1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số di tích văn hoá lịch sử ở huyện nghi xuân hà tĩnh

76 1,4K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 213,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một ngời con trên mảnh đất Nghi Xuân và một ngời giáo viên lịch sử trong tơng lai, nhận rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy những giá trị kho tàng di sản không chỉ trong hi

Trang 1

Trờng Đại học Vinh Khoa Lịch Sử -======= -

Hoàng Quốc Bảo

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Trang 2

Vinh - 2006

Mục Lục

Trang

A - Mở đầu………

1 Lý do chọn đề tài:………

2 Lịch sử vấn đề………

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu………

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu………

5 Bố cục đề tài………

B - Nội dung………

Chơng I: Nghi Xuân một vùng đất văn hoá………

1.1 Đất và ngời Nghi Xuân………

1.1.1 Đất Nghi Xuân………

1.1.2 Ngời Nghi Xuân………

1.2 Di tích, danh thắng………

1.2.1 Khái quát di tích lịch sử văn hoá ở Nghi Xuân……

1.2.2.Nghi Xuân bát cảnh………

Chơng II: Một số đình đền và nhà thờ họ điển hình………

2.1 Đình Hội Thống………

2.1.1 Khái quát về một số đình ở Nghi Xuân………

2.1.2 Đình Hội Thống………

2.2 Đền Liễu Hạnh công chúa (Đền Củi)………

2.2.1.Khái quát một số đền ở huyện Nghi Xuân………

2.2.2 Đền Liễu Hạnh công chúa (Đền Củi)………

2.2.2.1 Nguồn gốc lịch sử………

2.2.2.2 Đối tợng thờ tự………

2.2.2.3 Đặc điểm kiến trúc………

2.2.2.4 Hệ thống bài trí nội thất ………

2.2.2.5 Đền Củi trong đời sống tâm linh của nhân dân địa phơng 2.3 Nhà thờ họ………

2.3.1 Nhà thờ Nguyễn Công Trứ………

2.3.1.1 Vài nét khái quát về Nguyễn Công Trứ………

2.3.1.2 Lịch sử nhà thờ Nguyễn Công Trứ………

2.3.1.3 Đặc điểm kiến trúc của nhà thờ………

2.3.1.4 Bài trí nội thất………

2.3.1.5 Giá trị lịch sử, văn hóa………

Chơng III: Giá trị lịch sử - văn hóa………

3.1 Giá trị lịch sử………

3.1.1 Giá trị bảo tồn………

3.1.2 Giá trị giáo dục truyền thống………

3.2 Giá trị văn hóa………

3.2.1 Giá trị kiến trúc và điêu khắc………

3.2.2 Giá trị tâm linh………

C - Kết luận………

Tài liệu tham khảo………

Trang 3

A - Mở đầu.

1 Lý do chọn đề tài:

Trên con đờng xây dựng và phát triển đối với nớc ta công tác nghiên cứu bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá truyền thống đợc chú trọng và đạt đợc nhiều kết quả khả quan Nhận rõ tầm quan trọng đó việc bảo tồn và phát huy các giá trị kho tàng di sản đang là một trong những vấn đề nổi cộm và cần thiết

Đặt trong bối cảnh của toàn dân tộc để có đợc những thành tựu nh ngày hôm nay, ta không thể không nói đến sự đóng góp của mỗi địa ph-

ơng Nghĩ đến quê hơng chúng ta không chỉ nghĩ đến cây đa, bến nớc, sân đình mà tiềm ẩn trong đó là những sức mạnh vô hình, những giá trị tinh thần to lớn Đợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đại thi hào Nguyễn

Du, tôi mang trong mình niềm tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê

h-ơng, đó cũng là hành trang cho tôi bớc vào đời

Ngày nay trên con đờng phát triển của tri thức nhân loại con ngời

đang dần dần chinh phục những đỉnh cao mới, sáng tạo ra biết bao phát minh về khoa học kỹ thuật Nhng chúng ta vẫn không quên đợc quá khứ bởi bên cạnh những bớc tiến của tri thức là mặt trái của xã hội Cuộc sống còn nhiều xô bồ, dễ làm ngời ta đánh mất bản sắc văn hoá và quên

đi cội nguồn của mình Hiện nay, thế hệ trẻ có hiểu biết rất hạn chế về lịch sử quê hơng Chính vì vậy cần khơi dậy trong các em niềm tự hào về mảnh đất nơi mình đã “chôn rau cắt rốn” và cung cấp cho các em những hiểu biết về những chặng đờng đã qua của lịch sử quê hơng mình

Bản thân là một sinh viên lịch sử để học tốt lịch sử thế giới và lịch

sử dân tộc tôi không thể không mang theo những hiểu biết lịch sử của địa phơng làm hành trang cho mình

Trang 4

Cùng với những bớc thăng trầm của lịch sử, một số di tích lịch sử văn hoá dù có những mất mát, mai một nhng tác dụng tích cực của nó vẫn không thể bị thời gian khoả lấp Nghi Xuân là một vùng “địa linh nhân kiệt” của xứ Nghệ và của cả nớc, không chỉ có nhiều danh nhân nổi tiếng nh đại thi hào Nguyên Du - danh nhân tài ba Nguyễn Công Trứ…

mà còn là một miền quê đã và đang tiềm ẩn nhiều di sản văn hoá vật thể, nhiều danh lam thắng cảnh Kho tàng di sản văn hoá vô giá ấy là sự tích

tụ của bao trí lực sáng tạo của lớp lớp tiền nhân để lại

Là một ngời con trên mảnh đất Nghi Xuân và một ngời giáo viên lịch sử trong tơng lai, nhận rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy những giá trị kho tàng di sản không chỉ trong hiện tại mà cả về lâu dài, không chỉ có các thế hệ hôm nay mà cả các thế hệ mai sau Tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu một số di tích văn hoá - lịch sử ở huyện Nghi Xuân

Hà Tĩnh” làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề.

Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị kho tàng di sản từ lâu đã đợc

sự quan tâm của các cấp từ Trung ơng đến địa phơng tuy nhiên đề tài này có phạm vi hẹp vì vậy ít có tài liệu chuyên sâu nghiên cứu

Đối với việc bảo tồn và phát huy các giá trị kho tàng di sản nói chung đã có các tác phẩm nh:

“Thánh địa Mỹ Sơn” - Ngô Văn Doanh

“Giới thiệu khu di tích lích sử đền Hùng” - Vũ Kim Biên

“Kiến trúc cố đô Huế” - Phan Thuận An

Các tác phẩm cụ thể hơn về việc bảo tồn và phát huy các giá trị kho tàng di sản ở Hà Tĩnh - Nghi Xuân gồm có:

“Di tích danh thắng Hà Tĩnh” - Trần Tấn Thành chủ biên - Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh, 1997

“Danh nhân Hà Tĩnh” (tập I) Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh - 1996

“T liệu về Nguyễn Công Trứ” - Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh năm 2001 “Nghi Xuân di tích và danh thắng” - Nhiều tác giả, xuất bản năm 2005

“Ngời Nghi Xuân” Tập I - Nhà xuất bản văn hoá thông tin 2002

Trang 5

“Nghi Xuân địa chí” - Đông hồ Lê Văn Diễn.

