Có thể kể tên một số bài viết và công trình tiêu biểu: Tiếp nhận ảnh hởng của thơ truyền thống của Xuân Diệu[17], Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát [68] và Nội dung thơ song thấ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học vinh
*******************************************
biện thị quỳnh nga
thể loại truyền thống thuần việttrong thơ mới 1932 - 1945
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60.22.34 luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học : PGS.TS Đinh Trí Dũng
Vinh - 2008
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học vinh
*******************************************
biện thị quỳnh nga
thể loại truyền thống thuần việt
Trang 31 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ mới 1932 - 1945 là cuộc cách tân (có ngời gọi là cuộc “cách mạng”)
thắng lợi lớn về thơ, đánh dấu một bớc ngoặt lớn trong lịch sử thơ ca và văn học dântộc Những đóng góp của nó cho quá trình hiện đại hoá thơ ca nói riêng và văn học
dân tộc nói chung là khó có thể thay thế Thơ mới 1932 - 1945 đã đợc nghiên cứu
nhiều Tuy nhiên đây vẫn còn là một hiện tợng còn khá nhiều bí ẩn và phức tạp
Xung quanh vấn đề đánh giá thành tựu của Thơ mới (xét về mặt thể loại) cũng nh
của cả phong trào thơ (xét về mặt “khuynh khớng”, “tổ chức”) vẫn còn tồn tại nhiều
ý kiến không thống nhất Vì vậy, hiện tợng Thơ mới vẫn còn là vấn đề cần phải đợc
tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt trên phơng diện thể loại
1.2 Việc nhận chân giá trị cũng nh bản chất của Thơ mới có thể đợc tiến
hành khảo sát, xác định trên nhiều phơng diện và bằng nhiều con đờng khác nhau
Chúng tôi chọn hớng tiếp cận Thơ mới từ phơng diện thể loại, đặc biệt ở đây là
những thể loại truyền thống thuần Việt, vì nhận thấy đây vừa là chỗ đem lại vinhquang cho thơ Việt suốt cả một quá trình dài hàng nghìn năm, vừa là chỗ dễ gây
ngộ nhận cho không ít độc giả (tởng rằng Thơ mới là một sự phủ định truyền
thống) Vả lại, tìm hiểu, nghiên cứu văn học theo xu hớng thể loại đang là hớngnghiên cứu có nhiều triển vọng và ý nghĩa
1.3 Trên hành trình phát triển và hiện đại hóa thơ ca dân tộc, sự hiện diện
của các thể loại thơ truyền thống mà tiêu biểu nhất là các thể loại truyền thống thuần
Việt trong Thơ mới 1932 - 1945 thực sự có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng Chức năng, nội dung và thi pháp của những thể loại này trong Thơ mới có gì biến
đổi không? Nó tồn tại nh thế nào trong thế “cạnh tranh” với các thể loại thơ hiện đại
- “mới”? Đây đang là những câu hỏi mà cho đến nay vẫn cha có những lời giải thoả
đáng
1.4 Thơ mới 1932 - 1945 nói chung, các thể loại truyền thống thuần Việt
trong Thơ mới nói riêng giữ vị trí quan trọng trong chơng trình dạy - học ngữ văn ở
các nhà trờng phổ thông Thực hiện đề tài này, luận văn còn nhằm phục vụ cho việctham khảo và vận dụng vào dạy - học ngữ văn ở nhà trờng
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Thơ mới 1932 - 1945 từ phơng diện thể loại trên lịch trình nghiên cứu
bảy mơi năm qua
Vấn đề nghiên cứu thể loại nói chung và các thể loại thơ nói riêng trong
phong trào Thơ mới 1932 - 1945 đã đợc đề cập từ rất sớm Ngay từ khi mới ra đời, ngời ta đã muốn nhìn nhận Thơ mới trớc hết là ở góc độ thể loại, xem nó là thơ “tự
do” (hiểu theo nghĩa là một thể thức thơ) nhằm phân biệt, đối lập với hình thứcnhững bài thơ luật Đờng gò bó, khuôn sáo, xuất hiện không ít trên báo chí công
khai thời bấy giờ Phan Khôi trong bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ
Trang 4(1932) xác định đó là lối thơ “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng những câu
có vần mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết” [47,53] Đợc Phan Khôikhơi mào, cuộc bút chiến nảy lửa đã diễn ra giữa phái các nhà thơ cũ và các nhà thơmới (đại diện tiêu biểu nh Nguyễn Thị Kiêm, Nguyễn Việt Sinh, Lu Trọng L, ThếLữ…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ) Các bài viết tham gia tranh luận đã đợc tập hợp khá đầy đủ trong cuốn
Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX (Nxb Lao động, 2001, tập II) Nhìn chung, cái đích
lớn nhất mà cuộc tranh luận hớng đến là nhằm đi tìm, định hình diện mạo một lối
“thơ mới” Lúc đầu ngời ta xác định Thơ mới bằng cách đối sánh với các thể loại
“thơ cũ” để tìm ra khuôn vần, nhạc điệu và hình thức của các thể loại “thơ mới”
Khi Thơ mới đang trên hành trình vận động của nó (vài năm đầu của thập niên bốn mơi - thế kỷ XX), ngoài các ý kiến ngắn về Thơ mới tiếp tục xuất hiện trên báo chí, nổi bật nhất là hai công trình: Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dơng Quảng
Hàm [31] và Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh - Hoài Chân [92] Dơng
Quảng Hàm bớc đầu đã khảo cứu âm luật và thể cách của Thơ mới Đặc biệt, Hoài Thanh - Hoài Chân với Thi nhân Việt Nam, nhất là bài viết Một thời đại trong thi
ca, đã tỏ ra rất nhạy cảm, xác đáng trong tinh tuyển, tổng duyệt, tổng luận thế nào là
“Thơ mới”, trong đó có vấn đề thể loại của Thơ mới 1932 - 1945 Vấn đề thể loại của Thơ mới 1932 - 1945, tuy cha đợc Hoài Thanh - Hoài Chân đi sâu khảo sát (hai
ông tập trung nhiều hơn về cái Tôi của Thơ mới), nhng những ý kiến của các ông là
rất có ý nghĩa
Từ sau Cách mạng tháng Tám/1945, Thơ mới cũng nh việc nghiên cứu Thơ
mới quả thực đã trải qua nhiều bớc “thăng trầm” (chữ dùng của Lê Đình Kỵ).
Chặng đờng 1945 - 1975 là giai đoạn đặc biệt của lịch sử đất nớc (30 năm chiếntranh vệ quốc) và lịch sử văn học dân tộc (văn học phải tập trung phục vụ cách
mạng, phục vụ kháng chiến) Thơ mới và một số hiện tợng văn học tiền chiến chủ
yếu bị “phê phán thật nghiêm khắc” (chữ dùng của Phan Cự Đệ) Vấn đề thể loại
của Thơ mới theo đó cũng ít đợc chú ý Mặc dù vậy, trong các công trình nghiên
cứu của Hoài Thanh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức,v.v…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ tuy các tác giả có nặng
giọng phê phán Thơ mới nhng vẫn khẳng định những yếu tố tiến bộ, tích cực về t
t-ởng, đặc biệt là những đóng góp to lớn về nghệ thuật, trong đó có thể loại Thành
tựu về nghiên cứu Thơ mới trong thời gian này, đáng chú ý nhất là công trình Thơ
ca Việt Nam hình thức và thể loại (1968) của Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức
[65] Trong công trình này, ở chơng V: Các thể thơ ca trong phong trào Thơ mới,
Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã thống kê, khảo sát, phân tích khá thuyết phục
các thể thơ ca đợc dùng phổ biến của phong trào Thơ mới, nhất là trên phơng diện
thi pháp thể loại
Trong giai đoạn này, ở miền Nam, Thơ mới 1932 - 1945 cũng đợc khá nhiều
tác giả chú ý Các công trình: Việt Nam văn học sử giản ớc tân biên (tập III - 1961)
Trang 5của Phạm Thế Ngũ [63], Thảo luận luật Thơ mới (in trong Hồn thơ nớc Việt thế kỷ
XX - 1967) của Lam Giang, Vũ Tiến Phúc [30]…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ ít nhiều có quan tâm Thơ mới trên phơng diện thể loại Tuy nhiên, ở các công trình trên, thể loại của Thơ mới mới chỉ
đợc giới thiệu một cách khái quát, các tác giả chủ yếu nghiêng về miêu tả nhữngbiểu hiện “bề mặt”, chứ cha đi sâu tìm hiểu tính đặc thù trong chức năng, nội dung
và thi pháp thể loại của Thơ mới.
Từ sau 1975, nhất là từ 1986 đến nay, trong bối cảnh thời kỳ đổi mới, hội
nhập (với thế giới), Thơ mới và nhiều hiện tợng văn học tiền chiến đợc nhìn nhận
lại, đợc khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu một cách công phu và khoa học hơn Xu ớng nghiên cứu văn học theo nhiều phơng pháp mới, trong đó có phơng pháp loại
h-hình, ngày càng chứng tỏ tính u việt của nó Trong xu thế đó, loại hình Thơ mới
1932 - 1945, nhất là từ góc độ thể loại, cũng đợc quan tâm nhiều hơn, đợc đánh giá cao hơn với nhiều bài viết có giá trị Tiêu biểu là các bài viết: Tiếp nhận ảnh hởng
của thơ truyền thống (Xuân Diệu) [17], Cuộc cải cách của phong trào Thơ mới và tiến trình thơ tiếng Việt (Lại Nguyên Ân) [4], Thơ mới và sự đổi mới thi pháp thơ
trữ tình tiếng Việt (Trần Đình Sử) [84], Bằng trắc thơ bảy chữ Xuân Diệu (Lý Toàn
Thắng)[94], …) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ
Vấn đề thể loại của Thơ mới cũng đợc đề cập trong các công trình là chuyên
luận, chuyên khảo hoặc giáo trình dùng trong các trờng đại học Tiêu biểu là các
công trình: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (Hà Minh Đức)[20],
Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh) [7], Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945
(Phan Cự Đệ) [26], Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca (Bùi Công Hùng) [35],
Con mắt thơ (Đỗ Lai Thúy) [95], Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu)[38], Tìm hiểu
thơ (Mã Giang Lân) [50], Giáo trình: Lịch sử văn học Việt Nam (Nguyễn Đăng
Mạnh)[56] …) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Tuy có đề cập đến thể loại của Thơ mới 1932 - 1945, nhng các bài
viết và công trình tiêu biểu vừa kể trên, hoặc mới đa ra cái nhìn tổng quan, hoặc mớichỉ nghiên cứu một phơng diện nào đó của thể loại, hoặc tìm hiểu thể loại cha phảivì mục đích tự thân (tức vì chính nó - thể loại) mà vì mục đích khác theo t tởng củangời nghiên cứu
Đáng chú ý nhất hiện nay là luận án Tiến sĩ Thơ mới 1932 - 1945 nhìn từ sự
vận động thể loại của Hoàng Sĩ Nguyên [64] Đây là công trình đầu tiên đi sâu vào
thể loại Thơ mới để tìm hiểu tiến trình vận động, sự tơng tác giữa các yếu tố thể loại
một cách công phu, hệ thống; từ đây cung cấp một cái nhìn khách quan về con đờng
nảy sinh, phát triển và thành tựu của Thơ mới, vị trí của Thơ mới trong văn mạch
dân tộc Tuy nhiên, vấn đề đặc trng thể loại không phải là mục đích chính của đề tàinên cha đợc tác giả luận án chú trọng làm nổi bật
Trong các trờng đại học, dới dạng là các khóa luận tốt nghiệp đại học, luận
văn Cao học Thạc sĩ, Thơ mới 1932 - 1945, đáng nói là, trong đó có vấn đề thể loại,
Trang 6chắc cũng từng đợc tìm hiểu, nghiên cứu Tuy nhiên, trong tầm bao quát của chúng
tôi, cha có đề tài nào tập trung khảo sát hệ thống thể loại của Thơ mới 1932 - 1945
một cách đầy đủ, hệ thống (ở Đại học Vinh, có một khoá luận tốt nghiệp đại học
của sinh viên Lê Thị Hoa với đề tài Những kế thừa và cách tân của phong trào Thơ
mới xét trên phơng diện thể loại [39] Khóa luận này đã thống kê, phân tích một
cách khá cụ thể hệ thống thể loại Thơ mới cùng những kế thừa, đổi mới của nó,
nh-ng chỉ khảo sát Thơ mới từ cuốn Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh - Hoài Chân),
nghĩa là diện khảo sát quá hẹp Trong khi đó trớc thời điểm xuất hiện khoá luận của
Lê Thị Hoa, cuốn Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm đã tập hợp, quy tụ khá
đông đủ những gơng mặt của Thơ mới cùng những sáng tác phong phú, đa dạng ở
nhiều thể loại)
Gần đây xuất hiện một số bài viết theo hớng nghiên cứu chuyên sâu những
thể tài riêng lẻ của Thơ mới nh: Thơ tự do, khuynh hớng chủ yếu trong thơ Việt
Nam đơng đại (Lê Tiến Dũng)[10], Mối quan hệ giữa hát nói và Thơ mới (Nguyễn
Đức Mậu)[58] …) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Theo chúng tôi, đây là những bài viết có giá trị, có những pháthiện mới
Nh vậy, trên lịch trình nghiên cứu ngót 70 năm qua, Thơ mới 1932 - 1945,
nhất là ở phơng diện thể loại, cha phải là vấn đề “đã rõ”! Theo quan sát của chúngtôi, ở đây vẫn còn nhiều bỏ ngỏ
2.2 Vấn đề nghiên cứu các thể loại truyền thống thuần việt trong Thơ
mới 1932 - 1945
Trớc hết cần nói đến các thể loại truyền thống thuần Việt, nhất là lục bát vàsong thất lục bát, trên phơng diện lý thuyết và trong lịch sử văn học dân tộc nóichung, đợc nhiều nhà nghiên cứu rất quan tâm Có thể kể tên một số bài viết và
công trình tiêu biểu: Tiếp nhận ảnh hởng của thơ truyền thống của Xuân Diệu[17],
Suy nghĩ về thể loại thơ song thất lục bát [68] và Nội dung thơ song thất lục bát của
Phan Ngọc [69], Lục bát và song thất lục bát của Phan Diễm Phơng [78], Những
đóng góp mới trong việc nghiên cứu thể loại thơ lục bát [42] và Về việc vận dụng
thi pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay của Nguyễn Xuân Kính [43], Một số
cách tân trong thể thơ lục bát hiện đại của Hà Quảng [80], Tìm hiểu quá trình hình
thành và phát triển của thể thơ song thất lục bát của Ngô Văn Đức [21], Thơ lục
bát Việt Nam, lạm bàn [87] và Lục bát, một thể thơ anh minh của Nguyễn Trọng
Tạo [86], Song thất lục bát, thể thơ giãi bày tâm trạng [77] của Ngô Văn Phú Trong những công trình và bài viết kể trên, tiêu biểu nhất phải kể đến công trình của
Phan Ngọc (Nội dung thơ song thất lục bát) và Phan Diễm Phơng (Lục bát và song
thất lục bát) Có thể thấy tính chuyên sâu của những công trình này, nhng ở đó
không trên cơ sở của cứ liệu, dẫn liệu Thơ mới 1932 - 1945 (mặc dầu có một số thí
dụ đợc lấy từ Thơ mới).
Trang 7Theo tìm hiểu của chúng tôi, cho đến nay cha có một công trình nghiên cứu
chuyên biệt nào về các thể loại truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932 - 1945.
Đây vẫn còn là vấn đề mới mẻ
Trớc 1945, trong Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã ít nhiều chú ý nhận diện về các thể thơ dân tộc trong Thơ mới Hoài Thanh viết: “Ca trù biến thành
thơ tám chữ Thể thơ này ra đời từ trớc 1936, nghĩa là trớc khi ông Thao Thao đề ớng Yêu vận mất Phần nhiều vần liên châu Lục bát vẫn đợc trân trọng: ảnh hởng
x-Truyện Kiều và ca dao Song thất lục bát cơ hồ chết, không hiểu vì sao” [92,42] Từ
những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, vấn đề thể loại của Thơ mới, nhất là hai thể
lục bát và song thất lục bát có đợc chú ý hơn nhng chỉ đợc thể hiện qua các bài viếthoặc ý kiến nhỏ, lẻ (chủ yếu đăng trên báo “mạng” - điện tử) Những bài viết hoặc ýkiến nhỏ lẻ này, tuy đây đó có dẫn dụ và phân tích một vài nét nghệ thuật thơ lục bát
và song thất lục bát trong Thơ mới nhng còn sơ giản, hoặc trên phơng diện lí thuyết,
hoặc khảo sát nó qua một số sáng tác nhất định Đáng chú ý, Ngô Văn Phú trong
Lục bát và phong trào Thơ mới [76] và Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức trong Thơ
ca Việt Nam hình thức và thể loại, đã có những ý kiến khá sâu sắc về chức năng,
nội dung và thi pháp thể loại lục bát trong thời đại mới
Thể ngâm khúc trong Thơ mới hoàn toàn vắng bóng nên không thấy đợc
nhắc đến Riêng thể hát nói, phần đông giới nghiên cứu đều thống nhất xem lànguồn gốc của thể thơ tám chữ do các nhà thơ mới sáng tạo nên nhng mới chỉ dừng
lại ở dạng những ý kiến, nhận định mà ít có đối chứng, phân tích cụ thể Trong Thơ
ca Việt Nam hình thức và thể loại, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã công phu
so sánh, phân tích sự gặp gỡ trong đặc điểm thi luật giữa hai thể thơ Đến Nguyễn
Đức Mậu với luận án tiến sĩ Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học
[60], đặc biệt là bài viết Mối quan hệ giữa hát nói và Thơ mới [58] đã bớc đầu nhận
thấy mối liên hệ xa gần giữa hát nói với thể thơ tám chữ trong biểu đạt nội dung vềcon ngời cá nhân cá thể…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ
Tóm lại, lịch trình tìm hiểu Thơ mới, nhất là trên phơng diện loại hình (trong
đó có vấn đề thể loại) đã trải một chặng đờng khá dài và đã thu đợc những thành tựuquan trọng Tuy nhiên, riêng vấn đề thể loại truyền thống thuần Việt (hay thể loại
dân tộc truyền thống) trong Thơ mới 1932 - 1945, thành tựu nghiên cứu nó phải nói
là còn quá mỏng
2.3 Có thể nói luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên tập trung
khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu các thể loại truyền thống thuần Việt trong Thơ mới
1932 - 1945 với một cái nhìn hệ thống Luận văn sẽ xác định những đặc tr ng của
các thể loại truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932 - 1945 trên cả ba phơng
diện: chức năng, nội dung và thi pháp thể loại; hy vọng sẽ có những đóng góp mới,hữu ích, dù là nhỏ
Trang 83 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi, giới hạn của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu:
Các thể loại truyền thống thuần việt trong Thơ mới 1932 - 1945.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn chỉ tập trung khảo sát, tìm hiểu các thể loại truyền thống thuần
Việt trong Thơ mới 1932 - 1945 (các thể loại khác, kể cả thể loại thuần Việt hiện đại
- nếu có, dĩ nhiên luận văn vẫn quan tâm nhng chỉ dùng làm cơ sở để so sánh, đốichiếu)
Tài liệu mà luận văn dùng làm văn bản khảo sát là cuốn: Thơ mới 1932
-1945, tác giả và tác phẩm (do Lại Nguyên Ân su tầm, tập hợp; Nxb Hội Nhà văn,
Hà Nội, 2004)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định vị thế và vai trò của các thể loại truyền thống thuần Việt trong
hệ thống thể loại Thơ mới 1932 - 1945.
