1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu chính sách biển của việt nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững luận văn tốt nghiệp đại

71 350 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 371 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ, các quy định của Luật biển quốc tế phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp và không trái với các nguyên tắc cơ bảncủa Luật quốc tế, ví dụ như nguyên tắc côn

Trang 1

Tìm hiểu các chính sách biển của Việt nam trong

tiến trình hội nhập quốc tế

và phát triển bền VữNG

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: LUậT KINH Tế – QuốC Tế

Vinh - 2011

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Khoa luật

Tìm hiểu chính sách biển của Việt nam

trong tiến trình hội nhập quốc tế

và phát triển bền VữNG

Trang 2

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: LUậT KINH Tế – QuốC Tế

Lớp : 48B1 Luật

Vinh - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài này, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TSĐoàn Minh Duệ cùng tập thể cán bộ giảng dạy Khoa Luật đã hết sức tạo điềukiện để em có thể hoàn thành khóa luận của mình Đặc biệt, em xin gửi lời cảm

ơn chân thành nhất đến giảng viên Trần Thị Vân Trà là người trực tiếp hướngdẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề tài này Trong quá trình nghiên cứu, do trình

độ và khả năng có hạn nên khóa luận này không thể tránh khỏi những sai lầm,thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để hoàn thiện khóaluận này

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5/2011

Tác giảĐặng Thị Kim Phụng

Trang 4

MỤC LỤC Phần mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 2

4 Giới hạn của đề tài 3

5 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu đề tài 3

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4

7 Bố cục của đề tài 4

Chương 1: Tổng quan về luật biển quốc tế, công ước luật biển 1982 và phân định biển trong luật quốc tế 1.1 Khái quát chung về Luật biển quốc tế 6

1.1.1 Khái niệm luật biển quốc tế 6

1.1.2 Mối quan hệ giữa luật biển quốc tế và luật quốc tế 7

1.1.3 Các nguyên tắc của luật biển quốc tế 9

1.2 Khái quát công ước luật biển 1982 12

1.2.1 Khái quát công ước luật biển 1982 12

1.2.2 Các vùng biển và quy chế pháp lý của chúng 13

1.3 Phân định biển trong luật biển quốc tế 25

1.3.1 Khái niệm phân định biển 25

1.3.2 Các phương pháp phân định biển 26

Trang 5

Chương 2: Thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng 2.1 Một vài nét cơ bản về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên biển Việt Nam 32

2.1.1.Vị trí địa lý 32

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 34

2.2 Vai trò của biển Đông đối với sự phát triển của Việt Nam 36

2.3 Thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng 37

2.3.1 Các vùng biển đã được xác định của Việt Nam 37

2.3.2 Thực tiễn việc phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng 39

Chương 3: Đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách phân định biển của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững 3.1 Đánh giá về chính sách phân định biển của Việt Nam 58

3.2 Kiến nghị 61

Kết luận 63

Tài liệu tham khảo 64

Trang 6

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biển có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển và sinh tồn của nhân

loại, là kho nước vô tận, là kho tài nguyên, kho thực phẩm vô cùng quý giá, là môitrường nuôi sống con người trong quá khứ, hiện tại và cả trong tương lai Biển là tàisản quý giá của mỗi quốc gia Nhiều nhà khoa học đã nói đến “lục địa xanh” này và

họ cho rằng nền kinh tế tương lai của loài người trước hết là nền kinh tế gắn vớibiển, bởi vì đất liền đang bị khai thác kiệt quệ tài nguyên, biển có thể mở lối thoátcho con người thoát khỏi tình trạng bế tắc về nguyên nhiên liệu cho sự phát triển.Chính vì thế mà ngày nay tất cả các quốc gia có biển (cũng như các quốc gia không

có biển) cũng đều chú ý đến việc nghiên cứu và khai thác các nguồn lợi từ biểntrong quá trình phát triển đất nước

Biển Đông có diện tích khoảng 3,4 triệu km2, là một bộ phận nhỏ của TháiBình Dương nhưng lại có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi qua lại của tuyếnđường giao thông huyết mạch đối với nhiều nước Biển Đông cũng là nơi có nguồntài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú cả về số lượng và chủng loại

Việt Nam nằm ở rìa biển Đông, là mặt tiền quan trọng để nước ta thông ravới Thái Bình Dương và mở cửa ra nước ngoài Nước ta là một quốc gia biển vớidiện tích biển rộng gấp 3 lần diện tích đất liền (khoảng 1 triệu km2), đường bờ biểndài 3260 km bao lấy lãnh thổ cả ba hướng Bắc, Đông, Nam, trung bình cứ khoảng

100 km2 đất liền lại có 1 km2 bờ biển Từ bao đời nay, biển đã gắn bó mật thiết vớimọi hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta, ảnh hưởng lớn đến mọi miền của

tổ quốc, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Với vị trí địa - chính trị như vậy, Việt Nam đã có nhiều chínhsách để phát huy tiềm năng của biển Đông và đưa nó trở thành lợi thế trong việc

Trang 7

phát triển đất nước Nhận thức được tầm quan trọng của biển trong tương lai, tôi đãmạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu các chính sách biển của Việt nam trong tiến trìnhhội nhập quốc tế và phát triển bền vững” làm đề tài nghiên cứu của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Biển Đông có một tầm quan trọng đáng kể nên đã được nhiều người quantâm nghiên cứu trong cũng như ngoài nước Việt Nam và Trung Quốc là hai quốcgia quan tâm nhiều nhất đến việc nghiên cứu trong khu vực này, ngoài ra cũng cónhiều quốc gia khác tham gia nghiên cứu biển Đông như Mỹ, Nhật Bản, Nga…Hàng loạt công trình nghiên cứu về biển Đông được công bố như ở Việt Nam có:

“Toàn tập thiên nam chí lộ đồ thư” của Đỗ Bá, “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn,

“Việt sử cương giám khảo lược” của Nguyễn Thông…, hay có thể kể đến đề tài

“Hợp đồng nghiên cứu khoa học về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa” của Tiến sỹ Nguyễn Quang Ngọc Một số nghiên cứu củacác nhà khoa học phương Tây như “Lesouverainet sur les Archipels et Spratlay”của bà M.C Gendreau, Chủ tịch hội luật gia Châu Âu về vấn đề hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa… Đặc biệt, về vấn đề biển Đông, đã có rất nhiều cuộc hộithảo khoa học trong nước cũng như quốc tế bàn về vấn đề tranh chấp trên biểnĐông

Chính những công trình nghiên cứu kể trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo đểtôi nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu các chính sách biển của Việt Nam trong tiến trìnhhội nhập quốc tế và phát triển bền vững” được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu về đề tài này là :

- Tìm hiểu về các chính sách biển mà Việt Nam đã đạt được trong quá trìnhphát triển đất nước

- Đánh giá về các chính sách đó của Việt Nam trong tiến trình phát triển đất nước

Trang 8

4 Giới hạn của đề tài

Chính sách biển thì rộng, ở đây chúng ta có thể kể ra một số chính sách biểnnhư: chính sách về bảo vệ chủ quyền và an ninh Việt Nam trên biển, chính sách vềkhai thác thủy sản, dầu khí trên các vùng biển Việt Nam, chính sách về nghiên cứukhoa học biển, chính sách về du lịch biển đảo, chính sách về giao thông vận tảibiển, chính sách về bảo vệ môi trường biển, chính sách phân định biển của ViệtNam… Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài này, do thời gian tìm hiểu, trình độhiểu biết và kinh nghiệm có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu về các chính sách phân địnhbiển của Việt Nam

