1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn nguyễn huy thiệp viết về đề tài đời tư và thế sự đạo đức

61 917 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 243,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhng sau 1975, nền văn học của chúng ta chuyển sang một bớcngoặt mới, các nhà văn thời kỳ này không đề cập đến cuộc sống của cộng đồng mà họ chuyển sang quan tâm đến cuộc sống của mỗi cá

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo

trờng đại học vinh

Khoa Ngữ văn

-*** -Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại

Hệ cử nhân khoa học - ngữ văn

Khóa học: 2000 - 2005

giáo viên hớng dẫn: Ngô Thái Lễ

Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hồng

Vinh, tháng 5/2005

Lời nói đầu

Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tợng văn học nổi bật đánh dấu một bớc ngoặt trong nền văn học nớc nhà, một nhà văn đã gây nhiều d luận

Trang 2

tranh cãi trong công chúng cũng nh trong giới phê bình văn học từ những năm 1980 trở đi.

Đi vào tìm hiểu về Nguyễn Huy Thiệp giúp chúng ta hiểu rõ hơn

về tác giả, cũng nh đi vào sự mở cửa của nền văn xuôi thời kỳ đổi mới Với luận văn này em cũng mong sẽ góp đợc phần nào đó vào công trình nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.

Với sự tận tình giúp đỡ chu đáo của thầy giáo và sự nổ lực phấn

đấu của bản thân, em đã hoàn thành đợc luận văn Nhng bên cạnh đó

do sự hạn chế về điều kiện cũng nh kiến thức hiểu biết, luận văn này không tránh đợc những thiếu sót Rất mong đợc sự góp ý của các thầy cô

và bạn đọc.

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo Ngô Thái Lễ

đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.

Vinh, tháng 5 năm 2005

Sinh viên: Lê Thị Hồng

I Lý do nghiên cứu đề tài:

Cùng với những bớc phát triển, đổi mới của đất nớc, nền văn họcViệt Nam sau 1975 đợc đổi mới, kéo theo đó là sự xuất hiện của nhữnghiện tợng văn học với rất nhiều tác giả và tác phẩm lớn Mở đầu là tácphẩm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và tiếp đó xuất hiện các nhà văntrong nhóm Tự Lực Văn Đoàn cùng với các nhà văn trong dòng văn họccách mạng

Nhng bớc vào cuối thế kỷ XX trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiệnmột hiện tợng văn học rất độc đáo đó là: Hiện tợng Nguyễn Huy Thiệp.Bởi lẽ sau nắm 1975 cuộc sống của dân tộc ta đã hoàn toàn thay đổichuyển từ thời chiến sang thời bình, nhng có thể nói nó thực sự toả sángthì mãi đến năm đổi mới (1980) Cuộc sống của những con ngời trongxã hội trở nên phong phú, đa dạng và sâu sắc hơn Văn học cũng bớcsang một giai đoạn mới và nó cũng đa dạng, phức tạp nh con ngời và xãhội lúc đó vậy Chính vì thế văn học Việt Nam sau năm 1975 với nhữngtên tuổi các nhà văn không có gì lạ và mới mẻ nh: Nguyễn Trí Huân,Nguyễn Khải, Tô Hoài Vài năm sau mới thấy xuất hiện những vệt

Trang 3

sáng nhng vẫn là những gơng mặt cũ nh: Nguyễn Quang Sáng, NguyễnMinh Châu Có thể nói rằng Nguyễn Minh Châu là ngời đặt nền móngcho sự đổi mới nền văn học sau 1975 Ông đã viết: "Cuộc chiến đấu chotừng số phận cá nhân của con ngời về tự do và hạnh phúc còn lâu dài vàkhó khăn hơn cả cuộc chiến đấu cho tự do của dân tộc" Và sau NguyễnMinh Châu còn có Bảo Ninh, Nguyễn Trọng Oánh, Phùng Gia Lộc

Nhng đặc biệt nhất là từ sau thời kỳ đổi mới tức là từ 1986 trở đi,nền văn xuôi Việt Nam đã thực sự phát triển với những gơng mặt tiêubiểu nh: Nguyễn Quang Lộc, Dơng Thu Hơng, Phạm Thị Hoài, NguyễnThị Thu Huệ, Nguyễn Huy Thiệp Cùng với sự hồi sinh của đất nớc thìvăn học cũng có sự đổi mới mà hớng kết tinh đầy ấn tợng sâu sắc củaquá trình đổi mới văn học là sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp

Có thể nói ở Nguyễn Huy Thiệp ông là một nhà văn trẻ, một nhàvăn có tài năng Nguyễn Huy Thiệp sớm tạo ra cho mình một phongcách riêng biệt hấp dẫn, đóng góp tài năng và cách tân táo bạo cho nềnvăn xuôi Việt Nam sau 1975 Nh chúng ta đã biết, văn học Việt Namtrớc 1975 luôn luôn quan tâm đến vấn đề của cộng đồng, tập thể,khoảng không cộng đồng cũng hay đợc đề cập đến hơn là không gianriêng t, con ngời quen sống trong quần thể ít có dịp đối diện với bảnthân Nhng sau 1975, nền văn học của chúng ta chuyển sang một bớcngoặt mới, các nhà văn thời kỳ này không đề cập đến cuộc sống của cộng

đồng mà họ chuyển sang quan tâm đến cuộc sống của mỗi cá nhân, cuộcsống diễn ra hàng ngày nó đợc lột tả một cách trần trụi, chân thật đúngvới hiện thực, con ngời hiện lên trong mỗi truyện vốn nh trong cuộcsống, mộc mạc đơn sơ, đặc biệt về mặt ngôn ngữ thì chủ yếu là ngôn ngữ

đời thờng, ngôn ngữ của cuộc sống hàng ngày

Chính vì thế, ta có thể nói với sự xuất hiện của Nguyễn HuyThiệp nh là gạch nối giao thời của hai thế kỷ, đó là cuối thế kỷ XX sangthế kỷ XXI Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp đã gây xáo động trênvăn đàn Bởi ở Nguyễn Huy Thiệp đã có sự khen chê lẫn lộn, có rấtnhiều bài báo, bài nghiên cứu khen cách viết của ông Nhng bên cạnh đónhững bài chê bai cũng chiếm một số lợng không phải là nhỏ Song dùkhen hay chê thì vẫn luôn thống nhất lại một điều: "Nguyễn Huy Thiệp

là nhà văn của những ngời dân lao động, của con ngời đời t đời thờng".Cho nên ông không cần mô típ hóa cuộc sống mà cứ để y nguyên cuộcsống nh thế nào thì lôi tuốt vào truyện của mình

Đặc biệt khi những tác phẩm của ông xuất hiện đầu tiên đó làtruyện "Tớng về hu" vào cuối năm 1986 và tháng giêng năm 1987, khiBáo Văn nghệ đăng một chùm truyện cổ tích: "Những ngọn gió HuaTát" truyện của ông ra đời đã gây ra một chấn động d luận khá lớntrong cả nớc, ở đâu đâu cũng thấy công chúng bàn tán về chuyện của

ông Nhng khi làng văn, giới phê bình nghiên cứu cha hết xôn xao thìliên tiếp ông lại cho ra đời một loạt các tác phẩm: "Không có vua"; "Congái thuỷ thần"; "Giọt máu"; "Những ngời thợ xẻ" Cũng từ nhữngtruyện đó của ông, mà giới nghiên cứu đã cho rằng: "Nguyễn Huy Thiệp

Trang 4

nh một hiện tợng lạ" Chỉ trong một thời gian ngắn mà ngòi bút của ôngcàng trở nên sắc sảo và gây đợc ấn tợng sâu sắc hơn Ông luôn luôn viết

về cuộc đời thực, ông không chỉ sáng tác truyện, ông còn viết tiểu luận,phê bình, viết kịch bản sân khấu, đó là một điều thật hiếm thấy trongvăn chơng Việt Nam từ trớc đến nay Truyện của ông cha ra đời thì ngời

ta đã bàn tán, khi truyện đã đợc đăng thì họ cùng nhau tìm đọc Vì vậyNguyễn Huy Thiệp càng viết thì d luận càng mạnh Bởi thế, ở NguyễnHuy Thiệp đã có rất nhiều nhà phê bình nhận xét: "Nguyễn Huy Thiệphai lần lạ: nội dung lạ, nghệ thuật lạ", cái lạ của ông ở đây đó là: nhânvật lạ, cấu trúc lạ, ngôn ngữ lạ Nhng trong thế giới nhân vật muôn sắcmàu đó của ông, tôi đã bị thu hút bởi những con ngời rất đổi đơn giản,bình thờng trong xã hội, con ngời trong truyện ngắn của ông chủ yếu làcon ngời đời t đời thờng

Chính vì vậy trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đề tài rấtphong phú và đa dạng: nhân vật lịch sử, nhân vật huyền thoại Nhngchỉ là thứ yếu ở trong khóa luận này do đề tài có hạn, nên chúng tôi chỉnghiên cứu mảng truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp viết về đời t và thế sự

đạo đức, với hy vọng sẽ góp một phần nhỏ cho những ai yêu thích truyệnngắn của ông cùng tham khảo, chúng tôi coi mình nh một ngời cùngtrên một chuyến tàu: "Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp" trong sự nghiệp đổimới của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam

đời t nhng đã tự thoái mạ về đạo đức

ở Nguyễn Huy Thiệp có rất nhiều ý kiến xoay quanh truyện ngắncủa ông, trong mỗi bài viết có hai vấn đề: khen và chê, ngời khen thìkhen hết lời nhng ngời chê cũng không phải đơn giản Chẳng hạn phải

kể đến bài viết: “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió” của HoàngNgọc Hiến, trong bài viết này ông đã đa ra nhận xét: những nhân vậthích hác đốn mạt hầu hết là nhân vật lao động Họ là nông dân, côngnhân, giáo viên … [9, 13] Hay tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của

đời sống hiện tại đã không ngần ngại nêu ra những bê tha trong cuộcsống kể cả những sự thật rùng rợn, khủng khiếp…” [9, 10]

Hoàng Ngọc Hiến không hề phủ nhận những nhân vật đó, mà tráilại qua nhân vật của ông Thiệp và qua cái nhìn khách quan của mộtnhà lý luận phê bình, ta thấy đợc sự trân trọng, gặp gỡ giữa HoàngNgọc Hiến với Nguyễn Huy Thiệp về những con ngời sống dới đáy xãhội, những con ngời trong phần đen tối, phần quỹ dữ nhng vẫn có lúc

ánh thiên lơng toả sáng

Trang 5

Mặc dù trong bài viết này, Hoàng Ngọc Hiến có đề cập đến nhiềuvấn đề của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và đi đến khẳng định: "Ngòibút của Nguyễn Huy Thiệp vừa tàn nhẫn vừa xót xa" Tàn nhẫn cónghĩa là bảo với ngời đọc "không đợc thơng con ngời", nhng cuối cùng thìvẫn xót xa vì "không thể không thơng con ngời" Hoàng Ngọc Hiến nóikhông chúc cho Nguyễn Huy Thiệp thuận buồn xuôi gió, nhng vẫn dànhmột tình cảm u ái đối với ông, Nguyễn Huy Thiệp đã mợn ngời thựctrong xã hội hiện đại để thể hiện một cách trần trụi chân thật nhất.