4.2 Chỉ ra những đặc sắc về chức năng và nội dung của các thể loại truyền
thống thuần Việt trong Thơ mới 1932 - 1945.
4.3 Nghiên cứu đặc trng thi pháp các thể loại truyền thống thuần Việt trong
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp
Trên cơ sở những nguồn t liệu mới, có thể coi luận văn là công trình đầu tiêntập trung nghiên cứu đặc trng chức năng, nội dung và thi pháp của các thể loại
truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932 - 1945 với một cái nhìn hệ thống; từ
đây xác định vị thế, vai trò, “vận mệnh” và sức sống của các thể loại này trong thơViệt Nam hiện đại
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khẳng định con đờng đi đến hiện
đại của thơ ca dân tộc rõ ràng không phải là con đờng tách rời, cắt mạch với truyềnthống Sức mạnh của các yếu tố mang giá trị của truyền thống vẫn có thể tạo nênthành tựu mới nếu biết phát huy và “làm mới” nó
Ngoài ra kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo và giúp choviệc dạy - học văn học trong nhà trờng đợc tốt hơn, trớc hết là cho bản thân ngờiviết
Trang 96.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn đợc triển khai trong
vị thế và vai trò của các thể loại
truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932 - 1945 1.1 Một cái nhìn tổng quan về loại hình Thơ mới 1932 - 1945
1.1.1 Hiện tợng Thơ mới 1932 - 1945 trong lịch sử thơ ca dân tộc
1.1.1.1 Xác định nội hàm cho một khái niệm là việc làm cần thiết nhằmthống nhất những “khái niệm công cụ” trớc khi đi vào vấn đề cần nghiên cứu, nhất
là đối với Thơ mới - một hiện tợng thơ còn khá nhiều bí ẩn và không phải không phức tạp Xung quanh vấn đề nhận diện, định danh và định giá giá trị Thơ mới vẫn
còn tồn tại nhiều ý kiến không thống nhất
Khi phong trào Thơ mới ra đời, năm 1932, trên báo Phụ nữ tân văn, số 122, Phan Khôi là ngời đầu tiên lấy tên gọi Thơ mới“ ” để tạm mệnh danh cho lối thơ mà
ông muốn đề xớng với mục đích “đem ý thật có trong tâm khảm tả ra bằng nhữngcâu có vần mà không phải bó buộc bởi những niêm luật gì hết” [47,53] nhằm phản
ứng và đối lập với thơ cũ“ ” - một khái niệm cũng lần đầu tiên xuất hiện theo logíccủa t duy phân loại, dùng để chỉ lối thơ làm theo hình thức luật Đờng đã trở nên gò
bó, khuôn sáo xuất hiện đầy rẫy trên báo chí thời đó Trong giai đoạn đầu của phong
trào Thơ mới, những ngời làm thơ mới đã nhất loạt tấn công vào tính quy phạm cứng nhắc của thơ cũ“ ” bằng cách cố tình đa cú pháp văn xuôi vào thơ; dỡ bỏ mọi
nề nếp niêm, luật và phép tắc đối thanh, đối ý của thơ cổ điển; cho phép cảm xúc tự
do đi về trong câu chữ và vần Do tiêu điểm của cuộc chiến nằm ở đó mà chính họ
và cả những ngời chống đối họ từng có lúc ngỡ rằng Thơ mới là thơ tự do (hiểu theo
nghĩa là thơ đợc viết theo thể thức tự do) Lại có ngời còn cho thơ viết theo các thể
từ khúc (lời của những điệu hát cổ Trung Hoa gồm những câu dài, câu ngắn không
đều nhng cố định) là Thơ mới
Nhng đến những giai đoạn sau của phong trào Thơ mới ngời ta lại thấy các
thi sĩ trở về với nhiều thể thơ truyền thống nh thất ngôn, ngũ ngôn, lục bát Ngay lối
Trang 10thơ tám chữ là sáng tạo mới của Thơ mới cũng bắt nguồn từ thể hát nói (từ đây viết tắt là HN) Vậy thì định nghĩa Thơ mới là thơ tự do hay thơ viết theo các thể từ khúc
tỏ ra không ổn nữa Cách nhận diện Thơ mới chỉ xét riêng trên phơng diện hình thức
hay thể loại xem ra khó có thể thỏa mãn trong định danh một loại hình thơ đã khácvới “thơ cũ” (thơ trung đại)
Từ những năm 40 của thế kỷ XX, khái niệm Thơ mới đợc nhận diện từ
ph-ơng diện nội dung Năm 1942, Hoài Thanh đã chỉ ra “thời đại chữ Tôi” là cái mới
cơ bản nhất của “tinh thần Thơ mới” Từ đây, mệnh đề Thơ mới là tiếng nói của cái
Tôi cá nhân - cá thể (individu) ngày một trở nên quen thuộc và đợc thừa nhận Với
phong trào Thơ mới, cái Tôi cá nhân có cơ hội lên tiếng đòi quyền sống sau nhiều
thế kỷ bị phong tỏa bởi nhiều áp lực Hoài Thanh từng viết: “Xã hội Việt Nam từ xakhông có cá nhân Chỉ có đoàn thể: lớn thì quốc gia, nhỏ thì gia đình Còn cá nhân,cái bản sắc của cá nhân chìm đắm trong gia đình, trong quốc gia nh giọt nớc trongbiển cả” [92,45] Sự trỗi dậy của cái Tôi cá nhân có ý nghĩa văn hóa lớn lao trong
đời sống con ngời Đối với văn học và thơ ca, nó có tác dụng khích lệ các nhà thơbày tỏ mình một cách thành thực, dám từ lập trờng, quan điểm cá nhân để giao tiếpvới cuộc đời và nhìn nhận thế giới, tạo ra tính “đa thanh” của cả một nền thơ Nhìn
chung, vào thời điểm phong trào Thơ mới đang làm cuộc “cách mạng” thi ca, luận
điểm nhấn mạnh vào cái mới của Thơ mới ở phơng diện tinh thần nh trên đợc xem
là luận điểm đáng kể nhất Chính nó đã góp phần khẳng định ý nghĩa đích thực cần
đợc thừa nhận của danh hiệu Thơ mới“ ” mà ngời đề xớng phong trào là Phan Khôi
lúc đầu chỉ định “tạm dùng” Đến nay, hai chữ Thơ mới“ ” mang một hàm nghĩarộng hơn, đó không chỉ là một phong trào, một trào lu thơ, mà còn chỉ một loại hình
thơ hiện đại Phong trào Thơ mới 1932 - 1945 thực sự là một cuộc các tân thắng lợi
lớn về thơ, đa thơ Việt Nam bớc vào phạm trù hiện đại
1.1.1.2 Cho đến nay đã có không ít ý kiến giới thuyết về Thơ mới Ngời thì
thiên về mặt hình thức, ngời thì thiên về mặt nội dung nh những cách nhận diệntrên Thực ra giữa các mặt ấy có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau Vấn đề
là tùy thuộc vào góc độ của vấn đề nghiên cứu mà ngời nghiên cứu nên nhìn nhận
Thơ mới ở phơng diện nào cho hợp lý Xuất phát từ góc nhìn loại hình - thể loại,
chúng tôi chọn đề tài Các thể loại truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932
-1945 Xuất phát từ góc nhìn này, có thể thấy Thơ mới 1932 - 1945, thuộc loại hình
thơ khác với loại hình thơ truyền thống (thơ trung đại) nhng không cắt đứt truyềnthống Bằng chứng là có không ít thể loại thơ truyền thống, đặc biệt là các thể thơtruyền thống thuần Việt, tiêu biểu nh lục bát (từ đây viết tắt là LB) và song thất lụcbát (từ đây viết tắt là STLB) vẫn có mặt và phát huy đợc thế mạnh của nó trong cuộc
“hòa nhạc” của nhiều thể loại Thơ mới Một điều nữa cũng xin đợc nói thêm là nhìn trên phơng diện khuynh hớng “tổ chức” - đội ngũ thì Thơ mới 1932 - 1945 là cả một
Trang 11“phong trào”, một phong trào thơ rộng lớn (chứ không hẹp nh “nhóm”, nhóm Tự
lực văn đoàn) Phong trào Thơ mới thực ra không phải chỉ “dành riêng” cho các nhà
thơ lãng mạn tiêu biểu nh Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế LanViên, Hàn Mặc tử Chính vì các tác giả lãng mạn chiếm số lợng quá đông đảo và
sáng tác của họ là nền tảng cơ bản tạo nên Thơ mới nên lâu nay nhiều khuynh hớng nghiên cứu vẫn nhìn nhận Thơ mới là phong trào thơ ca lãng mạn hoàn toàn Thực
tế, không ít nhà thơ có khuynh hớng hiện thực vẫn tham gia phong trào Thơ mới, cũng làm Thơ mới Các tác giả su tầm, biên soạn Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và
tác phẩm [74] đã rất có cơ sở khi cho công bố cuốn sách này Trong đó thấy xuất
hiện rất nhiều gơng mặt Thơ mới mà lâu nay ta cứ nghĩ họ là nhà thơ “hiện thực”
nh Tú Mỡ, Đồ Phồn Nói tóm lại, xét một cách toàn diện thì Thơ mới 1932 - 1945
quả đúng là một hiện tợng cha từng có trong lịch sử thơ ca dân tộc suốt hàng nghìnnăm (trớc cái mốc 1932) xét trên cả ba phơng diện: thể loại, nội dung - t tởng - tìnhcảm, và “phong trào”
Phong trào Thơ mới ra đời và phát triển qua nhiều chặng đờng trong một
khoảng thời gian không dài (từ 1932 đến 1945) nhng vẫn khẳng định đợc vị trí củamình trên văn đàn, trở thành hiện tợng thơ ca lớn nhất nửa đầu thế kỷ XX Phong
trào Thơ mới đã đem lại cho thi đàn một không khí hết sức mới mẻ và sôi nổi.
Nhiều tài năng với những phong cách sáng tạo riêng đua chen nhau nở rộ Hàng loạt
tác phẩm có giá trị lần lợt xuất hiện Nhìn lại những thành tựu của Thơ mới, nhà phê
bình Hoài Thanh quả quyết: “Trong lịch sử thơ ca Việt Nam cha bao giờ ngời tathấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở nh Thế Lữ, mơ màng nh LuTrọng L, hùng tráng nh Huy Thông, trong sáng nh Nguyễn Nhợc Pháp, ảo não nhHuy Cận, quê mùa nh Nguyễn Bính, kì dị nh Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, bănkhoăn nh Xuân Diệu ” [92,29] Nhìn tổng quan về bức tranh văn học Việt Nam từ
trung đại đến hiện đại có thể thấy Thơ mới 1932 - 1945 nổi lên nh một hiện tợng
đặc biệt Sự xuất hiện của Thơ mới là một sự kiện thiết yếu đối với lịch sử thơ ca
Việt Nam
Đầu thế kỷ XX, nhất là từ những năm 30 trở đi, xã hội Việt Nam có nhiềubiến động sâu sắc Cuộc xung đột và gặp gỡ với phơng Tây trên nhiều phơng diện
đã tạo nên những biến thiên lớn trong đời sống dân tộc ý thức về con ngời cá nhân,
về cái Tôi cá nhân, nhất là trong tầng lớp thanh niên Tây học đông đảo ở thành thị,
có cơ hội bừng tỉnh, phát triển…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Nhng đúng vào lúc cái Tôi tự ý thức sâu sắc cũng
là lúc xã hội Việt Nam có nhiều biến động dữ dội về kinh tế, chính trị (cuộc khủng
bố đẫm máu của chủ nghĩa thực dân 1930 - 1931, cuộc khủng hoảng kinh tế có quymô toàn cầu 1929 - 1933 dẫn đến nạn thất nghiệp, bần cùng hóa, v.v ) Hoàn cảnhlịch sử đó khiến cái Tôi vừa ra đời đã rơi vào tâm trạng hoang mang, bế tắc Mangtâm trạng bất hòa sâu sắc với hiện thực đơng thời nhng bất lực, cái Tôi ấy chỉ còn
Trang 12cách thoát ra khỏi thực tại bức bối, ngột ngạt bằng mộng tởng Trong hoàn cảnh lúcbấy giờ thì văn chơng lãng mạn chính là con đờng giải thoát lý tởng nhất vì trongvăn chơng cái Tôi vừa đợc thoát ly khỏi thực trạng ngột ngạt của xã hội đơng thờivừa có cơ hội để khẳng định cá tính, bản ngã Ngay từ đầu thế kỷ XX, nh một tấtyếu và hết sức bức thiết, diễn ra công cuộc đổi mới, hiện đại hóa văn học dân tộc.Hiện đại hóa lúc này có nghĩa là phải nhanh chóng đa văn học thoát ra khỏi sự ràngbuộc của hệ thống thi pháp văn học trung đại, đồng thời phải đa văn học đi vào quỹ
đạo của văn học hiện đại thế giới Quá trình này đến những năm ba mơi của thế kỷ
XX, nhiều điều kiện đã hết sức chín muồi Trong bối cảnh đó, “thơ cũ” mà tiêu biểu
là thơ Đờng luật với những quy định chặt chẽ về niêm, luật, vận đối, tiết tấu, bố cụckhông còn đủ sức giúp nhà thơ nhận thức và thể hiện đời sống mới, tinh thần mớicủa thời đại Lớp trí thức tiểu t sản sinh ra trong thời hiện đại không chấp nhận gòmình vào khuôn khổ, quy phạm Họ thấy cần phải đấu tranh để thay đổi Và nhữngthành tựu của quá trình hiện đại hóa văn học diễn ra trớc đó chính là đòn bẩy, là
điểm tựa để họ tự tin mạnh dạn đẩy “con thuyền văn học Việt Nam” lớt nhanh theodòng chảy hiện đại…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Thơ mới 1932 - 1945 xuất hiện nh một tất yếu lịch sử, giải
phóng thơ Việt thoát khỏi những khuôn khổ mang tính quy phạm chặt chẽ của loạihình thơ trung đại, từ đây bớc sang phạm trù hiện đại với một loại hình thơ mangtinh thần “tự do”, “tự do” về biểu hiện t tởng, cảm hứng, “tự do” về cách thức thểhiện, nghĩa là không còn bị ràng buộc, “câu thúc” bởi một quy phạm không cần
thiết nào Với ý nghĩa đó Thơ mới 1932 - 1945 xứng đáng là một cuộc cách tân thơ
ca lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX Cái Tôi và quan niệm cá
nhân là thành tựu lớn nhất của cuộc cách tân về nội dung, cảm hứng trong Thơ mới.
