biệt, là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo – thạc sĩ Phan Văn Bình- ngời trựctiếp hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khoá luận .Nhân dịp khoá luận đợc hoàn thành, tôi xin chân thành
Trang 1Trờng đại học vinh
Với khoá luận tốt nghiệp: “thực hiện kế hoạch hoá gia đình của đồngbào thiên chúa giáo huyện miền núi Hơng Khê (Hà Tĩnh) Thực trạng và giảipháp” Khoá luận đợc thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn, từ việc tìmtài liệu tham khảo cho đến việc thu thập số liệu Ngoài sự cố gắng của bảnthân, tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng chícán bộ, cộng tác viên văn phòng UBDS, gia đình và trẻ em huyện Hơng Khê,xã Phú Phong, xã Gia Phổ và các bạn sinh viên khoa giáo dục chính trị Đặc
Trang 2biệt, là sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo – thạc sĩ Phan Văn Bình- ngời trựctiếp hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khoá luận
Nhân dịp khoá luận đợc hoàn thành, tôi xin chân thành cảm ơn các thầycô giáo, các bạn sinh viên, các đồng chí cán bộ, cộng tác viên dân số, gia đình
và trẻ em…
Khoá luận đợc hoàn thành trong thời gian ngắn Hơn nữa, đây cũng là
đề tài khó và tơng đối mới nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót vàhạn chế nhất định Vì vậy, tôi rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của cácthầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn sinh viên để đề tài đợc hoàn thiệnhơn
Xin chân thành cảm ơn.
Vinh , tháng 5/2006
Tác giả
Lê Thị Nhung Tuyết
Những từ viết tắt trong luận văn
TCG:Thiên chúa giáo.
TG: Tôn giáo
KHHGĐ: Kế hoạch hoá gia đình
DBHB: Diễn biến hoà bình
ĐH, CĐ, THCN: Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
ĐHQG: Đại học quốc gia
Trang 3THCS: Trung học cơ sở.
GDTX: Giáo dục thờng xuyên
TTQL: Tập trung quan liêu
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Uỷ ban nhân dân
BPTT: Biện pháp tránh thai
UBDS: Uỷ ban dân số
UBMTTQ: Uỷ ban mặt trận tổ quốc
CHDCND: Cộng hoà dân chủ nhân dân
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
MụC LụC Trang
A.phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích của đề tài 3
4 Nhiệm vụ của đề tài 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phơng pháp nghiên cứu 4
7 ý nghĩa của luận văn 4
8 Kết cấu của luận văn 4
B phần nội dung Chơng I Đồng bào TCG huyện miền núi Hơng Khê(Hà Tĩnh) với việc thực hiện KHHGĐ 5
1.1 Khái quát chung về huyện Hơng Khê(Hà Tĩnh) 5
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 5
1.1.2 Điều kiện kinh tế- Xã hội 6
1.2 Khái quát tình hình tôn giáo ở Hơng Khê 12
1 3 Đồng bào TCG Hơng Khê (Hà Tĩnh) với việc thực hiện KHHGĐ.17 1.3.1 Khái quát thực trạng dân số –KHHGĐ cả nớc nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong những năm gần đây 17
1.3.1.1 Khái quát thực trạng vấn đề dân số- KHHGĐ nớc ta trong những năm gần đây 18
Trang 41.3.1.2 Khái quát thực trạng vấn đề dân số- KHHGĐ ở Hà Tĩnh trong
những năm gần đây 20
1.3.2 Thực trạng vấn đề dân số- KHHGĐ huyện Hơng Khê nói chung và của đồng bào TCG huyện miền núi Hơng Khê (Hà Tĩnh) nói riêng 22
1.3.2.1 Thực trạng vấn đề dân số- KHHGĐ huyện Hơng Khê nói chung 22 1.3.2.2 Vấn đề thực hiện KHHGĐ của đồng bào TCG huyện miền núi Hơng Khê (Hà Tĩnh) nói riêng 31
Chơng II Những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác dân số- KHHGĐ của đồng bào TCG huyện Hơng Khê(Hà Tĩnh) 40
2.1 Công tác lãnh đạo quản lý 40
2.2 Truyền thông giáo dục thay đổi hành vi 42
2.3 Phối hợp chặt chẽ với các chức sắc, các tổ chức giáo hội TCG 46
2 4 Chăm sóc sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ 46
2.5 Xã hội hoá và cơ chế chính sách 48
2 6 Kinh phí 49
2.7 Về vấn đề sức khoẻ sinh sản vị thành niên 50
2.8 Một số giải pháp khác 53
C Kết luận 60
Tài liệu tham khảo
A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Tôn giáo nói chung, TCG nói riêng ra đời từ rất sớm trong xã hội loài ngời Do đó, ảnh hởng rất lớn đến đời sống văn hoá, phong tục tập quán, đời
Trang 5sống sản xuất của hầu hết các dân tộc, các quốc gia Vì vậy, TG đợc nhiều nhànghiên cứu đề cập dới nhiều góc độ khác nhau.
Chủ nghĩa Mác – Lênin với t cách là một học thuyết khoa học về xãhội và nhân văn, đơng nhiên, cũng không thể bỏ qua TG mà trái lại đã chỉ ramột cách đúng đắn nhất về nguồn gốc, bản chất và ảnh hởng của TG đối vớixã hội
- Quan điểm của Đảng ta về TG đợc khẳng định rất rõ ràng: “Tín ngỡngtôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực hiện nhất quánchính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngỡng theo hoặc không theomột tôn giáo nào, quyền sinh họat TG bình thờng theo đúng pháp luật Đoànkết đồng bào theo các TG khác nhau “Sống tốt đời, đẹp đạo” Nghiêm cấm lợidụng các vấn đề dân tộc tín ngỡng TG để hoạt động trái pháp luật và chínhsách của Nhà nớc, kích động và chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc gây rốixâm phạm an ninh quốc gia [ 1.472 ]
- Gần đây nhất có Nghị quyết 25 – NQ/TW về công tác TG Đây đợcxem là một quan điểm rất mới về nhận thức TG bổ sung vào kho tàng lý luậncủa chủ nghĩa Mác – Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
Từ những quan điểm đúng đắn trên của Đảng và Nhà nớc ta, TG ở VIệtNam đợc tự do phát triển trong khuôn khổ pháp luật Đồng bào các TG đoànkết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, ra sức phấn đấu sống “tốt đời đẹp
đạo” Trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng nh trong công cuộc xây dựng
đất nớc, đồng bào các TG đã có sự đóng góp rất to lớn…
TCG là một trong những tôn giáo lớn ở nớc ta, hiện có trên 6 triệu tín
đồ Trong điều kiện lịch sử mới, dới sự lãnh đạo của Đảng đồng bào luôn luônkính chúa yêu nuớc … Tích cực tham gia trên tất cả các lĩnh vực của đời sốngxã hội : Từ phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, môi trờng, thực hiện chínhsách KHHGĐ…
Hơng Khê là một huyện miền núi thuộc tỉnh Hà Tĩnh Mặc dầu, còn gặpnhiều khó khăn … Song, những năm qua đã đạt đợc nhiều kết quả đángmừng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội: Thắng lợi trong sựnghiệp chống đói nghèo, bớc đầu đạt tăng trởng kinh tế khá, giáo dục-đào tạo phát triển mạnh mẽ, an ninh quốc phòng đợc giữ vững, văn hoá
đợc nâng cao Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những hạn chế Trong đó,
có vấn đề KHHGĐ: dân số có nguy cơ gia tăng trở lại, tỷ lệ sinh con thứ
3 có xu hớng tăng Đăc biệt, cần chú ý là đối tợng đồng bào TCG Cũng
nh cả nớc nói chung TCG là tôn giáo lớn nhất ở Hơng Khê Đồng bàotích cực tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế- xã hội, văn hoá,
Trang 6giáo dục … Song, cũng còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong việc thực hiệnKHHGĐ… Tỷ lệ gia tăng dân số còn cao dẫn đến đời sống nhân dân cònnghèo, trình độ dân trí thấp kéo theo vấn đề nhận thức còn nhiều hạn chế.
