Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Truyện kể Genji nhìn từ văn hoá Nhật làm luận văn Thạc sĩ, với mong muốn khám phá những di sản văn hóa tinh thần Nhật Bản qua thế giới hình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ KIM OANH
TRUYỆN KỂ GENJI
NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Văn Hạnh
Trang 2NỘI DUNG
Chương 1: Bối cảnh ra đời của Truyện kể Genji 7
1.1 Bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội 7 1.1.1 Khái lược về lịch sử và xã hội thời đại Heian 7 1.1.2 Một cái nhìn khái quát về văn hoá Heian 9
1.1.4 Khái lược những chuẩn mực cái đẹp trong truyền thống văn hóa
1.3 Murasaki - hiện tượng kiệt xuất của văn học Heian 33
Chương 2: Văn hóa Nhật truyền thống qua thế giới hình tượng trong Truyện
2.1.3 Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật nhìn từ văn hoá Nhật 58
Trang 33.2 Ảnh hưởng của Truyện kể Genji đến thơ Haiku 103
3.2.2 Dấu vết của Truyện kể Genji ở thơ Haiku 107
3.3 Ảnh hưởng của Truyện kể Genji đối với tiểu thuyết Y.
Trang 41.1 Murasaki Shikibu (978?-1016?) là một nữ văn sĩ tài hoa của nền vănhọc Nhật Bản Bà là một cây bút xuất sắc trong dòng văn chương nữ lưu thờiHeian, một thời đại thịnh trị kéo dài gần bốn thế kỷ (794-1185), chứng kiến sựthành công của các nhà văn, nhà thơ nữ mà phần lớn trong họ thuộc tầng lớp
thượng lưu và trung lưu cung đình Tiểu thuyết Truyện kể Genji (Genji monogatari) được đánh giá là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của văn học Phù Tang,
là tác phẩm kinh điển của mọi thời đại đã được thể hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau như: tranh vẽ, sách, điện ảnh, âm nhạc kết tinh văn hoá Nhật hàngngàn năm trước đó
2.2 Tiểu thuyết Truyện kể Genji ra đời từ thế kỷ XI và được ghi nhận là
cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên trong văn học thế giới Khác với tiểu thuyết cổđiển Trung Quốc thiên về miêu tả hành động, Murasaki đi sâu khám phá một địahạt còn hoàn toàn mới mẻ đối với văn học bấy giờ- thế giới cảm xúc vô cùngtinh tế của con người (ở đây chủ yếu là của giới quý tộc Nhật Bản thời Heian)
Vì vậy có thể thấy, Truyện kể Genji đã mang đến một bức tranh sống động, một
cái nhìn chiều sâu về lịch sử, con người và văn hóa Nhật Bản
2.3 Trong xu thế hội nhập, từ nhiều năm nay, văn hoá văn học Nhật Bản
đã được giới thiệu, nghiên cứu và học tập trong hệ thống nhà trường ở Việt Nam,
trong đó có Truyện kể Genji Tuy nhiên cho đến nay, thành tựu nghiên cứu về văn hoá, văn học Nhật Bản nói chung, Truyện kể Genji nói riêng, chưa có nhiều
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Truyện kể Genji nhìn từ văn hoá Nhật làm luận văn Thạc sĩ, với mong muốn khám phá những di sản văn hóa
tinh thần Nhật Bản qua thế giới hình tượng của tác phẩm được xem là tiểu thuyếtđầu tiên trong văn học nhân loại
2 Lịch sử vấn đề
Trang 5Được đánh giá là một sáng tác đỉnh cao của văn xuôi Nhật Bản mọi thời
đại, Truyện kể Genji có vị trí đặc biệt trong văn học thời kỳ Heian nói riêng và dòng chảy văn học Nhật Bản nói chung Ảnh hưởng của Truyện kể Genji vì thế
được thể hiện trên nhiều phương diện trong những sáng tác từ hậu kỳ Heian đếnnay; từ văn học đến sân khấu Năm 1999 nhà soạn nhạc Minoru Miki đã chuyển
thể Truyện kể Genji thành một vở opera để trình diễn tại Nhà hát opera Saint
Louis và đã nhiều lần được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh: năm 1951 (đạodiễn Yoshimura Kozaburo thực hiện, năm 1966 (đạo diễn Ichikawa Kon thựchiện); năm 1987 đạo diễn Sugii Gisaburo cũng đã làm một bộ phim hoạt hìnhdựa trên 12 chương đầu của tác phẩm Và gần đây nhất, tác phẩm lại một lần
nữa được đạo diễn Yasuo Tsuruhashi chuyển thể thành phim với tựa đề Tale of Genji: A Thousand Year Engima (Genji nghìn năm đam mê) Điều đó cho thấy
sự ảnh hưởng và sức lan tỏa của Truyện Genji đối với đời sống tinh thần người
Nhật nói riêng và văn hóa Nhật nói chung là rất lớn Là một tác phẩm bất hủ
trong văn chương Nhật Bản và trên thế giới, từ lâu Truyện kể Genji (Genji monogatari) đã trở thành đề tài nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực Trên cơ sở nguồn
tư liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của đề tài, chúng tôi điểm lạimột số vấn đề nổi bật
Việc nghiên cứu Truyện kể Genji trên thế giới nói chung được rất nhiều
người quan tâm Theo Hoàng Thị Mỹ Nhị (Luận văn Thạc sĩ Văn học,ĐHQGHN.2008) đã có một số bài viết và công trình nghiên cứu của các học giả,
dịch giả trên thế giới về Truyện kể Genji Trong đó đáng chú ý là các công trình, như: A reader’s guide to Japanese Literature (Hướng dẫn độc giả làm quen văn học Nhật Bản) [62] Ở công trình này, J.Thomas Rimer đã đánh giá tác phẩm
trên ba khía cạnh cơ bản: tính hiện thực, cảm quan Phật giáo và niềm bi cảm tồn
Trang 6tại trong toàn bộ tác phẩm Cuốn (A dictionary of Japanese culture”(Từ điển văn hoá Nhật Bản) [38] của Seisuko Kojima và Gene A.Crane có đưa ra hai vấn đề chính trong Truyện kể Genji: âm hưởng Phật giáo và mỹ quan thẩm mỹ William
J Puett trong cuốn A Guide to the Tale of Genji (Hướng dẫn về tác phẩm Truyện Genji)[61] đề cập khái niệm aware được hiểu trong nhiều hoàn cảnh, trên nhiều phương diện và từ nhiều ý kiến tranh luận khác nhau Trong cuốn 105 key words for understanding Japan (105 từ khoá để hiểu đất nước Nhật Bản) [73] Kondo Tomie đã xác định thuật ngữ aware là kết tinh quan niệm thẩm mỹ thời kì Heian.
Con người thời Heian say mê cái đẹp, đặc biệt là nữ giới trong cung đình Trong
bài báo: Genji monogatari: a romance in three parts (Truyện Genji: tác phẩm lãng mạn gồm ba phần) [27], Leslie Inamasu đã trình bày quan điểm của mình
về tình yêu đối với ba người phụ nữ với ba tính cách, số phận khác nhau trongtác phẩm là Rokujo, Murasaki và Ukifune, nhưng cả ba hợp lại thì trở thành một
người phụ nữ hoàn hảo Trong Lịch sử văn học Nhật Bản [28] của Suichi Kato (Trần Hải Yến dịch), trong phần viết về Truyện kể Genji, tác giả cuốn sách đã
phân tích những giá trị về hình thức lẫn nội dung, phong cách, thể loại và cảm
thức về thời gian trong tác phẩm Trong Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại [39] của N.I.Kônrat do Trịnh Bá Đĩnh dịch ở "Chương 5: Genji - monogatari",
tác giả đã khái quát một số luận điểm chính về giá trị của tác phẩm như thể loại,phong cách, chủ đề
Ở Việt Nam, Truyện Genji đã được nói tới trong một số công trình dịch thuật, giáo trình văn học Nhật Bản Trong Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản
[75] do nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân biên soạn, trong quyển thượng (từ
thượng cổ đến cận đại) ở chương 5 đã viết về Truyện kể Genji với bài" Truyện Genji - Di sản văn hóa thế giới, niềm tự hào của Nhật Bản" Tác giả cuốn sách
Trang 7đã phân tích một cách khái quát về đặc điểm của văn học cổ trung đại Nhật Bản,
về nội dung và một số nhân vật chính trong tác phẩm cũng như những giá trị văn
chương và vị trí của Truyện kể Genji trong văn học Nhật Bản Trong cuốn Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868 [3] Nhật Chiêu cho rằng thời kì Heian là thời kì của cái đẹp và Truyện kể Genji thể hiện thế giới của niềm bi cảm và
dường như bao trùm lên mọi phương diện văn hóa Nhật Bản Từ cái nhìn so
sánh, trong bài viết“Cảm nhận mới về văn hoá và văn học Trung Quốc” [72], Lê Huy Tiêu đã so sánh tác Truyện kể Genji với tác phẩm Hồng Lâu Mộng Trong luận văn Thạc sĩ lấy với đề tài Niềm bi cảm (aware) trong Truyện Genji của Murasaki Shikibu (ĐHQGHN.2008) Hoàng Thị Mỹ Nhị đã phân tích, bình luận
tác phẩm, các mối quan hệ trong tác phẩm để làm rõ phạm trù bi cảm, một phạmtrù mỹ học thời Heian của Nhật Bản Trong luận văn này, tác giả đã khảo sát vàphân tích cái bi cảm trong số phận của các nhân vật trong cái đẹp vô thường củacảnh vật thiên nhiên, như bi cảm với thời gian đã mất của các nhân vật, bi cảmtrước sự vô thường của cái đẹp Từ đó có thể thấy quan niệm về cái đẹp, nhữngbiểu hiện của cái đẹp trong văn học Nhật Bản trung cổ làm nên tính duy cảm,duy mỹ độc đáo của người Nhật
Ở bài viết "Nhân tố văn hóa Trung Quốc trong Nguyên thị vật ngữ (truyện Genji) và ý nghĩa văn học của nó" trên tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn
(Đại học Sư phạm TP.HCM) [85], Phan Thu Vân đã phân tích sự ảnh hưởng của
những nhân tố văn hóa Trung Hoa đến văn hóa Nhật trong Truyện kể Genji Đồng thời, tác giả bài báo đã có cài nhìn khá thú vị khi so sánh nếu Genji monogatari là bức tranh cuộn khổng lồ gói gọn trong lòng nó tất cả ý thức thẩm
mĩ đặc biệt của truyền thống văn hóa Nhật, thì yếu tố văn hóa Trung Hoa hiệnhữu như những chiếc quạt đề thơ không thể thiếu trên tay của bất kỳ nhân vật
Trang 8nam thanh nữ tú nào từng được phác họa trong tác phẩm Ngoài ra trên một số
trang web site cũng đã đề cập trên Truyện Genji, trong đó đáng chú ý là trang web-site http://www.dongtay.vn [86] có khái quát một số trích dẫn về không gian văn hóa cung đình Heian trong Truyện kể Genji.