Lúc đầu, nó xuất hiện trên thi đàn trong trạng thái “bỡ ngỡ”, “nh lạc loài nơi đấtkhách” bởi xã hội Việt Nam trớc đó cha dành “đất” cho nó Trớc đây, quan niệm
“thiên địa vạn vật nhất thể” thấm sâu vào t duy văn học của ngời xa, con ngời là một
bộ phận không tách rời khỏi thế giới, nó có ý thức về bản ngã trong mối quan hệkhăng khít với chỉnh thể cộng đồng (gia đình, họ hàng, làng xã, đất nớc) mà trong
đó nó là một bộ phận Theo đó văn học thời bấy giờ (văn học trung đại) phải - nhnhận xét của Nguyễn Đăng Mạnh - “thể hiện thế giới qua một hệ thống ớc lệ chặtchẽ, có tính uyên bác, cách điệu hóa, sùng cổ và phi ngã, đề cao văn học đạo lí hơnvăn học tình cảm, các thể văn cha phân hóa rõ rệt, không phân biệt văn học thuật vàvăn học nghệ thuật do t duy nguyên hợp” [55] Trong hệ thống thi pháp đó con ngờirất khó có điều kiện để thể hiện “hết mình” Chỉ những phong cách lớn với tài năng,cá tính độc đáo nh Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát mới dám bộc lộ mạnh mẽ cái Tôi của mình Họ cũng đã từng “bất quy phạm” đểchống lại những quy phạm, nhng, “chống lại mà vẫn bị ràng buộc, vẫn bị hạn chế;
điều ấy là tất yếu khi tính ớc lệ phi ngã đã trở thành hệ thống” [55] Đến thời Thơ
Trang 13mới, cái Tôi cá nhân cá thể (Individu) bớc đầu đợc giải phóng, ngời ta mới thấy có
một bớc đột phá trong cách cảm nhận, thể hiện mọi hiện tợng của đời sống nhân
sinh Thơ mới đã nói lên đợc “một nhu cầu lớn về tự do và phát huy bản ngã” (Tố
Hữu) Quan niệm cá nhân, cái ý thức phát huy bản ngã đó đã đợc thức dậy mạnh mẽtrong thơ của hàng loạt các nhà thơ mới Nó thôi thúc cái Tôi khẳng định mình nhmột bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, nh một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệthuật Cái Tôi của chủ thể sáng tạo đợc giải phóng sẽ dẫn đến một cái nhìn cá thể
hoá, độc đáo, riêng t đầy hấp dẫn Trong Thơ mới, hầu nh bất cứ một nhà thơ nào
cũng đều có một cái Tôi cá thể hoá trong cách cảm thụ con ngời và thế giới Trongthơ họ, ngay đến nh vầng trăng cũng mang màu sắc cá nhân, riêng t và đợc cá thể
hoá (Trăng mờ thổn thức - Lu Trọng L, Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ - Xuân Diệu, Trăng nằm sóng soải - Hàn Mặc Tử ) Cái Tôi ấy tự bộc lộ đầy đủ mọi biến
thái tâm hồn mình ở trong thơ Trần Đình Sử đã rất có cơ sở khi gọi nó là “cái Tôi tựbiểu hiện”, tiếp nối thành tựu nghiên cứu của Hoài Thanh, bổ sung vào nội dung
quan niệm cá nhân của Thơ mới Nhng “cái Tôi trong Thơ mới vừa mới ra đời đã
hoá ngay thành con bớm trắng” (Xuân Diệu) ý thức về cái Tôi cá nhân cá thể còn
đợc bộc lộ rõ nét ngay cả trong những nhu cầu, khuynh hớng thoát li của các nhàthơ mới Khác với các nhà thơ cổ điển luôn vơn tới sự hài hoà giữa con ngời và thiênnhiên, con ngời và xã hội, cha có nhu cầu bức bách phải bộc lộ mình nh một cá thểtách khỏi xã hội; ở các nhà thơ mới lãng mạn “cái bình yên thời trớc”, “cái cốt cáchhiên ngang” có lúc đợc xây dựng trên sự cân bằng hài hòa giữa cá nhân và cộng
đồng không còn nữa Đối với họ giờ là thời của cái Tôi cô đơn cách biệt (Mỗi ngời
một núi đứng riêng Tây), cái Tôi sầu vạn kỷ (Một chiếc linh hồn nhỏ/ Mang mang thiên cổ sầu) Mỗi cái Tôi tự tìm thấy cho mình một lối thoát, một hoài vọng vào
quá khứ, vào tôn giáo, vào những thế giới siêu hình Và đây cũng là cách để mỗi
nhà thơ tự bộc bạch cái Tôi của riêng mình Rõ ràng, thời đại Thơ mới là thời đại
của chữ Tôi, và “vòng đời” của những nhà thơ mới cũng “nằm trong vòng chữ Tôi”của thời đại ấy Tiếng nói của cái Tôi là những thay đổi trong tinh thần, là đổi mới
về phơng diện nội dung mà Thơ mới mang lại
1.1.1.3 Sự giải phóng “tinh thần” trong Thơ mới đòi hỏi những cách thức biểu hiện phù hợp Thơ mới 1932 - 1945 không chỉ là cuộc cách tân về sự biểu hiện
của cái Tôi cá nhân cá thể mà còn thực hiện cuộc cải cách thi pháp thơ trữ tình tiếng
Việt Có thể nói Thơ mới 1932 - 1945 là một cuộc cách tân thắng lợi lớn trong lịch
sử thơ ca Việt Nam trên cả hai phơng diện: nội dung, cách cảm, cách nghĩ và hìnhthức, ngôn ngữ, đặc biệt là thể loại Những dự cảm về một sự thay đổi và mầm
mống của phong trào Thơ mới có lẽ đã xuất hiện từ lâu Thơ ca Việt Nam đến hết
thế kỷ XIX vẫn là loại hình thơ nằm trong “khuôn khổ ngàn năm” của thi pháp thơ
ca trung đại Bớc sang đầu thế kỷ XX (trớc 1932) thơ Việt Nam đã bắt đầu có
Trang 14những biến chuyển Tuy nhiên đây là giai đoạn còn có tính chất giao thời giữa haiphạm trù văn hoá, văn học (trung đại và hiện đại) Nhiều tác phẩm thơ xuất hiện thời
kỳ này không còn là thơ truyền thống thuần tuý nữa nhng cũng cha thực sự mới vềnội dung, hình thức và thi pháp thể loại Thơ văn của nhóm Đông kinh nghĩa thục,Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, giá trị chủ yếu của những sáng tác này là tínhchất tiến bộ của lí tởng và lòng nhiệt tình cách mạng Một số hiện tợng thơ xuấthiện trên sách báo công khai từ đầu thế kỷ đến những năm 30 nh Tơng Phố, Đông
Hồ, Đoàn Nh Khuê cũng không hẳn là thơ cũ nhng cũng cha thực sự mới TrầnTuấn Khải và đặc biệt là Tản Đà đã muốn thoát khỏi sự ràng buộc của những thểthơ vay mợn từ Trung Hoa mà tìm về với nhiều thể thơ dân tộc nh LB, HN haynhững làn điệu từ khúc Song, nhìn chung sáng tác của Tản Đà mới chỉ là nhữngdấu hiệu báo trớc sự thay đổi, cải cách trong thơ ca Hoài Thanh đã rất nhạy cảm và
có cơ sở khi nhận thấy rằng Tản Đà là ngời “dạo những bản đàn mở đầu cho mộtcuộc hoà nhạc tân kỳ đơng sắp sửa” [92,12] Đó là cuộc “hoà nhạc” của phong trào
Thơ mới Những thay đổi lớn lao của thơ ca Việt Nam thực sự từ năm 1932, bắt đầu
từ bài Tình già của Phan Khôi Bài thơ xuất hiện nh “một lối thơ mới trình chánh
giữa làng thơ” Ngời ta đã nhận thấy một cái gì rất mới về cả nội dung lẫn hình thức.Những câu thơ đợc kéo dãn ra không còn bị bó buộc bởi niêm luật Một lối thơ mớibắt đầu đợc định hình và ngay lập tức nhận đợc sự hởng ứng nồng nhiệt, đầy tâmhuyết của một lớp các nhà thơ mới Họ kêu gọi thơ ca phải đổi mới, phải cải cách đểthoát khỏi tình trạng sáo rỗng, cứng nhắc và vô hồn Phải xây dựng một nền thi ca
mới làm giàu cho quốc văn Cuộc đấu tranh giành địa vị cho Thơ mới đợc hình
thành và trải qua ba chặng đờng: 1932 - 1935, 1936 - 1939 và 1940 - 1945 Chặng
1932 - 1935 là giai đoạn gian nan nhất của phong trào Thơ mới Nhiều cuộc tranh
luận cũ - mới diễn ra gay gắt, quyết liệt Phái các tân thi sĩ với những đại biểu: PhanKhôi, Lu Trọng L, Thế Lữ, Nguyễn Thị Kiêm, Việt Sinh, Vũ Đình Liên, Trơng Tửutấn công quyết liệt vào thơ truyền thống, kêu gọi cải cách, thay đổi hình thức thơ đểdiễn tả những tình cảm, t tởng mới Nét nổi bật nhất ở thời kì này là các tác giả đavăn xuôi vào thơ để phá phách niêm luật thơ cũ Bớc đầu một số tác giả nh Thế Lữ,Huy Thông, Lu Trọng L đã tìm đợc hình thể mới cho thơ, “trình làng” khá nhiều bài
thơ có giá trị, gây sự chú ý của độc giả, làm cơ sở bênh vực cho Thơ mới Đến những năm 1936 - 1939, u thế của Thơ mới đợc khẳng định khi lực lợng tham gia phong trào Thơ mới ngày càng đông đảo, ra đời nhiều tác phẩm xuất sắc Cuộc
tranh luận cũ - mới lắng xuống, các nhà thơ mới dồn tâm lực vào việc học tập kinhnghiệm của thơ lãng mạn, thơ tợng trng Pháp Truyền thống thơ phơng Đông, nhất
là Đờng thi cùng với thơ của các tác gia cổ điển Việt Nam cũng đợc kế thừa mộtcách nghiêm túc Cuộc “xâm lăng” của văn xuôi vào địa hạt thơ đã yếu dần đi, câu
thơ ngày càng trở nên hàm súc hơn Thơ mới chín lại với thể thất ngôn, LB và thể
Trang 15tám chữ…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Thơ mới lúc này hoàn toàn thắng lợi với những phong cách mới mẻ, hiện
đại nh Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Năm 1936, trên Hà Nội báo Lê Tràng Kiều đã có thể khẳng định: “Cuộc cách mạng về thi ca ấy ngày nay
đã yên lặng nh mặt nớc hồ thu…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Thời gian đã định đoạt đợc cái giá trị của Thơ
mới” [45,286] Chặng đờng phát triển thứ ba của Thơ mới bắt đầu từ khoảng 1940
đến 1945 Giai đoạn này Thơ mới tiếp tục đào sâu vào cái Tôi cá nhân cá thể đồng thời tìm kiếm những hình thức thể hiện mới Thơ mới đã tìm đến rất nhiều nẻo đ-
ờng: Tìm vào “Đạo”, vào thiên nhiên, vũ trụ (Huy Cận); đi sâu vào bí hiểm theo dấuMallarme (nhóm Xuân Thu Nhã Tập mà tiêu biểu là Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn PhúTứ), tìm vào “kì dị” (“trờng thơ loạn”, “trờng thơ điên” ở Bình Định với nhóm tácgiả: Chế Lan Viên, Bích khê, Hàn Mặc Tử); hớng tìm về truyền thống, tìm về quê h-
ơng có Huy Thông, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Các nhàthơ, nhóm thơ đều tự tìm tòi cho mình những hình thức thể hiện độc đáo Lộ trình từ
1932 đến 1945, Thơ mới đã thực hiện thành công cuộc cách mạng về t duy thơ Việt
Nam (từ kiểu t duy thơ hớng nội gián tiếp trong thơ trung đại sang kiểu t duy thơ ớng nội hoàn toàn [39,16]), đổi mới hệ thống thi pháp thơ trữ tình tiếng Việt(chuyển từ “câu thơ điệu ngâm” sang “câu thơ điệu nói”, mang lại nhãn quan mớivới cái nhìn hớng ngoại, cải tạo các thể thơ truyền thống và sáng tạo các thể thơmới, sáng tạo những hình thức biểu hiện mới cho thơ) và đa lại cho thơ trữ tìnhnhững nguyên tắc kết cấu mới (tôn trọng dòng chảy tự nhiên sống động của cảmxúc cá nhân cá thể, đặt ở bình diện thứ nhất cảm xúc trực tiếp của nhân vật trữ tình,nhấn mạnh sự tồn tại độc lập của khách thể miêu tả [12,13-21]) Với những thay đổi
h-đó, Thơ mới đã thực sự thuộc loại hình thơ hiện đại
Ngày nay, khi nhìn lại Thơ mới 1932 - 1945, có thể quả quyết chắc chắn Thơ
mới là hiện tợng thơ ca nổi bật nhất trong văn học Việt Nam non nửa đầu thế kỷ
XX, là sự kiện tất yếu của lịch sử văn học dân tộc Công lao lớn nhất của nó cần ghinhận là đã thực hiện đợc cuộc cách tân sâu sắc có ý nghĩa quyết định trong côngcuộc hiện đại hóa thơ ca và văn học nớc nhà, từ đó mở ra “một thời đại trong thi ca”,
mở đầu cho một hành trình mới của thơ Việt Nam hiện đại
1.1.2 Loại hình Thơ mới 1932 - 1945, nhìn từ góc độ thể loại
1.1.2.1 Thơ mới 1932 - 1945, một cuộc cách tân về thể loại thơ
Thơ mới 1932 - 1945 là hiện tợng thơ ca lớn nhất nửa đầu thế kỷ XX, là cuộc
cách tân thơ ca cha từng có trong lịch sử văn học dân tộc Nhìn Thơ mới trên hành
trình hiện đại hóa của văn học dân tộc, đặc biệt trên phơng diện thể loại, nhà phê
bình Hoài Thanh đã không kiệm lời khi nhận định: Thơ mới là một “cuộc cách
mệnh về thi ca” [92,19] Tiếp nối Hoài Thanh không ít tác giả, hễ định giá về phong
trào Thơ mới lại dùng ngay khái niệm “cách mạng”: “Thơ mới 1932 - 1945, cuộc
cách mạng về thi pháp và t duy thơ” [27,578], “cuộc cách mạng ấy trớc hết là về
Trang 16tinh thần, t tởng” [49,38], “cuộc cách mạng về thi ca ấy ngày nay đã yên lặng nhmặt nớc hồ thu” [44,286]…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Dùng từ “cách mạng” trong trờng hợp này có nên
không? Theo thiển nghĩ của chúng tôi, dùng từ “cách mạng” đối với hiện tợng Thơ
mới nh vừa phân tích một cách tổng quát ở trên, đành rằng không phải không có cơ
sở, nhng chúng tôi vẫn cảm thấy có điều gì đó không thật ổn, nhất là khi nhìn nótrong dòng mạch còn có liên hệ với truyền thống “Cách mệnh” (từ cũ) hay “cáchmạng” (từ mới xuất hiện vào khoảng trớc sau 1945) nhằm chỉ quá trình biến đổi
theo hớng tiến bộ trong một lĩnh vực nào đó, cuộc biến đổi ấy phải thực hiện một
cách triệt để, nghĩa là loại bỏ hoàn toàn cái cũ để thay thế bằng cái mới (chúng
tôi nhấn mạnh) Khái niệm “cách mạng” thờng dùng để chỉ các sự kiện lịch sử lớn,các cuộc biến đổi chính trị xã hội mà trong đó chế độ xã hội lỗi thời bị lật đổ đểthiết lập nên chế độ xã hội mới tiến bộ (Cách mạng xã hội chủ nghĩa, Cách mạngtháng Tám, Cách mạng t sản Pháp ) Ngoài ra còn có Cách mạng khoa học kỹ
thuật, Cách mạng t tởng Phong trào Thơ mới cũng là một sự kiện lớn trong lịch sử
văn học dân tộc, là cuộc biến đổi lớn lao về thi pháp và t duy thơ, nhất là thể loại
thơ Nhng cuộc biến đổi của Thơ mới không phải là một sự thay thế hoàn toàn cái
“cũ” bằng cái “mới” Thơ mới xuất hiện không giống nh “chiếc nấm lạ trên cây gia
hệ văn học dân tộc” [95,11] Những đổi mới của Thơ mới rõ ràng là không thể không dựa trên cơ sở tiếp thu có sáng tạo những tinh hoa văn học truyền thống Thơ
mới đi vào quỹ đạo hiện đại mà không thoát li nguồn mạch dân tộc và văn chơng
n-ớc nhà Vì thế, chúng tôi muốn gọi Thơ mới 1932 - 1945 là một cuộc cách tân về thể loại thơ Gọi là cách tân bởi vì Thơ mới vừa mang nội dung đổi mới vừa bao
hàm ý nghĩa kế thừa truyền thống
Và quả thật, Thơ mới 1932 - 1945 thực sự là một cuộc cách tân về thể loại
thơ Bớc đầu của cuộc cách tân diễn ra khá rõ nét trong đời sống văn học 30 năm
đầu thế kỷ XX Trong khi chờ đợi một thế hệ trẻ đào luyện trong các trờng Pháp Việt thực thi cuộc cách tân thể loại, thế hệ các nhà thơ trong hai thập kỷ đầu có gắn
-bó với cái học cũ đã tích cực thể nghiệm các thể “thơ ta”, tức thơ truyền thống nhằmcách tân nền thơ ca nói chung Trong giai đoạn văn học giao thời, các thể thơ cũ nh
là bãi chiến trờng thử nghiệm cho các nhà thơ Một cuộc thăm dò, tìm kiếm và thểnghiệm ráo riết tất cả những gì sẵn có trong kho tàng văn học viết và văn học dângian dờng nh để chọn lấy hay tạo ra những thể thơ tối u nhất phục vụ cho việc diễn
đạt các cảm xúc của con ngời trong kỷ nguyên mới Thơ Đờng luật bớc đầu phá vỡniêm luật, bị kéo dài ra bằng cách nối các bài thơ tứ tuyệt lại với nhau Sáng tác từkhúc mới đợc tiếp nhận nh một thể thức tự do, dùng để đọc chứ không phải đểngâm, hát nh trớc Hát xẩm lần đầu tiên đợc Trần Tuấn Khải dùng nh một thể thơ
LB mở rộng khả năng trữ tình STLB đợc cấp thêm nội dung yêu nớc và cáchmạng…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Nhng ý thức cách tân thể loại sâu sắc nhất ở giai đoạn này phải kể đến ba
Trang 17đại biểu: Phan Bội Châu (1867 - 1940), Tản Đà (1889 - 1939 và Trần Tuấn Khải(1894 - 1983) Thơ ca của các nhà chí sĩ yêu nớc và cách mạng nh Phan ChâuTrinh, Huỳnh Thúc Kháng và tiêu biểu nhất là Phan Bội Châu đã có nhiều biến đổi
về nội dung t tởng, ý thức hệ Nét nổi bật trong sáng tác của Phan Bội Châu là lòngyêu nớc và nhiệt tình cách mạng, con ngời đạo lý hy sinh vì dân vì nớc thay thế conngời đạo lý trung hiếu của Nho gia Chức năng và hình thức thể loại cũng thay đổi.Mục đích cao nhất của thơ văn ông là nhằm tuyên truyền cổ động lòng yêu nớc,thúc giục quần chúng hành động cách mạng Các thể thơ quen thuộc nh thất ngôn
Đờng luật, STLB, LB, phú, văn tế, ca trù vẫn đợc sử dụng nhng câu chữ đã sáng rõ,