5 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu đề tài

Mỗi vấn đề được đưa ra lại có đối tượng nghiên cứu riêng của nó, ở đề tàinày, đối tượng nghiên cứu của nó là các chính sách phân định biển, các hiệp địnhliên quan đến phân định biển được Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng Phương pháp nghiên cứu của mỗi đề tài là khác nhau Mỗi vấn đề có mộtphương pháp nghiên cứu riêng nhưng cũng có thể phải kết hợp nhiều phương phápkhác nhau mới nghiên cứu được hết một vấn đề Trong đề tài nghiên cứu của mình,tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, để đánh giámột cách toàn diện nhất về vấn đề đó Phương pháp sưu tầm cũng là một phươngpháp quan trọng giúp tôi có thể sưu tầm được những tài liệu liên quan đến việcnghiên cứu của mình Ngoài ra, tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứukhác như: so sánh, đối chiếu, logic, tổng kết thực tiễn…

Trang 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận: đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụcho công tác nghiên cứu, giảng dạy và tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến cácchính sách biển của Việt Nam

Về mặt thực tiễn: đề tài cung cấp những tài liệu, những thông tin cần thiết

về các chính sách biển của Việt Nam, từ đó giúp Nhà nước ta có thể đưa ra nhữngchính sách về biển đúng đắn nhất để đưa đất nước hội nhập quốc tế và phát triểnbền vững

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài còn có phần nội dung gồm 3chương:

Chương 1: Tổng quan về luật biển quốc tế, công ước luật biển 1982

và phân định biển trong luật biển quốc tế

1.1 Khái quát chung về Luật biển quốc tế

1.1.1. Khái niệm Luật biển quốc tế

1.1.2. Mối quan hệ giữa Luật biển quốc tế và Luật quốc tế

1.1.3. Các nguyên tắc của Luật biển quốc tế

1.2 Khái quát Công ước luật biển 1982

1.2.1. Khái quát về Công ước luật biển 1982

1.2.2. Các vùng biển và quy chế pháp lý của chúng

1.3 Phân định biển trong luật biển quốc tế

1.3.1 Khái niệm phân định biển

1.3.2 Các phương pháp phân định biển

1.3.3 Các trường hợp phân định biển

Trang 10

Chương 2: Thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia

láng giềng.

2.1 Một vài nét cơ bản về vị trí địa lý ,điều kiện tự nhiên và tài nguyên

thiên nhiên của biển Đông

2.2 Vai trò của biển đối với sự phát triển của Việt Nam

2.3 Thực tiễn phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng

2.3.1 Các vùng biển đã được xác định của Việt Nam

2.3.2 Thực tiễn việc phân định biển giữa Việt Nam và các quốc gialáng giềng

biển của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững

3.1 Đánh giá về chính sách phân định biển của Việt Nam

3.2 Kiến nghị

Trang 11

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LUẬT BIỂN QUỐC TẾ, CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM

1982 VÀ PHÂN ĐỊNH BIỂN TRONG LUẬT BIỂN QUỐC TẾ

1.1 Khái quát chung về Luật biển quốc tế

1.1.1 Khái niệm Luật biển quốc tế

Luật biển quốc tế chính là một ngành luật của Luật quốc tế, xuấthiện từ xa xưa và có vai trò quan trọng trong đời sống quan hệ quốc tế Lúc đầu khimới hình thành, Luật biển quốc tế chỉ tồn tại dưới dạng những tập quán được một số

ít quốc gia thừa nhận và vận dụng Về sau, trải qua thời gian dài hợp tác và đấutranh giữa các quốc gia, Luật biển quốc tế ngày càng phát triển và hoàn thiện tạonên môi trường pháp lý cho cộng đồng quốc tế trong việc quản lý, khai thác và sửdụng biển có hiệu quả

Luật biển quốc tế là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ trong việc sửdụng và quản lý không gian biển Ở khía cạnh này, Luật biển quốc tế quy địnhquyền hạn và nghĩa vụ của các quốc gia (có biển hoặc không có biển), điều chỉnhcác quan hệ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế ởnhững vùng biển khác nhau với chế độ pháp lý khác nhau Mặt khác, Luật biểnquốc tế cũng là một ngành luật mang tính chức năng Các chức năng này phát triển

và thay đổi cùng với sự phát triển của quan hệ quốc tế trong lĩnh vực biển Một thờigian dài, các chức năng này gắn liền với việc thực thi chủ quyền trên một vùng biểnhẹp như: chiến tranh và xung đột vũ trang, đăng ký quốc tịch cho tàu thuyền,… Dầndần, các thẩm quyền Nhà nước được mở rộng ra phía biển và được bổ sung thêmnhững chức năng mang tính cộng đồng như: bảo vệ môi trường biển, nghiên cứukhoa học biển, khai thác tài nguyên biển,…

Trang 12

Như vậy, có thể khái quát lại: Luật biển quốc tế là tổng thể các nguyên tắc

và các quy phạm pháp lý quốc tế được thiết lập bởi các chủ thể của Luật quốc tế

là quốc gia trên cơ sở thỏa thuận xây dựng nên hoặc thông qua thực tiễn có tính tập quán nhằm điều chỉnh quy chế pháp lý các vùng biển và các hoạt động sử dụng, khai thác, bảo vệ môi trường biển cũng như quan hệ hợp tác của các quốc gia trong các lĩnh vực này

1.1.2 Mối quan hệ giữa Luật biển quốc tế và Luật quốc tế

Luật biển là một bộ phận của Luật quốc tế, do vậy, nó có quan hệ mậtthiết với các ngành luật và chế định khác của Luật quốc tế Trước hết, Luật biển cóquan hệ với các nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế Đây là mối quan hệ giữacác nguyên tắc cơ bản của một hệ thống pháp luật với một bộ phận, một ngành luậttrong hệ thống đó Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ, các quy định của Luật biển quốc

tế phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp và không trái với các nguyên tắc cơ bảncủa Luật quốc tế, ví dụ như nguyên tắc công bằng, nguyên tắc đất thống trị biểntrong Luật biển quốc tế phải phù hợp với nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền quốcgia trong Luật quốc tế,…Trong quan hệ với các ngành khác của Luật quốc tế, Luậtbiển cũng có mối quan hệ mật thiết với các ngành luật khác như Luật quốc tế vềbiên giới lãnh thổ, Luật hàng không quốc tế, Luật quốc tế về môi trường

1.1.2.1 Luật biển với Luật quốc tế về biên giới và lãnh thổ quốc gia

Luật quốc tế về biên giới và lãnh thổ quốc gia là một ngành luật của Luậtquốc tế, bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh các quan

hệ giữa các chủ thể của Luật quốc tế (quốc gia) liên quan đến lãnh thổ và biên giớiquốc gia

Mối quan hệ giữa Luật biển quốc tế với Luật quốc tế về biên giới và lãnhthổ quốc gia là mối quan hệ giữa luật về cái chung (lãnh thổ, biên giới) và luật vềcái riêng, cái bộ phận (biển) Như chúng ta đã biết, lãnh thổ quốc gia được xác định

Trang 13

biển là một bộ phận của vùng nước Do đó, những quy chế của biển phải được xâydựng trên cơ sở những nguyên tắc tổng quát của lãnh thổ quốc gia nói chung Chẳnghạn, khi xây dựng quy chế pháp lý cho vùng nội thủy và lãnh hải, các quốc gia phảidựa trên cơ sở các quy chế pháp lý về lãnh thổ và quốc gia Ngược lại, Luật biểnquốc tế cũng có những tác động trở lại đối với Luật quốc tế về biên giới lãnh thổquốc gia Điều này thể hiện rõ trong việc Luật biển quốc tế quy định về vấn đề xácđịnh ranh giới trên biển của lãnh thổ quốc gia với ranh giới trên biển của một quốcgia khác hoặc xác định ranh giới ngoài của vùng lãnh hải Mặt khác, việc áp dụngcác quy chế pháp lý khác nhau cho các vùng biển khác nhau của vùng lãnh thổ quốcgia trên biển phải được xác định dựa trên cơ sở của Luật biển quốc tế.

