So với chí nam nhi, cảnh nghèo và thế tháinhân tình, triết lí cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ có lẽ là “vùng thẩm mĩ” thể hiện rõ nhất con ngời Nguyễn Công Trứ – một kiểu
Trang 1Lời cảm ơn
Đề tài này đợc tiến hành từ tháng 01 đến tháng 5 năm 2003 Trong quátrình thực hiện, em đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo của cô giáo Thạch KimHơng và sự chỉ bảo của các thầy cô giáo trong tổ văn học Việt Nam I Nhândịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu của cô giáoThạch Kim Hơng và các thầy cô giáo trong tổ văn học Việt Nam I
Vinh, tháng 5 năm 2003 Tác giả luận văn
Trang 2Phần 1: mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Công Trứ hiện diện trong lịch sử Việt Nam với nhiều tcách khác nhau: một nhà chính trị, một nhà kinh tế (có công trong việc khaikhẩn đất hoang) và là một nhà thơ Trong lĩnh vực văn chơng nghệ thuật,Nguyễn Công Trứ đợc xem là “ông hoàng Hát nói” – ngời đã có côngtrong việc nâng thể loại hát nói thành một thể thơ hoàn chỉnh, linh hoạt.Nghiên cứu thơ văn Nguyễn Công Trứ sẽ góp phần khẳng định vị trí củaNguyễn Công Trứ trong lịch sử văn học Việt Nam
1.2 Có thể khái quát toàn bộ sự nghiệp thơ văn Nguyễn Công Trứ tậptrung vào ba mảng đề tài chính: Chí nam nhi, Cảnh nghèo và thế thái nhântình; Triết lí cầu nhàn hởng lạc So với chí nam nhi, cảnh nghèo và thế tháinhân tình, triết lí cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ có lẽ
là “vùng thẩm mĩ” thể hiện rõ nhất con ngời Nguyễn Công Trứ – một kiểusống của nhà nho tài tử rất độc đáo trong văn học Việt Nam Mặt khác, đâycũng là vấn đề đợc giới nghiên cứu phê bình quan tâm và đã có nhiều ý kiếnkhác nhau thậm chí trái ngợc nhau mà cụ thể là sự tranh cãi về triết lý cầunhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ thực chất mang tính tích cựchay tiêu cực và tính chất nào là chủ yếu Tìm hiểu triết lí cầu nhàn h ởng lạctrong thơ văn Nguyễn Công Trứ, chúng tôi muốn góp những ý kiến nhỏ củamình (có thể là chủ quan) vào việc khẳng định thực chất của triết lí cầunhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ
1.3 Trong chơng trình văn học của nhà trờng phổ thông, một số tácphẩm thơ văn của Nguyễn Công Trứ đợc đa vào giảng dạy và học tập ở cấptrung học cơ sở có bài “Đi thi tự vịnh” và bài “Vịnh mùa đông” (lớp 9); ởcấp trung học phổ thông là “Bài ca ngất ngởng ” và “Hàn nho phong vị
phú” (lớp 11) Tìm hiểu triết lí cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn
Công Trứ sẽ giúp cho việc tìm ra phơng pháp giảng dạy thơ văn NguyễnCông Trứ nói riêng và văn học Việt Nam trung đại nói chung trong nhà tr -ờng phổ thông đợc tốt hơn
Trang 32 Lịch sử vấn đề
2.1 Nguyễn Công Trứ là một tác gia tiêu biểu của nền văn học ViệtNam trung đại Từ trớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vềcon ngời và sự nghiệp Nguyễn Công Trứ Tất cả các công trình đó đều xoayquanh cuộc đời làm quan của ông với việc thực hiện “chí nam nhi” và “triết
lí cầu nhàn hởng lạc” gắn với cá tính của bản thân ông Đó là những nétchính dễ nhận biết trong cuộc đời cũng nh trong sáng tác thơ văn củaNguyễn Công Trứ Do phạm vi của đề tài ở đây chúng tôi chỉ điểm quanhững công trình có đề cập đến triết lí cầu nhàn hởng lạc của Nguyễn CôngTrứ, để thấy đợc những đánh giá của các tác giả về mảng thơ mang nộidung này
2.1.1 Trớc hết phải kể đến cuốn Thơ văn Nguyễn Công Trứ ∗ do cáctác giả Trơng Chính, Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách giới thiệu, hiệu đính, chúthích, xuất bản năm 1958 đợc xem là tài liệu đáng tin cậy về Nguyễn CôngTrứ từ trớc đến nay Trong công trình này các tác giả đã lý giải sơ l ợcnguyên nhân dẫn Nguyễn Công Trứ đến việc ca tụng hàng lạc Các tác giảcho rằng Nguyễn Công Trứ là một ngời vì nớc, vì dân, nhàn ở ông chỉ là sựnghỉ ngơi cho thoải mái sau khi đã hoàn thành công danh, chỉ đến giai đoạn
về cuối cuộc đời ông, t tởng nhàn hạ đó mới “biến chất và đổi thành t tởngchán đời thực sự”
2.1.2 Nhóm tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê trong
“Lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX ”∗ đã nhận
định rằng: ở Nguyễn Công Trứ thú ăn chơi, hởng lạc cũng nh chí nam nhi làmột cá tính độc đáo của chính bản thân ông Các tác giả đã cho rằng:
“Những bài thơ về triết lí cầu nhàn hởng lạc của Nguyễn Công Trứ ít nhiềumang tính chất tiêu cực”
2.1.3 Còn các tác giả “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII-nửa
đầu thế kỷ XIX”∗ lại khẳng định quá trình hình thành triết lí cầu nhàn hởnglạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ: “Cái thói hởng lạc ấy, ông giữ từ nhỏ
đến già, từ việc cắp đàn đi làm kép lúc thiếu thời cho đến lúc lên chùa vãncảnh phật mà cứ mang theo “một đôi dì”, lúc đã về hu, cái tính phóngkhoáng, bất chấp d luận, giáo điều của Nho gia vẫn không thay đổi” Đángchú ý là các tác giả của “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam” đã khẳng định rằng:
Trang 4với Nguyễn Công Trứ, “chơi bời trở thành một thói quen, một bản chất, ôngnâng nó lên thành tầm triết lý của cuộc sống”.