Thực tế trên đây cho thấy, cho đến nay ở nước ta, Truyện kể Genji dù
không còn xa lạ, song chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống Hầu hếtmới chỉ điểm qua với những ý kiến mang tính cảm nhận bước đầu, có tính gợi
mở
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khám phá những giá
trị đặc sắc của Truyện kể Genji từ góc nhìn văn hoá Nhật.
3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, chỉ ra được những cơ sở cho sự ra đời của Truyện kể Genji Thứ hai, qua thế giới hình tượng trong Truyện kể Genji chỉ ra được những
giá trị đặc sắc của văn hoá Nhật
Thứ ba, từ góc nhìn văn hoá phân tích và bước đầu chỉ ra những ảnh
hưởng của Truyện kể Genji đến văn học Nhật Bản sau đó.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thế giới nghệ thuật trong Truyện
kể Genji Nghĩa là toàn bộ sáng tạo mang tính chỉnh thể của tác phẩm Tuy
nhiên, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn đối tượng nghiêncứu ở một số hình tượng nổi bật: nhân vật, không gian, thời gian
4.2 Về tư liệu, chúng tôi chọn Truyện kể Genji, bản dịch ra tiếng Việt do
Nguyễn Đức Diệu chuyển ngữ, hai tập, nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, 1991làm đối tượng khảo sát chính
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi sử dụng hướng tiếpcận liên ngành văn hóa – văn học, với một số phương pháp như: khảo sát, thốngkê; phân tích, tổng hợp; so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Bối cảnh ra đời của Truyện kể Genji
Chương 2.Thế giới hình tượng trong Truyện kể Genji nhìn từ văn hóa Nhật Chương 3 Ảnh hưởng của Truyện kể Genji đối với một số hiện tượng tiêu
biểu trong văn học Nhật Bản
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1
BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA TRUYỆN KỂ GENJI
Trang 101.1 Bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội
1.1.1 Khái lược về lịch sử và xã hội thời đại Heian
Thời kỳ Heian (từ "Heian" trong tiếng Nhật có nghĩa là "bình an" hoặc "yênbình") kế tiếp thời kỳ Nara, là thời kì phân hóa cuối cùng trong lịch sử Nhật Bản
cổ đại, kéo dài từ năm 794 đến 1185 Đồng thời cũng được coi là giai đoạn đỉnhcao của quyền lực Nhật hoàng Thời kỳ này, sự ảnh hưởng đạo Khổng và các yếu
tố của văn hóa Trung Quốc đã đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật, thơ ca vàvăn học Phù Tang
Năm 781, Thiên hoàng Kamu lên ngôi và dời kinh đô từ Nara về kinh Heianvào năm 794, mở đầu một thời đại mới kéo dài khoảng 400 năm Đây là thời kỳđược xem là một dấu son của văn hóa Nhật Bản với sự phát triển phong phú vàmạnh mẽ ở tất cả các lĩnh vực văn hoá, xã hội Để củng cố quyền lực và chế độ,quy tắc tập trung quyền lực cá nhân dưới sự cai quản của Thiên hoàng – một yếu
tố then chốt trong hệ thống chính quyền đế chế ở Trung Quốc đã được Kamu ápdụng tại Nhật Bản Khuynh hướng này vẫn tiếp tục dưới thời ba người con traicủa Kamu (Heijo, (806-809), Saga (809-823), Junna (823-833)) Bên cạnh đó,nổi bật về sức mạnh của nhà vua trong thời gian này là cuộc bình định thànhcông giặc Ainu và những người bất đồng ý kiến ở miền biên thùy Đông bắc Nếu hồi đầu thời kỳ Heian chứng kiến việc mở mang đất đai, đổi mới hànhchính củng cố quyền lực thì cuối thời kỳ đó, vào thế kỷ IX, đã chứng kiến việcđột nhiên quyền lực cá nhân của các thiên hoàng bị kiềm chế Sau cái chết củaKammu (806) và sự tranh giành quyền kế vị của hai con trai ông, hai cơ quanmới được thành lập để điều chỉnh lại hệ thống hành chính Taika là "Incho"("Viện Sảnh") và "Insei" ("Viện Chính") Về cơ bản, quyền lực tối cao vẫn doNhật hoàng nắm giữ Nhưng trong thực tế, dòng họ quý tộc Fujiwara đã thâu tóm
Trang 11quyền lực Tuy vậy, có một lần dưới triều Nhật Hoàng Daigo (897-930), chế độnhiếp chính Fujiwara bị gián đoạn vì Nhật hoàng trực tiếp trị vì Nhưng gia đìnhFujiwara không hề bị suy yếu mà thực tế còn mạnh hơn bởi những thái ấp(shōen) của gia tộc này rộng lớn hơn điền trang thái ấp của bất kỳ gia tộc riêng lẻhoặc giáo phái nào khác Nhà Fujiwara kiểm soát ngai vàng cho đến khi Nhậthoàng Go-Sanjo lên ngôi (1068), Thiên hoàng đầu tiên không do một người mẹ
từ gia đình Fujiwara sinh ra kể từ thế kỷ IX Go-Sanjo quyết tâm phục hồi đếquyền và nắm quyền cai trị đất nước trong tay mình nên đã thi hành hàng loạtcác cải cách để kiềm chế ảnh hưởng của nhà Fujiwara Thiên hoàng Go-Sanjomất năm 1073 (ngoài 30 tuổi) Tuy nhiên, con trai (Shirakawa) và chắt của ông(Toba) đã trở thành những nhà chính trị lỗi lạc thực hiện được ý đồ cai trị từ
"Insei" (bởi các Thiên hoàng ẩn dật) của Go-Sanjo Shirakawa trong thời gian từ
1086 đến 1129 và Toba từ 1129 đến 1156 đã là những nhà cầm quyền đất nướcrất hữu hiệu Có thể nói, chính quyền ẩn dật trong thời kỳ này được đánh giá cao
vì đã hoạt động từ sau hậu trường rất hiệu quả Dưới sự dìu dắt của các vị Thiênhoàng ẩn dật, triều đình được thanh bình, chính trị ổn định, văn học, văn hóaphát triển phong phú Cả hai Thiên hoàng Shirakawa và Toba đều là nhữngngười bảo trợ rộng lượng cho tôn giáo và nghệ thuật
Từ thế kỷ thứ IX, với sự gia tăng quyền lực của dòng họ Fujiwara, triềuđình mất quyền kiểm soát đất nước mà chỉ còn nắm vai trò nghi thức đơn thuần.Dần dần, tầng lớp trên ở địa phương chuyển thành giai cấp quý tộc quân sự dựatrên tư tưởng của bushi (võ sĩ) hay samurai Sự hâm mộ các võ sỹ đã phá vỡ cơcấu quyền lực xưa cũ và tạo ra những quan hệ mới trong thế kỷ IX Tầm quantrọng của tình cảm, những mối liên hệ gia đình, và mối quan hệ họ hàng đượccủng cố trong các nhóm quân sự trở thành một phần của chế độ gia đình trị
Trang 12Trong thời kỳ này, các gia đình quân sự lớn ở địa phương tập hợp xung quanhnhững quý tộc triều đình nhằm gây dựng thanh thế Các gia tộc Fujiwara, Taira
và Minamoto nằm trong số những gia tộc nhận được sự ủng hộ lớn nhất của cácgiai tầng quân sự mới
Từ giữa thế kỷ X đến XI, các thành viên của các gia tộc Fujiwara, Taira,
và Minamoto (đều có nguồn gốc hoàng gia) tấn công lẫn nhau, tuyên bố quyềnkiểm soát những dải đất lớn của những vùng đất chiếm được, thiết lập những chế
độ thù địch, đã phá vỡ nền hòa bình của đất nước Cuối cùng, nhà Fujiwara bịtiêu diệt, hệ thống triều đình cũ bị thay thế, và hệ thống “Insei” không còn quyềnlực vì bushi (võ sỹ) nắm việc triều chính, tạo ra một bước ngoặt trong lịch sửNhật Bản
1.1.2 Một cái nhìn khái quát về văn hoá Heian
Văn hoá Nhật Bản ngày nay là kết tinh thành quả lao động hàng ngàn nămcủa những cư dân trên quần đảo Nhật Bản, đồng thời là sự kết hợp sáng tạonhững giá trị văn hoá bản địa và các giá trị văn hoá ngoại lai Trước khi có tiếpxúc văn hoá đầu tiên với Trung Quốc, trên quần đảo này đã tồn tại những cộngđồng người với những đặc trưng sinh hoạt văn hoá riêng Sự ảnh hưởng của vănhoá Trung Quốc, đặc biệt là chữ Hán, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo bắt đầu vàothế kỷ thứ IV sau công nguyên đã làm thay đổi diện mạo văn hoá Nhật Bản, từlối sống trong triều đình Thiên hoàng đến sinh hoạt ngoài dân chúng Cùng vớithời gian các giá trị văn hoá này đã dần biến đổi, kết hợp với các giá trị văn hoábản địa để tồn tại, phát triển và tạo nên những nét đặc trưng của văn hoá Nhật
1.1.2.1 Tôn giáo
Thần đạo (Shinto) là tôn giáo bản xứ của người Nhật Bản Đó là một tôn
giáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín ngưỡng thời cổ xưa ở Nhật Người ta
Trang 13thờ cúng các sự vật, hiện tượng được coi là có năng lực linh thiêng trong tựnhiên và xã hội, như đỉnh núi, con sông, biển, mặt trời, mưa, dông bão, các vịanh hùng và tổ tiên để mong được sự phù hộ, chở che trong cuộc sống hiện tại.Những truyền thuyết về nguồn gốc thần linh đã trở thành một phần quan trọng
của giáo lý Thần đạo Mặc dù từ Thần đạo (Shinto) để chỉ những nghi lễ tế thần
và đền thờ dù được xuất hiện rất sớm, nhưng phải đến tận cuối thế kỷ thứ XIIthuật ngữ này mới mang ý nghĩa chỉ một loại giáo lý tôn giáo nhất định Quan
niệm Thần đạo cho rằng, các thành tố tự nhiên đều là những đứa con thanh khiết,
đẹp đẽ của Kami (Thần) Sự hiện diện của Kami không chỉ qua lời nói mà cònthể hịên qua năng lực nhận thức thẩm mĩ về cái đẹp trong giới tự nhiên Nhân
sinh quan của Thần đạo đã mang lại cho hình thức nghệ thuật Nhật Bản ý thức
về tính giản dị, tự nhiên, sự phản ánh trái tim trong sáng và chân thật Và conngười, thiên nhiên cũng như thần linh luôn có mối quan hệ gần gũi trong đờisống cộng đồng, trong nghệ thuật cũng như trong tư tưởng thẩm mĩ mọi thời đại
ở Nhật Thần đạo không có người sáng lập, cũng không có các loại kinh kệ riêng
như kinh Thánh hay kinh Phật Việc truyền đạo, thuyết giáo và hầu hết nhữngđám tang đều được tổ chức theo kiểu Phật giáo Chính vì vậy, đó là tôn giáo
chính của Nhật Bản bên cạnh Phật giáo.