Ngoài ra, Luật biển quốc tế và Luật quốc tế về biên giới lãnh thổ quốc gia tuyđiều chỉnh các quan hệ khác nhau trong các lĩnh vực của đời sống quốc tế nhưngchúng đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế nói chung

1.1.2.2 Luật biển với Luật hàng không quốc tế

Luật hàng không quốc tế là một ngành luật độc lập của Luật quốc tế, baogồm các nguyên tắc và quy phạm pháp lý quốc tế điều chỉnh các quan hệ pháp lýquốc tế phát sinh giữa các chủ thể của Luật quốc tế trong việc sử dụng và quản lýkhông phận phục vụ cho hàng không dân dụng

Vùng biển và vùng trời là hai bộ phận của lãnh thổ quốc gia, do vậy, mốiquan hệ giữa Luật biển quốc tế và Luật hàng không quốc tế là quan hệ giữa hai bộphận, hai cái riêng trong một tổng thể một cái chung, thống nhất là Luật quốc tế.Vùng biển là một trong những căn cứ quan trọng để xác định vùng trời trên biển, vànhư vậy quy chế pháp lý của vùng trời ít nhiều bị ảnh hưởng bởi quy chế pháp lývùng biển Mỗi vùng trời nằm trên mỗi vùng biển khác nhau có quy chế pháp lýkhác nhau Nếu như vùng trời nằm trên lãnh hải và vùng nội thuỷ thì được xác định

là vùng không phận quốc gia và chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp lý lãnh thổquốc gia, ngược lại, nếu vùng trời nằm trên các vùng biển bên ngoài lãnh hải như

Trang 14

vùng đặc quyền kinh tế hay biển cả thì sẽ thuộc vùng không phận quốc tế Như vậy,

có thể nói vùng biển là một yếu tố quan trọng và quyết định đến ranh giới vùng trờigiữa các quốc gia với nhau, giữa vùng không phận quốc gia và vùng không phậnquốc tế

1.1.2.3 Luật biển với Luật môi trường quốc tế

Luật môi trường quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm pháp lýquốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể của Luật quốc tế phát sinh liên quanđến sử dụng và bảo vệ môi trường

Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố tồn tại xung quanh cuộc sống củacon người, trong đó có biển, do vậy bảo vệ môi trường biển cũng chính là góp phầnvào bảo vệ môi trường Bên cạnh đó thì việc bảo vệ môi trường biển lại phụ thuộcrất lớn vào việc khai thác, sử dụng và bảo tồn tài nguyên biển Chính vì vậy, Luậtbiển quốc tế dành nhiều quy định cho vấn đề bảo vệ môi trường biển và đây cũngchính là một bộ phận của Luật quốc tế về môi trường Ngược lại, Luật quốc tế lại cótác động đến sự hình thành và phát triển các quy định của Luật biển trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường biển

1.1.3 Các nguyên tắc của luật biển quốc tế

Là một ngành của Luật quốc tế, Luật biển hình thành và phát triển dựa trênnhững nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế nói chung: bình đẳng về chủ quyền giữacác quốc gia; cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực; giải quyết hoà bìnhcác tranh chấp quốc tế; không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia; cácquốc gia có nghĩa vụ hợp tác; dân tộc tự quyết; và tự nguyện thực hiện cam kếtquốc tế Tuy nhiên, biển là một lĩnh vực có đặc điểm đặc thù cho nên Luật biểncũng có những nguyên tắc riêng, đặc trưng của mình

Trang 15

1.1.3.1 Nguyên tắc tự do biển cả

Đây là nguyên tắc cơ bản và hình thành từ rất sớm Theo đó, biển cả được đểngỏ cho tất cả các quốc gia (có biển và không có biển) được khai thác, sử dụng vàquản lý biển cả mà không quốc gia nào có quyền áp đặt một cách hợp pháp một bộphận của biển cả thuộc chủ quyền của mình Điều này được ghi nhận trong Điều 87Công ước luật biển 1982 quy định các quốc gia được thực hiện quyền tự do biển cảtrong nhiều lĩnh vực khác nhau: tự do hàng hải; tự do hàng không, tự do đặt các dâycáp hoặc ống dẫn ngầm, tự do xây dựng các đảo nhân tạo, tự do đánh bắt hải sản, tự

do nghiên cứu khoa học

Nguyên tắc tự do biển cả không chỉ được áp dụng riêng cho biển cả mà trongcác vùng biển đặc thù, các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán củaquốc gia, nguyên tắc này vẫn được thể hiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa các quốc gia khác và của cộng đồng quốc tế Vì thế, đây là một nguyên tắcquan trọng đảm bảo sự công bằng giữa các quốc gia, dù quốc gia đó có biển haykhông có biển

1.1.3.2 Nguyên tắc đất thống trị biển

Lãnh thổ quốc gia gồm bốn bộ phận chính là vùng đất, vùng trời, vùng lòngđất và vùng nước Vùng đất là cơ sở để xác định các bộ phận khác, trong đó có vùngbiển Chủ quyền của các quốc gia quần đảo trên các đảo của mình là cơ sở để cộngđồng quốc tế chấp nhận việc mở rộng chủ quyền đó ra vùng nước quần đảo, bất kểchiều sâu và khoảng cách xa bờ của chúng như thế nào Việc mở rộng quyền lực củaquốc gia ra hướng biển được quyết định bởi các nhân tố chính trị và khoa học kỹthuật, tuy nhiên nó cũng không thể tách rời cơ sở pháp lý quốc tế và được cộng đồngquốc tế thừa nhận Theo nguyên tắc này, một quốc gia ven biển được mở rộng chủquyền quốc gia ra hướng biển trên cơ sở vùng đất của mình

Trang 16

Tuy nhiên, các quốc gia cũng không được lạm dụng nguyên tắc đất thống trịbiển để mở rộng chủ quyền quốc gia của mình một cách tự do hoặc đơn phương đưa

ra những yêu sách không phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế

1.1.3.3 Nguyên tắc di sản chung của loài người

Khái niệm di sản chung của loài người xác định khối tài sản chung không thể phânchia, thuộc sự sở hữu của cộng đồng quốc tế, thay mặt cho tất cả các quốc gia

Đây là một nguyên tắc có tính chất đặc thù của Luật biển và dùng để áp dụngcho vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tàiphán của quốc gia - Vùng Nguyên tắc này hình thành đã mang lại ý nghĩa lớn đốivới các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các quốc gia không cóbiển Nếu như trước đây, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển này chỉ do cácquốc gia có nền kinh tế công nghiệp phát triển khai thác và sử dụng thì ngay sauCông ước luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực, nó đã tạo điều kiện cho các quốc giađang phát triển tham gia vào việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên củaVùng Việc hình thành nên nguyên tắc di sản chung của loài người có ý nghĩacực kì quan trọng trong việc hình thành chế độ pháp lý về khai thác và quản lý tàinguyên thiên nhiên ở đáy Vùng Nội dung chính của các nguyên tắc này là: Vùng vàtài nguyên của Vùng không phải là đối tượng của việc chiếm hữu; Vùng được sửdụng vào mục đích hòa bình; Mọi hoạt động trong vùng được tiến hành vì lợi íchcủa toàn thể loài người, việc thăm dò và khai thác tài nguyên của vùng được tiếnhành thông qua Cơ quan quyền lực quốc tế

