1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tu từ nghệ thuật trong dân ca nam trung bộ luận văn thạc sĩ ngữ văn

113 235 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 548 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt lý thuyết tu từ học Các giáo trình và tài liệu về phong cách học tiếng Việt trước đây thườngkhảo sát và miêu tả đặc điểm tu từ theo lối đại cương: đi từ các lớp từ ngữ đượcphân l

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh

TRỊNH THỊ HUẤN

TU TỪ NGHỆ THUẬT TRONG DÂN CA NAM TRUNG BỘ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cái mới của đề tài 7

7 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 DÂN CA VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA PHẦN LỜI DÂN CA 8

1.1 Khái niệm dân ca 8

1.1.1 Tổng quan về dân ca Việt Nam 8

1.1.2 Phần nhạc và phần lời dân ca 8

1.1.3 Phân biệt dân ca với ca dao 10

1.2 Nghiên cứu hình thức nghệ thuật phần lời dân ca 13

1.2.1 Phần lời dân ca với tư cách là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ 13

1.2.2 Hình thức nghệ thuật phần lời dân ca 16

1.3 Tu từ nghệ thuật trong phần lời dân ca 18

1.3.1 Khái niệm tu từ nghệ thuật 18

1.3.2 Vấn đề tu từ nghệ thuật trong phần lời dân ca 19

1.4 Vài nét về dân ca Nam Trung Bộ 20

1.4.1 Đặc điểm vùng đất và con người Nam Trung Bộ 20

1.4.2 Đặc điểm của dân ca Nam Trung Bộ 21

Trang 3

Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN TU TỪ TRONG DÂN CA

NAM TRUNG BỘ 24

2.1 Khái niệm phương tiện tu từ 24

2.2 Một số phương tiện tu từ trong phần lời dân ca Nam Trung Bộ 25

2.2.1 Phương tiện tu từ từ vựng 25

2.2.2 Phương tiện tu từ ngữ nghĩa 52

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG DÂN CA NAM TRUNG BỘ 70

3.1 Khái niệm biện pháp tu từ 70

3.2 Một số biện pháp tu từ trong phần lời dân ca Nam Trung Bộ 70

3.2.1 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa 71

3.2.2 Biện pháp tu từ cú pháp 82

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, dân ca là một bộ phận

khá quan trọng Cùng với các thể tài dân gian khác, dân ca là tiếng lòng củanhân dân lao động được cất lên thành những điệu hát Nhưng xét về mặt lời,dân ca là một thể tài của văn học dân gian, có đầy đủ những yếu tố của tácphẩm nghệ thuật ngôn từ Nội dung trữ tình của dân ca cũng phong phúkhông khác gì ca dao Ta bắt gặp trong dân ca những "tiếng tơ đàn" ngân lênnhững giai điệu về tình yêu đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi,tiếng hát than thân, tiếng cười trào lộng… Xét về hình thức nghệ thuật, lờidân ca cũng là kho kinh nghiệm quí báu trong lĩnh vực nghệ thuật ngôn từ.Không phải ngẫu nhiên, nhiều nhà thơ tài năng ở các thời đại khác nhau đãtìm thấy ở ca dao và dân ca những bài học sáng tạo đáng giá Ta mới hiểu vìsao, đối với ngành Ngữ văn lâu nay, việc học tập, tìm hiểu, nghiên cứu cadao, dân ca vẫn chưa hề mất tính thời sự Từ những góc nhìn khác nhau, cácnhà nghiên cứu không ngừng cho ra đời các công trình có giá trị về mảng đềtài này Tuy thế, dân ca Việt Nam, nhất là bộ phận dân ca thuộc các vùngmiền trên đất nước vẫn còn ẩn chứa nhiều vấn đề thú vị, đòi hỏi được tìmhiểu kĩ lưỡng, sâu sắc hơn

1.2 Trên tấm "bản đồ văn hóa dân gian Việt Nam", miền đất Nam Trung

Bộ có nhiều nét đặc thù Bộ phận ca dao, dân ca của vùng đất này là một minhchứng sinh động Với những gì đã sưu tập được, ta có thể thấy tính đa dạng,phong phú và đặc sắc của ca dao Nam Trung Bộ ở cả phương diện nội dung lẫnhình thức biểu hiện Thế nhưng, trong thực tế, việc nghiên cứu ca dao, dân cacủa miền đất này vẫn chưa được tiến hành đầy đủ, đúng với những gì lẽ ra nó

được tìm hiểu Chọn vấn đề Tu từ nghệ thuật trong dân ca Nam Trung Bộ

làm đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi muốn đi sâu vào một trong những biểu

Trang 5

hiện đa dạng và đặc sắc của phần ca từ dân ca một vùng miền, nhằm khám pháthêm các giá trị tiềm ẩn, cắt nghĩa sức sống lâu bền của nó, đồng thời hiểu đượcnhững nét riêng về văn hoá của một vùng đất Đặt vấn đề này trong bối cảnhnghiên cứu của ngành Ngữ văn hiện nay, chúng tôi cho rằng đây là sự lựa chọn

có ý nghĩa

2 Lịch sử vấn đề

Việc tìm hiểu tu từ nghệ thuật (nghiên cứu ở phương tiện tu từ ngữ nghĩa)trong thơ ca dân gian đã và đang được nhiều người quan tâm từ hai góc độ: lýluận và nghiên cứu ứng dụng Tất nhiên, trong những công trình, bài viết mangtính lý luận vẫn có những ví dụ minh họa như là một phần ứng dụng Và ngượclại, trong những công trình ứng dụng, lại có những phần lý thuyết rất đáng đượctham khảo

2.1 Về mặt lý thuyết tu từ học

Các giáo trình và tài liệu về phong cách học tiếng Việt trước đây thườngkhảo sát và miêu tả đặc điểm tu từ theo lối đại cương: đi từ các lớp từ ngữ đượcphân loại theo bình diện phong cách (từ ngữ đa phong cách, từ ngữ khoa học, từngữ chính trị, từ ngữ khẩu ngữ, từ ngữ hành chính, từ ngữ văn chương); đến các

từ ngữ được phân loại theo quan điểm ngữ pháp học, từ vựng học (thành ngữ, từthuần Việt và từ Hán Việt, từ xưng hô, từ lịch sử); đi từ các cách tu từ cấu tạotheo quan hệ liên tưởng (so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, phúng dụ, hoán dụ, tượngtrưng) đến các tu từ cấu tạo theo quan hệ tổ hợp (điệp từ ngữ, đồng nghĩa kép, độtgiáng, tương phản, im lặng, tiệm tiến, nói giảm, khoa trương, chơi chữ, tập kiều,nói lái; đi từ một số kiểu câu thường dùng trong các phong cách (trong ngôn ngữkhoa học, khẩu ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật) đến các kiểu câu chuyển đổi tình thái,các kiểu câu ghép, các câu ngắn, câu dài, đến một số biện pháp tu từ (đảo, lặp cúpháp, sóng đôi cú pháp, câu tuần hoàn) (Cù Đình Tú, Võ Bình - Lê Anh Hiển,Nguyễn Thái Hòa, 1992)

Trang 6

Các cách khảo sát và miêu tả đặc điểm tu từ như trên sẽ không tránh khỏi

sự trùng lặp không chỉ với các bộ môn Từ vựng, Ngữ nghĩa, cú pháp mà còn là

cả với một bộ phận của phong cách (các phong cách chức năng) Hơn nữa, việcphân ranh giới không rõ ràng giữa phương tiện tu từ với biện pháp tu từ, và sựthiếu sót trong tính hệ thống, tính nhất quán của việc xác định từng khái niệm đãlàm cho học sinh khó nắm bắt và không biết sử dụng chúng

Ngoài ra lại có một cách khảo sát và miêu tả khác, xuất phát từ sự phânbiệt rõ ràng và sự trình bày có hệ thống đối với các phương tiện tu từ và biệnpháp tu từ Có thể nói phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý cơbản (ý nghĩa sự vật - lôgic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung mà tu từ học còngọi là màu sắc tu từ; còn biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạtđộng lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là trung hòa hay tu từ (cònđược gọi là diễn cảm) trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ

Trong hoạt động ngôn ngữ, cũng như trong mọi hoạt động khác của conngười, cần phân biệt mục đích, phương tiện, và biện pháp Người sử dụng ngônngữ như một phương tiện quan trọng nhất cần có ý thức rằng mình luôn có trongtay (trong đầu óc) hai loại phương tiện ngôn ngữ, đó là phương tiện trung hòa vàphương tiện ngôn ngữ tu từ (phương tiện tu từ); ngoài những biện pháp sử dụngngôn ngữ theo cách thông thường còn có những biện pháp sử dụng ngôn ngữmột cách đặc biệt, đó được gọi là biện pháp tu từ

Xuất phát từ cách hiểu phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trên để tìm hiểuvấn đề xác định, phân loại và miêu tả hai khái niệm cơ bản này trong phong cáchhọc tiếng Việt, để có thể đi đến một hướng xác định đúng đắn, có hệ thống về nộidung nghiên cứu những đặc điểm của tu từ của tiếng Việt trên các cấp độ (trêncấp độ từ vựng, trên cấp độ ngữ nghĩa, trên cấp độ cú pháp, trên cấp độ văn bản

Việc xác định, phân loại và miêu tả các phượng tiện tu từ cũng như cácbiện pháp tu từ đạt được tính hệ thống, tính nhất quán trong tất cả các cấp độngôn ngữ sẽ giúp cho người học luôn có ý thức về sự tồn tại của những phương

Trang 7

tiện tu từ trong thế đối lập (Tu từ học) với những phương tiện trung hòa; giúpcho người học thấy được tầm quan trọng nổi bật của sự đối lập quen thuộc, mới

mẻ giữa biện pháp thông thường và biện pháp đặc biệt (tức biện pháp tu từ)

2.2 Về nghiên cứu ứng dụng

Ca dao, dân ca chứa đựng cả một thế giới tinh thần của người lao độngngày xưa Thế giới đó vừa có cái hữu hình vừa có cái vô hình cho nên thế hệ concháu không thể nắm bắt hết được những gì mà cha ông ta đã gửi gắm, đã để lạitrong ca dao, dân ca Từ trước đến nay nghiên cứu ca dao, dân ca là việc làmliên tục, lâu dài và hình như không có kết thúc Đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về yếu tố tu từ trong ca dao, dân ca trữ tình nói chung, trong đó baogồm cả dân ca Nam Trung Bộ nói riêng của các tác giả như: Vũ Ngọc Phan, ChuXuân Diên, Cao Huy Đỉnh, Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn XuânKính, Đặng Văn Lung, Ninh Viết Giao, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Xuân Đức

