1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường thi hương gia định từ năm 1813 đến năm 1858 luận văn thạc sĩ lịch sử

145 442 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nghiên cứu về giáo dục khoa cử triều Nguyễn và lịch sử hình thành phát triển của các kỳ thi Hương trong đó có trường thi Hương Gia Định là góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu, đánh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-NGUYỄN THỊ QUỲNH TRÂM

TRƯỜNG THI HƯƠNG GIA ĐỊNH

TỪ NĂM 1813 ĐẾN NĂM 1858

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-NGUYỄN THỊ QUỲNH TRÂM

TRƯỜNG THI HƯƠNG GIA ĐỊNH

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-NGUYỄN THỊ QUỲNH TRÂM

TRƯỜNG THI HƯƠNG GIA ĐỊNH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Quang Hồng - người trực tiếp hướng dẫn luận văn, rất quan tâm giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô nhiệt tình giảng dạy và truyền thụ kiến thức, đến Khoa Lịch Sử của trường Đại học Vinh, Phòng tổ chức cán bộ trường Đại học Sài Gòn, các thư viện, những nơi tôi đến liên hệ tìm tư liệu, cùng sự quan tâm động viên, tạo điều kiện thuận lợi của cơ quan, đồng nghiệp và gia đình.

Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến tất cả mọi người đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!

Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh Trâm

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 04

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 06

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 09

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Kết cấu của luận văn 11

NỘI DUNG Chương 1: Khái quát về hệ thống trường thi Hương ở Việt Nam dưới thời Nguyễn 1.1 Chính sách giáo dục, khoa cử của nhà Nguyễn. 1.1.1 Vài nét về triều Nguyễn 12

1.1.2 Khái quát tình hình giáo dục của triều Nguyễn 14

1.1.3 Khái quát tình hình khoa cử của triều Nguyễn 19

1.2 Vài nét về các trường thi Hương ở nước ta từ năm 1807 đến năm 1918. 1.2.1 Thi Hương: Nội dung giáo dục và tổ chức 1.2.1.1 Nội dung giáo dục 21

1.2.1.2 Tổ chức thi Hương 24

1.2.2 Các trường thi Hương ở nước ta từ năm 1807 đến năm 1918 1.2.2.1 Trường thi Hương – những quy cách chung 32

1.2.2.2 Các trường thi Hương ở triều Nguyễn 34

Tiểu kết chương 1 39

Trang 6

Chương 2: Lịch sử hình thành, phát triển của trường thi Hương Gia Định từ năm 1813 đến năm 1858.

2.1 Khái quát chung về vùng đất Gia Định.

2.1.1 Vị trí địa lý 40

2.1.2 Tình hình chính trị - xã hội 43

2.1.3 Vài nét về tình hình giáo dục ở Gia Định trước năm 1813 47

2.2 Trường thi Hương Gia Định. 2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử và sự ra đời của trường thi Hương Gia Định 50

2.2.2 Vị trí, quy mô và kiến trúc trường thi Hương Gia Định 52

2.3 Các kỳ thi được tổ chức tại trường thi Hương Gia Định 2.3.1 Khoa thi đầu tiên (1813) 57

2.3.2 Các khoa thi tiếp nối (1813 - 1858) 59

Tiểu kết chương 2 91

Chương 3: Đóng góp của học trò trưởng thành từ trường thi Hương Gia Định đối với lịch sử dân tộc. 3.1 Học trò trường thi Hương Gia Định với công cuộc xây dựng đất nước và đấu tranh chống ngoại xâm thế kỉ XIX 93

3.2 Một số nho sĩ tiêu biểu của trường thi Hương Gia Định 99

Tiểu kết chương 3 115

KẾT LUẬN 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

CÁC PHỤ LỤC .128

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Về mặt khoa học

- Từ năm 1075 – 1919 giáo dục khoa cử là một trong những con đường

để nhà nước phong kiến Việt Nam tuyển chọn quan lại Thật vậy, trong Lịch

triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú có nhận xét “Con đường tìm người tài giỏi, trước hết là khoa mục Phàm muốn thu hút người tài năng, tuấn kiệt vào trong phạm vi của mình, thì người làm vua một nước không thể không có

khoa cử” [8,tr.149] Các vua triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Tự

Đức…cũng đã nhận thấy được tầm quan trọng của chế độ khoa cử và rất quan tâm đến Kể từ thời Minh Mạng, việc đào tạo, tuyển chọn nhân tài ngày càng

được chấn chỉnh, mở mang và đi vào nề nếp, quy củ Theo số liệu trong Đại

Nam Liệt truyện chỉ tính từ thời Gia Long đến Tự Đức, số người tài được

tuyển chọn qua khoa cử là 247 người, còn không qua thi cử là 99 người, vậy cũng thấy rõ ưu tiên hàng đầu trong việc tuyển chọn quan lại của triều Nguyễn là thông qua thi cử

- Nghiên cứu về giáo dục khoa cử triều Nguyễn và lịch sử hình thành phát triển của các kỳ thi Hương trong đó có trường thi Hương Gia Định là góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu, đánh giá về vương triều Nguyễn một cách toàn diện Mặc dù số lượng trường thi Hương phân bố không đều và tỉ lệ

đỗ đạt ở các trường cao thấp khác nhau nhưng xu hướng thống nhất về học tập và thi cử là một thực tế không thể phủ nhận được Đây cũng là một cố gắng nhằm tạo ra sự thống nhất cho toàn bộ các hoạt động văn hóa khác Những người đỗ đạt từ các trường thi Hương trong cả nước được phép về kinh thành để tham gia thi Hội và thi Đình cho thấy nhà Nguyễn muốn tạo ra một nền tảng giáo dục và khoa cử chung trên phạm vi cả nước

- Trường thi Hương Gia Định ra đời từ năm 1813 và kết thúc vai trò lịch sử vào năm 1858 góp phần quan trọng trong lịch sử của vùng đất Gia

Trang 8

Định Dù chỉ xuất hiện trong gần nửa thế kỷ nhưng trong thời gian tồn tại của mình, trường thi Hương Gia Định đã có những đóng góp to lớn cho nền giáo dục và thi cử Nho học của cả nước nói chung và đặc biệt của đất Gia Định nói riêng Vì từ sau năm 1864, Gia Định học và thi theo chương trình quy định của Pháp, ảnh hưởng của Nho giáo không mất ngay nhưng tất cả các khoa thi thuộc chương trình giáo dục Nho học ở đây thì chấm dứt hẳn.

- Nghiên cứu về giáo dục khoa cử Nho học nói chung, trường thi Hương nói riêng là đề tài hấp dẫn thu hút nhiều người tham gia nhưng chưa được nghiên cứu có hệ thống Đa phần các tài liệu có nội dung rất chung về giáo dục và khoa cử, những nội dung đó chưa nêu bật được nét riêng biệt của từng khu vực Chắc chắn giáo dục và khoa cử của từng miền, từng địa phương đều có sự khác nhau, mỗi trường thi Hương có những đặc điểm riêng, vấn đề

là có quá ít tài liệu thể hiện sự khác nhau đó Vì vậy, tìm hiểu cụ thể về sự hình thành, phát triển và những đóng góp của trường thi Hương Gia Định cho lịch sử dân tộc sẽ là một đề tài rất thú vị và cần thiết

1.2 Về mặt thực tiễn

- Vùng đất Gia Định – Thành phố Hồ Chí Minh là một vùng đất trẻ so với các kinh đô lớn như Thăng Long, Huế Đây cũng được xem là vùng đất mới của phương Nam với quá trình hình thành và phát triển hơn 3 thế kỷ (1698 – 2012) Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đây vẫn là vùng đất hiền hòa, mến khách và đầy tiềm năng phát triển Vùng đất Gia Định- Thành phố

Hồ Chí Minh và nhiều vùng lân cận ngày nay có sự hình thành và phát triển

từ quá trình khai hoang, mở đất của ông cha xưa Cùng với sự mở mang về lãnh thổ, sự phát triển về kinh tế, sự quần tụ về dân cư là những đóng góp không nhỏ của nhiều người con sinh sống trên vùng đất này Họ không chỉ xây dựng nên một vùng Gia Định trù phú và phát triển về mọi mặt mà còn góp phần tạo những nét rất riêng cho thành phố này trên nhiều lĩnh vực, trong

đó có cả giáo dục

Trang 9

- Lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục khoa cử Nho học ở vùng đất Gia Định nói chung, trường thi Hương Gia Định nói riêng là đề tài có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Bởi vì, chỉ một thời gian sau khi Pháp chiếm Gia Định, vị trí, nơi tổ chức kỳ thi dần dần thay đổi hoặc biến mất Do đó, đề tài góp phần phục dựng một khoảng trống trong việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Gia Định.

- Trong xu thế hội nhập hiện nay, Gia Định xưa – Sài Gòn nay đang phát triển thành trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước Nghiên cứu

về lịch sử trường thi Hương Gia Định là góp phần sáng tỏ thêm về lịch sử giáo dục và khoa cử dưới triều Nguyễn ở một vùng đất mới - vùng đất Gia Định Lịch sử khoa cử và giáo dục của Gia Định bao gồm nhiều nội dung rất phong phú Trong đó, sự ra đời của các kỳ thi Hương được tổ chức ở Gia Định trong thời Nguyễn cùng với sự xuất hiện của lực lượng nho sĩ với những đóng góp của họ là một nội dung rất cần được tìm hiểu Một số nho sĩ rất thành công trong giai đoạn này như: Trương Minh Giảng, Nguyễn Thông, Nguyễn Hữu Huân, Phan Thanh Giản, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa…và còn rất nhiều người khác đã góp phần rất lớn cho sự phát triển của lịch sử dân tộc

có trình bày nhưng là chung cho các trường trong cả nước, vì vậy chúng tôi đã chọn lọc, thống kê những nội dung có liên quan đến trường thi Gia Định để đưa vào luận văn cho phù hợp

Qua các tài liệu như: “Hệ thống giáo dục và khoa cử nho giáo triều Nguyễn” của Nguyễn Ngọc Quỳnh, “Thi Hương” của Nguyễn Thị Chân

Trang 10

Quỳnh, “Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945” của Vũ Ngọc Khánh, “Thi cử, học vị, học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam”

của Đinh Văn Niêm Các công trình nghiên cứu trên đều đề cập rất rõ về kỳ thi Hương ở triều Nguyễn từ nội dung học tập, nội dung thi cử đến cách thức