1.1.3.4 Nguyên tắc công bằng

Đây là một nguyên tắc cơ bản trong Luật biển quốc tế và được thể hiện ở một sốkhía cạnh nhất định sau: Thừa nhận quyền của các quốc gia không có biển hoặc bấtlợi về mặt địa ý được sử dụng biển cả như các quốc gia có biển ở phạm vi mà Luậtbiển cho phép và nghĩa vụ không làm phương hại đến quyền sử dụng biển cả của

Trang 17

bất kỳ quốc gia nào; Vùng - di sản chung của loài người, được để ngỏ cho tất cả cácquốc gia dù quốc gia có biển hay không có biển để sử dụng vào mục đích hoàn toànhòa bình và không phân biêt đối xử Mọi hoạt động trong vùng được tiến hành là vìlợi ích của toàn thể nhân loại không phụ thuộc vào vị trí địa lý của các quốc gia;Trong phân định biển, áp dụng nguyên tắc công bằng không có nghĩa là sửa chữa lại

tự nhiên mà là đảm bảo cho các quốc gia ven biển được hưởng một vùng biển đúng

và công bằng có tính đến hoàn cảnh hữu quan của quốc gia

1.2 Khái quát công ước luật biển 1982

1.2.1 Khái quát về công ước luật biển 1982

Công ước 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật biển (hay còn gọi là Công ướcLuật biển 1982 hoặc Công ước 1982 về luật biển) được thông qua tại hội nghị quốc

tế lần thứ ba về biển, là một văn kiện toàn diện về biển Trước hết, Công ước luậtbiển 1982 bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh quychế pháp lý các vùng biển Bên cạnh đó, công ước này không chỉ quy định quyền vànghĩa vụ của các quốc gia có biển mà nó còn quy định quyền và nghĩa vụ của cácquốc gia không có biển trong việc sử dụng, khai thác, bảo vệ môi trường biển, dovậy, nó rất được các quốc gia quan tâm, kể cả quốc gia không có biển Các quy địnhtrong Công ước luật biển 1982 bao gồm các điều ước quốc tế mà các quốc gia thỏathuận với nhau và các tập quán quốc tế được các quốc gia thừa nhận và pháp điển

nó thành điều luật và quy định trong Công ước Chính điều này đã giải thích tại saoCông ước luật biển 1982 khi mới ra đời cho dù thời gian đầu nó chưa có hiệu lựcnhưng vẫn được các quốc gia viện dẫn và áp dụng một cách rộng rãi dưới góc độ làtập quán quốc tế

Công ước luật biển năm 1982 là tổng thể các quy phạm pháp lý quốc tế đượccác chủ thể của Luật biển quốc tế thừa nhận, xây dựng nhằm điều chỉnh các hoạtđộng liên quan đến biển như: cách xác định vùng biển, chế độ pháp lý của các vùngbiển, khai thác và quản lý tài nguyên sinh vật và không sinh vật, các quy định về

Trang 18

hàng hải và hàng không, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninhtrật tự trên biển, đấu tranh chống các loại tội phạm trên biển, vấn đề phân định biển

và giải quyết tranh chấp quốc tế liên quan đến biển

Công ước luật biển 1982 được coi là một bản hiến pháp về biển của cộngđồng quốc tế và là một trong những thành tựu có ý nghĩa trong lĩnh vực Luật quốc

tế của thế kỷ XX Với 320 điều khoản chứa đựng trong 17 phần và 9 phụ lục, Côngước luật biển 1982 được nhiều chuyên gia đánh giá là công ước tương đối bình đẳng

và tiến bộ, thể hiện quá trình đấu tranh và nhượng bộ giữa hai trường phái: tự dobiển cả và chủ quyền quốc gia Công ước luật biển 1982 vừa là cơ sở pháp lý quantrọng giúp các quốc gia trong việc quản lý, khai thác và sử dụng biển có hiệu quả vàbảo vệ tài nguyên biển vừa là cơ sở pháp lý cho các quốc gia giải quyết tranh chấpphát sinh liên quan đến biển

Công ước luật biển 1982 có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994, tức là sau 12tháng kể từ ngày nước thứ 60 - Guyana phê chuẩn Công ước vào ngày 16/11/1993

Và đến tháng 11/1996, Công ước luật biển 1982 đã có 108 nước phê chuẩn [3]

Đến nay, Công ước luật biển 1982 đã có 158 nước phê chuẩn và hiệp định

1994 thay đổi nội dung phần XI của công ước cũng đã có hiệu lực vào ngày28/7/1995 và trở thành bộ phận hữu cơ của công ước [17]

1.2.2 Các vùng biển và quy chế pháp lý của chúng

Công ước luật biển 1982 đã định ra khung pháp lý cho các quốc gia trong việcxác định các vùng biển và quy chế pháp lý của chúng; xác định ranh giới, biên giới trênbiển giữa các quốc gia Theo Công ước luật biển 1982 thì mỗi quốc gia ven biển cónăm vùng biển, gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh

tế và vùng thềm lục địa Ngoài năm vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyềncủa quốc gia ven biển thì Công ước luật biển 1982 còn quy định các vùng biển mà ở đótất cả các quốc gia đều có quyền sử dụng và khai thác, đó là biển cả và Vùng với điều

Trang 19

kiện là không làm phương hại hoặc đe dọa làm phương hại đến các nước khác, vì mụcđích hòa bình và bảo vệ và giữ gìn môi trường biển.

1.2.2.1 Nội thủy

Nội thủy là vùng nước nằm phía trong của đường cơ sở tính chiều rộng lãnhhải Vùng nước nội thủy bao gồm các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, các cửasông, các vịnh, các vùng nước nằm kẹp giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng lãnh hải

Việc xác định đường cơ sở của quốc gia ven biển phải tuân thủ đúng các quyđịnh của Công ước về cách xác định đường cơ sở Có hai phương pháp xác địnhđường cơ sở cho quốc gia ven biển, là phương pháp đường cơ sở thông thường vàphương pháp đường cơ sở thẳng Theo đó, đường cơ sở thông thường được xác địnhnhư tại Điều 5 Công ước luật biển 1982: “là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờbiển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chínhthức công nhận” Và cách xác định đường cơ sở thẳng như quy định tại Điều 7 “ởnơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay vàchạy dọc theo bờ biển hay nơi bờ biển cực kỳ không ổn định, phương pháp đường

cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sởdùng để tính chiều rộng lãnh hải… Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốcgia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển

cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế” Đồng thời nếu việc xác định đường cơ sở sai

so với các quy định về việc xác định đường cơ sở quy định tại Công ước thì tàuthuyền nước ngoài vẫn có quyền đi qua không gây hại trên vùng nước đó (khoản 2Điều 8 Công ước luật biển 1982)

Trong vùng nước nội thủy các quốc gia được thực hiện chủ quyền hoàntoàn, tuyệt đối và đầy đủ Chủ quyền này không chỉ được thực hiện tại vùng nước

mà còn bao trùm lên cả vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biểnbên dưới vùng nội thủy Đặc trưng cho tính chất chủ quyền tuyệt đối này thể hiện ở

Trang 20

chỗ mọi sự ra vào nội thủy của tàu thuyền hay phương tiện bay trên vùng trời nộithủy đều phải xin phép Các thủ tục xin phép cho tàu thuyền nước ngoài hoạt độngtại nội thủy của mỗi quốc gia được điều chỉnh bởi quy định của Luật biển quốc tế vàpháp luật quốc gia Tuy nhiên, chủ quyền này chỉ được áp dụng đối với tàu thuyền,phương tiện bay nước ngoài chứ không áp dụng với cá nhân, pháp nhân nước ngoàitrên các tàu thuyền, phương tiện bay đó Tức là, các tàu thuyền thương mại vào cáccảng biển quốc tế trên cơ sở tự do thông thương và nguyên tắc có đi có lại, tàuthuyền nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại và tàu thuyền quân sự thì phảixin phép Khi hoạt động trong nội thủy nếu tàu thuyền nước ngoài có sự vi phạm,quốc gia ven biển chỉ có quyền thực hiện quyền tài phán dân sự (xử phạt vi phạmhành chính hoặc bồi thường thiệt hại) đối với tàu thuyền đó chứ không được thựchiện quyền tài phán dân sự và hình sự đối với các cá nhân, pháp nhân, người nướcngoài trên tàu thuyền đó

thuyền nhà nước dùng vào mục đích phi thương mại và tàu thuyền nước ngoài viphạm, quốc gia ven biển có quyền buộc tàu đó rời khỏi vùng nội thủy của mình vàyêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước mà tàu đó mang cờ trừng trị các vi phạm

