Phương pháp dạy học tích cực Phương pháp dạy-học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của người học; nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN TUẤN KIỆT
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CHO
HỌC SINH THCS
LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC
VINH – 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào khác.
NGUYỄN TUẤN KIỆT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa đào tạo Sau đại học, khoa Vật líTrường Đại học Vinh, Ban giám hiệu trường THCS Tân Khánh Đông, Thị xã Sa Đéc,Tỉnh Đồng Tháp, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, triểnkhai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộ hướng dẫn khoa học
PGS.TS Mai Văn Trinh đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và
hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, đồng nghiệp
và bè bạn đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và triển khai thực hiện
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU -1
CHƯƠNG I -5
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI -5
1.1 Cơ sở lý luận -5
1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu -5
1.1.2 Định hướng đổi mới PPDH VL ở trường THCS -7
1.2 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lý -8
1.2.1 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh -8
1.2.2 Tích cực hóa hoạt động nhận thức. -13
1.2.3 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức. -15
1.2.4 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THCS -16
1.2.4.1 Đặc điểm của HS THCS, học sinh lớp 7 -16
1.2.4.2 Biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THCS -17
1.2.5 Vai trò của CNTT trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS -19
1.3 BGĐT -21
1.3.1 Khái niệm BGĐT -21
1.3.2 Cấu trúc BGĐT -22
1.3.3 Các loại BGĐT -23
1.3.4 BGĐT với việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS -23
1.3.5 Thiết kế BGĐT theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.-25 1.3.6 Những ưu điểm và nhược điểm của việc giảng dạy bằng BGĐT -29
Trang 61.4 Thực trạng của việc sử dụng BGĐT vào việc dạy và học ở trường THCS -31 Kết luận chương I -32
Trang 7THIẾT KẾ BGĐT CHƯƠNG “QUANG HỌC” VẬT LÝ 7 THEO HƯỚNG TÍCH
CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH THCS -34
2.1 CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH CHƯƠNG “QUANG HỌC” VẬT LÝ LỚP 7- 34 2.1.1 Cấu trúc lôgic của chương “Quang học” -34
2.1.2 Mục tiêu dạy học chương “Quang học” -34
2.2 Thực trạng việc dạy và học chương “Quang học” -35
2.2.1 Thực trạng việc giảng dạy của giáo viên. -35
2.2.2 Thực trạng việc học tập chương “Quang học” của học sinh. -36
2.3 Sự hỗ trợ của Internet vào thiết kế BGĐT. -37
2.4 Thiết kế một số BGĐT chương “Quang học” -38
2.4.1 Kho dữ liệu số hỗ trợ thiết kế BGĐTchương “Quang học” VL lớp 7 -38
2.4.2 Thiết kế một số BGĐT chương “Quang học” -43
Kết luận chương II -66
CHƯƠNG III -68
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM -68
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm -68
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm -68
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm -69
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm -69
3.4.1 Tiêu chí đánh giá -69
3.4.2 Đánh giá về tiến trình dạy học thông qua BGĐT -70
3.4.3 Đánh giá kết quả học tập của HS -71
Trang 8KẾT LUẬN -77 TÀI LIỆU THAM KHẢO -80
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UWcủa Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục
vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục
là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáodục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dụcgiai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg Đất nước ta đang trong quá trình CNH – HĐH, để thực hiện được mục tiêu giáo dục
là đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệphóa hiện đại hóa đất nước, nền giáo dục nước nhà đang trong quá trình đổi mới nội dung,phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Việc sửdụng CNTT vào việc hỗ trợ cho giáo viên trong việc sử dụng các phương pháp dạy họctích cực đang được quan tâm hàng đầu, năm học 2008-2009 Bộ giáo dục và đào tạo xácđịnh là năm ứng dụng CNTT trong dạy học để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạythực hiện được mục tiêu của ngành
Đối với môn vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, từ những hiện tượng, sự vậttrong cuộc sống, thí nghiệm ….từ đó người giáo viên giúp cho học sinh tìm thấy, tích lũynhững kiến thức vào kho tàng kiến thức của mình từ đó dần dần hình thành và phát triểnnhân cách của mình Từ đó ta thấy việc hướng học sinh vào việc quan sát các hiện tượng,
sự vật trong cuộc sống, thực hiện được các thí nghiệm … quyết định sự thành công củaviệc giảng dạy Tuy nhiên, không phải hiện tượng nào học sinh cũng quan sát thấy được,thí nghiệm nào cũng thực hiện được …từ đó ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức của họcsinh
Chương “Quang học” VL lớp 7 THCS là một điển hình các khó khăn tôi gặp phải,chương này có một vị trí quan trọng trong chương trình VL THCS
Xuất phát từ thực tiễn dạy học trên để khắc phục các khó khăn trên, thực hiện tốt
việc giảng dạy chương “Quang học” này tôi quyết định nghiên cứu đề tài "Thiết kế
BGĐT theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức cho học sinh THCS"
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trang 10Thiết kế một số BGĐT chương “Quang học” VL lớp 7 theo hướng tích cực hoáhoạt động nhận thức của học sinh và sử dụng chúng nhằm nâng cao chất lượng dạy học
VL trường THCS
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế BGĐT theo hướng tích hóa hoạt động nhận thức của học sinhTHCS và sử dụng một cách hợp lí trong dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạyhọc VL nói chung, chương “Quang học” VL lớp 7 nói riêng
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các tài liệu đề cập đến các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhậnthức của học sinh
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng MVT trong DHVL ở trường phổthông
Nghiên cứu chương trình, SGK, chuẩn kiến thức kỹ năng chương “Quang học”
VL lớp 7 THCS
Tìm hiểu thực trạng sử dụng MVT trong DHVL ở trường THCS
Soạn thảo các BGĐT cho một số bài học cụ thể ở chương “Quang học” VL lớp 7THCS
Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả của QTDHVL nhờ sự hỗtrợ của MVT với BGĐT
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 116.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu lý luận về những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại
Nghiên cứu các tài liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học tích cực hóahoạt động nhận thức học sinh,
Nghiên cứu các tài liệu dạy học nhằm tăng cường tính tích cực trong hoạt độngnhận thức của học sinh
Nghiên cứu cơ sở lí luận của BGĐT trong dạy học vật lý
Nghiên cứu chương trình, SGK, sách bài tập và sách tham khảo để phân tích cấutrúc logic, nội dung kiến thức của chương “Quang học” ở vật lý 7
6.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức TNSP có đối chứng nhằm kiểm tra đánh giá hiệu quả của việc sử dụngBGĐT đã thiết kế vào dạy học
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý kết quả TNSP bằng thống kê toán học Qua đó kiểm tra giả thuyết khoa học
7.2 Về mặt thực tiễn
Tập hợp kho tài nguyên gồm các thí nghiệm mô phỏng nhằm trực quan hóachuyển động các hành tinh quanh mặt trời, giải thích các hiện tượng vật lí trong tựnhiên
Xây dựng được 3 BGĐT gồm 1 bài truyền thụ kiến thức mới, 1 bài Tổng kếtchương “Quang học” VL lớp 7 THCS và 1 bài ngoại khóa “Tìm hiểu về hiện tượngnhật thực và nguyệt thực”
Luận văn sẽ là tài liệu bổ ích giúp GV có thể vận dụng để thiết kế BGĐT, khaithác khả năng hỗ trợ của nó trong dạy học vật lý ở trường THCS và có thể vận dụngdạy học cho các bộ môn khác
Trang 128 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG (gồm 3 chương)
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Thiết kế BGĐT chương “Quang học” VL lớp 7 theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học THCS
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN
Trang 13Theo báo cáo tổng kết của UNESCO (2004), việc triển khai tích hợp CNTT vàotrường học thông qua các dự án thí điểm như trường học thông minh tại một số nướcChâu Á (Malaysia, Philipines, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,….) đã đem lại kết quảbước đầu rất khả quan, giúp phát triển tư duy học sinh.