Đây là vấn đề bức xúc mà đồng bào TCG nói riêng và huyện Hơng Khênói chung cần tập trung giải quyết Thực tế đó đòi hỏi phải nghiên cứu để
đề ra các giải pháp hợp lý nhằm làm ổn định tình hình, góp phần xoá đóigiảm nghèo, nâng cao dân trí… Với những lý do trên, chúng tôi mạnhdạn chọn vấn đề “Thực hiện kế họach hoá gia đình của đồng bào TCGhuyện miền núi Hơng Khê ( Hà Tĩnh) Thực trạng và giải pháp” làmkhoá luận nghiên cứu của mình Hy vọng rằng, khi khoá luận đợc hoànthành sẽ góp một phần công sức cùng huyện nhà giải quyết vấn đề cấpbách này
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu về vấn đề TG hay TCG thì đã có rất nhiều tác giả nghiêncứu và đề cập đến: Phong trào thi đua yêu nớc trong đồng bào công giáo ViệtNam, tác giả Phan Khắc Từ; “Tự do tôn giáo nhân quyền” ở Việt Nam, tác giả
Đỗ Quang Hng; sự phát triển về nhận thức tôn giáo của Đảng, tác giả PhạmHuy Thông; cần có giải pháp đối với việc lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định ởTây Nguyên, tác giả Hà Xuân Nguyên…
- Mặt khác, vấn đề về dân số và thực hiện KHHGĐ cũng có nhiều tácgiả nghiên cứu Nhng theo chúng tôi đợc biết, vấn đề thực hiện KHHGĐ của
đồng bào TCG thì còn ít và thậm chí cha có tác giả nào nghiên cứu một cách
cụ thể và chi tiết Tuy nhiên, những nghiên cứu của tác giả về những vấn đềnói chung trên sẽ là nguồn t liệu rất bổ ích để chúng tôi tham khảo cho đề tàicủa mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
3.1 Mục đích:
Thực tế cho thấy đời sống đồng bào TCG còn nhiều khó khăn, dẫn đếntrình độ trí tuệ và nhận thức còn thấp, sẽ không hiểu hết đợc tầm quan trọng
và những chủ trơng, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nớc, đó là điểmyếu rất lớn để kẻ thù lợi dụng Và một trong những nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng nêu trên là việc đồng bào Thiên chúa còn cha biết thực hiện tốtKHHGĐ, mà họ còn sinh con rất nhiều Chính vì những lý do nêu trên màviệc chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
1 Nắm đợc thực trạng của việc thực hiện KHHGĐ ở Hơng Khê nói chung
và của đồng bào TCG nói riêng
2 Chú trọng phân tích thực trạng vấn đề KHHGĐ ở đồng bào TCG huyệnHơng Khê nói riêng
Trang 73 Đề xuất các giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt KHHGĐ ở đồng bàoTCG Hơng Khê.
4 Nâng cao nhận thức về vấn đề sinh đẻ có kế họach, góp phần nâng cao
đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào TCG và sâu xa hơn là nhằmnâng cao tầm nhận thức và t duy về lý luận để họ tin trởng vào sựnghiệp lãnh đạo của Đảng, chống lại những t tởng lợi dụng TG nóichung và TCG nói riêng để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng
- Nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện KHHGĐ của đồng bào TCG
ở huyện miền núi Hơng Khê ( Hà Tĩnh) Từ đó đề ra những giải pháp thiếtthực và cụ thể
- Từ đó rút ra ý nghĩa của việc thực hiện KHHGĐ đối với đồng bàoTCG nói riêng và huyện miền núi Hơng Khê nói chung
6 ý nghĩa của luận văn.
Luận văn hoàn thành sẽ có những ý nghĩa thiết thực nh sau:
- Thứ nhất: Giúp những ai quan tâm đến TCG nói chung, vấn đề Dân
số-KHHGĐ của đồng bào TCG nói riêng có thêm những hiểu biết cụ thể về vấn đề lýluận và thực tiễn, trong đó nhấn mạnh giá trị thực tiễn của nó
- Thứ hai: Giúp cho những địa phơng có đồng bào TCG trong cả nớc nói
chung và huyện Hơng Khê ( Hà Tĩnh) nói riêng, đặc biệt là, những cộng tác viêndân số có thêm hiểu biết về vấn đề thực tiễn đang đặt ra, đồng thời, nâng cao nhậnthức về đặc thù của đồng bào TCG, từ đó đề ra những quyết sách, hớng đi phù hợp
và có thể vận dụng những giải pháp trong luận văn vào hoàn cảnh cụ thể của địa
ph-ơng về vấn đề thực hiện kế hoạch hoá gia đình, đặc biệt là, vùng đồng bào TCG
- Thứ ba: Có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành GDCT
trong các bài học hay chuyên đề về những vấn đề của thời đại ngày nay và vấn đề
TG trong CNXH
Trang 87 Kết cấu của luận văn:
1.1 Khái quát chung về huyện Hơng Khê ( Hà Tĩnh)
1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Hơng Khê là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam Hà Tĩnh, vị trí
địa lý nằm ở trong khoảng 18010 phút Vĩ Bắc và 1050 42 phút Kinh Đông.Phía Bắc giáp huyện Hơng Sơn và huyện Đức Thọ, Phía Nam giáp huyệnTuyên Hoá - Tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp huyện Can Lộc, Thạch Hà vàhuyện Cẩm Xuyên, Phía Tây giáp nớc CHDCND Lào Theo số liệu chính thứchiện nay thì tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 1.299,12km2 (sau khi đãtách 5 xã: Quang, Minh, Điền, Đại, Thọ về huyện Vũ Quang năm 2000 [13.4].Hơng Khê hiện là một huyện có diện tích rộng nhất tỉnh Hà Tĩnh Xét về mặt
địa lý, địa hình, toàn huyện Hơng Khê nằm gọn trong một thung lũng hìnhlòng mảng của 2 dãy núi Trờng Sơn và Trà Yên, có lợng ma cao và lợng malớn, triền núi dốc, lòng hẹp lại uốn lợn quanh co nên mùa ma dễ gây ra lụt lớn,mùa khô sông cạn, đồng ruộng khô hạn Bên cạnh đồi núi Hơng Khê có mộtcon sông lớn là sông Ngàn Sâu Về địa chất thổ nhỡng: Đất đai đợc chia thànhhai nhóm: nhóm đất đồi núi và nhóm đất đồng bằng, thung lũng Trong đó,nhóm đất đồi núi chiếm phần lớn, có loại đất pheralit trên đồi núi cao từ 200mtrở lên, đất khô chua và nghèo chất dĩnh dỡng Đất đồng bằng và thung lũng(có thể làm ruộng) thờng nghèo chất dinh dỡng, lại thiếu nớc cho nên về mùahạn đất khô, đặc biệt là, loại đất sét thì quánh và cứng nh đá Do đó, việc làm
đất là rất gian nan Một đặc điểm nữa là độ dẻo và dính rất cao nên mùa ma rét
đi lại rất khó khăn Tuy nhiên, loại đất này có thể sử dụng làm gạch ngói, sành
sứ rất tốt và phụ hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau: các loại rau, hoamàu, cây ăn quả, cây lu niên, cây công nghiệp Hơng Khê là huyện miền núi,
Trang 9vừa có đất trồng đồi trọc vừa có những khu rừng đại ngàn, với diện tích rừngchiếm 77% diện tích toàn huyện, đất nông nghiệp chiếm khoảng 23%, thực tếcho thấy diện tích đất canh tác chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số diện tích Điều đó nói lên khả năng khai khẩn mở rộng diện tích đất canh tác ở HơngKhê còn rất lớn.