2.1.4 Chu Trọng Huyến là ngời viết nhiều nhất về Nguyễn Công Trứ.Trong “Nguyễn Công Trứ, con ng ời và sự nghiệp”∗, tác giả đã chỉ ra đợctính chất mâu thuẫn trong t tởng của Nguyễn Công Trứ, giữa tinh thần háohức lập công danh với ý muốn nhàn tản của ông Trong công trình này, ChuTrọng Huyến đã đi tìm nguồn gốc, nguyên nhân xuất hiện của triết lý cầunhàn hởng lạc của Nguyễn Công Trứ: “Những biểu hiện hành lạc, bi quantrong thơ Nguyễn Công Trứ bắt nguồn từ t tởng anh hùng cá nhân của ông,
từ lập trờng giai cấp mà ông đại diện”
2.1.5 Cũng với việc đi tìm nguồn gốc của triết lý cầu nhàn hởng lạctrong thơ văn Nguyễn Công Trứ, trong “Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn
gốc đến thế kỷ XIX”∗, các tác giả cho rằng: “Chính nền quân chủ chuyên chếvới các quy phạm khắc nghiệt đã khiến ngời tài tử (Nguyễn Công Trứ) càng
về cuối càng thiên về sự tự khẳng định mình qua các hành vi ngông ngạo,trái khoáy, đem những hành lạc, buông thả coi nh những vi phạm về chuẩnmực hạnh kiểm làm phơng thức để tự khẳng định cá tính mình”
2.1.6 Trong chuyên luận “Nguyễn Công Trứ ”∗, Vũ Ngọc Khánhkhẳng định t tởng cầu nhàn hởng lạc của Nguyễn Công Trứ theo chiều hớngtích cực Bằng việc so sánh với các nho sĩ khác cùng thời, tác giả kết luận:
“Những năm đầu triều Nguyễn, Gia Long đặt lệ cứ sáu năm mới có mộtkhoa thi hơng Thời gian dài dằng dặc, bao biến cố, có những nho sĩ đuốisức phá ngang, không còn cần thiết gì sự nghiệp bút nghiên Những ng ời đãquá già, những ngời bất thờng lâm bạo bệnh, những ngời chán nản chấmdứt mộng công danh Rất nhiều nhng Nguyễn Công Trứ thì không nh thế,anh rất trung thành với phơng châm lạc đạo vong bần Sự vui đạo của anhkhông chỉ vui với sách vở thánh hiền mà còn vui với cả câu thơ tiếng hát,vui với cách nhìn đời trào lộng, cách sống tài tử của bản thân anh, vui vớithú hát ả đào, đắm chìm không khí hội hè nơi thôn dã”
2.1.7 Ngợc lại, Nguyễn Lộc trong “Văn học việt nam nửa cuối thế kỉ
XVIII đến hết thế kỉ XIX”•∗ lại khẳng định: thực chất t tởng cầu nhàn hởnglạc ở Nguyễn Công Trứ là tiêu cực Tác giả cho rằng: triết lý cầu nhàn h ởng
Trang 5lạc của Nguyễn Công Trứ “bao hàm một nội dung hoàn toàn tiêu cực cótính chất đồi truỵ, không có một điểm nào còn có ý nghĩa trong cái triết lýấy” Nhận định của Nguyễn Lộc có phần thiếu tính khách quan, ch a côngbằng bởi triết lí cầu nhàn hởng lạc ở Nguyễn Công Trứ không chỉ một chiều làtiêu cực mà mặt khác còn có tính chất tích cực trên một mức độ tơng xứng.
2.1.8 Bên cạnh những nhận định trên, một số đánh giá của các tác giảtrong hai cuốn sách tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh cũng cần
đợc chú ý ở cuốn thứ nhất, “Nhà văn và tác phẩm trong trờng phổ thông:
Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát ”•, tác giả của bài viết kháiquát chung về sự nghiệp văn chơng Nguyễn Công Trứ cho rằng: thơ NguyễnCông Trứ là “những khúc hát của nhà nho tài tử ca ngợi thú nhàn tản chơibời phóng đãng - đó là sự khẳng định một cái tôi khác đời và hơn đời”.Trong bài viết này, tính khách quan trong đánh giá phần nào đợc bảo đảmkhi tác giả cho rằng: “Thơ Nguyễn Công Trứ đôi ba bài đi quá đà vàonhững thú hành lạc tiêu cực” ở cuốn thứ hai, “Phê bình và bình luận văn
học: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Cao Bá Nhạ”• do Vũ Tiến Quỳnhtuyển chọn và biên soạn cũng có những ý kiến thống nhất nh trên
2.1.9 Ngoài ra bài viết về “Thơ hành lạc của Nguyễn Công Trứ với
dòng thơ an lạc thế giới ”• của Phạm Vĩnh C trên Tạp chí Văn học số 7năm 1995 cũng cần đợc lu ý Bằng phơng pháp so sánh loại hình, PhạmVĩnh C đã đặt triết lý cầu nhàn hởng lạc của Nguyễn Công Trứ trong dòngchảy chung của dòng thơ an lạc thế giới Từ đó khẳng định triết lý cầu nhànhởng lạc của Nguyễn Công Trứ hoàn toàn mang tính chất tích cực, là điểm
“gặp gỡ, giao tiếp mạnh mẽ với thời đại ngày nay, con ngời hôm nay với lýtởng nhân sinh mà ngời Việt Nam và cả loài ngời đang quan tâm” Tuynhiên chỗ cha thoả đáng của Phạm Vĩnh C là đã đề cao tuyệt đối yếu tố tíchcực của cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ
2.2 Trong quá trình giới thiệu một số công trình nghiên cứu có liênquan đến triết lý cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ chúngtôi đã bớc đầu chỉ ra một số nhận xét đánh giá khái quát Trên cơ sở tiếpthu thành tựu của những ngời đi trớc, chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục những
Nxb Giáo dục, 1997.
∗ Văn nghệ, 1997.
Tạp chí văn học số 7/1995, trang 5.
Trang 6đánh giá, nhìn nhận thiếu khách quan, cực đoan Luận văn chúng tôi sẽtrình bày một cách có hệ thống, toàn diện triết lý cầu nhàn hởng lạc trongthơ văn Nguyễn Công Trứ ở cả hai phơng diện: nội dung phản ánh và nghệthuật biểu hiện Đồng thời luận văn cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến triết
lý cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ
3 Phạm vi và đối tợng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Nh đã biết, thơ văn Nguyễn Công Trứ chủ yếu tập trung ở ba đề tàichính: Chí nam nhi, Cảnh nghèo và thế thái nhân tình, Triết lí cầu nhàn h -ởng lạc Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu nội dung vàhình thức nghệ thuật của mảng thơ về triết lí cầu nhàn hởng lạc trong thơvăn Nguyễn Công Trứ
3.2 Đối tợng nghiên cứu.
Thơ văn Nguyễn Công Trứ đợc su tầm, tập hợp một cách tơng đốichính xác và tin cậy trong các công trình Đáng chú ý nhất là cuốn “Thơ văn Nguyễn Công Trứ ” do nhóm tác giả Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách, Tr-
ơng Chính giới thiệu, hiệu đính, chú thích, Nhà xuất bản Văn hoá Hà Nội
1958 Đây là công trình su tập thơ văn Nguyễn Công Trứ mà chúng tôi lấylàm đối tợng nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ nh sau:
- Trình bày, lý giải những đặc điểm về quan niệm chữ nhàn của các tácgiả tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung đại
- Phân tích những đặc điểm của triết lí cầu nhàn hởng lạc trong thơ vănNguyễn Công Trứ
- Chỉ ra những đặc trng cơ bản trên các phơng diện của hình thức nghệthuật: ngôn ngữ, giọng điệu trong tính thống nhất với nội dung triết lí cầunhàn hởng lạc của Nguyễn Công Trứ
5 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 7- Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi vận dụng các phơng pháp sau:phơng pháp phân tích tác phẩm văn học dựa trên đặc điểm của thể loại(hát nói, thơ) để làm rõ nội dung phản ánh và nghệ thuật biểu hiện củatriết lí cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ; phơng pháp sosánh: so sánh t tởng cầu nhàn hởng lạc của Nguyễn Công Trứ với quanniệm chữ nhàn của các tác giả tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung đại
để tìm ra điểm độc đáo của Nguyễn Công Trứ
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phơng pháp khác: phơng pháptổng hợp, phơng pháp khảo sát- thống kê
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi cũng quán triệt các quan điểmkhoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc phân tích các tác phẩm vănhọc cổ
Chơng 1: Những biểu hiện của t tởng cầu nhàn hởng lạc ở một số tác
giả tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung đại
Chơng 2: Triết lí cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ.