Ở Việt Nam, đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa,thành quả bước đầu của quá trình công nghiệp hóa đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng cácthành tựu của CNTT trong quá trình giáo dục và đào tạo.Việc ứng dụng CNTT hỗ trợtrong dạy học ở nước ta trong những năm qua đã đem lại kết quả rất khả quan
Xác định tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT và Internet đối với việc dạyhọc, trong những năm gần đây nền Giáo dục nước ta đã được Đảng và Nhà nước quantâm đặc biệt trong việc đổi mới nội dung chương trình SGK phổ thông Bên cạnh nhiều
dự án thay SGK, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, đổi mớigiáo dục phổ thông, hàng năm nhà nước còn đầu tư một lượng ngân sách lớn cho việctrang bị cơ sở vật chất sư phạm – thiết bị dạy học phục vụ dạy học Trong những thiết
bị dạy học hiện nay, ngoài các loại hình thiết bị dạy học truyền thống như tranh ảnhgiáo khoa, bản đồ giáo khoa … thì MVT là một loại phương tiện dạy học hiện đạikhông thể thiếu ở mỗi trường phổ thông Hiện nay rất nhiều trường đã có phòng máy
Trang 14riêng, được kết nối Internet phục vụ cho việc giảng dạy và nhiều trường đã có trangWeb riêng của trường.
Sự phát triển CNTT đã hỗ trợ đáng kể cho việc đổi mới phương pháp dạy học,
sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, các phần mềm ngày càng nhiều đã được sửdụng trong việc xây dựng các bài giảng Trong các thiết bị dạy học hiện nay, ngoài cácthiết bị dạy học truyền thống như tranh ảnh giáo khoa, bản đồ giáo khoa, mô hình mẫuvật,… thì MVT là một loại phương tiện kỹ thuật DH hiện đại không thể thiếu ở mỗitrường phổ thông Các dự án phát triển giáo dục về ứng dụng CNTT trong dạy học nóichung và dạy học vật lý nói riêng đang được Bộ Giáo Dục và Đào tạo triển khai trêntoàn quốc, năm 2008-2009 Bộ giáo dục xác định là năm ứng dụng CNTT trong dạy học
và đến nay cuộc phát động nói trên bước đầu đạt được những thành tựu đáng kể
Một trong các hình thức ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học là việc sử dụngcác BGĐT, theo các chuyên gia UNESCO Pari, chuyên gia UNESCO Bangkok thìBGĐT đã được thiết kế và sử dụng từ 10 năm trước đây ở các trường từ bậc TH,THCS, THPT của một số nước Châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới Ở ViệtNam vấn đề ứng dụng CNTT trong DH đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu củacác tác giả: Mai Văn Trinh, Nguyễn Quang Lạc, Phan Gia Anh Vũ, Nguyễn XuânThành, Trần Huy Hoàng, Phan Thị Kim Dung, Lê Thị Thúy Vinh, Nguyễn Ngọc LêNam, Nguyễn Thị Hoàng Vinh, Lê Văn Đủ, v.v đã công bố Ở Việt Nam ta thì BGĐTchỉ được thiết kế và sử dụng ở một vài trường phổ thông từ những năm 2003 trở lạiđây Hiện nay việc sử dụng BGĐT này đã trở nên rất phổ biến ở hầu hết các trường từbậc TH, THCS đến THPT Tuy nhiên việc khai thác sử dụng MVT trong dạy học ở cáctrường phổ thông là rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và trình độgiáo viên
Việc sử dụng MVT trong dạy học bằng BGĐT đã chứng tỏ những ưu việt của
nó, so với phương tiện dạy học chỉ có bảng đen, phấn trắng và tranh giáo khoa… thìviệc thiết kế nội dung bài giảng trên MVT với sự hỗ trợ của hệ thống DH đa phươngtiện là một bước đột phá lớn BGĐT ngoài việc hỗ trợ cho GV, giải phóng bớt sức laođộng ở trên lớp của GV, còn đem đến cho HS nhiều thông tin hơn, hấp dẫn hơn qua cáckênh thông tin đa dạng và phong phú: nội dung văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, động,
Trang 15các đoạn Video Clip sống động Đặc biệt ở một số nội dung kiến thức người ta có thểxây dựng các mô hình mô phỏng để minh họa hoặc chứng minh định luật, đã biến quátrình HS nhận thức các kiến thức trừu tượng thành quá trình HS lĩnh hội kiến thức mớimột cách hào hứng, tích cực Như vậy BGĐT đã đáp ứng những yêu cầu cơ bản củaquá trình dạy học tạo ra môi trường dạy học có tính tương tác mạnh giúp học sinh hứngthú, tích cực hoạt động hơn trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức.
Hiện nay việc phát triển rộng rãi của Internet, BGĐT đã được nhiều giáo viênbiết đến và ứng dụng ngày càng nhiều Tuy nhiên, việc xây dựng BGĐT và vận dụngBGĐT trong dạy học như thế nào có hiệu quả đó là điều không phải giáo viên nào cũngbiết và vận dụng tốt, nếu lạm dụng BGĐT quá mức thì lúc đó lại có tác dụng trái ngượckhông đem lại hiệu quả Việc nghiên cứu và sử dụng BGĐT đạt hiệu quả cao sẽ gópphần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung
tâm từ đó nâng cao chất lượng dạy học nói chung mà ngành và xã hội đang đặt ra
1.1.2 Định hướng đổi mới PPDH VL ở trường THCS [10, tr 55]
Đổi mới PPDH các môn học nói chung và vật lý nói riêng ở trường THCS xuấtphát từ các quan niệm sau:
Mục tiêu của giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, là hình thành vàphát triển nhân cách của HS Dạy học không chỉ đơn thuần cung cấp cho các em nhữngtri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được, mà phải góp phần tíchcực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo HS càng đượctham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì các phẩm chất và năng lựccủa cá nhân càng sớm được hình thành phát triển và hoàn thiện Tính năng động, sángtạo – là những phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải được hình thànhngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường
Trước đây, trong việc giảng dạy các môn học người GV chỉ chú trọng truyền đạtcác tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu mangtính đặc thù của môn học đó Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, GVphải làm cho HS nắm vững và sử dụng được các phương pháp của bộ môn Điều này có
ý nghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai (học tập suốt đời)
Trang 16Việc đổi mới PPDH phải góp phần thực hiện sự phân hóa trong dạy học Năng lựccủa HS trong một lớp học không hoàn toàn giống nhau, việc phân hóa, tiến tới cá nhânhóa trong dạy học là xu hướng tất yếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi HS.Mỗi môn học có đặc trưng riêng, vật lý học là môn khoa học thực nghiệm Đổimới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn Để tạo điều kiện choviệc vận dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn cuộc sống, phát triển năng lực cầnthiết cho HS, cần phối hợp nhiều hình thức tổ chức học tập ngoài lớp học, kết hợp vớiviệc sử dụng các PPDH hiện đại như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học kiến tạo, dạyhọc theo nhóm, dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng… và đặc biệt là việc sửdụng các PPDH hiện đại trên với sự hỗ trợ của CNTT trong dạy học qua đó từng bướcnâng cao chất lượng giảng dạy.