Khí hậu: Hơng Khê thuộc vùng khí hậu gió mùa rõ rệt Gió Đông Bắcthổi từ tháng 9 đến tháng 2 mang theo ma rét Gió Tây Nam (miền Trung gọi
là gió Lào) thổi từ tháng 4 đến tháng 8 (có khi sớm hơn hoặc muộn hơn) mangtheo gió nóng bức Gió Lào là một trong những nhân tố tạo nên tính khắcnghiệt của khí hậu, thời tiết ở Hơng Khê Sách “Đồng khánh địa d chí” đã nói
rõ sự thay đổi thời tiết của Hơng Khê nh sau: “Tháng 2, tháng 3, mùa xuân khítrời còn rét Tháng 4, tháng 5 mùa hè nắng to, làm ngời ta thấy khó chịu.Tháng7, tháng8, mùa thu thì thờng có gió lạnh, ma nhiều, nớc lũ dâng cao,ngập ruộng đồng, hoa màu bị thiệt hại Tháng 10, tháng 11 khí trời rất rét Do
địa thế cao, nhiều chớng khí tạo nên…” [13 44]
Khí hậu không chỉ thay đổi theo mùa mà còn theo tháng, theo tuần.Thậm chí cả trong một ngày của mùa hè, có khi ngày oi bức nhng đêm lại có
ma mát mẻ
Về tài nguyên thiên nhiên (TNTN), trớc hết là, lâm thổ sản Hơng Khê
có nhiều loại gỗ quý nh: lim, đinh, sến, táu đến các loại vàng tâm, pơmu, trầm,
gụ, tre, nứa, song mây… động vật hoang dã vẫn còn nhiều nh hổ, voi, khỉ, vợn,hơu, nai, lợn rừng đến rắn, trăn, kỳ nhông, kỳ đà, cả động vật quý nh sao la,sơn dơng, gấu, bò tót (bò rừng, trâu rừng)
Hơng Khê còn là nơi có nhiều cây thuốc nam quý mọc tự nhiên ở trongrừng Khoáng sản ở Hơng Khê nh sách cổ đã đề cập có sắt, vàng, than đá…Năm 1828, nhà địa chất ngời Pháp Promade đã phát hiện ra mỏ than động đỏvới diện tích khoảng 36 km2, trữ lợng ban đầu ớc tính từ 6 – 8 triệu tấn
1.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội.
-Trong lĩnh vực kinh tế: Hơng Khê bớc vào thời kỳ hậu chiến trong tìnhtrạng nông nghiệp lạc hậu, các công trình thuỷ lợi và giao thông bị tàn phánặng nề vì thiên tai và địch họa Hạn hán và lũ lụt thờng xuyên đe doạ cuộcsống của ngời dân nơi đây Trình độ kỹ thuật, canh tác rất lạc hậu, nôngnghiệp quảng canh là chủ yếu Hình ảnh “con trâu đi trớc cái cày theo sau”vẫn là hình ảnh tiêu biểu của sản xuất nông nghiệp Hơng Khê thời kỳ này
Nhng đến nay, lần đầu tiên trong hơn nửa thế kỷ qua, công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp ở Hơng Khê đã có những bớc chuyển, đến năm 2002 giá trị
Trang 10sản xuất của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thơng mại và dịch
vụ đã chiếm một tỷ trọng nhất định
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo: nhìn lại chặng đờng hơn 135 năm của
ơng Khê từ khi thành lập đến nay, thì thành tích về giáo dục và đào tạo của
H-ơng Khê đến nay thật là to lớn Năm 1872, cả huyện HH-ơng Khê mới chỉ cómột nhà học cấp huyện với 3 bộ sách giáo khoa “Tứ th nhân vật bị khảo”,
“Đối sách chuẩn thăng”; “Thì vận tập yếu” (đây là thời gian 5 năm sau khithành lập huyện) Vậy mà đến nay, huyện Hơng Khê có 87 trờng học với hệthống th viện và hiệu sách có tới hàng chục ngàn bộ Cho đến đầu thế kỷ XX,Hơng Khê cha có ngời đỗ đạt cao Ngày nay, cả huyện Hơng Khê đã có hàngtrăm ngời có bằng Tiến sỹ, Bác sỹ, Thạc sỹ, có hàng chục ngời là giáo s, phógiáo s, nhà giáo u tú Riêng tốt nghiệp ĐH, CĐ, THCN thì rất nhiều Năm học
2001 – 2002 kết thúc với kết qủa khá toàn diện, tỷ lệ học sinh tốt nghiệptrung học phổ thông là 98%, THCS là 96,4% và Tiểu học 99,3% Có 188 em
đạt học sinh giỏi huyện, 182 em đạt học sinh giỏi tỉnh, 3 em học sinh giỏiquốc gia, gần 100 em đậu ĐH, CĐ, THCN Toàn huyện có 232 giáo viên giỏicấp huyện, 29 giáo viên giỏi cấp tỉnh Con em Hơng Khê thi đợc vào học cáctrờng chuyên ở tỉnh Hà Tĩnh (hoặc Nghệ An), vào các ttrờng ĐH, đa số đềutrở thành những sinh viên khá, giỏi Nhiều em, nhiều thế hệ là sinh viên xuấtsắc của trờng ĐHQG Hà Nội, ĐHBK, ĐHKTQD, ĐH Vinh, ĐHKH Huế…
- Về công tác an ninh - quốc phòng trong những năm qua luôn đợc giữ vững.Trật tự an toàn xã hội đợc đảm bảo, các ngày lễ, ngày tết, các ngày bầu cử,các kỳ đại hội Đảng bộ các cấp đợc bảo vệ an toàn…Từ huyện đến cơ sở làmtốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, tập trung phòng ngừa các tộiphạm về ma tuý, về kinh tế, tấn công truy quét các tội phạm hình sự và các tệnạn xã hội Mục tiêu của công tác an ninh quốc phòng: tăng cờng xây dựng cơ
sở an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu Tập trung xây dựng nền quốc phòngtoàn dân, xây dựng lực lợng an ninh cơ sở vững mạnh kiến quyết tấn công cácloại tội phạm, phòng ngùa và bài trừ các tệ nạn xã hội Thực hiện địa bàntrong sạch về ma tuý Xây dựng lực lợng quân sự – an ninh vững mạnh vềmọi mặt Đoàn kết phối hợp chặt chẽ, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ trongmọi tình huống nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và cuộc sống bình yêncho nhân dân
- Công tác an ninh quốc phòng thờng xuyên đi đôi với công tác VH-XH Đờisống văn hoá, tinh thần của ngời Hơng Khê trong những năm gần đây có rấtnhiều khởi sắc, đặc biệt, từ khi có tuyến đờng Hồ Chí Minh chiến lợc đi qua
Trang 11địa phận huyện nhà VH - XH thu đợc những kết quả đáng mừng không chỉdừng lại ở một vài phong trào bề nổi nh làng văn hoá, trờng chuẩn quốc gia,TDTT, VHVN , mà còn ở sự phát triển có tính bùng nỗ của ngành Bu chính– Viễn thông Sự phát triển chung của thông tin liên lạc và sự xâm nhập củamáy tính, mạng internet đã có ảnh hởng to lớn đến đời sỗng hiện đại của ngờidân Hơng Khê Sự phát triển của hệ thống đài phát thanh và truyền hình HơngKhê Cùng với sự hiện đại hoá ngành Bu chính viễn thông thực sự đã tạo điềukiện cho ngời dân Hơng Khê vơn tầm tới mọi miền đất nớc và cả năm châubốn biển.
