5 nước lại gặp nhau tại Bogor (Inđônêxia) vào tháng 12/1954 và quyếtđịnh Hội nghị Á- Phi sẽ họp tại thành phố Băng Đung của Inđônêxia từ ngày

18 đến 24/4/1955

Ngày 18/4/1955, hội nghị đoàn kết của nhân dân Á, Phi đã diễn ra tạiBăng Đung Tại hội nghị, những nguyên tắc của phong trào Không liên kết đãđược xác định và về sau trở thành đường lối, chính sách đối ngoại của đa sốcác quốc gia độc lập trẻ tuổi Các nước tham gia hội nghị đã nhất trí đề ramười nguyên tắc Băng Đung chỉ đạo quan hệ và an ninh quốc tế

Mười nguyên tắc được dùng làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của cácnước Á, Phi mới độc lập, đồng thời được dùng làm cơ sở cho những nguyên tắccủa Phong trào Không liên kết Không liên kết trên cơ sở chống chủ nghĩa đếquốc, thực dân, vì hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển kinh tế, là chính sách

cơ bản của Ấn Độ J Nehru nhiều lần nhấn mạnh rằng: “Không kiên kết”không phải là tập trung một cách thụ động, mà cần phải có thái độ rõ ràng trongcác vấn đề như chạy đua vũ trang, chính sách xâm lược của đế quốc

Mặc dù trong trong thời kì 1962 - 1971 vai trò của Ấn Độ suy giảm mạnh

mẽ sau một loạt các biến cố đối nội và đối ngoại, song về cơ bản Ấn Độ vẫn duytrì chính sách không liên kết và chống lại âm mưu của Mỹ dùng viện trợ kinh tế

và lợi dụng những khó khăn của Ấn Độ để lôi kéo Ấn Độ vào quỹ đạo chốngcác nước XHCN Ấn Độ vẫn tiếp tục cố gắng duy trì vai trò của mình tạiPhong trào Không liên kết qua các kỳ họp ở Cairo (1964) và Lusaka (1970)

Đến thời kỳ 1971- 1980, Ấn Độ vẫn tiếp tục phát huy vai trò quan trọngcủa mình trong Phong trào Không liên kết Ấn Độ cũng có lập trường ủng hộViệt Nam, lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam vàtích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ

Thời kỳ giữa những năm 1980 - 1991, những biến động vô cùng to lớntrên thế giới đã tác động mạnh mẽ Phong trào Không liên kết Sự sụp đổ của

Trang 32

chế độ chủ nghĩa XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã có ảnh hưởng tolớn đến sự hoạt động của phong trào Vị thế của Ấn Độ với tư cách là mộttrong những nước lãnh đạo của Phong trào Không liên kết cũng bị suy giảmtrên trường quốc tế

Có thể nói, đóng góp lớn nhất của Ấn Độ cho lịch sử quan hệ quốc tếthời kì Chiến tranh lạnh là đã sáng tạo nên một con đường đi mới - con đườngkhông liên kết trong trật tự thế giới hai cực và chiến tranh lạnh Với nhữnghoạt động tích cực, năng động, trong thời kì chiến tranh lạnh Ấn Độ đã nổilên với tư cách là lãnh tụ của các nước thế giới thứ ba, có một tiếng nói cótrọng lượng và một vị trí được nể trọng trên trường quốc tế

Nhận xét sau đây về vị trí quốc tế của Nehru, vị Thủ tướng đầu tiên vàcũng là người sáng lập nên nước Cộng hoà Ấn Độ có thể coi là đại diện cho vị

thế quốc tế của Ấn Độ thời kì này: “Với vai trò là trụ cột của ông trong

Phong trào Không liên kết, với tư cách là người đại diện cho lợi ích quốc gia của Ấn Độ, Nehru đã được đón tiếp tại Matxcơva, Oasinhtơn và châu Âu như một đồng minh bình đẳng, được đánh giá cao và được công nhận ngay cả khi những luận điểm của ông không thể chấp nhận được Như vậy ông đã góp phần vào việc khẳng định và mở rộng không những chính sách của quốc gia

Ấn Độ mà cả chính sách không liên kết nói chung” [21; 34]

Sau Chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới đã có nhiều thay đổi.Vai trò của Phong trào Không liên kết mờ nhạt dần, buộc các nước phải điềuchỉnh chính sách đối ngoại linh hoạt hơn, phù hợp với tình hình mới