đó Quốc gia mà tàu đó mang cờ phải chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do hành vi

vi phạm của tàu thuyền đó gây ra Quốc gia ven biển chỉ được thực hiện quyền tàiphán dân sự và hình sự trên tàu thuyền nước ngoài khi: chủ tàu, thuyền trưởng yêucầu; cơ quan lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu can thiệp hoặc khi sự viphạm hoặc hậu quả của sự vi phạm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộngcủa quốc gia ven biển (Điều 25 và Điều 218 Công ước luật biển 1982)

Ngoài ra, một vùng nước hoặc vịnh lịch sử là các vùng biển, không phải là nội thủynhưng do tính chất lịch sử của mình mà chúng được hưởng quy chế nội thủy khi:

- Quốc gia ven biển phải thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình trên đó

Trang 21

- Việc sử dụng vùng biển trên phải được thực hiện một cách liên tục, hòa bình vàlâu dài

- Có sự công nhận của cộng đồng quốc tế bằng sự chấp nhận công khai hoặc sự

im lặng không phản đối của các quốc gia quan tâm, nhất là các quốc gia láng giềng

và có quyền lợi tại vùng biển này

1.2.2.2 Lãnh hải

Lãnh hải là vùng biển nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộcquyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, rộng không quá 12 hải lý tính từđường cơ sở, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền Ranh giới ngoài củalãnh hải là biên giới quốc gia trên biển

Chủ quyền của quốc gia trên lãnh hải cũng như vùng trời trên lãnh hải,đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng biển này được mở rộng một cách hoàntoàn và riêng biệt nhưng không phải là tuyệt đối như trên vùng nước nội thủy bởiphải thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài Tuy nhiên,đối với các phương tiện bay trong vùng trời bên trên lãnh hải không tồn tại quyềnqua lại không gây hại

Là một vùng biển khác thuộc lãnh thổ của quốc gia ven biển, lãnh hải cũng

có một quy chế pháp lý riêng Tại lãnh hải, các tàu thuyền của các quốc gia, có biểnhay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại Đi qua lãnh hảibao gồm cả việc đi qua lãnh hải mà không vào nội thủy, hoặc đi qua lãnh hải để vàonội thủy hoặc cảng và rời khỏi nội thủy ra biển Các tàu thuyền nước ngoài khi điqua lãnh hải không phải xin phép hoặc thông báo trước cho quốc gia ven biển Việc

đi qua không gây hại được hiểu là việc đi qua nhưng không làm phương hại đến hòabình, an ninh hay lợi ích của quốc gia ven biển - tức là không được thực hiện một sốhành động quy định tại điều 19 Công ước luật biển 1982 như: đe dọa hoặc dùng vũlực chống lại chính quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia ven biển, tuyên truyền nhằmlàm hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia ven biển, luyện tập hay diễn tập dưới bất

Trang 22

kỳ kiểu loại vũ khí nào,… Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả việc dừng lại và thảneo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng hảihoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc cạn hoặc vì mục đích cứu giúpngười, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn (Điều 18 Côngước luật biển 1982)

Tại lãnh hải, quyền đi qua không gây hại tồn tại đồng thời với chủ quyềncủa quốc gia ven biển trong lãnh hải nhưng không làm mất đi chủ quyền đó Quốcgia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồnggiao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình phù hợp vớiCông ước luật biển 1982 và Luật quốc tế Ngoài ra, khi tàu thuyền nước ngoài đivào lãnh hải của quốc gia ven biển phải tuân thủ và tôn trọng luật pháp và quy địnhcủa quốc gia ven biển về: an toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển, bảo

vệ các thiết bị và các hệ thống đảm bảo hàng hải và các thiết bị hay công trình khác,bảo vệ đường dây cáp và ống dẫn,…

Quốc gia ven biển có quyền thực hiện quyền tài phán hình sự đối với tàuthuyền nước ngoài trong lãnh hải của mình nếu: hậu quả của vụ vi phạm đó mởrộng đến các quốc gia ven biển; vụ vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đấtnước hay trật tự trong lãnh hải; nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giaohoặc một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ củacác nhà đương cục địa phương; nếu các biện pháp này là cần thiêt để trấn áp việcbuôn lậu chất ma túy hay chất kích thích khác

Cũng theo Công ước luật biển 1982 thì quốc gia ven biển cũng không đượcbắt một tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi hành trìnhcủa nó để thực hiện quyền tài phán dân sự đối với một người trên con tàu đó(khoản 1 Điều 28), nhưng quốc gia này lại có quyền áp dụng mọi biện pháp trừngphạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trong nước của quốc gia này quy định đốivới tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đang đi qua lãnh hải, sau khi

Trang 23

1.2.2.3 Vùng tiếp giáp lãnh hải

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải

và được mở rộng không quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộnglãnh hải Tại đây, quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt vàhạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia Quốcgia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm: ngăn ngừa và trừng trịnhững vi phạm đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế, hay nhập cưtrên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình (Điều 33 Công ước luật biển 1982)

Tại vùng tiếp giáp lãnh hải, các quốc gia ven biển có thẩm quyền đối vớicác hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ nằm trên đáy biển của vùng này Theo quyđịnh tại Điều 303 Công ước luật biển 1982 về các hiện vật khảo cổ và lịch sử đượcphát hiện ở biển thì: “Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ các hiện vật có tính chất khảo

cổ hay lịch sử được phát hiện ở biển, các quốc gia hợp tác với nhau vì mục đích ấy;

Để kiểm soát việc mua bán hiện vật này, bằng cách áp dụng Điều 33 (vùng tiếp giáp),quốc gia ven biển có thể coi việc lấy các hiện vật đó từ đáy biển trong vùng nói ởđiều đó mà không có sự thỏa thuận của mình là sự vi phạm các luật và quy định củaquốc gia ven biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình, đã được nêu ở Điều33”

Trang 24

1.2.2.4 Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền vớilãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng (quy định trong Phần V - vùng đặc quyềnkinh tế của Công ước luật biển 1982) theo đó các quyền và quyền tài phán của quốcgia ven biển, và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thíchhợp của Công ước luật biển 1982 điều chỉnh Vùng biển này có chiều rộng tối đa là

200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Các quốc gia venbiển muốn thiết lập vùng đặc quyền kinh tế thì phải ra tuyên bố để xác lập vùng đặcquyền kinh tế của mình

Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng biển đặc thù có quy chế pháp lý riêng và khác

so với các vùng biển khác, trong đó thể hiện sự công bằng giữa “các quyền và quyền tàiphán của quốc gia ven biển” với “các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác”.Tại Điều 56 Công ước luật biển 1982 quy định về các quyền, quyền tài phán và cácnghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế:

- Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò việc khai thác, bảo tồn và quản lýcác tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trênđáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về các hoạt động khácnhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất nănglượng từ nước, hải lưu và gió

- Quyền tài phán theo đúng những quy định của Công ước về việc: lắp đặt và sửdụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học trên biển;bảo vệ và giữ gìn môi trường biển cũng như các quyền khác do Công ước luật biển

