quyền con người khi ban hành QĐHC của các cơ quan HCNN nói chung, củaUBND tỉnh Bắc Kạn nói riêng, từ đó đề ra các giải pháp mang tính đột phá giảiquyết triệt để vấn đề còn tồn tại, học v
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Mã số: 60 38 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TƯỜNG DUY KIÊN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả
Triệu Thị Út Hiền
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI
BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH CỦA UBND CẤP
1.1 Khái niệm, đặc điểm bảo đảm quyền con người khi ban hành
1.2 Phân loại quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh 251.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ban hành quyết định hành
chính và yêu cầu bảo đảm quyền con người khi ban hành quyết
định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh 29
Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI BAN
HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH CỦA ỦY BAN NHÂN
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn 412.2 Thực trạng bảo đảm quyền con người khi ban hành quyết định
2.3 Đánh giá chung về những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân
của những ưu điểm, hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người
khi ban hành quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI KHI BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH
3.1 Quan điểm bảo đảm quyền con người khi ban hành quyết định
3.2 Giải pháp bảo đảm quyền con người khi ban hành quyết định
hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn 79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HCNN : Hành chính nhà nước
Trang 4Nxb : Nhà xuất bản
QĐHC : Quyết định hành chính
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1: Ý kiến của người bị thu hồi đất về giá đất tính bồi thường
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là quốc gia thành viên của các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người,Việt Nam nghiêm chỉnh tuân thủ điều ước quốc tế đã ký kết và thực hiện việcchuyển hóa nội dung mà Việt Nam gia nhập vào quá trình xây dựng hệ thống vănbản pháp luật trong nước Nhờ đó, pháp luật của Việt Nam không ngừng đượcsửa đổi, bổ sung và hoàn thiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền conngười Điều này thể hiện trong toàn bộ quá trình xây dựng và hoàn thiện phápluật của Việt Nam nói chung và pháp luật về xây dựng, ban hành quyết định hànhchính (QĐHC) nói riêng
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quá trình cảicách nền hành chính nước ta cũng được tiến hành song song Trải qua 15 nămthực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước (HCNN) giai đoạn
2001 - 2015 chúng ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, bước đầu đã tạođược một diện mạo mới cho nền hành chính Quốc gia, góp phần thực hiện tốt vaitrò quản lý xã hội của Nhà nước Bên cạnh đó, công cuộc cải cách hành chính,nền HCNN nói chung, của tỉnh Bắc Kạn nói riêng cũng đã bộc lộ nhiều khiếmkhuyết tồn tại Trong đó chúng ta phải kể đến vấn đề chất lượng của công tác banhành và thực hiện QĐHC của cơ quan HCNN còn chưa đáp ứng được yêu cầuthực tiễn quản lý, giải quyết các vấn đề của xã hội Nhiều QĐHC ra đời mà thiếu
đi tính hợp pháp, hợp lý làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân Mặtkhác các nghiên cứu về ban hành QĐHC nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hànhchính và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam nóichung, ở Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Kạn nói riêng hiện nay hầu hết chỉdừng lại ở các chuyên đề, bài viết ngắn, trong đó chủ yếu tập trung vào một sốnội dung pháp luật hiện hành liên quan đến cải cách hành chính, mới chú trọngđến việc đơn giản hoá thủ tục hành chính Đối với nghiên cứu về việc ban hànhQĐHC nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính theo hướng đảm bảo tính minhbạch, khách quan của hoạt động hành chính và bảo đảm quyền con người, quyềncông dân chưa được quan tâm đúng mức Để nâng cao hơn nữa việc đảm bảo
Trang 7quyền con người khi ban hành QĐHC của các cơ quan HCNN nói chung, củaUBND tỉnh Bắc Kạn nói riêng, từ đó đề ra các giải pháp mang tính đột phá giải
quyết triệt để vấn đề còn tồn tại, học viên đã chọn đề tài “Bảo đảm quyền con
người khi ban hành quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn hiện nay” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và
pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các vấn đề liên quan đến QĐHC nhận được rất nhiều sự quan tâm nghiêncứu từ các nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy nhiên, nghiên cứu dưới góc
độ bảo đảm quyền con người trong QĐHC thì chỉ có một vài công trình, bài
viết có liên quan như sau: “Tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành
chính" của Bùi Thị Đào [16], đã góp phần trong việc nghiên cứu sâu hơn về
QĐHC mà đặc biệt là các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp, tính hợp lý củaQĐHC từ đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng của
QĐHC Ngoài ra, còn có:"Thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải
quyết các khiếu kiện hành chính" của Nguyễn Thanh Bình [1]; "Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay" của Hoàng Quốc Hồng [19]; “Các yêu cầu đối với quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” của Hà Thu Hiền [17]; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước” của Lê Thị Liên Chi
[3]; “Quyết định hành chính” của Bùi Thúy Chinh [4]; “Hoàn thiện pháp luật
về ban hành quyết định hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước” của Nguyễn Thị Kim
Thoa [40]
Những công trình khoa học trên mặc dù không trực tiếp tìm hiểu về bảo đảmquyền con người trong QĐHC, tuy nhiên trong nội dung của Luận án, Luận văncũng có những khía cạnh nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực mà luận văn tìm hiểu.Bên cạnh đó còn có rất nhiều các bài báo, tạp chí tìm hiểu các vấn đề liên
quan đến QĐHC như: "Về xác định các căn cứ đánh giá tính hợp pháp của
Trang 8quyết định trong xét xử các vụ án hành chính" của Nguyễn Văn Quang [20];
"Về quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành" của Hoàng Quốc Hồng [18]; Tăng cường tính minh bạch của quyết định hành chính" của Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn
Hoàng Anh [9]; "Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong
pháp luật hành chính Việt Nam" của Phạm Hồng Thái và Nguyễn Thị Thu
Hương [39]…
Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu dưới góc độ quyền con người và xemxét sự ảnh hưởng của ban hành QĐHC đến một số quyền cơ bản của con người
về dân sự, kinh tế, chính trị thì chưa có tác phẩm nào được công bố đề cập đến
Như vậy, có thể khắng định luận văn nghiên cứu về “Bảo đảm quyền con người
khi ban hành quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn hiện nay” không trùng lắp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu vấn đề ban hành QĐHC ở tỉnh Bắc Kạn và thực tiễn việc ápdụng, thực hiện QĐHC trong việc bảo đảm quyền con người từ đó tìm ra vấn đềcòn tồn tại và đề xuất một số kiến nghị phục vụ cho việc hoàn thiện các quy địnhcủa pháp luật về QĐHC nhằm nâng cao chất lượng QĐHC nói riêng, chất lượngquản lý nhà nước nói chung
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm cơ bản của QĐHC, phân loại QĐHC, tính hợppháp, hợp lý của QĐHC bảo đảm quyền và lợi ích của con người; quan niệm vềquyền con người, đặc điểm bảo đảm quyền con người khi ban hành QĐHC và xácđịnh một số quyền con người bị ảnh hưởng khi ban hành QĐHC
- Đánh giá thực trạng về việc bảo đảm quyền con người khi ban hànhQĐHC, tình hình thực hiện QĐHC ở tỉnh Bắc Kạn
Trang 9- Đề xuất các giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của các cơ quan nhà nướctrong ban hành và thực hiện các QĐHC, hoàn thiện các văn bản pháp luật về quản
lý HCNN nhằm đảm bảo quyền con người
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng về bảo đảm quyền con ngườitrong công tác ban hành, thực hiện QĐHC của UBND tỉnh Bắc Kạn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Những QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai, quản lý khoáng sản do UBNDtỉnh Bắc Kạn ban hành từ năm 2009 - 2015 có ảnh hưởng đến một số quyền cơbản của con người như:
- Quyền sở hữu tài sản;
- Quyền được tự do ý kiến và biểu đạt;
- Quyền được đối xử công bằng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước vàpháp luật nói chung và vấn đề áp dụng pháp luật để ban hành QĐHC
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của Luận văn đó là: phương pháp nghiên cứu củatriết học Mác - Lênin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử
và logic; phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tíchtổng hợp, thống kê, so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật trongquá trình ban hành QĐHC của UBND tỉnh hợp pháp, hợp lý góp phần bảo đảmmột số quyền cơ bản của con người
Trang 10- Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về vấn đề bảo đảmquyền con người khi ban hành QĐHC của UBND tỉnh Bắc Kạn
- Luận văn phần nào cung cấp về cơ sở lý luận và thực tiễn trong quá trìnhban hành QĐHC và vấn đề bảo đảm quyền con người khi ban hành QĐHC củaUBND tỉnh Bắc Kạn, trên cơ sở đó thực hiện việc áp dụng pháp luật trong quá trìnhban hành QĐHC bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý
- Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho Tòa án nhân dân khi xem xét tínhhợp pháp, hợp lý của QĐHC bị khởi kiện, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng củacon người, công dân trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH
CHÍNH CỦA UBND CẤP TỈNH
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH CỦA UBND TỈNH
1.1.1 Quan niệm quyền con người, bảo đảm quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa khácnhau (theo một tài liệu của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền conngười đã được công bố) Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định,chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cảcác thuộc tính của quyền con người
Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào
sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩacủa Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫnbởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảmpháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại nhữnghành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép
và tự do cơ bản của con người
Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được tríchdẫn, theo đó, quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên củacộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xãhội ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người Định nghĩa nàymang dấu ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia,
cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xétchung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn
có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốcgia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
Trang 12Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng đượcxác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ.Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ ápdụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọithành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điềukiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người.Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyềncon người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội
và trong mọi giai đoạn lịch sử
Có thể đưa ra quan niệm về quyền con người như sau: Quyền con người là nhưnhững đặc quyền tự nhiên, cho phépkhái niệm con người được tiến hành những xử sự theo những cách thức nhất định phù hợp với những chuẩn mực xã hội, được thừa nhận bởi cộng đồng quốc gia , và quốc tế
Quyền con người, quyền công dân được thừa nhận mới chỉ là sự tồn tạiquyền ở dạng tiềm năng Thực hiện quyền và bảo vệ quyền có thể gặp cản trởtrong thực tế ở nhiều dạng; phải có sự tác động từ nhiều yếu tố, điều kiện kháchquan trong xã hội và chủ quan của chủ thế quyền thì mới có thể hình thành môitrường để mỗi công dân có thể phát huy năng lực làm chủ và sáng tạo của mình
Hệ thống bảo đảm quyền con người, quyền công dân bao gồm: Bảo đảm về kinh
tế, chính trị và các bảo đảm xã hội khác như lịch sử - truyền thống, văn hóa, tưtưởng, sự phát triển khoa học kỹ thuật…
Từ góc nhìn của khoa học luật, trong điều kiện xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta, các bảo đảm pháp lý
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốt lõi, là sự thể chếhóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, xã hội, tổ chức thành các chuẩn mực có tínhbắt buộc mà nhà nước, các cơ quan nhà nước và xã hội phải thực hiện để bảo đảmcác quyền con người, quyền công dân Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phongphú, trước hết là sự ghi nhận các quyền con người, quyền công dân, đến việc tạo
ra các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức, việc thiết lập cơ chế, bộ máychuyên trách bảo đảm các quyền con người, quyền công dân Bảo vệ quyền con
Trang 13người, quyền công dân là việc xác định các biện pháp pháp lý, các biện pháp tổchức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người khi bị xâm phạm từ phía cơ quancông quyền hay từ các chủ thể khác nhằm khôi phục các quyền đã bị xâm phạm.Các quyền con người, quyền công dân rất đa dạng, được bảo đảm bằng cả hệthống pháp luật, từ luật công đến luật tư, từ Hiến pháp, luật Hành chính đến Hìnhsự…đến Luật Dân sự, Luật Lao động Mỗi lĩnh vực pháp luật bảo đảm, bảo vệquyền con người, quyền công dân bằng những phương thức chuyên biệt, riêng cócủa mình.