dễ hiểu, không còn niêm luật gò bó, từ ngữ bớt phần uyên bác, gần với tiếng nóihàng ngày hơn để dễ đi vào quần chúng nhân dân Đến Tản Đà, nhà nho tài tử, tiếpthu văn hóa phơng Tây, đã bộc lộ cái Tôi cá nhân một cách mạnh mẽ Công lớnnhất của ông là đã chuyển các thể loại phi chính đạo vào trung tâm văn học, thị dânhóa các thể loại văn học truyền thống Cái Tôi ngông nghênh đa tình của Tản Đà làbiểu hiện của một tâm hồn mới và tâm lí thị dân, thích sống theo sở thích cá nhân,nay đây mai đó, thởng thức những của ngon vật lạ và yêu đơng Tất cả đã đi vào thơ
ông với những chi tiết của cuộc đời trần tục, đời sống thị thành đang “t sản hóa”,cho nên nó làm biến dạng những hình thức cũ và tìm đến hình thức tự do hơn Điềunày giải thích tại sao trong thơ Tản Đà, những làn điệu từ khúc và làn điệu thơ cadân tộc luôn có sự kết hợp linh hoạt uyển chuyển, cấu trúc của những câu ca daotruyền thống bị phá vỡ, câu thơ ngâm bị dịch chuyển sang câu thơ nói Ngay nh thơthất ngôn vốn rất nghiêm trang cũng trở nên xộc xệch, buông thả, mất đi cái âm
điệu khuôn thớc, trở thành lời nói ngang ngang, khác lạ dới ngòi bút của Tản Đà:
Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà/ Đờng xa ngời vắng bóng chiều tà/ Một dãy lau cao, làn gió chạy/ Mấy cây tha lá sắc vàng pha (Thăm mả cũ bên đờng) Cùng với Tản
Đà, Trần Tuấn Khải cũng có những sáng tạo riêng trên cơ sở các thể thơ dân tộc.Thơ ông nghiêng về cảm hứng yêu nớc thơng nòi nên thành công nhất là những bàihát theo lối dân tộc đại chúng Ông có thơ tứ tuyệt, bát cú, thơ trờng thiên, văn tế, catrù, hành văn, cổ bản, nam ai hay những bài LB biến thể thờng kéo dài ngân nga,thêm từ ngữ và những ý tứ rất linh hoạt, biểu hiện sinh động, cụ thể tâm trạng nhân
vật trữ tình: Anh Khóa ơi! Lúc đêm thâu ngồi tựa chốn buồng điều/ Một mình em
mở quyển Kim Vân Kiều em đọc, em ngâm“ ” / Đọc đến câu: Đã nguyền đôi chữ“
đồng tâm”/ Giật mình tởng khách xa xăm em lại sầu (Mong anh Khóa) Nh vậy,
đến Phan Bội Châu, nhất là đến Tản Đà, Trần Tuấn Khải, câu thơ truyền thống đợc
tự do, hiện đại hơn rất nhiều Tuy nhiên, dù Phan Bội Châu đã có nhiều cố gắng
cách tân thể loại, Tản Đà đã tạo nên những lối viết thơ luật riêng (lộng hoàn, ô thớc
kiều, thu thủy) và Trần Tuấn Khải đã có sự kết hợp hai thể LB và Đờng luật nhng họ
vẫn không bứt lên đợc để hòa vào dòng thác hiện đại Về cơ bản thế hệ nhà thơ này
Trang 18vẫn cha sáng tạo nên một thể thơ “mới” nào Những vần thơ của Tản Đà hay TrầnTuấn Khải chỉ là dấu hiệu của sự đổi thay hơn là bản thân một sự đổi thay Thơ cagiai đoạn giao thời mới chỉ là những nỗ lực bớc đầu từ hệ thống thể loại cũ chuyểnsang hệ thống thể loại mới, nó có ý nghĩa thăm dò, mở đờng chuẩn bị cho sự ra đờicủa những hình thức thơ mới mẻ hơn sẽ đến trong cuộc cách tân thể loại của phong
trào Thơ mới ở những năm 30 của thế kỷ XX Toàn bộ thơ ca công khai thời kỳ này
đang nh chờ đợi sự xuất hiện những cái gì thật mới mẻ
Trở về với cơ sở xã hội từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, sự hình thành,phát triển của giai tầng trí thức tiểu t sản đã tạo thành một lớp công chúng mới ở thịthành, mang những yêu cầu riêng về t tởng, tình cảm và thị hiếu thẫm mỹ Họ đòihỏi tiếng nói riêng trong văn học và thơ ca, cũng nh đòi hỏi những hình thức diễn
đạt và phơng tiện biểu hiện phù hợp gần gũi với họ Trở lực đầu tiên ngăn cản họ làxiềng xích gò bó của những bài thơ làm theo hình thức thơ Đờng luật cực kì khuônsáo, nhạt nhẽo xuất hiện nhan nhản trên sách báo đơng thời Nhng thơ Đờng luậtvốn từng tồn tại nh một thể loại thơ ca chính thống qua nhiều thế kỷ văn học trung
đại, từng đợc xem nh là tinh hoa của thơ ca phơng Đông (xuất phát và trung tâm làTrung Hoa) thời phong kiến Vì thế, việc phê phán thơ Đờng luật chính là chĩa mũinhọn tấn công vào những giá trị tinh thần và những tiêu chuẩn thẫm mỹ của t tởng
phong kiến Nhận thức đợc điều này, năm 1932, Phan Khôi với bài thơ Tình già đã
“trình chánh giữa làng thơ” một lối thơ “mới” với những câu thơ dài ngắn khácnhau, mở đầu cho cuộc cách tân mạnh mẽ về thể loại thơ ca Việt Nam Từ đây, vợtthoát khỏi khuôn vàng thớc ngọc, sáo mòn, cứng nhắc của thơ luật Đờng, các nhàthơ mới đã tìm tòi cho mình những thể thức sáng tạo riêng thích hợp để diễn tả
những “điệu hồn” phong phú và tinh tế của thời đại mới Có thể tìm gặp trong Thơ
mới vô vàn thể loại với những hình thức diễn đạt khác nhau Đó là những thể loại
thơ có nguồn gốc dân tộc, dân gian và bác học nh thể LB, STLB, tám chữ; hay cácthể thơ vay mợn đã trở thành truyền thống nh thể hành, thất ngôn, ngũ ngôn và tứtuyệt…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ nhng dòng thơ, câu thơ đã khác; tức là đã sáng tạo nâng cao phù hợp với
“dòng cảm xúc” Trong 95 bài ở hai tập Thơ thơ [74,451] và Gửi hơng cho gió
[74,493], Xuân Diệu viết 46 bài thơ câu bảy chữ, 33 bài thơ câu tám chữ Huy Cận
trong tập Lửa thiêng [74,647] cũng chủ yếu sử dụng thể bảy chữ, tám chữ và một sốbài LB đạt tới trình độ cổ điển Bên cạnh việc tân tạo những hình thức thơ truyền
thống, Thơ mới còn đặc biệt chú ý vận dụng hình thức thơ Pháp - thơ tự do, sản
phẩm độc đáo của trờng phái thơ tợng trng, để làm giàu hệ thống thể loại ở đây,các câu thơ đợc kéo dãn tới 9 chữ, thậm chí là 12 chữ nh dạng thơ của Alexandrin
(Viếng mồ lữ khách - Mộng Sơn) Mặc dù chịu ảnh hởng của thơ ca nớc ngoài nhng
Thơ mới đã học tập một cách có sáng tạo để “hồn thơ Pháp hễ chuyển đợc vào thơ
Việt Nam là đã Việt hoá hoàn toàn” [92,33] Đọc bất kỳ một bài thơ nào của Thơ
Trang 19mới chúng ta đều thấy bóng dáng của câu thơ dân tộc từ điệu hồn đến giọng điệu,
âm thanh tiếng Việt Chính vì thế thơ tự do có nguyên quán ở Pháp từ cuối thế kỷXIX đã trở thành một thể thơ vừa dân tộc vừa hiện đại trong nền thơ Việt Nam,cũng nh thơ Đờng luật thất ngôn, ngũ ngôn từ nhiều thế kỷ qua đã trở thành nhữngthể thơ truyền thống của Việt Nam Các nhà thơ dù viết về đề tài gì với những tâmtrạng phức tạp nh thế nào thì vẫn nằm trong “văn mạch dân tộc” (chữ dùng củaXuân Diệu) Điều đáng nói là các nhà thơ đã biết sử dụng các yếu tố dân tộc, truyềnthống nh là chỗ dựa để phát triển, sáng tạo nên những vần thơ có giá trị, tạo nên
cuộc cách tân thể loại lớn nhất trong thơ ca nửa đầu thế kỷ XX Và Thơ mới đã thực
hiện cuộc cách tân thể loại ấy trên cả hai hệ thống: hệ thống thể loại thuần Việt và
hệ thống thể loại vay mợn Hai hệ thống thể loại thơ này bổ sung cho nhau tạo nên
diện mạo đặc sắc cho Thơ mới 1932 - 1945.
1.1.2.2 Hệ thống thể loại Thơ mới 1932 - 1945
Thể loại văn học (genre litteraire) là một trong những phạm trù cơ bản nhất
của sáng tác và tiếp nhận (bao hàm cả nghiên cứu, phê bình, giảng dạy) văn học.Không một sáng tác văn học nào lại không thuộc về một loại (loại thể) dới dạng mộtthể (thể loại, thể tài) nhất định nào đó “Ngời sáng tác khi đứng trớc một hiện tợngcủa đời sống, muốn chiếm lĩnh nó, tất yếu phải lựa chọn (tự giác hoặc không tựgiác) một phơng thức, một cách thức với một dạng thức cấu trúc - tổ chức ngôn từnhất định Đến lợt ngời tiếp nhận (nhất là ngời làm công tác nghiên cứu, phê bình,giảng dạy văn học) cũng phải theo “đờng dẫn” của thể loại để khám phá, lý giải nó
Đặc trng thể loại quy định cách kiến thiết, tổ chức tác phẩm (đối với ngời sáng tác),quy định hớng tiếp cận (đối với ngời tiếp nhận)” [23,1] Lý luận văn học căn cứ vàocác yếu tố ổn định của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ mà chia tác phẩm thành các loại
và thể (khái niệm loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại) Thời Hy Lạp cổ đại kháiniệm loại văn học đã đợc “phát biểu” qua các tác phẩm tiêu biểu của Platon (427 -
347 tr.CN) và đặc biệt của Aristôte (384 - 322 tr.CN) Aristôte chia tác phẩm vănhọc thành ba loại theo ba phơng thức “mô phỏng” (chữ mô phỏng - tiếng Hy Lạp
mimesis cần đợc hiểu với ý nghĩa tích cực, có tính chất sáng tạo) Phơng thức một:
“Có thể mô phỏng bằng cùng một phơng tiện và cùng một đối tợng bằng cách kể vềmột sự kiện nh về một cái gì tách biệt với mình” Phơng thức hai: “Ngời mô phỏng
tự nói về mình mà không thay đổi ngôi xng” Phơng thức ba: “Trình bày tất cả cácnhân vật đợc mô tả trong hành động” Ông cũng xác định rõ “bất kỳ sự mô phỏngnào cũng bao gồm trong ba điểm khác biệt đó” [1,21-25] Ba loại hay ba phơngthức cơ bản của văn học (tự sự, trữ tình, kịch) đợc Aristôte phân định cách đây 23thế kỷ đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa khoa học, trở thành cơ sở cho việc phân loạiloại thể tác phẩm văn học Quan niệm của lý luận truyền thống và lý luận hiện đại
về cơ bản là thống nhất trong xác định các phơng thức chiếm lĩnh đời sống của văn
Trang 20học xoay quanh các phạm trù loại trữ tình, tự sự, kịch Mỗi loại trên lại bao gồm
nhiều thể Khái niệm thể loại (hay thể, thể tài) chỉ dạng thức tồn tại chỉnh thể của tácphẩm văn học Đấy là các dạng thức tổ chức ngôn ngữ thành những hình thức nghệthuật riêng biệt, thể hiện cách cảm nhận và thái độ, tình cảm của con ngời về cáchiện tợng đời sống Trong quá trình sáng tác, “các nhà văn thờng sử dụng các phơngpháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau
đối với hiện thực, có những cách xây dựng hình tợng khác nhau Các phơng thức ấyvới những hình thức hoạt động khác nhau của con ngời - hoặc trầm t, chiêmnghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ làm cho tác phẩm văn họcbao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hìnhthức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Đó là cơ sở khách quan của
sự tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây dựng nguyên tắc phânchia thể loại văn học” [32,203] “Thể loại mang đặc trng của loại Các thể khôngcùng loại dĩ nhiên là khác nhau, nhng các thể cùng loại vẫn khác nhau Sự khácnhau này thể hiện trên nhiều phơng diện: hoặc ở hình thức lời văn (thơ và văn xuôi),hoặc ở dung lợng ngôn từ (truyện ngắn, truyện dài), hoặc ở nội dung cảm hứng (bikịch, hài kịch, thơ ca ngợi,thơ trào phúng…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ) Có khi ngời ta còn chia theo loại đềtài, chủ đề (thơ tình, thơ điền viên, thơ vịnh sử, truyện tâm lý xã hội, truyện lịch sử,truyện phong tục…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ) Rõ ràng thể loại văn học mang trong mình nó sự thống nhấtgiữa một loại nội dung với một dạng hình thức văn bản và phơng thức chiếm lĩnh
đời sống” [23,3] Các thể loại văn học “là những phạm trù lịch sử” (D.Likhachốp),nghĩa là “nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau
đó biến đổi và đợc thay thế” [32,204].Thể loại văn học mang đặc điểm thời đại, đặc
điểm dân tộc Nó là “siêu cá thể” nhng vẫn mang đặc điểm cá tính nhà văn, là nơithể hiện rõ nhất đặc trng của loại hình văn học Có thể thấy rõ những điều này ở
6 chữ
7 chữ (thất ngôn)
8 chữ
Lục bát
Son g thất lục bát
Hàn h
Hợ p thể và tự do
Vă
n xuô
i trữ
tình
Kịc h thơ
Tổn
g
Trờng thiên
Bát cú
Tứ tuyệ t
Trang 21bài 1 Tỷ
13,8
2 1,49 0,47 8,5
0,8
4 0,37 100
Nhìn vào bảng thống kê có thể thấy hệ thống thể loại mà phong trào Thơ mới
sử dụng để sáng tác hết sức đa dạng, phong phú; chủ yếu quy tụ vào hai nhóm thể
loại lớn là: hệ thống thể loại thuần Việt và hệ thống thể loại vay mợn Trong đó phổ
biến nhất là các thể 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ, LB, hợp thể và tự do Thể thơ 5 chữ đợc khánhiều nhà thơ sử dụng, chiếm tới 5,79% Thể 7 chữ (chủ yếu là thể thất ngôn trờngthiên) vẫn tiếp tục phát triển với sự phối hợp nhịp điệu uyển chuyển của câu thơ Đ-ờng theo lối ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3 Hai thể thơ 5 chữ và 7 chữ có những nét giốngvới thơ ngũ ngôn và thất ngôn cổ phong nhng mềm mại hơn ở sự lựa chọn thanh
điệu và nhiều bài chuyển sang lối hiệp vần mới Thể thơ 8 chữ đợc các nhà thơ mớisáng tạo trên cơ sở khai thác và kế thừa hình thức HN của thơ ca dân tộc Thể 8 chữvới nhịp điệu uyển chuyển, với sự không hạn định của số câu và cách hiệp vần rộngrãi đã trở nên một thể thơ có khả năng biểu hiện khá sinh động Thể 4 chữ, trớc th-ờng dùng trong các bài vè, các bài nói lối, nay đợc sử dụng trong nhiều sáng tác cógiá trị nghệ thuật Đối với các thể thơ cũ nh thể hành, thể tứ tuyệt (bao gồm cả thất
ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt), thất ngôn bát cú Đờng luật ít đợc chú ý Thơ
mới đã triệt hạ vai trò chủ soái của thể thất ngôn bát cú và “tấn công” vào mọi quy
tắc ràng buộc về niêm, luật, kết cấu, đối của “thơ cũ” Các thể Thơ mới đều không
bị ràng buộc về niêm luật, về sự hạn định số câu trong một bài Thậm chí số từ trongmột câu nhìn chung có ớc định nhng nhiều trờng hợp đợc sử dụng một cách linh
động Một số bài thơ làm theo thể hai chữ và một số bài văn xuôi trữ tình đã xuấthiện, gây sự chú ý của ngời đọc Đáng chú ý nhất là sự ra đời và phát triển khámạnh của hình thức hợp thể và tự do Hình thức hợp thể ở đây không mang tính xác
định nh một thể thơ đã ổn định mà là sự kết hợp linh hoạt những dòng thơ và khổ
thơ khác nhau trong cùng một bài (Hồ Dzếnh trong bài Phong Châu đã dùng thể 6
chữ, 7 chữ, 8 chữ cho những khổ thơ đầu và thể LB cho những khổ thơ sau) Hìnhthức hợp thể chỉ là một dạng thức trên đờng đi đến thơ tự do Bản thân nó không tựxác định đầy đủ t cách của một thể thơ độc lập và ổn định Còn hình thức thơ tự do
là một loại hình thơ rất mới, giàu tính sáng tạo của các nhà thơ mới; ở đó những câuthơ, vần thơ đã hoàn toàn bứt phá khỏi niêm luật, “tự do” đi theo mạch cảm xúc cá
nhân của những “điệu tâm hồn” Trong Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm
có những câu thơ dài ngắn đan xen và không hiệp vần theo quy củ, có khi là những
câu dài câu ngắn khoảng 2, 3, 4 từ (Thi vị - Bích Khê) Khoảng 8 đến 10, 11, 12 từ
(thơ Nguyễn Vĩ, Mộng Sơn); thậm chí 15, 16 từ (thơ Nguyễn Thị Manh Manh); cókhi là những bài thơ mang hình thức lạ: hình nón, hình giọt nớc, hình cánh chim
Trang 22bay, v.v Tóm lại, Thơ mới 1932 - 1945 đã kế thừa và phát triển các thể loại thơ ca
cổ truyền dân tộc, tân tạo các thể loại thơ ca vay mợn, đồng thời sáng tạo nên nhữnghình thức thể loại mới thích hợp biểu hiện “dòng cảm xúc mới” của thời đại
1.2 Vị thế của các thể loại truyền thống thuần Việt trong bảng thể loại“ ”
Thơ mới 1932 - 1945
1.2.1 Một vài giới thuyết về thể loại truyền thống thuần Việt trong Thơ
mới 1932 - 1945
1.2.1.1 Trớc hết là cách gọi tên thể loại truyền thống thuần Việt Cụm từ thể
loại truyền thống nhằm chỉ những thể loại từng tồn tại trong lịch sử văn học dân tộc
(ở đây giới hạn là các thể loại thơ) trớc Thơ mới 1932 - 1945 Trong hệ thống thể
loại truyền thống này gồm có các thể loại ngoại nhập (hay vay mợn) từ Trung
Quốc (thơ cổ phong, thơ Đờng luật và một số thể đặc biệt khác đợc sáng tạo ra trên
cơ sở của hai thể vừa nêu), và các thể loại nội sinh (hay còn gọi là thể loại dân tộc
hoặc thể loại thuần Việt) Giới hạn và phạm vi của đề tài mà chúng tôi khảo sát, tìm
hiểu là ở hệ thống các thể loại truyền thống nội sinh trong Thơ mới 1932 - 1945.