Phần 3: Kết luận
Trang 8Phần 2: nội dung
Chơng 1
về t tởng cầu nhàn hởng lạc ở một số tác giả tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung
đại
1.1 Những biểu hiện về t tởng cầu nhàn hởng lạc ở một số tác giả
tiêu biểu trong văn học Việt Nam trung đại
Một trong những đặc điểm nổi bật, dễ nhận ra của văn học Việt Namtrung đại là có sự xuất hiện lặp lại của các đề tài, chủ đề, cảm hứng, t tởng
ở các giai đoạn văn học, các tác giả văn học Dĩ nhiên đó không phải chỉ là
sự lặp lại sáo mòn, công thức, máy móc Đây là một quy luật của quá trìnhphát triển lịch sử nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Một tác phẩmvăn học luôn mang dấu ấn chủ quan của tác giả, một giai đoạn văn học thực
sự là một “tấm gơng phản chiếu thời đại” (O.Ban zắc) Cho nên sự lặp lại ở
đây đợc hiểu theo nghĩa: các giai đoạn cùng tạo nên một mạch cảm hứng,một chủ đề chung cho cả một thời kỳ văn học Ngoài hai cảm hứng lớn, hai
“sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong quá trình phát triển của văn học trung đạiViệt Nam là cảm hứng yêu nớc và cảm hứng nhân văn còn có một số chủ
đề, t tởng khác trở thành hiện tợng xuất hiện nhiều lần trong các giai đoạnvăn học T tởng cầu nhàn hởng lạc cũng nằm trong quy luật phát triểnchung đó của văn học
Trong chơng 1 này, chúng tôi sẽ đi vào trình bày sự xuất hiện mangtính quy luật của t tởng cầu nhàn hởng lạc ở một số tác giả tiêu biểu trongvăn học Việt Nam trung đại nh: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Du, Dơng Lâm, Dơng Khuê… Qua đó, một mặt, làm rõ sự xuất hiện của t ởng cầu nhàn hởng lạc ở các tác giả là một hiện tợng phổ biến trong chiềudài phát triển của lịch sử văn học Việt Nam trung đại Mặt khác, từ mốiquan hệ đối sánh hai chiều của nội dung phản ánh và hình thức biểu hiệncủa t tởng cầu nhàn hởng lạc giữa các tác giả tiêu biểu trớc và sau vớiNguyễn Công Trứ và các tác giả cùng thời với Nguyễn Công Trứ để làm rõ
Trang 9t-nét bản chất, đặc trng riêng biệt, t tởng nổi bật trong nội dung triết lí cầunhàn hởng lạc của thơ văn Nguyễn Công Trứ.
Một trong những đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam là văn ch
-ơng cha trở thành một ngành chuyên biệt mà nó còn gắn với học thuật,
“văn-sử-triết bất phân” Các nhà văn, nhà thơ trớc hết là nhà nho hoạt độngchính trị, phục vụ cho triều đình, cho đất nớc Mỗi tác giả đều giữ trongmình những hoài bão cống hiến cho một xã hội thái bình thịnh trị Nhngthực tế xã hội nhiều khi không cho phép họ thực hiện lí t ởng tốt đẹp đó củamình Do vậy, con đờng ẩn dật trở thành một lộ trình để bảo toàn khí tiết.Quay về với cuộc sống ẩn dật, các nhà nho đề cao thú nhàn tản, ca ngợicuộc sống thanh bạch Nhng điều đáng nói, thái độ cầu nhàn hởng lạc ở đây
đã trở thành một triết lí, thấm sâu vào t tởng Cho nên, t tởng ấy không chỉ
đơn thuần biểu hiện ở một số tác giả trong quãng đời “lánh đục tìm trong”
Điều đó đa lại cho chúng ta một cảm nhận về t tởng cầu nhàn hởng lạc củacác tác giả trong văn học Việt Nam trung đại mang màu sắc triết học Đókhông chỉ là quan niệm sống cho riêng mỗi bản thân mà đợc nâng lên mangtính chất đại diện cho cả một tầng lớp Quan niệm mang màu sắc triết họcnhng không khô khan bởi đợc chuyển tải bằng một thế giới hình ảnh củanghệ thuật thi ca Sau đây, chúng ta sẽ đi khảo sát cụ thể những biểu hiệncủa t tởng cầu nhàn hởng lạc qua một số tác giả tiêu biểu trong văn họcViệt Nam trung đại
Trang 10T tởng cầu nhàn hởng lạc của Nguyễn Trãi bắt đầu từ những thángngày ở Côn Sơn, sau thời gian lăn lộn giữa chính trờng Và, nh phần đôngcác nho sĩ về ở ẩn, Nguyễn Trãi cũng ca ngợi cuộc sống an nhàn, bình ổn,không phải lo âu việc nớc, không phải vớng bận vì trách nhiệm, có thể ungdung thởng thức cái đẹp của thiên nhiên, cái lạc thú bình dị của đời thờng.
T tởng nhàn tản vô sự ấy ở Nguyễn Trãi thể hiện trong những bài thơ
ca tụng sự sống thiên nhiên nơi thôn dã, khinh thờng công danh phú quý,vui với cuộc sống “an bần lạc đạo”, vui với cảnh trí thiên nhiên, cỏ câysông núi; Nguyễn Trãi ca ngợi cuộc sống không giàu sang, thanh bạch, củacải đơn sơ:
- Bữa ăn dù có da muối
áo mặc nài chi gấm là -Vầu làm chèo, trúc làm nhà
Đợc thú vui tháng ngày qua
Tuy đời sống có phần thiếu thốn do phải “cày lấy ruộng mà ăn, đàolấy giếng mà uống” Nhng bù lại bao nhiêu thảnh thơi, vui thú cho tinhthần
Ngại ở nhân gian lới trần Thời nằm thôn dã miễn yên thân Trúc mai chẳng phụ lòng quân tử Viên hạc đà quen bạn dật dân Hái cúc ơng lan hơng bén áo Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
Đàn cầm suối trong tai dõi Còn một non xanh là cố nhân
(Bài 60)Bởi “ngại nhân gian lới trần”, Nguyễn Trãi đã chọn Côn Sơn - nơi córừng cây suối nớc trong sạch để tránh xa cuộc sống xã hội dầy bon chen
Ông chủ trơng một cuộc sống trong thiên nhiên thanh bình, tĩnh lặng, sớmhôm bầu bạn cùng “mai hạc”, “non xanh” với “núi láng giềng’, “mây kháchkhứa”
Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại Hai chữ công danh biếng vá vê
Trang 11Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc nhận xét: “theo quan niệm của nho giáo,cái mẫu mực thuộc về quá khứ, còn cái trong sạch chủ yếu lại ở trong thiênnhiên Các nhà nho theo quan niệm xuất xử của nho giáo - gặp thời thịnh trịthì ra làm việc phò vua, giúp nớc, gặp thời loạn thì lui về ở ẩn lấy thiênnhiên để di dỡng tinh thần”•∗ Đây là một quan niệm mang tính phổ biếnthời trung đại Vì thế, kế tiếp Nguyễn Trãi đã có nhiều nhà nho chán cảnhquan trờng bụi bặm tìm cảnh nhàn trong môi trờng thiên nhiên thuần khiết.
Đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn mình ở Bạch Vân am mà:
Dửng dng mọi sự đà ngoài hết Nhàn một ngày là tiên một ngày,
đó là Nguyễn Du tìm thú vui săn bắn trên núi Hồng Lĩnh để quên hết sự,hay nh La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đi ở ẩn ngay từ đời Trịnh Sâm, bất đắc
dĩ làm cố vấn cho nhà Tây Sơn để lại “lừng khừng chống gậy về núi ” khiNguyễn ánh lên ngôi
Còn Nguyễn Trãi chán cảnh sống bon chen chốn quan trờng, trở vềcuộc sống ẩn dật Cha bao giờ t tởng nhàn tản của ông sa vào trụy lạc, ngợclại, ông luôn lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống Điều đáng nói ở NguyễnTrãi: thân tuy nhàn nhng tâm không nhàn Đặc điểm này thể hiện rõ hầukhắp các bài thơ trong Quốc âm thi tập của ông
1.1.2 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1583)
Nếu nh ở Nguyễn Trãi, vấn đề xuất xứ là một cuộc đấu tranh nội tâmlâu dài, quyết liệt thì với Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là một nỗi bănkhoăn lớn Bởi ông hiểu đợc lẽ biến động tự nhiên của xã hội, thấy đợc quyluật phát triển tuần hoàn của mọi việc
Ông cho rằng, khi đất nớc thịnh trị, phát triển, ngời tài giỏi cần ra giúpnớc, giúp dân, làm cho đất nớc tiến triển, đi lên và đạt kết quả Nhng khithấy mình bất lực trớc thời cuộc, thì cần “độc thiện kỳ thân”, lánh xa thờithế, để cho tự nó biến chuyển Đó là lẽ tự nhiên:
Quân tử gẫm hay nơi xuất xử
ý thức đợc thời thế thịnh suy, Nguyễn Bỉnh Khiêm dới triều Mạc, nhậnthấy triều chính nổi loạn, quan lại lộng thần, ông cáo quan xin về trí sĩ ở
Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, tập 1, Nxb Đh và THCN, 1976.