để tổ chức các kỳ thi, hệ thống các trường thi…

Khi biên soạn: “Lịch sử giáo dục Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698 – 1998)” tác giả Hồ Hữu Nhựt có đề cập đến trường thi Hương Gia

Định ít nhiều, nhưng chủ yếu tập trung vào kết quả một số kỳ thi ở trường Gia

Định trong giai đoạn 1813 – 1858 Trong tạp chí Xưa & Nay tháng 4 năm

1998, tác giả Nguyễn Đình Tư có viết một bài đề cập đến trường thi Gia

Định Đáng chú ý là trong cuốn sách “Lần giở trước đèn” của Nguyễn Khắc

Thuần và Lý Thị Mai cũng có bài viết về trường Hương Gia Định xưa Với những góp nhặt ít ỏi đó chúng tôi cố gắng chọn lọc để trình bày trong luận văn của mình

Công việc nghiên cứu về các nho sĩ trưởng thành từ trường thi Hương Gia Định có nhiều thuận lợi hơn, vì có khá nhiều tài liệu liên quan Công trình nghiên cứu công phu về Nguyễn Thông được nhà xuất bản Thành phố

Hồ Chí Minh cho ra đời là “Nguyễn Thông, con người và tác phẩm” do Ca

Văn Thỉnh và Bảo Định Giang biên soạn đã nêu bật những đóng góp đáng kể của Nguyễn Thông trong nhiều lĩnh vực

Đối với Phan Thanh Giản việc nghiên cứu về cuộc đời ông cũng gây nhiều tranh luận trong các nhà sử học một thời gian dài, cuộc đời và sự nghiệp của Phan Thanh Giản đã tạo ra nhiều đánh giá khác nhau ngay ở những người sống cùng thời với ông và sau đó Ngay trong cái nhìn của các vua triều Nguyễn đã có sự khác biệt, vua Tự Đức đã kết án ông phải tội chết, truy đoạt chức hàm và đẽo bỏ tên ở bia Tiến sĩ Sau gần 20 năm (1886) vua Đồng Khánh cho khai phục chức hàm và khắc lại tên ông ở bia Tiến sĩ Ngay

cả trong nhân dân và giới nghiên cứu lịch sử cũng xuất hiện các quan điểm khác biệt khi nói về ông Tuy nhiên, những đánh giá về ông cho đến nay đã có

Trang 11

nhiều thay đổi so với thời gian trước đó Quỳnh Cư trong “Chuyện hay sử cũ” có bài viết “ Xem lại bản án về Phan Thanh Giản” Đặc biệt trong cuộc

hội thảo khoa học về Phan Thanh Giản được tổ chức tại Vĩnh Long năm

1994, những đánh giá về ông có sự khách quan và phù hợp hơn Tại hội thảo

này, trong bài tổng kết hội thảo có nhan đề “Phan Thanh Giản (1796 – 1867), con người, sự nghiệp và bi kịch cuối đời”, nhà sử học Phan Huy Lê

bày tỏ quan điểm “ Phan Thanh Giản là người thừa hành và thực hiện một

chủ trương đã được hoạch định của Tự Đức và triều đình Huế….Trách nhiệm của Phan Thanh Giản ở đây là trách nhiệm của người thừa hành và tất nhiên với cương vị Chánh sứ toàn quyền đại thần, ông cũng có phần trách nhiệm trong việc thương thuyết và thực thi một chủ trương sai lầm của triều đình Huế” Sách viết cho nhân vật Phan Thanh Giản chúng ta có thể tham khảo tác

phẩm “Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản” của tạp chí

Xưa & Nay và nhà xuất bản Đồng Nai

Các nhân vật khác như Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Hữu Huân…cũng đều có nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và những đóng góp của các chí sĩ này cho lịch sử Nhà xuất bản Trẻ có giới thiệu

các cuốn sách như: “Nguyễn Hữu Huân, nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất”, “ Phan Văn Trị: cuộc đời và tác phẩm”… Năm 1990, nhà xuất bản Tiền Giang cho ra mắt “Những danh sĩ miền Nam” của hai tác giả Hoài

Anh và Hồ Sĩ Hiệp đã giới thiệu khá đầy đủ về các nho sĩ ở miển Nam

Qua nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy lịch sử khoa cử dưới triều Nguyễn cũng là mảng đề tài được nhiều người nghiên cứu, khám phá Tuy nhiên, riêng ở vùng đất Gia Định các công trình nghiên cứu còn mang tính chất chung về nội dung và chưa có công trình nào tìm hiểu về trường thi Hương Gia Định một cách đầy đủ mặc dù sự đóng góp của các nho sĩ đỗ đạt ở đây cho lịch sử dân tộc - theo chúng tôi, đó là một sự đóng góp không nhỏ Chính vì vậy, với những nguồn tư liệu thu thập được, chúng tôi hy vọng sẽ làm sáng tỏ vấn đề này trong khả năng cho phép

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là sự ra đời, quá trình hình thành

và phát triển của trường thi Hương ở Gia Định

Đề tài cũng dành một nội dung quan trọng trình bày về những đóng góp của các nho sĩ tiêu biểu xuất thân từ trường thi Hương Gia Định

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn về mặt thời gian trong thời Nguyễn (từ năm 1802 đến kỳ thi Hương cuối cùng ở trường thi Hương Gia Định vào năm 1858), về mặt không gian là địa bàn Gia Định (thời Nguyễn) - Thành phố Hồ Chí Minh (ngày nay)

Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu:

Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng: phương pháp lịch sử

và phương pháp logic, sưu tầm và xử lý tư liệu lịch sử

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp như thống kê, so sánh trong quá trình tiến hành chọn lọc, thẩm định tư liệu

5 Đóng góp của luận văn

Là công trình đầu tiên tìm hiểu và trình bày có hệ thống về lịch sử hình thành, phát triển và nguyên nhân sớm kết thúc việc tổ chức các kỳ thi Hương tại Gia Định đầu thế kỷ XIX

Thống kê đầy đủ về 259 cử nhân đỗ đạt trong các kỳ thi Hương ở trường thi Gia Định Chúng tôi có dành một phần nội dung của luận văn để trình bày những đóng góp to lớn của các nho sĩ tiêu biểu trưởng thành từ trường thi Hương Gia Định đối với lịch sử dân tộc trên các phương diện: đấu tranh chống ngoại xâm và trong công cuộc xây dựng đất nước

Khi giải quyết những yêu cầu đề tài đặt ra, chúng tôi đặt trường thi Hương Gia Định trong bối cảnh chung của lịch sử dân tộc và có so sánh với một số trường thi hương khác, do đó, luận văn góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu về giáo dục khoa cử Nho học nước ta đầu thế kỷ XIX nhất là ở vùng đất Đàng Trong

Luận văn góp phần cung cấp một hệ thống danh mục tài liệu tham khảo

có liên quan đến việc nghiên cứu về giáo dục và khoa cử dưới thời Nguyễn tại Gia Định cũng như của nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đó cho những ai quan tâm, tìm hiểu và thực sự là tài liệu hữu ích đối với việc giảng dạy lịch sử địa phương trong các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông,…

Từ việc nghiên cứu về trường thi Hương Gia Định và các học trò trưởng thành từ trường thi này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất

Trang 14

nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử địa phương tại các trường trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ( phụ lục 9)

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về hệ thống trường thi Hương ở Việt Nam dưới thời Nguyễn

Chương 2: Lịch sử hình thành và phát triển của trường thi Hương ở Gia Định từ năm 1813 đến năm 1858

Chương 3: Đóng góp của học trò trưởng thành từ trường thi Hương Gia Định đối với lịch sử dân tộc

Trang 15

CHƯƠNG 1.

KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG TRƯỜNG THI HƯƠNG Ở VIỆT NAM

DƯỚI THỜI NGUYỄN 1.1 Chính sách giáo dục, khoa cử của nhà Nguyễn.

1.1.1 Vài nét về triều Nguyễn

Sau khi đánh bại toàn bộ lực lượng của Tây Sơn, tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu là Gia Long Triều Nguyễn được thành lập kể từ đó Đây là triều đại cuối cùng của lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam

Từ thực tế lịch sử chúng ta có thể thấy ở giai đoạn đầu triều Nguyễn tồn tại với tư cách của một vương triều độc lập từ năm 1802 đến năm 1884, đã trải qua 7 đời vua là Gia Long (1802 – 1819), Minh Mạng (1820 – 1840), Thiệu Trị (1841 -1847), Tự Đức (1848 – 1883), Dục Đức (7.1883), Hiệp Hòa (từ tháng 8 – tháng 11.1883), Kiến Phúc (1884)

Ở giai đoạn thứ hai triều Nguyễn liên tiếp thất bại dẫn đến việc đầu hàng và cuối cùng làm tay sai cho thực dân Pháp xâm lược từ năm 1884 đến năm 1945, đã trải qua 6 triều vua là Hàm Nghi (1884 – 1885), Đồng Khánh (1885 – 1888), Thành Thái (1889 – 1907), Duy Tân (1907 – 1916), Khải Định ( 1916 – 1925), Bảo Đại (1925 -1945)

Như vậy trong thời gian 143 năm tồn tại với 13 đời vua kế tiếp nhau xây dựng và củng cố nền thống trị phong kiến chuyên chế Dưới thời Nguyễn, lần đầu tiên cả nước có chung một hệ thống chính quyền bao trùm lên toàn bộ lãnh thổ của cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, mà trước đó Tây Sơn đã có công nối liền Từ đời vua Minh Mạng trở đi, với những cải cách hành chính, sự chuyên chế được tăng cường cùng với việc hạn chế quyền hành ở các cấp địa phương

Về kinh tế, sau một thời gian nội chiến kéo dài, tình hình nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp đều sa sút, dân cư phiêu tán, ruộng đất bị bỏ

Trang 16

hoang Để khắc phục về nông nghiệp, các vua đầu triều Nguyễn có chú ý đến việc khai hoang, mở rộng diện tích canh tác nhưng số ruộng đất bị bỏ hoang vẫn còn nhiều, ruộng đất công bị thu hẹp, nông dân vừa bị cường hào tước đoạt ruộng đất, vừa chịu sưu thuế nặng nề lại thêm thiên tai dồn dập, mùa màng thất bát nên ngày càng lâm vào cảnh khốn cùng Trong kinh tế công – nông nghiệp do những chính sách “bế quan tỏa cảng”, “trọng nông ức thương”, thuế khóa nặng nề, nhà nước nắm độc quyền về ngoại thương, về nhiều ngành công nghiệp… nên nhìn chung còn thiếu những tiền đề để phát triển.