Vấn đề còn lại trong định danh đối tợng khảo sát ở đây là nên chọn một trong bakhái niệm, hoặc là “nội sinh”, hoặc là “dân tộc”, hoặc là “thuần Việt” Và chúng tôi
đã chọn khái niệm “thuần Việt”, sau cụm từ các thể loại truyền thống, tạo thành mệnh đề đầy đủ là: các thể loaị truyền thống thuần Việt Mệnh đề này nhằm, thứ
nhất, chỉ các thể loại lục bát, song thất lục bát, hát nói, ngâm khúc và truyện Nôm
(tuy nhiên trong Thơ mới 1932 - 1945 không hiện diện đầy đủ các thể loại này); thứ
hai, nhằm nhấn mạnh bản sắc dân tộc của một hệ thống thể loại trong sự khu biệt
với hệ thống những thể loại mà chúng ta vay mợn từ nớc ngoài Chữ “thuần Việt”,
có thể có ngời không đồng tình, vì có thể họ cho rằng, chẳng hạn, thể lục bát khôngphải của riêng dân tộc Việt mà dân tộc khác (cụ thể là dân tộc Chăm) cũng có Thực
ra lục bát Chăm có nhiều nét khác với lục bát Việt, vì điều đơn giản trớc hết là tiếngChăm thuộc thứ tiếng đa âm tiết, mà đã đa âm tiết thì làm sao có thể phân định làlục (6), bát (8) theo đúng nghĩa chặt chẽ của từ này (lục bát) đợc Vả lại chữ Việtchúng tôi dùng ở đây mang nghĩa rộng hơn, với hàm ý là dân tộc, là đất n ớc ViệtNam
1.2.1.2 Những thành tựu chung, đặc sắc về thể loại, mang tính vững bền, ổn
định tơng đối trên cả ba phơng diện: chức năng, nội dung và thi pháp, đợc lu chuyển
từ thế hệ này sang thế hệ khác trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của
khuôn khổ nền văn học một dân tộc đợc gọi là các thể loại văn học truyền thống
của dân tộc đó Nó không chỉ bao hàm các thể loại do nền văn học dân tộc sáng tạonên mà còn có sự hiện diện của các thể loại mà nền văn học dân tộc đó vay mợn củanền văn học các dân tộc khác nhng trên cơ sở ý thức “dân tộc hóa” Với ý nghĩa đó,
có thể thấy hệ thống thể loại truyền thống của nền văn học Việt Nam khá phong
Trang 23phú, đa dạng; bao gồm các thể loại vay mợn (ngoại nhập) - chủ yếu từ văn học
Trung Quốc - nhng đã đợc Việt hóa hoặc nhiều hoặc ít (về thơ: chủ yếu là thơ cổ
phong, thơ Đờng luật các dạng; về vận văn và biền văn: phú, văn tế, hịch, chiếu, cáo, đối liên…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ; về văn xuôi tự sự: truyện, ký, tiểu thuyết chơng hồi) Các thể loại có
nguồn gốc dân tộc (còn gọi là các thể loại nội sinh hay thuần Việt) gồm: LB, STLB,
ngâm khúc, truyện Nôm, HN Tuy nhiên, các thể loại văn học truyền thống, theo Từ
điển thuật ngữ văn học, “không phải là một hiện tợng ngng đọng, khép kín, mà
không ngừng vận động, tự đổi mới Mỗi bớc phát triển của lịch sử xã hội và lịch sửvăn học thờng khiến cho hàng loạt giá trị, kinh nghiệm nghệ thuật từng đợc xem làtruyền thống, trở nên bảo thủ, lạc hậu Để giải quyết những nhiệm vụ nghệ thuật dothời đại đặt ra, ngời sáng tác hoặc là phải hoàn thiện, đổi mới kinh nghiệm của thế
hệ trớc, hoặc là phải đấu tranh chống lại những gì đã cũ kĩ, lạc hậu, phải tìm kiếmnhững lối đi mới Kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật, vì thế là những ph-
ơng diện không bao giờ tách rời nhau của quá trình văn học Đến lợt mình, nhữngcách tân nghệ thuật chân chính lại sẽ trở thành những truyền thống mới bồi đắpthêm cho kho tàng kinh nghiệm đã vợt qua sự thử thách của thời gian của những thế
hệ đi trớc” [32,249] Do đó, giới hạn truyền thống“ ” và hiện đại“ ” chỉ mang ý nghĩa
tơng đối Khái niệm “các thể loại truyền thống” ở đây cũng đợc xét trong tơng quan
giữa loại hình văn học truyền thống (trung đại) và loại hình văn học hiện đại, từ đó
tìm hiểu xem các thể loại truyền thống thuần Việt đặt trong Thơ mới 1932 1945
-loại hình thơ hiện đại sẽ đợc tiếp nhận và xử lý nh thế nào?
1.2.1.3 Từ góc nhìn loại hình - thể loại trong tơng quan truyền thống và hiện
đại có thể phân xuất hệ thống thể loại Thơ mới thành hai nhóm thể loại lớn: hệ
thống thể loại truyền thống và hệ thống thể loại hiện đại (ở từng hệ thống đều bao
hàm cả hai loại ngoại nhập và nội sinh) Trong hệ thống thể loại truyền thống, Thơ
mới có sử dụng các thể loại thuần Việt, tiêu biểu nhất là thể LB và STLB Thể ngâm
khúc không thấy các nhà thơ mới sử dụng Riêng thể HN, có thể xem là nguồn gốccủa thể thơ tám chữ do các nhà thơ mới sáng tạo nên Vì vậy, nghiên cứu các thể
loại truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932 - 1945, chúng tôi tập trung vào các
thể: LB, STLB và tìm hiểu mối quan hệ giữa thể HN truyền thống với thể thơ támchữ, xác định xem thể thơ tám chữ có phải bắt nguồn từ thể HN hay không?; nếu có,
để thấy đợc những cách tân, sáng tạo của các nhà thơ mới Nhìn bao quát suốt một
lợt hệ thống thể loại Thơ mới trong Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm,
chúng tôi nhận thấy ngoài các thể thơ ổn định và phổ biến nh thể 5 chữ, 7 chữ, cácthể loại truyền thống thuần Việt cũng đợc nhiều nhà thơ mới khai thác và sử dụngvới những tỉ lệ, số lợng và hình thức nhất định, góp phần tạo nên vị trí, diện mạo
riêng của nó trong Thơ mới 1932 - 1945.
Trang 241.2.2 Tỉ lệ, dung lợng, số lợng và dạng thức tồn tại của các thể loại truyền
thống thuần Việt trong bảng thể loại Thơ mới 1932 - 1945“ ”
Phân chia thể loại từ 1071 tác phẩm đợc tuyển chọn trong cuốn Thơ mới
1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, chúng tôi thống kê đợc một số lợng khá lớn bài
thơ đợc sáng tác theo thể LB: 148 bài thơ, chiếm tỉ lệ 13,82% Đó là cha kể tới
những tác phẩm viết bằng thể loại khác có xen thể LB Hình thức khẳng định chủ
yếu của LB trong Thơ mới là các tác phẩm trữ tình có dung lợng nhìn chung là nhỏ Trong Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm, duy nhất một tác phẩm có dung l- ợng ngắn nhất là bài thơ Hoa cỏ may của Nguyễn Bính với một cặp LB tơng đơng 2
đơn vị dòng câu Chiếm phần nhiều là những bài thơ LB chứa khoảng 2 cặp 6/8 (15bài), 4 cặp 6/8 (14 bài), 5 cặp 6/8 (10 bài), 6 cặp 6/8 (17 bài) và 7 cặp 6/8 (11 bài)
Thuộc vào loại dung lợng lớn phải kể đến các tác phẩm: Lỡ bớc sang ngang của Nguyễn Bính với 55 cặp LB, Lòng son sắt của Phạm Huy Thông với 49 cặp LB,
Độc hành ca của Trần Huyền Trân với 46 cặp LB Tác phẩm dài nhất là bài thơ Bóng ai của Cẩm Lai cũng chỉ có 70 cặp LB tơng ứng với 140 đơn vị dòng câu So
với 3254 câu LB trong Truyện Kiều của Nguyễn Du - đỉnh cao của thể LB - thì con
số này còn quá ít ỏi Về dạng thức tồn tại của thể LB trong Thơ mới, chúng tôi nhận
thấy thơ LB tồn tại dới hai dạng khác nhau Dạng thứ nhất, các dòng thơ dắt nối
nhau từ đầu đến cuối tạo thành những bài thơ trọn vẹn (Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ, Lỡ bớc sang ngang của Nguyễn Bính, Buồn đêm ma của Huy Cận ), tạm gọi
đây là LB nguyên thể Dạng thứ hai, các dòng LB đợc dùng phối hợp và xen kẽ vớicác thể thơ khác (4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, tự do, ) để làm thành bài thơ, gọi là LB phối
xen Trong dạng phối xen này có bài lấy thể thức LB làm nền (nh Về nẻo thanh
tuyền của Trần Dần), cũng có bài lấy các thể khác làm nền (nh Mời hai tháng sáu
của Vũ Hoàng Chơng, Lên chơi trăng của Hàn Mặc Tử, Trờng tình của Đái Đức
Tuấn)
Song song với thể LB, trong “bảng” thể loại Thơ mới còn có sự hiện diện của
thể STLB, tuy nhiên số lợng góp mặt của thể thơ này lại không đáng kể Tổng số bài
thơ sáng tác hoàn toàn theo thể STLB chỉ có 16 bài, chiếm 1,49% Về dung lợng,
cũng nh thể LB, Thơ mới 1932 - 1945 cha có tác phẩm STLB nào đạt đợc “tầm” nh những khúc ngâm nổi tiếng trong văn học trung đại mà tiêu biểu là Cung oán ngâm
khúc của Nguyễn Gia Thiều, Chinh phụ ngâm - bản dịch của Đoàn Thị Điểm
(nguyên tác thể trờng đoản cú của Đặng Trần Côn) Hầu hết, 16 bài STLB toàn vẹn
đều có quy mô nhỏ Bài ngắn nhất là Thơ sầu rụng của Lu Trọng L có 10 câu Bài dài nhất là Tiếng họa mi ca của Phạm Huy Thông, 60 câu Và đây cũng là những
bài STLB ở dạng “chính thể” (nghĩa là đơn vị cơ bản là một tổ hợp gồm 4 câu, trong
đó, 2 câu thất ngôn đi trớc rồi mới đến 2 câu LB (có 10 bài) Riêng những bài mở
đầu bằng 2 câu LB rồi mới đến 2 câu thất ngôn còn đợc gọi là LB gián thất (có 6
Trang 25bài) ở dạng bài STLB phối xen (tức có sự xen kẽ giữa thể STLB với các thể loại
khác) có 4 bài: Hồ xuân và thiếu nữ của Thế Lữ, Giang hồ của Lu Trọng L, Vọng
phu của Phạm Huy Thông, Đẹp và thơ của Nam Trân.
Riêng thể loại HN, theo khảo sát của chúng tôi, trong Thơ mới 1932 - 1945,
tác giả và tác phẩm không có bài thơ nào viết theo thể loại này Nhng theo nhận
định của số đông giới nghiên cứu hiện nay, thể HN đợc xem là tiền thân của thể thơtám chữ do các nhà thơ mới sáng tạo nên Thể thơ tám chữ chiếm giữ một số lợng
rất lớn trong hệ thống thể loại Thơ mới: 267/1071 tác phẩm, chiếm 24,93% So với
dung lợng các bài thơ viết theo thể LB và STLB thì khuôn khổ các bài thơ tám chữ
t-ơng đối rộng mở Bài ngắn nhất: Ngời vợt biển của Thao Thao có 8 câu, bài dài nhất: Thanh niên của Xuân Diệu có 65 câu, chiếm phần lớn thờng là các bài có
dung lợng trung bình khoảng từ 20 đến 50 câu Thể tám chữ cũng tồn tại dới haihình thức cơ bản là dạng nguyên thể và dạng phối xen Hầu hết 267 bài đều ở dạngnguyên thể (tức toàn câu tám chữ), thi thoảng có sự đan xen một số câu có số chữ
nhiều hoặc ít hơn tám chữ do yêu cầu của tâm trạng (Ngời phóng đãng, Cây đàn
muôn điệu, Trả lời của Thế Lữ; Vội vàng của Xuân Diệu…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ), nhng số bài thơ nàykhông nhiều Ngoài ra, thể tám chữ còn xen vào 35 bài thơ thuộc nhiều thể loại khác
nhau làm cho sự biểu hiện cảm xúc càng thêm phong phú (Vọng phu của Phạm Huy Thông, Lòng cô phụ của Lu Trọng L, Mùa thu đã về của Vũ Hoàng Chơng, Hồ
xuân và thiếu nữ của Thế Lữ, …) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ)
1.2.3 Khả năng lôi cuốn độc giả của các thể loại truyền thống thuần Việt
trong sự cạnh tranh với các thể loại khác của Thơ mới 1932 - 1945“ ”
Qua thống kê và khảo sát số lợng, tỉ lệ các thể loại truyền thống thuần Việt
trong “bảng” thể loại Thơ mới 1932 - 1945, chúng tôi rút ra một số nhận xét khái
quát nh sau
Thứ nhất, bớc sang thời hiện đại, thể LB vẫn duy trì đợc sức sống của mình.
Trong cuộc “cạnh tranh” giành địa vị trong lòng độc giả với các thể loại khác của
Thơ mới, thể LB chiếm một vị trí đáng “nể” với 148 tác phẩm, chiếm 13,82% của
hệ thống thể loại Thơ mới; trong đó so với hai thể loại đợc phong trào Thơ mới sử
dụng nhiều nhất là thể 7 chữ và 8 chữ thì LB xấp xỉ bằng một phần hai Hai thể thấtngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú luật Đờng chính thống của văn học trung đại đã bị
LB vợt xa cả về số lợng lẫn chất lợng Đặc biệt thể LB còn tỏ ra chiếm u thế hơnhẳn thể loại thơ “tự do” mới đợc các tân thi sĩ sáng tạo nên Trong số các nhà thơ
của phong trào Thơ mới hình nh ít ai không một lần đến với thể thơ này Thậm chí
nhiều ngời còn có thể đạt con số hàng chục bài Trớc nhất phải kể đến Nguyễn Bínhvới 29 tác phẩm toàn bằng thể LB trong tổng số 57 sáng tác của ông, thứ đến là cáctên tuổi nh: Hồ Dzếnh: 15 bài, Trần Huyền Trân: 20 bài, Xuân Diệu: 6 bài và HuyCận, Mộng Sơn, Thế Lữ đều 7 bài Thể LB khẳng định mình trên thi đàn không chỉ
Trang 26bằng số lợng mà ý nghĩa hơn, LB còn sống mãi trong lòng ngời bằng những tác
phẩm mang giá trị cổ điển, trờng tồn, nh: Chân quê (Nguyễn Bính), Buồn đêm ma (Huy Cận), Tiếng sáo thiên thai (Thế Lữ), Chiều (Xuân Diệu) Nhìn vào thực tế
này, ta có thể khẳng định rằng, LB - một thể thơ cổ truyền của dân tộc đến thời hiện
đại trong thế “cạnh tranh” với nhiều thể loại Thơ mới vẫn có vị thế vững chắc trên
thi đàn Đây là điều mà chỉ duy nhất thể LB có đợc so với các thể thơ truyền thốngkhác
Thứ hai, thể STLB Có một hiện tợng rất đáng quan tâm đó là tình trạng tha
vắng của thể STLB trên thi đàn Tỉ lệ của nó trong “bảng” thể loại Thơ mới đã nói
lên đợc một phần về điều ấy Thậm chí so với thể thơ thất ngôn bát cú Đờng luật,STLB cha bằng một phần ba Riêng đối với LB - thể thơ luôn song hành cùng nósuốt một thời kỳ dài trong thời trung đại - thì số lợng tác phẩm STLB cũng quá
“khiêm tốn”: 16/148 bài Và số tác giả tìm đến với thể loại này cũng chỉ đếm đợc
trên đầu ngón tay Tiêu biểu có Lu Trọng L với 3 bài: Thơ sầu rụng, Sứ giả, Thú
đau thơng và một bài phối xen: Giang hồ; Phạm Huy Thông 3 bài: Tiếng họa mi ca, Tiếng đàn khuya, Cành liễu bên hồ và một bài phối xen: Vọng phu; Hàn Mặc Tử 2
bài: Muôn năm sầu thảm, Say chết đêm nay; Thế Lữ một bài: Thức giấc và một bài phối xen: Hồ xuân và thiếu nữ Đó là những tác giả có số lợng bài STLB nhiều nhất; còn lại, số tác giả, mỗi tác giả một bài, có: Nam Trân (một bài phối xen: Đẹp và
thơ), Bích Khê, Hồ Dzếnh, Tế Hanh, Tú Mỡ, Vân Đài, Tchuya (Đái Đức Tuấn),
Đào Xuân Quý Điều đáng bận tâm là trong Thơ mới cha có tác phẩm STLB nào
gây đợc “tiếng vang”
Thứ ba, trong Thơ mới, mặc dù thể loại HN đã hoàn toàn vắng bóng, nhng
“con đẻ” của nó - thể thơ tám chữ lại rất đợc a chuộng và đợc các nhà thơ mới hởngứng rất nhiệt tình Với con số không nhỏ 267/1071 tác phẩm, thể thơ tám chữ đã
chiếm vị trí phổ biến thứ hai sau thể bảy chữ trong “bảng” hệ thống thể loại Thơ
mới, gần gấp đôi thể LB và vợt xa các thể STLB, Đờng luật, thể hành trong hệ thống
thể loại thơ truyền thống của Thơ mới Phạm vi tham gia của thể loại này cũng hết
sức rộng rãi, nó có mặt trong hơn 35 bài thơ phối xen từ nhiều thể thức khác nhau và
tham gia vào sáng tác của 29 nhà thơ trong số 89 tác giả có mặt trong Thơ mới 1932
- 1945, tác giả và tác phẩm Thậm chí có những nhà thơ chỉ chủ yếu sáng tác bằng
thể tám chữ (các thể loại khác rất ít hoặc không sử dụng) và tỏ ra rất có sở trờng về
thể loại này Nó chiếm giữ một bộ phận sáng tác quan trọng của các tên tuổi Thơ
mới tiêu biểu nh Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Bích
Khê, Vũ Hoàng Chơng, Phạm Huy Thông, Tế Hanh Riêng với nhóm những nhà
thơ tả chân thì có thể nói đây là thể thơ “đặc sản” Tập Bức tranh quê [74,793] củaAnh Thơ có 45 bài thì 44 bài làm theo thể tám chữ
Trang 27Những điều trên, bớc đầu cho phép khẳng định khả năng tồn tại và sức hấpdẫn mạnh mẽ của các thể thơ truyền thống thuần Việt trong thế “cạnh tranh” với cácthể loại khác của thơ hiện đại.