Mặc dù chưa có công trình nào cụ thể đi sâu vào vấn đề tu từ nghệ thuậttrong dân ca Nam Trung Bộ, nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu củacác tác giả trên đã phần nào đưa ra được những kiến giải, kết luận có giá trị vềđặc điểm tu từ, màu sắc tu từ trong các tác phẩm văn chương nói chung, trong cadao nói riêng dưới ánh sáng của phong cách học, thi pháp học Các tác giả đánhgiá sắc thái tu từ qua việc chọn lựa, sử dụng các phương tiện, biện pháp tu từqua các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp

Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam (NxbKHXH

-1971) bằng những cứ liệu cụ thể đã đề cập đến nội dung phong phú của ca dao

dân ca Chu Xuân Diên trong cuốn Văn học dân gian (NxbĐH &THCN - 1991)

đã nói về ca dao dân ca với lao động sản xuất, ca dao dân ca với đời sống tìnhcảm của nhân dân lao động, ca dao, dân ca với cuộc đấu tranh giai cấp Nguyễn

Xuân Kính trong Thi pháp ca dao (NxbKHXH, Hà Nội -1992) đã đề cập đến

yếu tố không gian và thời gian trong ca dao, dân ca và nêu ra một số biểu tượng

như trúc, mai, hoa trong ca dao, dân ca.

Trang 8

Một số tác giả đã đi vào vấn đề tu từ nhưng chỉ phân tích ở một vài bài cadao dân ca cụ thể, như: Phan Đăng Nhật thì “Giải mã một chùm ca dao, tìm hiểuđặc điểm của xứ Lạng” - Văn hóa dân gian số 1 (1987); Võ Xuân Quế với “Vẻđẹp truyền thống qua một bài dân ca” - Văn hóa dân gian (1989); Đào Thản,Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Thế Lịch thì tìm hiểu “Ý nghĩa những câu ca” -Tạp chí Ngôn ngữ số 3, 1989

Đối với Dân ca Nam Trung Bộ, ta có thể thấy nổi bật một số tác giả: Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang, Hoàng Chương với cuốn biên khảo Dân ca

miền Nam Trung Bộ, tập 1,2, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1963 đã khái quát về mảnh

đất con người Nam Trung Bộ và nêu những nhận xét khái quát về giá trị dân caNam Trung Bộ Các tác giả viết: dân ca Nam Trung Bộ là bản trường ca trữ tìnhvừa thắm thiết tế nhị vừa mộc mạc Tính chất trữ tình đó chủ yếu được biểu hiện

trong quá trình trai gái yêu nhau nhà thơ Xuân Diệu trong lời bạt cho cuốn Dân

ca miền Nam Trung Bộ có nhan đề Sống với ca dao dân ca Nam Trung Bộ viết

ngày 16-5-1963 đã phát biểu cảm nghĩ chung về dân ca Nam Trung Bộ, và ông

đã đề cập tới cái độc đáo trong chất sống, chất tình của dân ca vùng này, nhưng

đó mới chỉ là những nhận xét khái quát nặng về cảm xúc chứ chưa đi sâu phântích, nghiên cứu

Ngoài những bài nghiên cứu về Dân ca Nam Trung Bộ có tính chất tổng

quan, còn có một số đề tài đã đi sâu nghiên cứu về ngữ nghĩa dân ca Nam Trung

Bộ như Khảo sát ngữ nghĩa lời thoại trong dân ca Nam Trung Bộ của Trịnh Thị

Mai với những phân tích khá cụ thể

Nghiên cứu Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa lớp danh từ trong ca dao xứ

nghệ và dân ca Nam Trung Bộ, Nguyễn Thị Ngọc kết luận: “Cùng với động từ,

danh từ là một trong hai lớp từ cơ bản trong hệ thống từ loại của một ngôn ngữnói chung và tiếng Việt nói riêng Trong hành chức, ở những thể loại văn bảnkhác nhau, nhất là ca dao, lớp danh từ này đã làm nên những giá trị nội dungriêng, hoặc nghĩa miêu tả hoặc nghĩa biểu tượng Nhờ đó, chúng góp phần làm

Trang 9

nên nét riêng, sự khác biệt của thể loại văn học dân gian thuộc các vùng miềnkhác nhau” [50, tr.92].

Nhìn chung, vấn đề đặc điểm ngôn ngữ của dân ca Nam Trung Bộ đã ítnhiều được đề cập trong một số bài báo hoặc luận văn thạc sĩ Tuy nhiên, cácphương tiện và biện pháp tu từ ở bộ phận văn học dân gian này thì vẫn chưađược khảo sát kĩ lưỡng Đây là một trong những động lực thúc đẩy chúng tôimạnh dạn đi vào đề tài này, với mong muốn đánh giá những giá trị của phần lời

ở một bộ phận dân ca của một vùng miền dưới góc nhìn ngôn ngữ học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc điểm tu từ nghệ thuật của

dân ca Nam Trung Bộ (phần lời) được sưu tập trong cuốn Dân ca miền Nam

Trung Bộ, (tập II) của Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang, Nxb Văn học,

- Vận dụng thao tác phân tích ngôn ngữ học vào việc tiếp cận tác phẩmthơ ca dân gian, rút ra những nguyên tắc cần thiết cho việc tiếp nhận tác phẩmthể tài này đang đặt ra trong nhà trường hiện nay

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Trên cơ sở lí thuyết, tìm hiểu các phương tiện và biện pháp tu từ trongphần lời dân ca Nam Trung Bộ

Trang 10

- Khảo sát các biện pháp tu từ được sử dụng trong dân ca Nam Trung Bộ.

- Xác định vai trò giá trị của các tu từ nghệ thuật trong dân ca Nam Trung

Bộ thể hiện ở mặt nội dung và nghệ thuật với những nét đặc trưng riêng biệt

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng và phối hợp các phươngpháp chính sau đây:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp miêu tả

- Phương pháp phân tích diễn ngôn

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Cái mới của đề tài

Đây là công trình đầu tiên ở qui mô một luận văn thạc sĩ khảo sát, đánhgiá một cách kĩ lưỡng, toàn diện về các phương tiện và biện pháp tu từ được sửdụng trong phần lời của dân ca Nam Trung Bộ Trên cơ sở những tư liệu đượckhảo sát và phân tích, đối sánh với ca dao, dân ca của một số vùng miền, côngtrình sẽ nêu bật những nét riêng về nghệ thuật biểu hiện của dân ca Nam Trung

Bộ, qua đó thấy được những đặc sắc về văn hóa của một vùng đất

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển

Trang 11

Chương 1 DÂN CA VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT

CỦA PHẦN LỜI DÂN CA 1.1 Khái niệm dân ca

1.1.1 Tổng quan về dân ca Việt Nam

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về dân ca Từ điển thuật ngữ văn học

do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên định nghĩa: “Dân ca là

một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động

tác, điệu bộ, kết hợp với nhau trong diễn xướng” [22, tr.89] Trong công trình Tục

ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Dân ca là những bài

văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổbiến rộng rãi trong nhân dân” [56, tr 43]

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Dân ca là bài hát

lưu truyền trong dân gian không có tác giả” [57, tr.78]

Từ những định nghĩa trên đây, ta có thể thấy nổi lên mấy nét cơ bản khi xácđịnh bản chất của thể loại này Dân ca là một thể loại ca hát dân gian, chủ yếuxuất phát từ môi trường nông ngư nghiệp ở thôn làng, rất có thể bắt đầu từ một

cá nhân có năng khiếu dệt nhạc vào một bài ca dao (thơ dân gian), rồi đượctruyền miệng và nhào luyện, uốn nắn, gọt giũa qua nhiều người trong tập thể, từlàng này đến làng khác, từ thời này qua thời khác, có thể sinh ra nhiều dị bảnkhác nhau, thường khó xác định được gốc xuất phát, nói chi đến tên tác giả hoặctập thể đầu tiên phác hoạ ra làn điệu gốc của bài dân ca Từ môi trường nôngngư nghiệp đó, dân ca có nhiều chức năng trong các sinh hoạt của cuộc sống,như chức năng hỗ trợ các thao tác lao động trên cạn, trên nước , chức năng giaotiếp tạo cơ hội cho nam nữ trao đổi tâm tình

1.1.2 Phần nhạc và phần lời dân ca

Quan điểm về dân ca của các tác giả nêu trên có chỗ khác nhau, nhưng tất

cả đều khẳng định: dân ca bao gồm cả phần nhạc và phần lời

Trang 12

Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (tập 2), Hoàng Tiến Tựu đã viết:

“Nếu ca dao chủ yếu là phần lời của các loại dân ca trữ tình ngắn và tương đốingắn, thì dân ca là toàn bộ các hình thức ca hát dân gian bao gồm cả lời, nhạc vàcác yếu tố khác (như động tác, điệu bộ khi diễn xướng, hình thức sinh hoạt, lềlối hát …) Dân ca người Việt cũng như các dân tộc khác trên thế giới đều phátsinh rất sớm trên cơ sở lao động tập thể của nhân dân thời cổ đại và luôn luônvận động, phát triển, gắn liền với sự phát triển về mọi mặt của đời sống nhândân, nhất là với tập tục truyền thống của nhân dân lao động, trong tín ngưỡngcũng như trong sinh hoạt gia đình và xã hội” [67, tr 140]

Như chúng ta đã biết, dân ca Việt Nam rất phong phú và đa dạng về thểloại: ở những loại dân ca nhạc điệu đơn giản, không thay đổi hoặc ít thay đổi(như các điệu hò lao động, hát ru em, hát trống quân, hát dặm, hát ví NghệTĩnh…) thì chức năng nguồn gốc được thể hiện rõ trong phần nhạc và một số ítlời cổ, còn phần lớn lời ca xuất hiện sau lại chủ yếu nhằm thực hiện chức năngsinh hoạt văn nghệ Còn ở các loại dân ca nhạc điệu phát triển phong phú, phứctạp (như dân ca quan họ Bắc Ninh) thì mối quan hệ giữa nhạc và lời chặt chẽhơn Mỗi giai điệu (hay mỗi “giọng” “điệu” hoặc “làn điệu”) chỉ có một số lời

ca tương ứng phù hợp nhất định, cho nên phần lời không phát triển mạnh nhưcác loại dân ca nhạc điệu đơn giản, vậy nên có thể nói rằng trong dân ca, sự pháttriển giữa lời và nhạc ít nhiều có tỉ lệ nghịch với nhau