Như vậy, có thể nêu khái niệm về bảo đảm quyền con người đó là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để thực hiện các quyền tự do, lợi ích chính đáng của con người đã được pháp luật ghi nhận
1.1.2 Khái niệm quyết định hành chính
Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt được sinh ra với mục đích duytrì trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển Quyền lực nhà nước được thực hiện chủyếu thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hànhpháp và tư pháp Một trong những biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhànước là ra các quyết định pháp luật
Quyết định pháp luật rất đa dạng cả về chủ thể ban hành, thủ tục ban hành,hình thức, nội dung, tính chất, yêu cầu cụ thể đối với từng nhóm khác nhau Mộttrong những cách phân chia đó là dựa vào mục đích sử dụng quyền lực nhà nướckhi ban hành quyết định pháp luật, theo đó, quyết định pháp luật được chia thànhquyết định lập pháp, QĐHC, quyết định tư pháp Trong đó, QĐHC chủ yếu đượcban hành bởi cơ quan có chức năng quản lý HCNN - cơ quan HCNN Cùng với
cơ quan HCNN, cơ quan quyền lực, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát cũng cóquyền ban hành QĐHC Tuy nhiên, vì không có chức năng quản lý hành chínhnên các cơ quan đó chỉ ban hành QĐHC với số lượng ít, phạm vi hẹp, thường làcác quyết định nhằm xây dựng, ổn định chế độ công tác nội bộ cơ quan và khảnăng tác động trực tiếp tới các lĩnh vực khác nhau trong xã hội rất hạn chế.Ngược lại, cơ quan hành chính là cơ quan có chức năng quản lý HCNN nên các
cơ quan này ban hành rất nhiều QĐHC trong quá trình hoạt động để thực hiện
Trang 14chức năng của mình Các QĐHC của cơ quan HCNN ban hành phản ánh đầy đủ,
rõ ràng những tính chất, đặc điểm, yêu cầu của quản lý hành chính trong từng lĩnhvực, từng thời kỳ cụ thể
Quyết định hàanh chính không phải là đề tài mới mẻ trong khoa học và thựctiễn pháp lý Khái niệm này đã được nghiên cứu và sử dụng với phạm vi, mức độ,mục đích khác nhau và vì vậy cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QĐHC
Thứ nhất, có quan điểm cho rằng đó là quyết định quản lí HCNN của cơ
quan quản lí HCNN trong hệ thống cơ quan hành pháp Trong giáo trình Luậthành chính và tài phán hành chính của Học viện H h ành chính, quyết định nàyđược hiểu định nghĩa :
Quyết định quản lí HCNN của các cơ quan HCNN là kết quả của sựthể hiện ý chí đơn phương của cơ quan HCNN, người có thẩm quyền,trên cơ sở và để thi hành luật, được ban hành theo trình tự và hình thức
do pháp luật quy định làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan
hệ pháp luật hành chính cụ thể; đặt ra, sửa đổi, bãi bỏ quy phạm phápluật hành chính hoặc làm thay đổi hiệu lực pháp lý của chúng; đặt ranhững chủ trương, chính sách, nhiệm vụ của hoạt động quản lý HCNN
[22, tr.130, 135]
Thứ hai, có quan điểm lại cho rằng đó là quyết định quản lí nhà nước, tuy
nhiên phải hiểu là quản lí nhà nước theo nghĩa hẹp Theo Giáo trình Luật hànhchính Việt Nam của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội thì:
Quyết định quản lý nhà nước là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực đơnphương của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những người có chức
vụ và các cơ quan của các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền,được thực hiện trên cơ sở và để thi hành luật, theo trình tự và hình thức
do luật định, nhằm định ra chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn có tínhchất định hướng; hoặc đặt ra, sửa đổi, áp dụng, bãi bỏ các quy phạmpháp luật hành chính hay làm thay đổi phạm vi hiệu lực của chúng;hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành
Trang 15chính cụ thể, để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng quản lí nhà nước[15, tr.395].
Bên cạnh đó còn có khái niệm QĐHC Khái niệm này không những xuấthiện trong khoa học mà còn cả trong những quy định của luật thực định… Chính
vì vậy, việc làm rõ khái niệm về loại quyết định này cũng như việc giới hạn nộihàm của khái niệm là rất cần thiết
Những quan điểm nêu trên không chỉ khác nhau về tên gọi của QĐHC màchính quan niệm về quyết định này cũng được tiếp cận dưới nhiều góc độ khácnhau trong khoa học và cả thực tiễn pháp lý
Dưới góc độ hình thức, QĐHC thường được tiếp cận ở hai khía cạnh: một là,QĐHC gồm quyết định bằng văn bản, quyết định bằng lời nói, dấu hiệu; hai là,QĐHC chỉ là các quyết định bằng văn bản
Quyết định hành chính có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưvăn bản, lời nói, dấu hiệu, ký hiệu Thực tế quản lí hành chính cho thấy, cácQĐHC không thể hiện dưới dạng văn bản được sử dụng thường xuyên hơn cácQĐHC thể hiện dưới dạng văn bản Nếu tất cả các QĐHC đều được văn bảnhóa thì hoạt động quản lí sẽ cứng nhắc, phức tạp và nhiều trường hợp sẽ rấtchậm trễ Các QĐHC không thể hiện dưới dạng văn bản đã tạo nên sự sốngđộng, linh hoạt cần thiết của quản lý HCNN Văn bản được sử dụng để ghi nhậnnhững vấn đề quan trọng vì tính rõ ràng, xác định về nội dung là cơ sở chắc chắncho các hoạt động phục tùng, thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lựcnhà nước, nhất là khi quyết định có phạm vi đối tượng tác động rộng và sự tác độngcần được duy trì trong thời gian dài Đồng thời, thủ tục ban hành các văn bảntrong quản lí nhà nước chặt chẽ có khả năng đảm bảo độ đúng đắn cần thiết chocác quyết định được ban hành
Dưới góc độ tính chất cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về QĐHC:QĐHC chỉ là quyết định cá biệt và QĐHC bao gồm quyết định cá biệt, quyết địnhquy phạm, quyết định chủ đạo
Quan điểm cho rằng QĐHC không chỉ là quyết định cá biệt không dựa trên
cơ sở pháp luật thực định mà dựa vào bản chất của hành pháp Để thực thi quyền
Trang 16hành pháp, cơ quan HCNN không chỉ thi hành các quy định của cơ quan lập pháp
mà phải có sự sáng tạo rõ rệt trong việc quy định những biện pháp cần thiết để tổchức thực hiện các quyết định của cơ quan lập pháp cũng như có quyền chủ độngđưa ra các tác động đáp ứng nhu cầu đa dạng của quản lý đời sống xã hội ngàynay Để thực hiện được hoạt động chấp hành, điều hành đó, một mặt, chủ thểquản lý HCNN phải định ra những chủ trương, đường lối, biện pháp quản lý lớn
có giá trị định hướng cho hoạt động quản lý HCNN trong từng thời kỳ hay trongtừng lĩnh vực xã hội Mặt khác, chủ thể quản lý đặt ra các quy định pháp luật điềuchỉnh các quan hệ xã hội phổ biến, điển hình trong quản lý cũng như áp dụngpháp luật để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình các chủ thể
đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Các quyết định chứa đựng những nội dung trên đều có giá trị trực tiếp hoặcgián tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý HCNN, nhằm đạtđược những nhiệm vụ, mục tiêu quản lý Do tính tổng quát của các chủ trương,biện pháp lớn hay tính bắt buộc chung của các quy phạm nên QĐHC chủ đạo,quyết định quy phạm mang tính định hướng hay điều chỉnh những quan hệ phátsinh giữa những chủ thể, trong những điều kiện được dự liệu có tính lặp lại trênthực tế Phạm vi điều chỉnh rộng và khả năng điều chỉnh lâu dài làm cho cácquyết định đó có khả năng tạo ra trật tự chung thống nhất trong quản lý, nhưngtính phổ biến, được điển hình hóa của các tình huống được mô tả trong quy phạmkhông cho phép thấy hết những phức tạp đa dạng của các tình huống riêng biệttrong cuộc sống Sự điều chỉnh riêng biệt được thể hiện bởi các QĐHC cá biệt.Hai khả năng điều chỉnh đó không loại trừ mà bổ sung cho nhau Chính tínhthống nhất về nhiều mặt của các nhóm quyết định và của hoạt động ban hành cácnhóm quyết định đó là cơ sở cho quan niệm cho rằng không nên coi QĐHC chỉ làquyết định cá biệt Quan điểm này cũng được ghi nhận trong Từ điển Luật học, ở
đó QĐHC gồm quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm, quyết định cá biệt vàđược định nghĩa như sau:
Quyết định trong lĩnh vực quản lý HCNN QĐHC thể hiện ý chí quyềnlực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của người có
Trang 17chức vụ, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền, được thực hiệntrên sơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do phápluật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính [2,tr.658].