Trên cơ sở kế thừa các nguồn tài liệu nh sách, báo, các tạp chí nghiên cứu lịch sử văn hoá, các khoá luận trớc đó cùng với quá trình tổng hợp của bản thân tôi muốn góp phần xây dựng bức tranh một số di tích văn hoá lịch sử ở huyện Nghi Xuân

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập đến việc tìm hiểu một số di tích - văn hoá lịch sử ở huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh

Trớc hết chúng tôi đi vào tìm hiểu điều kiện địa lí tự nhiên, con ng

-ời và di tích danh thắng của Nghi Xuân Đó là cơ sở hình thành bản sắc văn hoá của các vùng này Điều đó cũng có phần cắt nghĩa sự bảo tồn và phát huy các giá trị kho tàng di sản của Nghi Xuân trong các chặng đ ờng phát triển

Phần trọng tâm của đề tài đi sâu vào nghiên cứu một số di tích văn hoá lịch sử ở Nghi Xuân Nhng để có một cách nhìn tổng quát, khách quan cần đặt nó trong mối quan hệ di tích và danh thắng Nghi Xuân trong các thời kỳ Qua đó để chúng ta thấy đợc sự kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của quê hơng Tất cả những điều trên nhằm nêu lên đặc điểm, ý nghĩa và sự đóng góp của bản sắc văn hoá Nghi Xuân trong vờn hoa văn hoá dân tộc

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Trên cơ sở các t liệu về di tích văn hoá lịch sử, lịch sử địa phơng, các sách báo, các tạp chí để nhận thức về việc phát huy và bảo tồn một số

di tích văn hoá lịch sử ở Nghi Xuân Do điều kiện về thời gian còn hạn chế và nguồn t liệu cha nhiều nên việc tiếp cận các t liệu cha phong phú, mong thầy cô và các bạn lợng thứ

Về phơng pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phơng pháp lôgíc và phơng pháp lịch sử, phơng pháp so sánh đối chiếu tài liệu, phơng pháp điền dã, thống kê tiến hành nghiên cứu

5 Bố cục đề tài.

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chơng:

Chơng I: Nghi Xuân một vùng đất văn hoá.

Chơng II: Một số Đình, Đền và Nhà thờ họ điển hình.

Chơng III: Giá trị lịch sử - văn hoá.

Trang 6

B - nội dung.

Chơng I Nghi Xuân một vùng đất văn hoá.

1.1 Đất và ngời Nghi Xuân.

1.1.1 Đất Nghi Xuân.

* Điều kiện địa lí tự nhiên:

Trên bản đồ Hà Tĩnh, vùng duyên hải Nghi Xuân nhìn tựa hồ nh vầng trăng non vừa nhô khỏi biển “Nghi Xuân là một vùng đất lịch sử văn hoá lâu đời cách tỉnh lị Hà Tĩnh 50km về phía Đông bắc Nghi Xuân

Trang 7

nằm gọn trên toạ độ từ 280 31’ đến 180 45’ vĩ độ Bắc và từ 1050 41’ đến

1050 51’ kinh độ Đông Diện tích tự nhiên là 21 776km2 dân số 99875 ngời Mật độ dân số 459 ngời/km3 chiếm 3,59% diện tích đất tự nhiên và 7,9% tổng dân số toàn tỉnh (1995)” [11;7] Trớc 1945 Nghi Xuân có 5 tổng, 33 xã, thôn, trang, phờng Đến 2003 Nghi Xuân có 17 xã, 2 thị trấn với 192 thôn, xóm, khối Phía Đông của Nghi Xuân giáp biển, phía Đông nam đến cuối xã Cơng Gián, đông Bắc đến xã Hội Thống (Xuân Hội) Phía Tây giáp các huyện Hng Nguyên và Đức Thọ Phía Bắc là dòng Lam xanh trong Phía Tây Nam là dãy núi Hồng Lĩnh với 99 ngọn hùng vĩ trùng điệp đi vào sử sách với bao giai thoại Vùng đất Nghi Xuân hẹp, trải dài nhng có đủ cả sông, biển, núi đồi, đồng bằng, hải đảo đúng là

“Sơn thuỷ hữu tình”, đắm say lòng ngời

Về địa hình nổi bật ở Nghi Xuân là dãy núi Hồng Lĩnh nằm lệch về phía Tây Nam, trải dài trên địa phận 10 xã chiếm gần 1/2 diện tích đất tự nhiên của huyện - Đây là dãy núi đã đợc khắc tên vào Cửu Đỉnh đặt ở kinh đô Huế Trong cấu tạo địa chất núi có khá nhiều lớp trầm tích nên

có mỏ sắt, mangan và một số khoáng sản có ích khác Chiều cao, độ dốc, thảm thực vật, lợng nớc ngầm là những nhân tố tác động trực tiếp tới…các mặt khí hậu, nguồn nớc và đời sống c dân trong huyện

Vùng đồng bằng của Nghi Xuân vốn đã hẹp lại bị núi chia cắt thành khu vực đồng bằng chân núi và đồng bằng ven biển Vùng biển Nghi Xuân kéo dài từ Cửa Hội đến Cửa Động Kèn - Động Gián, tạo điều kiện cho ngời dân khai thác hải sản và tiềm năng du lịch nh ở bãi biển Xuân Thành, Xuân Yên Đất đai chủ yếu là đất cát, một số vùng đ ợc phù

sa bồi đắp nên điều kiện canh tác dễ dàng hơn

Đối lập với cảnh non xanh là dòng sông Lam quanh năm nớc trong xanh chảy hiền hoà ôm trọn đất Nghi Xuân Có thể nói Nghi Xuân là huyện duy nhất có cả núi Hồng sông Lam

Về điều kiện khí hậu Nghi Xuân nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm thời tiết phân biệt thành hai mùa rõ rệt Nhiệt độ cao, số ngày nắng trong năm khá dồi dào đủ nhiệt lợng cần thiết cho gieo trồng,

Trang 8

thu hoạch nhng thời tiết cũng thờng xuyên chuyển đổi, thất thờng Đặc biệt Nghi Xuân chịu ảnh hởng của gió Tây Nam đã bị biến tích khi qua Trờng Sơn làm nhiệt độ tăng lên Từng đợt gió kéo dài 7- 8 ngày khiến nhiều cây cối sém khô nh bị đốt cháy Dân gian có câu “Lúa trổ lập hạ, buồn bã cả làng”, “ba ngày gió Nam, mùa màng mất trắng”.

* Điều kiện lịch sử văn hoá.