Những khó khăn về kinh tế đã làm cho mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt, các cuộc khởi nghĩa của nhân dân liên tiếp nổ ra Chỉ riêng trong bốn triều đại đầu của nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức (1802 – 1884) đã có

466 cuộc khởi nghĩa của nông dân Để ổn định xã hội, ngoài việc tập trung lực lượng đàn áp các cuộc khởi nghĩa, triều đình cũng áp dụng một số biện pháp tích cực như giảm hoặc miễn thuế cho dân chúng ở các vùng bị thiên tai, hạn hán Ngoài các biện pháp để giải quyết về hành chính, kinh tế, củng cố bộ máy quan lại, triều đình cũng đã sử dụng nhiều cách để giải quyết tình trạng suy yếu trong nếp sống xã hội Triều đình nhấn mạnh sự tôn trọng đạo lý của Nho giáo để khôi phục lại trật tự xã hội Mười điều giáo huấn mà vua Minh Mạng ban bố năm 1834 là một ví dụ

Về phương diện lãnh thổ quốc gia “so với các triều đại trước thì dưới

triều Nguyễn, nước Việt Nam rộng lớn hơn hết, có thể xem là hoàn chỉnh từ Nam Quan đến Cà Mau Không những chỉ rộng lớn hơn hết về lãnh thổ mà về phương diện hành chính cũng thống nhất hơn hết Tất cả các triều đại trước không nắm được các địa phương, nhưng thời Nguyễn, cụ thể là từ Minh Mệnh, triều đình đã trực tiếp nắm được các tỉnh” (Kỷ yếu hội thảo: Những

vấn đề văn hóa - xã hội ViệtNam thời Nguyễn, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, tr 19)

Trang 17

Một điểm đặc biệt là mặc dù trong bối cảnh khủng hoảng về kinh tế, chính trị nhưng ở triều Nguyễn nền văn hóa, nghệ thuật, giáo dục vẫn phát triển với nhiều thành tựu Văn chương chữ Nôm, chữ Hán thời kỳ này khá phát triển Nhiều nhà văn hóa lớn xuất hiện như Nguyễn Du với Truyện Kiều,

Hồ Xuân Hương, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát…Sử học thời kỳ này với

các bộ sử đồ sộ như “Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ”, “Đại Nam nhất

thống chí”, “Đại Nam thực lục”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”… nhiều công trình nghiên cứu lớn xuất hiện như bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú Tất cả đều là những tài sản văn hóa vô

cùng giá trị không chỉ đối với triều Nguyễn mà còn đối với lịch sử của dân tộc Trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, triều Nguyễn đã đạt được nhiều thành tựu, nhiều công trình kiến trúc, chùa chiềng, thành trì, đền đài…đặc biệt

là các cung điện và lăng tẩm ở Huế, một quần thể kiến trúc độc đáo và có giá trị văn hóa đối với dân tộc Việt Nam và là di sản văn hóa thế giới…

1.1.2 Khái quát tình hình giáo dục của nhà Nguyễn

Chính sách giáo dục của triều Nguyễn được thể hiện ở hai cấp độ là

trung ương và địa phương [24,39,27,43]

Tại trung ương, các cơ sở giáo dục của triều đình bao gồm nhà học của vua, giảng đường, Sở Tôn học và Quốc Tử Giám Các cơ sở này đều được thành lập nhằm mục đích phục vụ cho việc dạy và học cho vua, các hoàng tử, thái tử và những người trong hoàng tộc

Nhà học của vua chính là nơi các vua đầu triều Nguyễn học tập sau khi lên ngôi Năm 1810, Gia Long cho dựng điện Dưỡng Tâm để làm nơi vua đọc sách Năm 1821, Minh Mạng cho xây thêm Trí Nhân Đường để đọc sách và sáng tác Năm 1887, Đồng Khánh cho xây Thái Bình Ngự Lãm thư lầu làm nơi cất giữ và đọc sách…Những nơi này chỉ là để vua tự học Năm 1848, Tự Đức cho mở Viện Tập Hiền để nghe giảng bài Quan phụ trách gồm: 2 giảng quan, 6 nhật giảng quan Các giảng quan phải soạn bài và giảng cho vua nghe Khi nghe giảng, vua có thể phát biểu hoặc góp ý

Trang 18

Giảng đường được triều Nguyễn lập từ năm 1817, là nơi dạy học cho các hoàng tử, thái tử là những người trong tương lai sẽ trị vì đất nước nên việc tuyển thầy dạy học ở các Giảng đường hay còn gọi là Giảng tập rất được triều đình chú trọng Ngày lẻ dùng để giảng truyện hoặc kinh, ngày chẵn học sử Ngoài ra mỗi tháng vào các buổi sáng ngày mùng 1, 11, 21 vào chầu ở chính điện, các buổi chiều ngày mùng 6, 16, 26 đem sách học vào chầu ở điện Quang Minh để vua hỏi bài.

Sở Tôn học là trường học dành cho những người trong tôn thất được xây dựng bên cạnh Phủ Tôn Nhân trong kinh thành Tại Sở Tôn học các học quan được tuyển chọn một phần từ các học sinh ở Quốc Tử Giám, một phần là con cháu hoàng thân từ 10 tuổi trở lên, 35 tuổi trở xuống,nếu muốn vào học để mở rộng hiểu biết thì đều được chuẩn Tôn Học đường do một hoàng thân chỉ huy, hai hàn lâm học sĩ và nhiều người giảng dạy ở các nơi khác sung vào Hàng năm, vào tháng 11, các tôn sinh học ở đây phải trải qua kỳ thi Sau khi chấm, người nào được hạng ưu, bình thì được thưởng bạc, tiền theo thứ tự, hạng thứ sẽ phạt bớt đi nửa lương, hạng liệt thì thôi cấp lương Người nào bị phạt 3 năm liền thì truất bỏ, không cho học ở nhà Tôn học nữa

Quốc Tử Giám là trung tâm giáo dục đào tạo Nho giáo của cả nước Từ năm 1803, vua Gia Long cho dựng trường Quốc học ở kinh đô Phú Xuân (Huế) Đến năm 1821, Minh Mạng đổi tên thành Quốc Tử Giám và cho xây dựng thêm Giảng đường, Di luân đường và hai học xá ở hai bên tả, hữu Ở trường, các vị tế tửu, tư nghiệp, giảng quan đều là người thông hiểu nho giáo,

đỗ đạt cao và có tư cách tốt Số người được triều đình cử ra quản lý, trông coi Quốc Tử Giám có sự thay đổi theo yêu cầu thực tế của từng thời kỳ Học sinh trường Giám bao gồm giám sinh là những người đã đỗ cử nhân đến học để chuẩn bị thi hội còn có tôn sinh, ấm sinh (con của các vị quan được nhà vua ban ơn cho vào học tại Quốc Tử Giám) và cống sinh ở các địa phương Các học sinh này được triều đình rất ưu đãi, được miễn quân dịch, miễn thuế thân

và miễn sưu dịch Hằng tháng được cấp gạo, lương và dầu đèn Ở trường Giám, ngày khai giảng diễn ra vào đầu xuân, sau ngày khai ấn một ngày Cuối

Trang 19

năm, sau ngày xếp ấn một ngày thì nghỉ giảng Chương trình học cũng được chia theo ngày chẵn, lẻ Mỗi tháng vào các ngày 3, 9, 17, 25 ra đầu bài cho học trò làm và có bình duyệt Ngoài ra, các học sinh trường Giám còn phải qua nhiều kỳ khảo hạch để phân loại ra 3 hạng: hạng ưu được tăng lương, hạng bình lương vẫn như cũ, hạng thứ bị giảm lương hay phạt lương tuy theo mức độ nặng nhẹ Người nào cả 3 kỳ khảo hạch đều ở hạng thứ thì sẽ bị đuổi học Hằng năm, đến kỳ thi Hội, các học sinh ở đây phải qua kỳ khảo hạch, chia hạng rồi đợi vua sai quan khảo hạch lại, ai trúng mới được vào thi Hội Như vậy Quốc Tử Giám dành riêng cho học sinh đã có trình độ Cử nhân nhằm đào tạo tiến sĩ

Ngoài ra việc lập Văn Miếu và cho dựng bia tiến sĩ để khuyến khích, biểu dương việc học Văn Miếu được lập để thờ đức Khổng Tử và 72 vị tiên hiền Việc xây dựng Văn Miếu nhằm nêu rõ sự tôn trọng giáo dục, khoa cử nước nhà của các vua triều Nguyễn

Dưới triều Nguyễn giáo dục ở địa phương luôn được nhà nước chú trọng, việc lập các trường học ở phủ huyện phát triển mạnh, nhất là dưới thời Minh Mạng và Tự Đức, đây là các trường học do triều đình quản lý Năm 1822 Minh Mạng xuống chỉ “chuẩn cho mỗi phủ đặt một viên giáo thụ, mỗi huyện đặt một viên huấn đạo” Tại các trường công ở phủ, huyện, phương thức học tập thường bao gồm việc giảng sách, tập văn, bình văn theo định kỳ hàng tháng Các học quan ở các địa phương thường chủ trì các cuộc giảng sách, bình văn và quản lý chung việc học tập trong vùng Việc giảng sách, tập văn diễn ra trong mỗi tháng Theo thông lệ này, học trò ở các trường đến để nghe các học quan giảng kinh, truyện

Các học quan địa phương được triều đình quản lý bao gồm:

- Cấp tỉnh có chức đốc học, làm nhiệm vụ thanh tra học vấn, tước quan

hàm ngũ phẩm Thường được chọn trong số các tiến sĩ

- Cấp phủ có chức giáo thụ, là giám đốc học vấn, tước quan hàng thất

phẩm Thường dược chọn trong các cử nhân và tú tài

Trang 20

- Cấp huyện có chức huấn đạo, phụ trách giảng dạy, tước quan hàm bát

phẩm

Ở một số huyện ở xa, giáo dục ít phát triển, số học trò chưa nhiều thì các tri huyện, tri châu có thể kiêm luôn chức huấn đạo Còn tại những địa phương có số học trò ngày càng tăng, triều đình cũng đã chú ý kịp thời ra chiếu chỉ bổ sung học quan cho các địa phương Các quy định của triều đình

về việc đặt học quan là khá chi tiết, cụ thể, tuy nhiên chưa theo một hệ thống

rõ ràng, nhất quán từ trên xuống mà thường xuyên thay đổi tùy theo tình hình của các địa phương