Trong số những chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC thì các chủ thểtrong hệ thống cơ quan HCNN có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi lẽ, đây là nhữngchủ thể cơ bản, chủ yếu thực hiện hoạt động quản lý HCNN trên các lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội Vì vậy, QĐHC được nghiên cứu trong luận văn lànhững quyết định của các chủ thể trong hệ thống cơ quan HCNN nói chung,UBND tỉnh Bắc Kạn nói riêng khi thực hiện quyền lực nhà nước để quản lý cáclĩnh vực của đời sống xã hội Mặt khác, những QĐHC được đề cập ở đây chỉ giớihạn những quyết định được thể hiện dưới hình thức văn bản
Từ những cơ sở nêu trên, có thể đưa ra quan niệm về QĐHC của cơ quan
HCNN như sau: Quyết định hành chính là một dạng của quyết định pháp luật, nó
là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực của nhà nước thông qua những hành vi của các chủ thể được thực hiện quyền hành pháp trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành theo một trình tự dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật, nhằm đưa ra những chủ trương, biện pháp, đặt ra các quy tắc xử sự hoặc áp dụng những quy tắc đó giải quyết một công việc cụ thể trong đời sống xã hội nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.
Từ những vấn đề lý luận nói trên về QĐHC có thể quan niệm: Quyết định
hành chính của UBND tỉnh là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của UBND cấp tỉnh và của Chủ tịch UBND tỉnh- người có thẩm quyền- để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của mình, được thực hiện trên cơ sở và để thi hành luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, theo trình tự và hình thức do luật định, nhằm đề ra chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn có tính chất định hướng; hoặc đặt ra, đình chỉ, sửa đổi, áp dụng, bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính hiện hành hay làm thay đổi phạm vi hiệu lực của chúng; hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể trên địa bàn của một tỉnh.
Trang 181.1.3 Khái niệm bảo đảm quyền con người khi ban hành quyết định hành chính
Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vìdân Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉdừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà cònđược bảo vệ trong thực tế Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khảtước đoạt, nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vựchành chính
Hoạt động ban hành quyết định hành chính là một trong những phương thứcquan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, là hoạt động cơ bản của nền hànhchính, biểu hiện của thực thi quyền hành pháp trong nhà nước pháp quyền, do đó,đòi hỏi phải tuân thủ đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân
và thực tiễn quản lý nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể Nhất là trong giai đoạnhiện nay, chủ trương về một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại,một nền hành chính chuyển đổi từ nền hành chính can thiệp sang nền hành chínhphục vụ thì hoạt động ban hành quyết định hành chính cần phải đặc biệt chútrọng Một QĐHC, nếu được ban hành đúng thẩm quyền, theo một trình tự rõràng, minh bạch và nội dung của nó phù hợp với sự thật khách quan sẽ là minhchứng sống động cho sự hợp lý, tính hợp pháp, tính khả thi trong chính sách củaNhà nước và vì vậy sẽ được thực hiện một cách đồng thuận Ngược lại, mộtQĐHC “bị” ban hành sai thẩm quyền, với một trình tự không được kiểm soát vềtính minh bạch và nội dung của nó không phản ánh sự thật khách quan, khôngtính đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, sẽ là một rào cản trong quátrình đưa chính sách của Nhà nước vào thực tiễn, gây bức xúc cho cá nhân, doanhnghiệp, làm giảm lòng tin của công chúng vào hiệu quả quản lý của cơ quan nhànước
Cũng như việc ban hành các văn bản pháp luật khác, hoạt động ban hànhquyết định hành chính cũng phải trải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn với thủ tụcluật định Thủ tục ban hành quyết định hành chính gồm các bước sau: sáng kiếnban hành quyết định hành chính, dự thảo quyết định hành chính, trình dự thảo,
Trang 19thông qua dự thảo, truyền đạt quyết định Nhưng khác với việc ban hành các vănbản pháp luật khác, hoạt động ban hành quyết định hành chính được thực hiệnchủ yếu bởi chủ thể quản lí hành chính nhà nước, tức cơ quan hành chính nhànước Con người - công dân từ khi sinh ra cho đến khi mất đi có thể không biếtđến Tòa án, Kiểm sát nhưng đều có quan hệ chặt chẽ với chính quyền hành chính,mọi quyết sách, quyết định của chính quyền hành chính đều trực tiếp hay giántiếp có ảnh hưởng tới đời sống vật chất hay tinh thần của công dân Con người từkhi sinh ra đã bắt đầu có những quan hệ với chính quyền hành chính (quyền đượckhai sinh, quyền mang quốc tịch), đến khi đi học tiểu học, trung học cơ sở, trunghọc phổ thông, chuyên nghiệp; đi làm; xây dựng gia đình, sinh sống ở nơi dân cư…các quan hệ với hành chính công quyền cứ theo năm tháng mà phát sinh nhiều thêm.Trong quan hệ hành chính, một bên trong quan hệ luôn là cơ quan hành chính nhànước, nhân danh nhà nước với một bên là cá nhân, công dân Theo nguyên lý, cơquan hành chính nhà nước, mang quyền lực công, do nhân dân ủy thác, có tráchnhiệm, nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm các quyền chủ thể của công dân hoặc bảo vệ cácquyền đó khi bị xâm phạm
Tuy nhiên cần nhận thức rõ ràng rằng bảo đảm quyền con người khi banhành QĐHC và bảo đảm quyền con người trong QĐHC là khác nhau Ban hànhQĐHC là quá trình thực hiện qua nhiều trình tự, thủ tục Vì vậy, bảo đảm quyềncon người khi ban hành QĐHC đòi hỏi chủ thể ban hành phải cẩn trọng xem xétcác yếu tố của quyền con người trong từng giai đoạn của quy trình ban hành, đặcbiệt là đối với QĐHC bất lợi
Hiện nay, chưa có khái niệm về bảo đảm quyền con người trong ban hànhQĐHC nhưng qua thực tiễn và các nguyên tắc bảo đảm khi ban hành QĐHC, cóthể đưa ra khái niệm về bảo đảm quyền con người khi ban hành QĐHC như sau:
Bảo đảm quyền con người khi ban hành QĐHC là các biện pháp bảo đảm thực hiện các biện pháp pháp lý, nhằm bảo đảm QĐHC được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định, phòng ngừa các hành
Trang 20vi lạm dụng quyền lực, vi phạm các quyền và các lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân, tổ chức trong quản lý nhà nước
cơ chế để bảo vệ các quyền con người trong quá trình ban hành, thực hiện các QĐHC mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế 1.1.4 Các quyền cơ bản của con người cần được bảo đảm trong quyết định hành chính
a Quyền sở hữu tài sản
Quyền sở hữu tài sản là một quyền cơ bản của con người Đặc điểm củaquyền này đôi khi không phân biệt được rõ ràng nó thuộc nhóm quyền dân sự,chính trị hay nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa Xét về mặt lịch sử, quyền sởhữu tài sản gắn liền với các quyền tự do dân sự, nhưng đồng thời nó lại có nộihàm kinh tế mạnh mẽ và do đó, nó cũng thường được đề cập như một quyền kinh
tế, xã hội
Hiến pháp và luật cơ bản của hầu hết các nền dân chủ trên thế giới đều đảmbảo lâu dài quyền đối với tài sản, thừa nhận quyền sở hữu tài sản là quyền conngười, quyền công dân Nội hàm của nó bao gồm cả việc tự do định đoạt tài sảncủa một cá nhân với tư cách là ý chí của chủ sở hữu, không ai bị tước đoạt tài sảnmột cách tùy tiện Nhà nước, với vai trò là chủ thể gánh vác nghĩa vụ, phải tôntrọng quyền sở hữu của cá nhân bằng cách kiềm chế không thực hiện những hành
vi xâm hại quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu
Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản Điều 164 quy định quyền sở hữu bao gồm quyềnchiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quyđịnh của pháp luật Mặc dù pháp luật Việt Nam không công nhận tư hữu đấtđai, nhưng khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, người dân hoặc tổ chức được xác lập quyền sử dụng đất
và định đoạt tài sản - quyền sử dụng đất theo Điều 163 Bộ luật Dân sự Nhưvậy, pháp luật đã công nhận quyền sử dụng đất là quyền tài sản thì không thểthu hồi bằng một QĐHC có tính cưỡng chế khi người dân đang sử dụng hợppháp Nhưng với QĐHC áp đặt, nhất là những QĐHC thu hồi, bồi thường, hỗ