- Về lĩnh vực văn hoá xã hội của Hơng Khê trong những năm gần đây,còn một công việc rất đáng biểu dơng là công tác chăm sóc sức khỏe cộng
đồng của trung tâm y tế huyện Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển,ngành y tế Hơng Khê đã và đang làm tròn sứ mệnh cao cả của ngời thầythuốc, đem lại niềm vui hạnh phúc cho nhân dân trên địa bàn huyện
ơng Khê không có ngời Hoa sinh sống nhng từ sau 1978 có khoảng 800 ngờiViệt gốc Hoa từ thành phố Vinh đã sơ tán lên Hơng Khê Họ đợc bố trí rải rác
ở các xã Hơng Đô, Phúc Trạch, Lộc Yên, Hơng Xuân, Thị trấn huyện Hầu hết
số hộ làm ăn khá giả dần dần lại chuyển về Vinh sống, hiện nay còn 19 hộ, 42
nhân khẩu trên địa bàn huyện
-Bên cạnh đó, vấn đề điện - đờng – trờng – trạm trong những nămqua cơ bản đợc đảm bảo Nói về điện: đến nay nhân dân toàn huyện gần nh đã
đợc sử dụng điện lới tháp sáng và phục vụ cuộc sống Đờng sá ngày càng đợclàm mới, hàng năm huyện phát động chiến dịch “Giao thông nông thôn” do
Trang 12đó, mỗi năm có khoảng hàng chục km đờng nhựa, đờng bê tông mới, là mộttrong những huyện đi đầu trong toàn tỉnh về vấn đề này Riêng xã Phú Phong
và xã Gia Phổ (85% dân theo đạo Thiên chúa) gần 100% đờng liên thôn, liênxã nhựa và bê tông hoá Tuy là một huyện miền núi nằm xa trung tâm tỉnh lỵ,nhng ngày nay vấn đề giao thông đi lại rất thuận tiện, đó là nhờ có tuyến đờngsắt Bắc – Nam chạy qua, ngày có 2 chuyến tàu Vinh - Đồng Hới qua lại vàdừng ở ga: Thạnh Luyện, Chu Lễ, Hơng Phổ, Phúc Trạch, La Khê thuộc địaphận huyện; có 2 chuyến tàu Vinh – Quy Nhơn, có 4 chuyển àu thống nhấtS5, S6, TN1, TN2 chạy qua và dừng ở ga Hơng Phổ (ga trung tâm của huyện)
Có tuyến đờng 15 đổ nhựa đẹp chạy từ Hơng Khê đi thị xã Hà Tĩnh, ngày nàocũng có một chuyến xe chạy Hơng Khê - Hà Nội, 2 chuyến Hơng Khê - Vinh,
2 chuyến Vinh – Hơng Khê, 2 ngày có một chuyến xe đi Sài Gòn, còn xe đithị xã gần nh lúc nào cũng có Đặc biệt, hiện nay có tuyến đờng Hồ Chí Minhchiến lợc chạy qua địa bàn huyện, với tổng chiều dài là 41 km đợc rải nhựaxong vào cuối năm 2002 Đây là con đờng lớn xuyên quốc gia mà vai trò của
nó to lớn vô cùng Trong chiến tranh đây là con đờng huyết mạch đa sức ngời,sức của từ hậu phơng miền Bắc vào miền Nam, sang Lào, sang Campuchiagóp phần quyết định thắng lợi ở chiến trờng Trong tơng lai đây là con đờngtạo ra sự thông thơng giữa đồng bằng với miền núi, giữa miền Bắc với miềnNam Có thể nói đây là con đờng hạnh phúc, con đờng xoá đói giảm nghèocủa nhân dân các huyện miền núi trong đó có Hơng Khê Mạng lới giao thông
đờng bộ bắt đầu hoà nhập vào mạng lới đờng bộ của cả nớc một cách trực tiếp,
kể từ sau khi con đờng 15 và đờng Hồ Chí Minh rải nhựa Riêng hệ thống ờng học cơ bản đợc xây dựng khang trang, đảm bảo cho việc dạy và học,không có trờng lớp tạm bợ, toàn huyện có 4 trờng THPT, 1 trung tâm GDTX,
tr-1 trung tâm dạy nghề, hầu nh xã nào cũng có trờng THCS, tr-100% xã có trờngtiểu học, mầm non, có xã có 2 – 3 trờng tiểu học
Một điều hết sức đặc biệt khi nghiên cứu về mảnh đất Hơng Khê khôngthể không nói tới đó là lòng yêu nớc nồng nàn, trong chiến tranh thì hy sinhquên mình vì Tổ quốc, trong hoà bình, luôn có ý thức vơn lên làm giàu xâydựng quê hơng đất nớc Ngời Hơng Khê có đức tính thông minh, cần cù, sángtạo trong lao động và học tập Đồng thời, có lối sống thật thà, chất phác và rấthiếu khách
Ngời Hơng Khê tự hào về một miền quê xứ nghệ “non xanh nớc biếc
nh tranh họa đồ”, tự hào về một nguồn suối “Vũ Môn” với huyền thoại cáchép hoá rồng, với các thác nớc “tam cấp lãng” bồng bềnh trắng xoá nh mây,
Trang 13tự hào về hồ Trăm năm (Bách Linh Đàm) trầm mặc thiêng liêng, nắng hạnkhông bao giờ vơi, lũ lụt không bao giờ đầy… Cùng biết bao thắng cảnh nhRôộc Cồn, Rào tiêm, Rào rồng, Trại trụ… Tự hào về một vùng quê giàu truyềnthống, tự hào về con ngời thông minh cần cù, chịu khó Những ngời con HơngKhê khi đi xa đều nhìn về với một niềm tự hào về nơi mình đã sinh ra, chúng
ta tin tởng rằng với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hộinêu trên chắc chắn Hơng Khê sẽ có những bớc phát triển trong tơng lai gầnnhất ý niệm về một vùng quê nghèo nàn, lạc hậu, xa trung tâm, ngời dânquanh năm “chân lấm tay bùn”, hình ảnh “con trâu đi trớc cái cày đi sau” dầndần sẽ trở thành quá khứ, thay vào đó là sự phát triển rầm rộ của những máymóc và công trờng Những gì cho đến hôm nay sau hơn 135 năm tồn tại vàphát triển mà nhân dân huyện Hơng Khê đạt đợc sẽ là nền tảng và sự tạo đàvững chắc cho sự tin tởng đó trở thành hiện thực Tuy nhiên, nói nh vậy không
có nghĩa Hơng Khê không có những khó khăn, mà phải nói rằng vùng đất nàyluôn luôn mang trên mình những “thơng tích” của thời đại, của thiên nhiên:một huyện miền núi khí hậu khắc nghiệt ma thì dầm dề, dai dẳng, nắng thìcũng cháy, thịt cháy da, rét thì không gì bằng, đất đai cho sản xuất hẹp lạinghèo dinh dỡng Còn “thơng tích” cuả thời đại thì sao? Trong chiến tranh thì
bị tàn phá nặng nề, hoà bình lập lại, xây dựng đất nớc trong điều kiện nền kinh
tế thị trờng, hởng thụ những thành tựu, nhng tiêu cực của nó cũng không kémphần đó là những hiện tợng buôn lậu (nhất là gỗ), trốn thuế, cờ bạc, rợu chè,thói đua đòi của một bộ phận không ít thanh thiếu niên ăn chơi lêu lổng, xa rờiviệc học tập, lao động Nhất là bộ phận các “quý tử” nhà giàu, con cái cán bộquen thói hởng thụ “vô công rồi nghề” là nguyên nhân cuả các tệ nạn xã hội:
đua xe (dọc đờng Hồ Chí Minh), cờ bạc, cá độ, trộm cắp, nay có thêm nạnchơi M.U tràn lan trên mạng Internet Đặc biệt trong báo cáo phơng hớngnăm 2003 của huyện uỷ đã khẳng định: thực hiện bằng đợc địa bàn trong sạch
ma tuý Vậy mà nghe ra không thể thực hiện đợc, bởi đến nay tình trạngnghiện ma tuý đã xuất hiện và có nguy cơ phát triển Hiện nay, ở Hơng Khê đã
có tình trạng ngời chết vì AIDS Điều đó đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân
H-ơng Khê những nhiệm vụ hết sức nặng nề và phải tìm cách tháo gỡ dần để hạnchế và ngăn chặn những ảnh hởng tiêu cực của tàn d xã hội cũ ( TTQL baocấp) và của cơ chế thị trờng hiện này
1.2 Khái quát tình hình Tôn Giáo ở Hơng Khê:
ở Hơng Khê có 3 TG chính: TCG, Phật giáo, Nho giáo Mỗi TG đều có những