1.3 Vai trò của các thể loại truyền thống thuần Việt đối với Thơ mới 1.3.1 Thể loại truyền thống thuần Việt tạo sự phong phú, đa dạng cho
loại hình Thơ mới - hiện đại
Một cái nhìn tổng quan về hệ thống thể loại và tình hình sử dụng các thể loại
của phong trào Thơ mới 1932 - 1945 nh trên đã cho phép chúng ta nhìn nhận và
khẳng định vị thế, vai trò đặc biệt quan trọng của các thể loại truyền thống thuần
Việt trong việc tạo nên diện mạo và đặc sắc của Thơ mới nói riêng và nền thi ca văn
học hiện đại Việt Nam nói chung Giả hoặc thiếu đi các thể loại này có lẽ khuônmặt thi ca Việt Nam sẽ trở nên nghèo nàn, kém bản sắc Sự góp mặt của hệ thốngthể loại truyền thống thuần Việt rõ ràng có vai trò, ý nghĩa quan trọng, góp phầnkhó có thể thay thế trong việc tạo nên tính phong phú, đa dạng cho một loại hình thơhiện đại Và quả thật, thơ Việt Nam cha bao giờ phong phú và hiện đại đến nh thếkhi có sự tham gia của không chỉ những thể loại thơ mới đợc sáng tạo hoặc đợc hấpthu từ tinh hoa văn học nớc ngoài mà còn có sự hiện diện của dàn đồng ca các thểloại truyền thống có nguồn gốc dân tộc
1.3.2 Thể loại truyền thống thuần Việt góp phần khẳng định con đờng đi
đến hiện đại của thơ Việt
Sự có mặt của các thể loại truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932
-1945 đồng thời cũng là minh chứng sinh động nhất cho quy luật tiếp thụ của văn
ch-ơng nghệ thuật chân chính Quá trình vận động, tồn tại và phát triển của văn học nóichung và thể loại văn học nói riêng luôn là quá trình tiếp thụ, kế thừa truyền thống
và cách tân nghệ thuật một cách liên tục trong lịch sử Con đờng hiện đại hóa củavăn học dân tộc (trong đó, thể loại giữ vai trò thiết yếu), vì thế, không thể đoạn tuyệtvới quá khứ, với mạch nguồn của dân tộc Các thể loại truyền thống thuần Việt gia
nhập vào làng Thơ mới hôm nay là bằng chứng khẳng định chắc chắn con đờng đi
đến hiện đại của thơ Việt là con đờng tiếp nối và kế thừa truyền thống, nhng tiếp nối
và kế thừa phải trên cơ sở làm mới và cách tân
1.3.3 Vai trò điều tiết giữa tính dân tộc và sắc màu hiện đại cho một“ ”
loại hình thơ mới “ ”
Một đặc điểm khác biệt với các loại hình thơ ca lãng mạn Tây Âu làm nên
nét đặc thù của Thơ mới Việt Nam đó là sự “điều hòa” giữa tính dân tộc, truyền
thống và sắc màu hiện đại trong một loại hình thơ Không thể và không nên nhìn
Thơ mới nh một hiện tợng đối lập giữa quá khứ và hiện tại Trong Thơ mới luôn tồn
tại song song những yếu tố văn học mới và những giá trị văn học cổ truyền, nhữngthể loại hiện đại và các thể loại truyền thống có nguồn gốc dân tộc; và điều đặc biệt
Trang 28là các giá trị và thể loại truyền thống dân tộc này đã nhập cuộc Thơ mới trong tinh
thần “hiện đại hóa” sâu sắc nhằm thích ứng với những nhu cầu của con ngời thời đạimới Mặt khác, các thể loại văn học thuần túy của dân tộc cũng chính là một trongnhững “nguồn” để tạo nên tinh thần truyền thống, làm giàu bản sắc dân tộc cho thơViệt Nam, đồng thời là “nguồn cội” mà các nhà thơ mới tìm về khẳng định cái Tôicủa thời đại, làm mới mình ngay trên mảnh đất truyền thống Do đó, các thể loại
truyền thống thuần Việt trong Thơ mới còn có vai trò “điều tiết” giữa tính dân tộc và
sắc màu hiện đại cho một loại hình thơ “mới” Thơ mới thực sự là một cuộc tổng
hợp kỳ khu giữa Đông và Tây, giữa dân tộc và hiện đại, từ đó góp phần mở rộngchân trời thi ca Việt Nam với những hình thức biểu hiện phong phú
Chơng 2 chức năng và nội dung các thể loại
truyền thống thuần Việt trong Thơ mới 1932 - 1945
2.1 Một số khái luận về chức năng và nội dung của các thể loại văn học
2.1.1 Các thể loại văn học có chức năng và nội dung riêng của nó
Các thể loại văn học có chức năng và nội dung riêng của nó, điều này khôngphải bàn cãi, nhng không phải ai cũng thấy rõ nó ứng với một loại nội dung nhất
định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnhthể Nói cách khác, thể loại văn học là một cấu trúc, một cách thức tổ chức ngônngữ theo một dạng thái nào đó nhằm thể hiện những tình cảm, nhận thức và suynghĩ của con ngời trớc các hiện tợng của đời sống Có thể nói thể loại nào cũng
“bình đẳng”, cũng đều có quyền trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực Tuy
Trang 29nhiên mỗi thể loại thờng có những chức năng riêng phù hợp với khả năng phản ánhcủa nó với đối tợng đợc nhận thức, phản ánh Chẳng hạn nh các thể loại tự sự(truyện, tiểu thuyết) có chức năng trớc hết là thuật, kể, miêu tả Các thể loại kịch cóchức năng trớc hết là trình bày các mâu thuẫn xung đột ở đối tợng đợc nhận thức.Các thể loại thơ lại có chức năng trớc hết là bộc lộ cảm xúc hay các trạng thái t t-ởng, tình cảm của chủ thể trữ tình Nói chức năng của thể loại văn học là nói đếnkhả năng, vai trò, nhiệm vụ của nó đối với việc nhận thức và phản ánh hiện thực.Thời trung đại các thể loại văn học thờng đợc “giao” đảm nhận các chức năng rõràng, nhất là các thể loại văn hành chức Tên thể loại thờng gắn liền tên tác phẩmnên ngời đọc dễ dàng nhận diện và phân loại chức năng thể loại Hịch là để kêu gọi,thuyết phục Cáo là để tổng kết một công việc hay một chủ trơng chính trị, xã hộinào đó Chiếu là để phổ biến một mệnh lệnh nào đó của nhà vua cho thần dânbiết.v.v Còn các loại văn có tính nghệ thuật nh truyện, tiểu thuyết chơng hồi, thơ,phú lại có những chức năng riêng khác nữa Các thể loại văn học hiện đại cũng cónhững chức năng riêng tùy theo đặc thù và u thế từng thể loại văn học Nghiên cứuthể loại, theo chúng tôi phải khảo sát trên ba phơng diện cơ bản: chức năng, nộidung và thi pháp thể loại Ba phơng diện này có mối quan hệ hữu cơ gắn bó vớinhau
Mỗi thể loại văn học gắn với chức năng và nội dung nhất định Nội dung thểloại là khái niệm chỉ vùng hiện thực, các hiện tợng đời sống hay các thông điệp ýnghĩa mà thể loại đó quan tâm phản ánh, chuyển tải Mỗi một thể loại thể hiện mộtgiới hạn tiếp xúc với đời sống, một cách tiếp cận, một góc nhìn, một trờng quan sát,một quan niệm đối với đời sống, đồng thời cũng là một nguyên tắc xây dựng thếgiới nghệ thuật Giới hạn tiếp xúc hiện thực của kí khác thơ, của sử thi khác tiểuthuyết…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Ghi tên thể loại vào tác phẩm, nhà văn dự báo cho ngời đọc cái vùng đờisống đợc quan tâm, cách tiếp cận và quan sát đối với nó, hớng họ vận dụng nhữngkinh nghiệm nhất định vào thởng thức tác phẩm Đọc thơ không giống đọc tiểuthuyết và kí, hoặc văn chính luận Khái niệm nội dung thể loại ở đây cần đợc hiểu ởcấp độ phổ quát Chẳng hạn nh thơ trữ tình bao giờ cũng có nội dung giãi bày tâm
sự, bộc lộ tâm trạng; thơ điền viên bao giờ cũng có nội dung ca ngợi thiên nhiên,
v-ờn tợc; thơ trào phúng bao giờ cũng có nội dung châm biếm, phê phán đối tợng; cácbài thơ Đờng luật “chính thống” thờng có nội dung trang trọng nghiêm chỉnh; thơ tự
do thờng có nội dung phóng túng, tùy thích Nội dung của từng thể loại không chỉ
đợc hiểu ở cấp độ “phổ quát”, “trừu tợng” nh trên mà còn đợc hiểu ở cấp độ cụ thểhơn Chẳng hạn nh nội dung của thể loại LB trong truyện Nôm (một loại “tiểuthuyết bằng thơ”) thờng là câu chuyện tình của đôi trai tài gái sắc với những buồnvui, khổ đau và hạnh phúc; hay nội dung của thể loại ngâm khúc (thờng dùng hìnhthức STLB) thờng là nỗi niềm đau khổ day dứt triền miên của con ngời, v.v
Trang 302.1.2 Chức năng và nội dung của các thể loại thơ
Thơ là một hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện nhữngtâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất
là có nhịp điệu Bàn về thơ Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật caoquý, tinh vi Ngời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy tronglòng Nhng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật.Tình cảm và lí trí ấy đợc diễn đạt bằng những hình tợng đẹp đẽ qua những lời thơtrong sáng vang lên nhạc điệu khác thờng” [32,210] Thiên về trữ tình và thổ lộ cảmxúc thông qua ngôn ngữ hàm súc mang tính nhạc là những đặc trng chức năng vànội dung cơ bản của thơ trong sự khu biệt với các loại hình khác nh kịch, kí hoặc tiểuthuyết Nội hàm khái niệm “chức năng” dùng để chỉ vai trò, tác dụng của một thểthơ trong việc biểu biện một nội dung nhất định nào đó Chức năng này đợc nảy sinhmột mặt do đặc điểm âm luật mà từ đó có thể tạo nên âm hởng thích hợp cho mỗiloại nội dung Song mặt khác, cũng tùy vào số phận lịch sử của mỗi thể thơ trongmối liên quan với xu hớng định hình giá trị thẩm mĩ cho từng thể thơ đó, ở các thế hệnhà thơ Sẽ là sai lầm nếu cứ nhất nhất cho rằng mỗi thể thơ đều chỉ gắn với một nộidung cụ thể nhất định Tuy nhiên, mỗi thể thơ cũng hoàn toàn có khả năng và u thếriêng trong việc thể hiện những nội dung nhất định nào đó Điều này có đợc do sự ănnhập nhịp nhàng giữa nội dung và hình thức của thể loại Giá trị của một bài thơ trớchết là ở nội dung, hệ thống cảm xúc, suy nghĩ và hình ảnh Cái làm nên tầm vóc củamột nhà thơ chính là tầm cao về t tởng và chiều sâu về cảm xúc Xem nhẹ vai trò củanội dung mà chạy theo hình thức, thơ ca sẽ rơi vào lối viết phô trơng, kỹ xảo Thếnhng một khi đã bớc vào con đờng sáng tác thơ ca thì cũng có nghĩa nhà thơ phảixác định một trong những mục đích của mình là tìm kiếm hình thức biểu đạt phùhợp để tránh sự nhàm chán và đơn điệu Mục đích ấy, khi đã đợc xác định sẽ giúpnhà thơ nhìn thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ nh “hai mặt của một tờ giấy” giữa nộidung và hình thức Theo đó nội dung mang tính hình thức và hình thức mang tính nộidung Nếu một nội dung mà không tìm đợc cho mình một hình thức biểu đạt phùhợp thì trở nên xộc xệch về cấu trúc, méo mó về t tởng Vì vậy, nhà thơ có bản lĩnhphải là ngời lựa chọn đợc cho mình những hình thức phù hợp, qua đó tạo ra sự hàihòa cao nhất đối với cái mà mình muốn bộc lộ Với thể thơ, từ trớc đến nay, vẫn đợcxem nh một hình thức biểu hiện “trung lập” ngoài nội dung t tởng của tác phẩm,thực tế lại có tác dụng rất lớn trong việc chuyển tải chủ đề sáng tác Nhà thơ Chế LanViên khi viết về hình ảnh chiếc nhẫn trên tay anh Trỗi trong chùm thơ viết về anh, đã
ớm thử nội dung qua ba thể loại: LB, thất ngôn và tự do Cuối cùng ông đã chọn rahình thức phù hợp nhất: thể thơ tự do Còn nhà thơ Tế Hanh khi bàn về kinh nghiệmlàm thơ đã xác định: “Thơ phải theo quy luật hơi của tác giả, tức là thể thơ phải làtiếng nói tình cảm mà tác giả muốn diễn đạt Với bài thơ này, thơ 8 chữ hợp hơn 5
Trang 31chữ, với bài khác thơ 6/8 hợp hơn thơ 10 chữ chẳng hạn Lại cũng có khi, trong mộtbài tác giả làm những câu dài ngắn không đều nhau đến đoạn nào đó tác giả xen vàonhững câu 6/8 Đó là cái hơi tình cảm của tác giả nó cần đi nh thế” [55,40-41] Theo
Lu Trọng L: “Điệu và vần không phải là chuyện hình thức Trớc một cảm xúc nào
đó, chọn một thể loại nào đó cho thích hợp đó là phút giây thần diệu của tâm hồn,của nghệ thuật thơ” [55,38] Bởi vậy, các thể thơ LB, STLB, tám chữ đều có những uthế riêng trong việc chiếm lĩnh các hiện tợng của đời sống và biểu đạt những nộidung cụ thể (nội dung của thể loại chứ không phải nội dung cụ thể của các tác phẩm
Chăm Theo Insara, “Ariya” trong tiếng Chăm có các nghĩa: 1 Trờng ca: Ariya Cam
- Bini (Trờng ca Chăm - Bacni) 2 Thơ: Sakadha ariya (một bài thơ) 3 Thể thơ: thể
Ariya, cặp sáu - tám Chăm [98,1] Ariya Chăm và LB Việt, theo phân tích của Insara
có khá nhiều điểm giống nhau (cả hai bên đều có hiện tợng gieo vần lng, đều có thểgieo cả vần bằng lẫn vần trắc, thanh điệu phát triển khá thoải mái) Nhng điều đángchú ý là “tiếng Chăm là thứ ngôn ngữ đa âm tiết khác với LB Việt, số lợng tiếng đợc
đếm trong Ariya Chăm cũng khác” [98,2] Hiện nay cha ai xác định đợc LB Việt vàAriya Chăm, thể nào có trớc, thể nào có sau; nhng có thể thấy giữa chúng chắc là cómối quan hệ ảnh hởng qua lại
Thể loại LB có lẽ đã có từ rất xa xa, trong ca dao Tuy nhiên, hiện ngời ta vẫncha xác định đợc niên đại ra đời của thể LB trong văn học viết Theo Phạm Đình
Toái, ngời có lời tựa Quốc âm từ điệu (1886), thì từ thời Trần - Lê (thế kỷ XIII đến
thế kỷ XVI) thơ LB đã đợc sáng tác rất nhiều Nhng hiện cha có cứ liệu cụ thể vềthể LB trong thơ Nôm đời Trần (thế kỷ XIII - XIV) Trên th tịch còn lại ngày nayngời ta thấy thể LB đợc ghi lại sớm nhất trong một bài hát cửa đình của Lê ĐứcMao (1462 - 1529) xen kẽ giữa thể nói lối và song thất Trần Danh án trong sách
Nam phong giải trào cũng ghi đợc một số bài ca dao LB rút từ các bài hát cửa đình
thời Lê Các cứ liệu trên cho thấy thể LB đã khá phổ biến đối với thơ Nôm cuối thế
kỷ XV đầu thế kỷ XVI Các tác phẩm Nôm dùng thể thơ này ở nửa cuối thế kỷ XVI
là Lâm tuyền vãn (gồm 2000 câu) của Phùng Khắc Khoan, Ngọa Long cơng vãn
Trang 32(136 câu) và T dung vãn (236 câu) của Đào Duy Từ Cuối thế kỷ XVI hoặc đầu thế
kỷ XVII xuất hiện Thiên Nam ngữ lục - một tập diễn ca lịch sử dài hơn 8000 câu
LB Nếu ở giai đoạn này (XIII - XVII) thơ LB mới hình thành và đi vào ổn định thìbớc sang thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, thơ LB phát triển mạnh và đạt đến trình độ
cổ điển LB là thể thơ chủ yếu của ca dao, của hàng trăm tác phẩm truyện Nôm mà