Cuốn Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên viết:

“Dân ca là những bài hát và câu hát dân gian trong đó cả phần lời và phần giaiđiệu đều có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng hình tượng hoàn chỉnhcủa tác phẩm Mối quan hệ hữu cơ giữa lời ca và giai điệu là một trong nhữngđặc điểm tạo nên tính chất phong phú về thể loại của dân ca” [34, tr.411]

Nói đến dân ca không chỉ nói đến nhạc điệu không thôi mà còn phải nóiđến hàng loạt câu hát dân ca Mối quan hệ giữa lời và nhạc trong một tác phẩmdân ca là một trong những đặc điểm tạo nên tính chất phong phú về thể loại của

Trang 13

dân ca Nói cách khác, khi chúng ta đánh giá một câu hát hoặc một bài hát dângian với tư cách là một sáng tác ngôn ngữ cần phải chú ý đến mối quan hệ giữamột giai điệu, một giọng hát với một hệ thống câu hát hoặc bài hát Mối quan

hệ này là sự gắn kết những sinh hoạt thực tiển của nhân dân Ví dụ: đến với dân

ca quan họ Bắc Ninh là đến với những điệu hát địa phương mà nhạc điệu rấtphong phú Về hình thức, hát quan họ có hàng trăm điệu Ở đó, người ta thấyxen lẫn vào đủ các giọng ca, lý, ngâm, kể truyện, du con, đò đưa, cò lả, trốngquân,… cái đặc biệt của nó là hoàn toàn phục vụ cho nhạc, cho nên trong lời ca,

có những tiếng hát chệch đi, tức là hát không có đệm đàn sáo, thanh nhạc trơnkhông có nhạc kèm

Ở một bài hát quan họ, những tiếng láy đi láy lại, những tiếng đệm, nhữngtiếng đưa hơi rất nhiều nó làm cho lời ca lên bổng xuống trầm như cung đàn,cho nên một điệu quan họ cần phải kết hợp giữa nhạc và lời một cách hài hòa thìngười ta mới cảm nhận hết cái say sưa của nhạc điệu cũng như cảm nhận đượclời ý hay của nó

Người ơi ! người ở đừng về, Người ơi ! người ở đừng về, Người về em vẫn (i i i i i) (Có mấy) khóc (i) thầm, Đôi bên (là bên song như) vạt áo (Mà này cũng có a ướt đầm) Ướt đầm ư như mưa.

Người ơi ! người ở đừng về.

………

1.1.3 Phân biệt dân ca với ca dao

Vũ Ngọc Phan viết: “đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta đãtước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca thìchúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao Do đó, người ta nói:

Trang 14

giữa ca dao và dân ca, danh giới không rõ” [56, tr.39] Song theo ý kiến của tácgiả, “ca dao của ta có những bốn chữ năm chữ, sáu tám hay hai bẩy sáu tám, đều

có thể ngâm được nguyên câu, không cần tiếng đệm như người ta ngâm thơ vậy.Còn dùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao sẽ biến thành dân ca, vì hát yêucầu phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm ” [56, tr 40]

Chẳng hạn ta có bài ca dao sau:

Trống cơm khéo vỗ nên bông Một bầy con nít lội sông đi tìm

Thương ai con mắt lim dim Một bầy con nhện đi tìm dăng tơ

Thương ai duyên nợ tang bồng

Muốn cho bài ca dao này thành khúc điệu của hát quan họ Bắc Ninh, ta

phải thêm vào: (tình bằng) có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ (ấy mấy) vông nên

vông

Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác

và có thể xây dựng thành các làn điệu dân ca Còn dân ca là những câu hát đãthành khúc điệu Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngã nhiều

về mặt hình thức “Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao là

ở chổ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhấtđịnh, hay ở những địa phương nhất định Dân ca thường mang tính địa phương,không như ca dao là những bài ít có địa phương tính, dù nội dung ca dao có nói

về một địa phương nào thì cũng vẫn được phổ biến rộng rãi Ví dụ bài ca dao:

Đồng đăng có phố kỳ lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh…

Hay bài ca dao:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ…

thì nhân dân nhiều nơi đều biết ngâm nga” [56, tr.41]

Trang 15

Nguyễn Xuân Kính, một người đã có công trình nghiên cứu về văn học

dân gian đã viết trong Thi pháp ca dao: “Dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc

bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môitrường khung cảnh ca hát Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca daongười ta nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu

và thể thức hát nhất định Như vậy không có nghĩa là toàn bộ hệ thống nhữngcâu hát của một loại dân ca nào đó (như hát trống quân, hát quan họ) cứ tước bớttiếng đệm, tiếng láy thì sẽ đều là ca dao” [35, tr.56]

Hầu hết các loại dân ca đều được xây dựng trên cơ sở những câu ca dao,tùy theo từng loại dân ca mà người ta thêm vào những tiếng đệm lót Đặc điểmcủa những tiếng đệm ấy lại cấu tạo nên những giai điệu riêng biệt của từng loạidân ca Khi xây dựng một bài ca dao thành dân ca, người ta chỉ cần thêm vàonhững tiếng đệm, tiếng láy theo yêu cầu của điệu hát

Ví dụ như trong dân ca quan họ Bắc Ninh:

… người về em vẫn (i i i i i có mấy) trông theo,

Trông (ư ư) nước (tình chung là như) nước chảy,

(Mà này cũng có a trông bèo)

Trông bèo (là) bèo trôi…

Những tiếng trong ngoặc là những tiếng đệm lót, những tiếng đưa hơi…làm nên yêu cầu của điệu hát

Về sự phân biệt giữa ca dao và dân ca, Đinh Gia Khánh cho rằng: “Giữa

ca dao và dân ca như vậy là không rõ ranh giới rõ rệt Sự phân biệt giữa ca dao

và dân ca là ở chỗ khi nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến những lời thơdân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thểthức hát nhất định nữa” [34, tr 437]

Ca dao thường là lời của các bài hát dân ca đã được tước bỏ đi nhữngtiếng đệm, tiếng láy…

Trang 16

Tóm lại, khi nhắc đến ca dao, người ta thường nghĩ đến lời ca Khi nhắcđến dân ca người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định Nhưvậy, không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào

đó (như hát trống quân, hát quan họ, hát ghẹo, hát phường vải ) cứ tước bớttiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi, thì sẽ đều là ca dao Ca dao là những sángtác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mangnhững đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Vì thế, ca dao trở thànhmột thuật ngữ dùng để chỉ một thứ thơ dân gian

1.2 Nghiên cứu hình thức nghệ thuật phần lời dân ca

1.2.1 Phần lời dân ca với tư cách là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

Nếu nói đến các phạm trù hình thức trong phần lời dân ca, thì người tathường đề cập đến thể thơ và cấu tứ trong phần lời dân ca

Về thể thơ: trong ca dao dân ca truyền thống của người Việt có mặt hầu hếtcác thể thơ được dùng trong các thể loại văn vần khác nhau của dân tộc như: tụcngữ, câu đố, vè… Các thể thơ đơn giản (câu ngắn, ít âm tiết) thường được gọi làcác thể nói lối hay các thể vãn (bao gồm vãn hai, vãn ba, vãn bốn, vãn năm, mỗicâu gồm hai, ba, bốn, năm âm tiết) Các thể thơ này đều thấy có trong tục ngữ,câu đố và được dùng phổ biến trong đồng dao và ca dao nghi lễ, phù chú

Hai thể loại vãn hai và vãn bốn thường dễ lẫn với nhau, khó mà phân biệtrạch ròi Vì câu thơ bốn âm tiết (vãn bốn) được ngắt theo nhịp 2/2 thì đọc lênnghe cũng tương tự như câu thơ hai âm tiết (vãn hai) Và ngược lại, những câuhai âm tiết, nếu đọc nhanh (không ngừng lâu ở âm tiết thứ hai) thì nghe cũnggần như thể vãn bốn Ví dụ, những câu thơ sau đây có thể đọc thành vãn hai hayvãn bốn đều được:

Chi chi chành chành Cái đanh nổi lửa Con ngựa chết trương

Trang 17

Ba vương thượng đế Cấp kế đi tìm

Ú tim ù ập…

Bên cạnh yếu tố nhịp, thể vãn hai hay vãn bốn còn dễ hòa lẫn với nhau doyếu tố vần Vần trong thể vãn bốn được gieo cả ở tiếng bằng lẫn tiếng trắc, cả ởcâu cuối (vần cuối - cược vận) lẫn giữa câu (vần lưng - yêu vận), cho nên khiđọc muốn chuyển thành vãn hai rất dễ dàng, thuận lợi

Ở thể vãn ba, ít được dùng hơn so với hai thể trên nhưng tính độc lập của

nó cũng rất cao, khó lẫn với các thể khác:

Xỉa cá mè

Đè cá chép Chân nào đẹp

Đi buôn men…

Nhưng hai thể thơ được dùng nhiều nhất đồng thời cũng tiêu biểu và quantrọng nhất trong ca dao dân ca truyền thống là lục bát và song thất lục bát

Đối với thể lục bát (bao gồm cả lục bát chỉnh thể - mỗi câu gồm hai vế, vếtrên sáu âm tiết, vế dưới tám âm tiết: “thượng lục hạ bát” và “lục bát biến thể” -

số âm tiết trong mỗi vế có thể tăng hoặc giảm) được sử dụng rộng rãi và thườngxuyên nhất trong ca dao các địa phương trong cả nước Đây là thể thơ phù hợpvới ngôn ngữ Việt và tâm hồn Việt Do đó, nó cũng là thể thơ sở trường nhất củacác nhà thơ Việt, kể cả văn học dân gian và bác học Nhiều áng thơ hay trong

văn học dân tộc thuộc thể lục bát (Truyện Kiều - Nguyễn Du, rồi Nguyễn Bính,

Huy Cận, Nguyễn Duy…)

Còn thể song thất lục bát (hay lục bát gián thất) tuy không phổ biến vàgiàu sức biểu hiện bằng lục bát, nhưng cũng là một thể thơ dân gian, bắt nguồn

từ dân ca mang cốt cách dân tộc độc đáo, khác với thể thơ bảy chữ (thất ngôn)của Trung Quốc Thơ thất ngôn của Trung Quốc gieo vần ở cuối câu (vần chân -cước vận), ngắt nhịp ở tiếng thứ tư (nhịp 4/3), còn thể song thất lục bát của Việt

Trang 18

Nam thì hai câu bảy được gieo vần trắc ở câu thứ nhất và tiếng thứ năm câu thứhai (nghĩa là có cả vần chân và vần lưng), ngắt nhịp ở tiếng thứ ba (nhịp 3/4).