1.2.4 Tổng quan về quan hệ của Ấn Độ với Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc trong chiến tranh lạnh và những yêu cầu đặt ra sau chiến tranh lạnh

* Đối với Mỹ: Sự không tương hợp về chiến lược toàn cầu của Mỹ quy

định mâu thuẫn sâu sắc giữa nước này với Ấn Độ, một quốc gia vừa mới giànhđược độc lập và đi theo con đường không liên kết Mâu thuẫn đó biểu hiện trong

Trang 33

sự khác nhau căn bản về quan điểm đối với những vấn đề phát triển quốc tế quantrọng nhất, mà cụ thể là vấn đề chiến tranh và hoà bình, giải trừ quân bị, giảiquyết xung đột trên thế giới, cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia có chế độ

xã hội khác nhau, chủ nghĩa thực dân cũ, trật tự kinh tế thế giới mới

Do vậy, trong suốt bốn thập kỉ của thời kì Chiến tranh lạnh, mối quan

hệ Ấn - Mỹ hầu như luôn trong tình trạng hoặc lạnh lẽo hoặc căng thẳng,những thời điểm cải thiện hầu như không đáng kể Tuy quan hệ chính trịkhông suôn sẻ, nhưng về kinh tế, Ấn Độ vẫn coi Mỹ là đối tác số một, một thịtrường lớn không bỏ qua Vì vậy chính sách của Ấn Độ với Mỹ là vừa đấutranh vừa hợp tác, giữ mối quan hệ lâu dài

Ngay từ ngày đầu độc lập, Ấn Độ rất cần đến tài chính, kỹ thuật để pháttriển công, nông nghiệP.Mỹ là nước duy nhất có thể giúp Ấn Độ về kinh tế vìlúc này nhiều người ở Ấn Độ cho rằng, Liên Xô sẽ không viện trợ cho mộtnước không cộng sản Về phía Mỹ, trong những năm đầu tiên sau chiến tranh,

Mỹ đã theo đuổi mục đích thâm nhập kinh tế vào Ấn Độ và nắm chặt thịtrường nước này Ngoài ra, Mỹ còn bắt đầu nghiên cứu khả năng sử dụng Ấn

Độ như một điểm ngăn chặn sự thức tỉnh của châu Á do thất bại không thểtránh khỏi của Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc Đi xa hơn, Tổng thống Mỹ

H Truman mời Thủ tướng J Nehru thăm Mỹ Ngày 11/10/1949, Thủ tướngNehru đã đi thăm Mỹ Trong thời gian ở Mỹ, Nehru đã hội đàm với Tổngthống Truman, cố vấn quốc gia Achesson… song không đạt được kết quảđáng kể Lý do là Mỹ còn thiếu tin tưởng về sự ổn định nội bộ ở Ấn Độ và bởiNehru không muốn nhận bất cứ một trách nhiệm chính trị, quân sự cụ thể nàotrước Mỹ

Từ những năm 50 trở đi, xu hướng thân Liên Xô của Ấn Độ cũng nhưvai trò ngày càng tăng của Ấn Độ trong các nước thế giới thứ ba với tư cách

là trụ cột của Phong trào Không liên kết đã làm cho quan hệ Ấn - Mỹ ngày

Trang 34

càng trở nên băng giá Sau chiến tranh biên giới Ấn - Trung (1962), Ấn Độtìm đến sự hợp tác quân sự hạn chế với Mỹ Tuy nhiên, Mỹ đã không đạtđược việc dùng quân sự trói buộc nước này vào một liên minh quân sự, khôngđặt được một căn cứ quân sự nào trên đất Ấn Độ

Từ giữa thập kỉ 60, Ấn Độ lên án cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,

không chấp nhận chính sách “dùng người châu Á đánh người châu Á” của Mỹ

và kí với Liên Xô Hiệp định Hoà bình, Hữu nghị và Hợp tác (tháng 8/1971).Những hành động này của Ấn Độ được coi là những thách thức đối với chiếnlược toàn cầu của Mỹ Năm 1971 được coi là năm quan hệ Ấn - Mỹ xuống tớimức thấp nhất Tình trạng căng thẳng này kéo dài trong suốt thời kì cầmquyền của Đảng Quốc Đại I do bà I Gandhi đứng đầu (đầu năm 1977)