Trang 12quê hơng Sau đó, Mạc Phúc Hải một lần khẩn khoản mời ông hồi triều vàtrao chức công bộ thợng th Song ông lại xin về ngay và từ đây vui mộtcuộc sống ẩn dật, nhàn tản cho đến lúc mất Đây chính là nhân sinh triết lýcủa Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi cảm thấy bất lực trớc thời cuộc thì nên “xử”(xuất thế) để cho tự nhiên biến chuyển:
Cá côn vùng vẫy mấy lâu nay Gặp phải khi cùng chịu chắp vây Trớc bạn ngựa vàng thềm ngọc đó Cầm kỳ khiển hứng cơn say tỉnh Cây cỏ tiêu dao cảnh tháng ngày Rồi việc thẩn thơ khi bóng xế Khăn đầu phất phới gió đông bay
Lối thoát của Nguyễn Bỉnh Khiêm trớc thời cuộc suy tàn là chủ
tr-ơng xuất thế - rút lui khỏi việc đời:
- Cảnh cũ điền viên tìm chốn cũ Khách nhàn sơn dã dỡng thân nhàn
Chính trong chủ trơng đó, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xuất hiện t tởngcầu nhàn Và, t tởng đó đợc ông thể hiện qua thơ văn bằng sự ca tụng đờisống tự nhiên nơi thôn dã, gạt bỏ mọi giàu sang danh vọng, vui với cỏ câysông núi
- Ba gian am quán lòng hằng mến
- Cửa vắng ngựa xe không quấn quýt
sống cuộc sống “an bần lạc đạo”:
Cơm ăn chẳng quản da muối
áo mặc nề chi gấm thêu
khinh thờng công danh phú quý:
- Cắp nắp làm chi cho nhọc lòng
- Danh lợi lâng lâng gió thổi qua
Đó chính là sự thể hiện t tởng nhàn, không chịu ràng buộc bởi bạctiền danh lợi Dờng nh nhà thơ không mấy bận tâm với những đổi thay củacuộc đời Ông sống khép mình, không để tâm đến những lời đàm tiếu, dluận xa gần, cứ tự do phóng túng, có thể làm theo ý muốn của mình
- Dửng dng mọi sự đà ngoài hết
Trang 13Nhàn một ngày là tiên một ngày
- Am cỏ ngày nhàn rỗi mọi việc Dầu ta tự tại mặc dù ta
Nh vậy, trở về cuộc sống thôn dã, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gạt bỏ conngời chức năng – phận vị của mình để sống một cuộc sống “trần tục”,hành lạc nhng thanh đạm, tao nhã
Một mai một cuốc một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại ta tìm nơi vắng vể Ngời khôn ngời đến chốn lao xao Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao Rợu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Nhà thơ tự cho mình là “dại” nhng chính lại rất thoả mãn về cái “dại”
ấy của mình Bởi khi ông tìm về “nơi vắng vẻ” ta không thấy có một biểuhiện nào của t tởng bi quan yếm thế Mà ngợc lại, sự tìm về ấy là một t tởng
“vô sự”, nhàn tản
Vô sự thì tiên lọ phải tìm Vụng bất tài nên kém bạn Già vô sự ấy là tiên
Danh từ “tiên” đợc Nguyễn Bỉnh Khiêm hai lần nhắc đến ở câu thơtrên đã nói đợc đủ đầy và trung thực nhất t tởng tự do tự tại của nhà thơ.Trong xã hội phong kiến thối nát, không muốn mu cầu danh lợi, chủ trơngsống nhàn tản không gì tốt hơn là hoà mình trong thiên nhiên Do vậy, trongsáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta bắt gặp một thiên nhiên với t cách làmột ngời bạn thân thiết, đáng tin cậy nhất của nhà thơ
Trăng thanh gió mát là tơng thức Nớc biếc non xanh ấy cố tri
Qua những dẫn chứng trên, ta có thể thấy t tởng nhàn tản của NguyễnBỉnh Khiêm là t tởng không tham quyền cố vị, khinh thờng công danh phúquý, có một thái độ vô sự nhàn tản và một tình yêu thiên nhiên sâu sắc
Trang 141.1.3 Nguyễn Du (1766-1820)
Khi đề cập đến t tởng cầu nhàn hởng lạc trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
ta có thể thấy sự biểu hiện trong hầu hết các thi phẩm của ông, còn ởNguyễn Du, t tởng cầu nhàn hởng lạc biểu hiện tập trung ở mảng thơ chữHán; bao gồm:“Thanh hiên thi tập , Nam trung tạp ngâm , Bắc hành tạp” “ ” “
lục ”
Nh đã biết, lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII –nửa đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn có sự giằng co quyết liệt giữa nhiều xuthế chính trị khác nhau, trong đó những mâu thuẫn của chế độ phong kiếnViệt Nam trên bớc đờng tan rã đã bộc lộ sâu sắc Cụ thể, hai tập đoànphong kiến Trịnh-Nguyễn chia nhau thống trị đất nớc, sống một cuộc sống
xa hoa đồi bại Sự thắng lợi của phong trào Tây Sơn thể hiện sự đấu tranhquyết liệt của nông dân, của những kiếp ngời lầm than đau khổ Nguyễn Du
đã mở rộng nhãn quan của mình để chứng kiến sự có mặt của những conngời áo vải ấy và nhất là thảm kịch đổ vỡ của triều đại Tây Sơn Trớc biến
động lịch sử đó, sự phản ứng của Nguyễn Du biểu hiện ở cả mặt “nhập thế”lẫn “xuất thế” ở đây chỉ bàn đến t tởng thoát li thực tại, tìm vào hành lạccủa Nguyễn Du biểu hiện trong một số bài thơ chữ Hán Tính cách của mộtnho sĩ ẩn dật trong những bài thơ này biểu hiện rất rõ Những ngày sống ởquê nhà, Nguyễn Du đi câu cá ở bể Nam, đi săn ở núi Hồng Lĩnh… trongkhoảng thời gian này, Nguyễn Du làm nhiều bài thơ ca ngợi thú đi săn, vuivới đàn hơu nai, thích thú nhìn con xạ ngủ nơi đồng cỏ nội hay nghe mộttiếng chó sủa vợt qua núi đồi văng vẳng từ xa
Thực chất của t tởng cầu nhàn hởng lạc ở Nguyễn Du là một thái độphản ứng của chính bản thân nhà thơ đối với “con ngời chính trị” của nhàthơ Thái độ ấy thể hiện ở chỗ: sau khi tính chuyện phù Lê chống Tây Sơnkhông thành, ở con ngời Nguyễn Du xuất hiện t tởng chán nản bi quan,muốn nghỉ ngơi, muốn sống một cách an nhàn T tởng ấy vẫn còn tồn tại
đến cả thời gian tác giả về ở quê nhà Có lúc nhà thơ bộc lộ nỗi niềm cô
đơn và mất phơng hớng:
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân Hắc dạ hà kì mê thất hiểu
(Trên lối cũ gió lạnh dồn cả về một ngời
Trang 15Đêm tối mờ mịt không biết bây giờ là bao giờ
ớc gì thoát đợc vòng trần tục Ngồi dới gốc tùng thú biết bao nhiêu
(Sơn thôn)Trong bài Mộ xuân mạn hứng (Thanh hiên thi tập), Nguyễn Du thanthở cho cái thân của mình không ra khỏi vòng hữu hình,cứ lo lắng mãi việcnghìn năm mà danh lợi thì hão huyền
Một năm có chín mơi ngày xuân Phung phí cảnh xuân tơi thât đang tiếc Công danh ở đời xem nh chim bay vút qua Trơc sân vắng thời tiết cũng theo chim oanh mà đổi đời Chiếc thân không thể thoát khỏi vòng hữu hình Trớc khi chết lo mãi chuyện nghìn năm
Danh lợi hão huyền cuối cùng sẽ tiêu tan hết Sao bằng kịp thời theo đạo thần tiên
(Mộ xuân bạn hứng)
Còn ở bài thơ Đạo ý (Thanh hiên thi tập), phảng phất tinh thần của mộtngời theo đạo giáo:
Trăng sáng chiếu giếng xa Nớc giếng không nổi sóng Không bị ngời khuấy lên
Trang 16Lòng này không lay chuyển
Dù bị ngời khuấy lên Lay chuyển một lúc lại lặng Tấm lòng trong vằng vặc
đoan nh các tác giả thuộc khuynh hớng văn học hiện sinh chủ nghĩa ở
Có chó cứ giết ăn thịt
Có rợu cứ uống cho hết Chuyện trớc mắt, hay dở khó mà biết đợc Cần gì phải lo cái danh xa xôi sau khi chết rồi
(Hành lạc từ)
Trang 17Xét đến cùng, ở Nguyễn Du, có thể thấy, t tởng thoát ly hởng lạc thựcchất là cái buồn thế sự muôn thuở Có thể nói, đó cha phải là một phơngthức sống mà là sự biểu hiện nỗi lòng, trách nhiệm của ngời nghệ sĩ trớccuộc đời.