Tóm lại, dạy học không chỉ là “dạy chữ” mà phải qua “dạy chữ” mà “dạy người”.Tất nhiên hình thành và phát triển nhân cách không chỉ có nhà trường Trong nhàtrường cũng không chỉ có hoạt động dạy học, tuy nhiên dạy học là hoạt động chủ yếu
1.2 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lý
1.2.1 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh
1.2.1.1 Tính tích cực (TTC) [27]
TTC là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống và xã hội Để tồn tại
và phát triển con người luôn tìm tòi, khám phá, cải biến môi trường để phục vụ cho conngười
TTC có mặt tự phát và mặt tự giác
+ Mặt tự phát của TTC là những yếu tố tìm ẩn bên trong , bẩm sinh, thể hiện ởtính tò mò, hiếu kỳ linh hoạt trong đời sống hàng ngày
+ Mặt tự giác của TTC là trạng thái tâm lí TTC có mục đích và đối tượng rõ rệt,
do đó hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tínhphê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học…
TTC nhận thức phát sinh không phải chỉ từ nhu cầu nhận thức mà cả từ những nhucầu sinh học, nhu cầu đạo đức, thẩm mĩ, nhu cầu giao lưu văn hóa …
Trang 17Hạt nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên
do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng
1.2.1.2 TTC trong học tập [4]
Học tập là hoạt chủ đạo ở lứa tuổi đi học Thông qua quá trình học tập con ngườinhận thức được, lĩnh hội được những tri thức loài người đã tích lũy được, đồng thời cóthể nghiên cứu và tìm ra những tri thức mới cho khoa học
TTC trong học tập về thực chất là TTC nhận thức Đặc trưng ở khác vọng hiểubiết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Trong hoạt độnghọc tập nó diễn ra ở nhiều phương diện khác nhau: tri giác tài liệu, thông hiểu tài liệu,ghi nhớ, luyện tập, vận dụng… và được thể hiện ở nhiều hình thức đa dạng phong phú.Quá trình nhận thức của loài người là quá trình nghiên cứu, tìm kiếm khám pháthế giới khách quan Do đó, trong học tập, người học phải tích cực, chủ động khám phánhững điều chưa biết đối với bản thân TTC nhận thức trong học tập có liên quan đếnđộng cơ học tập Động cơ học tập đúng đắn sẽ tạo ra hứng thú Hứng thú là cơ sở, tiền
đề của tính tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực
TTC trong học tập thể hiện ở các hoạt động khác nhau như hăng hái phát biểu ýkiến, tích cực trình bày các vấn đề được nêu, hay thắc mắc, không thỏa mãn với các câutrả lời của mọi người, kể cả câu trả lời của bản thân, chịu khó tư duy trước vấn đề khó TTC học tập được phân chia các cấp độ từ thấp đến cao:
+ TTC bắt chước, tái hiện: Cố gắng hành động theo mẫu đã có sẵn nhưng thay đổi mộtchút thì không thực hiện được
+ TTC tìm tòi: Độc lập trong tư duy khi giải quyết vấn đề Tìm kiếm các cách giảiquyết khác nhau của cùng một vấn đề……
+ TTC sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới, hay, độc đáo ……
TTC nhận thức tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại là hậu quả củanhiều nguyên nhân Nhìn chung, TTC nhận thức phụ thuộc vào các nguyên nhân sauđây: Hứng thú, nhu cầu, động cơ, năng lực, ý chí, sức khỏe, môi trường….Trong nhữngnhân tố trên có những nhân tố hình thành ngay, nhưng cũng có những nhân tố chỉ đượchình thành trong một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động Vì vậy,
Trang 18việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh đòi hỏi một kế hoạch lâu dài vàtoàn diện của giáo viên trong khi dạy học.
1.2.1.3 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy-học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của người học; nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngườihọc sao cho trong quá trình học tập, người học được hoạt động nhiều hơn, thảo luậncùng nhau nhiều hơn và quan trọng hơn là được suy nghĩ nhiều hơn Với PPDH tíchcực người dạy đóng vai trò chủ đạo, người học đóng vai trò chủ động chiếm lĩnh kiếnthức
Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phương pháp dạy-học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động dạy,đồng thời là chủ thể của hoạt động học được cuốn vào các hoạt động học tập do thầygiáo tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá ra những điều mình chưa rõ chứkhông phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được thầy giáo sắp đặt
Người học được đặt vào tình huống có vấn đề hoặc tự đặt vấn đề theo cách nghĩcủa mình và giải quyết vấn đề Từ đó, người học không chỉ nắm được kiến thức kỹnăng mới mà còn nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó; được bộc lộ
và phát huy tiềm năng sáng tạo Theo cách này, thầy giáo không chỉ đơn giản truyền đạttri thức mà còn hướng dẫn hành động
b Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Triết lý giáo dục của thế kỷ 21 là “học suốt đời; học để biết; học để làm; học đểcùng sống với nhau và học để làm người” Vì vậy, phải biết cách tự học để tự bồidưỡng cho mình tri thức mới Phương pháp dạy-học tích cực xem việc rèn luyệnphương pháp tự học cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạyhọc mà còn là một mục tiêu dạy học Giáo viên phải rèn luyện cho học sinh có đượcphương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học trong quá trình dạy học của mình
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đềutuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về
Trang 19cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập.
Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn.Việc sử dụng các phương tiện CNTT trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóahoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng củ mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hìnhthành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy -trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnhnội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhânđược bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới.Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớphoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhómnhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giảiquyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân
để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiệntượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tìnhbạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sốnghọc đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động
xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liênquốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phảichuẩn bị cho học sinh
d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận địnhthực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tíchcực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh
Trang 20cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinhđược tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời lànăng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho họcsinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con ngườinăng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thểdừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học mà phải khuyếnkhích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là mộtcông việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linhhoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai
trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội
dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu củachương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn.Nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều
so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người
gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng,
tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, cótrình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh
mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
Ta có thể so sánh đặc trưng của dạy học truyền thống và dạy học tích cực như sau:
Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và lĩnh
hội, qua đó hình thành kiến
thức, kĩ năng, tư tưởng, tình
cảm
Học là quá trình kiến tạo; học sinh tìm
tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai
thác và xử lý thông tin,… tự hình thành
hiểu biết, năng lực và phẩm chất.
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của giáo
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh cách tìm ra chân lí.
Trang 21Dạy học truyền thống Các mô hình dạy học mới (DHTC)
viên.
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo Học để đối phó với
thi cử Sau khi thi xong những
điều đã học thường bị bỏ quên
hoặc ít dùng đến
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ
thuật lao động khoa học, dạy cách học.
Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc
sống hiện tại và tương lai Những điều đã
học cần thiết, bổ ích cho bản thân họcsinh và cho sự phát triển xã hội
Nội dung Từ SGK + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV,
các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm,bảo tàng, thực tế…gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầucủa HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môitrường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng,
truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải
quyết vấn đề, dạy học tương tác.
cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên
(tham khảo từ trang web http://www.thuvienvatly.com/ppdh)
1.2.2 Tích cực hóa hoạt động nhận thức
Theo tác giả Thái Duy Tuyên “Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động củathầy giáo và của các nhà giáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành
Trang 22chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng caohiệu quả học tập”[27,tr269]
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ củathầy giáo trong nhà trường và đây cũng là một trong những biện pháp nâng cao chấtlượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trong xu hướng đổi mới dạy họchiện nay thì việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một vấn đề được đặcbiệt quan tâm Nhiều nhà vật lý học trên thế giới đang hướng tới việc tìm kiếm conđường tối ưu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nhiều công trìnhluận án tiến sĩ cũng đã và đang đề cập đến lĩnh vực này Tất cả đều hướng tới việc thayđổi vai trò người dạy và người học nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học đểđáp ứng được yêu cầu dạy học trong giai đoạn phát triển mới Trong đó học sinhchuyển từ vai trò là người thu nhận thông tin sang vai trò chủ động, tích cực tham giatìm kiếm kiến thức Còn thầy giáo chuyển từ người truyền thông tin sang vai trò người
tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh tự mình khám phá kiến thức mới
Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần làm chomối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó và hiệu quả hơn Tíchcực hoá vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó góp phần rèn luyệncho học sinh những phẩm chất của người lao động mới: tự chủ, năng động, sáng tạo
Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường phải hướng tới
Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là biện pháp phát hiện nhữngquan niệm sai lệch của học sinh qua đó thầy giáo có biện pháp để khắc phục nhữngquan niệm đó Vì thế việc khắc phục những quan niệm của học sinh có vai trò quantrọng trong nhà trường nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
Những dấu hiệu quan trọng của sự tích cực trong hoạt động nhận thức: [4, tr 15]+ HS khát khao tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên Bổ sung các câutrả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình trước một vấn đề được nêu ra.+ HS hay thắc mắc, đòi hỏi được giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo viên trình bàychưa đủ rõ
Trang 23+ HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức cácvấn đề mới.