Nghi Xuân là vùng đất văn hoá lâu đời, trớc khi trở thành huyện Nghi Xuân, đất này trải qua nhiều biến động về duyên cách địa giới

Trớc Công nguyên, Nghi Xuân là một vùng của quốc gia Việt Th ờng, thời Văn Lang - Âu Lạc thuộc bộ Cửu Đức Thời thuộc Hán, Nghi Xuân gọi là Dơng Thành Thời Tấn gọi là huyện Dơng Toại thuộc quận Cửu Đức Thời Tuỳ đổi lại thành huyện Phố Dơng thuộc quận Nhật Nam Thời Lý, Trần, Hồ và thời thuộc Minh huyện Phố Dơng đổi thành huyện Nha Nghi thuộc phủ Nghệ An Sau đó sát nhập thêm một phần đất của huyện Chân Lộc (Nghi Lộc – Nghệ An ngày nay) để gọi là huyện Nghi Chân Từ thời Lê Trung Hng đổi lại là huyện Nghi Xuân thuộc trấn Nghệ

-An Năm 1831 Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành hai tỉnh Nghệ An và

Hà Tĩnh Từ đây Nghi Xuân trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh Lúc này nhà Nguyễn đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nớc, Nghệ An, Hà Tĩnh không còn là vùng đất cuối cùng phía Nam nữa mà trở thành “khúc ruột miền Trung” của nớc Việt Trải bao thăng trầm lịch sử, Nghi Xuân đã khẳng định vị trí chiến lợc quan trọng của mình

Với cái nhìn kiến tạo địa hình nhà địa chất mách bảo rằng vận

động kiến tạo địa chất Nghi Xuân xẩy ra từ đại Nguyên sinh qua hàng trăm triệu năm với nhiều thời kỳ vận động địa chất thay đổi đến nay vẫn còn tiếp diễn

Theo các nhà khảo cổ học ở Nghi Xuân có nhiều di tích khảo cổ của nhiều thời đại khác nhau Trớc hết là những dấu hiệu thời đồ đá cũ Trên bề mặt bóc mòn của thềm sông Lam, khu vực đền huyện xã Xuân Giang, gần đây các nhà khảo cổ học đã phát hiện một số công cụ ghè đẽo thuộc văn hoá Sơn Vi có niên đại hậu kỳ đá cũ cách ngày nay khoảng vài

Trang 9

vạn năm Đây là những dấu hiệu đầu tiên để nghiên cứu thời đại đá cũ ở vùng đất Nghi Xuân ở đây còn có nhiều di tích thời đại đá mới ở bãi Phôi Phối Bãi Phôi Phối nằm kề chân núi Hồng Lĩnh thuộc xã Xuân Viên Địa điểm khảo cổ này đợc thầy trò khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp (Nay Đại học Quốc Gia Hà Nội) khai quật vào 1976 Di tích có tầng văn hoá dày 50 cm phân tách thành hai lớp sớm muộn khác nhau Lớp dới t-ợng trng cho văn hoá Quỳnh Văn với công cụ ghè đẽo thô sơ từ đá gốc,

kỹ thuật mài cha phát triển cao, công cụ cha thật định hình chính xác Đồ gốm thô và dày chủ yếu là gồm đáy nhọn, trang trí văn thừng, văn chải Lớp trên thuộc văn hoá Thạch Lạc với sự phong phú của rìu đá có vai, rìu tứ giác và cuốc đá

Thời kỳ văn hoá Đông Sơn ở Nghi Xuân có các di tích đợc phát hiện đầu tiên ở Xuân An Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rìu đồng xoè cân, rìu lỡi xéo, cày đồng…ở đây còn tìm thấy khuyên tai hình hai đầu thú bằng đá đen, một đồ trang sức dộc đáo chứng tỏ sự giao lu văn hoá ở

đây lúc bấy giờ với các vùng xa

Trong lòng đất các xã Xuân An, Xuân Giang, Xuân Viên đều có các di tích của các thời kỳ Bắc thuộc Đó là những kiến trúc gạch xây ch-

a sử dụng vật liệu kết dính Các viên gạch với độ dày mỏng khác nhau,

có hoa văn ô trám hoặc để trơn, xếp chồng lên nhau thành những hầm mộ kiểu vòng cuốn

Các nhà khảo cổ học đã khai quật tìm thấy các dấu tích nh khối tháp cổ đời Trần bằng đất nung khá độc đáo ở vùng núi thuộc xã Xuân Hồng

Những chứng tích ấy ghi dấu những chặng đờng phát triển đã qua trên mảnh đất Nghi Xuân Ngày nay đó là những giá trị tinh thần to lớn góp phần tạo nên những vẻ đẹp văn hoá của con ngời và cảnh giới Nghi Xuân

Ngoài ra, Nghi Xuân còn là một vùng đất trọng yếu có đầy đủ điều kiện địa lí để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế của quốc gia

Trang 10

Theo truyền thuyết, vua Hùng đã chọn nơi đây làm đất đóng đô theo hớng dẫn của đàn chim Phợng Hoàng Hồng Lĩnh có 99 đỉnh, 100 con bay về, một con không có nơi đỗ nên đàn chim bay đi, việc dựng kinh đô vì thế không thành.

Đời Lý - Trần đây là cửa ngõ, bến bãi của vùng phên dậu - “biên viễn” của nớc nhà, là một trung tâm dân c, không những có nhiều đền chùa mà còn có nhiều làng xã đông đúc, nhiều bến thuyền nhộn nhịp trong sự phát đạt của các nghề thủ công

Sự hng thịnh đó đã đi vào thi ca:

“Hoan Nam tịnh trấn thành cao đạm

Cửu thập Hồng phong tịnh tráng quan”

(Là trấn lớn ở phía Nam Châu Hoan

Nghi Xuân là đồn tiền tiêu án ngữ che chở cho trấn Nghệ An mà ngã ba Tam Chế (thuộc xã Xuân Lam - Nghi Xuân ngày nay) đã trở thành dinh luỹ của trấn thành

Trên mảnh đất Nghi Xuân đã in dấu vó ngựa và chiến thuyền của vua tôi, binh lính qua bao triều đại phong kiến Việt Nam

Lê Lợi trong kháng chiến chống quân Minh khi gặp khó khăn đã đi vào Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay), lấy nơi đây làm nơi dừng chân củng cố lực lợng để tổng phản công Bấy giờ Nghi Xuân đã góp nhiều nhân tài vật lực Đất đai chung quanh Ngàn Hống đã là những trại sản xuất lơng thực cho nghĩa quân

Trang 11

Sau khi nhà Lê hng thịnh đất Nghi Xuân luôn là nơi dừng chân của nhà vua khi tuần thú Phơng Nam.