1.1.4 Một số tác giả thuộc khuynh hớng văn học hởng lạc thoát li cuối thế kỷ XIX
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, lịch sử xã hội mang tính chất phứctạp Từ đó, các tầng lớp trong xã hội đơng thời có những thái độ về các vấn
đề xã hội khác nhau Vì thế văn học cũng hình thành nhiều khuynh hớngkhông giống nhau (khuynh hớng văn học yêu nớc chống Pháp, khuynh h-ớng văn học tố cáo hiện thực, khuynh hớng văn học nô dịch, khuynh hớngvăn học hởng lạc thoát li) Do tính chất của nội dung đề tài cho nên trongphần này chúng tôi chỉ đề cập đến khuynh hớng văn học hởng lạc thoát li
Đại biểu cho khuynh hớng này là nhóm nhà thơ Dơng Lâm, Dơng Khuê,Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Đức Nh, Trần Lê Kỷ…Nói chung, đây là nhữngnhà thơ có hoàn cảnh xuất thân từ tầng lớp quan lại suy tàn trong hoàn cảnhmới khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nớc ta, họ không đủ can
đảm đứng về phía nhân dân, cùng đấu tranh thoát khỏi ách đô hộ đó Ng ợclại, họ ra làm quan cho chúng, tuy nhiên, đối với các đại biểu này: “ra làmquan chỉ là để có điều kiện thoả mãn cuộc sống hởng lạc cá nhân và sángtác cũng là một cách để thoả mãn cuộc sống ấy”• Cho nên tính chất hởnglạc là đặc điểm chủ yếu của khuynh hớng văn học này Đối với họ cái ýthức “hữu trách” đối với thiên hạ, tinh thần “u hoạn” cho đời, chí với đạokhông còn mà chỉ còn thú vui hình hài trăng gió Nói gọn hơn, lí t ởng nhànho ở họ đã mất hết ý nghĩa Trần Lê Kỷ khi “tính lại” cuộc đời mình đãphẫn uất về cái phần danh cho cá nhân rất ít:
Từ lên một đến mời lăm còn trẻ nít Bốn mơi năm cút kít đã về già Tính trong vòng cắn đá với trăng hoa Già cho lắm ba mơi năm là sắp kiệt Thế mà còn đi học đi hiệc, đi thi đi thiếc
Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, Nxb Gd, 1999.
Trang 18khi đỗ khi điệc, làm quan làm kiếc Việc đời vấn vít biết bao ngơi
Trời đã sinh ra làm kiếp ngời Chả chơi nữa ngời cuời ra chú vích
(Chơi cho thích)
Từ “nợ tang bồng” của kẻ nam nhi truyền thống, Dơng Khuê hát khúc
“nợ phong lu” tức là nợ ăn chơi:
Kho trời chung tiêu phí thấm vào đâu Chơi là lãi dẫu cha giàu nhng chẳng kiết Trả trả vay vay lâu cũng hết
Co co cảm cảm chắc hơn ai
(Nợ phong lu)
Sự đề cao chiều ý thức ngợc lại với kiểu nhà nho truyền thống đã dẫn
đến t tởng của các nhà thơ thuộc khuynh hớng văn học hởng lạc có phầnphai nhạt ý thức xã hội, thậm chí quay lng với cuộc sống thực tại
1.2 Nhận định chung về quan niệm chữ nhàn của các tác giả trong văn học Việt Nam trung đại.
Từ quá trình khảo sát theo chiều dọc về quan niệm chữ nhàn trong vănhọc Việt Nam trung đại qua một số tác giả tiêu biểu ta thấy: quan niệm vềchữ nhàn có sự phát triển theo chiều hớng ngày càng đa dạng, chữ nhànngày càng có những nghĩa rộng lớn Và, chính vì vậy, sự biểu hiện t tởngcủa nó qua hệ thống thơ văn cũng rất phong phú Tuy nhiên d ới sự ảnh hởngcủa hệ t tởng thống trị Nho giáo thì trớc hết, các nhà nho phải là những ng-
ời “hành đạo” Nhng một khi lí tởng xây dựng một “xã hội Nghiêu Thuấn”sụp đổ, họ cáo quan về ở ẩn, trở thành nhà nho ẩn dật, tìm vui trong cảnhnhàn Cho nên, đặc điểm về quan niệm chữ nhàn của các tác gia tiêu biểutrên có tính chất hai mặt: cảnh nhàn là thú vui và cảnh nhàn là sự “lánh đụctìm trong” nhng vẫn mong mỏi nhập thế Ngoài ra còn một
số nhà nho thuộc tầng lớp quan lại suy tàn, mang sẵn tâm lý tuỳ thời, khôngchịu ảnh hởng của t tởng nho giáo, trớc sự thay đổi của giai cấp thống trị,
họ vẫn ra làm quan nhng chỉ để thoả mãn lạc thú cho bản thân Tuy nhiên
đây chỉ là số ít thuộc khuynh hớng văn học hởng lạc thoát li cuối thế kỷXIX
Trang 19Ta thấy Nguyễn Trãi khi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn song ông khônglúc nào nguôi về thế sự Lòng vẫn luôn canh cánh quãng đời làm quan, cái
ơn tri ngộ của một minh chúa Nỗi vấn vơng khắc khoải đó luôn thờng trựctrong thơ ông
- Nhớ chúa lòng còn son một tấc
Ưu thời tóc đã bạc mời phân
( Bài 165)
- Bui có một tấc lòng u ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều dâng
ân chúa đã nhiều cha báo Lòng còn canh cánh ắt khôn nài
Thực tế xã hội khốc liệt, ông chọn con đờng ẩn dật song vẫn luôn ao ớc: “Một tôi hiền, chúa thánh minh”, vẫn khao khát một đời Nghiêu Thuấn
-để chọn chúa mà thờ: “no cỏ loạn thời th ơng đời Thuấn Nghiêu ” Rõ ràng,Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh t tởng nhàn tản vẫn có cái mong ớc nhập thế.Việc ông về ở ẩn, sống cuộc sống nhàn tản tởng nh ông đã lánh xa cuộc đờinhng trên thực tế, ông vẫn làm cố vấn chính trị chẳng những cho nhà Mạc
mà cho cả Trịnh, Nguyễn về sau
Nếu nh t tởng cầu nhàn hởng lạc ở Nguyễn Trãi và Nguyễn BỉnhKhiêm là sự ý thức chủ quan trong bản thân mỗi nhà nho, thì ở Nguyễn Du,tìm đến những thú vui nhàn tản chỉ là một sự phản ứng trực tiếp tr ớc lí tởngcủa cuộc đời mình