Do những đặc điểm đó mà thể thơ này có khả năng thể hiện riêng, khác với thểthất ngôn Trung Quốc và cũng khác với thể lục bát Nó diễn tả được những trạngthái tình cảm đặc biệt, những nỗi buồn đau uất hận ở mức độ cao, những sự gaycấn, khúc mắc, xung đột gay gắt trong tâm trạng Có được khả năng biểu hiệnđặc biệt này, là do sự gieo vần ở tiếng trắc gây nên

Bên cạnh vần trắc (ở cuối câu thứ nhất và tiếng thứ năm câu thứ hai), thểsong thất trong lời dân ca còn có thêm vần bằng ở giữa câu thứ nhất, có khi mởbài và kết thúc bằng thơ lục bát, còn bốn câu bảy nằm ở giữa như cái lõi của bài

ca dao

Về cấu tứ trong ca dao thì sao? Trong mỗi lời dân ca không chỉ có ý màcòn có tứ Ý là nội dung tương đối độc lập với hình thức, còn tứ đã được tổchức, thể hiện dưới một hình thức nghệ thuật nhất định, làm nên cái hay riêngcủa mỗi lời dân ca Trong những lời dân ca truyền thống, thì những lời dân cagiống nhau hoặc gần nhau về ý nhưng có cấu tứ khác nhau khá phổ biến Khigiảng dạy và học tập, điều khó nhất là tìm được, nắm được cái tứ riêng của từngbài để hiểu đúng được cái hay riêng của nó Nếu chỉ sa vào việc tìm ý mà coinhẹ hoặc bỏ qua việc tìm tòi, phát hiện tứ và cấu tứ của từng bài thì sẽ làm chocông việc giảng dạy và học tập ca dao trở nên nghèo nàn, đơn điệu, khô cứng

Khi nhắc đến cấu tứ và nghệ thuật làm ca dao, các nhà nghiên cứu thườngnêu lên ba kiểu cấu tứ phổ biến trong ca dao là thể phú, thể tỉ, thể hứng và coi hầuhết ca dao truyền thống đều được làm theo một trong ba thể ấy

Nếu dựa vào sự phân chia cấu tứ, có thể phân ca dao truyền thống thànhhai bộ phận lớn: bộ phận thứ nhất gồm những bài (kể cả những câu độc lập)không có cấu tứ độc đáo (hay nói cách khác là sự cấu tứ còn ở trình độ rất thấp,rất tự nhiên, ngộ nghĩnh nhiều khi có tính chất ngẫu nhiên, tản mạn) Phần lớnnhững bài đồng dao, những bài ca khấn nguyện, những câu hát bông đùa bâng

Trang 19

quơ đều thuộc loại này Bộ phận thứ hai, gồm những bài có cấu tứ độc đáo rõrệt Phần lớn những bài ca dao trữ tình có giá trị, được nhiều người lưu truyền

ưa thích đều thuộc bộ phận này

1.2.2 Hình thức nghệ thuật phần lời dân ca

Như chúng ta đã biết, phần lời dân ca chính là ca dao, khi nhắc đến ca daongười ta thường nghỉ đến lời ca, khi nhắc đến dân ca người ta lại nghỉ đến cáclàn điệu của nó Phần lời dân ca thường là những bài ngắn, hoặc hai, bốn, sáuhay tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú Dưới hình thức truyền miệng, lời

ca đã được qua nhiều người, nhiều thế hệ sửa chữa, nhưng nó vẫn giữ được chủ

đề tư tưởng và tính chất mộc mạc, không bao giờ cầu kỳ Lời của dân ca cónhiều thể, mà nhiều hơn cả là thể sáu tám, thể bốn chữ, thể năm chữ và thể haibảy sáu tám cũng có, nhưng không nhiều Đặc điểm phần lời dân ca về hình thức

là vần vừa sát vừa lại thanh thoát, không gò ép, lại giản dị và rất tươi tắn Nónhư lời nói thường mà lại rất nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả đượcnhững tình cảm sâu sắc Phần lời của dân ca đã biết lợi dụng những âm thanh,nhạc điệu của tiếng Việt Nam ở những tiếng đơn, tiếng kép, tiếng ghép, nên khi

tả người, tả việc, tả hình dung, tả tiếng kêu, tả cảnh rất là tài tình Ví như tả mộtcảnh buồn thì:

Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển bắc, Hạt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên

Mưa đây là mưa ngoài trời và cũng là mưa cả trong lòng những ngườiđang nặng về yêu đương Những tiếng như “sầm sịch”, “rỉ rắc” dùng rất đắttrong lời ca và những tiếng bằng trắc kia nổi lên như một cung đàn

Khi tả về cảnh vật hay con người, chuyện to hay chuyện nhỏ thì nhịp điệucủa câu ca không những ăn khớp với giọng thở than, với tư tưởng đồng lòng hợpsức trong sự vật lộn với thiên nhiên mà đi với cảnh gió thổi, nước triều lênxuống cho nên về mặt tả cảnh, tả tình thì không một hình thức văn chương nào

Trang 20

khác ăn đứt được hình thức diễn tả của phần lời dân ca, nó vừa sâu lắng vừagiàu nhạc điệu.

Chiếc buồm nho nhỏ Ngọn gió hiu hiu…

Nay nước thủy triều, Mai lại nước rươi…

Sóng sâu, sóng cả em ơi!

Chờ cho sóng lặng, Buồm xuôi, ta xuôi cùng.

Trót đa mang vào kiếp bềnh bồng, Xuống ghềnh, lên thác,

Thân em như hạt mưa rào, Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

Hình ảnh “hạt mưa” vừa nói lên bản chất trong trắng của người con gái, đồngthời lại nói lên được mối lo lắng, sợ hãi của cô ta dưới một chế độ mà quyền hànhđều ở cha, anh, không bao dung luyến ái tự do

Chúng ta thấy rằng, nghệ thuật nhân cách hóa, được áp dụng rất nhiều ởphần lời của dân ca Từ vật vô tri vô giác đến chim muông, khi các lời ca được

nói đến là đều gắn cho chúng những tâm tình, ý nghĩ như người Nào là trâu, bò,

lợn, chó, mèo, chuột, gà, chim sẻ, chim sáo, chim chích chèo, con cò, con vạc,

Trang 21

con tôm, con cá bống, con cóc, cái kiến… và mượn cả một số cây để ví với người

này người nọ, như tre, trúc, mai, đào, liễu, mơ, mận, huệ, lan…

Từ những hình ảnh cụ thể, nhân dân đã gửi vào đó những yêu thương,những khó khăn vất vả trong cuộc sống đời thường Từ đó để họ thấy cuộc sốngcủa họ tươi đẹp hơn

1.3 Tu từ nghệ thuật trong phần lời dân ca

1.3.1 Khái niệm tu từ nghệ thuật

Trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Cù Đình Tú lí

giải, “Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu nguyên tắc,quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngônngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định trong nhữngphong cách chức năng ngôn ngữ nhất định” [63, tr.29]

Phong cách học là khoa học nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ, là khoahọc về các quy luật nói và viết có hiệu lực cao, nghĩa là, nói và viết đạt đượctính chính xác và tính thẩm mĩ trong mọi phạm vi hoạt động của giao tiếp xãhội Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Ngônngữ được sử dụng có hiệu quả cao có nghĩa là ngôn ngữ phải giúp con ngườichuyển tải được một cách đầy đủ nhất những nội dung cần thực hiện trong giaotiếp (kể cả dạng nói và dạng viết)

Phong cách học có vai trò to lớn trong việc nghiên cứu, xác định cái đẹpcủa ngôn ngữ; nghiên cứu tác dụng trở lại của hình thức ngôn ngữ đối với nộidung biểu đạt, tức là cũng nghiên cứu sự lựa chọn, sử dụng các phương tiệnngôn ngữ phù hợp nhất với nội dung tư tưởng, tình cảm trong những hoàn cảnhgiao tiếp nhất định

Muốn cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, cần khảo sát, phân loại

và miêu tả có hệ thống phương tiện tu từ và biện pháp tu từ được sử dụng trongvăn bản Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản (ýnghĩa sữ vật - lôgic) ra, chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ; còn

Trang 22

biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phươngtiện ngôn ngữ, không kể trung hòa hay tu từ (còn được gọi là diễn cảm) trongmột ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao.