Trần Duy Thanh trong bài truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đãnói: “Ngòi bút của anh Thiệp cứ thản nhiên phơi bày ra trên trang giấynhững cái gì là xấu xa, nhơ nhuốc, bỉ ổi của ngời đời, anh không chỉ "lật

áo" của nhân vật mà thực sự đã lôi tuốt tuột những thứ che đậy để nóilên những điều vừa đau đớn, vừa chua xót, nhng thơng lắm, NguyễnHuy Thiệp dờng nh thiên về miêu tả những cảnh đời nhiều cay đắng,khốn cùng, bệ rạc vì tiền nong, vì mong muốn trục lợi bằng một cái nhìnthông minh sắc lạnh" [9; 88, 90]

Với truyện ngắn "Không có vua" nhà phê bình Trần Duy Thanh

đã đa ra một nhận xét thật sắc sảo: "Khi đọc truyện ngắn này, khiếncho chúng ta phải lạnh toát ngời trớc những tính cách, lối biểu quyết

bố chết của Đoài hay trớc những ý nghĩ của lão Kiền sau khi nhìntrộm con dâu tắm, hay những câu nói trong bữa cơm của cái gia đìnhnày" [9; 89]

Hay Thái Hòa trong bài: "Có nghệ thuật Ba Rốc trong truyệnngắn Nguyễn Huy Thiệp không" đã đa ra ý kiến: "Tác giả cho rằngtrong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có sự đối nghịch giữa thiện - ác,xấu - đẹp, nếu ta chỉ nhìn bề ngoài thì khi "tìm điều thiện sẽ gặp cái ác,

đi tìm cái đẹp sẽ gặp cái xấu" Nhng ta cũng thấy rằng, trên đờng đời sẽ

có rất nhiều giã dối, lừa gạt Chẳng hạn trong "Chảy đi sông ơi" có chịThắm, bé Thu (Tâm Hồn Mẹ), Sinh (Không có vua), thầy giáo Triệu(Những bài học nông thôn) Nhng có một điều ta cần biết đó là trongtruyện của anh Thiệp điều thiện nó rất hiếm, nhng không phải làkhông có "bé Thu tin có một tâm hồn"; "Chị Thắm khẳng định có trâu

đen" và ông Diểu tin ở phép lạ của hoa tử huyền"

Chính vì thế Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn luôn trăn trở trớccuộc đời, ông thẳng thắn dùng ngòi bút của mình để đào sâu tìm tòi,truyện của ông không dừng lại ở sự suy t về con ngời, về cuộc sống,tình yêu và cái chết, có lúc giờng nh nó bao trùm lên là một màn đêmbức bối, của cái ác, cái xấu xa đê tiện Nhng nhà văn với tấm lòngnhân đạo của mình đã kịp nhận ra và chăm chút cho những trái timnhỏ dại của trẻ thơ, những thứ mà ông tin rằng đủ sức mạnh cầnthiết để đơng đầu với bóng tối ta ngự trị trên thế giới, cải tạo và làmtrong sạch cuộc sống của con ngời

Hoàng Ngọc Hiến cho rằng: "Con ngời thật với những đam mê

và dục vọng tầm thờng, những nỗi khắc khoải về số phận, và nhữngtình cảm yêu ghét tức giận khinh thờng" (Sông Hơng số 5 1989)

Trang 6

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn đã lên án, phơi bày trên tranggiấy những cái gì là gai góc, dữ dằn, là những con ngời quái hình quátdạng trong cuộc sống và con ngời đời t đời thờng, ông là nhà văn viết

về cuộc sống hiện tại, cuộc sống đợc phơi bày một cách trần trụi ra

tr-ớc mắt chúng ta, có những con ngời đời thờng với trái tim thanh cao,nhng bên cạnh đó cũng có một số cá nhân làm băng hoại đi lối sốngtốt đẹp của con ngời làm đồi truỵ về mặt đạo đức do những hammuốn, dục vọng tầm thờng của mình

Bên cạnh đó, nhà văn nghệ quân đội Mai Ngữ cũng đã nói:

"Ngòi bút của anh Thiệp đa con ngời về điểm xuất phát của nó, conngời hạ đẳng, con ngời nguyên thuỷ cùng với tiềm thức và bản ngãvốn có do trời sinh ra, những con ngời trần trụi, lỏa thể trong t duycũng nh trong hình hài" [42; 424]

Chính vì thế, khi nói đến Nguyễn Huy Thiệp là nói đến nhà văncủa những con ngời đời thờng, con ngời sống dới đáy xã hội, nhữngcon ngời bị thoái mạ về nhân cách đạo đức, điều đó nó đợc thể hiện cụthể trong từng truyện ngắn của ông: Thuỷ (Tớng về hu); Phợng(Congái thuỷ thần); Bờng(Những ngời thợ xẻ);Phong, Chiểu (Giọt máu)

;ngời mẹ (Đời thế mà vui); ông bố hãm hiếp con gái(Tội ác và trừngphạt); Đoài (không có vua)

Nhng bên cạnh đó, con ngời đời t không chỉ là con ngời toànmang phẩm chát xấu xa cả, mà ẩn sâu trong tâm hồn họ cũng có mộtchút phẩm hạnh nh Thuỷ (Tớng về hu); Thắm( Chảy đi sông ơi),Thục(Những ngời thợ xẻ), Diểu(Muối ở rừng), Thầy giáo Triệu(Nhữngbài học nông thôn), Sinh ( không có vua ) Những nhân vật đó đèu cólòng thơng ngời, sẵn sàng quên mình vì ngời khác, có khát vọng vàniềm tin đối với cuộc đời Nhng nhân vật con ngời đời thờng nổi bậtlên là hình ảnh ngời phụ nữ mà nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến gọi là

"Thiên tính nữ" họ là những ngời giàu lòng thơng ngời, nhân hậu,giàu đức hy sinh Nhng bên cạnh đó cũng có những ngời đàn ông chânchính

Do vậy với tất cả những ý kiến đánh giá khác nhau về NguyễnHuy Thiệp, nhng nhìn một cách tổng quát thì đều nghiêng về phía cangợi truyện ngắn của ông và bênh vực về phía ông Nguyễn HuyThiệp đã góp một phần rất lớn trong quá trình sáng tác của mình,

ông đã dùng ngòi bút điêu luyện sắc lạnh để cải tạo con ngời

III đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài

Chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu vấn đề đời t và thế sự đạo đức

mà cụ thể ở đây con ngời đời t là con ngời nh thế nào? Và con ngời đó đợcbộc lộ nh thế nào trong đời sống hàng ngày, họ có nhân cách đạo đứchay không?

Chính vì thế, chúng tôi muốn chứng minh cho công chúng thấyrằng con ngời đời t và những băng hoại về đạo đức có một vị trí quan

Trang 7

trọng trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Cho nên, trong sáng táccủa ông đợc phân ra thành 3 vấn đề:

ở đề tài huyền thoại, những sáng tác dân gian gồm muời truyệnngắn trong tập: "Những ngọn gió hua tát"

ở đề tài lịch sử Nguyễn Huy Thiệp đã đa các nhân vật nh QuangTrung, Nguyễn Du vào trong truyện ngắn của mình nh "vàng lửa";

"Kiếm sắt"; "Phẩm tiết" Duy nhất chỉ ở đề tài đời t và thế sự đạo đứcvới số lợng truyện ngắn rất lớn viết về con ngời đời t đời thờng trongcuộc sống hàng ngày ở đề tài này chúng tôi khảo sát những truyệnngắn sau:

1 Chảy đi sông ơi

IV Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện thành công đề tài này và xây dựng hoàn chỉnh nộidung của một luận văn, chúng tôi đã áp dụng một số phơng pháp chủyếu sau để nghiên cứu: Phơng pháp đọc tác phẩm, đi sâu vào nghiêncứu từng nhân vật và một số kiến thức lý luận, phân tích soi chiếu vàotrong những tác phẩm cụ thể của Nguyễn Huy Thiệp để làm sáng tỏmọi vấn đề của đề tài

Bên cạnh đó, chúng tôi còn vận dụng các phơng pháp nh: Khảosát, phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, phân loại

Chơng II Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp viết về đời t và thế sự

đạo đức (Xét về phơng diện nội dung)

Chơng III: Các hình thức nghệ thuật thể hiện con ngời đời t và thế

sự đạo đức trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Phần II: nội dung

Trang 8

Chơng 1

Văn học Việt Nam với việc phản ánh đề tài

đời t và thế sự đạo đức

I Cách hiểu về đề tài đời t và thế sự đạo đức

Đời t và thế sự đạo đức là một đề tài lớn, nó đợc manh nha từ thờitrung đại Mặc dù, ở thời kỳ này con ngời đời t đời thờng còn bị bó hẹptrong hoàn cảnh xã hội, của chiến tranh, nhng phần nào cũng toát lên

đợc tiếng nói cá nhân của mình trớc cuộc sống muôn vẻ của đời thờng

Bớc sang thế kỷ XX đến đầu năm 1945 Đề tài này đợc các nhàvăn hiện thực quan tâm nh Hồ Biểu Chánh "Cha con nghĩa nặng" Và

đặc biệt rằng, với thời điểm lịch sử giai đoạn 1945 - 1975 thì đề tài đời

t và thế sự đạo đức không đợc coi trọng, đó là một thứ văn học không

đ-ợc khuyến khích Nhng khi bớc vào nền văn học sau 1975, mà cụ thểhơn từ những năm đổi mới trở đi, mảng đề tài này trớc đây hầu nh bịlãng quên thì nay lại đặc biệt đợc chú ý

Nếu nh văn học giai đoạn 1945 - 1975 luôn hớng tới con ngời quầnchúng, con ngời tập thể của cộng đồng vì cộng đồng Thì văn học giai

đoạn sau 1975 là tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp, chiều sâu tâm hồn khónắm bắt, cái tốt, cái xấu đan xen lẫn lộn, có khi cái cao cả, cái thấp hèncùng tồn tại trong một con ngời Chính vì thế, với mảng đề tài đời t vàthế sự đạo đức của văn học sau 1975 nổi bật nhất là nhà văn NguyễnHuy Thiệp, ông đi sâu vào những khía cạnh của con ngời đời thờng, conngời với cuộc sống hiện tại đợc hé ra bằng tất cả những gì tốt đẹp và xấu

xa nhất Với Nguyễn Huy Thiệp, ông không tô vẽ cho nhân vật củamình những mô típ nghệ thuật, không tâng bốc họ lên mà ông luôn cómột cái nhìn hiện thực, tức là ông lột trần một cách trần trụi cuộc sốngcủa mỗi con ngời, con ngời đời thờng có những mặt tốt, nhng bên cạnh

đó cũng là con ngời bị tha hóa về đạo đức

II Văn học Việt Nam trung đại với việc thể hiện đề tài đời t và thế sự đạo đức

1 Hoàn cảnh xã hội

Đây là thời kỳ chế độ phong kiến đang phát triển mạnh mẽ, làmcho mâu thuẫn giữa chúng với nhân dân ta gay gắt Trớc tình hình đóhàng loạt phong trào khởi nghĩa nông dân diễn ra giữa: Mạc, Lê -Trịnh; Trịnh - Nguyễn Rồi cũng đến lúc chế độ phong kiến rơi vàokhủng hoảng (thế kỷ XVIII đến nửa thế kỷ XIX) Đến 1858 thực dânPháp bắt đầu cuộc xâm lợc đầu tiên vào nớc ta Trớc hiện thực ấy đã

đẩy con ngời vào những phản ứng tiêu cực bất mãn với xã hội và thờicuộc

Từ hoàn cảnh xã hội thay đổi kéo theo t duy của nhà văn cũng cóphần thay đổi Điều đó đánh dấu một sự vợt bậc của nền văn học ViệtNam nói chung và nền văn học trung đại nói riêng Chính vì thế, con

Trang 9

ngời ở thời trung đại nó rất phong phú và phức tạp, điều đó cũng từ thực

tế của cuộc sống mà thôi

2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời

Ta biết rằng, con ngời là đối tợng trung tâm của văn học, là điểmnhìn chính yếu của chủ thể sáng tạo nghệ thuật M.Gorki cha đẻ củanền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã đa ra nhận định rất nổitiếng "Văn học là nhân học" Các Mác cũng từng khẳng định: "Con ngời

là sự tổng hòa của các mối quan hệ"

Quan niệm nghệ thuật về con ngời đợc bắt nguồn từ một kháiniệm triết học, trong thế giới nghệ thuật quan niệm nghệ thuật vềcon ngời là sự lý giải, cắt nghĩa, là sự cảm thấy con ngời đợc hóathân thành các nguyên tắc, các phơng tiện, tạo nên giá trị nghệthuật cho các hiện tợng nhân vật Quan niệm nghệ thuật về con ngờichi phối sáng tác của nhà văn, vì thế khi nghiên cứu về con ngờikhông phải nhìn ở góc độ khách thể mà phải xem xét con ngời dớilăng kính chủ quan của nhà văn E.Kapeachenkô đã từng nói: "Conngời là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật đối vớicác hình thái ý thức xã hội khác, và mỗi thời đại văn học ra đời bao giờcũng làm nãy sinh con ngời mới ở giai đoạn này có những con ngời yêunớc làm quan to nhng tự vứt bỏ quyền lợi của mình về ở ẩn

3 Việc thể hiện đề tài đời t và thế sự đạo đức trong văn học trung đại

Chúng ta biết rằng, con ngời trong văn học trung đại phần lớn làcon ngời yêu nớc, trung nghĩa gắn liền với việc khẳng định nền độc lập

tự chủ, tự cờng của dân tộc qua một loath tác phẩm viết bằng chữ Hán

nh Lý Thờng Kiệt (1019 - 1105)

Nhng đến thế kỷ XV, sự biến động của xã hội, kéo theo đó là sựthay đổi quan niệm về con ngời trong văn học nói chung và trong thơ canói riêng Văn học giai đoạn này đợc viết bằng chữ Nôm nh Nguyễn Trãi(1380 - 1442) - là một nhà nho chính cống, ông đã từng viết:

"Lòng hãy cho bền đạo khổng môn"

(Tự Thán - XII)Quan niệm về dân của Nguyễn Trãi mặc dù chịu ảnh hởng củanho và phật nhng vẫn còn sáng tạo mới, dân của Nguyễn Trãi hớng vềtầng lớp dới Nguyễn Trãi quan niệm quyền lợi quốc gia phải chia đềucho nhân dân:

"Nguyện bả thang lan phân t hải"

Tức là ông muốn "đem thứ nớc thơm chia đều cho bốn biển"

Hay: "Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày"

Nguyễn Trãi là ngời đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc dùngkhái niệm "Duy Tân" Đây cũng là nguồn gốc tai họa của Nguyễn Trãisau này Ông dùng khái niệm Duy Tân để đổi mới t duy nghệ thuật củamình Sáng tác của ông từ khi bỏ quan trở về Côn Sơn dần dần ông từ

bỏ chất liệu vàng son cung đình để trở về với chất liệu dân dã đời thờngcủa hiện thực Thơ Nguyễn Trãi bắt đầu xuất hiện dấu hiệu câu thơ

Trang 10

điệu nói Đây là câu thơ hiện đại để phân biệt câu thơ điệu ngâm củatrung đại, cho nên câu thơ thời trung đại bị ớc lệ nhiều Câu thơ điệunói, tức là đa lời nói thông thờng, ngữ điệu thông thờng hàng ngày vàotrong thơ làm cho câu thơ gắn với hiện thực hơn, làm giảm đi tính ớc lệ,

ẩn dụ lời thơ Chẳng hạn thơ Nguyễn Trãi có bài chen vào những câuthơ lục ngôn tức là nó "ngắn" nhng lại nhằm khẳng định một điều gì đóbắt đầu từ những cái nhỏ nhặt tởng nh không đâu nhng chứa chan tìnhngời Rau muống, mồng tơi, râm bụt, cây chuối, cây đa, cây mía đềuthành vần điệu Đào, liễu, tùng đều đứng liền bên cạnh rau muống,mồng tơi quê mùa một cách tự nhiên không chút gì phân biệt sang hèn

Ông đã từng nói: "

“Hái cúc, ơng lan, hơng bén áoTìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn”

Mà cũng vừa vui tơi chân chất:

“ Ao cạn vớt bèo cấy muốngTrì thanh phát cỏ ơng sen”

Ông còn phát hiện ra cái đẹp rất bình dị: “Đêm trăng gánh nớc thìgánh luôn trăng đem về” Có lúc, ông nh hòa tan mình vào thiên nhiên

đến dòng suối, tảng đá phủ rêu, vòm thông tàn trúc nh hòa nhập với ônglàm một trong bài có sơn ca

Nhà thơ khi về ẩn ở Côn Sơn, an bần lạc đạo ông vốn sống rấtgiản dị: “Cơm ăn chẳng quản da muối

áo mặc nài chi gấm thêu”

Cho nên khi về Côn Sơn, sống với cảnh đời thờng nhà thơ đãthấy mình đợc thoải mái vô cùng Con ngời trong văn học Việt Nam từthế kỷ XV - XVII là những con ngời thể hiện ý chí của các nhà thơ

“thơ dĩ ngôn chí” là “văn dĩ tải đạo” văn chơng chỉ để ca ngợi, truyền

đạt những triết lý sống, cách sống với đời mà thôi, vì con ngời tronggiai đoạn này là con ngời của trách nhiệm, con ngời còn chịu ảnh hởngcủa t tởng tôn giáo, nên việc ý thức về con ngời vẫn còn nằm trong ýthức hệ phong kiến

Nhng văn học bớc sang giai đoạn mới thế kỷ XVIII - nửa đầu thế

kỷ XIX con ngời có sự đổi mới Con ngời ở đây là con ngời yêu bản thânmình trong cái chung, còn cái tôi chủ thể cha phát triển mạnh mẽ Conngời mới chỉ là con ngời của tiên, thần, của sử thi, giữ mình trong sạchvới tinh thần tự do nội tại, là con ngời của xuất - xứ; công danh - nhânvô sự; khen - chê; ngu - hèn; cơng - nhu…

Giai đoạn này của sống xã hội có nhiều biến động, con ngời đứngtrớc vận mệnh lớn lao của mình trớc xã hội Số phận con ngời càng trởnên nhỏ bé trớc cuộc đời, mà chịu thiệt thòi nhất là giới nữ, hình ảnhngời phụ nữ đợc thể hiện qua nhiều thể loại: ngâm khúc, đờng luật, hátnói, truyện thơ với những tác giả tiêu biểu nh Hồ Xuân Hơng, Nguyễn

Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xơng, Nguyễn Đình Chiểu…

Trang 11

Hình tợng con ngời cá nhân cô đơn trong thể loại ngâm khúc đặthạnh phúc cá nhân lên trên quyền lực phong kiến, khát vọng hạnh phúctrần thế của cá nhân con ngời làm điên đảo cả thể loại đờng thơ.

Trong thơ Hồ Xuân Hơng, Xuân Hơng biến thơ đờng từ thể loạidân tộc thành thể thơ bình dân:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôiNày của Xuân Hơng đã quệt rồi

(Mời trầu)Hình ảnh ngời phụ nữ đợc ngời lên trong sáng tác của Hồ XuânHơng đó là những con ngời phải chịu cảnh đời éo le trắc trở, muộnmàng, thân phận bèo bọt nhỏ nhoi:

“Thân này ví biết nhờng này nhỉThà trớc thôi đành ở vậy xong”

(Lấy chồng chung)Nhng con ngời trong thơ Hồ Xuân Hơng không dễ gì chấp nhận sự

ấn định nghiệt ngã của số phận, mà vợt lên trên duyên phận ngời phụnữ đã thách thức với các bậc văn nhân tài tử:

“Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đã chịu già tom”

(Tự tình II)Con ngời trong thơ Hồ Xuân Hơng là con ngời rất đẹp, đẹp cảhình thức lẫn tâm hồn, họ ý thức về bản thân mình rất rõ, họ đòiquyền lợi chính đáng trong tình yêu và hôn nhân vợt ra khỏi lễ giáophong kiến

Sẽ là không đầy đủ, nếu không nhắc đến con ngời cô đơn đầy tâmtrạng trong thơ chữ Hán thì truyện thơ của Nguyễn Du (1766 - 1820) làmột tác phẩm tiêu biểu, vì sự nghiệt ngã của lễ giáo và thế lực đồngtiền đã vùi dập con ngời xuống bùn nhơ Để rồi Nguyễn Du cũng phảithốt lên rằng:

“Trải qua những cuộc bể dâuNhững điều trông thấy mà đau đớn lòng”

Bớc sang cuối thế kỷ XIX Tú Xơng đã bỏ qua chất liệu cổ điển củamình điển cổ điển tính không còn, Thơ Tú Xơng chỉ tập trung vào chấtliệu thực của đời sống hàng ngày đang diễn ra trớc mắt Tú Xơng ít khitrở về ngày xa khác với Nguyễn Khuyến trở về cái ngày xa:

Trang 12

“Nghĩ ra lại thẹn với ông đồ”

Tú Xơng đã khái quát lên cuộc sống đời thờng của gia đình ông ởmom sông Bà Tú một ngời đàn bà chật vật buôn bán để nuôi gia đình 5con - và ông Tú Đó là một cuộc sống mà Tú Xơng đã phản ánh mộtcách chân thật cảnh lầm than khổ cực Điều này cũng chứng tỏ nhà văntrong giai đoạn này ít nhiều hớng tới cuộc sống nông thôn dân dã đờithờng của con ngời Việt Nam

Do vậy, khi nhìn một cách tổng quan về con ngời từ thế kỷ X đếnthế kỷ XIX là con ngời đi từ cái chung đến cái riêng, từ con ngời củanghĩa vụ trách nhiệm bổn phận đến con ngời có sự ý thức về quyền lợicá nhân trong cuộc đời hiện thực Cho nên sự vận động của hình tợngcon ngời trong thơ ca qua mỗi thời đại luôn có sự biến chuyển theo chiềuhớng đi từ cái cao siêu xa rời cuộc sống đến những nhu cầu rất cần thiếtcủa con ngời tồn tại ngay giữa cuộc đời thờng

IiI Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 với việc thể hiện đề tài đời t và thế sự đạo đức.

1 Hoàn cảnh xã hội

Đây là thời kỳ xã hội Việt Nam có những biến động lớn, nhân dân

đang bị nhấn chìm dới tầng áp bức bóc lột đó là thực dân Pháp Xong vớilòng yêu nớc, tinh thần dũng cảm chung lng đấu cật Và đặc biệt có con đ-ờng cách mạng vô sản đúng đắn, kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa Mác

- Lênin, T tởng Hồ Chí Minh Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam3/2/1930 Đã đánh dấu mốc son chói lọi cho dân tộc bởi sự thắng lợi to lớncủa cách mạng tháng 8/1945 Sự thắng lợi đầu tiên này cũng góp một phầnnhỏ đối với các nhà văn lãng mạn Nhà văn hiện thực phê phán và văn họccách mạng trong quá trình sáng tác của mình

2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời

ở thời trung đại con ngời trong văn học thờng là những anh hùng,quân tử, tài tử, giai nhân… Mà quan niệm về cái đẹp của con ngờitrung đại là con ngời phải thực hiện một cách toàn vẹn nghĩa vụ củamình đối với tôn ty trật tự phong kiến Cho nên con ngời cá nhân bị mấthút vào trong tiêu chuẩn chung của cuộc sống của cộng đồng, ý thức cánhân bị nhấn chìm, có chăng thì cũng mờ nhạt mà thôi

Nhng bớc sang thế kỷ XX quan niệm về con ngời nó đa dạng hơn,con ngời đã trở thành con ngời trong văn học cách mạng Đặc biệt cái tôivới t cách là một cá nhân tự do ra đời nh trong thơ Tản Đà, và đặc biệt

là trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Bởi lẽ tiểu thuyết Việt Namngay từ chặng mới ra đời cũng đã đi vào vấn đề đời t nh Tố Tâm củaHoàng Ngọc Phách Và đến tác phẩm của Hồ Biểu Chánh ông cũng đivào chuyện ngoại tình trong : “Cha con nghĩa nặng”

Nhng đặc biệt đến giai đoạn 1930 - 1945 hàng loạt các cuốn tiểuthuyết của các nhà văn hiện thực ra đời cũng đề cập đến vấn đề đời t

nh Tắt đèn (Ngô Tất Tố); Dông tố, Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Sống mòn

Trang 13

(Nam Cao) và văn học lãng mạn nh tiểu thuyết Tự Lực văn Đoàn Haychúng ta còn bắt gặp ít nhiều trong văn học cách mạng có hai tác giả nổitiếng: Hồ Chí Minh, Tố Hữu

ở mỗi nhà văn dù hiện thực, lãng mạn hay cách mạng thì tất cả

đều có quan niệm nghệ thuật riêng của mình về con ngời Con ngời đợchiện lên rất phong phú và đa dạng, nó chi phối mọi cung bậc của cuộcsống Đây cũng là một nét chấm phá đổi mới lớn của nền văn học giai

đoạn này

3 Các trào lu văn học lãng mạn, hiện thực phê phán, văn học cách mạng với việc thể hiện đời t và thế sự đạo đức

Đề tài đời t và thế sự đạo đức ở giai đoạn trớc có phần mờ nhạthơn Nhng đến giai đoạn này nó đợc chấm phá rõ nét hơn ở các trào luvăn học hiện thực phê phán, lãng mạn là văn học cách mạng

Trong văn học hiện thực phê phán không chỉ đáp ứng những yêucầu của cuộc đấu tranh xã hội trong một thời kỳ lịch sử sôi động mà cònphản ánh quá trình vận động của các hệ t tởng, những sự tác động qualại của các hình thái ý thức trong kiến trúc thợng tầng Một số nhà văn

đã tránh đợc lối t tởng hóa nhân vật, biến nhân vật thành cái loa phátngôn đạo đức, mặt khác đã bắt đầu chú ý đến lối cá thể hóa nhân vật,tôn trọng đời sống khách quan của nó Nh Ngô Tất Tố ông đã thổi vàotác phẩm của mình cuộc sống của nông dân bình thờng trong cuộc sốngthờng nhật Đó là tiểu thuyết “Tắt đèn”, truyện xoay quanh vấn đề suthuế đối với nhân dân nh gia đình anh Dậu chỉ vì su thuế mà chị phảibán cả con cả chó lấy tiền nộp su thuế mà cũng không đủ, xã hội lúc bấygiờ đánh su thuế đối với cả ngời đã chết Điều đó thật bất công, thật phinhân đạo