Trang 21trợ, tái định cư cho người dân thì nhà nước khiến cho những người bị thu hồiđất, di dời khỏi nơi ở khi thực hiện các dự án không chỉ mất nhà cửa và môitrường sinh sống mà ở đó họ đã đầu tư một phần thu nhập đáng kể trong rấtnhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ, mà còn bị buộc từ bỏ những tài sản trên đất
mà họ sở hữu trước khi cơ quan nhà nước tháo dỡ, phá hủy nơi định cư của họ
để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Rõ ràng người bị thu hồi đất và phải
di chuyển để thực hiện các dự án của Nhà nước không được tự do định đoạt tàisản theo ý chí và nguyện vọng của họ
b Quyền được thông tin, tự do phát biểu ý kiến và biểu đạt trong các QĐHC
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tư dobáo chí; tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này dopháp luật quy định” [36]
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt Hiến pháp năm 2013với nhiều quy định mới ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền cơbản của công dân, đòi hỏi các yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động của cơquan hành chính trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức trong xãhội Theo đó, đòi hỏi quy trình ban hành QĐHC phải minh bạch, công khai, thủtục rõ ràng, tránh gây tùy tiện
Quyền được thông tin, tự do phát biểu ý kiến và biểu đạt trong các QĐHCđược thể hiện thông qua các quy định về lấy ý kiến tham vấn của người dân đốivới dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến người dân
Điều 4 - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân năm 2004 quy định về tham gia góp ý kiến về dự thảo vănbản quy phạm pháp luật như sau:
1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận,
cơ quan, tổ chức khác và cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến xâydựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhândân
Trang 222 Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồngnhân dân, Uỷ ban nhân dân, cơ quan hữu quan có trách nhiệm tạo điềukiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều nàytham gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản.
3 Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo văn bản quy phạm phápluật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cơ quan hữu quan phải tổchức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bảntrong phạm vi và với hình thức thích hợp
4 Cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến đểchỉnh lý dự thảo văn bản [30]
Điều 6 - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định:
1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chứckhác, cá nhân có quyền và được tạo điều kiện góp ý kiến về đề nghị xâydựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm phápluật
2 Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổchức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệmtạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đềnghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạmpháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếpcủa văn bản quy phạm pháp luật
3 Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dựthảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trongquá trình chỉnh lý dự thảo văn bản [37]
Trong việc thi hành pháp luật, do thiếu minh bạch trong hoạt động quản lý
đã làm hạn chế về mặt nhận thức, tư duy của những người thi hành pháp luật, dẫnđến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất, thiếu bình đẳng, đặc biệt làtrong quá trình ban hành QĐHC Thiếu công khai, minh bạch cũng dẫn đến sự
Trang 23tuỳ tiện của các cơ quan công quyền, làm gia tăng tình trạng tham nhũng, vi phạmpháp luật khiến cho các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân không
được bảo đảm Đối với người dân, do không biết rõ những thông tin về qui
hoạch, về giải tỏa, đền bù, về những dự án ưu đãi, hay khoản tiền tài trợ, tiền cứu trợ thiên tai , nên nhiều khi phải chịu thiệt thòi, không được hưởng đầy đủ
các quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Trên thực tế, nếu việc tham vấn chỉ là hình thức và việc công khai, minhbạch hóa không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, không xuất phát từ quyền và lợiích hợp pháp của người dân (cụ thể ở đây là đối tượng chịu sự tác động của quyếtđịnh hành chính) thì những quy định về tham vấn sẽ lại là câu chuyện xa rời thực
tế, thể hiện tình trạng “chiếu lệ” đang tồn tại trong nhiều quy định pháp lý củaNhà nước ta hiện nay Vì vậy để bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động của các cơquan Nhà nước thì mọi người dân đều có quyền được biết về các chủ trương,chính sách và pháp luật của Nhà nước Đồng thời chính sách và pháp luật củaNhà nước cần phải xuất phát từ thực tiễn và sự tham gia sớm của người dân vàoviệc ban hành chính sách pháp luật là một yêu cầu được đặt lên hàng đầu
c Quyền được bảo đảm sự công bằng
- Công bằng trong ban hành QĐHC
Trong quản lý hành chính, công dân là một bên trong quan hệ có tính chấtbất bình đẳng với cơ quan hành chính nhà nước, hơn nữa, thường là cơ quan hànhchính có thẩm quyền định đoạt khá lớn, điều đó cũng có nghĩa là công chức hànhchính rất dễ lạm dụng quyền và như vậy, quyền lợi công dân khó được bảo vệ.Pháp luật hành chính đã ngày càng phát triển theo xu hướng tính đến yếu tố này Bảo đảm công bằng thể hiện không chỉ ở giai đoạn phán xét của toà án mà
có thể bắt đầu từ chính quy trình ban hành QĐHC để có thể ra đời các QĐHCcông bằng, hợp lý Trong quá trình ban hành QĐHC cũng thể hiện mối quan hệbất bình đẳng giữa cơ quan hành chính và đối tượng thực thi QĐHC đó Bảo đảmcông bằng ngay từ giai đoạn ban hành QĐHC sẽ làm giảm đáng kể số lượng các
vụ khiếu nại hành chính; các vụ khiếu nại hành chính nếu được giải quyết côngbằng cũng sẽ làm giảm đáng kể số lượng các vụ khiếu kiện hành chính trước tòa
Trang 24Tiêu chí tiếp cận công bằng trong quy trình ban hành QĐHC có thể khái quát
ở các nội dung sau:
- Đúng đắn, phù hợp về thẩm quyền của cơ quan, cá nhân ban hành QĐHC;
- Rõ ràng, minh bạch về mặt thủ tục, quy trình ban hành QĐHC;
- Có sự tham gia của các đối tượng liên quan (ví dụ như lấy ý kiến đối vớimột số văn bản có tác động tới nhiều đối tượng như quy hoạch đô thị, đất đai, xâydựng, );
- Rõ ràng, minh bạch về nội dung QĐHC
Dưới góc độ quản lý nhà nước, việc quy định rõ về trình tự, thủ tục, quytrình ban hành QĐHC còn có ý nghĩa quan trọng là hạn chế sự tuỳ tiện trong quytrình ra QĐHC của các cơ quan công quyền, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế và toàn cầu hoá; là cơ sở pháp lý góp phần bảo đảm tính khách quan, dânchủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, tạo thuận lợi cho việc bảo vệcác quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, công dân
Việc ban hành QĐHC đúng trình tự, thủ tục không chỉ có ý nghĩa dưới góc
độ quản lý nhà nước mà còn có ý nghĩa dưới góc độ dân chủ, bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Thực vậy, một số QĐHC được ban hànhtrái pháp luật đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổchức và công dân, nếu không được đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ hoặc huỷ bỏ kịpthời sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước và đối với tínhpháp chế xã hội chủ nghĩa
- Công bằng trong khiếu nại, xét xử vụ án hành chính: Quá trình ban hànhQĐHC có tác động trực tiếp đến việc thi hành QĐHC đó Các quyết định này,không phải tất cả đều nhận được sự đồng thuận của đối tượng thi hành mà thayvào đó là những khiếu nại, thậm chí là khởi kiện vụ án hành chính liên quan đếnQuyết định hành chính đó
Có thể nói pháp luật về tố tụng hành chính ở nước ta hiện nay đã khá hoàn thiện
và đồng bộ, bao gồm: Luật Tố tụng Hành chính số 64/2010/QH12 ngày 24/11/2010;Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 25hướng dẫn một số quy định của Luật Tố tụng Hành chính; Thông tư liên tịch số02/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn quy định về thủ tục giám đốc thẩm,tái thẩm và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao của Luật Tố tụng Hành chính.