1.3.2 Vấn đề tu từ nghệ thuật trong phần lời dân ca

Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ là khái niệm cơ sở của phong cáchhọc Mọi hoạt động ngôn ngữ đều có mục đích, phương tiện (công cụ) biện pháp(cách thức) nhất định Muốn cảm nhận, chiếm lĩnh giá trị đích thực của tác phẩmvăn học cần phải nắm vững và đánh giá được chức năng và vai trò của phươngtiện tu từ và biện pháp tu từ - những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị thẩm mĩ.Phân loại, phân tích đánh giá được các phép tu từ là nắm chắc chìa khóa để mởcánh cửa đi vào cảm thụ giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn chương

Phương tiện và biện pháp tu từ là những yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹpcủa tác phẩm văn học dân gian, nhất là thơ ca trữ tình Do yêu cầu biểu đạt của

nó, ca dao là thể loại mà ở đó, các phương tiện và biện pháp tu từ được sử dụngmột cách phổ biến nhất

Chỉ cần đọc qua ca dao của bất cứ vùng miền nào, cũng có thể dễ dàngnhận thấy tác giả dân gian thật phóng túng về phương diện tu từ Tu từ ngữ âm(cách gieo vần, tạo nhịp, phối ứng thanh điệu, sử dụng từ láy, phép điệp âm) lànhững biện pháp được dùng với tần suất cao Về tu từ từ vựng, có thể nhận thấy

sự khác biệt của các lớp từ mang dấu ấn phong cách như từ địa phương, từ địadanh, từ nghề nghiệp, từ thi ca, từ sinh hoạt trong ca dao thuộc mọi chủ để Về

tu từ ngữ nghĩa, so sánh, nhân hóa, thậm xưng, chơi chữ, nói giảm, nói tránh

là những biện pháp rất được ưa dùng trong ca dao Về tu từ cú pháp, phép songsong, phép lặp, câu hỏi tu từ cũng được sử dụng nhiều Có thể khẳng định, cadao là mảnh đất màu mỡ cho việc nghiên cứu các biện pháp và phương tiện tu

từ trong văn học

Từ xưa đến nay, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, thi pháp học đã ítnhiều đề cập đến vấn đề tu từ trong ca dao trữ tình Việt Nam như Vũ Ngọc

Trang 23

Phan, Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Hoàng Tiến Tựu, TriềuNguyên… Các tác giả đã đưa ra những kiến giải, kết luận có giá trị về đặcđiểm tu từ, màu sắc tu từ trong các tác phẩm văn chương nói chung, trong cadao nói riêng qua việc lựa chọn, sử dụng các phương tiện, biện pháp tu từ quacác mặt từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ âm, từ đó, đưa ra những kếtluận khoa học có giá trị.

1.4 Vài nét về dân ca Nam Trung Bộ

1.4.1 Đặc điểm vùng đất và con người Nam Trung Bộ

Vùng đất Nam Trung Bộ bao gồm cả vùng rừng núi, cao nguyên và vùngđồng bằng Thời đầu kháng chiến mười tỉnh Nam Trung Bộ được chia thànhkhu V, VI Đến năm 1949, để tiến kịp tình hình phát triển của chiến sự toànquốc, ba khu này sát nhập thành liên khu V Quân khu V là dãy Nam TrườngSơn vĩ đại chạy dài từ đèo Hải Vân tới sát đồng bằng Nam Bộ, theo hướng bắcnam rồi quay sang đông bắc, tây nam, chia vùng đất này ra làm hai miền: caonguyên và miền xuôi

Vùng cao nguyên là xứ sở của nền văn nghệ phong phú với những bảnanh hùng ca nổi tiếng như Đam San, Xinh Nhã

Miền xuôi Nam Trung Bộ gồm bảy tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, BìnhĐịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận Ở đây đều là nhữngtỉnh có đất đai màu mỡ, có nhiều thắng địa của biển và núi Đó là núi Ba Nà, bánđảo Sơn Trà, chùa Non Nước, động Linh Nham, Ngũ Hành Sơn, Hội An (QuảngNam), con sông Thi Nai (Bình Định)… Những thắng địa ấy luôn là cảm hứngcho những câu dân ca Nam Trung Bộ trữ tình sâu lắng Ở vùng đất Nam Trung

Bộ này, ngoài những cánh đồng lúa thì còn có những cánh đồng mía, nhữngrừng quế bạt ngàn Và cây quế trở thành một hình ảnh rất quen thuộc trong cuộcsống của người dân Nam Trung Bộ, và nó đã đi vào trong những làn điệu dân cacủa vùng này một cách rất tự nhiên:

Trang 24

Xin đừng thấy quế phụ hương Quế già quế trụi, hương còn thơm xa

Nam Trung Bộ có thể nói là một vùng đất vừa có đồng bằng vừa có núivừa có biển Dọc bờ biển của bảy tỉnh, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề đánh

cá, làm muối, làm nước mắm, với truyền thống văn hóa chưa phải đã lâu đời

Nghề đánh cá là một cuộc vận lộn của con người hàng ngày với biển cả.Việc đi thuyền của nam giới đã thành mối lo lớn nhất trong lòng người phụ nữ

Và đây cũng chính là nguyên nhân chính cắt nghĩa cho sự ra đời của những điệu

hò khỏe khoắn cùng những lời hát tha thiết yêu thương

Nhân dân Nam Trung Bộ cũng rất ưa chuộng văn nghệ Ở đây, có cả mộttruyền thống hát bài chòi và hát bội lâu đời Đây cũng là xứ sở của những điệuhò: đẩy che mía, hò giã gạo, hò xay lúa (vùng Bình Định, Quảng Nam, PhúYên, Khánh Hoà) Mặt khác, nơi đây còn là quê hương của một loại vè nổitiếng không thể trộn lẫn đó là vè xứ Quảng

Hoàn cảnh địa lí, kinh tế, cùng các cuộc đấu tranh quyết liệt với thiênnhiên và ngoại xâm đã hun đúc nên có tinh thần kiên cường bất khuất của conngười Nam Trung Bộ Tâm hồn con người nơi đây cũng rất chân thành, mộcmạc, nhưng không kém sôi nổi, phong phú Tất cả đều để lại dấu ấn đậm néttrong những làn điệu dân ca

Hơn nữa, vốn được tiếp thu nhiều nguồn văn hóa: từ ngoài bắc tràn vào,

từ Tây Nguyên lan xuống, từ Nam bộ và Khơ me đổ ra và nguồn ca nhạc ChiêmThành ở ngay địa phương, người dân Nam Trung Bộ đã tạo cho mình hàng ngàncâu hát, hàng trăm làn điệu dân ca phong phú, đủ giữ một vị trí đáng kể trongkho tàng dân ca Việt Nam

1.4.2 Đặc điểm của dân ca Nam Trung Bộ

Trong cuốn Dân ca miền Nam Trung Bộ nhóm sưu tầm đã nhận định: “Do

điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có những điểm căn bản giống nhau, nội dungdân ca miền Nam Trung Bộ đã mang tất cả đặc điểm của dân ca Việt Nam, như

Trang 25

tính đạo đức, tính hiện thực, tính chiến đấu… Cũng như các loại dân ca khác,dân ca miền Nam Trung Bộ là bản trường ca trữ tình vừa thắm thiết tế nhị, vừagiản dị mộc mạc” [11, tr.43].

Giống như dân ca Việt Nam nói chung, dân ca miền Nam Trung Bộ đã đềcập đến một trong những quyền lợi căn bản của con người Đó là quyền tự doyêu đương của thanh niên nam nữ

Cũng như các vùng khác, nhân dân miền xuôi Nam Trung Bộ đã dùng dân

ca để truyền lại cho nhau những kinh nghiệm sinh hoạt Khá nhiều công việc laođộng được đưa vào làm bối cảnh cho những câu hò, câu lý bay bướm Từ việccấy cày:

Em ôm bó mạ xuống đồng, Miệng hò tay cấy mà lòng nhớ ai!

Hoặc những việc vặt hàng ngày:

Sáng mai kiếm củi trên ngàn, Chiều về xuống biển nò hang cua còng.

đều được đưa vào lời hát một cách tự nhiên nhuần nhị

Ngoài ra, dân ca vùng này còn biểu lộ được lòng căm ghét của nhân dânđối với bè lũ thống trị:

… Quan trên ới hỡi quan trên!

Hiếp dân ăn chặn chỉ biết tiền mà thôi.

Dân ca miền Nam Trung Bộ mang những đặc điểm riêng cả về nội dung vàhình thức nghệ thuật Chính những nét độc đáo ấy, nhất là trên bình diện ngôn từ

Trang 26

của dân ca đã góp phần thể hiện đời sống tâm hồn, tính cách con người nơi đây.Điều đó chứng tỏ tính sáng tạo diệu kỳ của nhân dân lao động Việt Nam.

Tiểu kết chương 1

Chương 1, luận văn đề cập đến một số vấn đề mang tính chất khái quát.Thứ nhất là giới thuyết về khái niệm dân ca, tiếp theo chúng tôi trình bày cáchướng nghiên cứu hình thức phần lời dân ca, tu từ nghệ thuật trong phần lời dân

ca Trong các hướng nghiên cứu này luận văn đề cập đến các thể thơ, cấu tứ vàcách biểu hiện trong phần lời dân ca Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhấn mạnh yêucầu của việc khảo sát các phương tiện và biện pháp tu từ trong ca dao dân cangười Việt nói chung, ca dao dân ca các vùng miền trên đất nước nói riêng Cuốicùng luận văn đã giới thiệu một cách tổng quát về vùng đất, con người và đặcbiệt là dân ca Nam Trung Bộ Đó là những tiền đề quan trọng, làm cơ sở choviệc đi sâu nghiên cứu các nội dung ở hai chương sau

Trang 27

Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN TU TỪ TRONG DÂN CA NAM TRUNG BỘ

2.1 Khái niệm phương tiện tu từ

Giáo trình Phong cách học tiếng Việt do Đinh Trọng Lạc chủ biên định

nghĩa: “Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ, mà ngoài ý nghĩa cơbản (ý nghĩa sự vật - lô gic) ra, chúng còn ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ

Người ta còn gọi chúng là những phương tiện được tu sức về mặt tu từ hoặc đôi khi, những phương tiện được đánh dấu về mặt tu từ” [40, tr.59].

Các lớp từ láy, từ Hán - Việt, từ địa phương… các cách chuyển nghĩa tu

từ, là những phương tiện tu từ tiếng Việt

Ví dụ: long lanh, lóng lánh, li ti, lí nhí… (từ láy) Hy sinh, phu nhân, phu

quân, thảo mộc… (từ Hán - Việt) Mô, con gấy, nác… (từ địa phương)… Các

phương tiện tu từ của mỗi ngôn ngữ đều tồn tại trong ý thức và tiềm thức củangười dùng, và người ta có thể sử dụng trong lời nói hằng ngày và cũng giốngnhư các tín hiệu từ, các câu nói, mà người quen dùng không hỏi do ai tạo ra, vậy

mà cách hiểu đều giống nhau Thế nên, các phương tiện tu từ có tính chất kháchquan và mỗi phương tiện đều có chung một mã giống nhau, độc lập đối với chủquan người sử dụng

Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học (tiềm tàngtrong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung

hòa của hệ thống ngôn ngữ Ví dụ: Từ hy sinh (có màu sắc cao quý), từ qua đời

(có màu sắc tôn kính) là những phương tiện tu từ nằm trong thế đối lập tu từ học

với phương tiện trung hòa (từ chết có màu sắc trung hòa).