Hay Giông tố của Vũ Trọng Phụng cũng là một tiểu thuyết hiệnthực phê phán xoay quanh giá trị hiện thực tố cáo xã hội thất vọng truỵlạc Tiểu thuyết đề cập đến vấn đề loạn luân trong gia đình giữa Long

và Tuyết, nhng ngời gây ra sự loạn luân này lại chính là bố của hai ngời(Nghị Hách) Trong Giông tố có những đoạn miêu tả mổ xẻ tâm lý thậtsắc sảo: tâm sự của Mịch khi nằm nhà thơng xót xa, tủi nhục, khôngdám gặp mặt ngời yêu vì xấu hổ, Tâm trạng hằn học có chút lì lợm, liềulĩnh của Mịch vì tình yêu và lòng tự ái đều bị tổn thơng khi cảm thấy bịLong nghi ngờ, rẻ rúng, nỗi uất hận chua xót của Mịch về thân phận lẽmọn nhà giàu, bị bỏ rơi, nhớ ngời tình cũ đã phụ bạc

Để có thể phân tích tâm lý con ngời một cách sâu sắc trong sự vận

động hợp quy luật của nó, văn xuôi hiện thực phê phán Việt Nam phảitrải qua một quá trình Giông tố đã đánh dấu một bớc trởng thànhtrong quá trình đó Song cha phải bớc phát triển cao nhất Phải đếnNam Cao, cây bút tiêu biểu cho văn học hiện thực phê phán giai đoạncuối cùng (1940 - 1945) với cuốn tiểu thuyết “Sống mòn” đã đi vào đề tài

đời t rất sâu sắc, nh đã có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, một vàinhà nghiên cứu đánh giá không cao về cuốn tiểu thuyết này nh Vũ Đức

Trang 14

Phúc, Hồng Chơng vì họ cho rằng tiểu thuyết này chủ yếu nói về nhữngchuyện vặt vãnh Nhng những ý kiến đó cho là thiểu số Hầu hết giớinghiên cứu đánh giá rất cao cuốn tiểu thuyết này, có ngời cho rằng Sốngmòn là một cuốn có ý nghĩa cách tân với một bút pháp mạnh mẽ.

Sống mòn không ngại kể về những chi tiết vụn vặt chuyện ănuống, ghen tuông, kèn cựa, tính tiền nớc mắm rau muống… Từnhững chi tiết vặt vãnh ấy để tác giả khái quát thành những quanniệm nhân sinh lớn Chẳng hạn từ những cãi cọ trong bữa ăn, kháiquát lên những cái vô lý trong cuộc sống con ngời, đó là sự bất côngtrong xã hội đơng thời

Với văn học lãng mạn mà đặc biệt từ giai đoạn 1932 - 1945 trongtiểu thuyết “Tự Lực Văn Đoàn” hầu nh những tác phẩm đều đi sâu vàonhững khía cạnh đời t đời thờng cụ thể là quan tâm đến hạnh phúc gia

đình, mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng tranh giành tiền bạc lẫn nhau(Nửa chừng xuân) tấn công vào đại gia đình phong kiến, tố cáo bọnquan lại và địa chủ trọc phú ở nông thôn, tố cáo tính chất ích kỷ, tànnhẫn, chà đạp lên hạnh phúc con ngời của lễ giáo phong kiến ChơngHàn Thanh tán tỉnh Mai làm vợ bé và chơng đối thoại giữa Mai và bà

án là những chơng xuất sắc, đậm đà màu sắc hiện thực Cuộc đấu tranh

để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi ngoài lễ giáo phong kiến, cuộc đấu tranhgiữa mới và cũ có lúc đã đẩy các nhân vật trung tâm đi về hai phía gần

nh đối lập Huy đã nói thẳng vào mặt bà án lúc bà lên Phú Thọ khuyênMai đa con về làm vợ bé cho Huyền Lộc Nửa chừng xuân tuy có tiến xahơn Tố Tâm nhng cuộc đấu tranh giữa cá nhân và đạo gia đình phongkiến vẫn cha quyết liệt Lộc tuy tự hàovới Mai là “anh đã theo một nềngiáo dục Âu Tây, anh hiểu anh yêu, anh trọng cái giá trị, cái quyền tự

do của cá nhân”, nhng Lộc vẫn chịu khuất phục trớc uy quyền của lễgiáo Còn Mai là nạn nhân đau khổ và tự trọng, chỉ biết đem cái nhânhậu, cái thanh cao ra chống đỡ Mai đã chống đến cùng chế độ đa thê,

đã nói thẳng vào mặt bà án “nhà tôi không có mả lấy chồng lẻ và bảo vệtình yêu lý tởng

Nhất linh ca ngợi tình yêu tự do của lứa đôi, chủ trơng giải phónghoàn toàn ngời phụ nữ ra khỏi đại gia đình phong kiến, với Đoạn tuyệt

đã miêu tả cuộc xung đột giữa cái cũ và cái mới, giữa mẹ chồng và nàngdâu Nhng đằng sau đó là sự tố cáo mạnh mẽ và quyết liệt các tập quán

cổ hủ trong gia đình bà Phán, cách đối xử tàn nhẫn, chà đạp lên con

ng-ời của những kẻ đại diện cho lễ giáo phong kiến Tác phẩm không chỉnói lên xung đột trong cuộc sống đời thờng muôn thuở giữa mẹ chồng vànàng dâu trong xã hội cũ mà luôn luôn có xu hớng muốn mở ra mộtxung đột lớn hơn, xung đột về hệ t tởng giữa cái mới và cái cũ Xung độtmới, cũ đó đã thể hiện ra gay gắt ngay trong tế bào xã hội là gia đình.Cho nên tiểu thuyết “Tự Lực Văn Đoàn” thờng đối lập giữa hai lối sốngkhác nhau Một bên là những cuộc đời tầm thờng tẻ nhạt mặc dầu trongtrắng lơng thiện (Ông giáo Chơng trong đời ma gió); những con ngờichịu nhẫn nhục cúi đầu làm nô lệ trong các đại gia đình phong kiến,

Trang 15

hầu hạ mẹ chồng và nhà chồng nh con ở (Đạm trong Đoạn tuyệt) vớimột bên là những cuộc đời phiêu lu, sóng gió tuy nguy hiểm nhng đầyhấp dẫn (Dũng trong Đoạn tuyệt) hoặc những cuộc sống phóng đãng vớinhững cảm giác cháy bỏng luôn luôn thay đổi, một cuộc sống chỉ cầnbiết hôm nay không cần biết ngày mai.

Tiếp đó văn học cách mạng là bộ phận văn hóa tác động nhiều vàmạnh nhất đến các tầng lớp nhân dân cách mạng ở khắp nơi và ở cả cácmặt hoạt động của cách mạng, văn học cách mạng làm nhiệm vụ cao cả

và chân chính là:

“Dùng cán bút làm đòn xoay chế độMỗi vần thơ bom đạn phá cờng quyền”

(Sóng Hồng)Trong giai đoạn văn học cách mạng Tố Hữu là nhà thơ cách mạng.Thơ Tố Hữu nằm trong loại hình thơ trữ tình chính trị và thơ ông là

đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị ở Việt Nam Thơ trữ tình chính trịkhông trực tiếp đụng chạm đến vấn đề đời t đời thờng Mà ông bao giờcũng đẩy lên thành chuyện chung, chuyện chính trị

Tố Hữu có tập thơ nổi tiếng “Từ ấy” chất trẻ trung và chất lãngmạn đợc hòa quện với nhau tạo thành vẻ đẹp riêng Do đó say lý tởng ở

đây là say lý tởng của ngời trẻ tuổi, đến với lý tởng cũng đầy trẻ trung

và lãng mạn:

“Hồn tôi là một vờn hoa lá

Rất đậm hơng và rộn tiếng chim”

Tố Hữu là nhà thơ chính trị nên ông không viết về tình yêu riêng

t, điều này chính bản thân ông có ý thức rất rõ

Có câu thơ ông viết:

“Gạt phăng hết những tình riêng nhỏ nhặt Để tay ghì ôm chặt khối đời to”

Nhng điều đó không có nghĩa trong “Từ ấy” không có tình cảm gâyxúc động cho ngời đọc, chỉ có điều những tình cảm này đợc dành cho dântộc cho nhân dân, đất nớc Do đó Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét: “TốHữu nhà thơ của những lẽ sống lớn lẽ sống cách mạng”

Trong t tởng ấy ông dành tình yêu thơng cho những số phận khốnkhổ, ông gọi là những kẻ bị đời vùi hắt hủi ở đầu tập thơ ông hớng tìnhcảm của mình tới những ngời bất hạnh, những em bé mồ côi, đứa trẻ đi

ở, lão đầy tớ, chị vú em Do đó Tố Hữu còn chịu ảnh hởng nhiều của thơmới:

“Cháy lòng ta nỗi nhớ bạn đời ơi”

(Bạn trong tù)

“Kiêu hãnh chút bạn đời ơi tuổi trẻ

Trang 16

Say tơng lai là tuổi của anh hùng”

(ý xuân)Cách xng hô này cũng là một đặc điểm của phong cách thơ TốHữu Xu hớng của ông là tránh những từ tạo ra sự trang trọng xa cách

mà thay vào đó bằng những từ gần gủi thậm chí bằng những từ chỉ tìnhcảm thân thiết ruột thịt:

“Ngời là cha, là bác, là anh…”

ở ngoài nhà tù tác giả đã tha thiết với cuộc đời với nhân dân:

“Tôi là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ”

Sau khi vào tù tình cảm này có trở nên da diết hơn Do đó ngờicộng sản thì bị giam giữa bốn bức tờng của nhà tù, luôn tâm hồn luônbay bổng ở bên ngoài để lắng nghe xúc động của đời thờng nh: tìnhcảm đối với em bé bán bánh Hay trong bài thơ “Tâm t trong tù” trongbài thơ Tố Hữu đã thổi vào câu thơ những động từ mạnh: chim reo,gió mạnh, vội vả rùng chân Thể hiện ở đây nhịp sống vội vả gấp gáp

ở bên ngoài nghe tiếng rùng chân của con ngựa, nghe tiếng guốc đi vềngời ta có cảm giác tiếng guốc ở đây nhỏ dần theo tâm trạng xúc độngcủa ngời nghe Tiếng guốc ở đây chính là âm thanh bình dị của cuộc

đời và những âm thanh bình dị này còn nhiều lần vang lên trong thơ

Tố Hữu nh Gió Lộng:

“Đờng phố lâu rồi im tiếng guốc…”

Tóm lại ta thấy rằng văn học Việt Nam giai đoạn này vấn đề đời

đồng lòng đứng lên bảo vệ đất nớc với ý chí cao cả quyết tâm sắt đá:

“Ta đi trên đờng ta bớc tiếpRắn nh thép, vững nh đồng

Trang 17

Bộ đội ta trùng trùng điệp điệpCao nh núi, dài nh sông

Chí ta lớn hơn biển đông trớc mặt”

(Ta đi tới - Tố Hữu)

Và với niềm tin ở tơng lai, ở phía trớc:

“Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc

Mà lòng phơi phới dậy tơng lai”

(Tố Hữu)Nhng cuối cùng Việt Nam cũng giành đợc thắng lợi to lớn ở mốclịch sử của đại thắng mùa xuân năm 1975 với chiến dịch lẫy lừng ĐiệnBên Phủ Đem lại hòa bình cho dân tộc ta

Với những tiếng động lớn lao của lịch sử đã ảnh hởng rất lớn đếnvăn học giai đoạn 1945 - 1975 kéo theo đó quan niệm nghệ thuật về conngời cũng khác nhau

2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời

Theo Trần Đình Sử “Quan niệm nghệ thuật về con ngời là sựlýgiải cắt nghĩa, sự cảm thấy con ngời đã đợc hóa thân thành các phơngtiện, các biện pháp thể hiện con ngời trong văn học tạo nên cái giá trịthẩm mỹ cho các hình tợng nhân vật

Căn cứ vào khái niệm trên, ta có thể thấy quan niệm nghệ thuật

về con ngời phải là sự lý giải, khám phá con ngời, tức là cái nhìn, cáchcảm thụ của nhà văn về con ngời Nhân vật chính là hình thức cơ bản đểmiêu tả con ngời trong văn học

Chính vì thế ở giai đoạn này quan niệm về con ngời có phần thay

đổi, con ngời ở đây là con ngời của cá thể, của cộng đồng, vì cộng đồng,luôn hớng tới cuộc sống của những ngời dân mất nớc, tham gia vàochiến tranh Do vậy, các nhà văn thời kỳ này cũng hớng ngòi bút củamình tới những vấn đề lớn lao của cuộc sống, đó là hòa nhập vào cuộcsống chung của thời đại - một thời đại đảo điên, chịu dới hai gọng kìm

áp bức tàn tệ Cho nên quan niệm nghệ thuật về con ngời của các nhàvăn cũng có phần thay đổi

3 Việc thể hiện đề tài đời t và thế sự đạo đức trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

Văn học Việt Nam bớc sang giai đoạn 1945 - 1975 thì đội ngũ cácvăn nghệ sĩ họ là những ngời đi từ “thung lũng đau thơng đến cánh

đồng vui” với cuộc kháng chiến chống Pháp đã giúp cho các nhà vănvốn sống mới, đề tài mới đầy sáng tạo Với cuộc chiến tranh chống Mỹ,thực tế của xã hội “Ra ngõ gặp anh hùng” đã mang lại cho nhà vănnguồn t liệu dồi dào trong sáng tác Cho nên văn học giai đoạn này luônhớng tới con ngời quần chúng con ngời tập thể của cộng đồng Nhân vậttrung tâm của tác phẩm là con ngời đại diện cho giai cấp, dân tộc Do

Trang 18

vậy đề tài đời t và thế sự đạo đức giữ vị trí thứ yếu, lúc này con ngờiphải quên mình, gạt bỏ cuộc sống riêng t vì cuộc sống của nhân loại.Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành); Mảnh trăng cuối rừng (NguyễnMinh Châu).