Trang 20Nh đã biết, sau việc phù Lê chống Tây Sơn không thành, Nguyễn Dutrở nên chán nản, bi quan và tìm đến các thú vui nhàn tản thậm chí có t tởnghành lạc tiêu cực Thực chất của các thú vui đó chỉ là sự “tìm đến” để khoảkhuây cho bản thân trong những tháng ngày sụp đổ lý tởng mà cuộc đờikhông thực hiện đợc Cho nên công bằng mà xét, tính chất tích cực của t t-ởng cầu nhàn hởng lạc ở Nguyễn Du biểu hiện không rõ Tuy nhiên tínhchất tích cực của t tởng hởng lạc trong thời gian Nguyễn Du thất chí cũng
có biểu hiện, ở chỗ: những cuộc vui, thú vui, cuộc đi săn… không làm chobản thân Nguyễn Du trợt dài trong ý nghĩ thất bại về việc phù Lê chống TâySơn Mặt khác t tởng nhàn tản ở Nguyễn Du biểu hiện một thái độ trớc cuộc
Nhìn chung, t tởng cầu nhàn hởng lạc nảy sinh ở các tác giả trong vănhọc Việt Nam trung đại do sự bất lực trớc những thay đổi của xã hội Đốivới các tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, t tởng nhànthể hiện rõ nhất trong những năm tháng cáo quan về ở ẩn của họ Đó lànhững năm tháng lịch sử diễn ra nhiều bất công ngang trái Việc cáo quan,
ẩn dật ở các tác giả này, là để khẳng định cốt cách thanh cao của mình,
“lánh đục tìm trong” nhng “sự quay về” đó cũng là cách xử thế bất đắc dĩ
đối với họ Ngợc lại, các tác giả thuộc khuynh hớng hởng lạc thoát li đề caothú hành lạc của mình trong những năm ra làm quan cho thực dân Pháp, dovậy mang tính chất tiêu cực
Nh vậy, sự phát triển của quan niệm chữ nhàn của các tác giả trongvăn học Việt Nam trung đại thực ra là sự hiểu thấu giá trị của cuộc sống.Tuy nhiên, trong quá trình phát triển lịch sử đó, sự ý thức về giá trị của conngời cá nhân trong văn học phải đến những năm cuối thế kỷ XVIII-nửa đầu
Trang 21thế kỷ XIX mới thể hiện rõ nét Mà nói nh giáo s Nguyễn Lộc: “Đối với vănhọc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX, nét đặc trng cơbản của nó là khám phá ra con ngời, khẳng định những giá trị của con ngời,
có nghĩa là nói đến giai đoạn này, con ngời với tất cả sự phong phú của nómới trở thành đối tợng chủ yếu trong nhận thức của văn học”• Cho nên từviệc dẫn luận phân tích ở trên chúng tôi nhằm mục đích tìm ra nét bản sắctrong quan niệm chữ nhàn của Nguyễn Công Trứ Vấn đề này chúng tôi sẽtrình bày rõ ở chơng 2: Triết lý cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn NguyễnCông Trứ
Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, Nxb Gd, 1999.
Trang 22t tởng đạo đức, triết học, chính trị bởi nếu t tởng đạo đức đánh giá con ngờibằng những chuẩn mực của xã hội, t tởng triết học phản ánh thế giới bằngcác quy luật nhận thức, mối quan hệ giữa tồn tại và t duy thì t tởng nghệthuật phản ảnh hiện thực xã hội bằng hình tợng nghệ thuật T tởng của mộtnhà thơ, nhà văn chi phối đến toàn bộ cách tổ chức, cấu trúc thế giới nghệthuật của nhà thơ, nhà văn ấy Chính vì vậy, đi vào phân tích, nghiên cứunhững phơng diện cơ bản của triết lý cầu nhàn hởng lạc trong thơ vănNguyễn Công Trứ, chúng tôi sẽ căn cứ vào hình tợng nghệ thuật do thế giớingôn từ nhà thơ tạo ra.
Trong số gần 150 tác phẩm của Nguyễn Công Trứ mà chúng ta su tầm
đợc từ trớc tới nay, chủ đề về cầu nhàn hởng lạc chiếm vị trí đáng kể (bêncạnh chủ đề về chí nam nhi, cảnh nghèo và thế thái nhân tình) đợc tác giảthể hiện trong hầu hết các thể loại song chủ yếu vẫn là hát nói, khoảng 20bài hát nói trong đó có một số bài tiêu biểu đợc Nguyễn Công Trứ gọi hẳntên nh: Cầm kỳ thi tửu, Trong trần mấy mặt làng chơi, Chơi xuân kẻo hết
xuân đi, Luận kẻ sĩ, Thú thanh nhàn, Chữ nhàn, Vịnh nhàn…
Có thể khẳng định rằng: ít có vị quan nào lại sống “ngất ngởng, ngoàikhuôn khổ” nh Nguyễn Công Trứ Với một cá tính độc đáo, một cái tôi thị
Trang 23tài, an nhiên đã để lại trong thơ văn Nguyễn Công Trứ một khuynh hớng ởng lạc rõ nét mà nội dung của nó vừa mang tính tích cực song cũng chứa
h-đựng nhiều yếu tố mang tính tiêu cực cần phải phê phán
2.1.1 Triết lý cầu nhàn hởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ
2.1.1.1 Cầu nhàn hởng lạc - một thái độ vĩnh viễn
ở nhiều tác giả, bớc chân vào chốn quan trờng mới thất vọng và tỏ ra
bi quan, yếm thế Họ tìm đến các thú thanh nhàn để bảo d ỡng tâm hồn Còn
ở Nguyễn Công Trứ, những năm tháng đằng đẵng theo đuổi công danh, đãkhiến cho ông lắm lúc chán chờng, nghi ngờ về sự công minh của thi cửnên đã tìm đến cái nhàn mong lấy lại niềm tin trong cuộc sống Vì thế màngay tức lúc còn là “anh kép”, ông đã “tham gia vào những sinh hoạt tròbội, ca trù ”• ở địa phơng, ông có mặt trong những cuộc hát ả đào, hát ph-ờng vải Nhng điều đáng nói là sự vui chơi đó không làm Nguyễn Công Trứnhụt chí tiến thủ mà ngợc lại, ông ý thức đợc rằng “đó chỉ là một sự tạmthời, một phơng thuốc để đỡ nóng lòng chờ đợi công danh”• Do đó mà ôngvẫn chủ động tìm đến những thú tiêu dao:
Thi tửu cầm kỳ khách Phong vân tuyết nguyệt thiên Mặc tài tình đang độ thiếu niên Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí Thơ một túi gieo vẫn Đỗ, Lý
Rợu lng bầu rót chén lu linh
Đàn Bá Nha gảy khúc tang tình
Cờ Đế Thích đi về xe pháo mã
(Cầm kỳ thi tửu)Khi vinh hiển, ra làm quan, Nguyễn Công Trứ vẫn không ngừng cangợi những thú tiêu dao đó:
Cầm kỳ thi tửu với giang sơn
Dễ mấy kẻ xuất trần, xuất thế
(Cầm đờng ngày tháng thanh nhàn)
Chu Trọng Huyến, Nguyễn Công Trứ thơ và đời, Nxb VH, 1997.