“Các phương tiện tu từ cần được định nghĩa một cách khái quát và nhấnquán ở mọi cấp độ Những phương tiện tu từ từ vựng, ngữ pháp, cú pháp, văn

bản đều khác biệt đối lập tu từ học với những phương tiện trung hòa từ vựng,

ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản” [40, tr.60]

Trang 28

2.2 Một số phương tiện tu từ trong phần lời dân ca Nam Trung Bộ

Căn cứ vào phạm vi được ưu tiên sử dụng, có thể chia ra:

- Những từ ngữ có điệu tính tu từ cao Là những từ được gọt giũa, được

ưu tiên sử dụng trong lời nói sách vở, văn hóa Đó là những từ ngữ thường mangsắc thái cao sang, quí phái, bác học, bắt nguồn từ các lớp từ: từ thi ca, từ cũ, từHán Việt, từ mượn, từ sách vở…

- Những từ ngữ có điệu tính tu từ thấp Là những từ ngữ được ưu tiên sửdụng trong lời nói sinh hoạt hàng ngày theo khẩu ngữ tự nhiên Đó là những từthường mang màu sắc cụ thể, nôm na, bình dân, thân mật, được bắt nguồn từ cáclớp từ: từ hội thoại, từ lóng, từ nghề nghiệp, từ thông tục, từ địa phương, từ láy,thành ngữ

Bây giờ, chúng tôi lần lượt đi vào tìm hiểu cách sử dụng các lớp từ ngữtrên với tư cách là phương tiện tu từ từ vựng, nhằm tìm hiểu màu sắc tu từ củacác phương tiện này trong dân ca Nam Trung Bộ

Từ thi ca bao gồm cả những từ rút trong thơ cổ, có tính chất điển: chim

xanh, hồng nhan, tri kỉ, tao đàn, mặc khách, tài tử, văn nhân, mây Sở mưa Tần,

Trang 29

kết duyên Tần Tấn, lá thắm chỉ hồng, làn thu ba, sóng khuynh thành, ánh tịch dương, lầu đãi nguyệt,…

Có những từ thi ca được đánh dấu bởi giai đoạn phát triển nghệ thuật làm

thành mô típ nghệ thuật, ví như: tùng, cúc, trúc, mai, phong, vân, tuyết, nguyệt,

sơn, thủy,…

Từ thi ca là lớp từ được sử dụng trong dân ca Nam Trung Bộ Trong cuốn

Dân ca miền Nam Trung Bộ - tập II, Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang, sưu

tầm, 1963, Nxb Văn học - Hà Nội, chúng tôi đã khảo sát được 63 từ thi ca, với

501 lượt dùng Số liệu cụ thể được đề cập trong bảng thống kê sau đây:

Bảng 2.1 Thống kê số lượng và tần số xuất hiện từ thi ca

trong dân ca Nam Trung Bộ

từ thi ca

Tần số xuât hiện

Tỉ lệ %

%, số lần xuất hiện là 89 lần / 2353 lời dân ca chiếm 3,8 % Những câu dùng

chung cho nhiều làn điệu là 21 từ / 63 từ chiếm 33,3 %, số lần xuất hiện là 154

lần / 2353 lời dân ca chiếm 6,5 %, với số lượng từ nhiều nhất so với 4 làn điệu

Trang 30

còn lại Vè là 5 từ / 63 từ chiếm 7,9 %, số lần xuất hiện là 26 lần / 2353 lời dân

ca chiếm 1,1 %

Từ thi ca trong dân ca Nam Trung Bộ bao gồm những từ dùng để chỉngười, dùng để xưng hô, hoặc nói về tâm lí, tính cách, tình cảm của con người.Các tác giả dân gian đã sữ dụng rất nhiều cặp đại từ quen thuộc để thể tình yêu

tha thiết chân thành, giữa các mối quan hệ vợ chồng (chàng - thiếp; phu - phụ;

phu - thê), tình yêu đôi lứa (loan - phụng), rồi lại những từ chỉ về phụ nữ xưa

(hồng nhan, thục nữ), chỉ quan hệ cha mẹ, mẹ con (phụ mẫu, mẫu thân)…

Và trong 63 từ thi ca đó thì có nhiều từ xuất hiện với tần số rất cao, đượcngười dân Nam Trung Bộ sử dụng rất nhiều lần và trở nên quen thuộc trong tất

cả các làn điệu dân ca Nam Trung Bộ như: nàng (10 lần), chàng (6 lần), thiếp (5 lần), thục nữ (5 lần), thuyền quyên (4 lần)… (trong Hò) Chàng (23 lần), nàng (8 lần), thiếp (15 lần), thục nữ (5 lần), hồng nhan (4 lần)… (trong hát) Chàng (21 lần), thiếp (17 lần), nàng (7 lần), tướng công (9 lần), hồng nhan (7 lần), nguyệt

lão (3 lần)… (trong bài chòi) Chàng (52 lần), thiếp (41 lần), nàng (61 lần), phụ mẫu (4 lần), tơ hồng (3 lần)… (những câu dùng chung cho nhiều làn điệu)

Nói đến thi ca là nói đến những câu thơ mang sắc thái biểu cảm, trangtrọng, mà khi đọc lên, chúng ta thấy có gì đó cổ kính, trau truốt, thi vị Phần lớn

những từ thi ca mà chúng tôi khảo sát lại chính là từ Hán Việt, ví dụ: hồng nhan,

tướng công, thục nữ, thuyền quyên, phu thê, phụ mẫu, nguyệt lão… Từ thi ca

trong dân ca Nam Trung Bộ phần lớn là các đại từ xưng hô chỉ người khác nhau,

mang tính chất cổ điển như: hồng nhan, nguyệt, tơ hồng, quân tử, nguyệt lão,

thục nữ, chim xanh, thuyền quyên, nàng, chàng, thiếp, nam thanh nữ tú, anh hùng … Những từ ngữ xuất hiện nhiều lần trong các lời ca.

Tới đây tôi chào hết bạn vàng Chào người thục nữ, chào nàng thuyền quyên.

Hay:

Trách cha mẹ nàng ăn ở đảo điên

Để trai anh hùng chịu thảm gái thuyền quyên chịu sầu.

Trang 31

Thục nữ, thuyền quyên đều chỉ những người con gái đẹp nết, đẹp người.

Đây là những từ ngữ xuất hiện phổ biến và rất nhiều trong thơ xưa nói chung vàtrong dân ca Nam Trung Bộ nói riêng Trước đây người ta hay gọi trai anh hùng,gái thuyền quyên, là cặp đôi trai tài gái sắc, tương hợp với nhau, tạo nên quan hệ

lí tưởng

Em đây là phận hồng nhan Một lời đã hứa tào khang Trăm năm ghi tạc nghĩa chàng, chàng ơi!

Hồng nhan được chỉ thân phận người con gái má hồng, xinh đẹp, luôn biết

giữ lời hứa và không thay lòng với chàng, dù thời gian dằng dặc, vật đổi sao dời

Trước đây, chồng vợ người ta hay gọi là “chàng - thiếp”, nếu chưa phải là

vợ chồng mà gọi như thế thì giữa hai người cũng đã có tình cảm rất sâu nặng

Có rất nhiều cặp từ “chàng” “thiếp” xuất hiện:

Thiếp thương chàng thương mưu thương kế Chàng thương thiếp thương thế thương thần.

Với 63 từ thi ca thì từ “chàng” xuất hiện trong tất cả các làn điệu với tần

số cao nhất 109 lần chiếm 4,6 % số lời mà chúng tôi khảo sát được Còn “nàng”

86 lần chiếm 3,7 %, “thiếp” 78 lần chiếm 3,3 %.

Chúng ta còn gặp trong dân ca Nam Trung Bộ những từ thi ca chỉ sự giao

duyên: phòng loan, loan phụng, phòng đào…

Trang 32

Người dân Nam Trung Bộ đối với cuộc sống luôn có một cái nhìn lạcquan, yêu đời, được tạo nên trong từng lời ăn, tiếng nói mộc mạc giản dị cái chấtthơ rất đặc trưng Và thi ca đã trở thành một phần máu thịt, nó như được bắtnguồn cho một cái nhìn lãng mạn hơn, trữ tình hơn về vùng đất con người nơiđây Chúng ta lại được thấy ở dân ca vùng này nét mạnh mẽ, phi thường của cácchàng trai, sự nhẹ nhàng, đằm thắm, dịu dàng, của các cô gái trong tình yêuđược biểu đạt bằng những từ ngữ mang đầy chất thi ca.

Phòng loan thục nữ một mình Hay là đã sẵn duyên tình cùng ai?

Trong lớp từ thi ca chỉ sư giao duyên, loan, phụng cũng là hai từ xuất hiện

khá nhiều

Vui này loan phụng gặp đôi

Như phú gặp quí, mình với tôi xum vầy.

