Lời cảm ơnTrong quá trình học tập, nghiên cứu, khảo sát, triển khai đề tài: "Thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5", tôi đã nhận thấy sự giúp đỡ nhiệt tình, có hiệu quả của: Các
Trang 1Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu, khảo sát, triển khai đề tài: "Thiết
kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5", tôi đã nhận thấy sự giúp đỡ nhiệt
tình, có hiệu quả của: Các thầy giáo cô giáo trờng Đại học Vinh, Trờng Tiểu học Quảng Chính cùng các đồng nghiệp trong và ngoài trờng, sự giúp đỡ tận tình của thầy hớng dẫn, đến nay tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu ấy.
Tôi xin đợc bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, đặc biệt là PGS - Tiến sĩ Thái Văn Thành - Ngời thầy đã tận tình, chu
đáo hớng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới các đồng chí trong ban giám hiệu, cùng các thầy cô giáo Trờng Tiểu học Quảng Chính huyện Quảng Xơng tỉnh Thanh Hoá đã nhiệt tình tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình thực nghiệm để hoàn thành đề tài.
Luận văn này tuy đã đợc khảo sát nghiên cứu công phu, nhng chắc chắn cũng không tránh đợc những khiếm khuyết rất mong đợc sự góp ý sửa chữa của các quý thầy cô và bạn đọc.
Tác giả
Trang 2Những chữ viết tắt trong luận văn
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nớc ta đang đẩy mạnh công cuộc thực hiện CNH, HĐH và hội nhập
quốc tế Văn kiện đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII
(06/1996) đã nhấn mạnh: "Nâng cao dân trí, bồi dỡng và phát huy nguồn nhân lực to lớn của con ngời Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công nghiệp hoá hiện đại hoá Vì vậy đồng thời với việc chăm lo tăng trởng
Trang 3về kinh tế phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực con ngời, chuẩn bị lớp ngời lao động, có một hệ thống giá trị phù hợp với yêu cầu phát triển đất n-
ớc trong thì kỳ mới" Trong chiến lợc này đổi mới con ngời là khâu đột phá
mang tính quyết định Từ đó Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra những đờng lối vàchính sách đúng đắn nhằm đổi mới việc đào tạo, giáo dục con ngời ở cácngành học, bậc học Nghị quyết lần thứ II Ban chấp hành Trung Ương ĐảngCộng Sản Việt Nam khoá VIII đã đề ra những giải pháp lớn cho việc đổi mớitrong giáo dục Dới đây là một số nhiệm vụ cho ngành học phổ thông, nhằm
cụ thể hoá các giải pháp lớn:
1.1 "Rà soát và đổi mới một bớc SGK, loại bỏ những nội dung khôngthiết thực, bổ sung những nọi dung cần thiết theo hớng đảm bảo kiến thức cơbản, cập nhật
Đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyềnthụ một chiều, rèn luyện thành nếp t duy sáng tạo của ngời học
Tổ chức biên soạn thử nghiệm nội dung chơng trình SGK, tài liệu, phơngpháp giảng dạy cùng các danh mục thiết bị đồ dùng dạy học các môn học, cácmặt hoạt động trong nhà trờng của tất cả các bậc học sẽ áp dụng sau năm2000"
1.2 Giáo dục tiểu học là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng đặt nềnmóng cho việc phát triển toàn diện nhân cách con ngời, đặt nền tảng vữngchắc cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo và cho hệ thống giáo dục quốc dân Mộttrong những điều đổi mới trọng tâm của chơng trình giáo dục Tiểu học là đổimới Phơng pháp giảng dạy Đây đợc xem là hoạt động quan trọng và chủ yếucủa Nhà trờng nhằm phát huy những mặt tích cực của các phơng pháp truyềnthống và vận dụng hợp lý các phơng pháp dạy học mới trong việc phát triển hếtcác năng lực, sở trờng của từng học sinh, rèn luyện học sinh trở thành những lao
động chủ động, sáng tạo
1.3 Là một trong những môn học chính ở bậc Tiểu học, môn toán đã và
đang đợc soạn chơng trình theo hớng tăng cờng dạy các kỹ năng tính toán.Trên cơ sở dạy những hiểu biết cơ bản, hiện đại về toán nhằm đổi mới và nângcao chất lợng dạy học trong Nhà trờng Tiểu học
1.4 Để góp phần đảm bảo thành công của việc đổi mới phơng pháp dạyhọc nói chung và tiểu học nói riêng đó là ứng dụng Test vào quá trình dạy học.Việc ứng dụng Test vào quá trình dạy học nhằm giúp cho Giáo viên tìm ra điểm
Trang 4mạnh, yếu của mỗi học sinh để thay đổi phơng pháp hớng dẫn học sinh học tập.Tuy nhiên việc sử dụng Test trên con đờng đổi mới của giáo dục nói chung vàTiểu học nói riêng vẫn cha đợc các tác giả quan tâm nghiên cứu Đặc biệt là việc
sử dụng Test trong dạy học toán Tiểu học hiện nay nh thế nào để góp phần nângcao chất lợng dạy học
Chính vì những lý do nêu trên mà chúng tôi chọn đề tài: "Thiết kế và
sử dụng Test trong dạy học toán 5".
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nâng cao chất lợng của quá trình dạy học Toán 5
3 Khách thể và đối tợng nghiên cứu
Trang 54 Giả thiết khoa học
Nếu chúng ta có một quy trình thiết kế và sử dụng Test để hỗ trợ quátrình dạy học Toán 5 theo các bớc một cách hợp lý, khoa học thì sẽ nâng cao
đợc chất lợng của quá trình dạy học này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài
5.3 Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5.5.4 Thực nghiệm s phạm chứng minh tính hiệu quả của quy trình các Test đãxây dựng
6 Phơng pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu những tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học
bộ môn và đặc biệt là những tài liệu về lý thuyết Test, về ứng dụng của Testtrong giảng dạy
6.4 Lấy ý kiến các chuyên gia
Đàm thoại trực tiếp với một số đồng chí hiệu trởng, phó hiệu trởng phụ tráchchuyên môn trong các trờng Tiểu học trên địa bàn Quảng Xơng - Thanh Hoá
Trang 6- Đề tài góp phần nâng cao chất lợng và hiệu quả của quá trình dạy học Toán 5.
8 Cấu trúc của đề tài
Đề tài ngoài phần Mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục.Gồm có 3 chơng
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chơng 2: Quy trình thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5 Chơng 3: Thực nghiệm s phạm
Chơng 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1 Cơ sở lý luận
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
ở nớc ta việc sử dụng trắc nghiệm (Test) trong giáo dục ở tình trạng khálạc hậu và phát triển rất chậm Trớc năm 1975 ở Miền Nam nớc ta có một vàingời đợc đào tạo về khoa học này từ các nớc phơng Tây, trong đó có giáo s D-
ơng Thiện Tống Vào năm 1974 một hoạt động đáng đợc lu ý và kỳ thi tú tàilần đầu tiên đợc tổ chức ở Miền Nam bằng phơng pháp Test
ở Miền Bắc nớc ta trớc đây Test đợc lu ý vì trong hệ thống các nớc xãhội chủ nghĩa, kể cả Liên xô (trớc đây) lĩnh vực khoa học này cũng cha pháttriển Vào những năm sau 1975 ở miền Bắc nớc ta có một ngời đã nghiên cứu
về khoa học đo lờng trong tâm lý Đến năm 1993 Bộ giáo dục và Đào tạo đã
Trang 7mời một chuyên gia nớc ngoài vào nớc ta phổ biến về khoa học này cũng nh
cử một số cán bộ nớc ngoài học tập Từ đó một số trờng Đại học có tổ chứcmột số nhóm nghiên cứu áp dụng các phơng pháp trắc nghiệm trong giảng dạy
để thiết kế các công cụ để đánh giá, soạn thảo các phần mềm Một điểm mốc
đáng ghi nhận là kỳ thi tuyển sinh Đại học thí điểm tại trờng Đại học Đà Lạtvào tháng 7 năm 1996 bằng phơng pháp trắc nghiệm khách quan mà sự thànhcông của nó đã đợc hội nghị của Bộ giáo dục và đào tạo rút kinh nghiệm vàotháng 9 năm 1996 khẳng định Vào cuối tháng 9 năm 2004 Bộ giáo dục và
Đào tạo đã thành lập "Cục khảo thí và kiểm định chất lợng để cải tiến thi cử và
đánh giá chất lợng” Hiện nay phơng pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) Bắt đầu đã đợc đa vào sử dụng tại nhiều cơ sở giáo dục, từ bậc Tiểu học
đến bậc Đại học ở nớc ta, tuy hình thức này cha mang tính phổ biến
Trang 81.2 Đại cơng về Test
Nh chúng ta đã biết thiết kế và sử dụng Test là một phơng pháp nhằm nângcao chất lợng dạy và học của giáo viên và học sinh Vậy Test là gì?