1982 quy định

Tính đặc quyền của quốc gia ven biển thể hiện trong việc quốc gia ven biển cótoàn quyền đánh giá nguồn tiềm năng đối với tài nguyên sinh vật, thi hành các biệnpháp thích hợp về bảo tồn và quản lý nhằm làm cho việc khai thác, duy trì các nguồn

Trang 25

quá mức Quốc gia ven biển có quyền tự mình ấn định tổng khối lượng khai thác tàinguyên sinh vật tại vùng đặc quyền kinh tế và tự đánh giá khả năng khai thác thực tếcủa mình Nếu tổng khối lượng cho phép đánh bắt lớn hơn khả năng khai thác củaquốc gia ven biển thì quốc gia này có nghĩa vụ tạo điều kiện cho các quốc gia khác,thông qua điều ước hoặc thỏa thuận liên quan, khai thác số dư của khối lượng chophép đánh bắt này, có ưu tiên cho các quốc gia không có biển và bị bất lợi về địa lý(Điều 61, Điều 62 Công ước luật biển 1982) Việc khai thác này không được làmphương hại đến việc khai thác và quản lý tài nguyên sinh vật của quốc gia ven biển

và các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế Riêng đối với tài nguyên khôngsinh vật thì quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép các quốc gia khác khai thácđặt dưới sự giám sát của mình

Để có thể thực hiện có hiệu quả chủ quyền của mình đối với tài nguyên trongvùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có đặc quyền tiến hành xây dựng, chophép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng các đảo nhân tạo; các thiết bị

và công trình vào mục đích khác nhau, kể cả về mặt các luật và quy định hải quan,thuế khóa, y tế, an ninh và nhập cư

Công tác nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế và ở trên phầnthềm lục địa phải được tiến hành với sự thỏa thuận của quốc gia ven biển và khôngđược gây trở ngại một cách phi lý cho các hoạt động do quốc gia ven biển tiến hànhtrong việc thi hành các quyền và quyền tài phán mà Công ước đã trù định

Công ước luật biển 1982 cũng công nhận cho quốc gia ven biển quyền tàiphán về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển chống lại các ô nhiễm bắt nguồn từnhiều nguồn khác nhau

Mặt khác, trong trường hợp Công ước luật biển không quy định rõ cácquyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế cho các quốc gia ven biểnhay quốc gia khác và ở đó có xung đột giữa lợi ích của một hay nhiều quốc gia khácthì sự xung đột này phải được giải quyết trên cơ cở công bằng và có chú ý đến tất cả

Trang 26

mọi hoàn cảnh thích đáng, có tính đến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan

đó đối với các bên tranh chấp và đối với toàn bộ cộng đồng quốc tế (Điều 59 Côngước luật biển 1982)

Trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, tất cả các quốc gia cóbiển hay không có biển, đều được hưởng ba quyền tự do cơ bản: tự do hàng hải; tự

do hàng không; tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, cũng như quyền tự do sử dụngbiển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiệncác quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước luật biển

1982, nhất là trong khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay, dâycáp và ống dẫn ngầm

1.2.2.5 Thềm lục địa

Theo quy định của Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục địa thì thềm lục địa làđáy và lòng đất dưới đáy của các khu vực ngầm dưới biển tiếp giáp với bờ biển nhưngnằm ngoài lãnh hải và ra đến độ sâu 200m nước hoặc vượt ra ngoài giới hạn đó ra đến

độ sâu cho phép khai thác được tài nguyên thiên nhiên của các khu vực ngầm dướibiển đó Công thức này không thực tiễn, bất hợp lý và không công bằng

Vì vậy, Công ước luật biển 1982 đã đưa ra định nghĩa về thềm lục địa nhưsau: Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáybiển, bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên củalãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến mép ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cáchđường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài rìa lục địacủa quốc gia đó có khoảng cách gần hơn (khoản 1 Điều 76)

Trong trường hợp khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia ven biển kéodài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể xácđịnh ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình: hoặc theo bề dày lớp thầm tích -đường vạch nối các điểm cố định tận cùng nào mà bề dày lớp đá trầm tích ít nhất

Trang 27

hoặc theo khoảng cách - đường vạch nối các điểm cố định ở cách chân dốc lục địanhiều nhất là 60 hải lý.

Tuy nhiên, ranh giới này không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sởdùng để tính chiều rộng lãnh hải hoặc cách đường đẳng sâu 2500m một khoảngcách không vượt quá 100 hải lý, với điều kiện tuân thủ các quy định cụ thể về việcxác định ranh giới ngoài của thềm lục địa trong Công ước luật biển 1982 và phùhợp với các kiến nghị của Ủy ban ranh giới thềm lục địa được thành lập trên cơ sởPhụ lục II của Công ước

Quốc gia ven biển có thềm lục địa mở rộng quá 200 hải lý tính từ đường cơ

sở bị hạn chế quyền lợi của mình bởi hai quy định sau:

- Thứ nhất, quốc gia ven biển phải thông báo những thông tin về ranhgiới thềm lục địa của mình cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa và gửi cho Tổng thư

ký Liên Hợp Quốc các bản đồ và các điều chỉ dẫn thích đáng, kể cả các dữ kiện trắcđịa, chỉ rõ một cách thường xuyên ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình

- Thứ hai, quốc gia ven biển phải chịu những khoản đóng góp bằngtiền hoặc hiện vật vào việc khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý theo quy định tạiđiều 82 Công ước luật biển 1982

Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa

về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình Đây là những quyền

có tính chất đặc quyền của quốc gia ven biển tại thềm lục địa, do đó, nếu quốc giaven biển không thăm dò hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lụcđịa (bao gồm tài nguyên không sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài địnhcư) thì quốc gia khác không có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không

có sự thỏa thuận rõ ràng với quốc gia sở tại

Quốc gia ven biển không chỉ có chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên củathềm lục địa mà còn đối với cả chính thềm lục địa đó Quốc gia ven biển có đặcquyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì và

Trang 28

theo Điều 85 Công ước luật biển 1982 thì: “quyền của quốc gia ven biển được khaithác lòng đất dưới đáy biển bằng cách đào đường hầm, bất kể độ sâu của các vùngnước ở nơi ấy là bao nhiêu”.

Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị,công trình trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển, quyền tàiphán về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Trong khi thực hiện các quyền củamình, quốc gia ven biển phải tôn trọng các quyền của các quốc gia khác như quyềnđặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa, tự do bay… Đồng thời, khi quốc giaven biển thực hiện quyền của mình đối với thềm lục địa không được làm phươnghại hay làm cản trở đến việc thực hiện quyền hàng hải và các quyền tự do khác củacác nước đã được Công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việc thực hiện cácquyền này một cách không thể biện bạch được (Điều 78 Công ước luật biển 1982)

1.2.2.6 Biển cả

Biển cả là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế,lãnh hải hay nội thủy của quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảocủa quốc gia quần đảo (Điều 86 Công ước luật biển 1982)

Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển sửdụng vì mục đích hòa bình, không một quốc gia nào có quyền áp đặt một bộ phận nào

đó của biển cả thuộc vào chủ quyền của mình Tại đây, tất cả các quốc gia đều cóquyền tự do hàng hải, quyền tự do hàng không, quyền tự do đặt dây cáp hoặc ống dẫnngầm; tự do xây dựng các đảo nhân tạo, các thiết bị khác được pháp luật quốc tế chophép; tự do đánh bắt hải sản; tự do nghiên cứu khoa học Việc thực hiện này phảiphù hợp với Công ước và phải tính đến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cảcủa các quốc gia khác (Điều 87 Công ước luật biển 1982)

Ngoài các quyền như trên thì Công ước luật biển 1982 còn quy định nghĩa vụcủa các quốc gia là phải ngăn chặn và cấm các hoạt động chuyên chở nô lệ, buôn

Trang 29

thanh, truyền hình bất hợp pháp từ biển cả hướng vào đất liền (Điều 99, Điều 100.Điều 108, Điều 109 Công ước luật biển 1982).