Ngoài các trường học do triều đình quản lý, việc mở trường học tại các thôn xóm cũng được khuyến khích nhằm góp phần đào tạo lớp người có tri thức, tuyển chọn quan lại ra giúp vua trị nước Việc mở trường tư ở các địa phương nhìn chung không bị triều đình ràng buộc bởi những quy định phức tạp, tổ chức việc học ở làng xã do dân tự lo liệu Đội ngũ thầy đồ gồm các bậc hưu quan, hoặc những người có đỗ đạt nhưng không ra làm quan, hoặc có học hành ít nhiều tự do mở trường lớp, được quan niệm là trường tư để phân biệt với trường công hàng huyện, phủ, tỉnh và kinh kỳ Số lượng trường tại các thôn xóm hầu như làng xã nào cũng có, bất cứ nho sĩ nào cũng có thể mở

trường, lớp học tại nhà của mình Các lớp học bao gồm hai loại: lớp tiểu tập

được mở tại trường hoặc nhà của các gia đình có điều kiện, thầy dạy có thể là

người địa phương hoặc từ nơi khác tới; lớp đại tập thường học ở dinh các

quan đã nghỉ hưu Trong các lớp học đó học sinh bao gồm nhiều lứa tuổi, trình độ và chỉ có một thầy dạy Giờ giấc, nội dung và phương pháp học đều

do thầy quyết định Thầy không thu học phí hàng tháng, học phí cũng không

có quy định mà tùy theo hoàn cảnh Các học sinh cùng học một thầy thường lập hội đồng môn Các thầy học ở địa phương bao gồm những nho sĩ có học vấn ở một trình độ nhất định như đã thi đỗ khảo hạch, đỗ tú tài mà không có điều kiện theo học nữa hoặc đi thi song không đỗ cử nhân Nhiều người có học vấn uyên thâm nhưng không thích khoa danh, không chịu đi thi để làm quan hoặc đã dự thi nhưng rồi chán cảnh khoa cử, ở nhà mở lớp dạy học cho

Trang 21

con cháu Ngoài những đối tượng trên, các thầy giáo ở địa phương cũng có thể là những người đã đỗ đạt ra làm quan rồi do chán cảnh quan trường xin từ quan về quê, hoặc bị bãi chức lui về dạy học, như quan niệm: “Tiến vi quan, thoái vi sư” Những thầy giáo này coi việc giáo dục chủ yếu như một nghĩa vụ tinh thần nhằm truyền thụ tri thức cho thế hệ con cháu

Qua thực tế, có thể thấy được rằng giáo dục nho học dưới thời Nguyễn tuy còn một số hạn chế nhất định nhưng cũng đã phát triển Kết quả đó một phần do phát huy được những thành quả từ thời Lê, mặt khác cũng không thể phủ nhận vai trò của các vua đầu triều Nguyễn đã chú ý đến việc phát triển giáo dục nho học, tiếp nhận có chọn lọc về nhận thức vai trò, vị trí của giáo dục Chế độ giáo dục và khoa cử triều Nguyễn đã tạo nên một tầng lớp sĩ tử tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, hình thành một tầng lớp trí thức có đủ năng lực và phẩm chất để cống hiến cho dân tộc

1.1.3 Khái quát tình hình khoa cử ở triều Nguyễn

Trong “Lịch triều hiến chương” của Phan Huy Chú có viết: "Xem việc

thi cử hay hay dở thì biết nước thịnh hay suy " Thời thịnh của khoa cử là thời

kẻ sĩ coi nó chỉ là phương tiện, tạo điều kiện cho mình thi thố tài năng giúp đời, đạo đức vẫn là chính, văn học chỉ là thứ yếu ("văn" phải được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả chính trị, mưu lược quân sự, kinh tế, triết học v.v chứ không phải chỉ học làm thơ suông) Mục đích dạy "văn" là để đào tạo ra hạng người có kiến thức, có mưu trí, có tài ứng đối, biết cách cư xử khôn khéo trên chính trường ngoại giao

Giống như các triều đại phong kiến trước đó, nhà Nguyễn vẫn lấy nho học làm đạo trị nước, an dân và làm phương tiện để giáo hóa con người Ở các lớp khai tâm, từ tám tuổi trở lên bắt đầu học hiếu kinh, trung kinh; từ 12 tuổi trở lên học Luận ngữ, Mạnh Tử rồi đến Trung dung, Đại học; từ 15 tuổi trở lên học Thi, Thư rồi sau đến kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Xuân Thu

Chế độ thi cử dưới triều Nguyễn giống như thời Lê về thể lệ và quy chế thi cử, với 3 kỳ thi chính là thi Hương, thi Hội, thi Đình Các danh xưng đỗ

Trang 22

đạt trong các kì thi cũng lấy đại khoa (tiến sĩ), trung khoa (cử nhân, tú tài) và các lễ ban yến, áo mũ, vinh quy như trước đây.

Nho học và khoa cử đã đào tạo được nhiều bậc khoa bảng ngoài sự nghiệp văn chương đều có công giúp nước, triều nào cũng có

Về tổ chức khoa thi: Đời vua Gia Long chỉ tổ chức thi Hương, nhưng đến đời vua Minh Mạng khoa cử được chỉnh đốn lại và mở thi Hội, rồi thi Đình để chọn tiến sĩ Thời gian trung bình mở một khoa thi đại khoa dưới triều Nguyễn là 2, 3 năm.Tính từ khoa thi đại khoa đầu tiên năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến khoa thi cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919), triều Nguyễn đã tổ chức được 39 khoa thi (có 33chính khoa, 4 ân khoa, 1 chế khoa,1 nhã sĩ), lấy

đỗ được 558 tiến sĩ và phó bảng Trong đó có 293 vị đỗ chánh bảng được khắc tên vào 32 tấm bia đá dựng tại Văn Miếu

Vua Minh Mạng cũng ra thêm học vị Phó bảng năm 1829 để chọn đỗ thêm người Đặc biệt, việc thay đổi thời này là việc bỏ Đệ nhất giáp, học vị Trạng Nguyên, Bảng nhãn không còn trên khoa bảng nữa Những thay đổi ở đời Minh Mạng kéo dài mãi đến năm 1918

Thi Hội: là khoa thi cao hơn khoa thi Hương dành cho những người đã

đỗ Cử nhân Thi Hội cũng phải trải qua 4 kỳ như thi Hương nhưng mức độ cao hơn nên còn được gọi là đại khoa Bài thi sau khi được quan chủ khảo chấm xong, phải dâng lên vua duyệt, sau đó mới công nhận kết quả, người đỗ được danh hiệu Tiến sĩ và được vua ban cân đai áo mão để vinh quy bái tổ và dược dự khoa thi Đình Thi Hội được tổ chức ở kinh đô Huế vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi ngoại trừ những ân khoa thì tổ chức bất thường Các kỳ thi được tổ chức cách nhau, từ lúc tiến trường đến khi yết bảng khoảng từ 18 đến 28 ngày Vì kỳ thi Hội ít thí sinh nên chỉ dùng hai vi là vi Ất và vi Giáp

Kỳ thi này có sẵn lều chõng nên thí sinh chỉ mang theo giấy bút, đèn, chiếu Lễ yết bảng rất long trọng, bảng đề tên người đỗ được đem đến Phu Văn Lâu treo 3 ngày, sau niêm yết còn có một nghi lễ không kém phần long trọng là rước bảng vàng về lưu giữ ở bộ Lễ Sau đó kết quả của các khoa thi,

Trang 23

họ tên, quê quán của những người thi đỗ, danh hiệu chính thức mà họ được ban tặng, đều được triều đình ghi chép chính xác và công bố rộng rãi Một mặt triều đình còn làm các bản sao lục rất chính xác để lưu giữ ở các sảnh viện

Thi Đình: những người đỗ kỳ thi Hội đều được vào thi Đình (điện thí)

Kỳ thi Đình đầu tiên thời Nguyễn là dưới triều Minh Mạng Ngày thi Đình được ấn định tùy thuộc vào kỳ thi Hội trước đó, thường sau ngày yết bảng thi Hội khoảng từ 10 đến 15 ngày Thi Đình được tổ chức rất long trọng, lễ khai mạc thường tổ chức tại điện Cần Chánh có vua ngự giá tại đây Đến ngày công bố kết quả, các Đại tân khoa được thết đãi tại điện Thái Hòa, sau đó còn được khắc tên trên bia Tiến sĩ để lưu danh muôn thuở Có ba loại học vị trong kết quả thi Đình dưới triều Nguyễn: Tiến sĩ cập đệ (xếp vào bảng đệ Nhất giáp), Tiến sĩ xuất thân (xếp vào bảng đệ Nhị giáp) và đồng Tiến sĩ xất thân (xếp vào bảng đệ Tam giáp) Ở triều Nguyễn có thêm học vị Phó bảng là người có số điểm thi gần sát với hạng đệ Tam giáp (xem thêm Phụ lục 1)

1.2 Vài nét về các trường thi hương ở nước ta từ 1807 đến năm 1918

1.2.1 Thi hương: Nội dung giáo dục và tổ chức

1.2.1.1 Nội dung giáo dục

 Điều kiện dự thi

Sang đến triều Nguyễn, cũng như các triều đại phong kiến trước đó, khi tham dự thi Hương, các Nho sinh phải vượt qua kỳ khảo hạch ở địa phương Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), nhà vua định lệ hàng năm vào các ngày 15-4

và tháng 10 tổ chức khảo hạch Nội dung khảo đủ đề mục của 4 kỳ (trường) thi Học quan địa phương tiến hành sơ khảo sau đó chuyển đến quan tế tửu, tư nghiệp chấm lại Thí sinh phải làm được bài thì mới đủ điều kiện dự thi Trúng tuyển thi khảo được gọi là Khóa sinh, người đỗ đầu gọi là ông Đầu xứ (không có học vị gì cả) và được ghi đứng đầu danh sách của những người được dự thi Hương Người đỗ được xếp hạng, cho miễn binh đao một năm hoặc nửa năm để đợi khoa thi Về độ tuổi dự thi, xưa kia không có hạn định