đặc thù riêng:
Trang 141.2.1 Thiên chúa giáo : Có số lợng tín đồ khá đông Tín đồ theo đạo
Thiên chúa chiếm khoảng gần 30% dân số toàn huyện (hiện nay gần 2,8vạnngời) Số giáo dân này có mặt ở hầu hết các xã và thị trấn TCG ở Hơng Khê
có từ rất sớm, nằm trong hạt Ngàn Sâu Nhà thờ Thổ Hoàng và nhà thờ LàngTruông đợc thành lập từ năm 1865 Nhà thờ Thổ Hoàng nằm ở hạ huyện,thuộc địa phận xã Phơng Mỹ, hiện nay gồm 7 họ đạo Nhà thờ làng Truôngnằm ở xã Hơng Giang, thuộc vùng thợng huyện, hiện nay có 11 xứ và 1 sở
đạo Những xã có giáo dân đông là Phơng Mỹ (13/16 xóm), Hơng Long(14/17 xóm), Gia Phổ (13/16 xóm) TCG ở Hơng Khê có 11 xứ, 1 sở và 60 họ,
59 nhà thờ trong đó có 12 nhà thờ xứ huyện, 47 nhà thờ họ Số giáo dânkhoảng 2,8 vạn ngời (năm 2005) chiếm gần 30% dân số toàn huyện, ở HơngKhê có 11 đơn vị khu dân là giáo toàn tòng So với con số 6 triệu tín đồ TCGtrong cả nớc thì tỷ lệ giáo dân trên tổng số dân ở Hơng Khê, cao gấp 4 lần Xã
có 7 nhà thờ nh Phơng Mỹ, xã có 5 nhà thờ nh Gia Phổ, Hơng Trạch Xã LộcYên có 3 nhà thờ Hầu hết các nhà thờ đều ở vị trí thuận lợi cho điều kiện đi lễcủa giáo dân Có nhiều nhà thờ lớn nh nhà thờ Ninh Cờng, nhà thờ ThợngBình, nhà thờ Tràng Lu…Năm 1994, Hơng Khê có 7 vị linh mục, năm 1997,
có 260 chức sắc bán chuyên nghiệp giúp việc cho linh mục và 86 ngời trongban hành giáo Họ chăm lo việc đạo, sắm sửa nơi nhà thờ tự Hiện có 100 ngờitruyền đạt giáo lý Trong công cuộc bảo vệ đất nớc, giáo dân Hơng Khê cónhững đóng góp lớn Có 2 bà mẹ đợc công nhận là Bà mẹ Việt Nam anh hùng,
2 anh hùng lực lợng vũ trang là ngời TCG, 108 gia đình liệt sỹ, 160 bệnh binh,
400 gia định đợc tăng huân huy chơng các loại Nh vậy, so với các huyện kháctrong tỉnh thì Hơng Khê cũng đợc coi là một điểm sáng về TG Tinh thần yêunớc của đồng bào TCG không dừng lại ở thời điểm đất nớc có chiến tranh
Ngày nay, trong điều kiện hoà bình, đồng bào TCG vẫn luôn phát huytất cả các phong trào thi đua yêu nớc, quán triệt nguyên tắc: sống tốt đời đẹp
đạo, kính chúa yêu nớc, phụng sự Tổ quốc nhằm góp phần quan trọng vàothắng lợi trên các lĩnh vực xây dựng đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, giữvững anh ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nớc
Thành tựu gần 20 năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội là kết quả của sự nổ lực chung của mọi ngời ViệtNam yêu nớc, trong đó có đồng bàoTCG Hơng Khê và không ai khác chính họ
là ngời đợc hởng thụ Dù khắt khe đến mấy, hễ ai có thiện tâm với dân tộc đềucảm nhận rõ sự thay đổi hàng ngày trên quê hơng mình Có thể nói nhờ thànhtựu công cuộc đổi mới mà sinh họat TG có thêm điều kiện thuận lợi Chính
Trang 15sách tôn trọng quyền tự do tín ngỡng và không tín ngỡng của Đảng, Nhà nớc
đã đợc chính quyền địa phơng triệt để và nghiêm chỉnh thực hiện, càng làmcho đồng bào có đạo phấn khởi, yên tâm hành đạo, hăng hái hơn trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với phơng châm “tốt đời, đẹp đạo”, “nớcminh, đạo sáng”
Với những chính sách của Đảng và Nhà nớc, đồng bào TCG nói riêng
và đồng bào TG nói chung đợc tự do phát triển, tự do sáng tạo và đợc tạo điềukiện làm ăn hợp pháp Nhìn chung, có một bộ phận giáo dân làm ăn tốt có nềnkinh tế và mức thu nhập ổn định, có rất nhiều hộ giáo dân là những gia đìnhgiàu có, tập trung chủ yếu ở thị trấn huyện nh gia đình ông Nguyễn CôngChức khối 8 thị trấn Hơng Khê, là chủ khách sạn rất xinh đẹp và rất nên thơ
đó là khách sạn Trờng Sơn, khách sạn nằm ngay bên bờ hồ Bình Sơn lộng gió
Đây là khách sạn đầu tiên và duy nhất hiện nay ở Hơng Khê, nó đã tạo cho hồBình Sơn một vẻ duyên dáng đặc biệt Ngoài ra, còn có nhiều nhà nghỉ khangtrang, lịch sự của các giáo dân khác Nếu ai đi xa Hơng Khê khoảng chừng 5năm không trở lại, nay có dịp về thăm, chắc không tránh khỏi sự ngỡ ngàngtrớc sự thay đổi mang tính đột phá của huyện nhà, nhất là khu vực thị trấnhuyện, hệ thống nhà nghỉ, nhà cao tầng với kiến trúc cực kỳ hiện đại nay mọclên nh nấm Các công ty TNHH t nhân liên tục tăng lên, hệ thống nhà hàng,quán xá…xuất hiện nhiều Điều đó nói lên cuộc sống trên quê hơng Rôộc Cồn
- Xô Viết đã đổi thay thực sự, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân HơngKhê nói chung, đồng bào TCG Hơng Khê nói riêng đã có nhiều khởi sắc Đó
là thành quả của sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo gần 20 năm qua
Và thực tế cho thấy, kể từ ngày đất nớc đổi mới, TCG đã có những thay
đổi rõ rệt Sinh họat TG đợc chính quyền tạo điều kiện nên hoạt động thuận lợihơn, đâu đâu trên địa bàn huyện cũng có nhà thờ, nhiều nhà thờ đã đợc tu bổ
và xây dựng lại cực kỳ sang trọng nh nhà thờ Tràng Lu (đã xong), nhà thờ TânPhơng, Giang lĩnh đang xây dựng và nhiều nhà thờ khác đang đi vào giai đoạnhoàn thành, chuẩn bị đa vào sử dụng
Những đổi thay của huyện nhà cũng nh đồng bào TCG đã có tác độngtích cực đến tuyệt đại bộ phận đồng bào có đạo Không những họ ngày càngủng hộ mạnh mẽ hơn, tham gia tích cực hơn vào công cuộc đổi mới mà còngóp phần cùng chính quyền đấu tranh với những phần tử lợi dụng TG đểchống phá sự nghiệp đổi mới, nh hành động của linh mục Nguyễn Văn Lý ởgiáo xứ Nguyệt Biều cũng không nhận đợc sự đồng tình của giới chức cônggiáo nớc ta nói chung và ở Hơng Khê nói riêng
Trang 161.1.2.2.Phật giáo: So với các nơi khác thì Phật giáo ở đây ít phát triển
hơn Ngày nay, không còn mấy chùa chiền và miếu mạo Đa số chùa chỉ cótên mà không còn nhà, chỉ còn là phế tích Tuy vậy, nếu thống kê cho hết cáctên gọi ta thấy đã có thời kỳ ở xứ Hơng Khê này tồn tại rất nhiều chùa Từ hạ
lu sông Ngàn Sâu đi lên, bắt đầu là Chùa Am (Viên Quang Tự) ở núi Am Sơnxã Phụng Tông, phủ Đức Thọ (trớc kia thuộc tổng Du Đồng thuộc Hơng Sơncũ), sau chùa Am ta thấy có một hệ thống chùa chiền ở miền Ngàn Sâu tơng
đối quy mô: Chùa Mỹ Khê, chùa Phơng Mộ (xã Phơng Mỹ), chùa Trúc Lâm(xã Hợp Thành), chùa Yên Bình (thi bảng), chùa Trung Định (xã Hơng Thuỷ),chùa Cô (Đô Khê), chùa Phúc Trạch (chùa Tò Vò), chùa Hà Đông (còn gọi làGác Chuông hay Tháp Chuông), chùa Tợng Sơn (Xuân Lũng – Hơng Xuân),chùa Thơng Hựu (Nam Trạch – Hơng Bình), chùa Bảo Lâm (Hơng Vĩnh),chùa Hà Phúc (Lộc Yên)…