Khái niệm Test
Từ điển tiếng Anh nghĩa của Test là thử hay phép thử Thuật ngữ này
đ-ợc dùng đầu tiên trong tâm lý học do J ames Mc Keen Cattel trong bài báo
"Test trí khôn và cách đo trí khôn" (1980) Tuy nhiên định nghĩa về Test đợcdùng nh hiện nay là do Binet- Si mon (Pháp)- 1905 đề xuất và điều chỉnh1908; hoàn chỉnh (Vào năm 1911) đợc thích nghi và cải biến, bổ sung nhiềulần ở các nớc: Mỹ, Đức, Anh…
- A.aL.jublixkaia[1] cho rằng: có thể dùng Test làm phơng pháp nghiêncứu trong tâm lý học s phạm và tâm lý học lứa tuổi
- A.V.Pestovski [2] cho rằng: Có thể dùng Test làm phơng pháp xét nghiệm
- X.L.Rubisntein[39] chú ý đến chức năng của Test:“Test là sự thểnghiệm, nó nhằm mục đích phân bậc, xác định vị trí xếp hạng của nhân cáchtrong nhóm hay tinh thể, đoàn thể, xác lập trình độ của vị trí ấy, trắc nghiệmhớng vào nhân cách, nó phải là một phơng tiện chuẩn đoán và dự đoán"
Định nghĩa của K.M.Guerich: "Test là một thử nghiệm tâm lý đã đợcchuẩn hoá và thờng đợc hạn chế về thời gian, dùng để xác lập sự khác biệtgiữa các cá nhân và những năng lực chuyên môn, theo mục đích thực tiễn củanhà nghiên cứu"
Định nghĩa của F.S.Freman: "Trắc nghiệm tâm lý là một công cụ đã đợctiêu chuẩn hoá, dùng để đo lờng khách quan một hay nhiều khía cạnh củanhân cách hoàn chỉnh qua những mẫu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữhoặc những loại hành vi khác"
Ngoài ra, các định nghĩa của X.Ghenlecbin; M.X Rô vin.M.Cheplop…cũng đã vạch ra các dấu hiệu cơ bản của Test
- Một số tác giả lại có quan niệm rằng: "Test" là phơng pháp dạy học
và là một phơng pháp nghiên cứu tâm lý học, giáo dục học cùng một ngànhkhoa học khác Là một phơng pháp học tập dùng những bài tập ngắn ghi trựctiếp những kết quả và chuẩn hoá các mức Test góp phần năng cao tính tíchcực, hứng thú học tập bộ môn của học sinh
Tóm lại: Có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu
nh-ng theo chúnh-ng tôi: Test là một phơnh-ng pháp đợc chuẩn hoá, dùnh-ng để tìm hiểu
Trang 9các đặc điểm nhân cách, xác định một hiện trạng, khả năng hay nguyên nhânnào đó một cách khách quan.
Một trắc nghiệm đã đợc chuẩn hoá phải có những tiêu chuẩn sau đây:
- Nghiệm pháp cảm giác động tác: Nhìn màu sắc (Ishihara, Polack), sựphát triển của hệ tâm vận động (Toeretrky), phối hợp vận động (Testtheer hiện)
- Thang đo các yếu tố phát triển trí khôn: Binet-Simon (sự phát triển của
hệ tâm vận động của trẻ sơ sinh và hài nhi)
* Các Test về tính cách và nhân cách: Gồm 4 dạng:
- Bản câu hỏi: Về hứng thú (Test của Kudẻ; Testcuar Strong), về néttính cách (Test16 PFcủa Cattell) về bệnh tâm lý (MMPI)
- Test đo thiên hớng âm nhạc (Cattell), đo vận động (có Test MiasYlopez)
- Các nghiệm pháp phóng chiếu: Test của Jung (liên tởng tự do các từngữ), Testcuar L Duss (điền thế chuyện ngụ ngôn), Test Murray (T.A.T)……
- Test sáng tạo: Vẽ tự do, trò chơi hoặc múa rối, xây dựng một lầnnhớ…
1.3 Test trong dạy học
Trong giáo dục, tâm lý và các ngành khoa học xã hội khác ngời tathu thập dữ kiện nhờ nhiều phơng pháp khác nhau Kinh nghiệm cho thấycác phơng pháp kiểm tra đánh giá đợc sử dụng trong quá trình dạy học
Trang 10đó là: Phơng pháp quan sát, vấn đáp và trắc nghiệm (Test) Khi sử dụngTest trong dạy học chúng ta cần phải căn cứ vào những yếu tố sau đây:
1.3.1 Căn cứ vào mục tiêu của môn học và mục tiêu khảo sát
Việc sử dụng Test để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vàthái độ hoặc dạy nội dung mới nào trong chơng trình, điều quan trọng là phảixác định đợc mục tiêu muốn kiểm tra, đánh giá của môn học đó cho rõ ràng
đồng thời các mục tiêu đó phải đợc phát biểu dới dạng những điều có thể quansát đợc, đo đợc Đây là cơ sở có tính định hớng quan trọng đối với việc xâydựng các Test thích hợp
1.3.2 Căn cứ vào độ tuổi và năng lực của ngời học
Việc căn cứ vào độ tuổi và năng lực của ngời học đảm bảo cho việc viếtcâu hỏi kiểm tra có độ khó thích hợp và chứa đựng nội dung phù hợp Độ tuổi
và năng lực của ngời học quy định việc xây dựng các Test sao cho thích hợpvới mục tiêu dạy học
Trang 111.3.3 Mục đích của Test
Một Test có thể sử dụng cho nhiều mục đích chẳng hạn nh: Dùng Test
để thu thập thông tin phản hồi khi tiến hành dạy học Dùng Test để dạy họcmột số nội dung mới hoặc dùng Test để kiểm tra kiến thức, kỹ năng kỹ xảo vàthái độ của học sinh
1.3.4 Vai trò của ngời soạn thảo Test trong quá trình giảng dạy
Khi dùng Test vào việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảocủa học sinh, mối quan tâm của ngời soạn thảo Test là phải xếp hạng chínhxác thí sinh theo một tiêu chí rõ rệt Để đạt đợc điều đó giáo viên phải quansát quá trình t duy của ngời học sinh để giúp đỡ ngời học Còn đối với ngờisoạn Test thì những sai sót của thí sinh giúp họ ra quyết định về chất lợng củabài thi Nh vậy chức năng là khác biệt tùy thuộc vào thời điểm khác nhau vàgiáo viên là ngời đóng vai trò chủ đạo
1.3.5 Các đặc điểm của một bài Test trong dạy học
Theo Patock Grfsin và Joldn Iran (Au stralia) một bài Test đợc xâydựng tốt phải đảm bảo các tiêu chí sau:
- Có giá trị, phải đo đợc cái định đo
- Đo cái cần đo ở mức độ chắc chắn, chính xác
- Không gây ra tác dụng không mong muốn về mặt giáo dục
- Trình bày sáng sủa, chỉ dẫn rõ ràng, ngôn ngữ chính xác phù hợp với
ng-ời học
- Thuận tiện với việc cho điểm và quản lý
Các đặc điểm trên là chung cho các Test còn đối với từng trờng hợp cụthể thì lại có những yêu cầu cụ thể khác
1.3.6 Ưu nhợc điểm của việc sử dụng Test trong dạy học toán
Nh chúng ta đã biết, trắc nghiệm là một phơng pháp đợc chuẩn hoádùng để tìm hiểu các đặc điểm nhân cách, xác định một hiện trạng, khả nănghay nguyên nhân nào dó một cáh khách quan Trắc nghiệm trong giáo dục làmột phơng pháp đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinhhoặc để kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ của học sinh.Trong qúa trình dạy học nói chung học và dạy học toán ở tiểu học nói riêng Test
là phơng pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập của học sinh Tuy nhiên Testcũng có những u điểm và hạn chế riêng của nó, cụ thể:
* Ưu điểm
Trang 12Trong quá trình dạy học toán ở tiểu học thông qua hình thức Test giáoviên biết đợc học sinh lĩnh hội đến đâu, đạt kết quả học tập tới mức nào.