Trang 24

tuổi tối thiểu và tuổi tối đa Vì thế có người đỗ đạt khi rất trẻ (13,15 tuổi), song nhiều người phải trên tuổi 50, thậm chí 60 tuổi mới qua được kỳ thi Hương

Những sĩ tử vượt qua được kỳ khảo hạch sẽ được lý trưởng lập danh sách chuyển lên quan trấn Trong danh sách phải ghi rõ học ở đâu hoặc đốc học, giáo thụ huấn đạo là người nào; học ở nhà tư, học của quan địa phương khác, hoặc những người đã đỗ tú tài kỳ thi trước… Nếu đỗ tú tài mà không tiếp tục

dự thi vì có sự cố phải có chứng thực của quan lo việc học ở địa phương

Mục đích của thi cử dưới thời phong kiến là để tuyển chọn người ra làm quan cai trị, vì vậy ngoài điều kiện phải vượt qua các kỳ khảo hạch ở địa phương thì việc xem xét lý lịch, tư cách đạo đức của thí sinh rất được chú ý Trong các quyển thi, thí sinh phải khai rõ lý lịch ba đời, nếu thí sinh nào man trá sẽ bị trị tội Trước kỳ thi, lý trưởng sở tại phải ghi tên học trò đi thi vào sổ, những người có trọng tang, những người bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, con nhà xướng ca và phạm án cướp hay phản nghịch thì không được vào thi

 Nội dung học

Học chữ Nho là một lối học kinh điển, học để nắm rõ cương thường đạo

lý Một số nghiên cứu cho rằng đó là lối học kinh điển vừa nhằm học văn tự, vừa nhằm hiểu biết kinh điển để từ đó nó mới thâm nhập vào tình cảm và trí tuệ con người, sau này học nhiều mới thấu rõ hết nghĩa lý của kinh điển đã học, càng học càng hiểu sâu

Học trò thường bắt đầu học những câu ngắn, chữ nào nghĩa đó, hoặc câu

ba bốn chữ chọn sao cho có vần, có nghĩa để học trò dễ nhớ, dễ thuộc như các sách: Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi, Nhất thiên tự, Nhị thiên tự, Ngũ thiên tự, Tam tự kinh

Sau khi học xong những cuốn sách kể trên, học trò bắt đầu học sang Kinh truyện đó là Tứ thư ( gồm: Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử)

và Ngũ kinh (gồm: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân

Trang 25

Thu) Đó là những tác phẩm kinh điển của Nho giáo đồng thời là những tác phẩm văn học cổ đại Trung Quốc Ngoài ra còn phải kể đến những sử sách và thơ văn gọi là Cổ văn, Đường thi, Thi vận đời Đường, một bộ Bắc sử (sử Trung Quốc) Về sau dưới triều Nguyễn còn thêm bộ Nam sử (sử của nước ta)

từ thời xưa đến triều nhà Nguyễn Sau khi Pháp xâm lược nước ta, một số khoa thi sau còn có thêm môn tiếng Pháp vì vậy các nho sĩ muốn tham gia thi phải biết về tiếng Pháp

 Nội dung thi

Về nội dung thi cử triều Nguyễn cũng tương tự triều Lê Thi hương và thi hội đều có ba kỳ chính:

- Kỳ đệ nhất: Thi kinh nghĩa là một bài văn giải thích một câu trích trong kinh truyện gồm 8 vế (phá đề, thừa đề, khởi giảng, khai giảng, trung cổ, hậu

cổ, kết cổ, thúc đề) Mục đích để xem học trò có thuộc và hiểu kinh truyện không Người làm phải lấy lời người xưa mà giải thích sao cho đúng ý cổ nhân chứ không được bày tỏ ý kiến riêng của mình hoặc bình luận về lời người xưa Thi hương mỗi bài dài từ 250 chữ trở lên, không được ngắn quá

- Kỳ đệ nhị: thí sinh phải làm các loại sau

+ Chiếu: lời vua ban bố về một vấn đề gì đó cho toàn dân rõ

+ Chế: lời vua phong thưởng cho công thần

+ Biểu: lời của thần dân dâng lên vua để chúc mừng (hạ biểu) hoặc tạ ơn (tạ biểu) hoặc bày tỏ một ý kiến gì

- Kỳ đệ tam: Thông thường là thi Thơ phú, trong thi hương dùng luật thơ thất ngôn, phú dùng phú luật là một thể văn có từ đời Đường, có vần, đối theo luật bằng trắc

- Có một số năm thì thêm kỳ đệ tứ: Thí sinh phải thi Văn sách là bài văn làm để trả lời những câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến lịch sử hoặc thời sự Khi làm học trò phải dẫn lời của thánh hiền trong kinh truyện, dùng những sự kiện lịch sử để chứng minh hoặc minh họa cho ý kiến của mình

Trang 26

Trong các bài thi đặc biệt chú ý đến kinh nghĩa và văn sách, tuy nhiên trong một số năm có sự thay đổi ở nội dung các kỳ thi Một số kỳ thi sau cùng còn có thêm tiếng Pháp.

1.2.1.2 Tổ chức thi Hương

Chính khoa: là những khoa thi được triều đình ấn định từ trước, thường

là ba năm một khoa và mở đúng hạn định Tuy nhiên ở giai đoạn đầu triều đình mới thành lập, phải lo ổn định tình hình thì khoảng sáu năm mới tổ chức được một khoa

Ân khoa (gia khoa): là những khoa được mở nhằm lúc vua đăng quang,

hạ sinh hoàng tử hoặc thượng thọ của Hoàng thái hậu…Đây là những khoa ngoại lệ, đặc cách mở ra cho những nho sĩ có thêm một cơ hội tiến thân Nếu

Ân khoa trùng vào năm có Chính khoa thì Chính khoa phải lùi lại năm sau mới được tổ chức Thời Nguyễn, Ân khoa được tổ chức vào các năm 1842 (Thiệu Trị), 1848 (Tự Đức)

Chế khoa ( Chế cử, Cát sĩ): Tự vua sẽ ra đề bài đối sách để kén chọn những người tài giỏi phi thường, hay chọn những người nho nhã, hiền lành, chăm chỉ, tài hoa Các khoa thi này khó hơn các khoa thi thường lệ

Nếu trong năm đúng theo quy định có tổ chức kỳ thi nhưng vì lý do nào

đó về chính trị, xã hội… thì bị đình bãi và triển hạn đến năm sau hoặc phụ thí

ở trường khác Như khoa thi năm 1834 ở trường Gia Định bị đình bãi vì loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), cho phụ thí ở trường Thừa Thiên

Từ năm 1825 – Minh Mạng thứ 6: Định lệ cứ 3 năm tổ chức một khoa thi Thi hương thì lấy các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; thi hội thì lấy các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất

Đến khoa thi Minh Mạng thứ 15 (1834), có thêm quy định về việc chia phách bằng màu: sĩ từ Thừa Thiên màu vàng, Quảng Bình màu xanh, Quảng Trị màu đỏ, Quảng Nam màu đen, Quảng Ngãi và Bình Định màu đỏ sẫm, các tỉnh từ Phú Yên trở vào đều màu lục Định giải ngạch lấy đậu là 36 người,

Trang 27

trong đó phách màu vàng, xanh, đen, đỏ sẫm, mỗi loại lấy 6 người, phách màu đỏ lấy 4 người, phách màu lục 2 người…Tuy vậy cũng có căn cứ theo

văn lý mà thêm bớt [6 - trang 20] Từ năm 1841, các trường thi Hương đều

phải định trước số ngạch lấy đỗ trong mỗi kỳ thi tùy theo tình hình học tập và

số người đi thi của các địa phương Năm 1880, triều đình lại yêu cầu các phủ

- tỉnh phải định trước số học trò đủ tiêu chuẩn dự thi nhằm tránh việc số người

dự thi Hương quá nhiều Các vua cũng nhiều lần tự tay ra đề cho kỳ thi Hương, việc phúc hạch sau các kỳ thi được các vua Nguyễn rất quan tâm, trong nhiều trường hợp, chính bản thân nhà vua làm việc đó

 Quan trường

Quan trường thi thường được triều đình đề cử, lập sớ dâng lên vua Nếu được ngự phê chấp thuận thì cứ thế thi hành Những người được đề cử nếu có trở ngại thì phải dâng sớ nêu rõ lý do để cử người khác Những người phục vụ

ở trường thi như các lại điển biên chép trong trường thi, binh lính canh gác, giám sát… thì do quan địa phương đề cử Những người này làm việc dưới sự giám sát của các khoa đạo do triều đình cử đến Ngoài ra, địa phương sẽ theo

lệ mà cung cấp các vật dụng cho trường thi như bút, nghiên, mực, giấy, son, đèn, án, kỷ… cùng lương thực hằng ngày Số lượng quan trường ở các trường thi không giống nhau, trường nhiều, trường ít và tùy theo năm thi và chủ yếu

là căn cứ vào số lượng thí sinh dự thi

Trước khi đến trường thi, chánh, phó chủ khảo đều được ban sắc thư; chủ khảo nhận tờ khâm sai, phó chủ khảo nhận biển phụng chỉ; các khoa đạo có đặc chỉ, vào bái mạng vua lên đường Các quan đến kỳ thi trước một tuần, đến gặp quan tổng đốc địa phương rồi làm lễ tiến trường

Năm 1807, vua Gia Long định lệ:

•Đề điệu: dùng quan tùng nhị phẩm

•Giám khảo: dùng quan tam phẩm

•Phúc khảo: dùng quan tứ, ngũ phẩm

Trang 28

•Sơ khảo: dùng quan lục, thất phẩm

•Thể sát, Mật sát: dùng cai đội Thị trung, Thị nội

•Lại phòng: dùng thuộc lại các trấn, phải là người viết chữ đẹp

•Tỏa viện nội trường: dùng Tham hiệp sở tại

Trong kỳ thi Hương, quan trường phân thành hai ban là nội liêm và

ngoại liêm Quan Nội liêm dùng để chỉ các quan chấm thi, quan Ngoại liêm

có nhiệm vụ nhận quyển thi, đóng dấu [43,44]

+ Đội Mật sát: bao gồm những người trong quân đội có chức vụ suất đội hoặc cai đội, có nhiệm vụ giúp đỡ công việc cho các quan Nội trường

Số lượng của nhân viên của hai đội Thể sát và Mật sát thay đổi theo từng trường thi Thông thường là 8 thể sát và 4 mật sát Hai đội này đặt dưới quyền điều khiển của viên Khoa đạo Theo giúp mỗi viên thể sát và mật sát có binh lính và 2 thư lại

+ Quan khoa đạo: là những người thuộc Viện Đô sát được triều đình cử đến trông coi trường thi Tuy không dự vào việc chấm quyển thi nhưng mọi việc trong trường thi, thấy có gì không hợp lẽ thì quan Khoa đạo có nhiệm vụ làm sớ trình lên triều đình Mỗi trường thi thường có hai khoa đạo, một trông coi Ngoại trường và các vi, một trông coi Nội trường

+ Lại điển: gồm những nhân viên ghi chép tại trường thi Các lại điển phân thành hai bộ phận: một trợ giúp cho các quan chấm thi, các quan coi thi;

Trang 29

một giúp cho các quan đề điệu trong việc thu quyển thi, đóng dấu, sắp xếp, cắt phách, lập danh sách…Số lại điển trong mỗi trường thi cũng khác nhau, khoảng từ 20 đến 40 người.