Phật giáo được truyền vào Nhật Bản khoảng năm 552 sau công nguyên từ
vương quốc Bách Tế (nay thuộc Triều Tiên) Sau này, nhờ được sự bảo trợ của
Nữ hoàng Suiko (593-628), đặc biệt là của Thái tử Shotoku (574- 622), Phật giáo được truyền bá rộng khắp đất nước Đến đầu thế kỷ thứ IX Phật giáo Nhật
Bản chủ yếu phục vụ cho giới quý tộc cung đình Trong thời Heian xuất hiện và
phát triển hai tông phái lớn là Chân Ngôn tông và Thiên Đài tông (Shingon và
Tendai) Phật giáo bắt đầu lan rộng ở Nhật Bản trong suốt thời kì Heian chủ yếu
Trang 14qua hai giáo phái lớn này Thiên Đài tông có nguồn gốc từ Trung Quốc, dựa trên Diệu pháp liên hoa kinh , một trong những kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa Người sáng lập ra phái Tendai ở Nhật là hòa thượng Saicho (767-822),được Thiên hoàng Kamu cử sang Trung Quốc để nghiên cứu, học tập thêm Ý
niệm của Phật giáo Tendai có thể khái quát là ý niệm về lòng thương yêu và
giúp đỡ; có thái độ nhân ái rộng rãi đối với các hình thức tôn giáo khác, kể cảnhững hình thức không phải là Phật giáo; là lòng tin vào mọi sinh linh đều có thể
cứu vớt; là ý niệm về tất cả cuộc sống của vạn vật đồng sinh Chân Ngôn tông
(Shingon) lại là một giáo phái bản địa sáng lập bởi nhà sư Kukai (774-835) cũngđược Kamu cử sang Trung Quốc nghiên cứu về Phật giáo Kukai tạo được mộtảnh hưởng mạnh mẽ với người kế nhiệm Nhật hoàng Kamu cũng như các thế hệngười Nhật Bản không chỉ bởi tính thiêng liêng, mà còn bởi nghệ thuật viết chữ,
thi ca, hội họa, điêu khắc của Shingon Ý niệm của Phật giáo Shingon là khẳng
định giá trị của cuộc sống hiện tại (đức Phật vũ trụ) Nghĩa là khẳng định ý niệmkhai sáng ngay trong lúc đang sống chứ không phải ở cõi niết bàn Nếu như
Tendai luôn có thiên hướng về học thức và tình cảm thì Shingon lại nhấn mạnh
về nghệ thuật nên cả hai phái đều được mến mộ trong thời Heian, là tôn giáo củagiai cấp quí tộc cũng như chính quyền và được coi là những thế lực bảo vệ triềuđình và đất nước
Trong thời kỳ Nara, triều đình rất chú trọng học tập văn hóa Trung Hoa
nên thường xuyên cử các đoàn Khiển Đường sứ sang lưu học ở Trung Quốc.Trong khoảng gần 200 năm từ thời Nara đến đầu thời Heian, khi tạm bãi bỏKhiển Đường sứ (năm 894)- có đến 18 đoàn được cử sang chính thức Do vậy,
về phương diện tư tưởng thời Heian, cả ba tư tưởng Nho, Phật và Thần đạo đều
cùng tồn tại, trong đó Phật giáo được coi như Quốc giáo Nho giáo được sử
Trang 15dụng, nhưng ở phạm vi rất hẹp, không ra khỏi tầng lớp quý tộc và tăng sĩ Nơi
nghiên cứu và giảng dạy Nho giáo một cách bài bản nhất là Đại học liêu do Thức
Bộ Tỉnh (bộ Lễ) tổ chức dành cho con em quý tộc từ ngũ vị, đôi khi là bát vị(trong 12 cấp quan vị) trở lên và con em dòng họ Sử Đông Văn/Yamato no fumi,một dòng họ truyền đời lo về văn thư giấy tờ của triều đình Nhật Bản từ nhữngnăm mới thành lập Nội dung học tập tập trung vào 4 ngành gọi là “Tứ đạo”: KỷTruyện (sử Trung Quốc), Văn chương Minh kinh (Nho giáo), Minh pháp (pháp
luật), Toán đạo (Toán) Bên cạnh đấy, sách Luận ngữ, Hiếu kinh cũng bắt buộc phải học Tuy nhiên, chế độ khoa cử thực sự như nhà Tuỳ, Đường Trung Quốc
không được du nhập vào Nhật Bản, nên Nho giáo không phát triển được mà suythoái dần
1.1.2.2.Phong tục, lễ hội
Hanami (ngắm hoa) là một phong tục truyền thống của Nhật Bản nhằmmục đích chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các loài hoa Việc ngắm hoa đã xuất hiện ởNhật Bản từ nhiều thế kỉ trước và phong tục này được cho là bắt nguồn từ thờiNara (710 – 794 ) Khi ấy người ta chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa mơ Đếnthời Heian, hoa anh đào trở nên hấp dẫn hơn nên đã dần thay thế vị trí ban đầucủa hoa mơ Cũng bắt đầu từ thời điểm đó, trong các tứ thơ tanka và haiku, từ
“hoa” đều có ý chỉ “hoa anh đào” Hanami lần đầu tiên được sử dụng như một
thuật ngữ ám chỉ việc “ngắm hoa anh đào” trong Truyện kể Genji (chương 8: Hana no En, "Hội mừng hoa anh đào") của văn học thời Heian Kể từ thời điểm
ấy, từ “hanami” hay “tiệc ngắm hoa” là những từ nghiễm nhiên dùng để miêu tảviệc ngắm hoa khi xuân đến Mùa hoa đào nở được coi như cột mốc bắt đầu mùathu hoạch và báo hiệu một vụ mùa mới đang đến gần Người dân Nhật Bản tinvào “kami” (thần) ẩn trong những cây hoa đào và cầu xin những vị thần anh đào
Trang 16ấy phù hộ độ trì cho những điều tốt lành sẽ đến với mình cũng như gia đình,người thân trong năm mới Nhật hoàng Saga (809-823) thời Heian đã chính thứcphổ biến tập tục ngắm hoa này và hằng năm vẫn cho tổ chức tiệc ngắm hoa vớirượu Sake dưới những tán cây anh đào phủ kín một màu hồng nhạt tại cung điệncủa mình ở Kyoto Tập tục ngắm hoa ban đầu chỉ giới hạn cho các thành viênhoàng tộc, rồi sau đó rộng ra tầng lớp võ sĩ đạo (samurai) vào thời Azuchi-Momoyama (1568–1600) Phải mãi đến thời Edo (1603-1868) Hanami mới thực
sự phổ biến trong tất cả mọi tầng lớp nhân dân
Lễ hội cây thục quỳ (lễ hội Kamo) là một trong những lễ hội lớn nhất, lâuđời và lộng lẫy nhất, được tổ chức tại ngôi đền Kamigamo (Kyoto) vào tháng 5hằng năm và duy trì từ thế kỷ thứ VII đến ngày nay Theo truyền thuyết, ngày đó
có nhiều thiên tai xảy ra được cho là bởi các vị thần của miếu Kamo gây ra Saukhi Hoàng đế cúng cho các vị thần, những thảm họa đã giảm xuống và từ đâymột truyền thống được bắt đầu Tên chính thức của lễ hội khi đó là lễ hội Kamo,
vì nó liên quan đến ngôi đền này Lễ hội được đặt theo tên của cây thục quỳ(Aoi) vì các thành viên trong đoàn rước đều được mặc bởi lá của cây thục quỳ
Lễ hội cũng được nhắc đến trong một số chương của Truyện kể Genji của thời kỳ
Trang 17đều đặn vào tháng 7 hằng năm Sau đó có nhiều biến cố lịch sử nên lễ hội không
ít lần bị gián đoạn, cho đến năm 1500, lễ hội được tổ chức trở lại với đúng dáng
vẻ rực rỡ, không khí tưng bừng của nó Cũng từ đó việc trang trí các cỗ xe diễuhành của lễ hội được giao cho nhân dân trong kinh đô thực hiện Chính nhờ vậy
mà mỗi cỗ xe (Hoko) cả về nội dung và hình thức đều rất phong phú, rực rỡ Đặcbiệt là từ thời Momoyama đến thời Edo khi mà hoạt động buôn bán ngoạithương phát đạt và các làng nghề dệt, thêu ở Kyoto phát triển phồn thịnh thì việctrang trí cho các cỗ xe Hoko vào mỗi dịp lễ hội Gion cũng là một cách người dânKyoto thể hiện sự lớn mạnh về kinh tế, văn hóa của kinh đô
1.1.2.3 Kiến trúc và nghệ thuật trong thời Heian
Ảnh hưởng của Trung Quốc trong kiến trúc và nghệ thuật vẫn tiếp tụctrong thời Heian Nhưng sau những năm 800 sau Công nguyên, một quá trìnhsáng tạo đã tạo nên một phong cách đặc biệt Nhật Bản
Những công trình dùng vào những buổi lễ chính thức trong triều đình cókhuynh hướng đi theo phong cách đồ sộ, đối xứng vốn thâm nhập từ Trung Quốc
ở thế kỷ trước Như công trình thế tục là Đại Sảnh đường (Daigoku-den), nơi
làm lễ đăng quang và nhiều nghi lễ quan trọng khác của triều đình Hay mộtcông trình linh thiêng nổi tiếng là ngôi chùa Byodoin tại Uji bên ngoài Kyoto.Đây là ngôi chùa thờ Phật nhưng thoạt đầu đã được một quan nhiếp chínhFujiwara dùng làm biệt thự riêng Phần lớn vẻ đẹp của ngôi chùa là từ mái ngóivới những làn cong vút giống như con chim đang bay Công trình và khu vườnnơi đây mang đậm phong cách Heian Bên cạnh đấy, ngôi đền Itsukushima đượcxây dựng trên một hòn đảo nội địa phía tây Kyoto để phục vụ cho nhu cầu tôngiáo của những ngư dân đánh cá và những người đi biển khác Phong cách kiến
trúc của ngôi đền là sự kết hợp phức tạp và hài hòa giữa các phong cách Thần
Trang 18đạo và Phật giáo gợi lên nét riêng của thời Heian giản dị, tinh tế và hài hòa với
thiên nhiên Các căn phòng đều nhìn ra ngoài vườn nằm giữa các ngôi nhà, cácbức tường nhà là những mảnh ván di động nên từ trong phòng lúc nào cũng cóthể nhìn thấy vườn Ngoài vườn có quả đồi nhân tạo nhỏ trồng nhiều cây và bụihoa Thường bên dưới nhà có dòng nước chảy qua vườn Đây là một nét độc đáo
trong phong cách nhà riêng mà người Nhật gọi là Shinden-zukiri, tức nhà và
vườn có quan hệ mật thiết đồng thời thể hiện khiếu thẩm mĩ thành thị của quí tộc
Kyoto lúc bấy giờ Có thể thấy rõ nét cấu trúc này trong Truyện kể Genji.