Trước đây, chim loan phụng biểu tượng cho đôi lứa gắn bó Loan là chim mái, phụng là chim trống Đó là sự gắn bó keo sơn, không thể chia lìa Loan

phụng ở đây cũng chính là biểu tượng của người con trai và người con gái, yêunhau gắn bó và không thể xa rời

Lớp từ thi ca là một trong những lớp từ nghệ thuật giàu hình ảnh biểutrưng và ước lệ Nhờ có lớp từ này mà lời dân ca tạo ra được các nghĩa hàmngôn ẩn tàng sau câu chữ, đậm sắc màu cổ điển Tuy chiếm số lượng khôngnhiều, nhưng từ thi ca đã làm cho phần lời dân ca Nam Trung Bộ có được nhữngsắc thái thẩm mĩ tinh tế

2.2.1.2 Từ Hán - Việt

“Từ Hán - Việt là những từ được vay mượn từ tiếng Hán (qua con đườngsách vở, báo chí ), nói đúng hơn là những từ Hán được Việt hóa theo cách đọc,cách hiểu và cách dùng của người Việt” [28, tr.245]

Từ Hán - Việt có màu sắc tu từ do có sự đối lập giữa lớp từ này với những

từ thuần Việt có ý nghĩa tương đương Ví dụ: cha mẹ / phụ mẫu; trẻ em / thiếu

Trang 33

nhi; đàn bà / phụ nữ; người ốm / bệnh nhân,… Từ Hán - Việt thường mang sắc

thái trang trọng

Để tìm hiểu hiệu quả sử dụng từ Hán - Việt trong dân ca Nam Trung Bộ,chúng tôi đã đi vào khảo sát 2353 lời dân ca Số liệu cụ thể được thể hiện trongbảng thống kê sau đây:

Bảng 2.2 Thống kê số lượng từ Hán - Việt và tần số xuất hiện

trong dân ca Nam Trung Bộ

Hán - Việt

Tần số xuât hiện

Từ Hán - Việt xuất hiện trong dân ca Nam Trung Bộ với số lượng khá

nhiều, với tổng số là 279 từ, 647 lần xuất hiện Trong đó, Hò là 30 từ / 279 từ, chiếm 10,7 %, số lần xuất hiện là 44 lần / 2353 lời dân ca, chiếm 1,87 %; Hát là

87 từ / 279 từ chiếm 31,1 %, số lần xuất hiện là 175 lần / 2353 lời dân ca, chiếm 7,44 %; Bài chòi là 33 từ / 279 từ chiếm 11,8 %, số lần xuất hiện là 62 lần /

2353 lời dân ca, chiếm 2,6 %; Vè là 59 từ / 279 từ chiếm 21 %, số lần xuất hiện

là 161 lần / 2353 lời dân ca, chiếm 6,8 %; Những câu dùng chung cho nhiều làn

điệu là 70 từ / 279 từ chiếm 25,1 %, số lần xuất hiện là 205 lần / 2353 lời dân ca

chiếm 8,7 %, với số lượng từ nhiều nhất so với 4 làn điệu còn lại

Lớp Từ Hán - Việt trong dân ca Nam Trung Bộ thuộc các từ loại: danh từ,tính từ, động từ Cụ thể 105 / 279 từ là danh từ chiếm 37,7 %; 91/ 279 từ là động

từ chiếm 32,6 % từ, 83 / 279 từ từ là tính từ chiếm 29,7 %

Trang 34

Nhìn từ góc độ trường từ vựng - ngữ nghĩa, từ Hán - Việt trong dân caNam Trung Bộ khá là phong phú và đa dạng Danh từ nói về mẫu người lí tưởng

thời phong kiến thì có: hào kiệt, đồng trinh, nữ trinh, anh hùng, thuyền quyên,

quân tử, anh hào, thục nữ, minh quân,nho sĩ, nho gia…

- Dẫu ai ỷ thế cậy tài

Em giữ lòng thục nữ, dùi mài gương trong.

- Gái quốc sắc trai anh hùng hào kiệt

Lâm trận đò há úy tử sanh.

Dành từ nói về mối quan hệ gia đình, nghĩa tình hay quan niệm về tình

yêu mang màu sắc Nho giáo thì có: phu nhân, phu thê, phụ mẫu, nhơn ngãi,

đoạn trường, tri kỉ, nhơn đạo, cương thường, song thân, hồng nhan, ái ân, nhân tình, mẫu thân, phu phụ, nhân ngãi,…

Dẫu mà anh có phiêu bạt mấy niên Anh cũng tìm về chốn cũ kết nguyền phu thê.

Nếu nói tình nghĩa phụ tử là lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, thì tình nghĩa phu thê là thủy chung, son sắt của vợ chồng Điều đầu tiên là phải có

sự thương yêu, tin tưởng, trân trọng nhau từ hai phía Dẫu anh có phiêu bạt ởbốn phương trời, thì cuối cùng anh cũng tìm về chốn cũ với em Bởi vì vợ chồng

là phải đồng cam cộng khổ, cùng nhau xây dựng và vun đắp hạnh phúc thì cuộcsống vợ chồng mới viên mãn được

Thanh xuân bất tái Phận em là gái sớm lo nhân ngãi cho rồi Hơi đâu mà chọn kẻ lựa người

Sợ e quá lứa uổng đời hồng nhan

Danh từ nói về thế giới tự nhiên thì có: nhật nguyệt, sơn thủy, giang san,

nguyệt, vũ, sơn thủy hữu tình

Dạo chơi sơn thủy hữu tình Buông cây cần trúc câu chình họa may.

Trang 35

Thiên nhiên luôn đẹp và hùng vĩ, nước non luôn hữu tình và dường nhưvạn vật đều được hòa mình vào thiên nhiên sông nước đó Ngồi câu cá thôi màxung quanh cảnh sắc như một bức tranh được sướng họ trước một khung cảnhđầy trữ tình

Nhạn lạc bầy hai ngả kêu sương

Cá ao hồ trông nguyệt, đêm trường qua trông em

Danh từ nói về luân lí, đạo đức con người thì có: tào khang, tam tòng, tứ

đức, ông tơ, bà nguyệt, loan phụng, tam cương, ngũ thường, hiếu trung, trung quân ái quốc, hiếu thảo, chung thủy, hiếu đạo …

Tay anh cầm bút ngọc hòa châu

Đề vô trong áo bậu, bốn câu ân tình

Một câu phân với nữ trinh

Ơn cha nghĩa mẹ cho trọn tình hiếu trung

Trong dân ca Nam Trung Bộ, không ít từ Hán - Việt được sử dụng để chỉ

đồ đạc, nơi ở, tính cách của người đẹp: quần thoa, nguyệt hoa, phòng loan, quần

hồng, giọt châu, nhu mì, màn loan, màn, thủ tiết, thiên thai

Có phải chăng với dân gian, những gì thuộc về phái nữ đều đẹp, đều sangtrọng và quí phái

Phận em là gái quần thoa Miễn anh giữ dạ thiệt thà Trăm năm em quyết nhứt gia trọn nghì.

Quần thoa là đồ trang sức của phụ nữ, nếu là bây giờ người ta sẽ không

dùng những từ ngữ này để nói, vì nó không còn phù hợp nữa, nhưng khi đọc lờidân ca trên chúng ta lại thấy nó hoàn toàn bình thường, và rất tự nhiên Thơ caxưa thường hay sử dụng những từ ngữ đó để nói lên vẻ đẹp của các giai nhân,người sang trọng quí phái Em là gái quần thoa đấy, nhưng chỉ cần anh thật thàthì em đây quyết trọn đời với anh

Trang 36

Đêm khuya nghe tiếng dế kêu Phòng loan em những chín chiều quặn đau.

Phòng loan nhằm thể hiện nét nghĩa và sắc thái biểu cảm: vừa trang trọng

tao nhã, vừa lịch lãm thanh cao Sử dụng những từ như thế tạo nên phong cáchgọt giũa, gây cảm giác bâng khuâng cho người đọc

Cách sử dụng động từ của tác giả dân gian nhằm diễn tả một cách mạnh

mẽ, giàu sức gợi hình, với những khát vọng trong các mối quan hệ tình yêu, giađình và bạn bè Điều đặc biệt ở đây là người dân Nam Trung Bộ đã có ý thứclựa chọn, sử dụng những động từ Hán - Việt mang tính nghệ thuật cao Họ đã sửdụng những động từ mạnh có sức dồn nén, hàm chứa được tất cả những điều mà

người nói muốn nói với những cảm xúc thật: bạc tình, ly biệt, lai vãng…

- Thương tằm ngữa áo bọc dâu

Tưởng tằm có ngãi, hay đâu bạc tình.

- Về làm chi cho ly biệt, bớ nàng!

Ở đây với bạn giải đàng tương tư.

- Ngọc ẩn trong đá, sao gọi ngọc lành

Em không lai vãng, sợ không thành ngãi nhân.

Bạc tình, ly biệt, lai vãng đều là những động từ có sức dồn nén hàm chứa

những điều mà người nói muốn thể hiện cái đau đớn khi phải biệt ly, sự tráchmóc sao người mãi không đến, rồi lại sự bạc bẽo khi người bỏ mình ra đi, tất cảnhững động từ trên chỉ cần đứng tách riêng ra thôi cũng thấy bi đát lắm rồi, cònđặt nó vào các hoàn cảnh cụ thể thì lại càng nặng nề biết bao Rồi động từ chỉ

sự giao duyên kết nghĩa trung tình rất rõ ràng:

- Chim quyên ăn dựa mé đìa

Đôi đứa ta đường xa mới ngộ, đừng lìa mới hay

- Đôi ta mới ngộ hôm nay

Một đêm là ngãi, một ngày là duyên

Trang 37

Ngộ ở đây chính là gặp gỡ nhưng nếu dùng chữ gặp gỡ đơn thuần thì lại

rất bình thường, có thể đó là sự gặp gỡ của bạn bè, của anh chị em, cũng có thể

là của bà con hàng xóm Còn ngộ lại mang nhiều tầng nghĩa khác nhau, phải có

duyên mới gặp được nhau Lời dân ca chính là một lời tỏ tình ẩn ý, bóng gió xa

xôi về chuyện tình yêu đôi lứa Ngộ chứa đựng nhiều cảm xúc sâu sắc của người

nói, chất chứa nhiều tâm tư tình cảm cũng như sự vui mừng khi gặp được người

có thể nên duyên nên nợ vì vậy, trong lời dân ca trên, ngộ không có một từ ngữ

đơn thuần nào có thể thay thế được nó

Ngoài ra, còn có động từ thể hiện tình yêu thủy chung trọn vẹn:

Chim kia còn có đôi có bạn,

Em hãy xem cặp nhạn vấn vương.

Làm người giữ đạo tao khương

Thủy chung thứ nhất, giữ đường ngãi nhân.

Bên cạnh động từ, còn có những tính từ chỉ tính chất của sự vật, sự việc

Thấy trăng luống thẹn với đèn

Ai xui sang trọng với nghèo hèn cách nhau Sang trọng là để chỉ tính chất của cuộc sống giàu sang Nếu như chúng ta

dùng từ thuần Việt thì sẽ không có được sự hàm súc, sức ngân vang, hay màusắc trang nhã Lựa chọn từ Hán -Việt nhằm mục đích để gợi tả đúng, rõ nét nhấttính chất của cuộc sống

Để chỉ tâm trạng, trong dân ca Nam Trung Bộ, tác giả dân gian dùng từ

sầu với tần số xuất hiện khá cao (42 lần / 2353 lời dân ca, chiếm 1,78 %)

Sầu ở đây chỉ tâm trạng lúc buồn:

Sầu ai mặt nọ không vui

Hay sầu duyên nợ cho tôi sầu giùm

Lớp từ Hán - Việt được dùng tương đương nghĩa với từ thuần Việt, cónhững từ Hán - Việt lại không dùng tương đương với nghĩa thuần Việt Đó

Trang 38

chính là sự đa dạng trong việc sử dụng của các giả dân gian, nhằm mang lại cholớp từ Hán - Việt một giá trị biểu đạt nổi bật.