+ Đề điệu: còn gọi là đề tuyển, gồm chánh đề điệu và phó đề điệu, thường được chọn từ các quan ngũ phẩm Quan đề điệu trông coi mọi việc về giấy tờ trong trường thi, đặc biệt là quyển thi của các thí sinh Theo giúp mỗi quan đề điệu có 4 lại điển

ưu, bình, thứ, liệt bằng bút son rồi nộp lại cho quan giám khảo

- Quan phúc khảo: sau khi quan sơ khảo nộp lại quyển thi cho quan giám khảo, quan giám khảo sẽ phân đều các quyển thi này cho quan phúc khảo chấm Chấm xong cũng phê hạng nhưng bằng mực xanh bên cạnh lời phê của quan sơ khảo, rồi nộp lại cho quan giám khảo

- Quan giám khảo: là người chấm bài sau cùng ở Nội trường Quan giám khảo thường xét lại những quyển thi đã được quan sơ khảo, phúc khảo chấm Nếu không có gì thay đổi sẽ phê “Phụng y” ( kính theo đó), còn muốn định ở hạng khác sẽ phê “ Nghĩ… hạng” ( định hạng…)

+ Ngoại trường: để đảm bảo tính nghiêm minh trong thi cử, ban giám khảo do bộ Lễ cử gồm có

- Quan phân khảo: có nhiệm vụ xem xét những quyển thi bị hỏng ở nội trường Nếu thấy quyển nào đáng đỗ thì trình lên quan chủ khảo

Trang 30

- Quan phó chủ khảo: có nhiệm vụ trợ giúp cho quan chánh chủ khảo xét duyệt những quyển thi đã được chọn đỗ ở nội trường, hoặc chấm lại những quyển thi mà quan phân khảo chọn lựa từ những quyển thi bị đánh hỏng nhưng xét ra đáng đỗ.

- Quan chánh chủ khảo: là quan có quyền hạn cao nhất trong trường thi Quan chánh chủ khảo có toàn quyền trong việc ra đầu bài, xét duyệt các quyển để định hỏng đỗ cho các thí sinh

Số lượng quan trường có sự thay đổi tùy theo số lượng thí sinh ở mỗi trường thi

 Trường quy

Trường quy của các khoa thi hương thường gồm những quy định sau:Thí sinh không được mang tài liệu vào trường thi Nếu phát giác sẽ quy vào tội “Hoài hiệp văn tự” Theo quy định này, ai vi phạm sẽ bị gông một tháng, đánh 100 trượng và tước bỏ học vị cử nhân hoặc tú tài đã có, thậm chí

bị kết án “chung thân bất đắc ứng thí” ( như trường hợp của Phan Bội Châu năm 1897, dù sau đó ông được vua Thành Thái xóa án) Người phát giác sẽ được thưởng 3 lạng bạc

Thí sinh cũng không được nói chuyện ồn ào, đi lại lộn xộn trong vi, không trao đổi ý kiến, chép bài hoặc làm bài thi hộ cho nhau Ở một số trường thi có cắm thẻ ghi tên thí sinh để họ cắm lều tại đấy, tránh việc thí sinh cố ý cắm lều gần những người giỏi để hỏi bài, hoặc gà bài cho người khác

Để tránh gian lận trong quyển thi, quan trường thi sẽ đóng dấu nơi tổ chức kỳ thi, kỳ thi (kỳ nhất, kỳ nhì, kỳ tam,kỳ tứ) Tất cả giữa các trang phải

có dấu Giáp phùng, tránh tình trạng xé hoặc đóng thêm vào Ngoài ra, vào khoảng giữa trưa, thí sinh phải mang quyển của mình lên nhà Thập đạo để quan trường đóng dấu Nhật trung chứng tỏ bài văn được làm trong trường thi Nếu thí sinh nào quên đóng dấu nhật trung có nghĩa là vi phạm trường quy

Trang 31

Nếu cố ý che dấu, hoặc dùng tên người khác đi thi, phát giác sẽ bị trị tội, nếu đã đỗ đạt ở các khoa trước cũng bị cách bỏ.

Trường quy khi làm bài thi khá phức tạp, khiến nhiều người tuy đã từng tham gia thi nhiều lần vẫn có thể vi phạm

Khiếm tỵ: là lỗi không tránh chữ húy Mỗi triều đại thường có những

sắc dụ riêng về các chữ húy Dưới triều Nguyễn, lệ kỵ húy có từ thời Gia Long, ban đầu số chữ húy còn ít, về sau số chữ húy tăng dần với những quy định ngày càng rắc rối Đến thời Tự Đức còn kiêng thêm tên các chúa Nguyễn

từ đời trước Triều Gia Long, Minh Mạng chỉ kiêng chính tự, tức là chính chữ

đó, nếu gặp phải thì dùng từ có nghĩa tương tự để thay thế Đến thời Thiệu Trị

có lệ kiêng cả chữ đồng âm, sau lại có lệ bớt nét Những thí sinh nếu vi phạm vào các chữ húy bị xử phạt rất nặng như phạt đánh bằng trượng, đỗ cử nhân thì bị cách, có chức thì bị giáng bốn, năm cấp và điều đi nơi khác

Những quy định về kiêng húy đã hạn chế phần nào việc tuyển chọn những nho sinh có tài vì nhiều người làm bài tốt nhưng bị đánh rớt chỉ vì đã phạm lỗi này trong kỳ thi

Khiếm trang: là thiếu phần tao nhã như dùng từ thô tục về nghĩa hoặc

âm, dùng các từ thiếu tôn kính trước các từ đáng kính, dùng từ có thể hiểu với

ý nghĩa khác không được mấy tao nhã

Khiếm đài: Theo lối viết chữ Hán là từ phải sang trái, viết thành hàng

dọc từ trên xuống dưới Mỗi hàng dọc phân thành nhiều ô, mỗi ô chứa một chữ gọi là cách Ở mỗi trang giấy sẽ chừa lên một khoảng trống gọi là du cách, phần dưới du cách phân thành ba khoảng Nếu gặp các chữ chỉ trời, đất, tôn miếu, từ cung…các chữ này phải được đài (nâng lên) viết ở du cách Khoảng thứ nhất của du cách dành cho các tôn tự thuộc về thiên tử, khoảng thứ hai dành cho tên các cung điện, chữ làm văn bình thường viết ở khoảng thứ ba Nếu đang viết một câu văn gặp những từ nói trên thì tự động viết sang dòng khác và đài lên cao hay thấp tùy chữ Nếu viết không đúng gọi là khiếm đài sẽ bị đánh hỏng

Trang 32

Lệ viết chữ: Trong kỳ thi hương, thí sinh phải viết chữ chân phương,

thiếu mất một nét, một chấm sẽ bị đánh hỏng Quyển thi bị ố bẩn, tỳ vết thì bị xem là làm dấu bài nên cũng bị đánh hỏng Lệ quy định trong mỗi quyển thi không được đồ (xóa bỏ), di (sót), câu (móc), cải (sửa) quá 10 chữ Những chữ chung quanh dấu Nhật trung, dấu Giáp phùng không được sửa Khi làm xong bài, cuối quyển thi phải tổng kết số chữ đã đồ, di, câu, cải trong quyển

Những sĩ tử phạm vào các lỗi trên đều được niêm yết tên lên bảng con ở mỗi vi cho thí sinh biết rõ lỗi, biết rõ vì sao mà hỏng thi

Các quy định của triều đình nhằm đảm bảo việc thi cử được nghiêm túc, công bằng và thực hiện tốt các biện pháp đó là một việc làm đúng Tuy nhiên, trong các quy định đó có nhiều điều quá chặt chẽ, thậm chí vô lý Những quy định đó đã cản trở nhiều người có tài vì sợ phạm húy, sợ gò bó mà không muốn đi thi hoặc chỉ thi hương để làm quan mà không tham gia thi hội nữa,

do đó đi ngược lại điều mong muốn chọn người tài ra giúp nước của triều đình khi định ra chế độ khoa cử

Trường quy còn dành cả cho các quan trường Quan Nội trường không được mang theo thoi mực và giấy có chữ Các quan Nội, Ngoại trường không phải việc công thì không được gặp riêng nhau Quan trường và học trò thông đồng thì quan bị xử giáng hay bãi chức, học trò bị tội đồ Thể sát, Lại phòng lừa dối, làm tiền đều bị tội đồ Ngoài ra để đề phòng có những tệ nạn trong khoa cử vì thân thích, lệ Hồi tỵ ở trường thi được quy định rất chặt chẽ Lệ định: những quan trường có người thân thuộc đi thi thì trình rõ để xin Hồi Tỵ, tránh không tham gia vào công việc tổ chức khoa cử Chúng ta có thể tham

khảo thêm Điều lệ thi Hương ở phụ lục số 2.[24]

 Kết quả

Ở triều Nguyễn, số học sinh lấy đỗ ở các trường thi địa phương được triều đình quy định rõ Tuy nhiên số lấy đỗ cũng có thay đổi chút ít tùy từng khoa thi Từ năm Minh Mạng thứ 15(1834) có quy định lấy đỗ đồng đều số thí sinh các tỉnh tại mỗi trường thi bằng cách dùng màu sắc đánh dấu các

Trang 33

quyển thi, qui định này về mục đích là tốt nhưng phương thức thực hiện thì chưa hợp lý nên đến năm 1850 thì bãi bỏ, không sử dụng màu sắc mà trở lại lấy đỗ theo mỗi trường Việc lấy đỗ cử nhân hay tú tài còn căn cứ trên số giải ngạch (là số lượng cử nhân, tú tài lấy đỗ ở mỗi kì thi Hương, số này được triều đình qui định theo trường thi ở mỗi địa phương) Số giải ngạch thay đổi theo khoa thi, dựa vào số thí sinh.