Những Test đợc xây dựng công phu có thể thay thế những bài kiểm tramột tiết, thậm chí bài kiểm tra học kỳ và có nhiều u điểm nổi trội so với cácphơng pháp truyền thống khác nh:
- Kiểm tra đợc toàn diện, đầy đủ các kiến thức đã dạy (Theo yêu cầucủa chơng trình)
- Đánh giá khách quan kết quả học tập của học sinh
- Khi sử dụng Test khách quan thì học sinh cảm thấy nhẹ nhàng, thoảimái, gây đợc hứng thú học tập
- Viêc đánh giá đợc tiến hành một cách nhanh chóng và tiện lợi, ít tốnthời gian chấm bài nên thông tin phản hồi đến với giáo viên nhanh hơn so vớicác kiểu truyền thống khác Mặt khác việc triển khai chấm bài nhanh, chínhxác và khách quan nên rất thích hợp khi tổ chức kiểm tra với quy mô lớn
* Nhợc điểm
- Trong quá trình dạy học để xây dựng đợc một Test chính quy mất rấtnhiều thời gian và khá tốn kém
- Không luyện tập đợc cho học sinh các hành văn dùng trong bài viết,
đôi khi lại bị động trong lời giải Chính vì thế, trong khi đánh giá giáo viên rấtkhó đánh giá đợc khả năng lập luận, giải thích nhận xét, năng lực diễn đạt củahọc sinh
- Nếu sử dụng Test không khéo sẽ khuyến khích học sinh học vẹt
- Nếu khâu tổ chức kiểm tra không khoa học sẽ tạo điều kiện cho họcsinh dễ dàng thông tin cho nhau về câu trả lời
Tóm lại: Việc sử dụng Test trong dạy học có nhiều u điểm nổt bật, đặc
biệt trong việc nắm bắt thông tin phản hồi tức thì trong tiến trình một tiết dạy.Vì vậy giáo viên nắm bắt thông tin một cách nhanh chóng qua đó có thể điềuchỉnh một cách hợp lý qúa trình dạy học các nội dung tiếp theo nhằm làm chogiờ dạy đạt hiệu quả cao nhất
1.4 Test trong dạy học toán ở bậc Tiểu học
1.4.1 Vai trò và ý nghĩa của Test trong dạy học toán ở Tiểu học
Nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học toán ở nhà trờng phổ thông là làmcho học sinh nắm đợc một hệ thống kiến thức và những kỹ năng cơ bản, để
Trang 13các em biết vận dụng vào thực hành Trên cơ sở đó phát huy năng lực trí tuệ(năng lực nhận thức, t duy độc lập sáng tạo …)
Trong nhà trờng Tiểu học nhiệm vụ đó đợc thông qua quá trình dạyhọc Mục đích và nhiệm vụ của dạy và học toán ở Tiểu học là:Trang bịcho học sinh một hệ thống kiến thức toán học và kỹ năng cơ bản, cần thiếtcho việc học tập tiếp tục hoặc đi vào cuộc sống lao động, thông qua việclàm trên, bớc đầu phát triển năng lực trừu tợng hoá, khái quát hoá, phântích, tổng hợp, biết vận dụng kiến thức vào các hoạt động thiết thực trong
đời sống, từng bớc hình thành và rèn luyện phơng pháp, tác phong làmviệc khoa học, phát triển hợp lý, phù hợp phát triển tâm lý của từng lứatuổi các khả năng suy luận
Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó thì trong quá trình dạy học ngời giáo viênphải nắm đợc một cách sâu sắc, sáng tạo các phơng pháp dạy học Khi nói đếnphơng pháp dạy học và học toán ngời ta thờng hiểu cách thức làm việc củagiáo viên và học sinh nhằm thực hiện mục đích và mục tiêu của quá trình dạyhọc.Test có một vị trí hết sức quan trọng trong việc dạy học toán ở Tiểu học Các bài Test đợc soạn kỹ dùng đúng phơng pháp có thể là nguồn kích
động học sinh chăm lo học tập, sửa đổi những sai lầm và hớng những hoạt
động học tập đến mục tiêu mong ớc Kết quả của các bài Test còn có thể giúpgiáo viên tìm ra điểm mạnh yếu của mỗi học sinh để thay đổi phơng pháp dạyhọc sao cho giờ dạy đạt kết quả cao nhất
1.4.2 Các Test trong dạy học toán ở Tiểu học
Trong chơng trình Tiểu học môn toán chiếm một vị trí hết sức quantrọng vì:
- Toán học với t cách là một khoa học nghiên cứu một số mặt của thếgiới hiện thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phơng pháp nhận thức cơbản cần thiết cho đời sống sinh hoạt, lao động Đó cũng là công cụ rất cầnthiết để học các môn học khác, để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh và
để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn
- Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn trong việc pháttriển khả năng t duy lôgíc, bồi dỡng và phát huy những thao tác trí tuệ cầnthiết để nhận thức thế giới hiện thực nh trừu tợng hoá, khái quát hoá, phântích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu và dự đoán, chứng minh và bác bỏ Nó cóvai trò to lớn trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp suy luận,
Trang 14phơng pháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện chính xác, nó cónhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, t duy độc lập, linh hoạt,sáng tạo, trong việc hình thành và rèn luyện mọi lĩnh vực hoạt động của conngời, góp phần giáo dục ý chí và những đức tính tốt nh cần cù nhẫn nại, ý chívợt khó khăn.
Tóm lại: Môn toán có một vị trí hết sức quan trọng trong chơng trình
Tiểu học Đối với giáo viên vấn đề quan trọng không phải chỉ là làm sao dạy
đợc cho học sinh các kiến thức trong chơng trình mà còn nắm vững khả nănggiáo dục nhiều mặt của môn toán, có ý thức và kế hoạch khai thác các khảnăng giáo dục đó thông qua các biện pháp s phạm cụ thể
Một trong những biện pháp s phạm góp phần phát triển t duy lô gíchtrong quá trình nhận thức ở học sinh Tiểu học đó là việc đa Test vào trong dạyhọc toán Việc đa Test vào trong dạy học toán có nhiều thuận lợi và nó sẽ bổkhuyết cho phơng pháp dạy học truyền thống
Trong dạy học toán Test có các ứng dụng sau:
* Dùng Test vào việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập:
Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm dạy học Toán mấy chụcnăm qua, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm dạy học toán của các n ớc trênthế giới và khu vực, chơng trình toán ở bậc tiểu học đã và đang trong giai
đoạn triển khai Vì vậy, việc dạy học toán cần phải sử dụng những ph ơngpháp dạy học phát huy đợc tính chủ động, tích cực của học sinh theo đặctrng môn học và đánh giá tri thức học sinh là một trong những ph ơng pháp
đó cần đợc đổi mới để trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy ng ờihọc, ngời dạy không ngừng nâng cao chất lợng dạy học nói riêng, chất l-ợng giáo dục nói chung Hình thức đánh giá bằng điểm số kết hợp vớinhận xét của giáo viên đối với các nội dung học tập phù hợp đ ợc áp dụngnhiều hơn ở đó đánh giá bằng lời nhận xét của giáo viên với các nội dung
và hoạt động mang tính giáo dục ở đây việc lĩnh hội tri thức của học sinh
đợc đánh giá bằng Test khách quan
Trong mỗi giai đoạn của quá trình dạy học điều cần đợc kiểm tra và
đánh giá, điều đó cần thiết cho cả thầy và trò Để làm tốt công tác kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập của học sinh, giáo viên cần phải biết sử dụng các
ph-ơng pháp đánh giá Test là một trong những phph-ơng pháp hữu hiệu để đánh giákết quả học tập của học sinh nói chung và môn toán nói riêng Việc đa Test
Trang 15vào làm công cụ kiểm tra đánh giá chất lợng học tập môn toán có những u
điểm và nhợc điểm sau:
+ Ưu điểm
- Kiểm tra đợc nhiều kiến thức cùng một lúc
- Việc chấm bài nhanh giúp giáo viên nắm đợc thông tin phản hồi mộtcách kịp thời qua đó điều chỉnh đợc quá trình dạy học một cách phù hợp
- Tránh đợc tình trạng học sinh học tủ, học lệch
- Do số câu hỏi nhiều, khoảng thời gian làm bài có hạn nên học sinhphải tập trung làm bài với tốc độ cao, nhờ vậy giảm đợc hiện tợng bàn tánquay ngợc, quay xuôi trong thi cử
- Việc kiểm tra bằng Test là khách quan, công bằng không phụ thuộcvào chủ quan của ngời chấm bài
* Dùng Test để thu thập thông tin phản hồi
Chúng ta cần phải khẳng định rằng trong mỗi giai đoạn của quá trìnhdạy học thì ngời giáo viên cần phải nắm đợc thực trạng tiếp thu kiến thức của
họ cao mức độ nào để kịp thời điều chỉnh quá trình dạy học tiếp theo sao chophù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất Trong dạy học toán việc đa công cụTest vào là hết sức thuận lợi Bởi vì, các phơng pháp kiểm tra, đánh giá theokiểu truyền thống khó thoả mãn đợc yêu cầu đó là tính tức thời của thông tinphản hồi Chính vì điều đó nên các Test đợc dùng cho mục đích này cần phảingắn gọn, cô đọng và việc đánh giá phải nhanh chóng Các Test dùng cho mục
đích này đó là: Câu hỏi trả lời ngắn, câu hỏi ghép đôi…
1.5 Các dạng câu hỏi trắc nghiệm
a Câu hỏi tự luận:
* Câu hỏi tự luận: Là dạng trắc nghiệm dùng những câu hỏi mở đòi
hỏi học sinh phải tự xây dựng câu trả lời Câu trả lời có thể là một đoạn vănngắn, một bài tóm tắt, một bài diễn giải hoặc một bài tiểu luận
* Các dạng câu hỏi tự luận
Trang 16- Câu hỏi có sẵn dàn ý trả lời: Nhằm hớng vào việc thu thập thông tincho một số nội dung cụ thể Câu trả lời cho dàn ý đó có thể là tái hiện kiếnthức, đa ra đơn vị kiến thức (chỉ có một phơng án trả lời đúng) về bài toánhoặc cũng có thể có tính chất suy luận, phát hiện, tìm tòi, giải quyết vấn đề …hoặc có thể đa ra nhiều phơng án trả lời đúng.