đỉnh cao là kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du - ngời đã đa thể loại LB đạt đến
trình độ cổ điển trong văn học Nôm bác học thời trung đại ở thế kỷ XX thơ LB vẫntiếp tục phát triển, vẫn là một thể thơ tiếng Việt phổ biến đợc nhiều nhà thơ sử dụng
và quần chúng yêu thích Ta có thể tìm gặp những hồn thơ LB tài hoa nh Tản Đà,Nguyễn Bính, Huy Cận, Trần Huyền Trân, Nguyễn Đình Th và từ sau năm 1945nhiều cây bút LB mới lạ độc đáo nh Nguyễn Duy, Bùi Giáng, Hoàng Xuân Sơn,
Đồng Đức Bốn.v.v Nh vậy, thể thơ LB trong văn học viết Việt Nam tồn tại và pháttriển qua ba thời kì lớn: XIII - XVII, XVIII - XIX, đầu XX đến nay Ba thời kỳ này
đồng thời cũng là quá trình vận động và phát triển của thể LB trên cả ba phơng diệnchức năng, nội dung và thi pháp thể loại
Xem xét chức năng và nội dung của thể thơ LB, Cao Huy Đỉnh cho rằng: “từthế kỷ XVII, LB trở nên vạn năng, dùng để diễn tả mọi thứ cảm nghĩ, tự sự, trữ tình,nghị luận cũng nh diễn kịch dù dung lợng dài ngắn, rộng hẹp, khó dễ đến đâu cũngthích nghi đợc” [22,114] Thừa nhận LB là thể thơ đa năng với sự biểu hiện phongphú nhiều loại hình nội dung nhng cũng cần thấy rằng LB cũng nh những thể loạikhác luôn lựa chọn và tỏ rõ u thế riêng của mình trong việc biểu đạt một loại nộidung cụ thể nhất định nào đó tại từng thời điểm lịch sử xác định ứng với từng thờikì, từng giai đoạn lịch sử khác nhau, chức năng và nội dung của thể loại LB cũng cónhững thay đổi Lợi dụng cấu trúc thơ LB cho phép có thể kéo dãn bài thơ đến vôcùng, trong văn học trung đại, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷXIX, các nhà thơ đã phát huy tối đa sức mạnh tự sự (kể chuyện) của thể thơ LB.Lịch sử thơ ca giai đoạn này đã chứng kiến sự nở rộ của thể loại truyện thơ Nôm với
những tác phẩm xuất sắc nh: Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Công Cúc Hoa, Mai Đình
mộng ký, Quan Âm Thị Kính, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên ở đây, nội dung tác phẩm
đã đợc phát triển thành những câu chuyện trong đó diễn ra nhiều biến cố, sự kiện,
có thắt nút, mở nút và có các nhân vật mang số phận Nghĩa là một câu chuyện hoànchỉnh có cốt truyện và tình tiết hẳn hoi Câu chuyện đó đã đợc diễn Nôm, diễn cabằng thể LB Thực ra không phải ngời ta không thể không diễn Nôm bằng các thểthơ khác Từ giữa thế kỷ XVII trở về trớc, khi nền văn học viết đã có sự xuất hiệncủa thể loại thơ ngời ta đã dùng thể Đờng luật (Nôm) liên hoàn (tức nối nhiều bàithơ Đờng luật theo lối liên hoàn) để “kể chuyện”, tiêu biểu nh các truyện thơ Nôm:
Vơng Tờng, Tô Công Phụng sứ, Lâm tuyền kì ngộ Nhng thể thơ Đờng luật với
nhiều bài thơ đợc xây dựng theo mối liên hoàn khép kín khiến cho tác phẩm dễ trở
Trang 33nên rời rạc, vụn vặt, cắt nhỏ nội dung thành những câu chuyện nhỏ; mặt khác nó lại
“quá nặng về trữ tình” (Đinh Gia Khánh) Những hạn chế này đã ngăn cản thể thơ
Đờng luật trong vai trò kể chuyện Có lẽ đây là một hớng thử nghiệm của truyệnNôm nhng không thành công LB tỏ ra thích hợp hơn cả với vai trò này Ngay từthời kỳ sơ khai khi thể LB mới xuất hiện trong văn học thành văn vào đầu thế kỷXIV đến đầu thế kỷ XVII, mặc dù cha có ý thức lựa chọn u thế cho mình trong biểu
đạt nội dung tác phẩm nhng trong các tác phẩm Nghĩ hộ tám giáp giải thởng hát ả
đào, Tứ thời khúc vịnh, T dung vãn… ngời ta đã nhận ra bên cạnh khả năng trữ tình,
thể LB rất hợp với yêu cầu tự sự Gần giữa đến gần cuối thế kỷ XVII, trong bối cảnhtruyện thơ đang tìm kiếm một hình thức thích hợp thì thể LB đã bớc đầu chứng tỏ đ-
ợc khả năng kể chuyện của mình với Thiên Nam ngữ lục Kiều Thu Hoạch nhận
định: “Sự xuất hiện của Thiên Nam ngữ lục với hàng ngàn câu thơ LB đã cho thấy
khả năng ứng dụng kỳ diệu của thể thơ này trong hình thức tự sự” [40,86] Đây làdấu hiệu đầu tiên của việc hình thành chức năng riêng của thể thơ Từ thế kỷ XVIII,với sự xuất hiện ồ ạt của thể loại truyện thơ, thể LB chính thức đợc đảm nhận chứcnăng kể chuyện Và đây chính là chức năng chính yếu của thể LB trong văn họctrung đại Bên cạnh chức năng kể chuyện, tự sự, thể LB còn chứng tỏ khả năng bộc
lộ những cảm xúc trữ tình Hầu hết truyện Nôm đều sử dụng thể loại LB không chỉvì nó tỏ ra rất thích hợp cho việc tự sự mà mặt khác nó còn cho phép việc trữ tình thể
hiện tâm trạng một cách thoải mái Truyện Kiều của Nguyễn Du - “cuốn sách của
nghìn tâm trạng” (Phan Ngọc) đã chứng tỏ điều đó Tuy nhiên chức năng và nộidung nổi bật nhất của LB trong văn học trung đại vẫn là tự sự Tóm lại thể loại LBtrong lịch sử thơ ca và văn học dân tộc trớc thế kỉ XX (văn học trung đại) mangchức năng và nội dung chủ yếu là tự sự hoặc tự sự - trữ tình
2.2.2 Thể loại song thất lục bát
STLB là thể thơ cách luật thuần túy Việt Nam, đơn vị cơ bản là một tổ hợp(khổ) gồm 4 câu trong đó có 2 câu thất ngôn và 2 câu LB Nếu 2 câu thất ngôn đi tr-
ớc rồi mới đến 2 câu LB đợc gọi là STLB Ngợc lại, nếu 2 câu LB đi trớc rồi tiếp 2câu thất ngôn, gọi là LB gián thất Thể thơ này tuy ra đời sau thể LB nhng luôn gắnliền và song hành cùng LB trong một thời gian dài Căn cứ vào tài liệu hiện còn, cóthể thấy thơ STLB trong văn học Việt Nam xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ XV với
bài Bồ đề thắng cảnh thi trong tập Lê triều ngự chế Quốc âm thi Sau đó, STLB có mặt trong bài Nghĩ hộ tám giáp giải thởng hát ả đào của Lê Đức Mao (1462 - 1529) làm vào khoảng 1504 Đến cuối thế kỷ XVII, bài Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ
Khải đã đánh một cái mốc quan trọng trong bớc tiến của thể STLB Bài thơ gồm có
432 câu, theo thể trờng thiên, khuôn hình vần điệu về cơ bản đã đi vào nề nếp
Thời kì phát triển thứ hai của thể thơ đợc tính từ nửa đầu thế kỷ XVII đến
cuối thế kỷ XVIII, tức từ tác phẩm Thiên Nam minh giám đến tác phẩm Chinh phụ
Trang 34ngâm (bản dịch của Đoàn Thị Điểm) vào khoảng 1740; và Cung oán ngâm khúc
của Nguyễn Gia Thiều vào khoảng 1780 Một số nhà nghiên cứu (nh Phan DiễmPhơng) muốn xác định thanh trắc ở tiếng thứ ba và vần ở tiếng thứ năm là sự lựachọn cuối cùng của thể thơ [78,56] Đến đây có thể khẳng định thể STLB đã đạt đến
độ hoàn chỉnh và ổn định
Thời kì thứ ba, sau Cung oán ngâm khúc, tức từ cuối thế kỷ XVIII đến hết
thế kỷ XIX Đây là thời kì phồn thịnh, phát triển rực rỡ của STLB với hàng loạt tácphẩm xuất sắc Nó đợc dùng trong nhiều thể loại khác nhau, trớc hết là trong ngâm
khúc: Tự tình khúc (cả bằng chữ Hán và bằng chữ Nôm) của Cao Bá Nhạ, Thu dạ
lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận, Ai t vãn của Lê Ngọc Hân, Tần cung nữ oán Bái Công văn của Đặng Trần Thờng ; trong văn tế: Văn tế thập loại chúng sinh của
Nguyễn Du; trong thể hành: Tỳ bà hành - bản dịch của Phan Huy Thực,v.v Nửa sau thế kỷ XIX, ngoài các tác giả (cha rõ) của Nhân nguyệt vấn đáp, Bần nữ thán,
Hà thành thất thủ ca, Nguyễn Khuyến là ngời có hứng thú đặc biệt và rất thành
công với thể thơ này Ông viết liền đến 7 bài, trong đó có những bài nổi tiếng nh Lời
vợ anh phờng chèo, Khóc Dơng Khuê, Văn di chúc
Đầu thế kỷ XX, STLB lại phát triển mạnh mẽ với nội dung kêu gọi, cổ vũ,
tuyên truyền yêu nớc và cách mạng (Hải ngoại huyết th - bản dịch chữ Quốc ngữ của Lê Đại từ nguyên văn chữ Hán của Phan Bội Châu, Tỉnh Quốc hồn ca - Phan Châu Trinh, Bài ca á tế á - cha rõ tác giả, Chiêu hồn nớc - Phạm Tất Đắc, Hai chữ
nớc nhà - Trần Tuấn Khải,v.v…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Sau đó đợc Tản Đà dùng trong một số bài Sau)
Thơ mới 1932 - 1945, STLB vẫn đợc một số tác giả quan tâm mặc dù không nhiều.
Tiêu biểu nh Tố Hữu, Nguyễn Bính Đặc biệt, gần đây sau một thời gian gần nh
vắng bóng, thể loại STLB lại xuất hiện qua tác phẩm Con Hồng cháu Lạc (2 tập)
gồm hơn 15.000 câu thơ STLB đợc giới nghiên cứu đánh giá là “một bộ diễn ca vềlịch sử có quy mô đồ sộ và hoành tráng” [52,1] Vậy là thể loại STLB vẫn có khảnăng tồn tại và chứng tỏ sức sống trong một môi trờng, “đất sống” tởng không còn
vị trí cho nó
Qua bốn giai đoạn phát triển, STLB cũng luôn tìm kiếm và khẳng địnhnhững chức năng và nội dung riêng làm nên nét đặc thù của thể loại Qua khảo sátvăn học Việt Nam trung đại chúng tôi thấy trong khi LB đang “tung hoành” trongvai trò kể chuyện, STLB cũng thật sự tìm đợc “mảnh đất” mà ở đó nó có thể pháthuy một cách tốt nhất khả năng trữ tình của mình, đó là ngâm khúc Theo Bùi VănNguyên: “Nếu thể LB đợc áp dụng một cách thích đáng vào truyện thơ thì thểSTLB, với sắc thái riêng biệt của nó, lại đợc chọn cho lối ngâm khúc” [65,235] Vì
LB có khả năng lợi dụng cấu trúc của mình để có thể kéo dãn bài thơ đến vô cùngnhằm thích ứng với vai trò kể chuyện, còn STLB lại khai thác u thế của mình về cácyếu tố vần, điệu, nhịp cũng nh tổ hợp các dòng để thể hiện nội dung của ngâm khúc
Trang 35Về điểm này nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra khá cụ thể và chính xác: “Thể ngâm(tức thể STLB) có nhiều âm vận nên dồi dào nhạc chất Có thể nói ở đây âm vậngiao hởng, ứng đáp một cách khăng khít dồi dào hơn cả mọi lối thơ rất thích hợp đểdiễn tả những tình cảm ảo não, triền miên, nhịp nhàng quấn quýt” [63,135] “Hìnhthức khổ thơ với kiến trúc 7/7/6/8 cho phép thể thơ này nói lên đợc sự đi về của cảmxúc nh những đợt sóng, lên cao, xuống thấp rồi lại dàn ra đón lấy một đợt sóngkhác” [68,75] Chính u thế nổi trội này đã phân biệt thể STLB với các thể thơ khác
nh LB, Đờng luật hay thơ tự sự mà từ đó nó “từ chối” vai trò kể chuyện, miêu tả, đốithoại hay lí luận; xác định cho mình chức năng “trữ tình” trên loại thể khúc ngâm.Không phải ngẫu nhiên mà ở các thế kỉ XVII, XVIII, STLB không chỉ dừng ởnhững đề tài ngâm vịnh lịch sử, mà còn dùng cho một loại tác phẩm mang nội dung
trữ tình bi thơng, bộc lộ tâm sự, hồi cố nh Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc,
Ai t vãn Đầu thế kỉ XX, STLB vẫn tiếp tục khẳng định u thế trữ tình nhng đợc mở
rộng thêm nhiều hớng để có thể đáp ứng đợc nhiều hơn nhu cầu sáng tác và thởngthức của thời đại này Phan Diễm Phơng đã phân chia các hớng của STLB: Hớngthứ nhất, thể thơ vẫn tiếp tục đợc sử dụng để diễn tả những cảm xúc có tính chất hồi
cố, bi ai (nh Khúc thu hận - Tơng Phố, Tục huyền cảm tác - Đông Hồ ) Hớng thứ
hai, là đa thể STLB vào nhiệm vụ thể hiện những suy nghĩ, tâm sự của các nhà chí
sĩ, các nhà trí thức cách mạng trớc cảnh “tang thơng” của đất nớc Tiêu biểu cho
h-ớng này có Hải ngoại huyết th, ái quốc của Phan Bội Châu, Hợp quần doanh sinh của Nguyễn Thợng Hiền, Tỉnh quốc hồn ca của Phan Châu Trinh, Chiêu hồn nớc của Phạm Tất Đắc, Bài ca á tế á (khuyết danh)…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ Chính các tác giả này đã cấpthêm cho STLB nội dung yêu nớc và cách mạng gắn liền với âm hởng kêu gọi, thôithúc đầy hào khí Hớng thứ ba, thể thơ đợc đa về tình trạng “trung tính”, nghĩa làkhông đặc biệt gắn nó với một loại nội dung nhất định nào, mà để nó đợc diễn tảnhiều loại xúc cảm khác nhau Hớng này đợc thể hiện chủ yếu qua gần 20 bài STLB
của Tản Đà Một cảm xúc khi Trông cánh hạc bay, một quan niệm về Cảnh vui của
nhà nghèo, một suy nghĩ trong khi Nói chuyện với ảnh hay một lời trách móc trong
những bức Th gửi ngời tình không quen biết đều đợc Tản Đà diễn tả bằng STLB
[78,167-169] Song, nhìn chung, có lẽ do chỗ STLB đã tạo ra đợc sức hấp dẫn quálớn ở những tác phẩm chứa đựng loại cảm xúc buồn thảm hoặc thống thiết triềnmiên nên khi đợc đa về những cảm xúc không mang các tính chất đó, nó dờng nhkhó bề gây đợc ấn tợng sâu sắc Sức mạnh của truyền thống đối với thể thơ này d-ờng nh là cái khó có thể vợt qua và điều đó sẽ ảnh hởng rất nhiều đến tơng lai pháttriển của STLB
2.2.3 Thể loại hát nói (thơ ca trù)
HN - một thể thơ dân tộc độc đáo đợc sinh ra từ nhu cầu của bộ môn nghệthuật ca trù, vì thế còn gọi là thơ ca trù Thơ ca trù, tên gọi này dĩ nhiên hoàn toàn có
Trang 36cơ sở khoa học, cho thấy mối quan hệ của nó với lối hát ca trù - lối hát mà “ở đó
ng-ời hát phải vừa hát vừa nói - những đoạn hát lng-ời theo những giai điệu nhất định điliền với những lời “nói” nh lời nói thờng, cố nhiên có cách điệu” [5,170] Do đó,cùng một điệu hát nhng có thể có nhiều tên gọi khác nhau nh nói Nôm, điệu xớng
ca, bài ca quốc âm, hát quốc âm.v.v…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ “HN chỉ là một trong rất nhiều điệu của catrù và trong ca trù chỉ HN mới đợc sáng tác và nghiên cứu với t cách là một thể loạivăn học” [60,7] Nghệ thuật ca trù dùng nhiều thể thơ khác nhau, trong số đó, HN là
thể thơ trụ cột với số lợng tác phẩm lớn nhất, đợc a chuộng nhất HN đã gắn với
những tên tuổi lớn trong lịch sử văn học Việt Nam nh: Nguyễn Công Trứ, Cao BáQuát, Nguyễn Khuyến, Dơng Khuê, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Phan Bội Châu…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ
Vấn đề thể loại và nguồn gốc thể loại cũng nh việc xác định tác gia sớm nhấtcủa HN luôn là vấn đề thu hút sự chú ý của các nhà văn học sử Với các t liệu vănhọc, sử học, âm nhạc hiện có, cha đủ các dữ kiện để xác định chắc chắn ai là ngờihoàn chỉnh thể loại HN Hiện cha có một dấu hiệu nào về sự hình thành HN trớc thế
kỷ XVIII Cuốn sách Hán Nôm có nói đến khái niệm HN là Ca phả thì cha xác