+ HS mong muốn đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồnkhác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học
1.2.3 Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức [27, tr 275]
Khi bàn về phương pháp giáo dục J.Piaget đã rất nhấn mạnh đến vai trò hoạtđộng của học sinh Ông nói: “Trẻ em được phú cho tính hoạt động thực sự và giáo dụckhông thể thành công nếu không sử dụng và không thực sự kéo dài tính hoạt độngđó”[29]
Phát huy TTCNT không phải là vấn đề mới Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiềnbối như Khổng Từ, Aristot… đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huyTTC, chủ động của HS học và đã nêu lên nhiều biện pháp phát huy TTCNT
Như vậy có thể nói sự hoạt động của trẻ trong quá trình giáo dục và giáo dưỡng
là yếu tố không thể thiếu được và theo chúng tôi để kéo dài hoạt động đó thì việc tíchcực hoá được coi là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất Điều này cũng cần phảiđược quán triệt trong tiến trình khắc phục quan niệm của học sinh trong dạy học vật lý.Gần đây, tư tưởng dạy học tích cực đã là một chủ trương qua trọng của ngành giáo dụcnước ta, đã được tuyên truyền rộng rãi trên các báo và tạp chí khoa học chuyên ngành
Các biện pháp nâng cao TTC nhận thức của HS trong giờ lên lớp được phản ánh trong
các công trình xưa và nay có thể tóm tắt như sau:
1 Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
2 Nội dung DH phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên hệ, pháttriển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai Kiến thức phải có tính thực tiễn,gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS
3 Phải dùng các PP đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, tổ chức thảoluận, semina và phối hợp chúng với nhau
4 Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau,tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ
5 Sử dụng các PTDH hiện đại
Trang 246 Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan,làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm
7 Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới
8 Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỹ luật kịp thời, đúng mức
9 Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
10 Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiện thông tin đạichúng và các hoạt động xã hội
11 Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nóichung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt
12 Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội
Tuy nhiên, những biện pháp trên không phải lúc nào cũng có giá trị như nhau Tùytừng trường hợp, từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà người giáo viên xác định nhữngbiện pháp nào là quan chủ đạo Đối với giáo viên đứng lớp cần phối hợp các biện pháptrên một cách linh hoạt và phối hợp chặt chẽ với các hoạt động giáo dục khác trong nhàtrường, với gia đình và xã hội để việc giáo dục tính cực nhận thức học sinh được hoànthiện và bền vững
1.2.4 Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THCS
1.2.4.1 Đặc điểm của HS THCS, học sinh lớp 7 [9]
Các em rất hiếu động, mạnh mẽ trong các phong trào vui chơi, giải trí
Sự phát triển năng lực của các em dường như vượt trước sự phát triển đạo đức
và trí tuệ
Đặc điểm tâm lí
Các em thường không mạnh dạng khi giao tiếp với thầy cô
Tâm lí hay rụt rè, e ngại, ít trao đổi với thầy cô, bạn bè về những gì chưa rõ
Năng lực tư duy của các em còn hạn chế, ý kiến phát biểu còn vụn về không trọn
Trang 25vẹn, chậm chạp không nhạy bén.
Chưa ý thức được việc học tập là cần thiết cho bản thân
Trẻ muốn được khẳng định về thể chất và năng lực mình, muốn làm những việc
có ý nghĩa Vì vậy trẻ muốn được tích cực hoạt động và ham hiểu biết
Một đặc điểm tâm lí quan trọng của HS THCS là việc nhu cầu, hứng thú độnglực học tập của các em chưa hình thành một cách rõ ràng, việc duy trì sự tập trung, hứngthú trong học tập cũng chưa được duy trì một cách bền vững, lâu dài
Còn mang nặng tâm lí trẻ con, mất tập trung trong học tập, khả năng ghi nhớkhông lâu
Khả năng lập luận khi tính toán, trình bày vấn đề không vững chắc, chặt chẽ
Tóm lại: Trong những giai đoạn phát triển của con người lứa tuổi thiếu niên có
một ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biếnđộng nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởngthành sau này Sự phát triển tâm lí của thiếu niên có chịu ảnh hưởng của thời kỳ phátdục Nhưng cái ảnh hưởng quyết định nhất đối với sự phát triển tâm lý chính là nhữngmối quan hệ xung quanh, đặc biệt là những mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn.Trong giai đoạn này nếu các em đước định hướng một cách đúng đắn, kích thích các
em hình thành động lực học tập bên trong có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triểnnhân cách của trẻ
Học sinh lớp 7 cũng ở lứa tuổi thiếu niên, là một bộ phận của lứa tuổi HS THCS
do đó cũng có những đặc điểm tâm, sinh lí lứa như trên
1.2.4.2 Biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THCS
Dựa vào những đặc điểm trên có thể đề xuất biện pháp tích cực hóa hoạt độngnhận thức của HS THCS như sau: [29]
Trang 26Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh có liên quan đến nhiều vấn đề,trong đó các yếu tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý chí của cá nhân, khôngkhí dạy học……… đóng vai trò rất quan trọng Các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau
và có ảnh hưởng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong học tập.Trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của một quá trình hình thành lâu dài và thườngxuyên, không phải là kết quả của một giờ học mà là kết quả của cả một giai đoạn, là kếtquả của sự phối hợp nhiều người, nhiều lĩnh vực và cả xã hội Đối với HS THCS mộtyếu tố có ý nghĩa quyết định trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS làphương pháp của người thầy tổ chức hoạt động dạy học
Để có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tậpchúng ta cần phải chú ý đến một số biện pháp chẳng hạn như: Tạo ra và duy trì khôngkhí dạy học trong lớp; xây dựng động cơ hứng thú học tập cho học sinh; giải phóng sự
lo sợ học sinh…… Bởi chúng ta không thể tích cực hoá trong khi học sinh vẫn mangtâm lý lo sợ, khi các em không có động cơ và hứng thú học tập và đặt biệt là thiếukhông khí dạy học Do đó với vai trò cuả mình, thầy giáo phải là người góp phần quantrọng trong việc tạo ra những điều kiện tốt nhất để cho học sinh học tập, rèn luyện vàphát triển Sau đây chúng ta đi vào một số biện pháp cụ thể:
+ Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp nhằm tạo ra môi trường thuậnlợi cho việc học tập và phát triển của trẻ
Trong môi trường đó học sinh dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và sẵnsàng tham gia tích cực vào quá trình dạy học, vì khi đó tâm lý các em rất thoải mái
+ Khởi động tư duy gây hứng thú học tập cho học sinh
Trước mỗi tiết học tư duy của học sinh ở trạng thái nghỉ ngơi Vì vậy, Trước hếtthầy giáo phải tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh ngay từ khâu đề xuất vấn
đề học tập nhằm vạch ra trước mắt học sinh lý do của việc học và giúp các em xác địnhđược nhiệm vụ học tập Đây là bước khởi động tư duy nhằm đưa học sinh vào trạngthái sẵn sàng học tập, lôi kéo học sinh vào không khí dạy học Khởi động tư duy chỉ làbước mở đầu, điều quan trọng hơn là phải tạo ra và duy trì không khí dạy học trongsuốt giờ học Học sinh càng hứng thú học tập bao nhiêu, thì việc thu nhận kiến thức củacác em càng chủ động tích cực bấy nhiêu Muốn vậy cần phải chú ý đến việc tạo cáctình huống có vấn đề nhằm gây sự xung đột tâm lý của học sinh Điều này rất cần thiết
và cũng rất khó khăn, nó đòi hỏi sự cố gắng, nổ lực và năng lực sư phạm của thầy giáo
Trang 27Ngoài ra cũng cần chú ý tới logic của bài giảng Một bài giảng gồm các mắt xích nốivới nhau chặt chẽ, phần trước là tiền đề cho việc nghiên cứu phần sau, phần sau bổxung làm rõ phần trước Có như vậy thì nhịp độ hoạt động, hứng thú học tập và quátrình nhận thức của học sinh mới tiến triển theo một mạch liên tục không bị ngắt quãng.