Quyền tự do biển cả còn bao hàm các quyền và nghĩa vụ của các tàu thuyềnkhi hoạt động trên biển cả chẳng hạn, quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của cáctàu chiến trên biển cả và của các tàu thuyền chỉ dùng cho một cơ quan nhà nướckhông có tính chất thương mại, quyền tài phán hình sự về tai nạn đâm va hoặc bất

cứ sự cố hàng hải nào…

Cũng theo quy định của Công ước luật biển 1982 thì các quốc gia ven biển cóquyền truy đuổi một tàu của nước ngoài khi có những lý do đúng đắn cho rằng chiếctàu này đã vi phạm các luật và các quy định của quốc gia Tuy nhiên, nếu như việc truyđuổi dẫn đến kết quả là một chiếc tàu đã bị bắt dừng lại hay bị bắt ở ngoài lãnh hảitrong những hoàn cảnh không chứng minh được cho việc sử dụng quyền truy đuổi thìcon tàu thuyền đó sẽ được bồi thường về mọi tổn thất hay tổn hại nếu có (Điều 111).Đồng thời, các quốc gia ven biển có quyền can thiệp ở biển cả, bắt giữ và sử dụng cácbiện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn ô nhiễm môi trường

1.2.2.6 Vùng

Vùng là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tàiphán quốc gia Tài nguyên của vùng bao gồm các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn,thể lỏng, thể khí ở ngay tại chỗ, kể cả các khối đa kim nằm ở đáy đại dương và lòngđất dưới đáy

Vùng - di sản chung của loài người nên nó không thuộc sự chiếm hữu của bất

kỳ quốc gia nào Tất cả các quốc gia, dù là có biển hay không có biển đều được sửdụng Vùng vào những mục đích hòa bình Mọi hoạt động trong Vùng được tiếnhành vì lợi ích của toàn thể loài người Việc thăm dò, khai thác tài nguyên của vùngđược tiến hành thông qua một tổ chức quốc tế gọi là Cơ quan quyền lực quốc tế Cơquan quyền lực quốc tế đảm bảo việc phân chia công bằng, trên cơ sở không phânbiệt đối xử, những lợi ích tài chính và lợi ích kinh tế khác do những hoạt động tiến

Trang 30

hành trong vùng thông qua bộ máy của mình Cơ quan quyền lực có quyền đưa racác quy tắc, quy định và thủ tục thích hợp cho việc sử dụng vùng vào mục đích hòabình, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ sự sống conngười, bảo vệ và bảo toàn các tài nguyên thiên nhiên của vùng, phòng ngừa thiệt hạiđối với hệ động vật và thực vật.

1.3 Phân định biển trong luật biển quốc tế

1.3.1 Khái niệm phân định biển

Theo quy định của Luật biển quốc tế, tất cả các quốc gia ven biển đều cóquyền hoạch định các vùng biển của mình như vùng nội thủy, vùng lãnh hải, vùng đặcquyền kinh tế,… Đây là quyền của quốc gia và ở một khía cạnh nào đó thì nó còn lànghĩa vụ của quốc gia, đặc biệt là các quốc gia là thành viên của Công ước luật biển

1982, nhằm tạo nên sự ổn định và trật tự trong việc sử dụng và quản lý biển Trong cácdiện với bờ biển của quốc gia khác dẫn tới hiện tượng chồng lấn việc hoạch địnhtrường hợp mà vùng biển quốc gia độc lập không tiếp giáp hoặc không liên quan đếnlợi ích của các quốc gia có biển khác thì ranh giới của các vùng biển sẽ do quốc gia venbiển tự xác định phù hợp với Luật biển quốc tế và thực tiễn quốc tế Tuy nhiên, nếunhư trong trường hợp bờ biển của quốc gia ven biển lại tiếp liền hoặc đối ranh giớibiển cần phải có sự thỏa thuận của quốc gia liên quan

Một cách tổng quát thì phân định biển được hiểu là việc hoạch định đường

ranh giới phân chia vùng biển của hai hay nhiều quốc gia hữu quan Vấn đề

phân định biển được đặt ra cho các quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau.Việc phân định biển giúp xác định rõ ràng biên giới trên biển phân chia vùng biểnthuộc chủ quyền quốc gia hoặc xác định đường biên giới phân chia vùng biển thuộcquyền chủ quyền quốc gia

Phân định biển là một vấn đề quan trọng trong Luật biển quốc tế, liên quantrực tiếp đến chủ quyền và lợi ích quốc gia và có ý nghĩa quan trọng đối với việc

Trang 31

cách hợp lý, tuân thủ đúng quy định của pháp luật quốc tế trong việc phân định biển

và thực tiễn ở các quốc gia nhằm tránh tình trạng xung đột trên các vùng biển củacác quốc gia

1.3.2 Các phương pháp phân định biển

Pháp luật quốc tế và thực tiễn giữa các quốc gia cho thấy việc phân định biểnthường được tiến hành bằng con đường thỏa thuận giữa các bên liên quan Trong rấtnhiều trường hợp phân định biển trở thành tranh chấp quốc tế và việc giải quyết cáctranh chấp này cần phải có sử dụng các biện pháp hòa bình, từ việc lựa chọn cácbiện pháp thương lượng, đàm phán cho đến lựa chọn một bên trung gian thứ ba đểlàm trung gian giải quyết như hòa giải, tòa án quốc tế, trọng tài quốc tế Nhìnchung, phân định biển là quá trình phức tạp vì nó liên quan đến nhiều vấn đề mangtính nhạy cảm như chủ quyền và lợi ích quốc gia Việc phân định biển có thànhcông hay không và khoảng thời gian yêu cầu cho quá trình phân định biển dài hayngắn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: địa hình biển, lậptrường, thái độ, và sự thiện chí, tương quan lực lượng của các quốc gia liên quan, vịtrí và giá trị của vùng biển phân định…

Thực tiễn quan hệ quốc tế từ trước đến nay cho thấy các quốc gia thườngthỏa thuận áp dụng các phương pháp phân định biển là phương pháp đường trungtuyến cách đều và phương pháp công bằng

1.3.2.1 Phương pháp đường trung tuyến cách đều

Theo phương pháp này thì đường ranh giới dùng để phân định biển chính

là đường mà tất cả các điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất tương ứng củađường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quốc gia Phương pháp đườngtrung tuyến cách đều được sử dụng để phân định ranh giới các vùng biển có sựchồng lấn và thường được áp dụng trong trường hợp quốc gia có bờ biển tiếp liềnhoặc đối diện nhau Tuy nhiên, khi áp dụng nguyên tắc này thì quốc gia ven biển

Trang 32

phải xem xét một cách thích đáng đến các hoàn cảnh cụ thể để có thể đạt được mộtkết quả công bằng.