Cảm hứng sử thi thời kỳ 1945 - 1975 hớng ngòi bút của ngời nghệ

sĩ vào quá trình khám phá và ca ngợi những con ngời tiên tiến, con ngờianh hùng Đó là những hình mẫu lý tởng của một thời kỳ vinh quang vàoanh liệt, những con ngời của sự nghiệp chung xả thân ,vì nghĩa lớn, vìtập thể: “Mình vì mọi ngời, mọi ngời vì mình” Đây là lẽ sống đạo đứctrong văn học sử thi

Sẽ không đúng khi chúng ta khẳng định văn học giai đoạn này chỉhớng về số phận của cộng đồng của tập thể Mà giai đoạn này văn họccũng đề cập ít nhiều đến cuộc sống đời thờng của con ngời nh Đất nớc

đứng lên - Núp là hình tợng ngời anh hùng cách mạng, nhng bên cạnhlòng yêu nớc, xả thân vì đồng bào Tây Nguyên, Núp còn là ngời giàutình cảm tình thơng với gia đình, vợ con: "Tôi thơng lũ làng nh thơng mẹthơng Lu, thơng Hơru Và tôi cũng thơng mẹ, thơng Lu, thơng Hơru nh- thơng lũ làng" Đặc biệt khi Núp nghe tin vợ sinh con, mừng quá Núpchạy băng băng về nhà nắm bàn tay con thấy giống mình nhng khôngbiết chỗ nào và Núp đã nói: "Tốt quá! Tốt quá! Sau này đời con sẽ sớng

đây"

Hay trong "Hòn đất" của Anh Đức ta còn bắt gặp hình ảnh máSáu - một bà mẹ Nam Bộ yêu nớc, anh hùng sống một cách bình dị.Trong cuộc sống đời thờng mà phải chịu bao nỗi đắng cay cả chồng vàngời con trai cũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng Đặc biệt trongnhững năm đen tối mà đã nuôi dấu những chiến sĩ cách mạng trongnhà mình Và khi chị Sứ bị địch bắt tra tấn, chúng đã đa Má đến đểkhuyên bảo chị đầu hàng Khi chứng kiến cảnh con bị đói, bị đánh đậpdã man và có thể sẽ bị giết Nhng má vẫn không khuyên bảo con đầuhàng, má đã nói với bọn chúng: "Con tôi đã khôn lớn nó hiểu hết đợccông việc của nó làm" Rồi chị Sứ bị giết, mặc dù đau thơng vất vả nhngmá vẫn đi đầu trong cuộc đấu tranh của dân tộc

Hình ảnh bà Cà Xợi - một con ngời đầy bi kịch, bà là mẹ đẻ củatên ác ôn khát máu "thằng Xăm" Nhng dù là mẹ đẻ của hắn - bà Cà Xợivẫn tham gia chống lại bọn giặc (tức là chống lại con mình) Đó là điều

bà đau lòng nhất

Chính vì thế, văn học giai đoạn này, hình ảnh con ngời luôn luôngắn bó với cộng đồng, với đời sống tập thể, không cộng đồng đáng kể hơn

đời sống riêng t, khuôn viên gia đình

V Văn học Việt Nam sau 1975 với việc thể hiện đề tài

đời t và thế sự đạo đức

1 Hoàn cảnh xã hội

Đất nớc ta sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, dân tộc đợc hoàntoàn giải phóng, cả nớc đi lên con đờng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, đây

Trang 19

cũng là thời kỳ đổi mới từ năm 1980, một bớc chuyển lớn về xã hội cũng

nh văn học Chính vì thế, đội ngũ các nhà văn bây giờ hớng ngòi bút củamình vào cuộc sống muôn mặt đời thờng Do vậy, văn học Việt Nam từviết về cuộc sống của cộng đồng, của tập thể tìm đến cuộc sống đời t đờithờng Điều đó đánh dấu một bớc ngoặt lớn của nền văn học Việt Namgiai đoạn này

2 Quan niệm nghệ thuật về con ngời

Nh chúng ta biết, đất nớc sau ngày giải phóng, con ngời phải đơng

đầu với muôn mặt bề bộn của cuộc sống đời thờng Do biến động xã hộiluôn luôn tác động đến cuộc sống, số phận của con ngời đợc thay đổi,những vấn đề nhân sinh, thế sự luôn đặt ra những câu hỏi và dày vò l-

ơng tâm của mỗi ngời Thì ngời viết phải suy nghĩ và có thái độ thíchhợp Nh trớc đây, con ngời là đối tợng hầu nh chỉ để ca ngợi hay phêphán, thì giờ đây nó đợc nhà văn đi vào thế giới nội tâm, đi vào số phận,tìm đến những vấn đề cụ thể đời thờng mà vẫn mang ý nghĩa nhân loại

Chính vì thế, con ngời sau 1975 viết về đời t và thế sự đạo đức, thìlại hớng tới những con ngời đời thờng, con ngời bình thờng trong cuộcsống với số phận cá nhân hết sức phức tạp Nh vậy, con ngời đời thờng(1945 - 1975) hầu nh bị bỏ quên thì nay đã đợc các nhà văn đặc biệt chú

ý khám phá và miêu tả sâu sắc Cách nhìn vào hiện thực và con ngờicủa các nhà văn đi vào các vấn đề đời t, đời thờng và thế sự đạo đức đadiện nhiều chiều và phức tạp hơn

Con ngời trong văn học sau 1975 là một tiểu vũ trụ vô cùng phứctạp, chiều sâu tâm hồn khó nắm bắt Cái tốt, cái xấu đan xen một cáchlẫn lộn, có khi cái cao cả, cái thấp hèn cùng tồn tại trong một con ngời.Con ngời với những niềm vui và nỗi buồn, trong sự phấn khởi và nổi đautrong niềm tin và sự hoài nghi chính đáng Bên cạnh đó, quan niệmnghệ thuật về con ngời đổi mới đã kiến ngời viết phải mở rộng chân trờitìm kiếm của mình đến những góc khuất và nhìn thấy ngoài cái "conngời xã hội kinh điển còn có một loạt những con ngời trong cùng xã hội

và ngay trong cùng một con ngời" [8] Có thể nói, đây là thời kỳ màtrong văn học con ngời đợc soi chiếu từ nhiều phía Cho nên, hiện thựccuộc sống nó trở nên gần gủi với hiện thực vốn có của cuộc đời

3 Văn học Việt Nam sau 1975 viết về đề tài đời t và thế sự

nh trớc nữa Một mảng hiện thực lớn trớc đây hầu nh bị bỏ quên nay đợc

Trang 20

đặc biệt chú ý: đó là vấn đề đời t và thế sự đạo đức trong văn học Mọivấn đề của cuộc sống, hay nói cách khác tất cả những gì liên quan đếncon ngời đều đợc các nhà văn quan tâm và đa vào tác phẩm của mình.

Từ những vấn đề lớn của lý tởng sống, đấu tranh giải phóng dân tộc,xây dựng chủ nghĩa xã hội đến những vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống

đời thờng đều đợc các nhà văn quan tâm

Nh với tập "ánh trăng" - Tập truyện ngắn đợc giải của cuộc thitruyện ngắn báo Văn nghệ năm 1991 gồm mời hai câu chuyện, nhng chỉ

có "Ngời vãi linh hồn" là viết về ngời lính và chiến tranh, còn lại mờimột truyện đề cập đến vấn đề đời t và thế sự đạo đức Tập "Truyện ngắnchọn lọc" của Vũ Thị Hảo gồm hai bảy câu chuyện chỉ có hai truyện

"Ngời sót lại của rừng cời" và "Biển cứu rỗi" viết về đề tài chiến tranhcách mạng Hay truyện ngắn trên Báo Văn nghệ (Tuyển 1987 - 1995)với hai mốt truyện thì có một truyện "Ngời cha có chiến công" là viết vềngời lính cách mạng, còn hai mơi truyện viết về đời t đời thờng: ngời tàntật hát rong (Ngời đàn ông duy nhất); Về ngời thân trong gia đình (Nỗibuồn của ông); Về các ngời đàn bà bình thờng (Giai nhân, ngời đàn bà

họ Hoàng, thợ nhuộm tóc ) Có thể nói, muôn mặt đời thờng đều gópphần trên những trang truyện ngắn của các nhà văn Chúng ta có thể

kể các nhà văn sau 1975 viết về đời t và thế sự đạo đức nh: NguyễnMinh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng,Nguyễn Quang Lập, Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn MinhDậu, Nguyễn Thị Thu Huệ

Trớc đây, với t duy sử thi và cảm hứng lãng mạn, cách nhìn cuộc

đời và con ngời của các nhà văn chủ yếu là cách nhìn đơn giản, mộtchiều, phiến diện hết sức rạch ròi: Thiện - ác; địch - ta; cao cả - thấphèn, không hề có sự lẫn lộn giữa hai ranh giới đó, ngời đọc có cảm giácnắm bắt, hiểu đợc con ngời một cách dễ dàng Khi tiếp xúc với con ngờisau 1975 thì lại khác, con ngời ở đây là một tiểu vũ trụ vô cùng phứctạp, cái xấu cái tốt đan xen lẫn lộn trong một con ngời Các nhân vật:lão Khúng, Lực (Nguyễn Minh Châu), Thuỷ (Nguyễn Huy Thiệp) thực

sự là những cá tính không hề giống ai, nhng lại hiện hữu trong muônmặt của cuộc sống đời thờng

Văn học giai đoạn này lẽ sống đạo đức "Mình vì mọi ngời" là lẽsống trớc kia ở một số ngời không còn nữa Họ sống rất lạnh lùng, lònglạnh tanh máu cá trớc sự đau xót của đồng loại, ngời thân Những phẩmchất đạo đức tốt đẹp: Cha con, anh em, chị em, vợ chồng bị phá vỡ, họquay cuồng kiếm tiền bằng mọi giá Những điều tốt đẹp mà cha ông ta

đã đúc kết qua cách ứng xử với nhau trong cuộc sống tình cảm nh: "Mộtgiọt máu đào hơn ao nớc lã"; "Trẻ cậy cha già cậy con"; "Chị ngã emnâng"; "Công cha nh núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ nh nớc trong nguồn chảyra " không còn đúng với một số gia đình Với ngòi bút đầy trách nhiệm,các nhà văn đã cảnh tỉnh những ngời bị xuống cấp về mặt đạo đức

Truyện ngắn "Một giọt máu đào" của Mai Huy Thuật là một ví dụ:Tác giả miêu tả một gia đình có hai anh em Duy và Thoa Duy đi xuất

Trang 21

khẩu lao động ở Irắc Sự kiện vùng Vịnh khiến Duy bỏ của chạy lấy

ng-ời Tay trắng về Việt Nam, lại phải cu mang một gia đình đông con, vợcon thất nghiệp Duy phải xoay sở kiếm sống, nhng kẹt vì không có vốn.Trờng -là bạn, em kết nghĩa từ khi còn ở IRắc mách có nơi bán chiếc xemáy rẻ có sáu chỉ và cho vay hai chỉ Cộng với hai chiếc nhẫn cới của vợchồng, Duy thiếu hai chỉ, anh đến nhờ mẹ sang vay Thoa (em gái) Thoarất giàu vì có con đi lao động vuất khẩu ở Đức Mẹ trình bày hoàn cảnhcủa anh và mong Thoa giúp anh ruột vay hai chỉ để mua xe làm phơngtiện kiếm sống Cô Thoa đã nói lạnh tanh: "Cho bác ấy vay, con biếttính lãi thế nào? Ngộ bác ấy dây da không trả thì chết con" Trong khi