Trong khoảng hai năm từ tháng 3/1977 đến cuối năm 1979, ĐảngJanata lên cầm quyền thay thế Đảng Quốc Đại I Với khuynh hướng thân hữucủa những người lãnh đạo mới, chính quyền Janata đã ra sức thực hiện chínhsách không liên kết “thực sự” tức là điều chỉnh lại thế đứng của Ấn Độ trongquan hệ với Liên Xô và Mỹ cho “cân bằng” hơn vì họ cho rằng chính quyềntrước đó đã quá nghiêng về phía Liên Xô Bằng cách này, chính quyền Janatamuốn gây một ấn tượng đối với Mỹ và Trung Quốc trong cách nhìn nhận của

họ về Ấn Độ, hạn chế chính sách của Mỹ và Trung Quốc kiềm chế Ấn Độbằng cách lấy Pakixtan làm đối trọng đối với Ấn Độ trong khu vực này

Từ tháng 1/1980, Đảng Quốc Đại I trở lại cầm quyền, tiếp tục phát huychính sách đối ngoại tích cực của mình Chính phủ của bà I Gandhi đã giữvững lập trường nguyên tắc trong vấn đề Campuchia và Apganistan, tỏ thái

độ dứt khoát đối với những vấn đề liên quan đến an ninh và ổn định trong khuvực (Nam Á, Ấn Độ Dương) Đặc biệt, việc Ấn Độ công nhận chính quyền cáchmạng ở Campuchia đã làm cho Mỹ khó chịu và có những hành động trả đũa:đánh thuế từ 15% - 20% các mặt hàng xuất khẩu của Ấn Độ sang Mỹ, đơn

Trang 35

phương ngừng thực hiện hiệp định cung cấp nhiên liệu hạt nhân cho nhà máyTarapurr của Ấn Độ nhằm ép Ấn Độ kí vào hiệp ước cầm phổ biến vũ khí hạt

nhân mà Ấn Độ coi là “không công bằng và phân biệt đối xử”, cản trở việc Ấn

Độ vay tiền các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới Vì vậy, năm 1981 đượccoi là năm quan hệ Ấn - Mỹ xuống đến mức thấp nhất kể từ năm 1971

Tuy nhiên, cả Ấn Độ và Mỹ đều thấy rằng không thể để tình trạng nàykéo dài mà phải có những bước cần thiết để cải thiện quan hệ Đó là lí dokhiến Thủ tướng Ấn Độ Rajiv Gandhi đã có nhiều hoạt động nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho việc cải thiện quan hệ Ấn - Mỹ mà bà I Gandhi đã khởiđầu: bãi bỏ một loạt hạn chế trong lĩnh vực kinh tế, mở rộng khu vực kinh tế

tư nhân R Gandhi có chuyến thăm Mỹ vào tháng 6/1985 Tuy còn nhiều bấtđồng về chính trị, chuyến đi thăm của R Gandhi đã làm bầu không khí quan

hệ Ấn - Mỹ trở nên tốt hơn

Từ giữa những năm 80, Mỹ trở thành bạn hàng thứ hai của Ấn Độ (sauLiên Xô), nhưng lại đứng đầu về khối lượng viện trợ, là nguồn vay chủ yếuthông qua ngân hàng thế giới (WB), đứng đầu thứ hai sau Anh về khối lượngđầu tư tư nhân cho các công ty ở Ấn Độ Đến năm 1988- 1989, Mỹ đã vượt Liên

Xô và trở thành bạn hàng chính của Ấn Độ Sau chiến tranh lạnh kết thúc, TrungQuốc đang nổi lên với tốc độ phát triển kinh tế rất cao, điều này đã đặt ra cho cả

Ấn Độ và Mỹ những vấn đề hợp tác với nhau nhiều hơn Mục đích của Mỹ làmuốn Ấn Độ trở thành đối trọng của Trung Quốc ở khu vực châu Á Thái BìnhDương, mặc dầu dang còn nhiều quan điển bất đồng, nhưng chắc chắn trongtương lai mối quan hệ giữa Mỹ và Ấn Độ sẽ xích lại gần nhau hơn

Chiến tranh lạnh kết thúc, vai trò của Ấn Độ trong phong trào khôngliên kết giảm sút Pakitan không được Mỹ quan tâm nhiều như thời kỳ đối đầuvới Liên Xô Ấn Độ đã có những chính sách mềm dẻo hơn trong chính sáchđối ngoại với các nước lớn Mỹ cũng thấy được Ấn Độ là một thị trường tiềmnăng trên tất cả các lĩnh vực Vì thế Mỹ đã có cách nhìn mới về Ấn Độ