- Câu hỏi mở: Cho phép học sinh tự quyết định nội dung và cấu trúc câutrả lời dựa trên các dự kiện đã cho Sẽ có nhều câu trả lời khác nhau nhng điềuphù hợp tức là có nhiều phơng án trả lời Vì vậy khi dùng câu hỏi mở, điềuquan trọng không phải là câu trả lời đúng (vì có nhiều) mà tại sao và làm thếnào học sinh lại đi đến câu trả lời ấy? Bằng cách nào học sinh lại xác định đợc
đó là câu trả lời cần thiết? Câu hỏi dạng này thờng khó và ít nhều đòi hỏi trình
độ phân tích, tổng hợp, khái quát, tiến tới nhận thức lô gích qua quá trình suyngẫm trừu tợng hoá
* Ưu, nhợc điểm của câu hỏi tự luận
Loại câu hỏi này có thể dùng kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan
đến thái độ, sự hiểu biết những ý niệm, sở thích và tài diễn đạt t tởng
- So với loại trắc nghiệm khách quan, loại câu hỏi này dễ soạn hơn.Viết
10 câu hỏi tự luận tốn thời gian hơn viết 100 câu hỏi trắc nghiệm khách quan.Tuy nhiên, một câu hỏi tự luận rõ ràng nhằm đo mục tiêu ở mức trí lực caocũng đòi hỏi nhiều công phu và thời gian soạn thảo
- Loại câu hỏi tự luận có thể dùng để trắc nghiệm thái độ
- Loại câu hỏi tự luận khuyến khích cho học sinh có thói quen tập suydiễn, tổng quát hoá, tìm mối tơng quan giữa các sự kiện khi học bài hay soạnbài Học sinh thờng cũng làm dàn bài hay tóm lợc bài học Tuy nhiên, các thóiquen này cũng có thể đạt đợc với loại trắc nghiệm khách quan nếu giáo viênbiết đặt câu hỏi để đo lờng những khả năng t duy thuộc mức trí lực cao
Trang 17- Loại trắc nghiệm tự luận khuyến khích sự phát huy óc sáng kiến Khihọc sinh sáng tạo, giải quyết vấn đề theo đờng hớng mới hoặc tự do sắp đặt ýtởng, óc sáng kiến có cơ hội phát triển nhiều hơn khi chọn lựa những câu hỏitrả lời sẵn.
- Loại câu hỏi tự luận này còn tạo cơ hội cho học sinh luyện văn họcsinh có dịp trau dồi lời văn, phơng pháp chấm câu, sắp xếp ý tởng để cóthểdiễn đạt t tởng một cách hữu hiệu
+ Nhợc điểm:
- Độ tin cậy thấp: Độ tin cậy của một bài trắc nghiệm thấp khi số câuhỏi ít và việc lựa chọn mẫu câu hỏi thiếu tính chất tiêu biểu Do đó, trong cùngmột khoảng thời gian để kiểm tra hay thi nh nhau, một bài trắc nghiệm loại tựluận sẽ có độ tin cậy thấp so với loại trắc nghiệm khách quan… Thêm vào đó,tính chất chủ quan khi cho điểm cũng nh thời gian đồi hỏi lúc chấm bài khiến
độ tin cậy giảm
- Giá trị bài làm của mỗi học sinh cũng chịu ảnh hởng của các bài giámkhảo vừa đọc trớc đó
- Độ giá trị thấp: Một bài trắc nghiệm có giá trị nhiều hay ít tuỳ thuộcvào bài ấy có đo đợc đúng những điều chúng ta muốn kiểm tra hay đánh giákhông Với loại câu hỏi tự luận, yếu tố giảm độ giá trị của bài trắc nghiệmnhiều nhất là tính chủ quan lúc chấm bài
Ví dụ: Học sinh thuộc nam hay nữ, có bề ngoài, thái độ với giáo viên
nh thế nào, chữ viết lời văn dở cũng ảnh hởng đến điểm của bài thi kiểm trahay bài thi của học sinh ấy
b Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
* Trắc nghiệm khách quan là gì?
Trắc nghiệm khách quan là trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm theomỗi câu trả lời sẵn Loại câu hỏi này cung cấp cho học sinh một phần hay tất cảthông tin cần thiết và đồi hỏi học sinh phải chọn một câu trả lời hoặc chỉ cần điềnthêm một vài từ Loại câu hỏi này còn gọi là câu hỏi đóng, đợc xem là trắcnghiệm khách quan vì chúng đảm bào tính khách quan tronng khi chấm bài
Trắc nghiệm khách quan phải đợc xây dựng sao cho mỗi câu hỏi chỉ cómột câu trả lời đúng hoặc một câu trả lời tốt nhất
* Ưu, nhợc điểm của trắc nghiệm khách quan
+ Ưu điểm:
Trang 18- Trắc nghiệm khách quan cho phép trong một thời gian ngắn kiểm tra
đợc nhiều kiến thức cụ thể và đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiếnthức
- Phạm vi kiểm tra kiến thức trong một bài trắc nghiệm khách quan làkhá rộng nên có thể chống lại khuynh hớng học tủ, chỉ lo tập trung vào mộtvài kiến thức trọng tâm
- Trắc nghiệm khách quan ít tốn thời gian thực hiện, đặc biệt là khâuchấm bài.Việc biên soạn một bài trắc nghiệm khách quan thì mất nhều thờigian và rất công phu nhng khi tổ chức kiểm tra và chấm bài thì lại rất nhanhchóng Để chấm tập bài kiểm tra của một lớp theo kiểu cổ truyền, giáo viênphải mất rất nhiều thời gian có khi hàng tuần, tuỳ từng môn học nhng vì bàitrắc nghiệm khách quan thì một tiếng đồng hồ có thể chấm hàng trăm bài,giảm nhẹ lao động cho giáo viên dạy nhiều lớp
- Trắc nghiệm khách quan đảm bảo tính khách quan Khi cho điểmtrong kiểm tra cổ truyền cùng một bài làm có thể đợc đánh giá khác nhau, cókhi điểm số chênh lệch khá lớn tuỳ theo ngời chấm, thậm chí cùng một ngờichấm bài đó trong những lần khác nhau cũng có thể có độ chênh lệch về con
điểm Chấm bài trắc nghiệm khách quan sẽ tránh đợc những sai lệch đó, nhất
là khi chấm bài bằng máy
- Trắc nghiệm khách quan thuận lợi cho việc tổ chức làm bài và chấmbài kiểm tra trên máy Việc chấm bài đợc nhanh gọn, học sinh có thể biết đợc
- Nếu sử dụng không khéo sẽ khuyến khích học sinh học vẹt
* Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
- Câu điền khuyết hay trả lời ngắn:
Loại trắc nghiệm điền khuyết hay trắc nghiệm có câu trả lời ngắnthực ra chỉ là một loại câu hỏi, nó chỉ khác nhau về dạng thức vấn đề đ ợc
đặt ra Nếu đợc trình bày dới dạng câu hỏi, chúng ta gọi là loại câu trả lời
Trang 19ngắn, nếu đợc trình bày dới dạng một câu phát biểu cha đầy đủ, chúng tagọi là dạng điền khuyết Nói tóm lại, đây là dạng trắc nghiệm kháchquan có câu trả lời tự do Câu dẫn có một vài chỗ trống để điền những từthích hợp.
Ví dụ1: Viết phân số thích hợp vào chỗ chấm (….)
- Phơng pháp chấm điểm nhanh hơn và đáng tin cậy hơn với loại luận
đề, mặc dù việc cho điểm có phần rắc rối hơn so với trắc nghiệm khách quan
- Học sinh mất cơ hội đoán mò câu trả lời nh trong trờng hợp trắcnghiệm khách quan khác Học sinh phài nhớ ra hoặc nghĩ ra câu trả lời, vì chỉchọn lựa câu trả lời đúng trong số các câu hỏi cho sẵn
Loại trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn để soạn hơn loạicâu hỏi ghép đôi hay loại câu hỏi có nhiều phơng án để lựa chọn
- Có thể lấy mẫu từ các bài đã học Loại trắc nghiệm điền khuyết thíchhợp hơn loại luận đề khi dùng kiểm tra những điều đòi hỏi trí nhớ Nhờ vàocâu trả lời ngắn, số câu hỏi có thể ra để thi trong thời gian có hạn sẽ đợc nhiềuhơn so với loại luận đề, đo đó loại trắc nghiệm điền khuyết có độ tin cậy caohơn
- Câu hỏi loại điền khuyết hay có câu trả lời ngắn rất thích hợp nhữngvấn đề nh tính toán, điễn đạt ý kiến và thái độ…
- Câu hỏi trắc nghiệm này còn giúp học sinh nhớ nhanh khi cần thiết
Trang 20- Việc chấm bài mất nhiều thời gian hơn so với loại trắc nghiệm Đ - S
- Các yếu tố nh chữ viết, đánh vần sai … có thể ảnh hởng đến việc
đánh giá câu trả lời
- Khi có nhiều chỗ để trống trong một câu hỏi, học sinh có thể rối trí.Kết quả điểm số thờng có độ tơng quan so với mức thông minh hơn là vớithành quả học tập của học sinh Dó đó độ giá trị của bài thi giảm vì thực ragiáo viên đang đo lờng mức thông minh nhiều hơn thành quả học tập
- Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm Mặc dù tính khách quantrong câu hỏi điền khuyết cao hơn trong loại luận đề, giáo viên vẫn gặp nhiềuphiền phức hơn khi chấm bài Vì giới hạn câu trả lời đúng rộng rãi hơn Giáoviên có thể phải cho điểm một phần hay toàn phần cho một câu trả lời khácvới trong đáp án để chấm bài Do đó các giáo viên phục vụ không thể chấmgiúp , cũng nh không thể dùng phơng pháp chấm bằng máy
* Các quy tắc soạn câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết:
- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng Học sinh phải biết các chỗ trống điền hoặccâu trả lời phải thêm vào dựa trên căn bản nào
- Tránh lấy nguyên văn các câu từ sách giáo khoa để khuyến khích họcsinh thuộc lòng
- Tránh viết các câu diễn tả mơ hồ
Chỉ nên trừ các chỗ trống để điền các từ quan trọng
- Mỗi khi học sinh cần điền một số đo vào chỗ trống, phải nói rõ đơn vị đo
- Nên để chỗ trống vào cuối câu hỏi hay hơn là ở đầu câu
- Đừng nên chừa chỗ trống quá nhiều chữ trọng yếu, để tránh bắt họcsinh phải đoán xem ý giáo viên muốn hỏi gì
- Trong khi chấm điểm, mỗi chỗ điền vào nên đợc một điểm, trừ khi câutrả lời đòi hỏi phải điền nhiều chữ
Trang 21- Không nên trừ điểm những lỗi chính tả nếu không phải là bài trắcnghiệm chính tả.