+ Khai thác và phối hợp các phương pháp dạy học một cách có hiệu quả, đặcbiệt chú trọng tới các phương pháp dạy học tích cực Việc tích cực hoá hoạt động nhậnthức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và điều khiển quá trình dạy họccủa thầy giáo Bởi vậy, trong tiến trình dạy học, thầy giáo cần phải lựa chọn và sử dụngcác phương pháp dạy học hiệu quả, đặc biệt là các phương pháp dạy học tích cực như:Phương pháp nêu vấn đề; Phương pháp phát triển hệ thống câu hỏi; Phương pháp thựcnghiệm… có như vậy mới khuyến khích tính tích cực sáng tạo của học sinh trong họctập
+ Sử dụng các phương tiện dạy học để hỗ trợ cho các phương pháp dạy học tíchcực trên, đặc biệt là các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Cassette, đầu đĩa CD, máy
vi tính, máy overhead, bộ cảm biến … Đây là biện pháp quan trọng, hỗ trợ tối đa chogiáo viên trong hoạt động giảng dạy nhằm nâng cao tính tích cực của học sinh và giúpcho nhà trường đưa chất lượng dạy học lên tầm cao mới
+ Tổ chức cho học sinh hoạt động Thầy giáo và học sinh là những chủ thể củaquá trình dạy học, vì thế tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh phải do chínhnhững chủ đề này quyết định Trong việc xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của từng chủ thể
có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho chủ thể định hướng hoạt động của mình Tronggiờ học thầy giáo không được làm thay học sinh, mà phải đóng vai trò là người tổ chứcquá trình học tập của học sinh, hướng dẫn học sinh đi tìm kiếm kiến thức mới Còn họcsinh phải chuyển từ vai trò thụ động sang chủ động tham gia tích cực và sáng tạo vàoquá trình học tập tránh tình trạng ngồi chờ và ghi chép một cách máy móc Muốn vậy,cần phải tăng cường hơn nữa việc tổ chức cho học sinh thảo luận và làm việc theonhóm
+ Trong quá trình học tập của HS phải thường xuyên kiểm tra đánh giá, độngviên khen thưởng và kỹ luật kịp thời, đúng mức từ phía gia đình và xã hội
1.2.5 Vai trò của CNTT trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Trang 28Với sự bùng nổ của CNTT thông hiện nay, việc ứng dụng CNTT vào quá trìnhdạy học là một xu hướng tất yếu của các trường học trên thế giới và ở Việt Nam nóiriêng Việc ứng dụng CNTT vào dạy học sẽ nâng cao tính tích cực tự lực nhận thức củahọc sinh vì khi “thầy dạy bằng đa phương tiện, trò học bằng đa giác quan” thì vai tròcủa người thầy lúc chỉ giữ chức năng định hướng, tư vấn còn người học tùy vào nănglực mà có sự chủ động trong việc nhận thức để chiếm lĩnh kiến thức mới, đạt được mụcđích mình mong muốn.
Trong quá trình dạy học, ứng dụng CNTT là quá trình ứng dụng ICTs vào hoạtđộng dạy học một cách hợp lí Trong đó sử dụng các loại hình thiết bị dạy học: Máychiếu, băng hình, phần mềm dạy học, BGĐT, website dạy học…Ở đó diễn ra mối tươngtác đa chiều:
+ Tương tác hai chiều giữa giáo viện – học sinh
+ Tương tác hai chiều giữa phương tiện – học sinh
+ Tương tác hai chiều giữa giáo viên – phương tiện
Chiều thứ ba bao gồm: những tác động qua lại giữa giáo viên và mối quan hệ họcsinh – phương tiện, giữa học sinh và mối quan hệ giáo viên – phương tiện, giữa phươngtiện và mối quan hệ giáo viên – học sinh
Cơ sở của việc cải tiến PPDH là sự lựa chọn nội dung bài học thích hợp, sau đó làviệc nghiên cứu áp dụng những phương pháp và phương tiện thích hợp để dạy và học
- Sử dụng đa phương tiện trong dạy học mang lại cho chúng ta nguồn thông tinphong phú và sinh động, bài giảng trở nên trực quan hơn, giảm bớt tính trừu tượng, bàigiảng sống động hơn, thu hút sự tập trung, niềm sai mê hứng thú của người học, làmcho người học dễ hiểu và nhớ lâu
- Đa phương tiện góp phần chống dạy chay và học chay trong điều kiện cơ sở vậtchất và trang thiết bị phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu thốn và lạc hậu nhưhiện nay
- Đa phương tiện giúp người thầy có thể truyền đạt bằng nhiều con đường khácnhau những lượng thông tin cần thiết cho viện tiếp thu bài học của học sinh Việc tiếpthu kiến thức có hiệu quả cao khi học sinh nhận được lượng tin từ nhiều tri giác khácnhau và trong hoạt động riêng của mình, tổng hợp và chọn lọc những nguồn tin đó
Trang 29- CNTT còn hỗ trợ cho GV có thể tiến hành các thí nghiệm mô phỏng mà chúng
ta không thể nào tiến hành thực được, góp phần đáng kể vào việc tích cực hóa hoạt độngnhận thức của người học
- Ứng dụng CNTT trong dạy học tạo được cơ sở cho sự tích cực nhận thức của HSthông qua việc sử dụng các PTDH hiện đại tác động trực tiếp đến các giác quan (thínhgiác, thị giác…) vì chúng đem lại các nguồn cảm thụ mạnh, phong phú và do đó HS đạtđược nhận thức và tư duy cao qua các hình ảnh, thí nghiệm sinh động, trực quan
Ngày nay, ứng dụng CNTT trong môi trường dạy học đa phương tiện đã trởthành một yếu tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để đổi mới PPDH, hỗ trợ cho quátrình dạy học của người giáo viên từng bước thúc đẩy sự tích cực ở học sinh và dần dầntừng bước nâng cao chất lượng dạy học Nó làm tăng tính tích cực, chủ động của ngườihọc trong qua trình tư duy lĩnh hội tri thức mới [8, tr 92]
Có thể thấy được hoạt động nhận thức của người học đã được tích cực hóa khihọc tập dưới môi trường học tập hiện đại qua bảng so sánh sau đây: [8, tr 218]
1 Truyền thụ lấy người dạy làm trung tâm
2 Kích thích đơn giác quan
3 Hướng phát triển một chiều
4 Đơn phương tiện, đơn năng
1 Học tập lấy người học làm trung tâm
2 Kích thích đa giác quan
3 Hướng phát triển đa chiều
4 Đa phương tiện, đa năng
Trang 30Từ bảng trên cho thấy quá trình dạy có sự ứng dụng của CNTT một cách thíchhợp thì quá trình nhận thức của HS sẽ được tích cực hóa và từng bước sẽ làm cho hiệuquả giáo dục được nâng lên
1.3 BGĐT
1.3.1 Khái niệm BGĐT
Xây dựng giáo án, thiết kế BGĐT là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụthể để có được một BGĐT trong quá trình dạy học tích cực Nó là bản thiết kế toàn bộ
kế hoạch dạy học của giáo viên và học sinh trong giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học
đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được qui địnhbởi cấu trúc bài học
Có thể minh họa một BGĐT qua sơ đồ sau:
BGĐT = Giáo án dạy học tích cực + Ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học
[8, tr 162]
1.3.2 Cấu trúc BGĐT
Mục đích của việc sử dụng BGĐT là hỗ trợ cho giáo viên trong việc đổi mớiPPDH, tích cực hóa hoạt động nhận thức HS, nên việc thiết kế các hoạt động trong quátrình dạy học khi sử dụng BGĐT phải hướng đến việc lấy người học làm trung tâm,phát huy các khả năng vốn có của người học, tạo hứng thú, kích thích niềm đam mêtrong học tập của học sinh
Cấu trúc của BGĐT theo chúng tôi đề xuất như sau:
Trang 31Hoặc theo [26] BGĐT có cấu trúc như sau:
Bµi kiÓm tra Tãm t¾t- Ghi Nhí
Bµi tËp Minh ho¹
Bµi (tªn bµi häc)
1.3.3 Các loại BGĐT
Căn cứ vào nội dung của bài học, có thể chia BGĐT thành các loại sau:
- Bài giảng dạy bài học mới,
- Bài giảng dạy bài học bài tập,
- Bài giảng dạy bài học ôn tập,
- Bài giảng hỗ trợ kiểm tra đánh giá
- BGĐT với việc tổ chứa hoạt động ngoại khóa
1.3.4 BGĐT với việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
So với phương tiện dạy học truyền thống chỉ có bảng đen, phấn trắng, tranh ảnh…,thì việc thiết kế nội dung bài giảng trên máy vi tính với sự hỗ trợ của hệ thống dạy học đaphương tiện là một bước tiến lớn trong quá trình dạy học BGĐT đã hỗ trợ cho giáo viên,đem đến cho học sinh nhiều thông tin hơn, hấp dẫn hơn qua các kênh thông tin đa dạng
và phong phú: nội dung văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, động, các đoạn Video clipsống động Đặc biệt ở một số nội dung kiến thức có thể xây dựng các mô hình mô phỏng,thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng để minh họa hoặc chứng minh định luật, đã biến quátrình học sinh nhận thức các kiến thức trừu tượng thành quá trình học sinh tự lĩnh hộikiến thức mới một cách hào hứng, tích cực Công việc này giúp GV giảng bài hấp dẫn vàhọc sinh tiếp thu kiến thức đỡ trừu tượng hơn Từ đó cho thấy việc sử BGĐT một cáchhợp lí sẽ: [8, tr 158] [8, tr 222]
Trang 32- Phát huy vai trò, vị trí của người dạy và người học.
Trong môi trường học tập mới có sử dụng các công nghệ hiện đại người học thực
sự đứng ở trung tâm, là người chủ, người khám phá của việc học với đầy đủ các đặcđiểm: cá thể hóa, hoạt động tương tác, hợp tác và đa dạng về phong cách học tập KhiBGĐT kết hợp với hình thức ứng dụng CNTT khác (BGĐT đóng gói và vận hành trongmôi trường Web) thì BGĐT sẽ hỗ trợ cho người học một cách rất hiệu quả, người học cóthể học mọi lúc, mọi nơi, học bất cứ điều gì quan tâm, hứng thú, tự lựa chọn cho mìnhcấp độ và tốc độ học phù hợp …
Thứ nhất, việc sử dụng BGĐT còn cho phép người học tìm tới sự cân bằng giữa
việc tích lũy nội dung tri thức môn học với việc tự định hướng, tự điều khiển, tổ chức, tựđánh giá chính việc học của bản thân Do đó người dạy không còn giữ vị trí là trung tâmtri thức, là kho chứa tri thức như trước Điều đó không có nghĩa là phủ nhận hoàn toànvai trò của người dạy Để có được BGĐT người dạy không ngừng nỗ lực tìm kiếm cácnguồn tài liệu bổ sung, phương pháp thích hợp, hình thức triển khai cho bài giảng củamình Thay vào lối truyền giảng, thông báo thông tin một chiều, người dạy sẽ giữ vai tròđiều khiển, định hướng người học vào quá trình tìm kiếm và xử lí thông tin, đưa ra nhữngphương án để giải quyết nội dung bài học bằng những chiến lược dạy mới:
+ Dạy học bằng chính hoạt động học tập của người học
+ Dạy học cá thể hóa trong hoạt động tương tác, hợp tác
+ Dạy học hướng vào dạy cách tự học, tự nghiên cứu, tự đánh giá
Thứ hai, việc đưa BGĐT vào quá trình dạy học tích cực sẽ kéo theo những biến
đổi căn bản trong hoạt động của người dạy và người học:
+ Chuyển từ hoạt động thông báo và nghi nhớ kiến thức sang hoạt động độc lậptìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác
+ Phá bỏ sự ràng buộc về thời gian, không gian đối quá trình dạy học
+ Chuyển từ hoạt động với những người học có học lực khá là chủ yếu sang làmviệc với toàn thể người học (thông qua cá nhân, hoặc nhóm nhỏ…)
+ Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động nhận thức của người học
+ Tiếp cận theo hướng cạnh tranh lành mạnh sẽ chiếm vị thế chủ đạo trong mọihoạt động (cạnh tranh trong nhóm, giữa các nhóm, giữa các hình thức nhằm giải quyết
Trang 33- Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Đưa BGĐT vào quá trình dạy học tích cực hiện nay vừa là mục tiêu, vừa là yêucầu trong đổi mới phương pháp dạy học Với ưu thế vượt trội so với PPDH truyền thống,việc áp dụng BGĐT vào quá trình dạy học tích cực, buộc giáo viên phải thay đổi cáchdạy và học sinh phải thay đổi cách học Một BGĐT được thiết kế sẽ hết sức lãng phí nếungười dạy chỉ đơn giản đọc lại những gì đang được chiếu trên màn hình Ngược lại, nó sẽkích thích sự quan tâm, chú ý, hứng thú…ở người học ( bằng âm thanh, hình ảnh, môphỏng…), nếu người dạy biết cách phát huy, phối hợp các thế mạnh của từng phươngpháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức dạy học trong quá trình dạy học
Từ vấn đề trên ta thấy khi HS học tập dưới sự hỗ trợ của CNTT (BGĐT) thì lượngthông tin, tri thức, kiến thức tác động đến các em nhiều hơn Tính tích cực của HS đượcphát huy cao độ, các em tích cực từ đó sẽ chiếm lĩnh kiến thức, xây dựng nên “kho tàng”kiến thức vững chắc cho bản thân các em
1.3.5 Thiết kế BGĐT theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
1.3.5.1 Một số dấu hiệu bài học có thể sử dụng BGĐT hỗ trợ cho việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Chúng tôi đưa ra một số dấu hiệu nhận biết để có thể sử dụng BGĐT cho giảngdạy hoặc hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy như sau:
Bài học có sử dụng thí nghiệm, mô hình, quan sát hiện tượng mà thí nghiệmthực rất khó tiến hành, hay các mô hình thực rất khó xây dựng, hiện tượng khó quan sáthay cần một lượng thời gian dài
Ví dụ: Bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” bài có tìm hiểu vềhiện tượng nhật thực, nguyệt thực nhưng mô hình không có
Trang 34Bài học nội dung nhiều, có sự khái quát cao về nội dụng kiến thức, liên hệ cáchiện tượng trong thực tế mà HS ít gặp, vận dụng kiến thức vào các hiện tượng thực tế.