Luật Tố tụng Hành chính năm 2010 đã quy định cụ thể về các điều kiện khởikiện vụ án hành chính, đó là: điều kiện về thời hiệu để khởi kiện vụ án hànhchính; các điều kiện về chủ thể trong vụ án hành chính; điều kiện về đối tượngkhởi kiện vụ án hành chính Trong đó, điều kiện về đối tượng khởi kiện vụ ánhành chính cho đến thời điểm hiện tại vẫn là vấn đề gây tranh cãi trong việc ápdụng, quyết định một vụ việc có đủ điều kiện để trở thành một vụ án hành chínhhay không
Để làm rõ đối tượng khởi kiện vụ án hành chính bao gồm những đối tượngnào, khoản 1, Điều 1 Nghị quyết 02/2011/HĐTP ngày 29/7/2011; Nghị quyết số01/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy địnhQĐHC, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý
vụ việc cạnh tranh là các đối tượng khởi kiện vụ án hành chính Tuy nhiên, theocác quy định trên thì hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau giữa các cơquan tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyếtcác vụ án hành chính, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất, thậm chígây nên không ít hiện tượng nhũng nhiễu, tiêu cực trong việc hiểu hoặc “cố tìnhhiểu” sai nội dung hướng dẫn của điều luật, từ đó ra các quyết định không chínhxác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người khởi kiện
Ngoài các bất cập nêu trên, việc Luật “vênh” cũng khiến người dân khó khởikiện Mặc dù, Luật khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Tố tụng Hành chính…ra đờitháo gỡ nhiều vấn đề trong đó có việc giải quyết khiếu nại cũng như quyền khởikiện của người dân nhưng việc quy định khác nhau giữa Luật Khiếu nại, tố cáo vàLuật Tố tụng hành chính lại cho thấy sự thiếu thống nhất trong cách quy định vềkhái niệm “QĐHC” Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa có một giải thích rõ ràng,thống nhất về khái niệm “QĐHC”, đặc biệt là chưa chỉ rõ ngoại diên của kháiniệm này có bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật hay không Luật khiếu nại,
Trang 26tố cáo thì quy định QĐHC phải do cơ quan HCNN hoặc của người có thẩm quyềntrong cơ quan HCNN ban hành, trong khi Luật tố tụng hành chính quy địnhQĐHC có thể được ban hành bởi bất kỳ cơ quan, tổ chức nào nếu nó quyết định
về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý HCNN Tuy nhiên, sự không thốngnhất này có thể lý giải được trên cơ sở sự khác nhau về đối tượng, phạm vi điềuchỉnh cũng như hoàn cảnh ra đời, mục đích ban hành của các luật này
Chính vì vậy, việc bảo đảm quyền được khiếu nại và khởi kiện của nhữngngười dân cần phải được quan tâm đặc biệt Các cơ quan Nhà nước giải quyếtkhiếu nại cần phải tạo điều kiện tối đa, hướng dẫn người người dân thực hiện thủtục khiếu nại cũng như hướng dẫn họ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêucầu của mình Khi người dân thực hiện quyền khởi kiện, Tòa án cần tạo điều kiệnhướng dẫn họ hoàn thiện thủ tục khởi kiện, liên hệ với các Trung tâm trợ giúp pháp
lý của địa phương để giúp họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trìnhtham gia tranh tụng Có như vậy, quyền khiếu nại, khởi kiện và quyền được xét xửcông bằng của người dân mới được bảo đảm Khi các yêu cầu về khiếu nại, khởikiện của họ được giải quyết đến nơi đến chốn thì những bức xúc sẽ không còn, tránhđược việc khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân dẫn đến nhiều sự việcđáng tiếc xảy ra
1.1.5 Đặc điểm bảo đảm quyền con người khi ban hành quyết định hành chính
- Chủ thể có khả năng bảo đảm là chủ thể ban hành QĐHC
QĐHC là kết quả thể hiện ý chí của các chủ thể có thẩm quyền, thực hiệnnhân danh nhà nước, vì lợi ích của nhà nước Nội dung của quyết định không baogiờ là sự thỏa thuận ý chí giữa chủ thể quản lý và đối tượng chịu sự quản lý TrongQĐHC, ý chí của nhà nước thể hiện một cách tập trung nhất Chính vì QĐHC thểhiện ý chí nhà nước - ý chí mà không phải bao giờ cũng trùng với ý chí của đốitượng chịu sự quản lý, trong khi mục đích quản lý nhà nước chỉ có thể đạt đượcthông qua quá trình thực hiện các QĐHC nên QĐHC cần được nhà nước bảo đảmthực hiện trên thực tế Nhà nước bảo đảm thực hiện QĐHC bằng nhiều biện phápkhác nhau như các biện pháp tổ chức, biện pháp kinh tế và các biện pháp cưỡng
Trang 27chế nhà nước Việc nhà nước bảo đảm thực hiện QĐHC là bảo đảm cho ý chí nhànước được thực hiện, bảo đảm cho việc thực thi quyền lực nhà nước
Chủ thể ban hành QĐHC của UBND tỉnh là UBND và Chủ tịch UBND, tuynhiên quy trình xây dựng và ban hành QĐHC còn có các cá nhân, cơ quan soạnthảo, trình, góp ý kiến có tính chất quan trọng và bắt buộc vào dự thảo quyếtđịnh hành chính của UBND tỉnh cũng phải là những chủ thể có thẩm quyềnluật định Có thể nói chủ thể quyết định là chủ thể có vai trò chủ chốt trong việcban hành QĐHC Do vậy, chất lượng của QĐHC như thế nào phụ thuộc vào trình độhiểu biết pháp luật, năng lực chuyên môn và đạo đức của người lãnh đạo cơ quan đó.Nói cách khác, tính hợp pháp và tính hợp lý cũng như quyền và lợi ích hợp pháp củađối tượng chịu tác động trong QĐHC có được bảo đảm hay không phụ thuộc trướchết từ chủ thể ban hành QĐHC đó
- Quyền con người được bảo đảm trong từng khâu trong quy trình ban hành QĐHC
QĐHC được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định nhằm đảm bảo sửdụng quyền lực nhà nước đúng đắn và thống nhất Chất lượng của QĐHC khôngchỉ phụ thuộc vào chất lượng của từng hoạt động trong quá trình tạo ra quyết định
mà còn phụ thuộc vào mức độ hợp lý của các hoạt động tiến hành Thủ tục banhành quyết định hành chính gồm các bước sau: sáng kiến ban hành quyết địnhhành chính, dự thảo quyết định hành chính, trình dự thảo, thông qua dự thảo,truyền đạt quyết định Để có sản phẩm là một QĐHC hợp lý, hợp pháp, bảo đảmquyền con người, quyền công dân thì trong từng giai đoạn của quy trình ban hànhQĐHC cần được bảo đảm tính chặt chẽ, hợp pháp, công khai, minh bạch, luôn chútrọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng bị tác động bởi QĐHC đó, kể cảnhững QĐHC bất lợi
- Để bảo đảm quyền con người trong quyết định hành chính cần bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính
Quyền con người, quyền công dân có thể bị xâm phạm từ phía các cơ quan,
tổ chức, công chức Nhà nước trong khi thi hành công vụ, bởi vì trong quan hệ với
Trang 28Nhà nước, công dân vừa là người chủ Nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý chonên quyền và lợi ích hợp pháp của họ có nguy cơ xâm hại cao Bằng việc ban hànhcác QĐHC, các cơ quan HCNN (chủ thể quản lý) đã làm phát sinh, thay đổi haychấm dứt những quan hệ pháp lý cụ thể, làm cho các quy phạm pháp luật đượcthực hiện trên thực tế, bộ máy HCNN hoạt động bình thường, đã trực tiếp tác độngđến quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức liên quan (đối tượng quản lý) Vì vậy,QĐHC được ban hành sẽ phát huy giá trị tích cực khi nó có tính hợp pháp và hợplý; trái lại, QĐHC được ban hành sẽ xâm phạm quyền, lợi ích của đối tượng quản
lý nếu không có tính hợp pháp và tính hợp lý (trái pháp luật) và ắt sẽ dẫn đến việckhiếu nại của đối tượng quản lý đối với quyết định đó
1.1.6 Phân loại quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh
Có nhiều cách phân loại song có ba cách phân loại chủ yếu đáng lưu ý sauđây
1.1.6.1 Phân loại quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh theo tính chất pháp lý
Với cách phân loại này các QĐHC của UBND tỉnh được phân thành ba loại:QĐHC chủ đạo, quy phạm và cá biệt
a) Quyết định hành chính chủ đạo
Đây là loại quyết định dùng để đề ra chủ trương, chính sách và các biệnpháp lớn có tính chất chung nhất, là công cụ định hướng mang tính chiến lượctrong việc thực hiện chức năng hoạt động hành chính theo hướng lãnh đạo nhiềuhơn là thực hiện Một đặc điểm nổi bật của loại QĐHC này là nó không nêu racác công việc cụ thể cần giải quyết, không nêu rõ các quy tắc hành vi, tráchnhiệm từng cá nhân, cơ quan
Thông thường QĐHC chủ đạo được thực hiện một lần Đây là đặc điểm gầngiống với QĐHC cá biệt, tuy thực hiện một lần nhưng sự thực hiện đó là lâu dài,đôi khi có hiệu lực lâu hơn cả quyết định quy phạm Bên cạnh đó đối tượng thihành của quyết định chủ đạo thường rộng, không xác định Điều này giống quyết
Trang 29định quy phạm Nhưng có một nguyên tắc là các quyết định chủ đạo luôn là cơ sở
để ban hành các quyết định quy phạm cũng như cá biệt Đó là vai trò quan trọngđặc biệt của quyết định chủ đạo Dù nó không trực tiếp làm thay đổi hệ thống quyphạm hoặc hệ thống quan hệ pháp luật hành chính, nhưng chúng đặt cơ sở nềnmóng ban đầu cho sự thay đổi đó
Thông thường UBND tỉnh là cơ quan thực hiện nên thường không dùng loạivăn bản này (hoặc nếu có cũng rất hãn hữu) Văn bản này thường được ban hànhdưới dạng Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ Tuy nhiên, số lượng của loạinày thường không nhiều vì người ta xét thấy không nên lạm dụng chúng Lý do làbởi nó thường có hiệu lực lâu dài và nếu lâu dài thì mức độ ảnh hưởng của nó tớihoạt động hành chính rất to lớn, nên cần cân nhắc sử dụng, tránh lạm dụng tháiquá
Với mấu chốt vấn đề là QĐHC quy phạm làm thay đổi hệ thống quy phạmpháp luật nên ta phân ra các loại quyết định sau:
- QĐHC quy phạm đặt ra những quy phạm pháp luật hành chính mới: Loạinày giúp bổ sung thêm quy phạm pháp luật vào hệ thống quy phạm pháp luậthành chính hiện hành với hai cách đặt ra: một là, đặt ra ngay trong chính quyếtđịnh đó; hai là bằng một quyết định khác để đặt ra một quy chế mà quy chế đó làmột nhóm các quy phạm pháp luật
- Quyết định đình chỉ việc thi hành có thời hạn hay không thời hạn quy phạmhiện hành: Đình chỉ việc thi hành là một trong các cách thay đổi phạm vi hiệu lựccủa quy phạm pháp luật hành chính hiện hành về thời gian, không gian và đốitượng thi hành
- QĐHC sửa đổi, hủy bỏ những quy phạm pháp luật hiện hành:
Trang 30Về loại cần sửa đổi: vấn đề này được thực hiện trong khuôn khổ các phần giảđịnh, quy định, chế tài theo cách sửa đổi một trong số hay tất cả.