Trang 36

Có thể nói, quan hệ Ấn - Mỹ trong Chiến tranh lạnh không phải là kẻthù nhưng cũng chưa bao giờ là phát triển đến mức thân thiện và tin cậy lẫnnhau Chiến tranh lạnh kết thúc mối quan hệ ấy đang dần dần được cải thiện

và nhanh chóng đi vào quỹ đạo hợp tác để cùng phát triển

* Đối với Liên Xô: Ấn Độ và Liên Xô là hai nước tuy không có chung

về lịch sử, văn hoá nhưng lại có nhiều điểm gần gũi về mục tiêu và tư tưởngnhư: chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bảo vệhoà bình trên thế giới Xuất phát từ mục tiêu và tư tưởng này đã đưa hai nướcđến gần nhau hơn Liên Xô và Ấn Độ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giaovào tháng 4/1947 Tuy nhiên mối quan hệ giữa hai nước ban đầu có những

hạn chế, do Liên Xô từng coi Ấn Độ là “công cụ của chủ nghĩa Anh - Mỹ”

Sau khi Stalin qua đời vào năm 1953, Liên Xô bày tỏ mong muốn thiếtlập quan hệ hữu nghị với Ấn Độ Mong muốn này càng được thúc đẩy sau khiLiên Xô quyết định mở rộng ảnh hưởng quốc tế của mình cũng như kết giaovới những quốc gia mới độc lập và không liên kết ở châu Á, châu Phi Ấn Độmuốn kết giao với Liên Xô để kiềm chế Trung Quốc và Pakixtan, nhất làtrong vấn đề tranh chấp biên giới Hơn nữa, Ấn Độ đang rất cần sự giúp đỡcủa Liên Xô để phát triển các ngành công nghiệp, cũng như mua vũ khí vớigiá ưu đãi của Liên Xô

Sau hội nghị Băng Đung (1955), sự thành lập Phong trào Không liênkết (1961) mà Ấn Độ là một trong những nước sáng lập và đóng vai trò to lớntrong quá trình phát triển Từ đây, mối quan hệ Xô- Ấn ngày càng được củng

cố, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô để đối phó sức ép của chủ nghĩa đế quốc

và giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong nước Liên Xô thường hậuthuẫn Ấn Độ về lập trường của nước này đối với vùng đất Kashmir (khu vựctranh chấp giữa Ấn Độ và Pakixtan)

Các nhà lãnh đạo Liên Xô đã tán thành chính sách đối ngoại của Ấn

Độ và ủng hộ quan điểm chống Pakixtan của Ấn Độ đối với vấn đề Kashmir

Trang 37

Liên Xô cũng ủng hộ quan điểm chống Bồ Đào Nha của Ấn Độ về vấn đềđảo Goa, khu vực từng được hợp nhất về mặt lãnh thổ vào Ấn Độ tháng2/1961 sau khi Ấn Độ sử dụng vũ lực (Goa đã trở thành quốc gia độc lập vàotháng 5/1987)

Ngoài ra, Nehru đã thuyết phục được Liên Xô có thái độ trung lập vớinhững tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc vào năm 1962.Trongcuộc chiến tranh giữa Ấn Độ và Pakixtan vào năm 1965, Liên Xô và Mỹ với tưcách là thành viên thường trực tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc góp phầnmang lại một hiệp định ngừng bắn cho hai nước Ngày 10/1/1966, Chủ tịchHĐBT Liên Xô A N Kosygin đã chủ trì các cuộc đàm phán ở Tashkent nhằmtìm ra giải pháp ổn định tình hình trong cuộc chiến giữa Ấn Độ và Pakixtan

Giai đoạn nồng ấm nhất trong quan hệ Ấn - Xô là khoảng thời gian1971- 1976, đỉnh cao là Hiệp ước Hoà bình, Hữu nghị và Hợp tác 20 năm được

kí kết vào thánh 8/1971.Theo các điều khoản 8, 9 và 10 của Hiệp ước này, haibên cam kết “tránh cung cấp hỗ trợ cho một bên thứ ba mà đang chống đối bêncòn lại” và “trong trường hợp Liên Xô và Ấn Độ bị đe doạ hay tấn công… thìngay lập tức hai bên sẽ tiến hành các cuộc tham vấn chung” [40,32]