Ngoại trừ một số ít đền thờ Thần đạo, ở tất cả các đền thờ Phật giáo thời
kỳ này đều có các công trình điêu khắc Các nhà điêu khắc thời Heian thườngdùng gỗ để tạc hơn là những vật dụng khác như kim loại, đất sét và sơn Năm
800 sau Công nguyên, điêu khắc vẫn còn tính chất tôn giáo, các nhà điêu khắc
tiếp tục tạc những bức tượng Phật cùng những tín đồ Lúc này, phái Shingon vì
mục đích tôn giáo rất tích cực trong việc đào tạo nghệ sĩ Thấm nhuần toàn bộ
nền kiến trúc Shingon là ý niệm về đức Phật vũ trụ và ý muốn phô bày những
quyền năng vô hạn của đức Phật Vì vậy, họ rất quan tâm đến thế ngồi của cácpho tượng và theo nghi lễ của phái Shingon thế đó phải rất đứng đắn Nhưng từnăm 900 sau Công nguyên, nét nghiêm khắc nhường chỗ cho sự sáng tạo nhiềumàu sắc Những bức tượng được sơn màu sáng chói hoặc những nét mặt vui tươinhưng vẫn không kém phần tao nhã, tinh tế và mang tính sáng tạo
Bên cạnh điêu khắc, phái Shingon cũng làm chủ trong lĩnh vực hội họa về
tôn giáo theo phong cách Trung Quốc Chất liệu thường được làm trên nền lụa
với những màu sắc phong phú nổi bật Ý niệm của phái Shingon là Chân thực
(đức Phật vũ trụ) bao gồm cả mặt thú vị lẫn mặt buồn đau của cuộc sống tạo nênnhững bức tranh độc đáo mà các phái khác không có Một sự phát triển rất quan
Trang 19trọng ở cuối thời Heian là nổi lên phong cách Yamato-e, những bức tranh cuộn
dài được vẽ để treo trên tường trong đền chùa với những đường nét góc cạnh vàmàu sắc trang trí lộng lẫy vốn hoàn toàn trái ngược với những đường cong vàmàu sắc dịu của phong cách tôn giáo kết hợp với Trung Quốc Nhiều khi nhữngbức tranh cuộn có kèm theo những câu chuyện kể hoặc những lời giải thích bổsung vào bức tranh Đó có thể là những huyền thoại dân gian, những cảnh trongtiểu thuyết, những sự kiện chính trị to lớn và cả những giáo lí của Phật giáo Cáctranh cuộn đã đưa hội họa từ chỗ chỉ quan tâm đến lòng mộ đạo của nghệ thuật
đi đến gần gũi với cuộc sống hơn, ngay cả với người dân thường
Cũng như ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật trên, thời Heian đã chứng kiếnnhững phát triển mới của người bản xứ cả trong lĩnh vực âm nhạc từ việc lưu giữnhững phong cách nhạc truyền thống đến những phong cách được du nhập từnước ngoài vào Cụ thể, vào đầu thế kỷ VIII, Nhật Bản đã tiếp thu một bộ phận
âm nhạc cung đình Trung Hoa và theo đó, thuật ngữ Gagaku (tức Nhã nhạc)cũng được truyền từ Trung Hoa vào Nhật Bản Điều đáng lưu ý là vào thời kỳnày, cung đình Nhật Bản đã có sẵn hệ thống âm nhạc nghi lễ bản địa là âm nhạcShinto giáo (Thần đạo) nên vẫn giữ lại truyền thống âm nhạc của mình Mộtnhạc cụ đặc biệt Nhật Bản cũng được những tầng lớp trên ưu chuộng là cây đànKoto Có thể thấy rõ điều đó qua các tác phẩm văn học thời kỳ này đặc biệt là
Truyện kể Genji.
1.1.3 Mỹ học Heian
Mở đầu cuốn Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nhật Chiêu đã có
lời nhận định khái quát về đặc trưng của ba nền văn hóa lớn của phương Đông:
Trang 20“Văn hóa Ấn Độ thiên về tư duy và thần bí Văn hóa Trung Quốc thiên về hànhđộng và thực tiễn Văn hóa Nhật Bản thì thiên về tình cảm và cái đẹp” [3,7].Giáo sư Numano Mitsuyoshi, trong bài phát biểu tại hội thảo Văn học Nhật Bảncủa Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM cũng khẳng định: “Trongphần lớn các tác phẩm văn học từ trước đến nay của Nhật Bản thì tính chất trữtình và cảm tính rất mạnh mẽ Ở Nhật Bản hầu như không xuất hiện các tácphẩm thuộc thể loại sử thi anh hùng, ngược lại, các tác phẩm tanka thể hiện nỗibuồn đau cá nhân hay tình cảm luyến ái mang đậm nét trữ tình lại chiếm tỉ lệ ápđảo Yếu tố văn học chủ đạo ở các tác phẩm là nỗi buồn chứ không phải niềmvui, là nước mắt chứ không phải nụ cười, bởi thế mà văn học Nhật Bản hướngtới những mưu cầu mang tính trữ tình của nội tâm cá nhân hơn là đối diện vớicác yếu tố mang tính lịch sử, xã hội” [49] Quả thực điểm chung dễ nhận thấynhất của các tác phẩm văn học cổ - trung đại Nhật Bản là sự tràn ngập cảm xúc,đặc biệt là cảm xúc trước cái đẹp như một nét đặc trưng tiêu biểu cho mỹ họcNhật Bản, đặc biệt là mỹ học Heian.
Cũng bởi vậy một trong những đặc trưng quan trọng của mỹ học truyềnthống Nhật Bản là tinh thần tôn thờ cái đẹp Mà tình yêu cái đẹp của người Nhậtđược thể hiện mạnh mẽ nhất trong lịch sử là ở thời Heian (794-1185) Có thể nói,con người thời Heian say mê cái đẹp đến mức tôn sùng Đó là cuộc sống thấmđẫm chủ nghĩa duy mỹ của các trang phong lưu công tử và phụ nữ quý tộc chốncung đình Từng có lúc, biết nâng niu vẻ đẹp của một vầng trăng, một đóa hoa,một chiếc lá, một tiếng ve sầu… trở thành một loại thước đo, một chuẩn mực để
đánh giá giá trị của con người bấy giờ (ngược lại với Trung Quốc là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín…) Các tác phẩm thơ và văn xuôi thời đại Heian đều có một sự thể
hiện khác nhau những biến động sâu sắc nơi trái tim con người về cái đẹp, nhất
Trang 21là cái đẹp mong manh như hoa anh đào Và sẽ thật không quá lời khi người tacho rằng chính sự tôn thờ cái đẹp đã dẫn đường cho mọi suy nghĩ và hành động
của con người thời Heian, rằng thời Heian là “thời của cái đẹp” [3,59] Lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của vô thường quan trong triết lí nhà Phật nên trước cái đẹp
họ luôn có một sự xúc động đặc biệt
Bắt đầu từ thời đại Heian, nền văn học Nhật Bản hoàn toàn được phủ dướibóng râm của thế giới quan Phật giáo Mặc dù đạo Phật được du nhập vào NhậtBản từ giữa thế kỉ VII nhưng phải đến cuối thế kỉ VIII, đầu thế kỉ kỉ IX, giáo línhà Phật mới có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong giới quý tộc xứ Phù Tang Dướicảm quan Phật giáo, họ đã thấu thị được rằng thế giới này, mọi sự cuối cùng chỉ
là phù du: hoa nở để mà tàn, trăng tròn để mà khuyết, bèo hợp để mà tan, ngườigần để ly biệt; tình yêu, sắc đẹp, tuổi xuân, danh vọng, quyền lực…rồi cũng qua
đi như thế Cái đẹp bất tử, nhưng hiện thân của cái đẹp lại phù du nên cái đẹp là
vô thường Chính sự tương tùy giữa cảm quan vô thường của Phật giáo và truyền
thống tôn thờ cái đẹp được đẩy lên đỉnh cao đã tạo nên niềm bi cảm aware (gọi đầy đủ là mono no aware) nghĩa là "cảm thức xao xuyến hay nỗi buồn man mác, dịu dàng trước mọi vẻ đẹp biến tan của thiên nhiên và con người" [3,121] rất đặc
trưng của văn hóa Heian Học giả thế kỷ XVIII-Motoori Norinaga cũng chủ
trương rằng đây là tư tưởng trung tâm của mỹ học thời kỳ Heian Cụm từ mono
no aware được gán cho “nỗi buồn” cũng bắt đầu từ đó và được duy trì đến tận
ngày nay Xã hội quý tộc vốn hưởng lạc và duy mĩ của vương triều Heian, lại
chịu ảnh hưởng sâu sắc của vô thường quan trong giáo lí nhà Phật, đã truyền vào
những sáng tác văn chương của họ một nỗi buồn dài trào lên từ cõi sâu hồnngười về kiếp phù du ở trần thế như là một trong những khái niệm cơ bản của mĩ
học Heian, hàm chứa trong nó quan niệm của người Nhật về cái đẹp Genji
Trang 22monogatari được xem là đỉnh cao của văn xuôi Heian chính bởi đã thể hiện một
cách toàn bích nỗi buồn của con người trước vô thường Đó là vẻ đẹp của nhữngxúc cảm say mê, mộng tưởng, nhớ nhung, tuyệt vọng, u buồn, xao xuyến…trước
sự trôi đi không ngừng của tình yêu và cái đẹp
Có thể nói, thời đại Heian chỉ tồn tại trong khoảng gần 400 năm nhưng chủnghĩa duy mĩ và nỗi buồn dịu dàng trước cái đẹp vô thường của nó không chỉthấm đẫm trong các sáng tác của thời kỳ này, mà vẫn còn phảng phất khi đậmkhi nhạt trong các sáng tác của thời đại sau, góp phần tạo nên tính trữ tình tinh tếcủa văn học Heian nói riêng, văn học Nhật Bản nói chung Và suốt nhiều thế kỉsau Heian, nền văn học Nhật Bản vẫn không ngừng thể hiện nỗi ám ảnh dai dẳng
về kiếp phù sinh nơi trần thế
1.1.4 Khái lược những chuẩn mực cái đẹp trong truyền thống văn hóa của người Nhật
Thần đạo (Shinto) là tôn giáo bản địa đầu tiên của người Nhật, là một tôngiáo đa thần, có nguồn gốc từ những tín ngưỡng thời cổ xưa ở Nhật Bản Đối