Các chùa kể trên hiện nay đã h hỏng, nhiều ngôi hiện nay chỉ còn lạitrong trí nhớ mà không còn nhà chùa chẳng hạn chùa Mỹ Khê, chùa ThợngHựu…Trong số các chùa đổ nát, chùa Hà Đông hiện còn giữ đợc một cáichuông lớn có ý nghĩa lịch sử Chuông này nặng tới 500 kg Đặc biệt, hai chùacòn giữ đợc dáng vẻ cổ xa là cùa Hạ Phúc Tự (Lộc Yên) và Bảo Lâm Tự ( H-
ơng Vĩnh) Chùa Bảo Lâm hiện còn nhà và sân, vờn rộng tới 2 ha, trong chùacòn lu giữ 26 bức tợng phật, 5 bức hoành phi từ xa để lại, chùa Hạ Phúc còn
13 bức tợng, sân, vờn chùa trên 3000 m2 Chùa này vừa đợc tu sửa lại và látnền xi măng, lợp ngói khang trang Tuy vậy, điều đáng chú ý là đến thời điểmhiện nay, khi trên cả nớc có nhiều nơi nhà chùa trở nên tấp nập, nhộn nhịptrong các ngày lễ tết thì ở Hơng Khê dân vẫn còn ít đến chùa Cả những chùa
đã tu sửa khang trang và chùa còn nguyên trạng với các tợng phật thời cổ nhBảo Lâm và Hạ Phúc, mỗi tháng cũng chỉ có vài chục lợt ngời đến lễ
Các chùa ở Hơng Khê có từ lâu tồn tại nh một cơ sở tín ngỡng độc lậpriêng từng xã thôn Không có chùa lớn và các s sãi trụ trì để biến chùa thànhmột trung tâm thu hút khách thập phơng đến lễ bái Chùa thờng do một ngờithủ từ do dân làng cử ra để chăm sóc việc tín ngỡng Ngời thủ từ này trongmột số trờng hợp cũng thành ngời thầy chùa, tức là ngời có khả năng điềuhành các lễ bái trong chùa nh cầu xiêu, cầu lộc, cầu tự theo yêu cầu của cáctín chủ
Trớc đây, chùa nào cũng có một số ruộng đất gọi là tự điền (ruộng đểdùng cho việc cúng bái hơng khói) Ruộng đợc làm do công điền thổ của xãtrích cấp và do các nhà hảo tâm, có những cả gia đình vô tự (không có ngời
Trang 17nối dõi) tự giác giúp làm ở Hơng Khê vào ngày rằm và mồng một âm lịchchùa chiền không thờng xuyên đợc dâng cúng lễ Hầu nh chỉ có ngày Phật đản( mồng tám tháng t âm lịch), ngày lễ trung nguyên (rằm tháng bảy), ngày tếtnguyên đán mới là những ngày đợc lễ bái long trọng Bình thờng chùa rấtvắng.
Những năm 40 của thể kỷ XX, trớc cách mạng tháng 8/1945, hởng ứngcuộc vận động chấn hng Phật giáo theo khuynh hớng tiến bộ đã ra mắt tại thịtrấn Chu Lễ, chùa Hà Đông là nơi nhóm họp của Ban tại sự và các hội viên Tổchức mới này nhằm khuyên các thiện nam, tín nữ lấy việc cầu kinh niệm Phật
và những việc làm phúc đức làm nội dung hoạt động chính, bài trừ mọi hìnhthức và biểu hiện mê tín dị đoan Nhng phân hội cha kịp triển khai hoạt độngthì cách mạng tháng Tám thành công, các hội viên sau đó đã cố tham gia vàocác đoàn thể chính quyền cách mạng Sau hoà bình lập lại (1955 – 1960) cóchủ trơng “hợp t”, tập trung đình chùa miếu mạo về một nơi thành ra có nhiều
đình đền, chùa miếu đợc sử dụng để làm trụ sở cho các hoạt động đoàn thể
1.2.3 Nho giáo: ở Hơng Khê đền thờ mang tính Nho giáo lại đợc
chuộng hơn Chẳng hạn, đền Trạng, đền nhà Thánh, đền Tam Công (HơngMỹ), đền thờ Trần Phúc Hoàn (Hơng Vĩnh), lăng Đức Thánh (Phúc Đồng)…Tuy nhiên không thể nói là Nho giáo ở Hơng Khê phát triển đợc Hơng Khê tr-
ớc 1945 không có ông Nghè, ông Cống Tiến sĩ lại càng không Nho giáo ở
H-ơng Khê chỉ đợc nhân dân thờ phụng trong các đền miếu Đền Trại Trụ (PhúGia) là một ngôi đền cách xa trung tâm, đờng rất khó đi nhng rất đông ngời
đến lễ Đa số dân đến đền Trại Trụ ngày nay là để “xin” và để “hỏi” các việccủa nội tộc, gia đình hoặc ốm đau bệnh tật, rủi ro…
1.1.2.4 Một số tín ngỡng khác: Một mảng tín ngỡng có tính dân gian
cần đề cập đến ở Hơng Khê là việc thờ cúng các vị Thần Thành Hoàng, ThầnNúi, Thần Sông, Bà Chúa Phơng Ngàn, Đức Thánh Mẫu…, có hiện tợng giaothoa, phối hợp giữa các tín ngỡng Đạo giáo và Nho giáo trong việc thờ phụng
Đặc biệt là, trong hàng thần linh, có một số nhân vật có thực trong lịch sử, các
vị tớng, quan hầu, quan lĩnh của các triều, có khi là các vị chỉ huy của nghĩaquân Phan Đình Phùng cuối thế kỷ XIX Những đền miếu ấy lập ra khắp cácxã, thôn Có xã nếu theo tên gọi còn lại ngày nay thì có tới 14 ngôi đền miếu
nh thế (Hoà Hải, Hơng Xuân, Lộc Yên)
Có thể xem đó là hình thức tổ chức tín ngỡng dân gian tự phát, sau đó
đ-ợc Nhà nớc phong kiến công nhận phong sắc thần Tùy theo sự khai báo côngtích của địa phơng mà thần sẽ đợc phong thứ hạng để ghi vào sắc phong:
Trang 18Trung đẳng, Thợng đẳng, Thợng thợng đẳng thần Sắc thần là linh khí của đền,
do đó dân làng phải kính phụng tự Hàng năm, vào đầu xuân có lễ rớc sắc thần
và tổ chức lễ hội ở một số xã Rớc sắc thần có nhiều hình thức: rớc Hội đồng(tức tập kết các thần) làm lễ tế giữa các đình làng, sau đó thì rớc Hồi loan (tức
là rớc sắc trả về chỗ cũ)
Lễ hội đồng tiến hành hàng năm, 3 năm hoặc 6 năm, hoặc có thể 12năm một lần, mỗi lần tổ chức lễ hội đòi hỏi công của và trí lực Do đó, nhiềuxã đã lần lợt bỏ đi vì không có điều kiện Chỉ có xã Phú Gia lễ hội đợc tiếp tục
đến những năm 60 rồi cũng bỏ luôn Một phần vì chiến tranh chống Mỹ ácliệt, phần khác do nhiều cuộc lễ hội đòi hỏi quá nhiều sự đóng góp của dân địaphơng Tuy nhiên, ngày nay thì chỉ còn một số ít các cụ già là vẫn còn biết đợccác nghi thức của lễ hội
1.3 Đồng bào TCG Hơng Khê (Hà Tĩnh) với việc thực hiện KHHGĐ.
1.3.1 Khái quát thực trạng vấn đề dân số – KHHGĐ cả nớc nói chung
và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong những năm gần đây
1.3.1.1 Khái quát thực trạng vấn đề dân số – KHHGĐ ở nớc ta trong những năm gần đây.
- Dân số: Là tập hợp ngời sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lýkinh tế hoặc một đơn vị hành chính [4 64]
- KHHGĐ: Là biện pháp chủ yếu để điều chỉnh mức sinh góp phần bảo
đảm cuộc sống ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc [4.101]
Việt Nam đang trải qua những thay đổi tích cực và nhanh chóng về kinhtế- xã hội và cả trong lĩnh vực dân số Theo kết quả tổng điều tra dân số 1/ 4/
2003 dân số Việt Nam là khoảng 81 triệu ngời Nh vậy, xét về quy mô dân sốnớc ta tính đến 2003 đứng thứ 13 thế giới, thứ 3 Đông Nam á Nhng đến cuốinăm 2005 dân số nớc ta là trên 83 triệu ngời, đứng thứ 2 Đông Nam á sau In
đô nê xi a Tuy nhiên, đối với nớc ta điều đó cũng đã thể hiện thế giảm mức
Trang 19sinh trong những thập niên 90 của thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI và tiến đến gầnmức sinh thay thế.