Ví dụ: Đối với chương I Quang học VL lớp 7 là bài “Tổng kết chương I” nộidung nhiều và các hiện tượng liên hệ thực tế học sinh ít gặp thường ngày
Bài giảng cần giảng dạy một lúc nhiều học sinh, không có điều kiện về thời gian
để truyền thụ đến HS trong tiết dạy
Ví dụ: Bài ngoại khóa tìm hiểu về các hiện tượng vật lý Đối với chương này cóchủ đề tìm hiểu về hiện tượng “Nhật thực, Nguyệt thực”
1.3.5.2 Thiết kế BGĐT theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Từ vai trò của BGĐT ta thấy rằng, việc thiết kế một BGĐT hướng vào việc tích cựchóa hoạt động nhận thức của người học để đạt mục đích nâng cao chất lượng dạy học đòihỏi phải có sự nỗ lực, cố gắng ở người giáo viên và người giáo viên phải có một trình độtin học căn bản
Quy trình thiết kế một BGĐT theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HSgồm các bước sau: [8, tr 162]
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài dạy, xác định mục tiêu bài học, soạn giáo án
Đây là công việc cần làm đầu tiên của người GV, GV cần phải nghiên cứu kỹ quaSGK và các tài liệu liên quan
Trong dạy học hướng tập trung vào HS, mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài HS đạtđược cái gì? Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu dạy học,nghĩa là chỉ ra được sản phẩm mà HS có được sau bài học Do đó, GV phải đọc kỹ SGK,chuẩn kiến thức kỹ năng, kết hợp với tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung từng mụccủa bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Qua đó xác định đích cần đạt tới của cả bài
về kiến thức, kỹ năng, thái độ Đó chính là mục tiêu của bài
Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm
Soạn giáo án (kế hoạch dạy học) theo cấu trúc của giáo án dạy học tích cực
Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ khác
Bước 2: Viết kịch bản sư phạm cho việc thiết kế bài giảng trên máy
Khi thực hiện bước này GV phải hình dung được những hoạt động sư phạm trênlớp của cả tiết dạy và xác định được phần nào, nội dung nào cần sự hỗ trợ của máy tính
Trang 35( tranh ảnh, mô phỏng…) để tiết học đạt hiệu quả cao.
Tên cảnh (Hoạt động) – thời gian – Nội dung – hình ảnh thể hiện trên máy vi tính
Bước 3: Multimedia hóa kiến thức
Đây là bước quan trọng cho việc thiết kế bài giảng, là nét đặc trưng cơ bản đểphân biệt với giáo án truyền thống Việc multimedia hóa kiến thức được thực hiện quacác bước sau:
Dữ liệu hóa thông tin kiến thức
Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, đồ họa, hình ảnh, phim…Sưu tập hoặc xây dựng nguồn tư liệu sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu này cóthể lấy từ phần mềm dạy học nào đó hoặc từ Internet…
Chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài để đặt liên kết
Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng, chẳng hạn xử lý hình ảnh, âmthanh, đoạn phim…nhưng phải đảm bảo yêu cầu về mặt sư phạm khi sử dụng
Bước 4: Xây dựng thư viện tư liệu
Sau khi có đầy đủ tư liệu cho việc thiết kế BGĐT, tiến hành sắp xếp lại tư liệuthành thư viện tư liệu, tức là ta tạo cây thư mục hợp lý Khi có cây thư mục sẽ tạo điềukiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tậptin khi sao chép từ máy này sang máy khác, ổ đĩa này sang ổ đĩa khác
Bước 5: Thể hiện kịch bản sư phạm trên máy tính.
Xử lý chuyển các nội dung trên thành BGĐT trên máy tính
Dựa trên một số phần mềm tiện ích (Powerpoint, Violet, Crocodile, Flash….), đểthể hiện
Lựa các ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy họcthông qua các hoạt động cụ thể
Trước hết cần chia quá trình dạy học trong giờ lên lớp thành các hoạt động nhậnthức cụ thể, từ đó định ra các Slide Sau đó xây dựng nội dung cho các slide Tùy theonội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi Slide có thể là văn bản, tranh ảnh, Video clip…Điều lưu ý trong việc trình bày nội dung các slide là Font chữ, màu chữ, màu nền phảithống nhất, hạn chế sử dụng các màu quá chói hoặc quá tương phản nhau
Có thể tham khảo [2] để được một số cặp màu đảm bảo độ tương phản tốt như bảng 1.1
Trang 36Màu nền Vàng Trắng Xanh Trắng Đen
Bảng 1.1Không nên quá lạm dụng các hiệu ứng trình diễn “bay nhảy” thu hút sự tò mòkhông cần thiết ở học sinh, phân tán chú ý trong học tập mà cần chú ý làm nổi bậc nộidung trọng tâm, khai thác triệt để các ý tưởng tiềm ẩn bên trong đối tượng trình diễnthông qua việc nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằm phát triển nănglực tư duy của học sinh
Cuối cùng là thực hiện các liên kết (Hyperlink) hợp lý, logic lên các đối tượngtrong bài giảng Đây là ưu điểm nổi bậc có được trong BGĐT nên cần khai thác tối đachức năng này Nhờ vào chức năng này mà bài giảng được thực hiện một cách linh hoạt,sinh động có thể truy xuất kịp thời các thông tin, học sinh dễ tiếp thu
Bước 6: Xem xét, điều chỉnh thể hiện thử trên máy, dạy thử, sữa chữa và hoàn thiện
Sau khi thiết kế xong, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra các sai sót,đặc biệt là các liên kết để sửa chữa và hoàn thiện
Chạy thử (chạy thử từng phần và toàn bộ các Slide để điều chỉnh những sai sót về
kỹ thuật trên máy tính)
Chỉnh sửa và hoàn thiện bài giảng
Dạy thử (trước GV hoặc cả GV và HS) để có thể điều chỉnh nội dung cũng nhưhình thức thể hiện trước khi dạy chính thức
Bước 7: Viết bản hướng dẫn
Bản hướng dẫn gồm các nội dung sau:
Kỹ thuật sử dụng
Ý đồ sư phạm của từng phần bài giảng, từng slide được thiết kế trên máy tính.Phương pháp giảng dạy, việc kết hợp với phương pháp khác, phương tiện khác(nếu có)
Hoạt động tương tác giữa GV và HS, HS và HS, HS và MVT……
Khi thiết kế BGĐT cần lưu ý một số điểm sau [8, tr 166]
Mục tiêu bài dạy, thời gian và các bước lên lớp phải đảm bảo nguyên tắc vàphương pháp dạy học bộ môn BGĐT không phải thay thế vai trò của GV mà là loại hìnhthiết kế bài giảng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
Trang 37Đảm bảo mọi yêu cầu về thực hiện nội dung và phương pháp dạy học bộ mônphải phù hợp với tâm lý lứa tuổi, trình độ nhận thức HS.