“Hồng Lĩnh lai phong Nghi Xuân dịch mã” (Qua núi Hồng Lĩnh Nghi Xuân là con ngựa trạm)

Trạm Chế làm một trạm giao liên quan trọng trên trục đờng thiên lí

từ Thăng Long đến Đèo Ngang Mùa hè 1476 vua Lê Thánh Tông khi nghỉ chân ở đây đã ghi lại cảm xúc qua bài thơ Nôm vịnh Làng Chế:

“Bóng ác non dài ban xế xế Bỗng đâu đã tới miền Tam Chế Mênh mang khóm nớc nhuốm màu Lam Chất ngất đỉnh non trùm bóng quế

Chợ họp bên sông gẫm có chiềuThuyền bày trên đất xem nhiều thế Cảnh vật nơi đây hoá có hai

Vì dân khoan giảm bên tô thuế”

Nơi “chợ hợp bên sông” có chợ Chế từ thế kỷ XVIII đã là vùng đất trù phú nổi tiếng thu hút sự giao lu không những trong nớc mà cả ngoài nớc, có nhiều ngoại kiều đến đây sinh sống và buôn bán

Vua Gia Long năm 1802 sau khi thống nhất Sơn hà vội ra Bắc phủ

dụ dân chúng đã dừng lại trạm Chế nghỉ ngơi Nguyễn Du lúc này đang ở Tiên Điền đợc tin vội vàng lên Trạm Chế ra mắt nhà vua, đợc Gia Long thu dụng Nguyễn Công Trứ ở làng Uy Viễn lúc bấy giờ còn là “bạch diện th sinh” cũng lên trạm chế xin gặp vua trình “Thái bình thập sách” (10 kế sách trị nớc) sớm bộc lộ tài “kinh bang tế thế”

Nghi Xuân không chỉ có ý nghĩa về mặt chiến lợc mà còn là vùng

đất có tiềm năng kinh tế Nơi đây không giàu về lúa gạo mà có rất nhiều nghề cổ truyền: đúc đồng, dệt chiếu, làm mắm muối…

1.1.2 Ngời Nghi Xuân:

Trang 12

Theo kết quả của các cuộc thăm dò, khảo sát, các nhà khảo cổ học, dân tộc học, sử học đã khẳng định con ngời có mặt trên đất Nghi Xuân khá sớm.

Di chỉ bãi Phôi Phối ở Xuân Viên là một di chí thuộc văn hoá Bàu Tró cho thấy cách đây năm nghìn năm, cuối thời đại đá mới, đã có c dân sinh sống tại đây với nghề trồng lúa nớc bằng cuốc đá “Trong lớp đất sâu nhất của di chỉ này các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những công cụ bằng đá đợc ghè đẽo bên cạnh những nồi đất đáy nhọn có hoa văn hai mặt tìm thấy những chiếc rìu đá đ… ợc mài và một ít đồ gốm có đáy tròn ” [7;34] “Đặc biệt các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các l… ỡi cuốc bằng đá chứng tỏ rằng ngay giai đoạn sớm, c… dân văn hoá Bàu Tró ở Nghệ Tĩnh là những ngời làm nông nghiệp” [7;34]

Các di chỉ khảo cổ tiếp theo cho biết thêm về thời đại đồ đồng nh

di chỉ Xuân An, bên bờ Sông Lam, dới chân Rú Cơm, đối diện Bến Thuỷ cũng tìm đợc nồi gốm có dấu vết xỉ đồng chứng tỏ rằng đồng đợc đúc tại chỗ, di chỉ Xuân Giang cũng đã phát hiện đợc dấu vết những lò luyện sắt

Nh vậy, cách đây từ 4000 năm đến 3000 năm, trên Nghi Xuân đã hình thành và phát triển nền văn hoá rực rỡ dựa trên nền tảng nông nghiệp trồng lúa nớc, đã hình thành cộng đồng làng xã với lối sống chung

Qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, c dân Nghi Xuân đã từng bớc lấn biển, chuyển từ miền núi xuống sinh sống dọc theo ven biển l u vực Sông Cả và khai phá đồng bằng

Theo tiến trình lịch sử c dân bản địa đợc bổ sung bằng những đợt

di c từ nơi khác tới, có thể từ Bắc vào, từ Nam ra Có thể vì nhiều lý do khác nhau: chạy loạn, theo các cuộc khởi nghĩa lui về, hoặc tìm đất mới

an c Trải qua bao thăng trầm trong xây dựng và bảo vệ quê hơng, sự hoà quyện về huyết thống, văn hoá đã tạo nên những nét đẹp riêng trong con ngời Nghi Xuân, trong truyền thống chung của ngời Nghệ Tĩnh

Ngay từ thế kỷ XV dới ách độ hộ của quân Minh, hai thủ lĩnh Trần

Đài và Phan Xá - ngời Nghi Xuân đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh nhng thất bại Năm 1424 khi Lê Lợi đa quân vào Nghệ An, ngời Nghi Xuân

Trang 13

náo nức gia nhập lực lợng, trong đó có Phan Nhân đợc Lê Lợi phân công phụ tránh vận chuyển lơng thực, là một vị tớng hậu cần đóng góp nhiều công lao cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Hai xã Tiên Điền và Hội Thống cho nhiều ngời bổ sung vào nghĩa quân và lập nhiều công trạng đợc nhà vua phong tặng danh hiệu “xã Kiên Nghĩa”.

Cuối thế kỷ XIX sau lúc thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, hởng ứng lời kêu gọi Cần Vơng, cử nhân Phan Khắc Hoà ở Xuân Yên tức tốc lên Sơn Phòng gặp vua Hàm Nghi nhận chỉ dụ Sau đó ông về quê chiêu mộ nghĩa sĩ phối hợp với quân ấm Ninh (Đức Thọ) tiến vào đánh thành Hà Tĩnh diệt Bố Chánh Lê Đại đợc vua Hàm Nghi phong làm án Sát Hà Tĩnh

Tiếp đó Hà Văn Mỹ (ở Tiên Điền) và Ngô Quảng khẩn trơng đứng

ra tổ chức kéo quân lên Vũ Quang theo cụ Phan Đình Phùng Quân thứ Nghi Xuân đợc thành lập là một trong tám đội quân chủ lực của khởi nghĩa Hơng Khê

Đầu năm 1908 hởng ứng phong trào bạo động chống thuế ở Trung

Kỳ do hội Duy Tân lãnh đạo, Trịnh Khắc Lập (ở Xuân Thành) là hạt nhân lãnh đạo phong trào ở Hà Tĩnh đã vận động đợc hàng ngàn nông dân Nghi Xuân bao vây bắt sống quan huyện tiến vào tỉnh đờng Hà Tĩnh thì bị quân Pháp chặn đánh Trịnh Khắc Lập tuy hy sinh nhng tinh thần, khí phách của ông đã làm cho quân Pháp khiếp sợ

Sau đó những hội viên còn lại của Duy Tân hội ở Nghi Xuân tiếp tục hoạt động Trần Sỹ Dực còn gọi là đầu xứ Dực (ở Xuân Hải) xuất d-

ơng tìm đờng cứu nớc là một chí sỹ rất trung kiên Hồ Thúc Tự cũng gọi

là đầu huyện Tự (ở Xuân Giang) nhận nhiệm vụ của Phan Bội Châu ở lại nớc nhà hoạt động quyên góp tài chính gửi cho học sinh Đông Du

Tháng 7 năm 1925 hội Phục Việt ra đời ở Nghệ Tĩnh Huyện Nghi Xuân có cụ Lê Duy Hy cùng con trai là Lê Duy Điếm và các ông Phan Viết Điểu, Lê Đính, Hồ Văn Biển là những hội viên đầu tiên Đầu năm…

1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, huyện uỷ Nghi Xuân cũng đợc