- Trong các bài trắc nghệm dài có nhiều chỗ trống để điền, chúng ta có thể
đánh dấu các chỗ trống và các khoảng học sinh phải điền vào một cột bên phải
- Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau cho học sinh không đợc
đoán các chữ phải trả lời
- Bất kỳ câu trả lời nào đúng cũng đều phải đợc điểm mặc dù câu trả lờihọc sinh có thể khác với đáp án đã soạn
- Các khoảng trống phải có đủ chỗ cho các câu trả lời
- Với trắc nghiệm cần câu trả lời ngắn, nên đặt câu hỏi thế nào để thísinh chỉ cần dùng một từ hay một câu để trả lời
* Loại câu hỏi nhiều lựa chọn.
Dạng trắc nghiệm khách quan đợc a chuộng nhất là loại có nhiều phơng
án trả lời cho mỗi câu hỏi để học sinh lựa chọn, thờng đợc ký hiệu là:
" MCQ" Một câu hỏi loại này gồm một phần phát biểu chính, thờng gọi làphần dẫn, hay câu hỏi, và ba, bốn, năm hay nhiều phơng án trả lời sẵn để họcsinh chọn ra câu trả lời đúng nhất, hợp lý nhất Ngoài một câu đúng, các câutrả lời khác trong các phơng án lựa chọn phải có vẻ hợp lý đối với học sinh
Trang 22trắc nghiệm nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá những mục tiêu giảng dạy,học tập khác nhau.
- Độ tin cậy ở loại câu hỏi này cao hơn Yếu tố may rủi đoán mò củahọc sinh giảm đi nhiều hơn so với các loại trắc nghiệm khách quan khác khi
số phơng án chọn lựa tăng lên
Thí dụ: Với bài trắc nghiệm 100 câu hỏi, mỗi câu có 5 phơng án chọn
lựa, mỗi học sinh hoàn toàn không biết gì sẽ có thể nhờ may rủi làm đúng 20câu, thay vì 50 câu nh trờng hợp 100 câu loại đúng - sai Đó là nguyên do tại saocác nhà soạn trắc nghiệm chuẩn thích loại câu hỏi có nhiều phơng án chọn lựacâu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất trong số các phơng án trả lời đã cho
- Tính giá trị tốt hơn, loại trắc nghiệm này có độ giá trị cao hơn nhờ tínhchất có thể dùng để đo những tâm linh khác nhau Với một bài trắc nghiệm cónhiều câu trả lời sẵn để chọn, ngời ta có thể đo đợc các khả năng nhớ, áp dụngcác nguyên lý, suy diễn, tổng quát hoá…rất hữu hiệu
- Có thể phân tích đợc tính chất mỗi câu hỏi Dùng phơng pháp phântích tính chất câu hỏi, chúng ta có thể xác định câu nào quá dễ, câu nào quákhó, câu nào mơ hồ hay không có giá trị đối với các mục tiêu cần trắc nghiệm,thêm vào đó, chúng ta có thể xem xét câu trả lời cho sẵn nào không ích lợi,hoặc làm giá trị câu hỏi Phơng pháp phân tích này không thực hiện đợc vớiloại câu hỏi tự luận, hay khó thực hện với loại câu hỏi trắc nghiệm khác
- Tính chất khách quan khi chấm thi khá cao Cũng nh các loại trắcnghiệm khách quan khác, trong loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn điểm sốkhông tuỳ thuộc vào các yếu tố nh phẩm chất của chữ viết hoặc khả năng diễn
có vẽ hợp lý, thêm vào đó, các câu hỏi phải đo đợc các mục tiêu ở mức caohơn mức nhớ
Trang 23- Học sinh nào có óc sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn phơng
án nhiều đúng đã cho, nên họ có thể không thoã mãn hay cảm thấy khó chịu
- Các câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể không đo đợc khả năngphán đoán tinh vi và khả năng giải quyết văn đề khéo léo một cách hiệunghiệm bằng câu hỏi tự luận soạn kỹ
- Các khuyết điểm nhỏ khác là tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này sovới các loại câu hỏi khác, học sinh thì mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
* Các quy tắc nên theo khi soạn câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phơng
- Nên bỏ bớt các chi tiết không cần thiết Khi mục đích câu hỏi không phải
để trắc nghiệm khả năng nhận biết sự kiện chính trong một đoạn văn, chúng tanên loại bỏ những chữ nào không cần thiết để diễn tả ý nghĩa câu hỏi
- Nên có phơng án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu chỉ có ba haybốn phơng án, yếu tố may rủi tăng lên Ngợc lại, nếu quá nhiều phơng án đểchọn chúng ta khó tìm đợc câu trả lời hay làm câu mồi, và học sinh cũng mấtnhiều thời gian để đọc câu hỏi
- Nên tránh hai thể phủ định liên tiếp, nh hai chữ "không" trong một câu hỏi.
- Các câu trả lời để chọn lựa phải có vẻ hợp lý Nếu một phơng án chọnsai hiển nhiên, học sinh sẽ loại dễ dàng
- Phải chắc chắn chỉ có một câu trả lời đúng Khi viết câu hỏi, nên mờicác giáo viên khác trong trờng đọc lại để góp ý sửa chữa điểm sai hay nhữngchỗ còn tối nghĩa cha hợp lý cho đề bài ra
- Khi một câu hỏi đề cập đến một vấn đề gây nhiều tranh luận, ý kiến nêu trongcâu hỏi phải đợc xác định về nguồn gốc, hay phải định rõ tiêu chuẩn xét đoán
Tuy nhiên, cần chú ý rằng ý kiến của giáo viên cha chắc chắn giống ýkiến của học sinh, hay ý kiến giáo viên khác
Trang 24- Độ dài của các câu trả lời trong các phơng án cho sẵn để chọn phảigần bằng nhau Không nên để các câu trả lời đúng có khuynh hớng ngắn hơnhoặc dài hơn các phơng án trả lời khác.
- Các câu trả lời trong các phơng án để chọn lựa phải đồng nhất vớinhau Tính chất đồng nhất có thể dựa trên các bản ý nghĩa, âm thanh, độ dài,hoặc là động từ, tính từ, danh từ…
- Không nên đặt những vấn đề không thể xảy ra trong thực tế nội dung câu hỏi
- Các câu hỏi nhằm đo sự hiểu biết, suy luận hay khả năng áp dụng vànguyên lý vào những trờng hợp mới nên đợc trình bày dới hình thức mới
Ví dụ: trong câu hỏi giống nhau hay tơng tự các ví dụ cho trong sách giáokhoa, hoặc đã trình bày ở lớp, các câu trả lời đúng có thể nhờ vận dụng trí nhớhơn là nhờ khả năng tâm linh ở mức độ cao khác mà chúng ta cần thẩm định
- Lu ý các điểm liên hệ về văn phạm có thể giúp học sinh nhận biết câu trả lời
- Cẩn thận khi dùng hai câu trả lời trong hai phơng án cho sẵn có hìnhthức hay ý nghĩa trái nhau, nếu một trong hai câu trả lời đúng nhất Khi chỉ cóhai câu trả lời trái nhau trong số phơng án cho sẵn để chọn, học sinh sẽ nghĩkhông lẽ cả hai câu đều sai, nên chỉ chỉ tập trung vào một trong hai câu này
Nh vậy, câu hỏi có dạng nh loại chỉ có hai phơng án trả lời cho sẵn để chọn,thay vì năm Do đó, nếu thích, chúng ta có thể dùng bốn câu trả lời cho sẵn có
ý nghĩa đối nhau từng đôi một
- Cẩn thận khi dùng các từ "không câu nào trên đây đúng" hoặc "tất cả các câu trên đây đều đúng" nh một trong những phơng án trả lời để chọn,
vì về phơng diện văn phạm, các mệnh đề này thờng không ăn khớp với các câuhỏi Khi không nghĩ ra đủ các phơng án để chọn lựa, ngời viết thờng dùng mộttrong hai mệnh đề trên nh một phơng án để chọn lựa Nếu học sinh biết chắc
chắn hai trong các phơng án trả lời đã cho là đúng, học sinh ấy sẽ chọn "tất cả các câu trên đây đều đúng" để trả lời Do đó, nếu đợc dùng, các mệnh đề
trên phải sử dụng nhiều lần nh các câu hỏi khác, trong ý nghĩa đúng cũng nhtrong ý nghĩa sai
- Câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất hay đợc đặt ở những vị trí khác nhau
Ví dụ: bài trắc nghiệm có 5 phơng án trả lời để chọn câu trả lời đúng nhất phải ở vịtrí A, hoặc vị trí B, hoặc C, hoặc D, hoặc E một số lần gần bằng nhau
Trang 25- Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên đợc sắp theo một thứ tự "tựnhiên"nào đó nếu có thể đợc Chẳng hạn các con số đợc sắp xếp thứ tự từ lớn
đến nhỏ hay ngợc lại, các từ đợc sắp xếp theo thứ tự vần A, B, C
- Nên ít hay tránh dùng thể phủ định trong các câu hỏi Ngời ta thờngnên nhấn mạnh khía cạnh xác định hơn khía cạnh phủ định trong kiến thức.Tuy nhiên, đôi khi học sinh cần biết những ngoại lệ hoặc lỗi lầm cần tránh
Trong trờng hợp ấy, việc dùng một ít câu hỏi có chữ "không" hoặc "ngoại trừ" chẳng hạn là chính đáng Khi dùng một từ có nghĩa phủ định, chúng ta
nên gạch dới hoặc viết hoa để học sinh chú ý hơn
loại trắc nghiệm "đúng sai" đồng thời tìm cách cải tiến bằng phơng pháp.