tượng chính của các nghi lễ trong Thần đạo là những vị thần gọi là Kami - tượng
trưng cho những gì siêu việt trong thiên nhiên đến con người (hay các sản phẩmcủa con người) từ mặt trời, mây gió, dông bão, cây cỏ, sông núi…tới các vị anhhùng, thiên hoàng, tổ tiên của gia đình hay bộ tộc Vì vậy, Thần đạo có rất nhiều
các thần thánh (có đến 8 triệu thần (Kami)), đa phần các thần của Thần đạo đều
liên quan đến thiên nhiên Người Nhật đã “thần hóa” các yếu tố thiên nhiên vàtrực tiếp tôn thờ thiên nhiên như “Kami” Chính tình yêu thiên nhiên là nền tảnghình thành những triết lý trong tín ngưỡng Thần đạo và ngày càng khắc sâu vào
tâm thức con người Nhật Bản Tư tưởng Thần đạo thấm đẫm tinh thần “chân
thành” (makoto) Chân thành trong tình cảm và hành động là phẩm chất được
Trang 23Thần đạo đánh giá cao Mà chân thành là phẩm chất rất gần với trong sạch, tinh
khiết và tự nhiên nên người Nhật đã lấy chữ Kyo-“Thanh” làm trọng yếu trong quan niệm đạo đức của Thần đạo “Thanh” là trong sạch - trong sạch cả về thể
xác lẫn tâm hồn Từ nền tảng ấy mà phần cốt yếu trong triết lý tín ngưỡng Shinto
là sự “thanh khiết” và sự dung hợp hài hòa giữa con người, thiên nhiên và thần
linh Quan niệm này về sau đã trở thành quy tắc nền tảng trong đạo đức của Thần
đạo Sự “thanh khiết” đã dẫn đến những quy ước trong cách sống, sinh hoạt và
tâm linh của người Nhật Họ yêu thiên nhiên, yêu sự giản dị và trong sạch đúngvới tinh thần của Shinto là phải giữ cho tâm hồn được thanh tịnh và không làmphương hại tới sự hài hòa của tự nhiên
Thêm vào đó, Nhật Bản lại được “trời phú” cho một phong thổ dù khắcnghiệt vì thiên tai nhưng ấm áp, hiền hòa và dễ chịu, với cảnh quan thiên nhiêntuyệt đẹp thay đổi độc đáo theo sự tuần hoàn của bốn mùa trong năm Thành thửcon người nơi đây không cần phải chinh phục, cải tạo hay đấu tranh với tự nhiên,
mà ngược lại, có thể vừa tận hưởng vẻ đẹp của tự nhiên như nó vốn có vừa duytrì sự hài hòa đẹp đẽ ấy Chính vì vậy, người Nhật rất gần gũi với thiên nhiên,sống hòa mình với thiên nhiên Đối với họ, vẻ đẹp và sự tự nhiên là hai kháiniệm tương đương Không tự nhiên nghĩa là không đẹp nhưng sự tự nhiên lại cóthể được làm đẹp thêm bằng những đặc tính đặc biệt được thêm vào
Thấm đẫm tinh thần Shinto, người Nhật đặt ra những chuẩn mực về cái
đẹp rất riêng cho mình Theo Wsjewolod Owtschinnikow, tác giả tuyển tập
"Cành hoa anh đào" (1970) (Tiểu Dương dịch), thì người Nhật Bản đặt ra bốn chuẩn mực cho vẻ đẹp, ba trong bốn chuẩn mực đó Sabi, Wabi và Shibumi bắt nguồn từ đạo Shinto, còn chuẩn mực thứ tư Yugen lại có liên quan đến triết học Phật giáo Chuẩn mực đầu tiên, Sabi, chính là để miêu tả sự già đi, cũ đi này.
Trang 24Sabi có nghĩa đen là gỉ sắt, nghĩa là hoang sơ, cũ kỹ Như vậy Sabi chính là sự
han gỉ, già cỗi đi của sự vật mà con người không thể sao chép được, là sức quyếnrũ của năm tháng trôi qua, là dấu ấn của thời gian Người Nhật cho rằng thờigian làm lộ ra bản chất của sự vật Vậy nên dấu vết của thời gian cũng có mộtsức hấp dẫn đặc biệt đối với họ Những thân cây ngả màu năm tháng, những hòn
đá phủ rêu và thậm chí cả dấu vết những bàn tay từng đặt lên khung một tấm ảnhcũng khơi gợi niềm yêu thích trong họ
Wabi lại là một khái niệm đạo đức và mỹ học đề xướng cuộc đời sống
tuân theo tự nhiên, nhàn tịch, lìa xa khỏi thế tục Bắt nguồn từ những ẩn sĩ thờitrung đại, khái niệm này nhấn mạnh đến tinh thần cao viễn, tịch tĩnh với cái đẹp
giản phác nguyên sơ Khái niệm Wabi-theo như người Nhật vẫn thường nhấn
mạnh- rất khó để diễn đạt bằng lời mà phải cảm nhận nó Người Nhật cổ xưa chorằng tất cả các hiện tượng đều là sự hiển thị của thần linh “Thiên địa” và “tất cả
mọi vật sống” là gần nghĩa nhất với từ chỉ khái niệm tự nhiên của họ Nó là sự
sinh thành phát triển tự nhiên và trạng thái phát sinh từ đó, là cái tự thể, tự bảnthân mình Như vậy, khác với tư tưởng Tây Phương, người Nhật không nghĩrằng con người là ưu thắng hay đối lập với tự nhiên Mà sinh mệnh con ngườiđược bao bọc trong tự nhiên Ở đó, chủ thể và khách thể hoà vào nhau trở thànhmột hiện thực nhất thể Tư tưởng cổ điển này được thể hiện khắp các mảng văn
hoá Nhật Bản khác như tranh thiền, trà đạo, nghệ thuật cắm hoa…Wabi vì thế có
nghĩa là chỉ trạng thái đơn giản, tự nhiên Tức là nét hấp dẫn của những thứ mộcmạc, là sự khiêm nhường, là vẻ đẹp khiếm khuyết hoặc không hoàn thiện
Cả Wabi và Sabi đều là những từ cổ Cùng với thời gian chúng dần được
sử dụng gộp lại như một khái niệm chung-Wabi-Sabi, mang nghĩa rộng hơn và tiến gần đến với chuẩn mực thứ ba, Shibumi Shibumi là vẻ đẹp của sự giản dị
Trang 25cộng với vẻ đẹp của sự tự nhiên Đó không phải là vẻ đẹp đơn thuần mà trong đócòn hàm chứa cả sự hữu dụng của đồ vật và chất liệu làm nên đồ vật ấy Vớingười Nhật, một cái chén được coi là đẹp khi người ta có thể dùng nó uống tràmột cách thuận tiện và trong cái chén vẫn còn nguyên sức quyến rũ của chất đất
sét mà người thợ thủ công đã nhào nặn trong tay Shibumi mang nghĩa nguyên
thủy là sự giản dị đi kèm với sự khiêm nhường.Vậy nên những gì cầu kỳ hoa mỹ
đều không thể đi cùng khái niệm này Những khái niệm Wabi-Sabi hay Shibumi
bắt rễ trong thói quen coi mọi sự vật và hiện tượng đều có sự sống của người
Nhật Quan niệm đó bắt nguồn từ đạo Shinto
Chuẩn mực thứ tư của cái đẹp bắt nguồn từ quan niệm Yugen (u huyền).
Khái niệm mỹ học này được các nhà thơ waka và tác gia kịch No đề xướng từthế kỷ XII đến thế kỷ XV Theo bản nguyên, khái niệm này ở Trung Quốc đểmiêu tả những điều thâm sâu mà con người không thể thấy và lý giải được Từnày cũng được sử dụng nhiều trong Phật giáo, biểu thị chân lý tối hậu không thể
nắm bắt bằng tri tính Vì vậy, Yugen là nghệ thuật của sự cảm nhận và thấu hiểu
những gì còn ẩn giấu gọi là khoảng trống, sự vô hình Với người Nhật, vẻ đẹpcủa một bài thơ, một bức tranh không phải ở những gì người nghệ sĩ đã viết, vẽ
ra Ngược lại, chính là ở khoảng trống vô ngôn mà họ để lại cho độc giả chiêmnghiệm Căn cốt của khái niệm này là một vũ trụ quan điển hình của những tín
đồ Phật giáo trung đại, những người đã nhận ra sự già cỗi, cô độc hiện hữu củacon người và cố gắng tìm kiếm cái đẹp ngay trong sự cô độc, già cỗi đó Hơnthế, mối nguy hiểm luôn thường trực từ những thảm họa thiên nhiên đã rèn luyệncho người Nhật Bản một sự mẫn cảm đặc biệt với những thay đổi vô thường củathiên nhiên đã mang đến cho họ triết lý vô thường ấy Chính từ hai lý do này mànghệ thuật Nhật Bản luôn ngợi ca tính chất biến đổi không ngừng và không
Trang 26trường tồn của sự vật Những người không có sự tĩnh lặng trong tâm hồn không
thể nhận ra vẻ đẹp Yugen Cuối cùng tất cả được gói gọn trong khái niệm “Mono
no aware”-cái đẹp u buồn Cũng bởi thế dù mọi dân tộc trên thế giới đều biết
hoặc vui hoặc buồn trước những đổi thay mà thời gian mang lại nhưng có lẽ chỉngười Nhật mới có thể cảm nhận tinh tế cái đẹp chính trong sự tồn tại ngắn ngủicủa sự vật Không phải ngẫu nhiên mà hoa anh đào lại được chọn làm biểu tượngcho thiên nhiên của xứ sở này Sắc hoa khơi gợi niềm say mê trong lòng ngườiNhật không chỉ vì vẻ đẹp mà còn vì sự tồn tại ngắn ngủi của nó Hoa anh đàokhông tàn lụi trên cành Chỉ một làn hơi thoảng nhẹ qua, những cánh hoa cũnglìa cành Hoa anh đào thà rụng khi còn thắm sắc hơn là để sắc đẹp phải tàn phai
Quả là không dễ để có thể khái quát chuẩn mực cái đẹp trong truyền thốngvăn hóa của người Nhật thành luận điểm hay một khái niệm mang tính bất biếnnào đó Cách đặc trưng hóa ấy sa vào sự khuôn sáo làm mất đi sức hấp dẫn củanhững “khoảng trống” của sự liên tưởng mang tính truyền thống trong thưởngthức tác phẩm nghệ thuật của đất nước này Song với cái nhìn sơ lược trên cũng
hé mở phần nào con đường đi tìm căn nguyên vì sao Genji monogatari của
Murasaki thấm đẫm cảm thức vô cùng tinh tế về cái đẹp mang tính chất truyềnthống văn hóa Nhật