Trang 14

thành lập Những hội viên của hội Phục Việt đã trở thành những Đảng viên u tú giữ các nhiệm vụ chủ chốt: Lê Duy Điếm, Lê Duy Đại, Đặng Thị Ba, Phan Hảo Thời kỳ 1930 - 1931 một số đồng chí đã hy sinh…hoặc bị tù đày Nhng đến năm 1936 - 1939 phong trào lại đợc phục hồi chuẩn bị cho khởi nghĩa tháng 8 - 1945

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Nghi Xuân là tuyến lửa, lớp lớp con em Nghi Xuân đã lên đờng ra tiền tuyến giết giặc lập công Có 20 bà mẹ của Nghi Xuân đợc phong tặng bà mẹ Việt Nam anh hùng Huyện Nghi Xuân có các xã nh: Xuân Giang, Xuân Hải, Xuân Trờng, Xuân Viên, Tiên Điền, Xuân Hội đợc tặng danh hiệu anh hùng lực lợng vũ trang

Tiếp nối truyền thống anh dũng của cha ông trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nớc, ngời Nghi Xuân đang từng bớc khẳng định mình trong công cuộc dựng nớc Trên con đờng phát triển Nghi Xuân ngày càng gặt hái đợc nhiều thành tựu trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, kinh tế, chính trị Bộ mặt Nghi Xuân thêm phần rạng rỡ, xinh đẹp nh hai chữ “nên xuân” trong tên gọi của vùng đất này

Điều kiện tự nhiên không kém phần khắc nghiệt đã rèn giũa cho con ngời Nghi Xuân Mỗi ngời đều mang trong mình một bầu máu nóng

đầy nhiệt huyết xây dựng quê hơng đất nớc

Trải qua bao thăng trầm trong xây dựng và bảo vệ quê hơng, sự hoà quyện về huyết thống văn hoá đã tạo nên nét đẹp riêng trong con ngời Nghi Xuân, trong truyền thống chung của ngời Nghệ Tĩnh

Đại hội Đảng bộ Nghệ Tĩnh lần thứ XI đã khẳng định những đức tính tốt đẹp của con ngời Nghệ Tĩnh trong con ngời Việt Nam: “Có lòng yêu nớc thiết tha, có tình cảm quốc tế trong sáng đậm đà; cần cù lao

động; nghĩa tình trong cuộc sống; biết chịu đựng hy sinh, dũng cảm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, kiên cờng vợt qua mọi thử thách hiểm nghèo trong cuộc đấu tranh chống lại sự hà khắc của thiên nhiên; chống lại mọi

sự bất công và áp bức trong xã hội” Đức tính đó là cơ sở để hun đúc nên khí phách Hồng Lam của con ngời Nghệ Tĩnh Trên mảnh đất Nghi

Trang 15

Xuân, con ngời “vì thế không thể không dũng cảm vợt khó, cần cù, kiên nhẫn, chăm học hành, trọng lẽ phải, sống khắc khổ, những vẫn lịch lãm, thơng yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, chắt lót, tháo vát làm ăn”.

1.2 Di tích, danh thắng.

1.2.1 Khái quát di tích lịch sử văn hoá ở Nghi Xuân.

Thiên nhiên và con ngời Hà Tĩnh nói chung và Nghi Xuân nói riêng trong quá trình phát triển của lịch sử đã tạo nên một miền quê hội

tụ nhiều di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh, trong đó có nhiều di tích, nhiều danh lam đã đi vào lòng ngời, là đề tài của không ít tác phẩm văn hoá, nghệ thuật nổi tiếng

Xa và nay Nghi Xuân vẫn là một huyện có nhiều di tích danh thắng, phong phú về loại hình, độc đáo về phong cách và nội dung Có những thôn xóm có nhiều di tích Tiếc rằng, trải qua dâu bể của lịch sử

và thời gian, không ít di tích đã bị mai một Song với trên 100 di tích còn lại trong đó có 6 di tích đợc Bộ văn hoá thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia cũng còn đủ để minh chứng cho một vùng văn hoá có

bề dày truyền thống

Nghi Xuân có đủ loại hình di tích, di tích khảo cổ học thời xa x a,

di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo và những danh lam thắng cảnh

Đình Hội Thống, một ngôi đình không chỉ có quy mô vào loại lớn nhất cả xứ, mà còn có nghệ thuật chạm trổ, trang trí vô cùng tinh xảo

Đến Củi ngôi đền cổ nằm bên bờ Sông Lam nhiều du khách cả n

-ớc mến mộ không chỉ vì sự linh thiêng mà còn bởi ở đây còn có khá nhiều tợng cổ và đồ tế khí quý hiếm

Các di tích khác trong huyện vẫn còn khá nhiều tợng đá, bia đá mà nghệ thuật điêu khắc trạm trổ hết sức cầu kỳ, thẩm mỹ cao, do bàn tay tài hoa của những nghệ nhân dân gian Nghi Xuân tạo nên Đáng nói là tợng

đá, voi đá, tợng gỗ ở nhiều di tích vẫn còn đợc bảo tồn, ví nh hai pho ợng gỗ ở nhà thờ cụ Nguyễn Trọng, hai pho tợng ngời bằng đá, voi đá, ngựa đá của nhà thờ Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm Hầu hết các…

Trang 16

t-công trình kiến trúc cổ ở Nghi Xuân là di tích văn hoá lịch sử thuộc thời Hậu Lê đến thời Nguyễn

Trên địa bàn vẫn còn 3 ngôi chùa: Đà Liễu (ở Xuân Mỹ), Thanh

L-ơng và Phong Phạn (ở Xuân An) có nhiều pho tợng quý Nh chùa Đà Liễu hiện còn trên 36 pho tợng quý đợc tạc từ thế kỷ XVII, XVIII

Nhiều đình, đền, nhà thờ còn giữ đợc nhiều bộ sắc phong quý, cũng

nh các đồ tế khí, còn đợc giữ nguyên, tiêu biểu nh Đình Hoa Vân Hải ở xã Cổ Đạm còn giữ đợc cả tợng đồng đen

Ngoài “Nghi Xuân bát cảnh”, nay trên đất Nghi Xuân còn có bãi biển Xuân Thành, khu du lịch biển đợc nhiều du khách yêu thích, bởi bãi biển thoai thoải, có dòng nớc ngọt chảy song song phía trong không bao giờ cạn Biển Xuân Thành lại có nhiều đặc hải sản quý: tôm, cua, mực,

ốc, rắn biển Cơ sở hạ tầng đang từng b… ớc đợc xây dựng để đáp ứng nhu cầu của du khách

Để cắt nghĩa nguồn gốc của sự hội tụ di tích danh thắng ở Nghi Xuân không thể không suy nghĩ về đặc điểm tự nhiên vừa hùng vĩ, vừa t-

ơi đẹp, phong phú, gợi cảm hứng nghệ thuật, vừa không ít khó khăn về

địa lý, đất đai, khí hậu, cũng nh truyền thống lịch sử văn hoá lâu đời liên tục đợc phát huy của vùng đất này Đây là một vùng đất từ xa đã xuất hiện nhiều ngời tài giỏi: có vị lập công hớng dẫn c dân đắp đê ngăn mặn, xứng danh ông tổ của họ trâm anh thế phiệt, sau khi mất đợc nhân dân phong thần làm thành hoàng và lập đền thờ nh Nguyễn Nghiễm ở Tiên

Điền Danh nhân văn hoá thế giới nh đại thi hào Nguyễn Du Uy viễn ớng công Nguyễn Công Trứ vừa là nhà chính trị, nhà quân sự, vừa là nhà kinh tế có tài, nhà thơ độc đáo có nhân cách cao thợng, tâm hồn hết sức phóng khoáng, một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam nửa đầu thế

t-kỷ XIX

Các yếu tố chủ yếu hình thành cảnh quan ở Nghi Xuân là địa hình, mặt nớc màu xanh của cây lá, kiến trúc của công trình

1.2.2.Nghi Xuân bát cảnh.