1.3.2.2 Phương pháp công bằng

Theo phương pháp nay thì trong quá trình phân định biển các bên hữu quancần phải xem xét, cân nhắc các yếu tố cụ thể như: hình dạng bờ biển, đảo, yếu tốhàng hải…để tìm ra được những giải pháp công bằng được các bên cùng công nhận.Các giải pháp đó đương nhiên phải mang tính đặc thù và phù hợp với từng trườnghợp phân định biển cụ thể

1.3.3 Các trường hợp phân định biển

Cũng như các tranh chấp về biên giới trên đất liền hay tranh chấp ranh giớivùng trời,…thì tranh chấp về việc xác định phạm vi vùng biển giữa các quốc gia làmột loại tranh chấp phức tạp, kéo dài và chứa đựng những nguy cơ bùng nổ gâyxung đột chính trị hoặc vũ trang giữa các quốc gia với nhau, chẳng hạn như tranhchấp về phân định vùng biển Ê-giê giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài từ nhữngnăm 70 của thế kỷ trước đến nay, hoặc tranh chấp vào đầu tháng 3/2005 giữaMalaixia và In-đô-nê-xia về vùng biển Ambalat,…

Theo các quy định của Công ước luật biển 1982, mỗi quốc gia ven biển đều

có quyền đơn phương tuyên bố phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của mình Tuynhiên, nếu hai hay nhiều quốc gia có bờ biển nằm tiếp liền nhau hoặc đối diện nhau

mà khoảng cách giữa hai bờ biển đối diện không đạt tới hai lần chiều rộng của cácvùng biển hay thềm lục địa được quy định trong Công ước luật biển 1982 thì sẽ xuấthiện sự chồng lấn về yêu sách phạm vi các vùng biển và thềm lục địa Trong trườnghợp này, các quốc gia liên quan phải tiến hành xác định đường phân chia giới hạnkhông gian thực thi thẩm quyền thông qua thương lượng trực tiếp hay thông qua một

cơ chế trung gian thứ ba Căn cứ theo luật biển quốc tế và theo thực tiễn giữa cácquốc gia thì có những trường hợp phân định biển là: phân định lãnh hải và vùng tiếp

Trang 33

1.3.3.1 Phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải

Thông thường, ranh giới của lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải đều được xácđịnh trên cơ sở đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Trong trường hợp cácvùng biển có sự chồng lấn thì ranh giới ngoài của lãnh hải và các vùng biển khác cóthể được xác định bằng một số phương pháp như: phương pháp đường trung tuyếncách đều, phương pháp đường vuông góc với xu hướng chung của bờ biển của khuvực phân định, phương pháp đường phân giác góc tạo bởi hai bờ biển nằm tiếp liềnphương pháp đường biên giới trên bộ kéo dài ra biển; phương pháp xác định theomột kinh tuyến hay một vĩ tuyến cụ thể Theo quy định tại Điều 12 khoản 1 củaCông ước Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958 và Điều 15 của Côngước luật biển 1982 thì: “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau,không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọiđiểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tínhchiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có thỏa thuận ngược lại Tuy nhiên,quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc

có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốcgia một cách khác”

Như vậy, quy định nêu trên đã ghi nhận cả phương pháp đường trung tuyếncách đều và cả những giải pháp phân định khác nếu các quốc gia liên quan cùngthỏa thuận dựa trên cơ sở tính đến các yếu tố như danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnhđặc biệt Tuy nhiên, cả Công ước Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958

và Công ước luật biển năm 1982 đều không có quy định cụ thể về danh nghĩa lịch

sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt Điều này đã gây ra khó khăn trong việc đạt được cácthỏa thuận về việc thừa nhận có sự hiện diện của danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnhđặc biệt, cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến các giải pháp phânđịnh ranh giới lãnh hải Thực tiễn quốc tế về phân định lãnh hải và vùng tiếp giápcho thấy các hoàn cảnh đặc biệt là: hình dạng bất thường của bờ biển; sự hiện diệncủa các đảo; tuyến đường và luồng hàng hải

Trang 34

Một điểm đáng lưu ý trong vấn đề phân định biển trong Công ước luật biển

1982 là không có các quy định riêng biệt về phân định vùng nội thủy và vùng tiếpgiáp lãnh hải Vậy thì, vấn đề được đặt ra là các vùng biển này nếu phát sinh tranhchấp sẽ được phân định như thế nào?

Đối với việc phân định nội thủy và vùng tiếp giáp lãnh hải, về mặt lý thuyếtcũng như thực tiễn quốc tế phương pháp phân định theo quy định tại Điều 15 Côngước luật biển 1982 được chấp nhận Ngoài ra, riêng đối với việc phân định vùngtiếp giáp lãnh hải, do quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế gần giống vớivùng tiếp giáp lãnh hải nên việc áp dụng Điều 74 về phân định vùng đặc quyền kinh

tế cũng được coi là hợp lý

1.3.3.2 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Việc phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế được Công ước luậtbỉển 1982 quy định giống nhau trong Điều 74 và Điều 83:

“Phân định ranh giới thềm lục địa (vùng đặc quyền kinh tế) giữa các quốc gia

có bờ biển nằm tiếp liền hoặc đối diện nhau:

1 Việc hoạch định ranh giới thềm lục địa (vùng đặc quyền kinh tế) giữa cácquốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thoảthuận theo đúng luật pháp quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Toà án quốc

tế để đi đến một giải pháp công bằng

2 Nếu không đi tới một thoả thuận trong một thời hạn hợp lý thì các quốc giahữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV

3 Trong khi chờ đợi ký kết thoả thuận nói ở khoản 1, các quốc gia hữu quantrên tinh thần hiểu biết, và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các giải pháp tạmthời có tính chất thực tiễn và để không phương hại hay cản trở việc ký kết các thoảthuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này Các dàn xếp tạm thời không làmphương hại đến việc hoạch định cuối cùng

Trang 35

4 Khi một điều ước đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữu quan, các vấn đềliên quan đến việc hoạch định ranh giới thềm lục địa (vùng đặc quyền kinh tế) đượcthực hiện theo đúng điều ước đó”

Như vậy, khi phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế thì phương phápthương lượng, thỏa thuận giữa các bên được ưu tiên áp dụng Chỉ khi nào các bênkhông thỏa thuận được thì mới sử dụng phương pháp giải quyết tranh chấp hòa bìnhkhác Ngoài ra các bên cũng có thể lựa chọn một trong các biện pháp như: Tòa án quốc

tế về luật biển, Tòa án công lý quốc tế, Tòa trọng tài luật biển, Tòa đặc biệt

Khác với vấn đề phân định lãnh hải, Công ước luật biển năm 1982 không đưa

ra một phương pháp phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế cụ thể nào.Nhưng thay vào đó, Công ước lại nhấn mạnh đến hai nguyên tắc khi phân địnhthềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là: “trên cơ sở luật pháp quốc tế” và “giảipháp công bằng” Như vậy, Công ước đã mở ra khả năng áp dụng rộng rãi tất cả cácnguồn của luật pháp quốc tế liên quan đến vấn đề này, kể cả tập quán quốc tế cũngnhư các án lệ và thực tiễn phân định giữa các quốc gia, để đạt được thoả thuận Tuynhiên , đối với “giải pháp công bằng” một quy định hết sức bao quát và mang tínhđịnh hướng, Công ước luật biển 1982 không giải thích rõ thế nào là công bằng, cáctiêu chí cụ thể về giải pháp công bằng Nhưng trong thực tiễn phân định thềm lụcđịa và vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia và các án lệ quốc tế sau năm 1982cho thấy: giải pháp công bằng là giải pháp mà các bên có thể chấp nhận được saukhi xem xét tất cả các yếu tố liên quan trong khu vực phân định, trong đó ưu tiênxem xét các yếu tố về hình thái bờ biển, sự hiện diện của đảo, và tỷ lệ chiều dài bờbiển và diện tích thềm lục địa

Khoản 3 của hai Điều 74 và Điều 83 trên thực tế đã pháp điển hoá một cáchthực tiễn khá phổ biến, theo đó các bên tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế hay vùngthềm lục địa chồng lấn có thể thoả thuận về một dàn xếp tạm thời như hợp tác cùngthăm dò, bảo vệ, khai thác tài nguyên môi trường… Điểm đáng chú ý là “dàn xếp

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w