Khoản 12 Điều 3 pháp lệnh dân số xác định: “Mức sinh thay thế là mứcsinh tính bình quân trong toàn xã hội thì mỗi cặp vợ chồng có 2 con”
Điều này thể hiện qua bảng số liệu sau về số con trung bình của mộtphụ nữ trong tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi) [4.18] :
và cả quy mô, cơ cấu dân số, phân bố dân c và chất lợng dân số, tiến tới ổn
định dân số vào giữa thế kỷ XXI Mục tiêu tổng quát của chiến lợc dân số ởViệt Nam nhằm: khuyến khích thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh để cócuộc sống ấm no, hạnh phúc, tạo điều kiện nâng cao chất lợng dân số, pháttriển nguồn nhân lực có chất lợng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý, từng bớc giảiquyết hợp lý và có hiệu quả việc phân bố dân c, cơ cấu chất lợng dân số
- Quy mô dân số là số ngời sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa
lý kinh tế hoặc đơn vị hành chính tại một thời điểm nhất định (Khoản 2 Điều 3pháp lệnh dân số) [ 4 13]
- Cơ cấu dân số là tổng số dân đợc phân loại theo giới tính, độ tuổi dântộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trng khác(Khoản 3 Điều 3 Pháp lệnh dân số) [4 109]
- Phân bố dân c là sự phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lýkinh tế hoặc một đơn vị hành chính (Khoản 5 Điều 3 Pháp lệnh dân số)[4.123]
- Chất lợng dân số là s phản ánh các đặc trng về thể chất, trí tuệ và tinhthần của toàn bộ dân số [4.130]
Trang 20Nh vậy, công tác dân số phải đợc triển khai trên cả ba lĩnh vực cơ bản:quy mô dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân c Trong thời gian qua do tínhchất cấp bách, Việt Nam đã tập trung hớng tới mục tiêu xây dựng quy mô dân
số hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam để
từ đó tạo khả năng nâng cao chất lợng cuộc sống cho mọi thành viên trong xãhội Đợc hởng ứng của toàn dân, công tác dân số KHHGĐ đã đạt đợc nhữngkết quả quan trọng: tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biệnpháp tránh thai tăng lên, tỷ suất sinh và tỷ lệ tăng dân số giảm rõ rệt:
Tỷ suất sinh giảm từ 25,8‰ (1993) xuống còn 21,5‰ (1998) Tổng tỷsuất sinh giảm từ 3,5 con (1993) xuống còn 2,5 con (1998)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 2,3% (1993) xuống còn 1,7%(1998) Từ đó, cho thấy dân số hàng năm đã giảm rõ rệt: nếu nh năm 1992 dân
số tăng so với năm 1991 khoảng 1,6 triệu ngời, thì năm 1998 so với năm 1997
là khoảng 1,3 triệu ngời
Giai đoạn hiện nay khoảng 1 triệu ngời/ năm và đây cũng là con số dựkiến cho cả giai đoạn 2001 – 2010 và giai đoạn 2011 đến 2020 khoảng 95vạn ngời/năm Nếu nh công tác dân số - KHHGĐ đợc thực hiện tốt thì dân số
sẽ ổn định vào giữa thế kỷ XXI
- ở nớc ta Đảng và Nhà nớc luôn coi công tác dân số là một bộ phậnquan trọng trong chiến lợc phát triển toàn diện đất nớc, là một yếu tố cơ bảnnhằm góp phần nâng cao chất lợng cuộc sống của từng ngời, từng gia đình, cảcộng đồng và toàn xã hội Dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, với những cốgắng vợt bậc của uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em, Bộ y tế, các ban ngànhcùng sự ủng hộ của các cơ quan, tổ chức quốc tế đặc biệt là quỹ dân số Liênhợp quốc (UNFPA) công tác dân số – KHHGĐ nói chung và sự chăm sóc vềsức khoẻ sinh sản trong những năm qua đã đạt những thành tựu đáng phấnkhởi Tuy nhiên, trong những năm gần đây dân số đang có nguy cơ gia tăngtrở lại Điều nay đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp chiến lợc
1.3.1.2 Khái quát thực trạng vấn đề dân số - KHHGĐ ở Hà Tĩnh trong những năm gần đây.
2.1.2.1 Những kết quả bớc đầu.
Đợc sự quan tâm của các cấp uỷ, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ củacác cơ quan, ban, ngành, đoàn thể các cấp, sự đồng tình ủng hộ, tham gia tíchcực của nhân dân, hệ thống tổ chức bộ máy uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em
đợc cũng cố và kiện toàn, nhờ đó công tác dân số-KHHGĐ ở Hà Tĩnh thu đợcnhững kết quả quan trọng
Trang 21Tỷ suất sinh thô giảm từ 2,9% (1993) xuống còn 1,48% (2002); tỷ lệsinh trên 2 con từ mức gần 40% (1993) xuống còn 27% (2002) Tổng tỷ suấtsinh, số con trung bình của một bà mẹ trong độ tuối sinh đẻ từ 3,9 con giảmxuống 2,3 con (2002) Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụngbiện pháp tránh thai tăng nhanh từ 44,5% (1993) lên 81% (2002) Kết quảgiảm sinh đã đạt đợc sớm hơn so với mục tiêu đề ra.
Công tác tuyên truyền, giáo dục đợc mở rộng và đẩy mạnh Hình thứctruyền thông đa dạng, nội dung phong phú, phù hợp hơn Lực lợng xã hội vànhân dân tham gia tuyên truyền, giáo dục, vận động thực hiện dân số -KHHGĐ ngày càng đông đảo từ các cơ quan báo chí, các ban ngành đoàn thể,
tổ chức xã hội đến các chức sắc TG những ngời có uy tín trong cộng đồng, cán
bộ y tế, từ tỉnh đến cơ sở Giáo dục dân số đợc triển khai trong hệ thống giáodục phổ thông, THCN và dạy nghề
Việc cung cấp dịch vụ kế họach hoá gia đình cơ bản đáp ứng đợc nhucầu đối tợng, đa dạng về biện pháp, thuận tiện và an toàn hơn
1.3.1.2.2 Những hạn chế và thách thức: Do đặc điểm của tỉnh ven biển
miền Trung, khí hậu khắc nghiệt, địa lý, kinh tế – xã hội, với hơn 90% dân
số là nông dân nên thách thức cho công tác dân số - KHHGĐ và vấn đề pháttriển kinh tế – xã hội ở Hà Tĩnh là không nhỏ:
- Quy mô dân số tiếp tục tăng, cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội.Với gần 1,3 triệu ngời, tiềm năng gia tăng dân số còn lớn do cơ cấu dân số trẻ(
số ngời trong độ tuổi sinh đẻ lớn)
- Kết quả giảm sinh cha thật vững chắc, trong hơn một thập kỷ qua, mứcsinh bình quân hàng năm của Hà Tĩnh đạt trên 1%/năm, nhng tỷ lệ sinh conthứ 3 trở lên lại giảm chậm và còn cao so với mức bình quân của cả nớc
- Bên cạnh đó, quy mô dân số trẻ đang là sức ép lớn nếu nh lao độngkhông đợc đào tạo thích hợp và không có đủ việc làm ở Hà Tĩnh tỷ lệ trẻ emsuy dinh dỡng còn cao, số ngời nhiễm HIV/ AIDS liên tục tăng trong nhữngnăm gần đây Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản còn hạn chế và cha đợcquan tâm đúng mức, tỷ lệ nạo hút thai cao, trên 50% phụ nữ từ 15 - 49 tuổi bịviêm nhiễm đờng sinh dục
- Di dân tự do và những biến động của lực lợng lao động là thách thứclớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội
2.1.2.3 Mục tiêu công tác dân số KHHGĐ thời gian tới nh– sau:
- Mục tiêu của công tác dân số và gia đình của Hà Tĩnh từ nay đến năm
2010 là :
Trang 22+ Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số
ở mức hợp lý, nâng cao chất lợng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lợngcao đáp ứng nhu cấu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần vào sự pháttriển nhanh và bền vững của tỉnh
+ Duy trì xu thế giảm sinh một cách vững chắc, đặc biệt giảm nhanh tỷ
lệ sinh con thứ 3 trở lên ở vùng sâu, vùng xa, vùng biển, vùng giáo, vùngnghèo và vùng khó khăn, nhằm đạt mức sinh thay thế bình quân và ổn địnhtrong toàn tỉnh vào năm 2006
+ Từng bớc giải quyết quy mô dân số, cơ cấu và phân bố dân c phù hợpvới sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh vào năm 2010
+ Nâng cao chất lợng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, giảmnhanh tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống mức 0,86% vào năm 2010 Tăng tỷ lệcặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai từ 76,03% (2000) lên 78% (2010)
1.3.3 Thực trạng vấn đề dân số KHHGĐ huyện H– ơng Khê nói chung và của
đồng bào TCG huyện miền núi Hơng Khê ( Hà Tĩnh) nói riêng.