Trang 17

Ngày xa Nghi Xuân có mời cảnh đẹp, Hội t văn họp lại, sau khi tham khảo ý kiến bỏ bớt hai cảnh nơi đâu cũng có thể có, còn lại tám cảnh gọi là “Nghi Xuân bát cảnh” xếp thành bốn cặp:

- Hồng Sơn liệt chớng (Núi Hồng chăng dài)

- Đan Nhai quy phàm (Thuyền về Cửa Hội)

- Song Ng hý thủy (Đôi cá giỡn nớc)

- Cô độc lâm lu (Núi cô độc giữa dòng)

- Giang Đình cổ độ (Giang Đình bến xa)

- Quần Mộc bình xa (Lùm cây trên bãi cát bằng)

- Uyên Trừng danh tự ( Chùa Giằng nổi tiếng)

- Hoa Phẩm thắng triền (Chợ Hoa Phẩm đẹp bên sông)

Nếu đi từ núi đến sông và chảy xuôi ra biển ta có:

- Hồng sơn liệt chớng:

Đây là dãy núi phía nam huyện, là phên dậu che chở cho Nghi Xuân, có chín xã trong huyện nằm ven chân núi Hồng Sơn là núi Hồng,

là dải Hồng Lĩnh và còn đợc gọi là Ngàn Hống

Cái tên Hồng bắt nguồn từ câu chuyện: Dãy núi xa có một trăm

đỉnh, có đỉnh Mồng Gà, đỉnh Đầu Voi, đỉnh Đầu Ngựa Phải chăng vì…thế mà đỉnh Ngọc tởng mình là cao sang, tách ra khỏi quần thể đứng một mình trên đất Đức Thuận (thuộc thị xã Hồng Lĩnh) Đàn chim Hồng nghe nơi đây có núi trăm đỉnh bèn gửi một trăm con đến tọa lạc, làm đẹp cho dãy núi, tạo thế cho đất càng linh hơn Sau khi có chín m ơi chín con hạ cánh, đậu lên chín mơi chín đỉnh, còn một con dù biết kia là đỉnh Ngọc,

đậu lên đó có thể sáng chói hơn Nhng vì không muốn xa bầy, bèn bay

l-ợn xung quanh Một nông dân xã Mỹ Dơng (xã Xuân Mỹ ngày nay) nhìn thấy, phần thì thơng con chim lẻ loi, phần thì sợ đàn chim bỏ đi, nên ông cùng với một số bạn bè sát chân núi đắp một “cục lịp” (lịp là hình cái nón) cho chim đậu Cảm thông, con chim thứ một trăm sà xuống đậu, nh-

ng do đắp vội, cục lịp vỡ ra, con chim đành bay Cả đàn bèn cất cánh bay theo Sau này núi nuối tiếc, mang tên Hồng làm kỷ niệm Cục lịp vẫn còn cùng với dải Hồng Lĩnh thơ mộng, tạo nên nhiều cảnh đẹp Có nền Trang

Trang 18

vơng xa xa, với chùa Hơng Tích đẹp và cổ kính, có dãy Ngũ Mã với đền Củi linh thiêng, có lăng mộ Ngọc Trần (vợ vua Lê Lợi) ở núi Na, có đá

Ông, đá Mụ, có truông Cồng Khánh, con đờng mà đại thi hào Nguyễn Du

đi tắt vợt Treo Vọt để hát phờng vải, có di chỉ văn hóa Phôi Phối Vì…thế chăng, mà dải Hồng Lĩnh đợc khắc tên Anh Đỉnh ở kinh đô Huế để tôn vinh những kì quan đẹp nhất nớc

- Hoa Phẩm thắng triền:

Hoa Phẩm là tên chợ, nằm trớc chân núi Na (trong dải Hồng Lĩnh thuộc địa phận xã Xuân Lam), chợ nằm gần sông, gần đờng cái quan, thông thơng Nam Bắc, là cảnh “Chênh vênh quán lá chen hoa tím Vắt vẻo đờng quan hơng thoảng bay” Chợ lại ở một bên trạm nơi dừng chân của các cuộc kinh lí, cùng gần nhà quán nên sầm uất Sau này, khi táng

bà Lê Nguyên Phi (vợ vua Lê Lợi) ở núi Na, chợ dời đến bãi Chế sát bờ sông, cảnh trên bến dới thuyền tấp nập, trù phú nên đã có những câu ngợi

ca “Chợ Chế một tháng sáu phiên Một quan mà bán tám tiền cũng đi” (Một quan bằng mời tiền)

- Cô Độc lâm lu:

Từ chợ Củi, xuôi xuống chút nữa ta gặp hòn núi Cô Độc (thuộc nhóm Ngũ Mã trong dải Hồng Lĩnh, địa phận xã Xuân Hồng) Nhìn cả nhóm núi nh đàn trâu đang cúi mình và một con nghé đứng riêng

Chuyện kể rằng: Trong lúc cả đàn đang ăn cỏ, một chú nghé non ngẩng đầu nhìn sang bên kia sông, nơi ấy cỏ hình nh xanh hơn, ngon lành hơn Chú lặng lẽ tách khỏi đàn định vợt sông, khi hai chân trớc vừa bớc xuống sông, điều không may đã đến, trời bắt chú hóa đá Thế là có một ngọn núi đá nằm bên bờ sông, nớc chảy lồng phía dới, thuyền chạy luồn thú vị biết bao…

Nhng ngời xa không muốn nhâm nhi chỉ có vậy, bèn đặt tên “Cô

Độc lâm lu” Đất mẹ rộng lòng thơng chắt chiu từng chút đất lấp xong khoảng trống đó Một ngôi đền ở trên sờn núi đợc hơng khói làm thơm lây hòn núi Đứng trên núi nhìn bốn phía phong cảnh thật thơ mộng

Trang 19

- Uyên Trừng danh tự:

Từ hòn Cô Độc xuống dòng rồi rẽ vào hói Dằng (thuộc xã Xuân Hồng), trên sờn hữu ngạn là chùa Uyên Trừng Chùa còn có những tên khác nhau nh chùa Hoa Tàng, chùa Dằng Chùa tọa lạc trong một cảnh quan đẹp trên dải Hồng Lĩnh, ẩn trong rừng cây cổ thụ, ba mặt là núi Hồng, có am Viện, trớc chùa là con khe nhỏ, có cầu gỗ mảnh mai bắc qua Phía trớc chùa có vực sâu (chừng hai cây nứa) Cảnh chùa tĩnh mịch, huyền bí trong tiếng chuông ngân, nối với ngoài bằng tỉếng chim Đây là ngôi chùa cổ linh thiêng nổi tiếng trên đất Nghi Xuân Chùa có từ thời nhà Lý, do Nhân Khánh lập và sau này (trong triều Nguyễn) chính hậu duệ của họ đã phá tan hoang