Nội dung phải được tinh lọc ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu
Đặc biệt có tính mở, phát huy tối đa tính tích cực nhận thức, sáng tạo ở HS
Tạo sự tương tác giữa các đối tượng trong giảng dạy
Cần cân nhắc khi sử dụng hệ thống đa phương tiện cho phù hợp với nội dung, vớithời gian rất hạn chế trong một tiết dạy
Các kiến thức đưa vào trình chiếu dưới dạng các Slide, các đoạn Video clip,Audio, hình ảnh… phải được lọc lựa chính xác, dễ hiểu, thể hiện được logic cấu trúc bàidạy gồm cả kênh hình, kênh chữ, kênh tiếng tạo điều kiện tích cực hóa quá trình nhậnthức, quá trình tư duy của HS, tránh lạm dụng trình chiếu một chiều
Ngoài ra, muốn có một BGĐT tốt thì người GV phải biết khai thác mạng Internettìm kiếm các tư liệu hình ảnh, Video hỗ trợ Đặc biệt là tham khảo các BGĐT có sẵn từ
đó làm cho bài giảng của mình thiết kế phong phú ý tưởng và thật sự hoàn chỉnh
1.3.6 Những ưu điểm và nhược điểm của việc giảng dạy bằng BGĐT
1.3.6.1 Ưu điểm
Chuyển tải đến HS một lượng kiến thức lớn, hình ảnh trực quan, sinh động
Với BGĐT, GV có thể thực hiện đầy đủ các kênh chữ, kênh tiếng trong quá trìnhdạy học Do đó rèn luyện cho HS không chỉ các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết mà cònquan sát và cảm nhận được sự kiện hiện tượng
BGĐT giúp cho tiết học trở nên lôi cuốn HS hơn và hạn chế được việc GV bịcháy giáo án vì thời gian được kiểm soát bằng máy rất chặt chẽ Đảm bảo được độchính xác của kiến thức khi truyền thụ đến HS
GV tiết kiệm được thời gian treo tranh ảnh, vẽ hình lên bảng, viết bài… nhờ đó
mà giáo viên có nhiều thời gian giảng bài, thời gian cho việc trao đổi giữa GV với HS,
HS với HS tăng lên
Thuận lợi cho GV trong quá trình soạn bài, bởi có thể lưu lại, dễ dàng bổ sung,chỉnh sửa các nội dung, cập nhật hóa kiến kiến thức ở bất kì mục nào, đoạn nào trongbài giảng
Khi sử dụng BGĐT với hệ thống thiết bị dạy học đa phương tiện một cách hiệu
Trang 38quả, thì tiết dạy học không còn đơn điệu nhàm chán như các tiết dạy học truyền thống,
mà đã từng bước kích thích được hứng thú học tập ở HS, cùng với các PPDH tích cựchóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của HS, biến quá trình dạy học thành quátrình dạy học tích cực, nâng cao chất lượng dạy học
Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm GV có thể thiết kế các mô hình minhhọa các khái niệm trừu tượng, khó hiểu, thiết kế các thí nghiệm nguy hiểm hay thờigian thực hiện kéo dài mà trong thực tế GV, HS không thể tiến hành được (hiện tượngtrái đất quay quanh mặt trời, hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, các hiện tượng ứngdụng kiến thức vật lí trong thực tế ít thấy…) làm tăng tính trực quan của quá trình dạyhọc, hiệu quả giảng dạy sẽ cao hơn khi giảng dạy theo phương pháp truyền thống.Đối với BGĐT thì GV có thể khai thác Internet để làm phong phú nguồn tư liệutranh ảnh minh họa cho các tiết dạy, đồng thời tham khảo các phương án thiết kế, giảngdạy của đồng nghiệp từ đó làm cho tiết dạy của các bài tăng tình hiệu quả hơn
Việc thiết kế BGĐT đòi hỏi người GV phải đầu tư nhiều thời gian, côngsức hơn giáo án truyền thống, việc tìm kiếm những hình ảnh, tư liệu cũng gặpkhó khăn với GV do trình độ tin học, anh văn và quỹ thời gian tìm hiểu còn hạnchế
Thực tế chỉ ra rằng không phải bất kì bài nào sử dụng BGĐT cũng mang lạihiệu quả cao, nhất là khi sử dụng máy tính một cách đơn điệu, bị động
HS đã quen với cách học theo kiểu GV giảng – đọc HS chép, thì nay HSđược học với cường và tốc độ nhanh Nhiều HS chưa kịp hiểu rõ những chữ trênmàn hình có nghĩa gì thì những dòng chữ đã trôi mất
Trang 39HS có thể bị lôi cuốn, với những hiệu ứng lạ mắt, những hình ảnh đẹp nên
dễ dàng phân tán với bài giảng Vì vậy GV cần phải có sự lựa chọn thận trongkhi đưa vào bài giảng những hiệu ứng như vậy
Tuy nhiên để việc giảng dạy với sự hỗ trợ của CNTT&TT và khai thác hiệuquả của BGĐT thì một trong các biện pháp khả thi là kết hợp giữa các PPDHtruyền thống, PPDH tích cực và dạy học có sử dụng CNTT&TT như một yếu tốkhông thể tách rời Có như vậy mới đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng giáodục và đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy ở các trường phổ thông hiệnnay
1.4 Thực trạng của việc sử dụng BGĐT vào việc dạy và học ở trường THCS
Trong những năm gần đây ngành giáo dục đã đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT vàoquá trình giảng dạy, nhiều trường đã được trang bị hệ thống các phương tiện dạy họchiện đại như máy vi tính, máy chiếu qua đầu, máy chiếu đa năng… nhưng hiệu quả khaithác sử dụng các phương tiện trên còn thấp Một trong những loại hình dạy học với sự hỗtrợ của các phương tiện trên chính là BGĐT Từ việc thăm dò ý kiến GV trên địa bàn thì
có thể rút ra kết quả trên do một số nguyên nhân sau:
Nguyên nhân khách quan
Ở các trường chưa trang bị được phòng học thực sự gọi là phòng học dành riêngcho bộ môn
Số lượng các phương tiện dạy học còn hạn chế, một phòng có trang bị đầy đủphương tiện dạy học hiện đại dành cho nhiều môn học, với số lượng GV đông thì việc sửdụng gặp rất nhiều khó khăn
Nguyên nhân chủ quan
Do trình độ tin học GV còn hạn chế, tuy giáo viên trình độ A nhưng số lượng giáoviên biết thiết kế một BGĐT tốt, hoàn chỉnh thì số lương không nhiều
Để sử dụng BGĐT giảng dạy có hiệu quả đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu hơn
về tin học, ứng dụng tốt hơn các phần mềm công cụ, xong những kiến thức tin học cơbản và ứng dụng lại rất mới mẻ với số đông GV
Về phía HS nói chung vẫn quen với cách học theo kiểu giảng, đọc chép nên khi sửdụng BGĐT vào giảng dạy, HS được học với cường độ và tốc độ nhanh HS gặp không ít
Trang 40khó khăn.
Do đời sống vật chất GV vẫn còn khó khăn cho nên GV chưa thể tập trung toàntâm, toàn lực để thiết kế BGĐT vào giảng dạy, như chúng ta biết để có một BGĐT tốtđòi hỏi sự đầu tư rất nhiều ở GV, phần lớn sử dụng giáo án thông thường
Việc trang bị các phương tiện dạy học hiện đại cho nhà trường, kiến thức tin họccho giáo viên góp phần đáng kể việc phát triển, hiện đại hóa các phương tiện dạy họctruyền thống, đồng thời cũng góp phần đổi mới phương pháp dạy học, HS quen dần vớiviệc học tập với BGĐT thì kết quả giảng dạy trong nhà trường sẽ từng bước được cảithiện, nếu GV biết khai thác tối đa tính năng của các phương tiện dạy học trên
Kết luận chương I
Trong chương này chúng tôi nghiên cứu những vấn đề sau:
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, giảng dạy vật lý nói riêng đã thểhiện tính ưu việt của các phương tiện dạy học hiện đại, đã tạo ra môi trường học tập hiệnđại, có sự tương tác tích cực giữa các đối tượng trong quá trình dạy học, góp phần đáng
kể trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS với sự tổ chức, điều khiển của
GV Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường, hoàn toàn phù hợp với nhu cầuphát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Tìm hiểu dấu hiệu đặc trưng của PPDH tích cực, những dấu hiện chứng tỏ HS tíchcực hoạt động nhận thức TỪ đó đưa ra các biện pháp chung để tích cực hóa hoạt độngnhận thức của HS
Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi HS THCS, từ đó có biện pháp tích cựchóa hoạt động nhận thức của các em qua đó nâng cao chất lượng giáo dục
Vai trò của BGĐT trong việc tích cực hoạt động nhận thức của HS BGĐT là mộttrong những loại hình ứng dụng các phương tiện hiện đại và đã đáp ứng được yêu cầu cơbản của quá trình dạy học, tạo ra môi trường học tập lý tưởng, hiện đại với tính tương táccao, có thể nói BGĐT là sự kết hợp giữa giáo án dạy học tích cực và CNTT
Đồng thời luận văn cũng nghiên cứu một số vấn đề sau về BGĐT với việc dạyhọc ở trường THCS, vai trò của BGĐT trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của
HS, nghiên cứu quy trình và các yêu cầu cơ bản khi thiết kế một BGĐT Để thiết kếBGĐT hoàn thiện, vừa đáp ứng yêu cầu phát huy tính tích cực nhận thức, phát triển tư