Rajiv Gandhi đã công du tới Liên Xô vào những năm 1985, 1986, 1987

và 1989 Còn Chủ tịch M Gorbachev cũng đã thăm Ấn Độ vào các năm 1986

và 1988 Các chuyến thăm này và những chuyến thăm của những quan chứccấp cao khác đã khẳng định quan hệ hữu nghị nồng ấm giữa hai nước và cũng

đã đạt được các hiệp định về tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá và khoa học

kỹ thuật Trong năm 1985 và 1986, cả hai nước đã kí các hiệp ước nhằm đẩymạnh thương mại song phương cũng như thúc đẩy đầu tư và hỗ trợ kĩ thuậtcủa Liên Xô cho các dự án giao thông vận tảỉ và công nghiệp của Ấn Độ.Trong năm 1985 và 1988, Liên Xô đã cho Ấn Độ vay thêm 1 tỷ rúp và 3 tỷrúp (tổng số khoảng 2,4 tỷ USD) để giúp Ấn Độ mua hàng hoá và máy móc

Trang 38

của Liên Xô Các nghị định thư về hợp tác khoa học kỹ thuật được kí kết vàonăm 1985 và 1987, cung cấp khung pháp lý để hai nước tiến hành những dự

án nghiên cứu chung trong khoa học vũ trụ và trong các lĩnh vực công nghệcao khác như máy tính và kỹ thuật lade

Đối với Liên Xô, họ không những bán được số lượng lớn vũ khí cho Ấn

Độ mà còn lôi kéo được Ấn Độ về phía mình, không để Ấn Độ trở thành sânsau của Mỹ Sau khi Liên Xô can thiệp vào Apganixtan, các nhà ngoại giao Ấn

Độ tránh dùng những ngôn từ chỉ trích hay đưa ra bất cứ nghị quyết nào trựctiếp phê phán Liên Xô, bởi Ấn Độ không muốn gây bất hoà với Liên Xô

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Mối quan hệ giữa Liên Bang Nga và

Ấn Độ có những bước thăng trầm do cả hai nước đều gặp khủng hoảng khinền kinh tế dần dần hồi phục thì mối quan hệ giữa hai nước hồi phục nhanhchóng và từng bước được nâng lên ở tầm chiến lược

Tóm lại, Liên Xô và Ấn Độ đã duy trì quan hệ chiến lược thời kỳ chiếntranh lạnh Quan hệ chiến lược gần gũi là lựa chọn đúng đắn của lãnh đạo hainước dựa trên tình hình quốc tế và yêu cầu về mặt an ninh của hai nước khi

đó Tuy nhiên, chiến tranh lạnh kết thúc cùng với nó là sự sụp đổ của Liên Xô

đã gây lên những biến động lớn tới Ấn Độ, một nước dù chủ trương khôngliên kết nhưng trên thực tế lại có quan hệ gắn bó và chịu nhiều ảnh hưởng củaLiên Xô Những thách thức đang đặt ra cho cả hai nước đó là phải nhanhchóng phục hồi và phát triển kinh tế, đẩy mạnh quan hệ hợp tác, điều chỉnhchính sách đối ngoại đa phương hơn

* Đối với Trung Quốc: Quan hệ ngoại giao Ấn Độ - Trung Quốc được

chính thức thiết lập từ ngày 1/4/1950, đến nay đã gần 60 năm Hơn nửa thế kỉ qua,hai quốc gia khổng lồ ở châu Á đồng tác giả của 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoàbình nổi tiếng đã trải qua những thăng trầm trong mối quan hệ giữa hai nước

Kể từ khi Ấn Độ giành được độc lập cho tới năm 1958, tức là trongkhoảng 10 năm, quan hệ Ấn - Trung là khá tốt đẹP.Ấn Độ là một trong những

Trang 39

nước đầu tiên trong số các nước không phải là XHCN công nhận nước Cộnghoà nhân dân Trung Hoa (30/12/1949) và thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủvới Trung Quốc Sau khi công nhận nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Ấn

Độ đã kiên định ủng hộ Trung Quốc trên trường quốc tế: ủng hộ Trung Quốcđược có đại diện trong các tổ chức quốc tế, trước hết là Liên Hợp Quốc, thaythế vị trí của Đài Loan, ủng hộ việc trả lại Đài Loan cho Trung Quốc, côngnhận quyền của Trung Quốc đối với Tây Tạng Sự kiện quan trọng nhất đốivới mối quan hệ giữa hai nước cũng như đối với mối quan hệ quốc tế vàonhững năm 50 là Ấn Độ đã cùng với Trung Quốc đưa ra 5 nguyên tắc chungsống hoà bình nổi tiếng vào năm 1954