Việc sử dụng từ Hán - Việt trong dân ca Nam Trung Bộ Một mặt, tạo cholời dân ca “diện mạo ” , sang trọng nhưng không kém phần thi vị, mặt khác, gópphần làm nên sự phong phú cho ngôn ngữ dân tộc

Sự xuất hiện của từ địa phương trong dân ca Nam Trung Bộ là điều tất yếu,bởi lời dân ca là do chính người dân sáng tác ra Vì vậy, qua khảo sát chúng tôithấy từ địa phương xuất hiện với số lượng lớn nhất so với các lớp từ khác

Về số lượng, chúng tôi đã thống kê được 357 từ địa phương, xuất hiện

891 lần trên 2353 lời dân ca, chiếm 37,9 % Số liệu cụ thể sẽ được thể hiện ởbảng sau đây:

Bảng 2.3 Thống kê số lượng từ địa phương và tần số xuất hiện

trong dân ca Nam Trung Bộ

địa phương

Tần số xuât hiện

Trang 39

Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy từ địa phương trong dân ca Nam Trung Bộ

chiếm số lượng khá lớn Với 357 từ địa phương được sử dụng thì Hò là 67

từ / 357 từ, chiếm 18,8 %, số lần xuất hiện là 183 lần / 2353 lời dân ca,

chiếm 7,8 %; Hát là 85 từ / 357 từ chiếm 23,7 %, số lần xuất hiện là 209 lần /

2353 lời dân ca, chiếm 8,8 %; Bài chòi là 53 từ / 357 từ chiếm 15,1 %, số lần xuất hiện là 89 lần / 2353 lời dân ca, chiếm 3,8 %; Vè là 59 từ / 357 từ chiếm 16,4 %, số lần xuất hiện là 97 lần / 2353 lời dân ca, chiếm 4,1 %; Những câu

dùng chung cho nhiều làn điệu là 93 từ / 357 từ chiếm 26,1 %, số lần xuất

hiện là 313 lần / 2353 lời dân ca, chiếm 13,3 %, với số lượng từ nhiều nhất sovới 4 làn điệu còn lại

Tác giả dân gian sử dụng lớp từ địa phương trong dân ca Nam Trung Bộnhằm thể hiện những khía cạnh khác nhau của tự nhiên, của xã hội cũng nhưnhững cung bậc khác nhau trong cảm xúc của người dân nơi đây Qua khảo sát,chúng tôi cũng nhận thấy, đơn vị danh từ chiếm số lượng nhiều nhất Trong số

357 từ địa phương được sử dụng, có 107 danh từ, chiếm 4,5 % / 2353 lời dân ca;động từ có 86 đơn vị, chiếm 3,7 % / 2353 lời dân ca; tính từ có 67 đơn vị, chiếm2,8 % / 2353 lời dân ca; đại từ có 43 đơn vị, chiếm 1,8 % / 2353 lời dân ca; phụ

từ có 54 đơn vị, chiếm 2,3 % / 2353 lời dân ca

Danh từ trong dân ca Nam Trung Bộ được dùng để nói đến những đối

tượng quen thuộc, gần gũi với cuộc sống con người nơi đây: hoa hường, kiểng,

kiểng vật, kiếng, đọt, hột, nhợ, chiếc giã, ghe, đò, heo, nhơn dân, bá tánh, cơm ngụi, nẫu, chén, lờn mơn, bàu, đờn, trái thơm, chưn, đàng, lạch hói, đìa…

Ra vời mới biết cạn sâu

Ở trong lạch hói biết đâu mà dò Lạch hói là danh từ chỉ gắn với sông nước, nghĩa của nó là một ngòi nước

hẹp nông chảy uốn lượn

Hoa là hình ảnh rất quen thuộc trong ca dao dân ca nói chung Nếu hoa

trong dân ca Bắc Bộ là những loài hoa sen, hoa nhài,… thì hoa trong dân ca

Trang 40

Nam Trung Bộ là những loài hoa rất bình thường, giản dị, gần gũi với người dân

như hoa hường, hòa huệ…

- Thân em như thể hoa hường

Anh xem có ý kẻo mắc đường trông gai.

- Ai dè đâu phải trận gió đông

Làm rời hồng rã lục cho hường lạt hương nồng.

Hoa hường ở đây chính là hoa hồng, hường là từ địa phương mà người dân

Nam Trung Bộ sử dụng, đã mang đến một sắc thái riêng cho dân ca vùng này

Tác giả không lấy hoa hường để ẩn dụ cho con người, không lấy nó để nói hộ

tâm trạng của nhân vật trữ tình, mà ở đây tác giả đã so sánh một cách cụ thể là

thân em như hoa hường Đến đây chúng ta lại càng thấy rõ nét mộc mạc, đơn

giản của nó

Ngoài ra kiểng, kiểng vật cũng là những từ ngữ mang đậm sắc thái riêng

của dân ca Nam Trung Bộ

Khi nói đến nỗi buồn sầu của những người yêu nhau xa cách, người dân

Nam Trung Bộ lại dùng hình ảnh kiểng (cây, cảnh):

Kiểng sầu nhớ ai mà nẩy lá nứt chồi Anh đây sầu bạn nên đứng ngồi chẳng yên.

Còn kiểng vật có nghĩa là cảnh vật, là cây cảnh, hình ảnh một cây cảnh đẹp

có phần yếu đuối lại được người dân Nam Trung Bộ ví von với người con gáiđẹp cần được chở che, chăm sóc:

Dang tay ôm lấy nhành mai

Ô hô ! kiểng vật vì ai mà sà.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận thấy danh từ đàng có nghĩa là đường xuất

hiện tới 53 lần, chiếm 2,3 % / 2353 lời dân ca

Mặc ai đón ngõ chặn đàng

Em đây chỉ biết thương chàng mà thôi.

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Hưng Bình (1996), “Về một đặc điểm nghệ thuật của ca dao, dân ca sưu tầm ở Quảng Nam - Đà Nẵng”, Văn hoá dân gian, (2), Hà Nội, tr.72-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một đặc điểm nghệ thuật của ca dao, dân ca sưu tầm ở Quảng Nam - Đà Nẵng”, "Văn hoá dân gian
Tác giả: Phạm Hưng Bình
Năm: 1996
[2]. Lê Xuân Bột (2003), “Từ ngữ Hán Việt trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở Nam Bộ”, Văn học, (7), tr.22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngữ Hán Việt trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở Nam Bộ”, V"ăn học
Tác giả: Lê Xuân Bột
Năm: 2003
[3]. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1987
[4]. Nguyễn Phương Châm (1998), “Sự khác nhau giữa ca dao người Việt xứ Nghệ và xứ Bắc”, Văn hoá dân gian, (3), Hà Nội, tr.9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khác nhau giữa ca dao người Việt xứ Nghệ và xứ Bắc”, "Văn hoá dân gian
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 1998
[5]. Nguyễn Phương Châm (2000), Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở Nam Bộ, Luận văn thạc sĩ, Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian, Hà Nội, 237 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2000
[6]. Nguyễn Phương Châm (2001), “Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ”, Văn hoá nghệ thuật, (6), Hà Nội, tr.54-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ gốc Hán, điển tích Hán trong ca dao người Việt ở Nam Bộ”, "Văn hoá nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 2001
[7]. Hà Châu (1996), “Cách so sánh trong ca dao ngày nay”, Văn học, (9), Hà Nội, tr.15-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách so sánh trong ca dao ngày nay”, "Văn học
Tác giả: Hà Châu
Năm: 1996
[8]. Mai Ngọc Chừ (1991), “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Văn học, Hà Nội. tr.24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, "Văn học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1991
[9]. Mai Ngọc Chừ (2000), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[10]. Chu Xuân Diên (1995), Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành, Tủ sách Đại học Tổng hợp Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1995
[11]. Xuân Diệu (1963), Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ, sách Dân ca miền Nam Trung Bộ, tập I, II, Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang sưu tầm, chú thích, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.245-294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ", sách "Dân ca miền Nam Trung Bộ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1963
[12]. Nguyễn Tấn Đắc (1999), Những vấn đề văn hóa, văn học và ngôn ngữ học, Nxb Khoa học Xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn hóa, văn học và ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
[13]. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[14]. Hữu Đạt (1981), “Thủ pháp so sánh trong ca dao và trong thơ hiện đại”, Văn nghệ, (18), Hà Nội, tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ pháp so sánh trong ca dao và trong thơ hiện đại”, "Văn nghệ
Tác giả: Hữu Đạt
Năm: 1981
[15]. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2001), “Thế giới biểu tượng sóng đôi trong ca dao người Việt”, Văn hóa dân gian, (3), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng sóng đôi trong ca dao người Việt”," Văn hóa dân gian
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Năm: 2001
[16]. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Năm: 2002
[17]. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2003), Ca dao - dân ca - Đẹp và hay, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao - dân ca - Đẹp và hay
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
[18]. Nguyễn Định (1999), Ngôn ngữ và thể thơ ca dao Nam Trung Bộ, Luận văn thạc sĩ, Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian, 102 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và thể thơ ca dao Nam Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Định
Năm: 1999
[19]. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao dân ca Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Nam Bộ
Tác giả: Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1984
[20]. Nguyễn Thiện Giáp (2005), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dáng lao đao, không tự chủ. Từ đó nó cũng mở ra một tình trạng tâm lí   không ổn định, cũng chỉ vì không ham tiền bạc nên cuộc đời mới trở lên lao   đao, trạng thái này càng có sức lay động mạnh vào tâm can đối tượng được  tiếp nhận. - Tu từ nghệ thuật trong dân ca nam trung bộ  luận văn thạc sĩ ngữ văn
Hình d áng lao đao, không tự chủ. Từ đó nó cũng mở ra một tình trạng tâm lí không ổn định, cũng chỉ vì không ham tiền bạc nên cuộc đời mới trở lên lao đao, trạng thái này càng có sức lay động mạnh vào tâm can đối tượng được tiếp nhận (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w