Còn trường hợp bãi bỏ thì là quá trình bỏ bớt đi một số quy phạm pháp luậthành chính
c) Quyết định hành chính cá biệt
Bản chất của loại quyết định này là quyết định áp dụng pháp luật vào cáctrường hợp cá biệt- cụ thể như bổ nhiệm, miễn nhiệm, nâng lương, xử phạt viphạm cụ thể, cấp phép xây dựng…
Quyết định cá biệt được ban hành trên cơ sở các quyết định chủ đạo và quyếtđịnh quy phạm của các cơ quan cấp trên hoặc của bản thân cơ quan đó, đồng thời
nó cũng được ban hành trên cơ sở quyết định cá biệt của cấp trên
Với đặc điểm cá biệt - cụ thể như vậy nên loại quyết định này chỉ dùng đểđiều chỉnh các đối tượng cụ thể và chỉ áp dụng một lần Tuy chỉ áp dụng một lầnnhưng nó lại có chức năng pháp lý đặc biệt quan trọng trong cơ chế điều chỉnhpháp luật làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính
cụ thể Có nó pháp luật mới có thể đi vào cuộc sống
Với vai trò là cầu nối để pháp luật hành chính đi vào cuộc sống nên số lượngcác văn bản QĐHC cá biệt chiếm một số lượng lớn Điều đó đồng nghĩa với việctuyệt đại bộ phận các cơ quan hành chính đều có quyền được ban hành loại quyếtđịnh này, trong đó có UBND tỉnh Xét về tương quan số lượng QĐHC cá biệt lớngấp bội so với quyết định chủ đạo và quy phạm Điều này chứng tỏ rằng tronghoạt động hành chính thì mặt điều hành cụ thể chiếm phần lớn công việc
Qua những phân tích trên, UBND tỉnh thông thường sẽ ra hai loại QĐHC đểthực hiện chức năng quản lý của mình đó là: QĐHC quy phạm và QĐHC cá biệt
1.1.6.2 Phân loại quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh theo
cơ quan ban hành
a) Quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh và quyết định, chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh
Theo Điều 124 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 thì "Ủy ban nhândân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, ra quyết định, chỉ thị
Trang 31và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó" [29] Và theo như phân tích ở ngayphần đầu của mục 1.2 nói trên thì: UBND tỉnh mới có quyền ban hành quyết địnhquy phạm, còn Chủ tịch UBND tỉnh không có quyền hạn này.
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 về thẩmquyền ban hành văn bản của UBND là Quyết định mà không có thẩm quyền banhành Chỉ thị
b) Quyết định của UBND tỉnh và quyết định của Sở, phòng thuộc UBND tỉnh
Nghị định số 24/2014/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức các cơquan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định:
Sở là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu,giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quyđịnh của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủtịch UBND cấp tỉnh
Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở là: Dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kếhoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiệncác nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về ngành, lĩnh vực thuộc phạm viquản lý nhà nước được giao… (điểm a, khoản 1, Điều 4) và “tổ chức thực hiệncác văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phêduyệt.”(Điều 3)
Như vậy, so với Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 trước đâykhông xuất hiện quy định về hình thức, tên gọi của các quyết định do các cơ quanchuyên môn thuộc UBND tỉnh có quyền ban hành thì Nghị định 24/2014/NĐ-CP
đã khắc phục được hạn chế nêu trên bằng việc quy định rõ ràng về thẩm quyền dự
thảo “quyết định, chỉ thị” của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh
c) Quyết định hành chính liên tịch của UBND tỉnh
Đây là loại văn bản đặc biệt được ban hành trên cơ sở hội nghị liên tịchnhiều cơ quan nhằm giảm lưu lượng công văn, giấy tờ và tạo ra sự thống nhất caogiữa các cơ quan liên quan Trên lý thuyết thì việc ban hành QĐHC liên tịchkhông giới hạn ở cấp trung ương hay địa phương, nhưng thực tế pháp luật thì
Trang 32hiếm gặp ở địa phương Điều này khiến cho việc UBND tỉnh muốn ra QĐHC liêntịch là không khả thi xét cả về mặt thực tế pháp luật lẫn căn cứ pháp lý, bởi trongLuật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND năm 2004 và Luật Ban hànhvăn bản QPPL năm 2015cũng chưa hề quy định
1.1.6.3 Phân loại quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh theo trình tự ban hành
Hiện QĐHC được phân loại theo cách này sẽ gồm ba trình tự cơ bản: một làtrình tự tập thể, trình tự cá nhân và trình tự khác Điều này cũng tương tự choQĐHC của UBND tỉnh
Với trình tự tập thể: sẽ thực hiện theo nguyên tắc thảo luận tập thể và quyếtđịnh theo đa số
Theo trình tự cá nhân: là do cá nhân có thẩm quyền ký ban hành
Theo trình tự khác: thường là loại quyết định do UBND tỉnh ban hànhnhưng phải có sự phê chuẩn của cơ quan cấp trên mới có hiệu lực hay một sốhình thức khác…
1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH VÀ YÊU CẦU BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI KHI BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ban hành quyết định hành chính
Một QĐHC được ban hành và đem thực hiện trong thực tế chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khác nhau Việc tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình banhành và thực hiện QĐHC để tìm cơ sở, nền tảng để các quyết định đó đúng đắnnhất, hiệu quả nhất Nhìn chung, một QĐHC chịu ảnh hưởng của các yếu tố gồmcác yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài
1.2.1.1 Các yếu tố bên trong
Một QĐHC có thực hiện được trên thực tế hay không ảnh hưởng trực tiếpbởi các yếu tố sau:
- Năng lực, tác phong của chủ thể ban hành QĐHC: Có thể nói chủ thể
quyết định là chủ thể có vai trò chủ chốt trong việc ban hành quyết định Đối với
Trang 33QĐHC của UBND tỉnh, chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHC là UBND, chủtịch UBND tỉnh - là cơ quan hành chính có thẩm quyền chung hoặc cá nhân đứngđầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành QĐHC Một QĐHC có đảm bảotính hợp lý, tính hợp pháp hay không, có được thực hiện trên thực tế hay khôngphụ thuộc rất lớn vào đối tượng ban hành QĐHC - những chủ thể có thẩm quyềntrong các cơ quan HCNN Chính vì vậy chủ thể có thẩm quyền ban hành QĐHCphải là người có năng lực và có trách nhiệm thực hiện công việc Dù các QĐHCđược ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền chung hay QĐHC đó được ban hànhbởi chủ thể có thẩm quyền trong các cơ quan HCNN thì cũng phụ thuộc vào cácngười lãnh đạo cơ quan đó Do vậy, chất lượng của QĐHC như thế nào phụ thuộcvào trình độ hiểu biết pháp luật, năng lực chuyên môn và đạo đức của người lãnhđạo cơ quan đó Nói cách khác, tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC là dongười đứng đầu cơ quan hành pháp có thẩm quyền ban hành QĐHC quyết định.