Phạm Thế Ngũ, Giản ớc tân biên, Nxb Đồng Tháp, 1997
Trang 24Và, không chỉ ca tụng, Nguyễn Công Trứ còn khuyên con ngời nênthảnh thơi, vui thú, nhất là khi đã lao tâm, lao lực thì lại cần phải nghỉ ngơi,
để cho tâm trí th thả, tránh mệt mỏi:
Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn (Biết đủ là đủ, đợi khi nào cho đủ
Biết nhàn là nhàn, đợi khi nào cho nhàn)
(Chữ nhàn)
“Biết nhàn” nghĩa là biết tạo ra những giờ phút thảnh thơi, thoải mái,biết tạo ra những cơ hội để vui thú “cầm kỳ thi tửu” Theo ý nghĩa này,nhàn là một thái độ vĩnh viễn, một xu hớng tự nhiên của tâm hồn Phải làngời đầy bản lĩnh, nghị lực nh Nguyễn Công Trứ mới có thể gạt bỏ những
“việc công” sang một bên để có những giờ phút yên nghỉ, th thái
Khi về già, “thoát vòng danh lợi” ông càng a thích:
Chuyện cổ kim so tựa bàn cờ Riêng vui thú giang sơn phong nguyệt Mặc xa mã thị thành không biết Thú yên hà trời đất để riêng ta
(Thoát vòng danh lợi)
Nh vậy, có thể thấy, nhàn ở Nguyễn Công Trứ là một thái độ vĩnh viễn(khi cha đỗ đạt, nhàn là những thú vui tiêu khiển thanh tao để làm vơi bớtnỗi xót xa vì chờ đợi công danh, lo lắng vì cảnh nghèo túng; lúc đỗ đạt,nhàn là những giờ phút yên nghỉ, chô tâm hồn thảnh thơi giữa những quaycuồng của xã hội; khi cáo quan về già, nhàn là một phần thởng xứng đángcho một cuộc đời phấn đấu)
2.1.1.2 Cầu nhàn hởng lạc - quyền lợi của kẻ làm trai
Cần phải thấy rằng, nếu nh cái nhàn của những nho sĩ trớc hoặc sauNguyễn Công Trứ đều thể hiện một thái độ xuất thế lui về ở ẩn, vui thú điềnviên hoặc hởng lạc để thoả mãn cá nhân, thì cái nhàn ở Nguyễn Công Trứlại mang tinh thần nhập thế tích cực: nhàn là những giây phút giải trí giúp
Trang 25con ngời có niềm tin tiếp tục làm việc và làm việc một cách măng nổ Bởivậy mà trên bớc đờng lập công danh, thực hiện hoài bão của mình:
Tang bồng là cái nợ Làm trai chi sợ án công danh
(Quân tử cố cùng)vẫn:
Chơi cho phỉ chí tang bồng
(Quân tử cố cùng)Ngay cả những lúc lên tiếng hành động, hành động để lập nên côngtrạng hiển hách, tiếng tăm vang dậy khắp núi sông:
Chí những toan xẻ núi lấp sông Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ
Đặc biệt trong bài “Luận kẻ sĩ”, Nguyễn Công Trứ đã say s a ca ngợicái nhàn nh khi nói về hành động:
Nhà nớc yên mà kẻ sĩ cũng thung dung
Bây giờ sĩ mới tìm ông Hoàng Thạch Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch Tiêu dao nơi hàn cốc thâm sơn
Trang 26Nào thơ, nào rợu, nào địch, nào đờn
Đồ thích chí chất đầy trong một túi Mặc ai hỏi mặc ai không hỏi
Gẫm việc đời mà ngắm kẻ trọc thanh Này này kẻ sĩ mới hoàn danh
(Luận kẻ sĩ)
“Nhàn” theo quan niệm này có thể xem là một phần thởng cho nhữngngời vì dân vì nớc cần đợc nghỉ ngơi thong thả Và cái nhàn ở đây mangtính chất thanh cao, tao nhã nh việc “tiêu dao nơi hàn cốc thâm sơn” vớithơ, rợu, địch đàn
Quan niệm này cũng là quan niệm chung của kẻ sĩ từ xa- cách để tỏvới đời phẩm chất của ngời quân tử không màng danh lợi Chỉ tiếc rằng, vềsau quan niệm hởng nhàn của Nguyễn Công Trứ không còn mang nhữngnội dung tích cực khi ông nâng nó lên thành một triết lý sống chi phối tấtcả
2.1.1.3 Hởng nhàn trong những thú hành lạc
Nếu trong văn chơng của những tác giả- nhà nho ẩn dật, hành lạc làmột thú tiêu dao thanh nhã: đó là những cuộc “ngao du sơn thuỷ” với “bầurợu túi thơ’, là “cầm kỳ thi họa” với ngời tri kỷ đồng giới Trong cái thúhành lạc ở Nguyễn Công Trứ, bên cạnh cái thú tiêu khiển thanh tao và taonhã còn có những yêu tố ham muốn về thể xác, những khát khao về đ ờngcảm giác
Con ngời này không chỉ thích ngao du:
Đôi ba chú tiểu đồng lếch thếch Tiêu dao nơi hàn cốc thâm sơn
(Luận kẻ sĩ) với thú cầm kỳ thi tửu:
Cầm kỳ thi tửu
Đờng ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay
Đàn năm cung réo rắt tính tình dây
Cờ đôi nớc rập rình xe ngựa đó Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ
Trang 27Rợu ba chung tiêu xái cuộc yên hà
(Cầm kỳ thi tửu)với thú bài bạc:
Cuộc ăn chơi gì hơn thú tổ tôm Túi kinh luân xoay dọc xoay ngang Cơ điều đạc quân ăn quân đánh
(Thú tổ tôm)
mà còn có nhu cầu tình ái:
Có yến yến hờng hờng mới thú Khi đắc ý mắt đi mày lại
(Tài tình)Qua đó ta cũng thấy đợc sự khác biệt trong quan niệm hởng nhàn giữaNguyễn Công Trứ và các nhà nho khác Nếu nh ở Nguyễn Trãi, NguyễnBỉnh Khiêm, Nguyễn Du nhàn là một thái độ xuất thế, chán cảnh quan tr -ờng bụi bặm, thờng giữ nếp sống thanh đạm, yên lặng để chiêm nghiệm suy
t về cuộc đời thì ở Nguyễn Công Trứ, ta thấy cái nhàn của ông mang tínhcách hoạt động Khi quay lng lại xã hội, thất vọng trên đờng công danh sựnghiệp, ông quay về sống cho bản thân và cho cảm giác mình Ông bày ra
đầy đủ mọi thú vui hởng thụ, từ những thú vui thanh cao đến những thú vuitrần tục nhất Hơn thế, ông nâng nó lên thành một triết lý sống chi phối tấtcả, cũng vì thế mà nội dung của nó ít nhiều mang tính tiêu cực Do đâu,Nguyễn Công Trứ từ một con ngời lạc quan, có lý tởng, có hoài bão trở nênmệt mỏi chán nản, sa vào hành lạc ?