Từ khoa Ất Dậu (1825), triều Nguyễn đặt tên Cử nhân và Tú tài để gọi những người thi đỗ kỳ thi Hương thay cho tên gọi Hương cống hay Sinh đồ trước kia Việc công bố danh tánh các Cử nhân được diễn ra trước cổng trường thi và gọi là Lễ xướng danh, sau đó trường cho niêm yết bảng Cử nhân (Hổ bảng) ở cửa vi Giáp, bảng Tú tài (Mai bảng) ở cửa vi Ất Các Cử nhân được ân tứ mũ,áo, vải vóc, tiền bạc và được ban cỗ yến lộc minh Trước khi

dự tiệc, các vị tân khoa làm lễ bái vọng nhà vua và bái tạ các quan khảo Sau

đó, mỗi vị dược tặng một các lọng xanh để về vinh quy bái tổ tại Từ đường của dòng họ mình, sau đó bái tạ Thành hoàng, Thánh sư ở đình, miếu và dự tiệc khao vọng của làng Các Cử nhân có thể có thể lại sôi kinh nấu sử chờ lên đường đi thi Hội hoặc chờ sắc chỉ bổ dụng làm quan

1.2.2 Các trường thi Hương ở nước ta từ năm 1807 đến năm 1918 1.2.2.1 Trường thi Hương - những quy cách chung

Nhà Nguyễn vẫn giữ cách sắp đặt trường thi như triều Hậu Lê Mỗi lần thi, trường thi được sửa sang lại, các tòa nhà được dùng vào việc khảo thí thường lợp bằng tranh, tre nứa,chung quanh trường thi có hàng rào và được canh phòng cẩn mật Bên trong hàng rào chia thành 3 khu vực: khu nội liêm

là nơi ở của các khảo quan, khu ngoại liêm là nơi ở của các quan giám thị, khu thứ 3 dành cho thí sinh Cả trường chia làm 8 ô vuông, có đường chạy dọc và ngang để chia 8 ô vuông thành 8 phần bằng nhau gọi là đường thập đạo Trung tâm đường thập đạo dựng một ngôi nhà gọi là nhà Thập đạo Trên đường theo hàng ngang, dựng 3 chòi canh để các quan giám thí quan sát thí sinh làm bài Sau khi thi xong người ta phá bỏ đi, như vậy đa phần trường thi

Trang 34

chỉ được lập nên mỗi khi có kì thi mà thôi Cách xếp đặt trường thi thời xưa còn đơn giản và sơ sài lắm.

Từ năm 1843, vua Thiệu Trị định lệ xây dựng trường thi Thừa Thiên làm mẫu chuẩn cho các địa phương với quy thức cụ thể Trường thi ngày xưa gồm nhiều tòa nhà cho các quan trường lo việc chấm thi và ăn ở trong suốt thời gian thi Nhìn chung, khu vực trường thi gồm bảy tòa nhà, mỗi tòa gồm một gian hai chái dành cho các quan Chánh khảo, Phó khảo, Chánh phó Đề điệu cùng nhà Thập đạo Chín tòa nhà mỗi tòa ba gian hai chái để cho các quan Giám khảo, Sơ khảo, Phúc khảo, Thể sát, Mật sát và Lại phòng ở Khu vực Ngoại trường (Ngoại liêm) bao quanh khu vực này gồm ba tòa nhà mổi tòa năm gian hai chái để làm Thí viện đường, công sảnh, nhà quan Đề điệu…Chung quanh trường, giữa khu vực nhà Thập đạo giáp bốn vi và khu nhà các quan đều có xây tường kín Trong bốn vi có dựng bảy dãy nhà dài, mỗi dãy gồm mười bảy gian để cho thí sinh ngồi làm bài Thi hương mỗi gian ngồi bốn người, thi Hội thì cách 2 hoặc 3 gian cho một người ngồi, đều lợp bằng ngói Cụ thể hơn thì tùy đặc điểm từng trường cũng có chút ít thay đổi

Từ năm 1844 trở đi, các trường thi được xây dựng bên trong là nhà ngói, bên ngoài bao tường gạch

1.2.2.2 Các trường thi Hương ở thời Nguyễn

- Trường Thăng Long (Hà Nội)

Từ năm 1807, khi vua Gia Long ban chiếu dụ cho phép mở trường thi Hương trong cả nước Từ kinh đô Phú Xuân trở vào triều đình chưa tổ chức thi hương mà chỉ đặt 6 trường trường thi từ Nghệ An trở ra gồm trường Nghệ

An, Thanh Hoa, Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, Hải Dương Đến năm 1813,

cả nước cũng vẫn có 6 trường: đó là trường Nghệ An và Thanh Hoa, mở thêm hai trường Quảng Đức và Gia Định, trường Hải Dương và Sơn Nam hợp lại lấy tên chung là Sơn Nam, trường Sơn Tây và Kinh Bắc hợp lại và dời về địa điểm mới ở thôn Nam Hưng, tổng Hữu Túc huyện Thọ Xương (nay thuộc khu phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội), do đó phải chọn tên mới cho phù

Trang 35

hợp: trường Thăng Long Sĩ tử thi ở Thăng Long bao gồm người ở phủ Hoài Đức và cả 7 trấn quanh đó như Kinh Bắc, Sơn Tây, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng Trường Thăng Long tồn tại từ năm 1813 đến năm 1831, tổ chức được 6 khoa thi với 130 vị cử nhân trong đó có 54 cử nhân người đất Hà Thành Đến năm 1831, nhà Nguyễn cải cách lại bộ máy hành chính, lấy ba phủ Lý Nhân, Thường Tín, Ứng Hòa của trấn Sơn Nam và huyện Từ Liêm vào phủ Hoài Đức đặt thành tỉnh Hà Nội nên trường thi Hương cũng đổi thành trường Hà Nội Trường thi Hà Nội tiếp tục là nơi thi hương của sĩ tử Bắc Kỳ từ khoa Giáp Ngọ (1834) Năm 1845, vua Thiệu Trị sai dựng trường bằng gạch ngói theo mẫu trường Thừa Thiên, xung quanh xây tường gạch Được phân thành hai khu chính: một khu hoàn toàn tự do, trừ một ngôi nhà nhỏ ở trung tâm gọi là nhà Thập đạo, dành cho các thí sinh; một khu khác gồm các tòa nhà cho giám khảo Khu giám khảo lại chia thành

ba khu nhỏ, mỗi khu nhỏ dành cho giám khảo của một trong ba kỳ thi Khu học trò thi thông với 9 cổng ra bên ngoài

Từ năm 1834, tổ chức thêm 22 kỳ thi nữa và số đỗ là 489 cử nhân Khoa

Kỷ Mão (1879) là khoa thi cuối cùng của trường Thăng Long – Hà Nội này,

từ khoa thi 1882 sĩ tử Hà Nội phải vào Thanh Hóa thi gọi là Khóa Thanh (1884), sau đó xuống thi chung với sĩ tử Nam Định tại trường Hà Nam, khoa thi cuối cùng của trường Hà Nam là năm 1915 Thực tế lịch sử cho thấy trường Thăng Long và trường Hà Nội chỉ là một Vị trí Trường Thi nằm ở phía Đông Nam thành Hà Nội và ngoài khu buôn bán, Trường Thi có kích thước 150thước chiều ngang và 200 thước chiều dài Đó là khu vực phía Bắc trường là phố Tràng Thi, phía Tây là phố Lambert (phố Dã Tượng), phía Đông là phố Jauréguiberry (phố Quang Trung) và phía Nam (phố Hai Bà Trưng – Lý Thường Kiệt) thuộc quận Hoàn Kiếm ngày nay Điều này hoàn toàn phù hợp với vị trí mà Lãnh sự Kergaradec ghi lại, và trong các bản đồ vẽ

về Hà Nội những năm 1866, 1882, 1900, 1940

Trường Nam Định

Trang 36

Trên thực tế, trường thi Hương Nam Định là sự nối tiếp của trường thi dành cho trấn Sơn Nam Hạ có từ thời Lê Đến Gia Long thứ 18(1819), trường Sơn Nam – gọi tắt là trường Nam hợp thi với các tỉnh Hải Dương, Quảng Yên Khoa thi này được mở tại đất Vị Hoàng nên trường thi gọi là trường Vị Hoàng (nay thuộc tỉnh Nam Định).

Từ khoa Ất Dậu (1825), triều đình mới theo tên tỉnh để gọi trường thi nên trường thi Nam Định có tên từ đấy Trường Nam Định dành cho học trò các tỉnh Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình và Quảng Yên cùng thi vào tháng 9 Từ năm 1837, trường thi vào tháng 10 để sĩ tử đi thi khỏi lầy lội

vì vào mùa mưa

Trường thi Nam Định, làm từ năm 1845 ở làng Năng Tĩnh, phủ Thiên Trường, tổng Mỹ Trọng, huyện Mỹ Lộc, trường là một khu đất hình chữ nhật rộng rãi, chu vi khoảng 214 trượng, cao 5 thước, gồm 21 tòa nhà bằng gạch ngói cho quan trường, song chỗ học trò thi thì vẫn để đất trống cắm lều Trường chia làm 3 ngăn: ngăn trong là nội trường, giữa là ngoại trường, bên ngoài là nơi học trò làm bài thi Từ năm 1894 đến năm 1915, trường Nam Định được gọi là trường Hà Nam Dựa vào sự thống kê trong Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục, trong số 47 kỳ thi của triều Nguyễn có 7 khoa thi được tổ chức với tên Sơn Nam, 22 khoa thi tổ chức với tên Nam Định, 8 khoa thi với tên Hà Nam (Hà Nội và Nam Định thi chung) Số Cử nhân trường thi Hương Nam Định lấy đỗ là 1083 vị, chiếm 20,6% tổng số Cử nhân triều Nguyễn Trường thi hương Nam Định đã đóng vai trò không nhỏ trong việc tổ chức các kỳ thi Hương của triều Nguyễn