- Động cơ của người ra quyết định: Các quyết định luôn mang tính chủ quan
do QĐHC được ban hành bởi các cơ quan hành chính - nhân danh công quyềnnhưng lại do con người thực hiện Người này không phải do nhà nước sinh ra mà
từ xã hội chuyển vào nhà nước Do đó, khi ban hành quyết định, họ cố gắng đemlại lợi ích cho bản thân mình hoặc nhóm lợi ích mà mình đại diện Do vậy cónhiều quyết định được ban hành không nhằm mục đích thoả mãn lợi ích chung
- Đối tượng thực hiện QĐHC: Một QĐHC được ban hành đảm bảo đầy đủ
các yêu cầu của tính hợp pháp, tính hợp lý nhưng việc một QĐHC có được thựchiện trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào các đối tượng thực hiện quyết địnhđó
Đối với một QĐHC của các cơ quan HCNN thì việc thực hiện quyết địnhthuộc về các nhân viên cấp dưới của cơ quan hành chính có thẩm quyền ban hànhQĐHC đó và đối tượng chịu sự điều chỉnh của QĐHC
Để thực hiện QĐHC thì người cán bộ, công chức đó cần phải có nhữngphẩm chất sau:
+ Tài năng: Đây là một yêu cầu cần thiết đối với một cán bộ công chức nhànước nói chung, đối với các đối tượng có trách nhiệm thực hiện QĐHC nói riêng
Trang 34Một cán bộ công chức có tài năng và sáng tạo sẽ có điều kiện làm tốt công việc
mà tổ chức giao phó với hiệu quả cao Từ đó tạo ra được tính hiệu quả củaQĐHC, đảm bảo các yêu cầu của việc quản lý nhà nước, đồng thời đảm bảo đượccác quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
+ Phẩm chất đạo đức và lòng nhiệt tình với công việc: Đây cũng là một yêucầu bắt buộc phải có của các cán bộ, công chức nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minhtừng nói “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không cóđức thì thành người vô dụng” Trong việc thực hiện QĐHC thì người cán bộ cótrách nhiệm thực hiện QĐHC cần phải quan tâm đến quyền lợi chính đáng củanhân dân, phải lấy dân làm gốc, làm nền tảng cho mọi hoạt động của việc quản lýnhà nước đồng thời phải đảm bảo được vai trò lãnh đạo của cơ quan nhà nước,bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức và cá nhân
Đối với các tổ chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh bởi QĐHC: Các QĐHC cóthành công, được thực hiện trên thực tế hay không phụ thuộc vào trình độ hiểubiết, ý thức của các đối tượng thực hiện QĐHC là các tổ chức, cá nhân Nếu các
tổ chức, cá nhân có trình độ hiểu biết pháp luật, có ý thức trong việc thực hiệnQĐHC thì việc thực hiện QĐHC được thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế.Ngược lại, nếu các đối tượng này có trình độ hiểu biết còn hạn chế, không có ýthức hợp tác với các cơ quan nhà nước thì việc thực hiện các QĐHC gặp rất nhiềukhó khăn, thậm chí có thể không thực hiện được trên thực tế
1.2.1.2 Các yếu tố bên ngoài
Trong thực tế việc ban hành và thực hiện quyết định còn chịu ảnh hưởng củacác yếu tố bên ngoài, cụ thể:
- Về vấn đề quyết định: Hành chính là phục vụ nhân dân, là hoạt động diễn ra
thường xuyên, sự không hài lòng, thoả mãn của xã hội đối với hành chính luôntồn tại Vấn đề trong quản lý HCNN là những dấu hiệu khó khăn nhận được từmôi trường của các cơ quan hành chính Việc xác định vấn đề quyết định là mộtvấn đề phức tạp
- Yếu tố thẩm quyền: Nhà nước chỉ có thể ban hành QĐHC khi vấn đề thuộc
phạm vi thẩm quyền Tuy nhiên do tính chất phức tạp của hoạt động quản lý, liên
Trang 35quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, do đó có nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền củanhiều chủ thể nên việc phân định thẩm quyền nhiều lúc còn chưa rõ ràng, khókhăn.
- Yếu tố nguồn lực: Nhà nước chỉ có thể ban hành QĐHC khi có đầy đủ các
nguồn lực để thực hiện giải quyết vấn đề như: đội ngũ cán bộ, công chức, cơ sở
kỹ thuật, hệ thống xử lý thông tin
- Yếu tố thông tin: Thông tin về yếu tố quyết định và thông tin về vấn đề cần
giải quyết ảnh hưởng rất lớn đến xây dựng quyết định
- Yếu tố chính trị: Việc lựa chọn phương án quyết định giải quyết vấn đề
chịu ảnh hưởng nhất định bởi các quyết định chính trị của Đảng cầm quyền, côngluận và các nhóm lợi ích trong xã hội
- Yếu tố pháp lý: Nhiều loại thủ tục hành chính cản trở xác định mục tiêu và
phương án giải quyết vấn đề, các thủ tục nhiều khi còn thiếu tính linh hoạt dẫnđến tình trạng quan liêu trong giải quyết hành chính
- Những giới hạn về khả năng xử lý thông tin của từng cá nhân Đây là yếu
tố buộc các nhà quản lý phải cân nhắc khi ra bất kì quyết định nào bởi nếu bất kìmột chi tiết nào trong QĐHC vi phạm pháp luật thì ngay lập tức quyết định đó sẽ
bị vô hiệu hoá Nếu nhà quản lý cố tình thực hiện quyết định đó thì sẽ vi phạmpháp luật và sẽ bị các cơ quan chức năng đình chỉ hoạt động của tổ chức
Chính vì tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng vô cùng to lớn của phápluật tới QĐHC nhà nước mà nhà quản lý sau khi cân nhắc hoàn tất quyết địnhcần tham khảo các tài liệu về luật xem quyết định của mình có sai phạmkhông
- Luật pháp: Đây là yếu tố buộc các cơ quan nhà nước phải cân nhắc khi ra
bất kì quyết định nào bởi nếu bất kì một chi tiết nào trong quyết định vi phạmpháp luật thì ngay lập tức quyết định đó sẽ bị vô hiệu hoá Nếu vẫn cố tình thựchiện quyết định đó thì sẽ vi phạm pháp luật và sẽ bị các cơ quan có thẩm quyềnthu hồi hoặc huỷ bỏ quyết định đó Chính vì tầm quan trọng cũng như sự ảnhhưởng vô cùng to lớn của pháp luật tới việc ban hành quyết định mà các cơ quan
Trang 36nhà nước cũng cần phải cân nhắc xem quyết định của mình vi phạm với các quyếtđịnh của cơ quan cấp trên không.
- Văn hoá, phong tục tập quán của địa phương: Sự thực thi trong đời sống
hàng ngày chúng ta thường đưa ra quyết định dựa trên logic văn hoá hơn là logicquá trình Bộ não của con người luôn xử lý những thông tin có được nhờ các giácquan Chúng gần như được mã hoá thành những khuôn mẫu quen thuộc mà kinhnghiệm đã cho chúng ta biết cần phải giải quyết như thế nào trong những trườnghợp tương tự Ở một mức độ nào đó người quản lý trước khi ra quyết định cần xétxét quyết định của mình có phù hợp với văn hoá của vùng miền, người dân sở tạihay không Nếu quyết định đó phù hợp với nền văn hóa, phong tục tập quán củađịa phương đó thì việc thực hiện quyết định có nhiều thuận lợi hơn, ngược lại nếuquyết định đó trái với phong tục tập quán thì sẽ có rất nhiều khó khăn để thựchiện quyết định đó
- Thời gian: Đây cũng là một trong những nhân tố tác động đến chất lượng
QĐHC Việc xây dựng, ban hành quyết định sẽ đạt kết quả tốt hơn nếu có thờigian nghiên cứu, xác định vấn đề Do vậy khi xây dựng, ban hành quyết định các
cơ quan cần phải tính toán thời gian sao cho hợp lý, hiệu quả nhất để tránh ảnhhưởng đến hoạt động khác đồng thời đảm bảo được chất lượng của quyết định
- Cơ sở vật chất để thực hiện quyết định: Đây cũng là một điều kiện rất quan
trọng để các QĐHC được áp dụng trong cuộc sống Một QĐHC được ban hànhđáp ứng đầy đủ các yêu cầu của tính hợp pháp, tính hợp lý, người cán bộ cóchuyên môn, trách nhiệm với công việc nhưng nếu thiếu các điều kiện vật chất,tài chính thì cũng khó có thể thực hiện quyết định đó hiệu quả được Do vậy,trong công tác chuẩn bị nhằm triển khai thực hiện các QĐHC các chủ thể banhành quan tâm đến các điều kiện để thi hành các QĐHC như cơ sở vật chất,phương tiện thi hành, cán bộ thực hiện, ngân sách, tài chính thì việc thực hiệnQĐHC đó sẽ thuận lợi hơn rất nhiều
1.2.2 Các yêu cầu cơ bản bảo đảm quyền con người khi ban hành quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân tỉnh
1.2.2.1 Yêu cầu về tính hợp pháp
Trang 37- QĐHC phải được ban hành bởi những chủ thể có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật.