“Con ngời này” đã từng khẳng định sự tồn tại của mình là sự “hữu ý”của trời đất :
Thiên phú ngô địa tái ngô
Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý
và, từng có ý nghĩ tích cực:
Trót sinh ra thời phải có chi chi Chẳng lẽ tiêu lng ba vạn sáu
(Chí nam nhi)
đã từng có niềm tin về tài, đức và chí của mình:
- Tài bộ thế ắt trời kia chẳng phụ
Trang 28Chen chúc lợi danh đà chán ngắt Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao
Đám phồn hoa trót bớc chân vào Sực nghĩ lại giật mình bao xiết kể Quá giả vãng nhi bất thuyết Cái hình hài làm thiệt cái thân chi Cuộc đời thử ngẫm mà suy
Bạn tùng cúc xa kia là cố cựu
(Thoát vòng danh lợi) Thế nhng, Nguyễn Trãi xa kia, sau khi lăn lộn với cuộc đời, chịu đựngnhiều cái xấu xa của ngời đời, cũng mệt mỏi, chán nản, phải tìm quên trongthú điền viên, vui với cỏ cây hoa lá, tuyết nguyệt phong vân
Ngại ở nhân gian lới trần Thời nằm thôn dã miễn yên thân Trúc mai chẳng phụ lòng quân tử Viên hạc đà quen bạn dật dân Hái cúc ơng lan hơng bén áo Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
Đàn cầm suối trong tai dõi Còn một non xanh là cố nhân
Bậc đại nho Nguyễn Bỉnh Khiêm trớc thời thế nhiễu nhơng cũng đã tìm
về cảnh nhàn để giữ cho tâm hồn thanh khiết, lấy gió trăng, sông núi, cỏhoa làm bạn
Giang sơn tám bức là tranh vẽ
Trang 29Hoa cỏ tứ mùa ấy gấm thêu
Đêm đợi trăng lồng bóng trúc Ngày chờ gió thổi tin hoa
Thì Nguyễn Công Trứ, giữa xã hội ô trọc, lợi danh tầm thờng, thế tìnhbạc bẽo cũng đã tìm quên tronh những thú tiêu dao nhng hơn thế nữa lànhững thú vui nhục thể
Kìa những ngời mái tuyết đã phau phau Run rẩy kẻ đào tơ mảnh mảnh
Trong trớng gấm ngọn đèn hoa lấp lánh Nhất toạ hoa lê áp hải đờng
(Tuổi già cới vợ hầu)nâng nó lên thành triết lý ông quan niệm:
Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
(Chơi xuân kẻo hết xuân đi)
đề rồi khẳng định:
Thú gì hơn nữa thú ăn chơi Chí giàu có sang hèn là phận cả
Đủ lếu láo với ngời thiên hạ Tính đã quen đài các mấy lâu
(Thích chí ngao du)thậm chí đến ngông nghênh:
Càng già càng dẻo càng dai
(Tuổi già cới vợ hầu)Với Nguyễn Công Trứ, hành lạc cũng là một nghệ thuật, ngời ăn chơiphải là ngời sành sỏi, thạo đời
- Theo thói chơi là chơi vậy Biết mùi chơi cha dễ mấy ngời
(Trong trần mấy mặt làng chơi)
- Chơi cho lịch mới là chơi Chơi cho đài các cho ngời biết tay
(Cầm kỳ thi tửu)
Trang 30Và, không chỉ “biết chơi”, đã “chơi” là phải vẫy vùng cho thoả thích,phải chơi cho thật đủ, thật nhiều.
Đủ trò thú mới là ngời tài tử Chơi thì chơi chẳng chơi thì chớ
Đã chơi cho lệch đất long trời Tiếng thị phi gác để ngoài tai Trên cõi thế mấy ngời tri kỷ
Trên thực tế ta thấy Nguyễn Công Trứ cũng đã gác bỏ mọi lời đàm tiếucủa nhân gian, để “vẫy vùng” trong chốn đời trần tục nhất: ông mê hát ả
đào, bởi trong tiếng nhạc lời ca dìu dặt, ông tìm thấy “hồng hồng tuyếttuyết”, “yến yến hờng hờng”- “thứ tình trăng gió chim chuột nhng cũng làm
ông say sa mê mệt”•
Không thể bỏ qua lòng kiêu hãnh và khí chất đa tình ở Nguyễn CôngTrứ nhng công bằng mà xét thì triết lý cầu nhàn hởng lạc của ông mangmàu sắc thời đại rõ nét, đó là một thái độ quay lng với thời đại-một thái độphản ứng đối với xã hội theo chiều hớng cực đoan sa đọa, đánh dấu mộtthời đại suy đồi, một giai cấp suy đồi
Thời đại của Nguyễn Công Trứ là thời đại của nền kinh tế hàng hoá và
t tởng thị dân cùng với sự sụp đổ của lễ giáo và đạo đức phong kiến Điều
đó kéo theo sự thay đổi trong cuộc sống cũng nh tâm lý con ngời Nhànghiên cứu Phan Ngọc từng cho rằng: vào giai đoạn Văn học thế kỷ XVIII-nửa đầu thế kỷ XIX “t tởng thị dân đòi hởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chốnglại thói an bần lạc đạo xuất hiện và trở thành xu thế chính Các tài tử ra đời
để thay thế các quân tử, các trợng phu, là những ngời độc chiếm văn đàn
tr-ớc đây Các tài tử ấy học đạo thánh hiền nhng suy nghĩ theo lối thị dân” •.Bởi thế mà giai đoạn này ngời tài “không còn muốn sống một cuộc sống âmthầm phẳng lặng Họ muốn đợc thể hiện hết bản thân mình và cũng muốnnếm trải toàn diện các lạc thú của đời sống”• Chính tính chất của thời đại
là chất xúc tác cực mạnh khiến cho những con ngời này khi bất mãn với xãhội vẫn cứ muốn hớng về một lối thoát có tính chất trần tục hơn Điều này
lý giải vì sao trong thơ văn Nguyễn Công Trứ, “hành lạc” chiếm một vị trí
Lê Trí Viễn, Lịch sử văn học Việt Nam , tập 3, sách đã dẫn.
Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiểu, Nxb GD, 1995.
Trần Ngọc Vơng, Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam , Nxb Gd, 1995.
Trang 31đáng kể; bởi cảm giác u uất bế tắc đã hớng Nguyễn Công Trứ đi đến chỗ đềcao triết lý hởng lạc thậm chí đến mức cực đoan.
Nhân sinh bất hành lạc Thiên tuế diệc vi thơng
Đề cao hành lạc là thế, nhng Nguyễn Công Trứ lại có một thái đọ rấtkhắt khe với phái đẹp - những nạn nhân chính của chủ nghĩa hành lạc Ôngphê phán Thuý Kiều của Nguyễn Du:
- Đoạn trờng cho đáng kiếp tà dâm Bán mình trong bấy nhiêu năm
Đố đem chữ hiếu mà lầm đợc ai
(Vịnh Thuý Kiều)
Ông phê phán cái chết của ngời thiếu phụ Nam Xơng “dẫu tình ngaysong lý cũng là gian”; tỏ ra không có chút thông cảm với ngời phụ nữ trongxã hội, Nguyễn Công Trứ có khi còn coi thờng họ: “trăm hoa cũng bẻ mộtcành” (Yêu hoa) Đây quả là một thái độ đáng phê phán, càng đáng phêphán hơn đối với một ngời đề cao triết lý hành lạc nh Nguyễn Công Trứ.Nhận định về triết lý cầu nhàn hởng lạc của Nguyễn Công Trứ, qua quátrình dẫn luận ở trên ta có thể thấy “cái thói hởng lạc” (chữ dùng của Lê TríViễn) đợc ông giữ từ nhỏ đến già Từ việc cắp đàn đi làm kép lúc ch a đạtcông danh cho đến lúc về già lên chùa vãn cảnh phật vẫn mang theo “đủng
đỉnh một đôi dì” Chủ trơng hành lạc đó biến chuyển theo từng giai đoạncủa cuộc đời ông Từ đó cần lu ý khi đi giải thích triết lý cầu nhàn hởng lạccủa Nguyễn Công Trứ phải thật thoả đáng Nghĩa là không phải từ quanniệm của Nguyễn Công Trứ: hành lạc nh một sự đãi ngộ, là phần thởng chonhững kẻ đã dày công đóng góp cho xã hội để “quy chụp” ông về mặt t t-ởng: đó là tiêu cực, là sa đọa Mà cũng cần phải thấy cái nhàn ở ông mangtính cách hoạt động Thực tế thơ văn thời “bạch diện th sinh”, trớc khi ralàm quan của Nguyễn Công Trứ • cho ta hấy Nguyễn Công Trứ vừa “hành
động” vừa “hành lạc”, vừa “làm” vừa “chơi” Hay nói đúng hơn, hành lạc ởNguyễn Công Trứ là nhu cầu giải trí, là niềm tin giúp ông vợt qua cuộcsống khó khăn vất vả hàng ngày và có niềm lạc quan trên con đờng lậpcông danh Có thể thấy t tởng này ở Nguyễn Công Trứ mang tính nhân bản
Hoàng Ngọc Phach, Trơng Chính, Lê Thớc, Thơ văn Nguyễn Công Trứ , Nxb VH, 1983.