1.3.3.1 Thực trạng vấn đề dân số – KHHGĐ huyện Hơng Khê nói chung.
1.3.3.1 Thành tựu đạt đợc:
- Trong những năm qua, đợc sự quan tâm của UBDS tỉnh, sự lãnh đạotrực tiếp của thờng vụ huyện uỷ, HĐND, UBND, sự phối hợp của các cấp, cácngành và sự vơn lên của đội ngũ công tác dân số – KHHGĐ từ huyện đếnthôn xóm, công tác dân số – KHHGĐ đã đạt đợc nhiều kết quả đáng khích
lệ Trớc hết, là tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức, nhờ đó mà phong trào
tự nguyện thực hiện KHHGĐ của các cặp vợ chồng ngày càng đông đảo, tạo
ra đợc d luận xã hội đồng tình ủng hộ cao với chơng trình, mục tiêu, dân số –KHHGĐ Do vậy, trong những năm qua công tác dân số – KHHGĐ đã đạt đ-
ợc những kết quả cụ thể nh sau:
Tỷ suất sinh thô giảm từ 27,3‰ (1995) xuống còn13,9‰ (2003), giảmhơn năm 2002 là 0,35‰
Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng BPTT tăng từ 49,95% (1995) lên77,38% (2003)
Thể hiện qua bảng số liệu sau:
Trang 23h-Tỷ lệ sinh con thứ 3 từ 35,3% năm 1999 giảm xuống còn 25,2% năm
2003, giảm nhanh hơn so với toàn tỉnh
Thể hiện qua bảng số liệu sau:
bộ y tế từ huyện đến thôn xóm
Giáo dục dân số đợc triển khai trong hệ thống giáo dục phổ thông.Hàng năm đã có nhiều lớp giáo dục về sức khoẻ sinh sản vị thành niên chohọc sinh THCS và học sinh THPT
Việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ cơ bản đợc đáp ứng nhu cầu của đối ợng, đa dạng về biện pháp, thuận tiện và an toàn hơn Hệ thống cung cấp dịch
t-vụ đợc củng cố, mở rộng từ huyện đến tận thôn xóm, vùng sâu, vùng xa Dịch
vụ KHHGĐ lu động đã đáp ứng kịp thời nhu cầu tại chỗ của ngời dân, đặcbiệt, là ở vùng xa, vùng nghèo, vùng khó khăn
Bảng báo cáo công tác truyền thông của huyện từ năm 2001 – 2004
động (Lần)
Số lần chiếu phim video văn nghệ (Lần)
Sản phẩm truyền thông
Panô, khẩu hiệu (Chiếc)
Số tờ bớm tranh ảnh (Tờ)
Số sánh, tập san, tạp chí (Cuốn)
Số băng radio, video (Băng)
Câu lạc bộ
Trang 24Thể hiện qua bảng báo cáo số cộng tác viên dân số và sử dụng kinh phí:
dân số (ngời) Kinh phí (nghìn đồng)
Tổng
số Nữ Cộng tácviên Tổng cộng
Thù lao cán bộ chuyên trách và công tác viên
Năm Nguồn kinh phí sự nghiệp
đợc cấp (%) Sử dụng kinh phí sự nghiệp (%)
Trang 25- Kinh phí cho dịch vụ KHHGĐ và sức khoẻ sinh sản tăng vào năm
2003 vì sang năm 2004 có xu thể giảm cụ thể:
+ Tăng từ 7,6% (2001) lên 22% (2003) và đến 2004 đã giảm từ 22%(2003) xuống 17,4% (2004)
+ Kinh phí để khuyến khích đối tợng tăng từ 4,1%(2001) lên8,5%(2003) và giảm xuống 0,5% (2004)
+ Thù lao cho cán bộ chuyên trách giảm nhanh từ 68,4% (2001) xuốngcòn 36% (2004)
Sự tăng nhanh hay giảm của việc cung cấp nguồn kinh phí cho công tácdân số – KHHGĐ huyện Hơng Khê từ 2001 đến 2004 thể hiện:
+ ý thức của ngời dân về công tác dân số – KHHGĐ đã đợc nâng cao
rõ rệt 247.816.000 đồng (2001) lên 394.125.000 đồng (2004) Nói lên sự quantâm của các cấp từ huyện đến Trung ơng đối với công tác dân số – KHHGĐhuyện Hơng Khê
+ Số công tác viên tăng từ 288 ngời (2001) lên 300 ngời (2004) Điềunày cho thấy, một mặt, số lợng đội ngũ cộng tác viên bổ sung cho công tácdân số – KHHGĐ ngày càng nhiều, mặt khác, sự quan tâm của mọi ngời dâncủa chính quyền huyện, xã, UBDS, gia đình và trẻ em
Hơn nữa, số lợng cộng tác viên dân số tăng nói lên rằng đây là nguyênnhân làm cho kinh phí giảm chứ không phải do rút bớt kinh phí của công tácdân số – KHHGĐ
Bảng số liệu về mạng lới chuyên trách dân số – KHHGĐ
Năm Cán bộ chuyên trách dân số Cộng tác viên dân số Số lần cộng tác viên
Tình hình thực hiện KHHGĐ trong nhân dân tăng lên hàng năm, cụ thểqua bảng số liệu về cặp vợ chồng đang sử dụng BPTT:
Trang 262004 12.522 81,00%
Qua các bảng số liệu trên cho thấy:
Nhận thức và hành động của nhân dân về dân số – KHHGĐ đợc nânglên rõ rệt Quy mô gia đình ít con ngày càng đợc đông đảo nhân dân đồngtình, hởng ứng và thực hiện Quan niệm về hôn nhân, sức khoẻ sinh sản củanhân dân đã chuyển biến tích cực, tuổi kết hôn, tuổi đẻ đều muộn hơn so vớigiai đoạn trớc Ngày càng có nhiều cặp vợ chồng tự nguyện thực hiệnKHHGĐ, thực hiện mô hình gia đình ít con, sinh tha để nuôi con khoẻ, dạycon ngoan và phát triển kinh tế
1.3.3.1.2 Hạn chế: Bên cạnh những thành tựu đạt đợc, do đặc điểm củamột huyện miền núi xa trung tâm tỉnh lỵ, thời tiết khắc nghiệt, diễn biến phứctạp và khó lờng, nông dân chiếm tỷ lệ cao, điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiềukhó khăn… đã tạo ra nhiều khó khăn, thách thức cho công tác dân số –KHHGĐ và cả sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện nhà:
- Quy mô dân số tiếp tục tăng,cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội, với
số dân 106.418 ngời tiềm năng gia tăng dân số còn cao do cơ cấu dân số trẻ.Thể hiện qua bảng số liệu về theo đặc trng nhóm tuổi (15-49):
Thể hiện qua bảng số liệu sau:
Năm Sinh con thứ 3 trở lên (ngời)Toàn huyện Tỷ lệ %