Trớc hết các chữ chính yếu quyết định tính chất đúng sai trong câu đợcgạch dới hay in đậm nét Thêm vào đó ngời ta cũng có thể đòi hỏi học sinhphải chữa lại câu cho đúng, nếu học sinh nghĩ rằng phát biểu đã cho có ýsai Phơng pháp này làm giảm yếu tố đoán mò và tăng độ tin của bài trắcnghiệm
+ Ưu điểm của loại trắc nghiệm đúng sai:
- Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện
Trang 26- Câu hỏi đúng sai giúp cho việc trắc nghiệm bao gồm lĩnh vực rộng lớntrong khoảng thời gian thi tơng đối ít ỏi
Ví dụ: Với một bài trắc nghiệm đúng sai soạn kĩ gồm 100 câu hỏi, một giáo
viên có thể khảo sát kiến thức học sinh về những sự kiện nhất định đã họctrong khoảng một giờ
- Câu hỏi đúng sai cũng rất nhiều công phu, song phần lớn các giáo viên
có thể soạn đợc nhiều câu trong một khoảng thời gian ngắn Một giáo viên cóthể viết ít nhất 10 câu hỏi loại đúng sai trong khoảng thời gian cần thiết để viết
đợc một câu hỏi có 4 hay 5 trả lời cho sẵn để chọn
- Tính khách quan cao khi chấm điểm
- Học sinh đợc chọn một trong những câu trả lời có sẵn
- Loại trắc nghiệm đúng sai có độ tin cậy thấp Học sinh có thể đợc điểmcao nhờ đoán ra câu trả lời Ví dụ trong bài trắc nghiệm 100 câu, học sinh nàokhông biết gì hết, kể cả trung bình, cũng có thể đợc 50 điểm Để có độ tin tơng
đơng với các loại trắc nghiệm khách quan khác, một bài loại đúng sai phải dàihơn nhiều
- Những giáo viên dùng loại câu hỏi này thờng có khuynh hớng tríchnguyên văn các câu trong sách giáo khoa và do đó học sinh sẽ tập thói quenhọc thuộc lòng hơn là tìm hiểu, suy nghĩ
- Khác với loại trắc nghiệm có nhiều câu trả lời cho sẵn để lựa chọn,trong loại đúng sai học sinh phải quyết định giữa hai vấn đề để chọn quá hạnhẹp Việc này có thể làm cho học sinh giỏi khó chịu hay thất vọng
- Với các học sinh còn bé, những câu phát biểu sai có thể khiến các emhọc sai lầm một cách vô thức
+ Quy tắc soạn câu hỏi đúng sai
Trang 27- Nên dùng những chữ chính xác và thích hợp để câu đơn giản và rõ ràng
- Các câu hỏi đúng sau chỉ mang một ý tởng chính yếu hơn là có haihay nhiều ý tởng trong mỗi câu
Chúng ta thấy câu hỏi ban đầu có vẻ mơ hồ vì ngời đọc không biết giáoviên muốn nói phải có những lớp đặc biệt
- Tránh dùng những chữ nh "luôn luôn", "tất cả", "không bao giờ"…vì
các câu mang các từ này thờng có khả năng "sai" Ngợc lại, những chữ nh ờng thờng", "đôi khi"… lại thờng đi với câu trả lời đúng
- Nếu có thể đợc, nên cố gắng soạn các câu hỏi thế nào cho nội dung cónghĩa hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai Việc quyết định xem một phát biểu đúngsai nên dựa trên sự đồng ý thuần nhất của những nhà chuyên môn có thẩm quyền
- Những câu hỏi phải đúng văn phạm để học sinh nào cẩn thận không
cho câu ấy "sai" chỉ vì cách diễn đạt không chính xác.
- Nên dùng các câu nhấn mạnh ý tởng hoặc điều chỉnh yếu hơn là cáccâu vô nghĩa, các chi tiết vụn vặt
Tránh dùng các câu thể phủ định, nhất là thể phủ định kép
- Khi nêu trong câu hỏi một vấn đề đang đợc tranh luận, phải nêu rõ tácgiả hay xuất xứ của ý kiến đã nêu
- Nên cố viết những câu áp dụng những kiến thức đã học
- Mỗi câu hỏi phải có đầy đủ các chi tiết để mang ý nghĩa xác định trọnvẹn
- Không nên trích nguyên văn câu hỏi từ sách giáo khoa Nên diễn tả lại các
điều đã học dới dạng những câu mới, biểu thị đợc mục tiêu cần khảo sát
- Tránh khuynh hớng dùng số câu đúng nhiều hơn số câu sai hay ngợclại trong bài thi Số câu đúng và số câu sai nên gần bằng nhau
- Tránh làm cho một câu trở nên sai chỉ vì một chi tiết vụn vặt hoặc vìmột ý tởng nhằm đánh bẫy học sinh
1.6 Các nguyên tắc thiết kế sử dụng Test trong dạy học toán ở Tiểu học
Trang 28- Đảm bảo yêu cầu của Test: Tính tiêu chuẩn hoá, tính hiệu lực, độ tin cậy.
- Đảm bảo vừa sức, phù hợp với sự phát triển trí tuệ của học sinh tiểuhọc nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng
- Đảm bảo tính giáo dục, phát triển: Nguyên tắc này nhằm đảm bảo việc
sử dụng Test không phải là một sự đánh giá, phân loại và xếp hạng tuyệt đốichỉ dựa vào một tình huống mà còn phải dựa vào những thông tin khác nữa.Mặt khác, việc dạy học không chỉ dừng ở sự đánh giá nhờ Test mà điều quantrọng là từ đó có đợc cách xử lý thích hợp, chẳng hạn để giáo viên kịp thời điềuchỉnh tri lợng tri thức, cách trình bày để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mộtcách hiệu quả nhất
- Dùng Test phải đảm bảo tính khách quan Vì trong việc đánh giá trithức học sinh thì tính khách quan đợc thể hiện rất rõ, nó phản ánh trung thựcviệc lĩnh hội tri thức môn học đã đề ra trong chơng trình Tức là sự phản ánhtình hình học sinh nắm tri thức đó một cách có ý thức, vững chắc đến mức nào
và học sinh biết truyền đạt là tri thức đó bằng ngôn ngữ nói một cách độc lập,nhất quán đến mức nào, hình thức truyền đạt phù hợp với nội dung cần truyền
đạt ra sao Bên cạnh đó, việc đánh giá không khách quan sẽ dẫn đến nhữngthái độ không đúng đắn của học sinh, những em có đợc tình cảm của thầy, côgiáo sẽ trở nên tự cao, tự đại những em khác thì cảm thấy tự ti với vị trí củamình dẫn đến có những suy nghĩ, thái độ chống đối lại giáo viên Do đó khidùng Test để thu thập thông tin phản hồi về phí giáo viên phải khách quanchính xác cao, công bằng Đây là nguyên tắc quan trọng để sử dụng khi đánhgiá tri thức học sinh
Nh vậy dùng Test không chỉ đo tri thức bộ môn, để dạy học chơng trìnhhoá mà còn kích thích cho học sinh học tập toàn diện trong môn toán, tránh đ-
Trang 29yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nớc.
Chơng IV: Số đo thời gian, toán chuyển động đều
Chơng V: Ôn tập: Về số tự nhiên, phân số, số thập phân, số đo đại lợng
Ôn về các phép tính với các số tự nhiên, phân số, số thập phân Ôn tập về hìnhhọc Ôn tập về giải toán
1.7.3 Nội dung chủ yếu của môn Toán 5:
* Về số thập phân và các phép tính với số thập phân:
+ Số thập phân
- Nhận biết đợc phân số, nhận biết đợc hỗn số và biết hỗn số có phầnnguyên, phần phân số Biết chuyển một hỗn số thành phân số Biết sắp xếpmột nhóm các số thập phân theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngợc lại
Ví dụ: Đọc số thập phân; nêu phần nguyên, phần thập phân và giá trị của mỗichữ số trong số thập phân:
Trang 30- Biết cộng, trừ các số thập phân có đến ba chữ số ở phần thập phân, cónhớ không đến hai lợt
- Tính giá trị của các biểu thức có không quá ba dấu phép tính cộng, trừ,
có hoặc không có dấu ngoặc
- Thực hiện phép nhân có tích là số tự nhiên, số thập phân có không quá
ba chữ số ở phần thập phân, trong một số trờng hợp nhiên có không quá haichữ số
- Nhân một số thập phân với một số tự mỗi lợt nhân có nhớ không quá hai lần
- Nhân một số thập phân với một số thập phân, mỗi lợt nhân có nhớkhông quá hai lần
Trang 31- Sử dụng một số tính chất của phép nhân trong thực hành tính giá trịcủa biểu thức số.