Thẩm quyền ban hành QĐHC về mặt hình thức: Thầm quyền ban hành về
mặt hình thức là thẩm quyền của mỗi cơ quan được ban hành những loại QĐHCnào do pháp luật quy định Tùy theo tính chất, mức độ cần giải quyết bằng QĐHC
mà sử dụng loại quyết định cho phù hợp Pháp luật quy định cơ quan nào có thẩmquyền ban hành loại QĐHC gì và căn cứ vào chức năng, quyền hạn của cơ quan đóvới quan niệm rằng khi ban hành các loại quyết định đó từng cơ quan có thể thựchiện tốt nhất công việc của mình Khi cần ban hành một QĐHC, mỗi cơ quan chỉđược sử dụng loại QĐHC mà pháp luật quy định cơ quan đó có quyền ban hành,không được ban hành loại QĐHC thuộc thẩm quyền của cơ quan khác, cũng khôngđược tự mình sáng tạo ra một loại quyết định hành chính riêng
Thẩm quyền ban hành QĐHC về nội dung: Thẩm quyền ban hành QĐHC về
nội dung thể hiện ở chỗ mỗi cơ quan được quyền ban hành QĐHC quy định vềvấn đề gì, với tính chất và mức độ nào Các QĐHC phải được ban hành trongphạm vi thẩm quyền của cơ quan Pháp luật quy định rõ các vấn đề cụ thể thuộcthẩm quyền giải quyết của cơ quan liên quan đến đối tượng và khách thể quản lý
cụ thể nào, trong giới hạn lãnh thổ nào và thời gian nào Thẩm quyền này đượcpháp luật quy định phụ thuộc vào cơ cấu quyền lực nhà nước và khả năng thực tếcủa từng cơ quan Các QĐHC trái thẩm quyền về nội dung cần phải coi là quyếtđịnh vô hiệu và phải có những biện pháp xử lý thích đáng để giữ gìn trật tự tronghoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo giá trị của pháp luật nói chung
- Nội dung của quyết định hành chính:
QĐHC có hiệu lực pháp lý thấp hơn phải phù hợp với các quyết định có hiệu lực pháp lý cao hơn Hệ thống pháp luật Việt Nam gồm rất nhiều văn bản
pháp luật có hiệu lực cao thấp khác nhau trong đó văn bản có hiệu lực pháp lýthấp phải phù hợp với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Một QĐHC trái vớicác quyết định pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn thì QĐHC đó bị coi là bất
hợp pháp Đối với QĐHC cá biệt là quyết định được ban hành để giải quyết một
công việc cụ thể, đối với một đối tượng cụ thể Nội dung của QĐHC cá biệt được
Trang 38coi là sự cụ thể hóa các quy phạm pháp luật tương ứng vào các trường hợp cụ thể.Tính hợp pháp về nội dung của QĐHC cá biệt thể hiện ở sự phù hợp của quyếtđịnh với văn bản pháp luật chứa đựng quy phạm được chọn để áp dụng Trongtrường hợp văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau quy địnhkhác nhau về cùng một vấn đề thì QĐHC phải phù hợp với văn bản có hiệu lựcpháp lý cao hơn, nếu văn bản do cùng một cơ quan ban hành có quy định khácnhau thì QĐHC cá biệt phải phù hợp với văn bản được ban hành sau.
Nội dung của quyết định phải hài hòa thống nhất với các QĐHC có cùng hiệu lực pháp lý Các QĐHC có cùng hiệu lực pháp lý có nội dung không thống
nhất với nhau thì một cách tự nhiên không có quyết định nào có khả năng làmmất hiệu lực của quyết định khác, trừ trường hợp quyết định được dùng để sửađổi, thay thế, bãi bỏ quyết định trước hoặc các quyết định này do cùng một cơquan ban hành thì quyết định được ban hành sau có khả năng làm mất hiệu lựccủa quyết định được ban hành trước Trong trường hợp các QĐHC có hiệu lựcpháp lý ngang nhau và cùng có hiệu lực thi hành mà nội dung không hài hòa,thống nhất với nhau sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật và sẽ không thể
có được kết quả quản lý như nhà nước mong muốn
Các quy định trong cùng một quyết định phải thống nhất với nhau Mỗi
QĐHC bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hộigần gũi với nhau phát sinh trong một lĩnh vực xã hội cụ thể Giữa các quy phạmpháp luật trong cùng một quyết định có thể có những quan hệ với nhau về nhiềuphương diện Các quy phạm này nếu không thống nhất có thể vô hiệu hóa lẫnnhau, gây khó khăn cho việc thực hiện chúng
- Hình thức của quyết định hành chính:
•Tiêu chuẩn về tên loại của QĐHC
QĐHC được ban hành đúng tên loại trước hết là không sử dụng tên loại củavăn bản hành chính thông dụng Pháp luật có những quy định về các loại QĐHC,một số loại văn bản hành chính thông dụng, chỉ ra ranh giới giữa hai nhóm vănbản này nhằm tránh việc sử dụng lẫn lộn hai nhóm văn bản đó
Trang 39Tên loại QĐHC phải tương ứng với vấn đề thuộc nội dung của quyết định.Pháp luật quy định mỗi loại QĐHC được dùng để quy định những vấn đề gì.Trong những trường hợp cụ thể pháp luật quy định rõ loại quyết định phải sửdụng, cơ quan ban hành quyết định không được lựa chọn loại quyết định khácmặc dù cơ quan đó có quyền ban hành cả loại quyết định khác.
•Về thể thức và bố cục của quyết định
Thể thức của quyết định gồm quốc hiệu; tên cơ quan, tổ chức ban hànhquyết định; tên loại và trích yếu của quyết định; nội dung quyết định; chức vụ, họ,tên, chữ ký của người có thẩm quyền; dấu của cơ quan, tổ chức; nơi nhận; dấu chỉmức độ khẩn, mật của quyết định Ở mức độ nào đó, những thông tin này chophép đánh giá quyết định có hợp pháp hay không về hình thức, nội dung, thẩmquyền ban hành
Bố cục của quyết định cũng góp phần quan trọng vào việc thể hiện vàchuyển tải nội dung quyết định tới người đọc Bố cục khác nhau có khả năng thểhiện và chuyển tải thông tin khác nhau Pháp luật quy định về bố cục của từngloại quyết định tương ứng với các vai trò của chúng trong quản lý Những quyđịnh này tạo nên sự thống nhất trong việc trình bày nội dung của quyết định
•Về ngôn ngữ của QĐHC
Ngôn ngữ trong QĐHC phải trang trọng, nghiêm túc: ngôn ngữ thiếu trangtrọng nghiêm túc dễ làm cho người đọc có tâm lý coi thường, ảnh hưởng tiêu cựctới việc thực hiện quyết định Ngôn ngữ trong QĐHC phải chính xác: để có ngônngữ chính xác thì phải kết hợp nhuần nhuyễn các quy tắc ngôn ngữ với các quytắc xây dựng pháp luật và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của người viết phù hợpvới hoàn cảnh giao tiếp Ngôn ngữ trong QĐHC cần dễ hiểu: mục đích của yêucầu này là giúp cho người đọc dễ tiếp thu nội dung quyết định, thuận lợi cho việcthực hiện quyết định Để QĐHC dễ hiểu, các câu ngắn được khuyến khích sửdụng Một số kỹ thuật đặc thù như kỹ thuật viện dẫn, kỹ thuật trình bày so le cũnggóp phần tích cực làm cho quyết định dễ hiểu, chính xác
- Thủ tục ban hành quyết định hành chính:
Trang 40QĐHC được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định nhằm đảm bảo sửdụng quyền lực nhà nước đúng đắn và thống nhất Để đánh giá một QĐHC đượcban hành đúng thủ tục cần xem xét ở hai khía cạnh Một là, quá trình ban hànhQĐHC phải bao gồm đầy đủ các hoạt động cần thiết do pháp luật quy định CácQĐHC khác nhau thì số lượng, nội dung, tính chất, ý nghĩa của các hoạt động cụthể trong thủ tục xây dựng chúng khác nhau Hai là, hoạt động ban hành QĐHCphải tuân thủ theo đúng trình tự của các giai đoạn, các bước, các khâu theo phápluật quy định Chất lượng của QĐHC không chỉ phụ thuộc và chất lượng của từnghoạt động trong quá trình tạo ra quyết định mà còn phụ thuộc vào mức độ hợp lýcủa các hoạt động tiến hành.
1.2.2.2 Các yêu cầu về tính hợp lý
Yêu cầu hợp lý là yêu cầu rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảcủa QĐHC Tuy nhiên, do yêu cầu này liên quan đến kỹ thuật, nghệ thuật quản lýnên chúng ta khó có thể quy định một cách chặt chẽ, rõ ràng trong hệ thống phápluật
QĐHC hợp lý thì mới có khả năng thi hành cao nhưng phải nhấn mạnh rằngQĐHC có hợp lý hay không chỉ khi nó hợp pháp Điều đó có nghĩa là QĐHCphải đảm bảo yêu cầu của tính hợp pháp, tránh ban hành các quyết định chỉ nhằmphục vụ lợi ích của Nhà nước mà gây cản trở thiệt hại cho công dân Không thể vì
lý do hợp lý, phù hợp với yêu cầu của địa phương, của cơ sở mà coi thường tínhhợp pháp của một QĐHC Như vậy, việc đảm bảo yêu cầu hợp pháp của QĐHCluôn đặt lên hàng đầu Một QĐHC được coi là hợp lý khi nó đảm bảo các yêucầu:
- QĐHC phải đảm bảo được lợi ích của nhà nước và nguyện vọng của nhân dân
QĐHC phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân Nhànước là đại diện cho ý chí và quyền lợi của nhân dân nên không thể vì lợi ích củanhà nước mà làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhân dân cũng như không thể vì lợiích của nhân dân mà làm tổn hại đến lợi ích của nhà nước Vì vậy, yêu cầu đặt ra
là phải đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, tập thể, cá nhân Yêu cầu này đòi