1.2 Vài nét về văn học thời Heian
Triều đình Heian rất coi trọng văn học ngay từ đầu thời kỳ dưới sự trị vì của
ba vị vua kế tiếp Thiên hoàng Kamu Cả ba đều quan tâm chăm lo việc giáo dục
và văn học nên có thể coi đây là thời kỳ huy hoàng của văn học Nhật Theo NgôMinh Thủy [66], văn học thời Heian có thể chia ra làm 4 giai đoạn Giai đoạnđầu vào khoảng đầu thế kỷ thứ IX chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung
Quốc Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ IX Lúc này làn sóng văn học
Trang 27Trung Quốc đã lắng xuống, người ta bắt đầu quay về với văn học dân tộc Do đóđây còn được gọi là thời kỳ quá độ từ văn học vay mượn nước ngoài sang nềnvăn học mang đậm tính dân tộc Một yếu tố quyết định đến sự phát triển của vănhọc Nhật Bản thời kỳ này là sự phát triển của chữ viết Sau một thời gian dài vănhọc phần lớn được thể hiện bằng ngôn ngữ Trung Hoa thì nay, sự phát triển hệthống ngữ âm khiến người ta có thể dễ dàng viết bằng tiếng Nhật Giai đoạn thứ
ba bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ X là giai đoạn trưởng thành của văn học Nhật viếtbằng tiếng dân tộc và cũng chính là thời kỳ nổi bật lên vai trò “thống trị” văn hoácủa nữ giới khi hầu hết các tác phẩm văn học là do họ sáng tác Các tác giả nữthời này chủ yếu là những phụ nữ thượng lưu và trung lưu Giai đoạn thứ tư bắtđầu vào cuối thế kỷ thứ XI, là giai đoạn cuối của thời Heian Đó là giai đoạn hòabình cuối cùng trước khi chuyển sang thời kỳ đầy tai biến trong lịch sử NhậtBản, khi những cuộc chiến tranh liên miên khiến cho xã hội đảo lộn và văn họckhông còn phát triển rực rỡ như trước
1.2.1 Sự trỗi dậy của các nhà văn nữ
Như trên đã nói, giai đoạn thứ ba của văn học thời Heian là thời kỳ dấu ấn
tính nữ đã phóng chiếu vào văn học đậm nét Đầu tiên phải kể đến cuốn Kagero nikki (nikki là thể loại nhật ký, Kagero nghĩa là con phù du, nên tác phẩm này còn có thể dịch là “Nhật ký con phù du” hay “Phù du nhật ký” vì cuốn sách nói
về sự mong manh, ngắn ngủi trong hạnh phúc của con người giống như cuộc đờicủa con phù du) được coi là tác phẩm đầu tiên viết dưới dạng nhật ký của dòng
văn học nữ lưu Phù du nhật ký được xem là chân dung tự họa rất tài tình về tâm
hồn của một phụ nữ khả ái vào thế kỷ thứ X Sau đó, nhật ký trở thành thể loại
văn học phổ biến trong nữ giới với một loạt tác phẩm ra đời như: Izumi shikibu
Trang 28nikki (Nhật ký Izumi Shikibu), Murasaki shikibu nikki (Nhật ký Murasaki Shikibu), Sarashina nikki (Nhật ký Sarashina.v.v
Nhà văn lớn nhất của thời đại này và là một trong những tác giả lớn nhất
của nền văn học Nhật Bản phải nói đến tác giả của Genji monogatari (“Genji vật
ngữ”-Truyện Genji hay Truyện kể Genji) là Murasaki Shikibu, một cung nữ
thuộc dòng dõi quý tộc nổi tiếng Fujiwara, con gái của một đại thần trong triều
vua lúc bấy giờ Người ta chưa rõ Genji Monogatari được sáng tác vào năm nào,
có thể vào khoảng từ năm 1004 đến năm 1012 và được xem là cuốn tiểu thuyếtđầu tiên trên thế giới Trong cuốn tiểu thuyết này, cuộc sống cung đình, nhữngmối quan hệ xã hội cũng như tình cảm riêng tư của các nhân vật đều được mô tả
hết sức kỹ càng và tinh tế Genji monogatari không chỉ có ý nghĩa là cuốn tiểu
thuyết đầu tiên, mà còn có vai trò ảnh hưởng không nhỏ đến văn học Nhật nóiriêng và văn hoá Nhật nói chung Từ đây, một loạt tác phẩm khác ra đời, như
Mitsumi chu nagon monogatari (Truyện quan tham nghị “bờ đê” Tsutsumi), Yoru no Nezame (Nửa đêm thức giấc), Hahamatsu chu nagon monogatari (Truyện quan tham nghị Hamamatsu), Sagoromo monogatari (Truyện tướng Sagoromo) Dù trở thành nguồn cảm hứng bất tận của rất nhiều văn nghệ sĩ Nhật Bản mọi thời đại nhưng chưa tác phẩm nào có thể sánh nổi với Truyện kể Genji
Một nữ văn sĩ vĩ đại khác của thời Heian là Sei Shonagon mà tên tuổi gắnliền với thể tuỳ bút đến nay vẫn được các nhà văn Nhật hết sức ưa chuộng Tác
phẩm chính của Shonagon là Makura no Soshi (“Chẩm thảo tử”, hay còn gọi là
“Sách gối đầu”), được coi là cuốn tùy bút đầu tiên của Nhật và thường được đặt bên cạnh Genji monogatari như hai đỉnh cao trong văn học thời Heian dù về
nhiều phương diện chúng rất khác nhau Shonagon cũng là một cung nữ và làcon gái của nhà thơ nổi tiếng Kyorarano Motozuke Tương truyền, vì thời đó
Trang 29giấy rất hiếm, Shonagon phải giả vờ xin Hoàng Hậu về làm gối nhưng sau đódùng để ghi chép những tâm sự thầm kín của mình Và nó đã trở thành chiếc gối
nổi tiếng nhất trong lịch sử Hoàn thành khoảng năm 1001, Makura no soshi là
một cuốn sách dài chia làm 3 phần: phần một nói về cái đẹp của vạn vật; phầnhai là phần tùy bút, trong đó tác giả ghi lại những ý kiến, suy nghĩ, kinh nghiệmcủa bản thân mình về thế giới xung quanh, và phần thứ ba là nhật ký
Bên cạnh đấy, ảnh hưởng của các nhà văn nữ đến một số tác phẩm khác là
không nhỏ Chẳng hạn với Eiga monogatari (“Truyện vinh hoa” gồm hai phần,
40 tập) được xem là cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Nhật Nội dung củacuốn sách này là các sự kiện lịch sử từ thời Thiên hoàng Uda (năm 900) đến thờiThiên hoàng Horikawa (năm 1090), có nghĩa là 15 triều đại vua (1100 năm) Cácnhà nghiên cứu cho rằng những sự kiện lịch sử trong tác phẩm này được dựa vàocác tác phẩm đã ra đời trước nó, trong đó có những ghi chép của các tác giả nữ,nhất là những ghi chép trong các cuốn nhật ký của họ
Trong thể loại thơ, (cụ thể là tanka - thể loại được sáng tác nhiều nhất trong thời Heian) từ Vạn diệp tập (Manyoshu) của Nara đến Cổ kim tập (Kokinshu) của Heian, tanka là kết tinh vẻ đẹp tính nữ của văn chương Heian và là thể thơ mẫu
mực đã trở thành cổ điển của nền văn học Phù Tang Tanka (hay waka: đoản ca,
hòa ca) vốn có nguồn gốc là một thể thơ truyền thống của Nhật Bản, được ghichép vào thời Nara Đội ngũ sáng tác của tanka khá đa dạng nhưng chủ yếu làtầng lớp quý tộc cung đình Heian, không phân biệt nam hay nữ Tuy nhiên, nổi
bật trong đội ngũ sáng tác thơ của phái nữ thời kỳ này trong Kokinshu là
Komachi và Ise Nổi danh về sắc đẹp, tài thơ và cuộc đời lãng mạn, Komachihầu như trở thành một nhân vật hư ảo Qua những tác phẩm của Komachi, người
ta thấy nàng như một hình bóng u sầu lang thang qua bao nhiêu thế kỷ, như một
Trang 30nhà thơ của tàn phai và hư ảo Nhưng thơ ca Komachi, “bằng trái tim đã tình cùa nó, đã hồi sinh qua từng thế hệ, ngay trong lòng hư ảo, tàn phai” [3,77].
Còn Ise vốn là cung phi của Thiên hoàng Uda Nàng cũng để lại cho Heiannhững vần thơ đầy nồng nàn và nữ tính
Như vậy có thể nói rằng, trong thời Heian, các nhà văn nữ đã đóng vai tròchủ chốt trong việc sáng tạo nên một nền văn học độc đáo mà nhiều yếu tố của
nó trở thành nền tảng của văn học và văn hóa dân tộc Trong khi các đấng màyrâu say sưa với chữ Hán thì những người phụ nữ Nhật Bản đã rất thành thạo chữ
kana và sáng tạo nên những tác phẩm nổi tiếng bằng chữ viết của chính dân tộc
mình Điều đó không những khiến cho văn học mà chữ viết của Nhật Bản cũngphát triển hơn Một trong những lý do khiến những người phụ nữ giai đoạn nàyphát huy được năng lực của mình và để lại những dấu ấn sắc nét như vậy trongvăn học Nhật là họ được tự do, bình đẳng và trọng dụng, điều hiếm có trong các
xã hội phong kiến khác Chính vì thế, họ đã tạo nên một vẻ đẹp vô cùng tươimát, phóng khoáng mà hết sức thanh tao cho văn học Phù Tang
1.2.2 Những cảm hứng sáng tạo nổi bật
Chính dấu ấn tính nữ phóng chiếu vào văn học đậm nét đã tạo nên chất trữtình đằm thắm rất độc đáo, tinh tế điển hình của văn học Heian nói riêng, vănhọc Nhật Bản nói chung Dấu ấn tính nữ đã có trong những truyền thuyết, huyềnthoại từ ngàn xưa và bàng bạc trong nền thơ ca cổ điển thời Nara Nhưng đếndòng văn học nữ lưu thời Heian đã thực sự ghi dấu ấn và ảnh hưởng sâu sắctrong việc định hướng cảm hứng chủ đạo cho văn học Nhật Bản thời kỳ này: đó
là dòng văn học sắc tình và tính nữ [69].