đó nếu không có thêm hai chỉ thì lỡ mất thời cơ mua đợc chiếc xe giá hời.Bạn anh - Trờng - đã bàn với vợ bán thêm chiếc đài cho Duy vay Đủsáu chỉ, Duy đã mua đợc xe và đi xe ôm hàng ngày kiếm sống nuôi gia

đình Câu tục ngữ "Một giọt máu đào hơn ao nớc lã" đã trở thành câunói mỉa mai trong gia đình của Duy - Thoa ở đây ngời đọc thấy "Nớclã" lại hơn "Giọt máu đào"

Nếu câu chuyện kết thúc ở đây, thì ý đồ phê phán cũng đã rõ

Nh-ng tác phẩm lại để câu chuyện kéo dài thêm một đoạn, để Nh-ngời đọc thấmthía thêm sự thật đau lòng về sự lạnh lùng trong tình cảm con ngời củacơ chế thị trờng: ít lâu sau, không may con cô Thoa bị bỏng xăng nặngphải đa đến bệnh viện cấp cứu Cô Thoa lúc này cần ngời giúp đỡ, nênchạy đến Duy cầu cứu anh cho da để vá cho con Vì biết cô đối xử tàn tệvới bố mình, nên con Duy (chàng trai hơn một năm thất nghiệp) đãtuyên bố lạnh tanh: "Không có gì mà bố phải suy nghĩ Cơ chế thị trờng,cô có mua da cháu bán Hơn một năm nay thất nghiệp, cháu đang cầntiền đỡ cho bố mẹ cháu Da cháu cũng bán, máu cháu cũng bán, mờingàn đô la một xăng ti mét vuông Cô thiếu gì tiền, mua bao nhiêu cháucũng bán Có điều mẹ cháu xin cô tha cho bố cháu" Kết thúc truyện tathấy Mai Huy Thuật đã chỉ ra chỗ tai hại của mặt trái cơ chế thị trờng,

nó làm phá vở những mối quan hệ tình cảm vốn tốt đẹp mà cha ông ta

đã vun đắp hàng nghìn năm Quan hệ anh em nh chân với tay "xẩy chacòn chú, xẩy mẹ bú gì" không còn nữa Mặt trái của cơ chế thị trờngkhông chỉ làm hỏng về mặt đạo đức của cha mẹ mà còn có thể làm hỏngcả thế hệ con cái chúng ta trong tơng lai

Nếu nh câu chuyện "Một giọt máu đào" nói về tình anh em, thìtruyện ngắn "Trẻ cậy cha già cậy ai?" của Trung Đức là một truyện đềcập đến tình cha con, đây là một truyện bi hài Câu tục ngữ: "Một mẹnuôi đủ mời con' nhng mời con không nuôi đợc một mẹ" thật là đúng

Câu chuyện kể về bốn ngời con trai đợc bố cho ăn học đỗ đạt làmviệc to, tài sản giàu có nhng không ai nuôi bố Ông bố phải đi ăn xin, rồitrong thời gian đi ăn xin đó ông gặp một ông đồ sống thanh bạch, annhàn, hạnh phúc, và rồi cụ đồ trao cho ông một hộp nhỏ bằng bao diêm

bỏ trong một túi vải đỏ Bi hài thay, bốn cậu con trai và bốn nàng dâucủa ông già ăn xin phát hiện ra bố dấu trong quần một bọc, họ cho làvàng và ai cũng mong đợc ông che phần Và thế là cụ đến nhà ai cũng đ-

Trang 22

ợc chăm sóc chu đáo Họ thi nhau nuôi dỡng Tình bố con bề ngoài làmcho làng xóm vui mừng, họ cho rằng con các cụ đã phục thiện Có ai biếtbốn ngời con đều muốn đợc cụ chia cho bọc vàng đang cất dấu trong ng-

ời Nhng, ông cụ cũng mất Ma chay cho bố xong, tất cả mọi ngời họpmặt, cửa nhà đóng kín, cái túi đỏ đợc mở ra Một cục vàng, đúng vàngrồi Mọi ngời xuýt xoa xem chừng có hai lạng tây Mỗi ngời cầm lên xemthử Vợ ông cả cuống quýt đánh rơi đến nỗi cục vàng vở tan Một mảnhgiấy văng ra, có hai hàng chữ:

"Bốn con không nuôi đợc bốNhờ cục đất này nuôi bố sống đến hôm nay"

Cái kết của câu chuyện quá bất ngờ đối với bốn ngời con trai, vàbốn ngời con dâu Nhng làm ngời đọc hả hê, là một bài học thấm thíacho những con ngời ăn ở bất nhân, bất hiếu với bố mẹ

Hay "Hạnh" của Nguyễn Minh Dậu lại khai thác vấn đề đạo đức ởhai chị em gái, tác giả lấy câu ca dao: "Sông sâu còn có kẻ dò; Lòng ngờinham hiểm ai đo cho tờng" Nguyễn Minh Dậu đã lên án thói bội nghĩavong ân của ngời đời trớc sự hy sinh của ngời khác

Văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng, không chỉ ở các nhàvăn chúng tôi kể trên mà ở mảng đề tài đời t và thế sự đạo đức,Nguyễn Huy Thiệp cũng hớng ngòi bút của mình vào cuộc sống muônmặt của đời thờng và sự suy đồi, băng hoại về đạo đức ở mỗi con ngời:Thuỷ (Tớng về hu); Bờng (Những ngời thợ xẻ); Đoài (Không có vua);Chiểu, Phong (Giọt máu) Tất cả những nhân vật suy thoái về đạo

đức cũng đợc Nguyễn Huy Thiệp đa vào tác phẩm của mình, làm chongời đọc có thể hiểu rõ hơn về vấn đề đời t và thế sự đạo đức của vănhọc sau 1975

Do vậy, văn học đã phanh phui, lên án và cảnh tỉnh con ngời: đờisống vật chất có thể đầy đủ hơn, nhng có thể đạo đức lại sa sút, bănghoại Sự lo lắng đó của những cây bút nhà văn đầy trách nhiệm này gópphần lu ý xã hội chúng ta sống tốt đẹp hơn, văn minh hơn, đạo đức hơn

ở thế kỷ tiếp theo Bởi lẽ, văn học thời kỳ này thế lực đồng tiền đã biếncon ngời thành quỹ dữ, mất hết nhân tính Vì vậy, những truyện viết về

đời t và thế sự đạo đức vẫn rất cần thiết và đáng khuyến khích hơn.Nhà văn Nguyên Ngọc đã nói: "Có một điều thú vị: Hành trình văn học

ta mấy năm qua từ cố gắng rút ra khỏi đề tài số phận chung của cả khốicộng đồng nhất, đi đến hiện thực xã hội ngổn ngang với nhiều tính chấttả thực vội vã rồi tiếp tục đi sâu vào thế giới bên trong từng con ngời,cuộc hành hơng vô tận, cuộc tìm kiếm khó nhọc bên trong thế giới riêngmỗi con ngời Hành trình ấy không phải là một hành trình thu hẹp dầnphạm vi quan tâm của văn học, ngợc lại đó là hành trình mở ra ngàycàng rộng hơn, phong phú, đa dạng hơn của văn học

Nh vậy, văn xuôi nói chung và truyện ngắn sau 1975 nói riêng,

đã bổ sung một mảng hiện thực to lới trong đời sống mà văn học 1945

-1975 trớc đây hầu nh bỏ quên Do đó, hiện thực cuộc sốngg trong các

Trang 23

trang văn đầy đủ phong phú hơn, gần hơn với hiện thực vốn đang tồntại Văn học sau 1975 "thực hơn", "đời hơn"

Chơng 2:

truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp viết về đời t và

thế sự đạo đức (xét trên phơng diện nội dung)

I Vị trí văn học sử của Nguyễn Huy Thiệp trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.

1 Vài nét về tiểu sử

Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950 tại Phúc Yên trong một gia

đình có nhiều éo le về hoàn cảnh Bố là trởng họ Nguyễn Huy, mời bốntuổi đã phải lăn lộn đa em gái vào Nam, vì sống không đợc với dì ghẻrất nghiêm khắc và độc ác (Ngời làm lấy trộm quả trứng gà, bà bắt trói,lấy trứng ném vào mặt cho đến chết) Mẹ Nguyễn Huy Thiệp ngời LàngMộc quan nhân (làng Vũ Trọng Phụng) ở ven sông Tô Bà cũng phảitrốn nhà đi vì không chịu đợc sự hành hạ của bà dì

Cách mạng nổ ra, bố Nguyễn Huy Thiệp ra làm thẩm phán, ông làngời giàu lòng thơng ngời, vì theo Nguyễn Huy Thiệp hồi tởng "ông cụthấy ngời ta ngồi tù oan bèn thả ra thế là ông vào ngồi đúng vào chỗấy" Tuổi thơ Nguyễn Huy Thiệp không êm ả trôi qua, mới chào đời đợc

Trang 24

mấy tháng đã nằm trong thúng mẹ chạy giặc Và nhà văn của chúng talớn lên trong sự bao bọc của mẹ, ông ngoại và ngời cha xứ tên Tất Cả

ba ngời đều nghèo nhng thơng ngời

Năm 1970 Nguyễn Huy Thiệp lên Tây Bắc dạy học Đến 1980quay về Hà Nội mặc dù có lắm gian nan Anh tâm sự: "Xin mãi tay tổchức không cho về, không thèm tiếp chuyện Tôi mợn khẩu súng lục của

ông bạn kiểm lâm đến gặp, bảo có cấp giấy về xuôi không? lão bảo có".Nhng sự đời đi dễ khó về, cha ông đã nói là không sai Lận đận mãianh cũng không chết với nghề đợc, phải rẽ sang làm một nghề cũngthuộc ngành giáo dục nhng không đứng lớp Nguyễn Huy Thiệp là mộtngời giàu cá tính, không khuất phục trớc cuộc đời Nhng rồi anh cũngphải bỏ công việc ấy, anh chỉ còn lo kiếm ăn và kiếm truyện "lúc đó tìnhhình phức tạp lắm, các ông ở hội nhìn ngó nghe ngóng ít ngời viết lắm.Tôi gặp nhiều ngời đọc họ nghĩ bụng cũng kinh, nếu mình viết tức làmình chống lại họ, nhng tôi cứ viết"

Nguyễn Huy Thiệp rất ít thức đợc bớc đờng mình phải trải qua,anh vẫn viết và vẫn tiếp tục cống hiến tác phẩm hay cho công chúng.Nguyễn Huy Thiệp có bản lĩnh, có khát vọng và mang sẵn trong mìnhmột tinh thần tranh đấu, trang viết của anh có vẻ lạ lùng, tàn nhẫn nh-

ng thực chất anh là con ngời có tấm lòng đôn hậu Những trang viết củaanh đã từng gây sóng gió cho gia đình anh Khi anh mới viết truyện, vợanh đi đến đâu cũng nghe ngời ta xì xào bàn tán chống lại phản động,chỉ toan tự tử nhng may có ngời vứu kịp Nguyễn Huy Thiệp vẫn tiếptục viết, anh tự tin: "Tớ còn nhiều vốn sống lắm, vốn sống về cái làngnày chẳng hạn"

Là một ngời làm việc không biết mệt mỏi: viết truyện, kịch bảnsân khấu, kịch bản điện ảnh ở mảng đề tài nào cũng có đóng góp, nh-

ng khi đợc hỏi: liệu có triển vọng giải nôbel cho Việt Nam không? AnhThiệp bảo: "Giải nôbel sau lng họ là cả một dân tộc" Có lẽ sau baothăng trầm anh đang mất hy vọng và thu mình lại? Gần đây truyệnngắn của anh xuất hiện ít, phải chăng anh đang nghiền ngẩm để xuấthiện ấn tợng hơn và bạn đọc luôn chờ đón anh