Chia số thập phân cho số tự nhiên
Chia số tự nhiên cho số tự nhiên mà thơng tìm đợc là một số thập phân Chia số tự nhiên cho số thập phân
- Tính giá trị các biểu thức số thập phân có đến ba dâu phép tính
- Tìm một thành phần cha biết của phép nhân hoặc phép chia với số thập phân + Tỉ số phần trăm
- Biết đợc tỉ số phần trăm của hai đại lợng cùng loại
- Thực hiện phép cộng, phép trừ các tỉ số phần trăm; nhân tỉ số phầntrăm với một số tự nhiên; chí tỉ số phần trăm cho một số tự nhiên khác 0 Tìm tỉ số phần trăm của hai số
Tìm giá trị một tỉ số phần trăm của một số
Tìm một số, biết giá trị một tỉ số phần trăm của số đó
* Một số yếu tố thống kê
- Nhận biết về biểu đồ hình quạt và ý nghĩa thực tế của nó
- Biết thu thập và xử lý một số thông tin đơn giản từ một biểu đồ hình quạt
* Đại lợng và đo đại lợng
+ Bảng đơn vị đo độ dài:
- Bổ sung các đơn vị đo độ dài Nêu mối quan hệ giữa các đơn vị đo độdài trong bảng đơn vị đo độ dài
Trang 32- Chuyển đổi các đơn vị đo độ dài Thực hành luyện tập.
- Mối quan hệ đo thời gian
- Thực hiện các phép tính: Cộng, trừ, nhân, chia thời gian Thực hành luyện tập.…
Hình tam giác có một góc tù và hai góc nhọn
Hình tam giác có một góc vuông và hai góc nhọn
- Tính diện tích của hình tam giác
+ Hình thang:
- Bổ sung kiến thứcvề hình thang và một số đặc điểm của hình thang
- Tính diện tích của hình thang
Trang 33- Tính diện tích xung quanh, diện ttích toàn phần của hình hộp chữnhật, hình lập phơng.
- Tính thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phơng
+ Hình trụ và hình cầu
- Giới thiệu về hình trụ và hình cầu để học sinh nhận dạng
* Giải bài toán có lời văn
- Giải các bài toán có đến bốn bớc tính, trong đó các bài toán về:
+ Quan hệ tỉ lệ:
+ Tỉ số phần trăm
+ Toán chuyểm động đều
+ Bài toán có nội dung hình học
2 Cơ sở thực tiễn.
2.1 Thực trạng của việc đánh giá kết quả học tập môn toán
Trong khi chúng ta đang còn bị hạn chế bởi cách đánh giá hiện hành thìtrên thế giới và các nớc Đông Nam á đã có những bớc phát triển đáng kể tronglĩnh vực này Các chuyên gia giáo dục thế giới đã có sáng kiến lập ra Hiệp hội
đánh giá giáo dục bao gồm vài chục nớc thành viên thuộc nhiều châu lục Họcoi đánh giá tri thức học sinh là vấn đề không thể thiếu và ngời giáo viên phảinắm vững, luôn xuyên suốt trong quá trình dạy học
ở Việt Nam, vấn đề đánh giá tri thức học sinh cũng đang dần đợc quantâm đúng mức, là khâu không thể thiếu đợc trong quá trình dạy học, là biệnpháp quan trọng nâng cao chất lợng dạy học và đã có nhiều bài viết đã đề cập
đến vấn đề làm thế nào để nâng cao tính khách quan, công bằng, chính xáctrong đánh giá tri thức học sinh
Nhà trờng tiểu học nói riêng và trờng phổ thông nói chung là một cơquan giáo dục chuyên nghiệp có đội ngũ các nhà s phạm đợc đầo tạo, có nộidung, chơng trình chọn lọc, có phơng pháp phù hợp với mọi lứa tuổi, có cácphơng tiện kỹ thuật đặc thù phục vụ giáo dục Mục tiêu giáo dục của nhà tr-ờng phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội và thời đại, nhà trờng là tổ chứcchuyên biệt của quá trình hình thành và phát triển nhân cách con ngời Mụctiêu giáo dục tiểu học đợc cụ thể hoá thành mục tiêu các môn học và các hoạt
động giáo dục khác trong chơng trình Đặc biệt mục tiêu giáo dục tiểu học đã
đợc cụ thể hoá thành các yêu cầu cơ bản mà học sinh cần đạt, bao gồm: Trithức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen, niềm tin, thái độ, hành vi, định hớng… và
Trang 34các yêu cầu này lại đợc phân định thành các mức độ phù hợp với từng lớp ởbậc Tiểu học, trong đó tri thức là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự hìnhthành và phát triển các yếu tố khác Đạt đợc những, mục tiêu đã đề ra đó thìcác nhà s phạm không thể bỏ qua quá trình kiểm tra, đánh giá tri thức của họcsinh.
Hiện nay, cách đánh giá kết quả học tập môn toán ở tiểu học đó là giáoviên hoặc các thành viên của ban giám hiệu hay các bộ phận phụ trách mônhọc ở phòng giáo dục, Sở Giáo dục - Đào tạo ra đề kiểm tra viết bao gồmnhững câu hỏi mở để học sinh làm bài rồi cho điểm Căn cứ để đánh giá chủyếu là dựa trên điểm số Việc đánh giá chủ yếu là nhằm mục đích phân loạihọc sinh Cách kiểm tra đánh giá này bộc lộ những điểm yếu sau:
- Công cụ đánh giá không góp phần tạo ra sự phân loại tích cực họcsinh Điều này có nghĩa là cách đánh giá hiện hành khó phân biệt đợc trình độthực giữa các mức độ và trong cùng một mức độ kiến thức hoặc kỹ năng Mỗi
đề kiểm tra viết toán hiện nay thờng chỉ căn cứ vào trình độ học tập tối thiểucủa học sinh nhng tham vọng của các nhà giáo và nhà chuyên môn lại là sửdụng kết quả nàyđể phân học lực của các em Đây là một mâu thuẫn trongcông tác đánh giá chất lợng học tập nói chung và môn toán nói riêng đã làmhạn chế tác dụng chính của việc phân loại học sinh theo học lực thông quaviệc kiểm tra đánh giá Khi để kiểm tra chỉ dựa trên trình độ học tập tối thiểuthì tất cả các câu hỏi trong đề chỉ dành cho các học sinh có khả năng học tập ởmức trung bình, tức là những học sinh có học lực trung bình là có thể trả lời
đúng tất cả các câu hỏi này trong giới hạn thời gian đề cho phép Vậy thì saonhững học sinh có học lực khá giỏi có cơ hội để thể hiện khả năng của mìnhvới chính bài kiểm tra đó Chẳng hạn một học sinh khá có thể hoàn chỉnh bàikiểm tra đó trong vòng 15 phút, song với thời gian còn lại thì em lại ngồi chơiKết quả là với những học sinh trung bình hoàn thành bài kiểm tra trong 40
Trang 35cho có những câu hỏi và bài tập cho cả ba đối tợng học sinh: Giỏi, Khá Trung bình - Yếu.