Sắc tình được xem là một trong những đặc điểm của truyền thống văn hóa
và văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến hiện đại Nói sắc tình nghĩa là nói đến tình
Trang 31yêu mang yếu tố nhục cảm Từ sắc tình mới có sắc dục Tất cả đều được đặt
trong quan niệm thẩm mỹ của người Nhật, bởi thiên hướng, bản chất cố hữu của
họ là luôn nhìn tất cả sự vật bằng con mắt của nhà nghệ sĩ Tình dục trong tác
phẩm văn chương cũng không nằm ngoài lăng kính ấy Thuật ngữ sắc tình hay sắc dục đã nói lên được tính chất cốt lõi của đề tài nhạy cảm này trong văn học
Phù Tang Yếu tố sắc dục được thể hiện khá táo bạo trong thời kỳ này với kiệt
tác Truyện kể Genji của nữ sĩ Murasaki Đây là tác phẩm viết về tầng lớp quý tộc phong kiến Heian với những biểu hiện của sắc dục rất đậm nét Trong Truyện kể Genji, có khá nhiều đoạn miêu tả cảnh ái ân nam nữ Nhân vật chính là hoàng tử
hào hoa, đa tình và đa mang Genji đã có quan hệ luyến ái với nhiều người nhưngchàng chưa từng bỏ rơi cô gái nào cho dẫu chỉ gần gũi thoáng chốc Chính vìvậy, Genji nổi tiếng như một người tình xuất chúng mà cho đến ngày nay, chàng
vẫn là một biểu tượng sắc tình trong văn học Nhật Bản Mặc dù tình yêu và tình dục là hai chủ đề chính của Truyện kể Genji, song tác phẩm không quá trần tục,
mà được tác giả miêu tả một cách rất tinh tế vừa đủ để độc giả cảm nhận
Bên cạnh đấy, các nhà thơ nữ tài sắc của thời kỳ Heian như: Komachi,Izumi, Ise, Sakanoeno Iratsume cũng đã viết nên những bài tanka tình yêutuyệt đẹp Đó là tình yêu đam mê, tận hiến và giàu hi sinh Từ những cảm xúcnhẹ nhàng, man mác của tình yêu chớm nở, đến nỗi nhớ nhung khắc khoải khiphải chia xa, hay những sắc diện tình yêu thiết tha, mãnh liệt… đều được diễn tả
một cách chân thực và tinh tế đã tạo nên điểm sáng nhất của tính nữ trong văn
học Heian
Tuy nhiên, dù mang dấu ấn sắc tình hay tính nữ, đúng như đặc trưng mỹ
cảm của văn hóa Heian là tôn thờ cái đẹp, là cảm thức sâu xa về kiếp phù du ởtrần thế, thì đích hướng tới của văn chương Heian vẫn là cái đẹp, nhất là cái đẹp
Trang 32mong manh, dễ vỡ, dễ tàn phai Nhân vật chính của Truyện kể Genji- hoàng tử
Genji là người suốt đời tìm kiếm cái đẹp Chàng luôn bị cuốn hút bởi vẻ đẹp ởnhững người phụ nữ và say sưa tìm kiếm, chinh phục những bông hoa lạ Mặtkhác, Genji lại có vẻ đẹp vô song của một “hoàng tử ánh sáng” không chỉ hìnhthức mà sự mẫn tiệp, tài năng trong các lĩnh vực từ âm nhạc, múa cổ truyền tớicác bài thơ của chàng khiến cho những người xung quanh phải choáng ngợp vìngưỡng mộ Vì lẽ đó, Genji trở thành một hình tượng người đàn ông ''hoàn hảo'',một nhân vật hoàn thiện, một quan niệm về cái đẹp hoàn mỹ và là biểu tượngcho sự kiếm tìm cái đẹp hoàn mỹ dù chỉ là phù du
Các nhà thơ tanka cũng để lại những nốt nhạc lòng về tình yêu và nhân thếgiữa cõi phù sinh ngắn ngủi Lấy tình yêu làm cứu cánh cho cuộc đời, thơ TankaHeian cũng đã chạm vào những góc khuất tình cảm riêng tư, sâu kín nhất của
con người Từ “Phù du nhật ký” cho đến “Nhật ký Izumi” đều tràn đầy niềm bi cảm aware Ngay cả tùy bút “Sách gối đầu” (Makura no soshi) của Sei Shonagon dù cảm thức chủ đạo là Okashi (cảm thức hóm hỉnh, hài hước và nhạy
cảm trước những gì kỳ thú và nghịch dị) thì dường như thấp thoáng đằng sau cái
“tiếu” (okashi) ấy vẫn là cái “ai” (aware) để phô diễn tấn trò đời đam mê, điên rồ
và phù phiếm Chính vì vậy, dù thuộc thể loại nào từ tùy bút (Zuihitsu), nhật ký(nikki), thơ ca (cụ thể là Tanka) cho đến truyện (vật ngữ- Monogatari), dù cảm
hứng chủ đạo là sắc tính hay tính nữ cũng đều là những thức cảm aware tinh tế
về thiên nhiên, về nhân thế và về cái đẹp
1.2.3 Những thành tựu tiêu biểu
1.2.3.1.Thơ ca
Trang 33Chính quyền Heian thời đó đặc biệt khuyến khích việc làm thơ Từ đầu thếkỷ thứ X, triều đình đã cho xuất bản một loạt tập thơ viết bằng tiếng Nhật (chữ
Kana) Tập quan trọng nhất là cuốn đầu tiên: Kokinshu (Cổ Kim tập, tên đầy đủ
là Kokinwakashu-Cổ kim hòa ca tập ) hoàn tất năm 905 do thi sĩ Ki no Tsurayuki
chủ biên theo sắc lệnh của triều đình Kokinshu gồm 1.111 bài thơ, ngoại trừ 4bài sedoka và 5 bài choka, tất cả đều là thơ tanka và được chia làm 20 tập Bốnmùa, thiên nhiên là chủ đề của sáu tập đầu tiên, tình yêu là chủ đề của năm tậpkhác Những tập còn lại gồm các chủ đề hạnh phúc, chia li, bi ca, du hành Nếu
như ở Manyoshu có năm nhà thơ được tôn xưng là Manyo no Gotaika (Vạn diệp ngũ đại gia) thì ở Kokinshu có sáu thi sĩ cũng được tôn xưng là sáu thiên tài Rokkasen (Lục ca tiên) gồm: Henjo (810-890), Narihira (828-880), Yasuhide
(Thế kỷ thứ IX), Kisen, Kuronushi(Thế kỷ thứ IX) và Komachi (834-880) Ngoài
Kokinshu còn một số hợp tuyển thơ ca khác nữa Tất cả đều được biên soạn theo
lệnh triều đình
1.2.3.2.Các tác phẩm vật ngữ (Monogatari)
Chữ Monogatari (vật ngữ) như trên đã nói có nghĩa đơn giản là “Truyện”
bất kể thể loại truyện nào từ truyện thần tiên đến truyện lịch sử, từ truyện ngắn
đến tiểu thuyết Nguồn gốc của Monogatari chưa thể xác định nhưng sớm nhất thuộc thể loại này còn lại là Taketori Monogatari (Trúc thủ vật ngữ, tức Truyện người đẵn tre) viết về nàng Kaguya Hime nên còn được gọi là Kaguya Hime - Tiểu thư ánh trăng Cho đến tận bây giờ, Tiểu thư ánh trăng vẫn được ca ngợi
như là sự tôn thờ đối với cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp cao nhã, trinh bạch Ít có tác
phẩm Monogatari nào vừa ngắn gọn lại vừa giàu ý nghĩa đến thế trong văn học
cổ điển Nhật Bản
Trang 34Cuối thế kỷ thứ X nổi lên thể loại văn chương kết hợp truyện và thơ gọi là
Uta Monogatari (Ca vật ngữ) Tác phẩm thành công nhất thuộc thể loại này là Ise Monogatari (Truyện kể xứ Ise) Loại tác phẩm này bao gồm nhiều mẩu chuyện được xâu chuỗi quanh một chủ đề hay nhân vật nào đó Truyện kể xứ Ise
gồm 43 đoạn, mỗi đoạn đều có một hay hai bài thơ và phần tự sự văn xuôi phù
hợp với ý thơ Ở Ise Monogatari ngay cả phần văn xuôi cũng giàu chất thơ Do
vậy, đây là một thành tựu đáng kể của văn học Heian
Đặc biệt, tập truyện ngắn (đúng theo nghĩa truyện ngắn mà ta hiểu ngàynay) gồm mười truyện ngắn đã xuất hiện vào thế kỷ XI ở Nhật có tiêu đề là
Tsutsumi chunagon monogatari (tức Truyện quan tham nghị “bờ đê” Tsutsumi).
Tất cả đều thoát li không khí truyện cổ hay thần kỳ mà mang màu sắc hiện thực,viết về đời sống thường ngày với giọng điệu trào lộng Trong đó, độc đáo hơn cả
có lẽ là truyện Mushi mezuru himegimi (Trùng ái cơ quân, tức Tiểu thư sâu bọ).
Từ Tiểu thư ánh trăng đến Tiểu thư sâu bọ là một bước tiến vượt trội của văn học Heian Bởi Tiểu thư ánh trăng dù đã là tác phẩm văn học nhưng vẫn là truyện cổ tích Trong khi đó Tiểu thư sâu bọ đã là một truyện ngắn hiện thực
thực sự
Tuy nhiên, tác phẩm văn xuôi vĩ đại nhất của văn học Nhật Bản chính là
Genji monogatari (Truyện kể Genji) ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XI được xem
là tiểu thuyết tâm lí đầu tiên trên thế giới Sự thành công và vai trò ảnh hưởng
của Genji monogatari đến văn học cũng như văn hóa Nhật sau này đến mức
ngày nay người ta vẫn dành cho nó những lời tôn kính nhất, những trang viết
trang trọng nhất Có thể nói, với Truyện kể Genji và Tiểu thư sâu bọ, văn học Nhật dường như “phóng một bước đi kỳ diệu, chưa từng có, mới mẻ và hiện đại”
Và văn chương Heian thực sự đã “đạt đến đỉnh cao của thiên tài” [3,99].