Nguyễn Huy Thiệp rất yêu gia đình mình, không có gì bằng đợcgia đình Cuộc đời đã dạy cho anh chân lý đó và anh tôn thờ nó Toàn bộsáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đều quy về một triết lý: "Tôi chỉ hớngtới thiên nhiên, thiên nhiên là điều tuyệt vời nhất Hãy tôn trọng thiênnhiên, môi trờng sống của mình, tôi không muốn thì ngoài kia hoa vẫn

nở, chim vẫn hót liên miên Thiên nhiên bao gồm cả con ngời và cuộcsống, mọi cái đẹp và sáng tạo thực ra đều ẩn dấu trong thiên nhiên,trong văn chỉ việc tìm và thấy chúng" Nguyễn Huy Thiệp xem thiênnhiên là chuẩn mực cao nhất để ông hớng tới trong tác phẩm của mình.Nhà văn là một ngời đam mê sáng tạo và sống hết mình vì cuộc sống.Anh Thiệp đến với văn chơng hơi muộn, nhng lại gây đợc ấn tợng mạnh

đối với độc giả: "Tôi trải nghiệm nhiều cuộc sống, đi liền với các nghềnghiệp: dạy học, làm viên chức, vẽ tranh, bán quán ăn đặc sản, làm

Trang 25

gốm, nhng chỉ nghề viết văn là còn lại" Mỗi nghề đối với anh Thiệp chỉ

là một sự thử nghiệm, mỗi nghề giống nh sự mở ra, đóng lại những cuộcchơi trong cuộc chơi đó anh "muốn đợc thực sự là ngời trong cuộc" Dùcho ngắn ngủi cũng không làm ngời quan sát mất vui Nguyễn HuyThiệp muốn mình phải trải qua những vật lộn sinh tồn của mỗi nghềlàm, tất cả để có vốn sống thực sự đầy ắp cho ngời viết" Phải chăng đóchính là sức lôi cuốn mà truyện ngắn anh đã và đang đem lại cho độcgiả

2 Quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp.

Nguyễn Huy Thiệp đến với bạn đọc lần đầu tiên là "Những truyện

kể bất tận ở thung lũng Hua Tát" trình làng vào tháng 11 năm 1987 làmòn quá đầu tiên ra mắt bạn đọc trên báo văn văn nghệ Cũng nhnhiều nhà văn khác, Nguyễn Huy Thiệp cha gây đợc ấn tợng mạnh vớitác phẩm đầu tiên Nhng cái khác của anh là tên tuổi nối theo tỷ lệthuận với quá trình sáng tác, càng viết càng hay, càng gây đợc sự chú ý

và yêu thích của độc giả "Truyện cha ra thì nhiều ta kháo nhau, truyện

đăng rồi thì tranh nhau tìm đọc, đọc rồi thì gặp nhau bình phẩm bàutàu, nhắc đến "Truyện Kiều" ngời ta nhớ ngay đại thi hào Nguyễn Du,Nhắc đến "Bình ngô đại cáo" là nhớ ngay đến Nguyễn Trãi và gần đâyBảo Ninh với "Nổi buồn chiến tranh" Lê Lựu là "Thời xa vắng" Thì với

"Tớng về hu" Nguyễn Huy Thiệp đã đỉnh đạc bớc vào làng văn và dành

đợc chỗ đứng trong lòng độc giả Một bậc đàn anh có tên tuổi đã ớc đổicả đời văn để có đợc một Tớng về hu nh của anh Thiệp Điều đó cũng đủnói lên tài năng văn chơng của anh, không nh một vài tài năng khác, chỉ

để đời một tác phẩm u tú rồi chùn vào thời gian nh: Vũ Đình Liên, HữuLoan, Thâm Tâm Nguyễn Huy Thiệp luôn liên tiếp khẳng định tàinăng của bản thân và giữ trọn niềm tin yêu của công chúng bằng những

đứa con tinh thần độc đáo hấp dẫn: Không có vua, Sang sông, Kiếm sắc,Vàng lửa, Phẩm tiết, Chảy đi sông ơi Và tiếp đó lần lợt nhiều cuốn sách

về Nguyễn Huy Thiệp và sáng tác của anh ra mắt bạn đọc

+ Nguyễn Huy Thiệp tác phẩm và d luận - NXB trẻ 1989+ Con gái thủy thần - NXB hội nhà văn 1992

+ Những ngọn gió Hua Tát - NXB văn hóa TT.HN.1994+ Nh những ngọn gió - NXB văn học 1996

+ Ma Nhã Nam - NXB hội nhà văn 2000+ Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp - NXB phụ nữ 2001

Không kể song song với sáng tác, hàng loạt bài báo, bài nghiêncứu viết về tác phẩm của nhà văn in liên tục trên các phơng tiện thôngtin: tạp chí văn học, báo văn nghệ, báo gia đình, báo thể thao văn hóa,báo quân đội nhân dân, báo tiền phong Và gần đây nhà báo PhạmXuân Nguyên đã tuyển chọn những bài viết tiêu biểu in thành tập "Đitìm Nguyễn Huy Thiệp" do NXB văn hóa thông tin 2000 ra mắt bạn đọc,

nó sẽ là sợi dây nối vòng tay lớn giữa độc giả với giới nghiên cứu về

Trang 26

Nguyễn Huy Thiệp và cũng là một đóng góp lớn của nhà văn khi đến vớivăn chơng.

II Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nguyễn Huy Thiệp.

1 Cái tâm của Nguyễn Huy Thiệp trong việc thể hiện con ngời

Từ xa đến nay, sứ mệnh cao cả của văn chơng là thanh lọc tâmhồn con ngời Quyền lực cao nhất của ngời nghệ sĩ là quyền đợc nói và đisâu vào nỗi đau để từ đó thức tỉnh lơng tâm bằng chính nỗi đau đó Bất

kỳ một nhà văn hay một cá nhân nào khi cầm bút đều đặt ra cho mìnhmột mục đích Nghệ thuật là sự thăng hoa của tâm hồn, mà tâm hồn chỉthăng hoa khi ở hai thái cực: đau đớn và hạnh phúc Ngời nghệ sĩ tàinăng hơn ngời chính là vì nỗi đau và niềm hạnh phúc đó đi qua tâm hồn

họ, ra đời và có đời sống riêng độc lập của nó, có khả năng giúp ngờikhác thấy và đồng cảm với cảm xúc của mình Đó có thể gọi là lòng yêuthơng, sự thơng cảm hay nói cách khác là cái tâm có sẵn trong lòng củamỗi ngời cầm bút

"Tâm" theo từ điển tiếng Việt là trái tim, là mặt tình cảm ý chícủa con ngời Chữ "tâm" thờng đi với chữ "tài" cũng nh chữ "đức" làmột khái niệm thuộc nhân cách con ngời Cái tâm của ngời nghệ sĩ làtrái tim nhân hậu, tình cảm trong sáng khi nhìn nhận đánh giá conngời và ít thể hiện trong sáng tác, trong chất lợng và hiệu quả của tácphẩm

"Chữ tâm trong văn học đó là tấm lòng nhân ái và sự thành tâmvới con ngời" (Hoàng Ngọc Hiến)

Có thể nói rằng, không ở đâu lòng nhân ái của con ngời đợc thểhiện cụ thể và sinh động nh ở trong tác phẩm văn học Văn học củachúng ta là nền văn học nhân bản, mang tinh thần nhân đạo bao la

ở giai đoạn nào cũng có quan niệm riêng về cái tâm của ngời nghệ

sĩ Nhà văn là một con ngời Sáng tạo cũng là một hành động xã hội củanhà văn, tức cũng là thứ hành vi giao tiếp ứng xử của con ngời với conngời trong xã hội Có những nhà văn tài lớn, tâm lớn nh Nguyễn Du, cónhững nhà văn có tài mà vô tâm, thậm chí nhẫn tâm, ác tâm, dã tâm,manh tâm, phổ biến là tiểu tâm Những nhà văn đó tác phẩm của họ cóthể hấp dẫn, thu hút song có nhiều tác dụng tai hại cho con ngời, cho xãhội, cho đất nớc Có tài mà ác tâm nhiều khi chẳng bằng vô tài Cái

"tâm" không thể thay thế đợc cái tài, song khi có "tài" rồi thì cái "tâm"vô cùng quan trọng Càng quan trọng hơn nữa là trong xã hội phức tạp,trong thế giới phân tranh cái "tâm" ấy thuộc về ai và mục đích gì, lý t-ởng gì?

Giờ đây dân tộc đang sống trong hòa bình, chiến tranh đã lùi xagần ba mơi năm nhng không phải dấu ấn của nó đã phai tàn Cùng với

sự đổi mới của đất nớc, văn học cũng trên đà thay da đổi thịt Nhng

Trang 27

d-ờng nh chúng ta vẫn cảm thấy bị vây giữa cái nghèo, cái bi, cái đê tiệnphi lý, uất ức Sứ mệnh của văn học đã thay đổi Khuynh hớng sử thi vàanh hùng ca tỏ ra lạc hậu không phản ánh đúng bản chất cuộc sống, xarời quần chúng Những ngời cầm bút có trách nhiệm đã ý thức đợc tráchnhiệm đó và họ đã mạnh dạn đi tìm cái mới, khám phá con ngời ở gócnhìn của đời sống Hàng loạt cây bút nổi lên nh: Nguyễn Minh Châu,Bảo Ninh, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp Những nhà vănnày đã đi thẳng vào cuộc sống, đánh giá lại quá khứ, dự cảm về tơng laikhông chỉ là màu hồng, là lạc quan Văn chơng của họ nhiều khi khiếnngời ta tuyệt vọng "nhng chính khi tuyệt vọng con ngời ta đợc chiêm ng-ỡng một thực tại lớn lao hơn những gì nó có, cảm giác này càng mạnhkhi con ngời càng lún sâu vào bóng tối" Tấm lòng của nhà văn khônghiện lên sừng sững cụ thể mà mờ ảo, biến chuyển đòi hỏi ngời tiếp nhậnphải có quá trình đồng sáng tạo mới mong khám phá đợc vẻ đẹp của tácphẩm Ngời đọc ngày nay càng phải có bản lĩnh vì "có những ngời yếu

đuối, lời biếng và chết chìm trong nỗi tuyệt vọng của mình" khi đọc xongmột tác phẩm văn học nhng cũng có ngời lấy đó làm bàn đạp để nhảyqua vực thẳm dới chân mình

Đối với văn chơng trớc thực trạng đó "tác phẩm có thể lấy đề tài

là cái ác nhng tuyệt nhiên tác giả không đợc độc ác Ngời cầm bútphải hiểu rằng "ngay trong một con ngời dù cho cái thiện là chủ đạo,cái ác vẫn có mầm sống để tái sinh Cả xã hội là tích cực nhng cáitiêu cực vẫn tiếp tục nãy nở Bởi chúng có đất sống đó là những mầmsống của cái ác trong từng con ngời" Ngời viết văn có thể sai lầm, nh-

ng mỗi nhà văn khi cầm bút đều có cốt lõi của mình, đó là cái "tâm",

"thiện tâm"

Để định nghĩa cái tâm đó thật khó vì nó: "trừu tợng mà cũng thật

cụ thể Nó sinh ra cùng với nhân loại và nhân loại tồn tại, con ngờithành ngời là nhờ nó Nó là "nỗi lo tày non chung" của "ông thầy thơnghìn đời" - Đỗ phủ, là tấm lòng u ái đêm ngày cuồn cuộn nớc triềudâng" của Nguyễn Trãi, là "năm canh nặng nỗi đau đời" của Hồ ChíMinh, là "sự quỳ lạy trớc nỗi thống khổ của toàn nhân loại" của

Đôxtôiepxki Quyền lực tối thợng của ngời nghệ sĩ là quyền đợc nói nỗi

đau ấy mà thanh lọc tâm hồn con ngời

Khi bớc vào nghệ thuật, ngoài tài năng ai cũng cần một tấmlòng, một cái tâm để dù đau đớn đến đâu vẫn biết rằng cần yêu đời và

đời vẫn đáng yêu "Mặc dù bao nhiêu mất mát, tôi vẫn yêu đời thắmthiết, yêu đời vì tôi nghiêm trang trong dự định bắt đầu đời sống củamình Đó là nét chính của bản tính và có lẽ của tác phẩm của tôi"(ôxtôiepxki) Những ngời nghệ sĩ chân chính đều tự do phát huy bảnchất tốt đẹp nhất mà mỗi con ngời có thể có, là tự do phát triển nhữngkhả năng của những Nguyễn Du, Phan Bội Châu tiềm tàng trong mỗicon ngời chúng ta, là tự do đem hết tài năng, cá tính sáng tạo, bảnlĩnh nghệ thuật và nhiệt tình, dũng khí của mình ra để làm ra những

Trang 28

tác phẩm phù hợp với một lơng tâm tốt lành nhất mà mình hằng ôm

ấp, với một động cơ trong sáng mà mình hằng tự hào, với một mục

đích cao cả nhất mà mình hằng theo đuổi là phục vụ Tổ quốc, phục vụnhân dân, phục vụ loài ngời tiến bộ Điều đó càng chứng tỏ rằng ngờicầm bút càng phải vững vàng trên con đờng mình đã chọn đó là phục

vụ nhân dân, phục vụ điều thiện, phục vụ xã hội tốt đẹp trong bất kỳhoàn cảnh nào

Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng nói: "Ngời viết nào cũng

có thể có tính xấu nhng tôi không thể nào tởng tợng một nhà văn màlại không mang nặng trong lòng mình một tình yêu cuộc sống và nhất

là tình yêu thơng con ngời" Tình yêu này của ngời nghệ sĩ vừa là mộtniềm hân hoan say mê vừa là một nỗi đau đớn khắc khoải Một nỗioan hoài thờng trực về số phận của những ngời xung quanh mình.Cần giữ tình yêu lớn ấy trong mình nhà văn mới có khả năng cảmthông sâu sắc với những nỗi khổ đau, bất hạnh của ngời đời, chỉ ra vàgiúp họ vợt qua khủng hoảng tinh thần và đứng vững trớc cuộc sống

Đó chính là "cái tâm" của ngời nghệ sĩ

2 Quan niệm nghệ thuật

2.a Con ngời đa dạng, phong phú, phức tạp.