định đợc niên đại Sử dụng khái niệm HN phổ biến nhất là các cuốn sách quốc ngữ
xuất bản vào những năm 20 của thế kỷ XX: Ca trù thể cách, Hát ả đào, Sách dạy
đánh chầu… Cuốn sách có nói về ca trù khá tờng tận và về mặt thời gian có thể xếp
vào loại cổ nhất là Vũ trung tùy bút thì cha nói đến thể loại HN Theo Nguyễn Đức
Mậu: “HN là điệu thức quan trọng vào bậc nhất của ca trù mà cha đợc Phạm Đình
Hổ nói đến, điều đó cho phép chúng ta nghĩ rằng HN vào giai đoạn đó có thể đã cónhng cha đợc phổ biến hoặc có thể còn ở dạng nguyên sơ mà cha có tên gọi”
[60,21] Trong Vũ trung tùy bút Phạm Đình Hổ có nói đến điệu Hà Nam thời Lê Năm 1922, theo Xuân Lan - tác giả của Ca trù thể cách thì “bài HN cung nam, kép
hát gọi là hà nam, đầu hát gọi là HN” [48,8] Đây là những chi tiết mà các nhànghiên cứu sau này lấy làm cơ sở để nhận định: “HN phỏng theo khúc hà nam đời
Lê mà đặt ra” (Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề) [29,63], “Điệu HN đã đợc xây dựngtrên cơ sở làn điệu hát giai của lối hát cửa đình” (Ngô Linh Ngọc) [70,23] Tuynhiên, nội dung của điệu hà nam không đợc Phạm Đình Hổ ghi chép lại nên khó cóthể xác định khuôn thức ca từ của nó nh thế nào Về khuôn thức ca từ các điệu hànam, hát giai, hát lót, HN không khác gì nhau về gieo vần, số câu chữ, cả câu kếtthúc “HN cũng nh hát giai và hát lót nhng lúc hát lên âm điệu không giống nhau”
[29,134] Cho nên ý kiến của Xuân Lan, Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, NguyễnLinh Ngọc là thiếu cơ sở chắc chắn hoặc mới chỉ dừng lại ở dạng khả năng: “Hànam có thể là dạng thức rất sơ khai của điệu HN sau này” [13,1] Riêng trờng hợp
bài thơ Đại nghĩ bát giáp thởng đào giải văn của Lê Đức Mao, nh nhận định của nhiều nhà nghiên cứu không phải là HN Bài Chim trong lồng tơng truyền của
Nguyễn Hữu Cầu cũng cha có cứ liệu xác định Nguyễn Khản, anh ruột Nguyễn
Trang 37Du, nổi tiếng về sáng tác ca trù “viết xong bài nào thì những nho sĩ ngoài giáo ờng tranh nhau truyền tụng” [41,154], nhng trong sử sách và truyền thuyết không lu
ph-lại bài HN nào Năm 1931, trong Đào nơng ca, Nguyễn Văn Ngọc có nhắc rằng có
ngời cho “HN là lối nói sử” [71,28] Trơng Tửu trong Văn nghệ bình dân Việt Nam,
xuất bản năm 1951 nói rằng: “Điệu HN chỉ là những điệu nói sử” [90,85] Sau này,
Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại
cũng nhấn mạnh: “Thể HN bắt nguồn từ thể nói sử cổ truyền Việt Nam” [65,262]
Ưu Thiên Bùi Kỉ, năm 1932, trong tác phẩm Quốc văn cụ thể, lại cho “HN là biến
thể của song thất” [45,31] Năm 1950, Dơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học
sử yếu cũng nói HN là “một biến thể của hai thể song thất và LB” [31,154] Lại
Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cờng trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc
đến hết thế kỷ XIX [5,170] cũng dẫn lại ý kiến này khi chú thích thể HN Mới đây
nhất, Nguyễn Xuân Diện trong bài viết Một số vấn đề của HN còn cho biết: “Đã có
ngời cho rằng HN bắt nguồn từ Từ” [13,4] Tuy nhiên, về mặt hình thức thể loại,các thể nói sử, từ hay LB và song thất cũng khó xác nhận có một sự liên hệ hìnhthức với HN Mặt khác, các nhà nghiên cứu khi đa ra nhận định về những biến thểnày đều không có sự lí giải phân tích, không chỉ ra dấu hiệu xác định sự biến thểnên cha thể chấp nhận nh một nhận định khoa học để từ đó tìm về một thời điểmhình thành HN
Xét về lịch sử hình thành, vận động và phát triển của HN - nh một thể loạivăn học - đã đợc Nguyễn Đức Mậu khoanh vùng từ Lê Đức Mao, thế kỷ XVI đếncuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, với Nguyễn Bá Xuyến và Nguyễn Công Trứ; vàchia thành các giai đoạn: Trớc thế kỷ XIX, HN đã đợc lu truyền trong phạm vi nhất
định Những bài HN của Nguyễn Bá Xuyến đã thể hiện dấu ấn cảm quan của thời
đại về tài, sắc, cầm, kỳ, thi, tửu nhng cha đậm nét con ngời tài tử giai nhân của HN
về sau Đến nửa đầu thế kỷ XIX, HN ào ạt chiếm lĩnh địa bàn ca quán, địa bàn vănhọc với vai trò đặc biệt quan trọng của Nguyễn Công Trứ Ông là ngời có hứng thú
đặc biệt với thể thơ này, và là ngời đánh dấu khuôn hình, ổn định cho thể loại, quyết
định bớc chuyển chính thức: HN - từ một điệu thức ca trù thành một thể loại vănhọc (Khác với các ý kiến cho rằng HN ra đời từ điệu hà nam, điệu nói sử hay biếnthể của LB và song thất; nhận xét về bớc chuyển từ ca trù đến HN đã đợc Trần ĐìnhHợu [36,514-515] khái quát và Nguyễn Đức Mậu [60,24-26] phân tích khá chi tiết
Đây là nhận định đáng tin cậy) HN ở những thế kỷ này, đặc biệt ở Nguyễn CôngTrứ đã thể hiện con ngời thị tài, đa tình, ca tụng lạc thú, bộc lộ thái độ ngang tàng, tự
do, phóng túng Sau Nguyễn Công Trứ; Cao Bá Quát, Ngô Thế Vinh, Nguyễn QuýTân tiếp tục khẳng định xu hớng đó nhng nét ngang tàng, phóng túng cũng nh thái
độ đối với lạc thú đã giảm thiểu Đến cuối thế kỷ XIX, với Dơng Khuê, Chu MạnhTrinh, Trần Lê Kỷ…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ cái quan hệ ăn chơi hởng lạc tàn nhẫn, thú chơi thanh sắc đã
Trang 38khác trớc, đã có màu sắc đô thị mới tràn vào trong các quan hệ, các quan niệm Đầuthế kỷ XX, HN đã đợc đa vào các nội dung mới: tuyên truyền yêu nớc, cổ độngcách mạng và cùng thời kỳ này HN Tản Đà đã bộc lộ những cảm xúc yêu đơng,những nỗi sầu buồn hay cái ngang tàng của con ngời buổi giao thời…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ[60,22-55]
Sau một thời kì dài vận động và phát triển, thể loại HN đã đợc thử nghiệmqua nhiều chức năng khác nhau, chuyển tải nhiều nội dung khác nhau và cũng đã đalại những hiệu quả nghệ thuật cao HN là thể thơ có khả năng và dung lợng lớntrong việc phô diễn tâm tình và phản ánh xã hội Ngay bản thân HN cũng khôngthuần nhất một thể thơ nào mà dờng nh nó mang trong mình những đặc điểm u việtcủa các thể loại mà nó có ảnh hởng Nó chọn lọc lấy những gì hay nhất, giàu sứcbiểu cảm nhất mà lại phù hợp nhất trong phô diễn Chính nhờ khả năng dung nạp và
đồng hóa cao này mà HN có thể thực hiện nhiều chức năng và ôm chứa nhiều
nguồn nội dung t tởng Các tác giả sách Việt Nam ca trù biên khảo nhận định: “HN
rất phù hợp với những nội dung đứng giữa hai thái cực: một bên là những nội dungcô đọng quá dành cho thơ luật, một bên là những nội dung khai triển quá nh truyện
và ngâm dành cho LB và STLB” [29,138] Có thể bắt gặp trong HN t tởng chínhthống của Nho gia biểu hiện qua hình ảnh ngời quân tử gánh vác non sông, đauniềm nhân thế, quyết chí xông lên xốc lại giang sơn theo tinh thần tự nhiệm củaNguyễn Công Trứ Nhng văn chơng HN không chủ yếu nhằm chở đạo, khôngnhằm tới việc thuyết giáo hay rao giảng những nội dung nghiêm túc của luân lítrong học thuyết Khổng Mạnh HN cũng thuộc thể thơ “ngôn chí” nhng khác vớicái chí của Nho gia chính thống HN chỉ nhằm tới một nhu cầu rất chính đáng củacon ngời đó là nhu cầu giải trí “Có lẽ trong văn chơng của ta, cha có một thứ vănhọc nào nhằm đến giải trí nh HN” [13,5] Vì thế, chúng ta còn bắt gặp tinh thần củaThiền trong những bài HN thoát tục của Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thợng Hiền
Đặc biệt văn chơng HN còn chịu ảnh hởng đậm nét t tởng Lão Trang Chính t tởngLão Trang tạo nên cái hay, cái đặc sắc của văn chơng HN T tởng Lão Trang đã đếnvới văn học Việt Nam chủ yếu qua con đờng ảnh hởng từ văn học Trung Quốc Kể
từ khi HN ra đời hoàn toàn hớng tới nhu cầu giải trí của tầng lớp trí thức, chủ yếunơi phố thị, t tởng Lão - Trang đã tìm đợc mảnh đất phát triển với một sức sống mới.Theo Nguyễn Xuân Diện, t tởng Lão - Trang biểu hiện tập trung ở các khía cạnh: 1.Tinh thần tự do, tự tại thoát ra khỏi những quy phạm của Nho giáo; 2 Thiên nhiên
HN là thiên nhiên tiên giới và mộng ảo; 3 Hởng lạc đã trở thành một triết lí để thựchiện “vô” [13,6] Với những nội dung này, HN đã phát triển cao hơn hình thức miêutả, thuật, kể, tự tình của thơ ca trung đại Những năm cuối thế kỷ XIX, HN củaNguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng còn kiêm thêm chức năng trào phúng Đầu thế kỷ
XX, HN đợc cấp thêm một loại chức năng, nội dung mới: tuyên truyền yêu nớc, cổ
động cách mạng…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đTuy viết nhiều đề tài, thực hiện nhiều chức năng khác nhau nhng
Trang 39không phải với chức năng và chủ đề, nội dung nào, HN cũng có thể thành công.Mỗi một thể loại luôn có một u thắng và chỉ phù hợp với một loại chức năng, nộidung nhất định trong sự khu biệt với chức năng, nội dung các thể loại khác, làm nênnét đặc thù của nó HN vốn là thể thơ cột trụ của ca trù - bộ môn nghệ thuật âmnhạc truyền thống của Việt Nam “Về hình thức, nó không gò bó, hạn chế nh thơ Đ-
ờng Về làn điệu, HN sử dụng nhuần nhuyễn đủ năm cung huỳnh, pha, bắc, nam,
nao của âm luật ca trù, có khả năng thể hiện đầy đủ các mặt tình cảm vui, buồn,
hờn, giận, sâu nén, sôi nổi của con ngời” [70,26] Chất nhạc, chất trữ tình ở HN, do
đó, đã có sẵn từ trong cốt tủy Ngay bản thân tên gọi thể loại cũng có nghĩa là nóilên tâm tình, ý nghĩ bằng tiếng đàn, tiếng hát Khả năng trữ tình và dung lợng nhạccảm của lối thơ HN đã hấp dẫn phần đông các văn nhân đang cần nói lên cái tìnhcảm riêng t của mình Họ tựu trung dới các ca quán, thả hồn theo những tiếng cháttom tình tứ, mặc cho cái phóng túng của con ngời cá nhân trong mình tự do hiệnhữu Môi trờng hành lạc và sự hình thành, phát triển của ý thức con ngời cá nhân, ýthức bộc lộ tài và tình - những yếu tố mà Nho giáo kiềm tỏa - ở những năm cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã góp phần kích thích sáng tạo HN và sáng tác HN ban
đầu cũng chỉ nảy sinh, lu hành và đáp ứng nhu cầu tâm t của các nho sĩ trong môitrờng này Vì vậy, có thể nói HN chủ yếu là dùng để trữ tình Nếu có miêu tả, thuật,
kể thì cũng chỉ nhằm nói lên cái tình, cái chí của nhà nho Trữ tình là chức năng nổibật của thể loại HN Chức năng trữ tình của thể loại HN lại rất phù hợp để diễn tảcái tự do phóng khoáng, cái mối tình tài tử giai nhân, cái ý thức khoe mình mạnh mẽ
ở các nhà nho, vì thế nó đã lựa chọn ngay nội dung này làm nội dung biểu đạt chủyếu của thể loại Nguyễn Văn Ngọc khẳng định: “Dù thế nào văn HN cũng là mộtthể văn chơi, mà chỉ là văn chơi cũng đủ lắm rồi” [72,123] Nguyễn Đức Mậu đãcông phu khảo sát nội dung các tác phẩm đợc yêu thích của các tác giả HN có tên
tuổi nh: Chí nam nhi, Ngày tháng thanh nhàn, Ngất ngởng (Nguyễn Công Trứ);
Nhớ giai nhân, Tự tình, Tài hoa là nợ (Cao Bá Quát); Cô sen mơ bóng đè (Nguyễn
Khuyến); Gặp đào Hồng, đào Tuyết (Dơng Khuê); Hơng Sơn phong cảnh (Chu Mạnh Trinh); Gặp xuân, Hỏi gió, Cánh bèo (Tản Đà)…) Các bài viết tham gia tranh luận đã đ và nhận thấy nét nội dungchính có tính thống nhất trong số các bài HN đợc cho là hay đều nói cái tự do phóngkhoáng, cái mối tình tài tử giai nhân Mặt khác, đây cũng là nội dung, đề tài chủ yếuxuyên suốt tiến trình vận động của thể HN Nguyễn Văn Ngọc cắt nghĩa đặc điểmlàm cho HN hay là: “T tởng Lão - Trang và các “sách ngoài” giúp cho các bài HNsiêu việt” [72,127] Sau này, nhiều bài HN của Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Khángkhẳng định mạnh mẽ hào khí trợng phu nhng cái chính là để tuyên truyền, cổ vũcách mạng với “điểm xuất phát là trách nhiệm trớc đồng bào, đặt tinh thần đoàn thể
lên trên cá nhân nên dẫu có khí phách Ư bách trung niên tu hữu ngã, đấng trợng
phu tùng ngộ nh an trong Bài hát lu biệt của Huỳnh Thúc Kháng, hay quyết liệt,
Trang 40hùng tráng, thôi thúc nh trong Bài ca lu biệt của Phan Bội Châu thì cũng khác lạ với cái ngang tàng, ngất ngởng nhân sinh quý thích chí trong HN Tinh thần nồng nàn
yêu nớc trong các bài HN của các chí sĩ - những ngời “hào kiệt tự nhiệm”, đa lạicho HN một sức hấp dẫn mới, một sức lôi cuốn theo hớng khác nhng cũng xa lạ vớisức hấp dẫn của tinh thần hào sảng hay tình tứ trên nền nhạc tom chát nơi ca quán.Cái âm hởng hùng tráng của văn chơng tuyên truyền cổ động đó cũng mang chứacái cốt cách ngang tàng, cũng cổ động hành động phi thờng nhng cũng khác cáingang tàng mang tính thị tài của nhà nho trong HN Nguyễn Công Trứ, Cao BáQuát” [59,59] Rõ ràng, khả năng trữ tình, thể hiện cái phóng túng tự do của con ng-
ời cá nhân đã trở thành chức năng mang tính đặc thù và nội dung mang tính mặc
định của thơ HN truyền thống
2.3 Đặc trng chức năng và nội dung các thể loại truyền thống thuần
Việt trong Thơ mới 1932 - 1945
Tìm hiểu các thể thơ LB, STLB và thể tám chữ của các nhà thơ mới trongquan hệ đối sánh với các thể thơ LB, STLB và HN trong văn học truyền thống (trớc
Thơ mới 1932 - 1945) trên phơng diện chức năng và nội dung thể loại cho thấy Thơ mới đã có những cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống để tạo ra những nét đặc tr-
ng chức năng và nội dung riêng biệt của các thể loại truyền thống thuần Việt trong
Thơ mới, góp phần tạo bản sắc cho dòng chảy chung của thơ ca dân tộc.
tình một cách đắc lực Đơn cử nh các tác phẩm Truyện Kiều, Tống Trân Cúc Hoa,
v.v Chỉ có điều khi truyện thơ đang cần một phơng tiện biểu đạt thích hợp thì khả
năng kể chuyện của LB đợc khai thác triệt để hơn, còn khả năng trữ tình thì bị đẩyxuống vị trí ít quan trọng hơn mà thôi