Trang 351.2.3.3 Tùy bút và Nhật ký
Một trong những hiện tượng đáng chú ý nhất của văn học Heian là sự xuấthiện của các thể loại ghi chép ấn tượng cá nhân: nhật ký và tùy bút (nikki vàzuihitsu) Các thể loại này không chỉ đạt được những thành tựu to lớn trong thờiđại quý tộc Heian, mà còn phát triển về sau với nhiều kiệt tác ảnh hưởng đến cảthời hiện đại
Nhắc đến tùy bút cổ điển, phải nói đến Makura no soshi (tức Chẩm thảo tử- Sách gối đầu) của nữ sĩ Sei Shonagon Như trên đã nói, Makura no soshi thường được đặt cạnh Genji monogatari như hai kiệt tác, hai đỉnh cao của văn
học Heian Tác phẩm được xem là mở đầu cho thể loại mới gọi là zuihitsu (tùybút) trong văn học Nhật Phải nói rằng, đôi mắt sắc sảo của Sei Shonagon hầunhư không bỏ qua bất cứ điều gì khi nhìn ra thế giới xung quanh Từ đời sốnggia đình, xã hội đến thiên nhiên Từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ Từ những điềuđáng yêu đến đáng ghét v.v…đều được nàng quan sát và thể hiện một cách sinhđộng, sắc sảo Đặc trưng nổi bật trong tác phẩm Sei Shonagon là cảm thức
Okashi (cảm thức hóm hỉnh, hài hước và nhạy cảm trước những gì kỳ thú và
nghịch dị) Sự hóm hỉnh của Sei Shonagon thường có tính chất trào phúng hoặcbiếm họa tạo nên nhiều bất ngờ, thú vị và khác biệt so với các tác phẩm của các
nữ sĩ thời bấy giờ
Nhật ký thời Heian có thể chia làm hai loại: Thứ nhất, là những sáng tác cóchung một đề tài đi sâu vào những kinh nghiệm cá nhân; thứ hai là các cuốn nhậtký không theo một đề tài cố định nào mà trình bày các biến cố, sự kiện được
quan sát mỗi ngày Nổi bật nhất trong thể loại nhật ký thời kỳ này là Kagero nikki (Phù du nhật ký), Izumi nikki (Nhật ký Izumi) và Murasaki Shikibu nikki (Nhật ký Murasaki)
Trang 36Kagero nikki (974) thuộc về một phụ nữ mà người ta chỉ biết nàng là vợ của
hoàng thân Kaneie gồm 3 tập kể lại giản dị và chân thành tình yêu của nàng vớiKaneie Tập nhật ký đã diễn tả hết sức sinh động tâm lý của người phụ nữ trongtình yêu với các cung bậc tình cảm phong phú, phức tạp như hạnh phúc, ghen
tuông, cô đơn, buồn khổ…Về phương diện này, ngoài Truyện kể Genji, Kagero nikki không có đối thủ Và sau Kagero nikki, nhật ký trở thành thể loại văn học
phổ biến trong nữ giới Còn Izumi được xưng tụng là nhà thơ nữ thiên tài nhất
của Nhật Bản Theo như ta được biết, Izumi nikki (1003) là tác phẩm văn xuôi
độc nhất của nàng Tập nhật ký là một tiểu thuyết ngắn về tình yêu nồng nàn,cuồng nhiệt và đam mê như chính bản tính mãnh liệt và độc đáo của Izumi Với
Murasaki, bên cạnh Truyện kể Genji, nàng còn để lại một kiệt tác Murasaki Shikibu nikki (1010) Cuốn nhật ký của nàng quý giá ở chỗ nó không chỉ là
nguồn tư liệu độc nhất về cuộc đời nữ văn hào Murasaki do chính nàng viết ra,
mà nó còn là bức tranh sinh động về cuộc sống gia đình hoàng gia vào thời hưngthịnh nhất
1.3 Murasaki - hiện tượng kiệt xuất của văn học Heian
Trang 37quý bị coi là điều không đứng đắn, chỉ có ngoại lệ lạ lùng là tên cung phi của vua
và các quận chúa thuộc hoàng gia thì được cho phép Biệt hiệu Shikibu chỉ mộttước vị mà nàng thừa hưởng của cha mình, và Murasaki có thể xuất phát từ tên
của một trong những nhân vật chính trong cuốn Truyện kể Genji.
Sử sách không ghi chép nữ sĩ sinh mất vào năm nào nhưng người ta suyđịnh khoảng thời gian giữa 978 đến 1016 Murasaki Shikibu thuộc cành thứ củadòng họ lớn Fujiwara trị vì đất nước trong suốt phần lớn thời Heian Tuy nhiênkhi Murasaki Shikibu mới ra đời chi họ của nàng bị tụt xuống hạng thứ tronggiới quý tộc cung đình Không ai biết gì nhiều về thời thơ ấu của Murasaki ngoàinhững điều nàng tự viết trong nhật ký của mình Trong lời mào đầu của cuốn
Nhật ký Murasaki Shikibu (Murasaki Shikibu nikki) mô tả các biến cố triều đình
từ cuối 1008 đến đầu 1010 cho chúng ta biết nàng sinh ra trong một gia đình nổitiếng thi thư Cha nàng, ông Fujiwara no Tametoki là một học giả uyên bác, từngdạy học cho thiên hoàng Kazan lúc còn là thái tử, nhưng lại có địa vị khiêmnhường ở thủ đô và đã hai lần làm tỉnh trưởng Echizen Ông Tametoki còn rấtgiỏi về thơ chữ Hán và thơ quốc âm Mẹ mất sớm lúc Murasaki lên bốn, nhờ chachăm lo nên tuy là nhi nữ nhưng nàng có học vấn sâu rộng Tametoki thườngthan phiền nàng không phải là con trai, nhất là sau khi hai người chị và em củanàng chết yểu Ảnh hưởng của cha đối với nàng là rất lớn nên nàng có sức quansát bén nhạy vừa từ tâm thế phụ nữ lại vừa từ tâm thế nam nhi được thể hiện khá
rõ nét trong Truyện kể Genji.
Murasaki vào triều hầu hạ hoàng hậu Akiko, con gái của quan tể tướngMichinaga, trong cung điện Fujitsubo thời Thiên hoàng Ichijo (986-1011) trongkhoảng giữa thập niên đầu của thế kỷ XI Khi Thiên hoàng Ichijo băng hà,Murasaki Shikibu còn ở lại trong cung phục vụ hoàng hậu Akiko hai năm tiếp
Trang 38theo Mặc dù có một trí tuệ khác thường, Murasaki Shikibu đã phải tiếp thu tất cả
những kiến thức văn hóa rộng lớn đương thời mà người thiếu phụ này truyềncho, từ lịch sử Trung Hoa, thơ ca trữ tình Trung Hoa và Nhật Bản cho đến cáctrước tác triết học Khổng giáo và Phật giáo Khoảng năm 998 hoặc năm 999,Murasaki Shikibu kết hôn với người anh họ Nobutaka Đó là cuộc hôn nhân hạnhphúc và nàng sinh hạ được một con gái vào năm 1000, rồi trở thành góa bụa năm
1001 Chịu nhiều đau khổ sâu sắc trong đời tư nên Murasaki Shikibu sống trầm
ngâm và dồn sinh lực của đời mình vào việc sáng tạo nghệ thuật Chính vì vậy,nàng đã gặt hái được nhiều thành công trong cả âm nhạc, thơ ca lẫn hội họa, vàđặc biệt là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Truyện kể Genji
bút lừng danh Makura no sohsi (Chẩm thảo tử), tức Sách gối đầu Thì trong
cung Fujitsubu, niềm tự hào của hoàng hậu Akiko là Murasaki Shikibu với
Truyện kể Genji cũng lừng lẫy danh tiếng Sự nghiệp sáng tác của Murasaki
Shikibu tuy ngắn ngủi, số lượng tác phẩm cũng không đồ sộ, nhưng những gì mànàng để lại cho văn học Phù Tang không chỉ khiến cho thời đại nàng đã sống mà
cả hậu thế mai sau vẫn phải nghiêng mình nể phục
Sử sách không ghi chép lại Murasaki viết Truyện kể Genji vào năm nào.
Nhưng có một điều chắc chắn rằng, sự nở rộ của thể loại nhật ký vào thế kỷ thứ
X dường như là yếu tố tạo cảm hứng cho Murasaki Shikibu viết Truyện kể Genji
bởi đấy là những thể loại ít nhiều bộc lộ được tâm trạng và bản tính người chấp
Trang 39bút trên trang viết Truyện được viết bằng chữ kana, theo thể loại monogatari(truyện) cổ điển đã có lịch sử phát triển từ 200 năm trước đó của Nhật Bản với
54 chương và được đánh giá là ‘‘một kiệt tác đứng vào hàng lớn nhất của văn xuôi cổ điển Nhật Bản cũng như văn xuôi nhân loại’’ [83,1020].
Ngoài Truyện kể Genji, Murasaki Shikibu còn để lại một tập nhật ký về đời riêng, cuốn Murasaki Shikibu nikki, mà tổng hợp trong đó nhiều thể loại văn học
cổ điển được người viết sử dụng đan xen Tập nhật ký đã vẽ ra nhiều tính cáchsắc nét của những người cùng thời Bằng sự tài tình của một cây bút hội họa đặcsắc, Murasaki khắc họa tâm lý cũng như miêu tả ngoại hình nhân vật một cáchsống động cho thấy những nhận thức sâu sắc và tinh tế của nữ sĩ về con người.Ngoài ra, nàng còn để lại nhiều bài thơ theo thể Renga (liên ca) được tuyển chọntrong một hợp tuyển thơ văn cổ cùng hàng trăm bài thơ đối đáp, ngâm vịnh trong
cuốn Truyện kể Genji đến nay vẫn còn được lưu giữ.
1.3.3 Kiệt tác Truyện kể Genji
Truyện kể Genji xoay quanh hình tượng nhân vật hoàng tử Genji trong phần chính và Kaoru- người con trai trên danh nghĩa của Genji trong phần Uji thập thiếp cùng mối quan hệ của họ với những người phụ nữ Đây là tác phẩm
mà theo N Konrad thuộc một trong những truyện “lớn về dung lượng, phức tạp
về nội dung mà hết sức quyến rũ về mặt hình thức trong lịch sử văn học thế giới”[39,175] và được xem là tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại.Nghĩa là sớm hơn rất nhiều so với sự ra đời của tiểu thuyết ở châu Âu với tácphẩm Đôn Kihôtê của Tây Ban Nha và Hồng Lâu Mộng của Trung Quốc vào thếkỷ XVI Mặc dù bản cổ đã mất và bản còn biết ngày nay có niên đại thuộc thờiKamakura (200 năm sau khi tác phẩm ra đời) nhưng nghiên cứu mới nhất từ giới
Trang 40học giả Nhật Bản vẫn cho thấy Truyện kể Genji là công trình của một người duy
được gọi bằng tên Uji thập thiếp (Uji jujo), lấy bối cảnh ngoài kinh đô là miền
Uji Các chương này tập trung viết về người con trai trên danh nghĩa của Genjitên là Kaoru và cháu ngoại của Genji là hoàng tử Niou Cũng có cách cấu trúctác phẩm thành ba phần gồm 33 chương đầu tập trung sự kiện trong thế kỷ 10,nhân vật hoàng tử Genji được lý tưởng hóa, mặc dù có thất bại nhưng sự nghiệpcủa chàng chủ yếu là một câu chuyện của sự thành công Từ chương thứ 34 trở
đi cho đến hết chương 41, cho thấy một hình ảnh Genji khác biệt Bóng tối từđây đã bao trùm lên cuộc sống của Genji Sau 3 chương chuyển tiếp đến cácchương Uji, cốt truyện đã đi theo hướng phát triển tính chất bi quan, không gianchuyển từ thủ đô tới làng Uji và tính cách cũng như hành động nhân vật trở nênmờ nhạt
Đầu thế kỷ XX, nhiều nhà văn, dịch giả Nhật Bản đã dày công dịch
Truyện kể Genji từ tiếng Nhật cổ ra kim văn, trong đó có bản của văn hào
Tanizaki Jun’ichiro và nữ sĩ Setouchi Jakucho Bản thông dụng nhất có lẽ là bảnkhổ bỏ túi của nhà xuất bản Kodansha năm 1978 gồm 7 cuốn, tổng cộng 3500trang khổ A6 với cỡ chữ rất nhỏ, do Giáo sư Imaizumi Tadayoshi (1910-1976)
dịch toàn văn [75] Truyện kể Genji cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế
giới nhờ nỗ lực của các dịch giả như Arthur Waley (Anh), Edward Seidensticker