Khi đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ấn tợng đầu tiên có lẽ

là thế giới nhân vật hết sức phong phú và đa dạng của ông chúng ta

có cảm giác dờng nh ông đang cố gắng thể hiện tất cả vốn sống củamình trên từng trang sách, trong ý nghĩa cao nhất khi sáng tác cáctác phẩm là miêu tả tất cả các chiều sâu của tâm hồn con ng ời Với

điểm nhìn nghệ thuật về con ngời đó Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ranhiều hớng khác nhau để tiếp cận hiện thực: đi sâu vào con ngời đời

t, đời thờng Nguyễn Huy Thiệp đã tìm cách phân tích các mối quan

hệ sâu kín của những hiện tợng và tình huống cá biệt để làm nên cáiphức tạp, phong phú và sống động của cuộc sống

Đó là chị Thắm (Chảy đi sông ơi) một con ngời dịu dàng, hiềnlành, chân thành ở bến sông Suốt cuộc đời chị chỉ biết sống cho đồngloại, hy sinh hết thảy cho cuộc đời Chị cứ âm thầm, lặng lẽ sống bêndòng sông quê yêu thơng Dòng sông mà chị đã cứu sống biết baonhiêu ngời, mang cho họ những khao khát yêu thơng, cháy bỏng vìcuộc đời Chị là hiện thân của sự bất tử, cái bất tử vĩnh hằng luôn tồntại trong tâm linh con ngời Hay cái đẹp đức hạnh của Sinh (Không

có vua) một con dâu, chị dâu trong gia đình "Không có vua" Cô đãphải trải qua cuộc sống tối tăm, lạc loài trong một gia đình hoang dã,

có lối sống xô bồ, thực dụng, nhng cô vẫn sống, vẫn toả ngát vẻ đẹptâm hồn trong sáng của mình

Một nhân vật tôi trong "Những ngời thợ xẻ" là một con ngời đãtrải qua đau thơng, trải qua sự lừa dối của một ngời con gái, cho nêncuộc đời với anh nhìn trong con mắt bi quan, tuy sự bi quan đó tạo ra

Trang 29

cho nhân vật Nguyễn Huy Thiệp sự cô đơn Nhng cái đẹp thiêu nhântrong con ngời anh không bị bào mòn đi Nó trở thành linh cảm, giácquan để bảo vệ cho sự trong trắng tinh khiết của con ngời.

Và vẻ đẹp hoàn mỹ lung linh nhất lại đợc Nguyễn Huy Thiệpxây dựng trong hình tợng Xuân Hơng Ngời đàn bà nàng là thiệnnhân của tất cả những gì cao cả, tốt đẹp của con ngời Xuân hơng hiệnlên qua tâm cảm của Tổng Cóc, rồi trong mắt ấm Huy Nàng tồn tạigiữa bao ngời mà không bị che lấp Dờng nh khi xây dựng nhân vậtnày Nguyễn Huy Thiệp đã đặt hết tâm bút của mình vào vẻ đẹp giản

dị đó Vẻ đẹp của mỗi con ngời phải đợc chính cuộc đời và thời gianminh chứng

Tuy nhiên những nhân vật này ít xuất hiện trong truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp, mà chủ yếu trong các tác phẩm này những conngời đời thờng, với những mặt trái của mình đợc xây dựng rất đadạng và phong phú Tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sốnghiện tại, không ngần ngại nêu lên những sự bê tha, nhếch nhác trongcuộc sống Con đờng tiếp cận hiện thực phức tạp trong cuộc sống đó đ-

ợc Nguyễn Huy Thiệp đi sâu với một thái độ rõ hơn qua tác phẩm

"Huyền thoại phố phờng", nhân vật không chỉ là lời cảnh báo về sựtha hóa, mà nó còn là kết quả của một quá trình suy đồi, đi xuống củacon ngời

Chính t tởng trong mỗi con ngời thờng bao giờ cũng có nhữngmặt cha hoàn thiện nếu không biết giữ mình, không biết cảnh giác thìrất có thể sẽ bị cái phần cha hoàn thiện kia lấn át, chinh phục T tởng

có lúc Nguyễn Huy Thiệp nói khá trực diện trong: "Muối ở rừng", ôngmuốn mọi ngời cùng làm một cuộc đối chứng với loài vật Một cuộc đốichứng giữa thiện và ác, giữa lý trí và bản năng mù quáng, nhữngkhoảng bóng tối còn rối rít lại bên trong tân hồn mỗi ngời, đó làmiếng đất nơng náu và gieo mầm của tội ác Qua mối liên hệ giữa conngời với vợ chồng nhà khỉ, nhà văn cho ngời đọc nhận ra rằng: Docuộc đấu tranh để tồn tại mà ngời ta chỉ nhớ vẻn vẹn cái đạo làm ngời

nh một cái gì để đời , mà tởng chừng có thể quên đi những quy luậttồn tại của sự vật "Muối ở rừng" là sự khảo sát cái thế giới bí ẩn,khuất lấp, đầy bất trắc, bất thờng nằm tồn tại bên trong bản thể, nónằm bên trong ý đồ nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp qua đối chứng,trớc tiên để con ngời hiểu con ngời và sau đó là để con ngời hiểu tựnhiên, lịch sử

Do xây dựng cho mình một thế giới nhân vật là những con ngờicha hoàn thiện Cho nên, nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp thờng cókhát vọng tìm chân lý của cuộc sống, đặc biệt là khát vọng tìm lạichính mình ở khía cạnh này ngòi bút của ông thờng xuyên đi sâu vào

đời ssống nội tâm, tìm đợc sự giao cảm với con ngời ở những niềm vui,nỗi buồn, sự mất hay đau khổ Điều này đã đa lại cho sáng tác của

Trang 30

Nguyễn Huy Thiệp có nhiều giá trị nhân đạo mới Đó là sự khát khao

đi tìm cho mình một tình yêu đích thực của nhân vật Chơng (Con gáithuỷ thần) ở cậu bé Đăng (Tâm hồn mẹ) lại luôn có cuộc hành trìnhtrong tâm tởng Một cuộc hành trình trốn chạy khỏi cô đơn, để tìmcho mình hơi ấm yên lành, bao dung của ngời mẹ

Nhng đặc biệt, trong khi nhìn nhận con ngời nh một quá trìnhsuy đồi về đạo đức Nguyễn Huy Thiệp vẫn nhìn thấy một khát vọng

đợc lơng thiện, thanh cao hơn Vì vậy, khi xem con ngời nh một sảnphẩm không hoàn thiện, là một bi kịch, tác giả vẫn thấy ở đó có một

cố gắng để thoát khỏi bi kịch cuộc đời, vơn đến sự hoàn thiện Chonên, bản chất của con ngời theo ông còn là hiện thân của những khátvọng, luôn luôn ẩn chứa trong con ngời Truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp con ngời không chỉ có nhu cầu thoả mãn cơm áo, mà nó còn cónhu cầu khác Đặc biệt là ở con ngời bản năng, nhà văn đã để chonhu cầu bản năng tính dục bộc lộ một cách tự nhiên, sâu sắc Đã có ýkiến cho rằng: "Nguyễn Huy Thiệp là ngời thuộc lớp nhà văn sau này

đầu tiên mạnh dạn đa vào trong văn chơng những cảnh, những chitiết, những cảm xúc liên quan tính dục một cách cụ thể chứ khôngbay bớm" [9; 41]

Theo chúng tôi, đây chính là biểu hiện quan niệm nghệ thuật vềcon ngời với quá trình tìm kiếm những gì đích thực là ngời ở cái nghĩavừa tự nhiên, vừa xã hội của nó Đó là câu chuyện về "Cún" với côDiệu (Cún), Tổng Cóc với bà quận chúa họ Trần (Chút thoáng XuânHơng), của Lão Kiền với Sinh (Không có vua), Phợng và những bạn bègiàu có của Phợng (Con gái thuỷ thần) Cũng cần nói thêm rằngNguyễn Huy Thiệp là ngời có công phát hiện con ngời bản năng Nhngcái khác, cái mới của Nguyễn Huy Thiệp là bản năng ấy đã đợc nânglên thành một ý thức, một khát vọng, nhân vật thực hiện bản năng ấyvới những triết lý rõ ràng, không loanh quanh, không dấu diếm Vìvậy, con ngời trong truyện ngắn Nguyễ Huy Thiệp luôn là những conngời không hoàn thiện, là những con ngời thiếu hụt, để khát khao tìmkiếm thoả mãn cuộc sống ở cả phần vật chất lẫn bản năng tính dụccủa mình, mong muốn đợc hiến dâng và hởng thụ, đợc hòa nhập, đợcthừa nhận là "Ngời"

2.b Hoàn cảnh xã hội là môi trờng để tính cách nhân vật bộc lộ

Nh đã nói ở trên, nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn HuyThiệp hiện ra với tính đa dạng, phong phú, phức tạp Tính cách củatừng nhân vật là biểu hiện cho tính cách của một kiểu ngời trong xãhội Tính cách vừa là sản phẩm của hoàn cảnh,chịu sự chi phối củahoàn cảnh, vừa có sắc thái độc lập vốn có bên trong Tác giả đã đặtnhân vật vào từng hoàn cảnh mâu thuẫn cảm xúc, cách nghĩ, cách xử

sự của họ trớc mâu thuẫn một lôgíc nội tại

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh: Đổi mới văn học và sự phát triển. Tạp chí văn học số 4. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học và sự phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1995
2. Lại Nguyên Ân: 150 thuật ngữ văn học - NXBĐHQG.HN.1999 3. Nguyễn Minh Dậu - Hạnh: Tuyển tập truyện ngắn báo Văn nghệ. 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXBĐHQG.HN
Năm: 1999
10. Nhóm tác giả: Văn học Việt Nam 1900 - 1945. NXBGD. 2003 11. M.B.KhikptiemKo: Sáng tạo nghệ thuật. Hiện thực con ngời.Bản dịch của Nguyễn Hải Hà, Lại Nguyên Ân. NXBKHXH. 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2003
15. Gặp gỡ và trao đổi với Nguyễn Huy Thiệp. Tạp chí văn học số 5, 6. 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gặp gỡ và trao đổi với Nguyễn Huy Thiệp
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1988
4. Nguyễn Lộc: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thÕ kû XIX. NXBGD 2001 Khác
5. Tôn Phơng Lan: Một vài suy nghĩ về con ngời trong văn xuôi thời kỳ mới. Tạp chí văn học số 4. 1991 Khác
6. Nguyễn Đăng Mạnh: Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. NXBGD. HN. 1994 Khác
7. Nguyên Ngọc: Văn xuôi sau 1975 thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển. Tạp chí văn học số 4. 1991 Khác
8. Phạm Xuân Nguyên: Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp. NXBVHTT.HN. 2001 Khác
9. Nhóm tác giả: Văn học Việt Nam: Thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII. NXBGD 2004 Khác
12. Bùi Việt Thắng: Văn xuôi gần đây và những quan niệm về con ngời. Tạp chí văn học số 6. 1991 Khác
13. Bùi Việt Thắng: Nơi tác phẩm kết thúc là nơi bắt đầu văn học trẻ số 20. 1989 Khác
14. Nguyễn Huy Thiệp: Tác phẩm và d luận. NXB trẻ. Tạp chí Sông Hơng. 1989 Khác
16. Tập ánh trăng của báo văn nghệ 1991. Môc lôc Trang Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w