- Nội dung đánh giá thiếu toàn diện: Các đề kiểm tra và thi hiện naychủ yếu là những đề kiểm tra viết gồm một số câu hỏi tự luận, cũng có các câuhỏi trắc nghiêm nhng rất ít Mỗi một câu hỏi chỉ kiểm tra đợc một số ít kiếnthức hoặc kỹ năng Do đó một đề thi gồm 3 hay 4 câu hỏi không thể bao quát
đủ những kiến thức và kỹ năng cơ bản của từng giai đoạn học tập điều này vôtình đã tạo cơ hội cho việc học tủ của học sinh, tạo cho học sinh ngghĩ rằngkết quả kiểm tra mang nhiều tính may rủi và kết quả của việc học phụ thuộcvào nhiều vận may hơn là sự cố gắng học tập
- Việc đánh giá tri thức học sinh thiếu khách quan vì nó phụ thuộcnhiều vào ngời ra đề thi và ngời chấm thi
Cách ra đề kiểm tra và thi hiện hành còn cha thực hiện đúng quy trìnhkhoa học cần có của công việc này Việc ra đề thi và kiểm tra không thể chỉ làcông việc của một ngời hay một nhóm rất ít ngời, dựa trên kinh nghiệm làchính Do quan niệm cha đúng về công tác bảo mật đề kiểm tra và thi nên lâunay việc soạn đề kiểm tra thờng giao cho một sô ít ngời làm Lẽ ra việc làmnày cần đợc tiến hành dựa trên sự trao đổi thấu đáo giữa các chuyên gia mônhọc và các giáo viên trực tiếp dạy học thì sẽ rất tốt và nó tránh đợc sự áp đặt
về nội dung cũng nh về loại hình câu hỏi và bài tập của một hoặc vài ngời Việc chấm bài theo cácch hiện hành cũng góp phần làm kém tính kháchquan của việc kiểm tra đánh giá Thờng thì chấm điểm các câu hỏi trắcnghiệm khách quan dễ hơn chấm điểm các câu hỏi tự luận bởi đáp án và biểuchấm của các câu hỏi trắc nghiệm khách quan gọn hơn, khiến cho ngời chấm
dễ nhớ hơn Trong khi đó đáp án của câu hỏi tự luận thì dài hơn nên ngờichấm khó nhớ đủ Để cho ngời chấm có thể nhớ biểu điểm của những câu hỏi
tự luận, lâu nay nhiều nơi chỉ đa ra đáp án và biểu chấm cho câu hỏi tự luậnrất sơ sài Chẳng hạn có những câu hỏi tự luận có nhiều câu trả lời đợc chấpnhấn song đáp án chỉ nêu một trong những câu trả lời đó, có những nội dungkiểm tra gồm nhiều mức độ cần phải chỉ rõ ra từng mức độ song đáp án chỉnêu ra một mức độ cao nhất Do đó việc chấm bài bị lệ thuộc vào đáp án vàbiểu điểm áp đặt, dễ bỏ sót kết quả của học sinh
- Việc đánh giá không kịp thời giúp học sinh sửa chữa những sai sót màcác em mắc phải do khâu chấm bài lâu dẫn đến trả bài chậm Nếu nh mục đích
Trang 36của việc kiểm tra đánh giá ở môn toán để phát hiện và ngăn ngừa các "lỗ hổng"hay chỗ cha vững chắc trong kiến thức và kỹ năng của học sinh thì kết quả họctập của học sinh cân đợc phản hồi lại cho các em nhanh để các em kịp điềuchỉnh và kịp thời rút kinh nghiệm Nhng do đề kiểm tra có nhiều câu hỏi tự luậnnên việc chấm bài đòi hỏi nhiều thời giam, kết quả phản hồi lại cho các em lâuhơn nên tác dụng giúp học sinh điều chỉnh việc học của bài kiểm tra đánh giá bịhạn chế Mặt khác do đề kiểm tra đủ những kiến thức và kỹ năng cơ bản nênnhững kết quả cha đủ giúp học sinh khắc phục những hạn chế về toán của các
em trong những kỹ năng hoặc kiến thức mà đề không bao quát
- Khâu xử lý kết quả đánh giá còn đơn giản Việc đánh giá chỉ cung cấpnhững thông tin tổng hợp về kết quả học tập của học sinh mà cha đa ra cácthông tin phân tích, cha đa ra những thông tin về quá trình dạy học của thầy vàtrò, cũng nh các thông tin về điều kiện dạy học nhằm giúp cho các cán bộquản lý môn học đa ra những động tác điều chỉnh kịp thời quá trình dạy học
để cải thiện chát lợng học tập Hiện nay dựa trên điểm số trong các kỳ kiểmtra toán, giáo viên hoặc các nhà quản lý chuyên môn chỉ biết những thông tinchung chung về tình hình họctập của học sinh cụ thể: Học lực vào loại giỏi,loại khá, loại trung bình… song không biết học sinh đã có kiến thức đúng nhvậy cha để có kế hoạch giúp đỡ kịp thời
- Việc sử dụng kết quả đánh giá còn hạn chế: Hầu nh các nhà trờng chỉdùng kết quả điểm số để đánh giá phân loại học lực của học sinh và để thi đua
Do đó công tác đánh giá cha thực sự trở thành một động lực đủ mạnh để cảhọc sinh và giáo viên, nhà trờng và các cơ quan quản lý giáo dục các cấp cùngphấn đấu nâng cao chất lợng môn học
Tóm lại: Những điểm yếu trên trong cách đánh giá hiện nay sẽ càng trở nên
bức xúc hơn khi chúng ta thực hiện dạy toán theo chơng trình tiểu học mới.Một chơng trình đòi hỏi cách đánh giá chất lợng học tập toàn diện và kháchquan
2.2 Thực trạng của việc sử dụng Test trong dạy học Toán 5
Khảo sát thực trạng
- Mục đích điều tra: Khảo sát nhằm đánh giá thực trạng sử dụng Testcủa giáo viên, từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng quy trình sửdụng Test trong dạy học Toán 5
- Đối tợng điều tra:
Trang 37Trong phạm vi đề tài này, đối tợng chúng tôi tiến hành điều tra chủ yếu
là những giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 5, cán bộ quản lý hiện đangcông tác tại một số trờng Tiểu học của Quảng Xơng - Thanh Hoá
Trong số các thầy giáo cô giáo mà chúng tôi điều tra đều đã đạt chuẩn:Tốt nghiệp trung học s phạm (12 + 2) cao đẳng s phạm hoặc đã theo họcchuẩn hoá tại các hệ đào tạo do trờng s phạm các địa phơng tổ chức, một sốngời đã có điều kiện tham gia các khóa học tại chức (hệ đại học) Do khoaGiáo dục Tiểu học - Trờng Đại học s phạm Hà Nội, Đại học s phạm Vinh tổchức Do đó họ đã ít nhiều có điều kiện tiếp cận với những xu hớng đổi mớiphơng pháp dạy học đang đợc các cấp giáo dục tổ chức bồi dỡng, khuyếnkhích sử dụng Đây là điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, nghiên cứu củachúng tôi
- Phơng pháp điều tra:
Trong phạm vi đề tài, chủ yếu chúng tôi tiến hành điều tra thông qua phiếu
điều tra, dự giờ, quan sát và ghi chép lại các vấn đề liên quan và đàm thoại vớigiáo viên trên lớp khi đến các trờng phổ thông
- Nội dung điều tra:
+ Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của Test trong việc phát huy tính tíchcực sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học
+ Mức độ sử dụng Test trong quá trình dạy học
+ Cách sử dụng Test của giáo viên trong quá trình dạy học Toán 5
95 85 90 93
Trang 384 Quan tâm đến từng học sinh.
5 Chuẩn bị công phu , mất nhiều thời gian 40 20
Từ kết quả điều tra, khảo sát trên cho thấy: đa số giáo viên đánh giá caoviệc sử dụng Test trong dạy học Có tới 75% số giáo viên đợc hỏi cho rằng sửdụng Test trong dạy học là rất cần thiết
Theo đánh giá của giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5, việc sử dụng Testtrong dạy học cho phép nâng cao hiệu quả giờ dạy chiếm 95%
Số ý kiến đồng ý cho rằng việc sử dụng Test trong dạy học làm tăng cảmxúc và hứng thú học tập chiếm 85%
Với ý kiến cho rằng phát huy đợc tính tích cực, năng lực riêng của họcsinh chiếm 90%
Số ý kiến đồng ý cho rằng việc sử dụng Test trong dạy học là quan tâm
đến từng học sinh chiếm 93%
Hạn chế của việc sử dụng Test trong quá trình dạy học đó là phải chuẩn
bị công phu, mất nhiều thời gian chiếm tỉ lệ 20%
Qua điều tra các ý kiến của giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5 cho phépkhẳng định: Mức độ cần thiết và ý nghĩa to lớn của Test đối với việc nâng caotính tích cực nhận thức của học sinh cũng nh kết quả của giờ học
* Các mức độ sử dụng Test trong dạy học Toán 5:
Bảng 2: Các mức độ sử dụng Test trong dạy học Toán 5
1 Thờng xuyên sử dụng Test trong dạy học 70 35
2 Thỉnh thoảng sử dụng Test trong dạy học 110 55
3 Cha bao giờ sử dụng Test trong dạy học 20 10
Nh vậy, mặc dù đa số giáo viên dạy lớp 5 đều đánh giá cao ý nghĩa củaviệc sử dụng Test trong dạy học, song việc đa Test vào trong dạy học còn chathờng xuyên
Cụ thể: Thờng xuyên sử dụng Test trong dạy học có 70 ngời chiếm 55%.
Thỉnh thoảng sử dụng Test trong dạy học có 110 ngời chiếm 65% Cha bao giờ sử dụng Test trong dạy học có 20 ngời chiếm 10% Điều này hoàn toàn đúng với thực tế hiện nay Bởi phơng pháp sửdụng Test trong quá trình dạy học còn rất mới, cha có những kinh nghiệm xâydựng và sử dụng phơng pháp này
* Cách sử dụng Test trong dạy học Toán 5
Trang 39STT Mức độ Số phiếu Tỉ lệ %
2 Sử dụng Test có sẵn, không có đánh giá 120 60 %
* Đánh giá chung về thực trạng nhận thức và sử dụng Test trong quá trìnhdạy học
Từ sự phân tích thực trạng trên với các chủ đề: Nhận thức của giáo viên và
ý nghĩa của Test trong việc phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh, cách
sử dụng Test của giáo viên Chúng tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều khẳng
định ý nghĩa của Test trong dạy học Song việc sử dụng Test vào quá trình dạyhọc cha triệt để Vì các lý do nh sau:
- Việc sử dụng Test vào quá trình dạy học là cha đợc triển khai một cách
Trang 40Chơng 2 quy trình Thiết kế và sử dụng Test trong dạy học
Toán 5 2.1 Các nguyên tắc xây dựng quy trình
Quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó.Quy trình thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5 là một trật tự tuyếntính bao gồm các bớc từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc hoạt động dạy học.Khi xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5 chúngtôi dựa vào những nguyên tác cơ bản sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính cụ thể:
Quy trình thiết kế và sử dụng Test phải trở thành một chỉnh thể bao gồmcác bớc khác nhau Các bớc này phải đợc liên kết, gắn bó, thống nhất với nhau
và phải đợc sắp xếp theo một trật tự tuyến tính Số lợng các bớc đủ để thựchiện hoạt động dạy học có hiệu quả
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Việc xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5 phảidựa trên thực tiễn dạy học Toán 5, phải phù hợp với đặc điểm, nội dung, yêu cầucủa chơng trình Toán 5 vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy học
- Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả:
Quy trình thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5 phải đảm bảohiệu quả góp phần nâng cao chất lợng dạy học Toán 5
- Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi:
Quy trình thiết kế và sử dụng Test trong dạy học Toán 5 phải phù hợpvới trình độ nhận thức của học sinh, với năng lực chuyên môn của đại đa sốgiáo viên giảng dạy lớp 5, có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn dạyhọc Toán 5