- Trường Thanh Hóa

Từ năm 1807, trường mang tên trường Thanh Hoa, và chỉ tổ chức được 7 khoa thi, đến năm 1834 do số thí sinh ở trường ít, nếu để thi riêng thì chưa hợp lý nên bộ Lễ tâu xin cho Thanh Hoa thi chung với Nghệ An nhưng khoa thi này Nghệ An đã thi xong nên tạm hợp thi với trường Hà Nội, năm sau thi chung với Nghệ An khoảng 7 khoa thi đến năm 1848 trường Thanh Hoa tổ

Trang 37

chức thi trở lại Theo Đại Nam Nhất thống chí thì đến năm 1852 trường được dựng ở xã Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phía Đông bắc tỉnh thành, có các nhà, các viện đều lợp bằng ngói và mang tên Thanh Hóa cho đến kỳ thi cuối năm

1918

- Trường Nghệ An

Trường thi hương Nghệ An được xây dựng thời Lê Thánh Tông, nằm phía tây nam núi Lam Thành (còn gọi là Hùng Sơn) Thuộc xã Nghĩa Liệt huyện Hưng Nguyên Đây là trấn lỵ Nghệ An thời Lê Đầu triều Nguyễn, năm

1807, vua Gia Long cho dời trường thi hương từ Lam Thành về Vĩnh Doanh (Vinh) Lúc đầu trường dựng bằng nứa ở phía Đông Nam tỉnh thành Đến năm 1847, trường được dời đến địa phận thôn Thượng, xã Yên Dũng, huyện Chân Lộc, trường có tường rào xây bằng đá ong, chu vi 193 trượng (1 trượng

= 4m), cao 4 thước 5 tấc (khoảng 1.8m), các viên ở trong trường đều lợp ngói Dưới triều Nguyễn, đây là một trong tám trường thi hương của cả nước, tổ chức được 42 khoa, lấy đậu 879 cử nhân, trong số đó có 571 người Nghệ An Trường thi hương Nghệ An cũng nổi tiếng là nơi cung cấp nhiều vị đại khoa cho dất nước Đã có 165 vị đại khoa là người Nghệ An, riêng triều Nguyễn có

81 vị (38 tiến sĩ và 43 phó bảng) Đặc biệt khoa thi Canh Tý (1900) có hai trường hợp hiếm có trong lịch sử khoa cử: Phan Bội Châu được triều đình xóa

án vì có tài liệu trong khoa thi 1897, đã đậu đầu (Giải Nguyên) và được yết tên riêng một bảng Đoàn Tử Quang ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) đã đậu cử nhân vào năm ông 82 tuổi

- Trường Thừa Thiên

Từ tháng 7.1813, tổ chức thi hương tại trường Quảng Đức (Quảng Đức vốn là trường thi Huế do chúa Trịnh Sâm đặt ra từ năm 1777 được Gia Long đổi tên) Sĩ tử gồm Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa thi chung, năm này lấy đỗ 9 người Năm 1819 lại đổi tên là trường Trực Lệ, đến năm 1825 bắt đầu đổi là trường Thừa Thiên Tháng 10

1843, sửa dựng trường thi Thừa Thiên ở trong kinh thành (thuộc phường Ninh

Trang 38

Bắc) Trường thi hương Thừa Thiên trước đặt ở xã Nguyệt Bầu ở bên bờ nam sông Hương Trường thi Hội thì ở trước của Ngọ Môn, đều đến kỳ thi mới dựng tạm nhà tranh, phên nứa, thi xong thì dỡ đi, sai hai bộ Lễ, Công trù tính quy thức, đổi dựng trường thi theo cách thức chung, bên trong đều lợp ngói, bên ngoài bao tường gạch Và hạ lệnh cho các tỉnh Nghệ An, Nam Định, Hà Nội, Gia Định đều chiếu quy thức do bộ gởi đến cho làm lại trường thi quy

mô, rộng rãi hơn, duy bốn vi Tả Hữu Giáp Ất thì để trống chứ không dựng mái che Từ năm 1813 đến năm 1918, trường thi Hương Thừa Thiên đã tổ chức 42 khoa thi lấy đỗ 1263 vị Cử nhân Có thể nói trường thi Thừa Thiên là một trong số ít trường tổ chức các khoa thi hương đều đặn nhất, góp phần rất quan trọng trong việc chọn lựa nhân tài cho triều Nguyễn

- Trường Bình Định

So với các trường thi khác vào thời Nguyễn thì trường thi Bình Định ra đời muộn hơn Đến năm 1850 (Tự Đức thứ 3) mới có chỉ dụ thành lập trường thi Bình Định, song vẫn còn tá túc tại trường Thừa Thiên Cho đến năm 1852, trường thi Bình Định mới được xây dựng với chu vi 193 trượng, cao 4 thước

5 tấc, tọa lạc trên một khu đất rộng, thoáng thuộc thôn Hòa Nghi, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn ngày nay, cách tỉnh lỵ Bình Định lúc đó chừng hơn một dặm về phía tây nam Từ tỉnh lỵ Bình Định đến trường thi phải qua một con

đò ngang, tục gọi là bến đò Trường thi (gọi tắt là bến Trường thi) Trường thi

Hương Bình Định từ khi ra đời năm 1852, đến khi kết thúc năm 1915, đã tiến hành 22 khoa thi, chọn được 342 vị cử nhân Riêng sĩ tử Bình Định chiếm đến

194 vị, còn lại 148 vị thuộc các tỉnh bạn Đây là trường thi gần trường thi Gia Định nhất

- Trường Gia Định đã được trình bày ở chương 2 và 3 nên không nêu

ở đây

- Trường An Giang

Sau khi Pháp chiếm Gia Định, kỳ thi Hương năm 1861 theo định kỳ phải tạm hoãn vì có biến Tháng 8.1863, mới đặt trường thi Hương ở An

Trang 39

Giang, các cử nhân, tú tài ở Nam Kỳ người nào tình nguyện ra làm quan viên trường thi thì do tỉnh Vĩnh Long, Bình Thuận cấp cho đi trạm về kinh Bắt đầu mở khoa thi năm Giáp Tý (1864) do Bố chánh Hà Tiên Nguyễn Văn Học làm Chủ Khảo, án sát Vĩnh Long Nguyễn Văn Nhã làm Phó Chủ khảo, lấy đỗ

10 cử nhân Trường thi An Giang chỉ tổ chức được một lần duy nhất bởi vì sau đó các tỉnh Nam Kỳ hoàn toàn thuộc Pháp theo các hiệp ước mà triều Nguyễn đã ký kết, ở Nam Bộ không còn trường thi Hương nữa

Tiểu kết chương 1

Ta có thể thấy, cùng với sự tồn tại của vương triều, nền giáo dục và khoa

cử triều Nguyễn đã kéo dài 117 năm (từ năm 1802 đến năm 1919) Mặc dù diễn ra trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến cố nhưng các khoa thi hương, thi Hội vẫn tiến hành khá đều đặn Số Cử nhân, Tiến sĩ lấy đỗ qua các

kỳ thi là nguồn nhân lực dồi dào cho hệ thống quan lại của triều đình Các khoa thi được nhà nước tổ chức long trọng với quy chế chặt chẽ, cụ thể và thể

lệ thi nhìn chung mang tính công bằng, bình đẳng, chọn đúng người thực tài

Có thể nói chế độ khoa cử phát triển đến triều Nguyễn thì thể chế và cơ cấu tổ chức thi cử đạt tới mức hoàn thiện nhất trong các triều đại Việt Nam Dưới triều Nguyễn, có 8 trường thi Hương tồn tại nhưng điều đặc biệt là không có

kỳ thi nào tổ chức đồng loạt ở các trường thi, khoa thi cao nhất cũng chỉ có 7 trường, khoa thi có số Cử nhân đỗ đạt nhiều nhất là khoa thi năm 1855 với

199 người Sự ra đời và hoạt động liên tục, đều đặn của các trường thi Hương

đã góp phần không nhỏ trong việc đào tạo và tuyển dụng nhân tài ở triều Nguyễn

Trang 40

CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG THI HƯƠNG

GIA ĐỊNH TỪ NĂM 1813 ĐẾN NĂM 1858.

2.1 Khái quát chung về vùng đất Gia Định.

2.1.1 Vị trí địa lý

Khi biên soạn: “ Gia Định thành thông chí”, Trịnh Hoài Đức có viết về vùng đất Gia Định giai đoạn trước năm 1698 như sau: “Khi ấy địa đầu Gia

Định là Mỗi xuy (hay Mô xoài) và Đồng Nai (tức nay là đất Biên Hòa trấn)

đã có lưu dân của nước ta đến ở chung với người Cao Miên khai khẩn ruộng đất” Vào năm 1698 chúa Nguyễn cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược Nguyễn Hữu Cảnh đã lấy vùng đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn; mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị Điều này cũng có nghĩa là lưu dân Việt Nam đã đến lưu vực các sông Đồng Nai, Mê Kông khẩn hoang và làm ăn sinh sống từ trước đó (thế kỷ XVI-XVII) Xứ Sài Gòn, chiếm khoảng một nửa đất Nông Nại, bao gồm cả miền Đông Nam Bộ tức phần lớn thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay Dân số phủ Gia Định năm 1698 ước độ có 40.000 hộ, khoảng 200.000

người”

Từ năm 1698 cho đến trước năm 1802, vùng đất Gia Định chứng kiến nhiều thăng trầm, biến đổi của lịch sử dân tộc Tên gọi, địa giới hành chính, dân cư,v.v… ở vùng đất này cũng có nhiều thay đổi, nhưng có một điểm chung là Gia Định thành và vùng phụ cận luôn giữ một vị thế hết sức trọng yếu đối với sự tồn vong, thịnh suy các chúa Nguyễn và Tây Sơn rồi Nguyễn Ánh thì không thay đổi

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế (1802), do vị thế vô cùng quan trọng của vùng đất Gia Định nói chung và trấn thành Gia Định nói riêng, nên

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ KHOA THI NĂM QUÝ DẬU GIA LONG THỨ 12 - Trường thi hương gia định từ năm 1813 đến năm 1858  luận văn thạc sĩ lịch sử
12 (Trang 57)
BẢNG THỐNG KÊ MỘT SỐ NHO SĨ TRƯỞNG THÀNH TỪ - Trường thi hương gia định từ năm 1813 đến năm 1858  luận văn thạc sĩ lịch sử
BẢNG THỐNG KÊ MỘT SỐ NHO SĨ TRƯỞNG THÀNH TỪ (Trang 92)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w