Quan hệ tốt đẹp giữa hai nước chưa được bao lâu, ngày 10/3/1959, ởthủ phủ Lasha (Tây Tạng) đã xảy ra biến loạn của một số phần tử quá khích,Trung Quốc bị Ấn Độ phê phán là có hành động “can thiệp vũ trang” vào khuvực này Ngày 31/3, Đạt Lai Lạt Ma trốn sang Ấn Độ, được Nehru tiếp đón.Trung Quốc có phản ứng kịch liệt với việc này, làm cho quan hệ hai nước trởnên căng thẳng Những mâu thuẫn biên giới giữa hai nước do vậy cũng bùng

nổ, đỉnh điểm là xung đột vũ trang ác liệt lại xảy ra trên biên giới hai nướcvào tháng 10/1962

Trong suốt 10 năm (1959 - 1968), quan hệ Trung - Ấn trở nên trì trệ, bănggiá Tiến trình tìm kiếm bình thường hoá cũng tiến triển rất chậm chạp cónguyên nhân chủ quan của hai nước, đồng thời còn chịu ảnh hưởng bối cảnhquốc tế cũng như ở khu vực Nam Á tác động, như chiến tranh Ấn Độ - Pakixtan,vấn đề Campuchia, Hiệp ước Hợp tác- Hoà bình- Hữu nghị Ấn- Xô

Từ đầu thập kỉ 70, sau khi kí Hiệp định Hoà bình, Hữu nghị và Hợp tácvới Liên Xô, để tránh ấn tượng “quá ngả vào Liên Xô” [25;169] và với mongmuốn có một môi trường ổn định ở châu Á, Ấn Độ đã bày tỏ mong muốn cảithiện mối quan hệ với Trung Quốc và Mỹ Về phía Trung Quốc, trước xu

Trang 40

hướng hoà dịu phần nào trên thế giới cũng như ở khu vực Nam Á, nhất là saukhi Trung Quốc cùng với Mỹ ra Thông cáo Thượng Hải 1972 cũng có một sốđộng thái đáp lại mong muốn bình thường hoá quan hệ của Ấn Độ Với những

nỗ lực từ hai phía, đặc biệt là từ phía Ấn Độ, cho nên mặc dù còn nhiều vấn

đề còn chưa được giải quyết nhưng đến tháng 4/1976 cả hai nước đã cùngthoả thụân được vấn đề khôi phục đại diện ngoại giao ở cấp đại sứ sau 15 nămgián đoạn

Sau khi khôi phục quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước tiếp tục cónhững bước cải thiện: hai bên tăng cường trao đổi các đoàn ngoại giao, báochí, nối lại quan hệ kinh tế, thương mại Năm 1985, Ấn Độ đã có một bướctiến có tính chất đột phá trong mối quan hệ với Trung Quốc Đó là chuyếnviếng thăm Trung Quốc của Thủ tướng Rajiv Gandhi từ ngày 19 đến23/12/1988 Năm ngày ở Bắc Kinh, Thủ tướng R Gandhi đã 4 lần hội đàmvới Thủ tướng Lý Bằng và gặp gỡ Đặng Tiểu Bình Hai bên nhất trí cho rằng

5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình cần được coi là cơ sở quan trọng trongquan hệ quốc tế và xây dựng một trật tự chính trị- kinh tế quốc tế mới Trên

cơ sở đó khôi phục, cải thiện và phát triển quan hệ láng giềng Trung - Ấn, haibên còn quyết định thành lập nhóm cộng tác liên hợp về biên giới để từngbước giải quyết những vấn đề do lịch sử để lại

Sau Chiến tranh lạnh kết thúc nhiều thách thức đặt ra cho hai nước đó

là vấn đề ổn định chính trị, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mở rộng quan

hệ đối ngoại, củng cố an ninh quốc phòng Xu thế toàn cầu hoá, đa phươnghoá, đang buộc các nước này phải có những thay đổi về chiến lược phát triểnđất nước Mặc dù còn có những bất đồng, những mâu thuẫn, những tranhchấp về lãnh thổ, khu vực ảnh hưởng, về thương mại nhưng cả hai nước đangbắt tay nhau đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế

Như vậy, đối với các nước lớn Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, mặc dù thựchiện chính sách không liên kết, nhưng xuất phát từ những đặc điểm lịch sử -

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w