- Quần Mộc bình sa:

Từ chùa Uyên Trừng trở ra sông Lam, xuôi qua Bến Thủy, ta trông thấy cồn nổi giữa sông, đó là Quần Mộc (nay thuộc xã Xuân Giang) Xa Quần Mộc là bãi cát bồi bằng phẳng, viền quanh là rừng bần tơi xanh, trông nh đang nổi bồng bềnh giữa sông Cứ chiều đến là hàng ngàn cò trắng về đậu trên rừng bần, trông nh những đóa hoa trắng và buổi bình minh, đàn chim lại bay đi kiếm ăn, dới ánh nắng ban mai, cánh chim rực hồng lan tỏa ở đây xa còn là bàn đạp để tấn công sang hai bờ và trở thành bãi chiến trờng Ngày trớc, Quần Mộc có khi còn chọn làm trờng thi an toàn, dễ kiểm soát Thời Tây Sơn ở đây còn đắp thành lũy

Còn nay, đây là vùng dân c, đất đai màu mỡ, cây cối xanh tốt quanh năm Trong lòng có nhà thờ họ Hồ nổi tiếng Với không khí trong lành mát mẻ, chắc sẽ là điểm du lịch trong tơng lai

- Giang Đình cổ độ:

Rời Quần Mộc xuôi chút nữa ta gặp bến Giang Đình Xa, đây là bến đò ngang nằm ở trung tâm huyện, lại sát huyện lỵ, nơi đợc chọn làm nơi gặp mặt trên sông, về sau là nơi đón khách xa đến huyện (theo đờng thủy), rồi là nơi

đón các ông nghè vinh quy, mở hội ăn mừng và đợc rớc về quê quán

Trang 20

Bến Giang Đình đẹp, vì ngoài có rừng bần chắn gió, bến dốc nên sạch, trên bờ là những cây cổ thụ rợp bóng mát, ngay sát là chợ huyện, tên chợ cũng đợc mang tên Giang Đình Trên chợ dới thuyền thật là thuận lợi, buôn bán sầm uất Bến xa có lúc là đón ngời vinh hiển, có lúc lại xôn xao với vành yếm thắm, cũng có lúc đò sang tím lại bởi tiếng tâm tình.

Đại thi hào Nguyễn Du khi đặt chân lên bến Giang Đình lại nhớ

đến cụ thân sinh:

ức tích ngô ông ta lão thị

Phiêu phiêu bồ tử thử giang mi

(Nhớ cụ ta xa cáo lão về

Mé sông này rộn ngựa cùng xe)

Còn nay, bến đã dời đến chợ Giang Đình mới, đò nối hai bờ của hai tỉnh, nơi đón hàng từ ngàn về Chợ Giang Đình vẫn là trung tâm buôn bán tấp nập của huyện

- Đan Nhai quy phàm:

Rời bến Giang Đình xuôi về sông Lam, trớc đây gọi là cửa Đan Nhai, còn nay gọi là cửa Hội (cửa Đan Nhai là tên của xã Đan Nhai, cửa Hội là tên của xã Hội Thống, còn nay là xã Xuân Hội)

Ngày trớc, khi trời chiều buông xuống, ráng đỏ phủ lên cảnh vật, nhiều cánh buồm no gió lớt nh đan nhau về bến cửa, những cánh buồm óng ánh đỏ, mặt nớc nh tím lại, trên nền trời in những cánh hải âu sải cánh Hơn nữa, cửa Đan Nhai là vùng cát bồi trên chân núi Hồng Lĩnh, sách cũ còn ghi: Cửa Đan Nhai đá chìm lởm chởm, thuyền bè rất khó ra vào cửa sông Chính vì lẽ ấy, khi thuyền vào cửa lạch không thể chạy theo một đờng thẳng, mà còn phải căn cứ vào chớn nớc để thay đổi đờng

đi, lúc “bát, lúc “cạy” (sang phải, sang trái) làm cho những cánh buồm

no gió dập dờn qua lại khác nào đàn bớm đang vờn hoa, đàn cá đang dờn nớc

- Song ng hý thủy:

Trang 21

Đứng trên cửa bến Đan Nhai xa, nhìn về phơng Bắc ta mới nhận ra hai hòn đảo mang tên Song Ng (đảo nay thuộc tỉnh Nghệ An quản lý)

Đảo nh hai con cá lớn đầy đủ thân và đuôi, đang chầu vào nhau nh đùa giỡn trên mặt biển Nhất là những hôm sóng to, vỗ vào thân núi trắng xóa

nh hai con cá đang lội Còn đứng trong làng nhìn ra, bóng cây che lấp phía trớc, phía thân núi còn lại nh thân hai con trâu, lng oằn xuống, chắc

đang gục đầu vào nhau thử sức

Trải qua mấy nghìn năm sinh tồn và phát triển của mảnh đất này, các thế hệ ngời Nghi Xuân đã nối tiếp nhau lao động và sáng tạo, gìn giữ

và xây dựng, để đến hôm nay, trải bao phen thăng trầm, vẫn để lại cho hậu thế một kho tàng di sản văn hóa thật đồ sộ, phong phú và độc đáo

Tuy vậy trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ dừng lại tìm hiểu và khám phá ở một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu

Chơng II Một số đình đền và nhà thờ họ điển hình.

Trang 22

2.1 Đình Hội Thống

2.1.1 Khái quát về một số đình ở Nghi Xuân.

Đình làng Việt Nam đơn sơ mà ấm cúng Giữa những mái nhà đất, nhà gỗ mộc mạc đợc bao thành bởi những cây đa, bến nớc là sân đình và nổi bật lên mái đình với những đầu đao cong vút Mái đình nh ôm ấp cả làng quê thân yêu Có thể nói đình làng nh một biểu tợng cô đọng nhất của làng xã Việt Nam bởi đó là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng:

“Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thơng mình bấy nhiêu”

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngôi đình Việt Nam đợc xây theo một truyền thống cổ xa khi tổ tiên ta còn ở nhà sàn Ngôi đình mái cong trĩu nằm trên những cột đồ sộ bao giờ cũng có sàn lát bằng ván gỗ Những hình nhà sàn chạm khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ

cổ xa vào thời các vua Hùng dựng nớc đã nhắc khéo về truyền thống lâu

đời của kiến trúc đình làng ở Việt Nam

Thời gian trôi qua hàng chục thế kỷ, đất nớc trải qua bao cuộc chống ngoại xâm và khí hậu khắc nghiệt đã hủy diệt biết bao công trình kiến trúc

Hiện nay trên đất Nghi Xuân còn lại một số đình:

- Đình Hoa Vân Hải:

Đình Hoa Vân Hải nằm trên một triền cát rộng sát biển, thuộc làng Vân Hải, xã Cổ Đạm - huyện Nghi Xuân-Hà Tĩnh Đền đợc xây dựng giữa thế kỷ XIX dùng làm nơi cầu yên cho ng dân trớc lúc ra khơi đánh cá Về sau nhân dân ở đây xây thêm trớc mặt đền một ngôi đình năm gian để làm nơi sinh hoạt văn hóa của làng Kể từ đó, cụm di tích đ ợc gọi chung là đình Hoa Vân Hải

Nhân dân Cổ Đạm từ xa đến nay vốn có bề dày truyền thống yêu

n-ớc và đấu tranh cách mạng Khi Phan Đình Phùng dấy cờ khởi nghĩa chống Pháp, nhiều trai tráng của làng Cổ Đạm đã lên đại ngàn Hà Tĩnh tham gia cuộc kháng chiến trờng kỳ của cụ Phan Năm 1908, hởng ứng

Trang 23

lời kêu gọi của Trịnh Khắc Lập, dân làng Cổ Đạm lại sôi nổi tham gia vào phong trào chống thuế Trung Kỳ Đây còn là điểm gặp gỡ của các nhà nho ở 3 vùng hạ: Thạch Hà, Can Lộc, Nghi Xuân nên mùa hè 1926

đồng chí Hà Huy Tập lúc bấy giờ đang hoạt động ở Vinh đã về đây tuyên truyền giác ngộ lớp trí thức tiến bộ, gây dựng cơ sở của Đảng Tân Việt

đầu tiên trên đất Nghi Xuân

Đầu 1930, sau khi Đảng Cộng Sản Việt Nam đợc thành lập, Đảng

bộ lâm thời Hà Tĩnh ra đời, chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện Nghi Xuân cũng đợc thành lập tại ngôi đình Hoa Vân Hải

Khi phong trào cách mạng 1930 - 1931 phát triển lên dến đỉnh cao, nhân dân Cổ Đạm đã hòa với phong trào, vùng lên đập tan chính quyền tay sai của địch, lập chính quyền Xô Viết Ngôi đình làng năm gian đợc chọn làm trụ sở của chính quyền nhân dân địa phơng Nơi đây dã diễn ra nhiều cuộc mít tinh, chia thóc cho dân nghèo, mở lớp học chữ quốc ngữ

Khi Xô Viết Nghệ Tĩnh bị đế quốc Pháp dìm trong biển máu, xứ ủy Trung kỳ ở Yên Dũng thợng, Yên Dũng hạ, thành phố Vinh bị vây ráp khủng bố, các đồng chí Lê Mao, Lê Viết Thuật, Nguyễn Đức Cảnh trong ban thờng vụ của xứ ủy Trung kỳ đã vợt sông Lam về đình Hoa Vân Hải

để bảo toàn lực lợng Đợc nhân dân Nghi Xuân đùm bọc che chở nên ngôi

đình Hoa Vân Hải đã trở thành trung tâm chỉ đạo liên lạc của xứ ủy Trung

Kỳ vào những ngày tháng cuối cùng của cao trào cách mạng 1930 - 1931

Sau khi phát hiện đình Hoa Vân Hải là nơi liên lạc của xứ ủy Trung

kỳ, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp , triệt hạ làng Cổ Đạm Đình làng sau đó bị thực dân Pháp đốt trụi, chỉ còn lại một phần ở phía sau

Trải qua năm tháng và hai cuộc kháng chiến, đình Hoa Vân Hải đã

bị xuống cấp, toàn bộ tờng bao bị đổ, nay chỉ còn lại hai ngôi nhà trung

điện và hạ điện Kết cấu ở hai ngôi nhà này đơn giản, ít hoa văn họa tiết nhng chắc khỏe

Ngày 28/12/2001, đình Hoa Vân Hải đã đợc Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia Hiện nay ngôi đình đã trở thành một địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ

Trang 24

- Đình Hát:

Đình lớn nhất xã Xuân Viên còn gọi là đình Hát Đình Hát nằm trên cồn cao phía sau làng, xung quanh là ruộng nơng Đình hớng Nam Ngày trớc đình có ba tòa, thế chữ “tam” Tòa thợng có long ngai lớn đặt bài vị thờ đức Đại vơng cả Đậu Vĩnh Trờng Tòa trung, ở giữa là nền tế, hai bên là các bậc cao thấp khác nhau dành cho các vị chức sắc, những ngời nho học của xã Tòa hạ dành cho các đinh làng bình th ờng đến dự lễ

Phía trớc đình là hai cây muỗm lớn Bên phải cạnh đình là đền thờ bản thế, và tiếp đến là chùa Diên Phúc Bên trái cạnh đình là nhà dùng để dọn lễ, phụ nữ có thể dứng ở đây dự lễ Phía trớc đình là nền Thanh minh

và ngày xa cũng đợc dùng làm sàn diễn Phía ngoài hai cột hoa biểu lớn

là ao đình rộng, xa hơn chút nữa là dải Hồng Lĩnh

Chuyện kể rằng: Ngày xa, vua nhà Lý đi kinh lý phơng Nam, đến ngắm xem phong cảnh hùng vĩ của Hồng Lĩnh và chọn đây làm nơi nghỉ chân Để tiện những lần sau vua đến, dân dựng đình Phần tòa trung lúc

đầu để lộ thiên và dùng làm sàn diễn, vua quan ngồi trong đình hạ để xem hát, đình mang tên đình Hát từ đấy Sau này đây là nơi tổ chức liên hoan mừng công, mừng chiến thắng sau những cuộc chinh chiến đánh nam, dẹp bắc, bởi Xuân Viên cũng là nơi hội quân, ém quân

Ngày nay, đình Hát còn lại tòa hạ năm gian, là khung nhà cũ và

đ-ợc xây thêm tờng bao Bên trong có ba hơng án xây bằng gạch, vôi, vữa, phía trớc có ba bức cửa đóng, đồ thờ tự còn để lại vài thứ không đáng kể,

và bức đại tự “Mỹ Tục Khả Phong”, cạnh đình còn lại chùa Diên Phúc

Trớc kia, lễ khai hạ là lễ lớn nhất, đợc tổ chức tại đình Hát, để cầu mong quanh năm đợc “nhân an, phật thịnh, tăng tài, phát lộc” Ngoài ra

đình làng còn tổ chức lễ tế đinh

- Đình Ráng:

Ngày xa, đình Ráng thuộc xã Đan Tràng, nay ở trên đất Xuân Đan, ngay sát trụ sở ủy ban nhân dân xã Đình Ráng nằm trong lùm cây to

Trang 25

rậm rạp (tiền lâm hậu uyển), ngoảnh về phơng Nam Lúc đầu đình là ngôi nhà gỗ ba gian, hai bên lợp tranh, đến năm Tự Đức thứ ba (1850) bá

hộ Phan Trọng Thờng xin xây lại thành đình trung Cùng năm đó, bá hộ

Hà Văn Chiến xây thêm đình ngoài, lúc này mới đặt bát hơng thờ thành hoàng, hiện là ông cả Đạt toát nam Đền xin chân hơng từ đền Giáp (đền

Đại toát nam) xã Đan Phố, sau này rớc chân hơng lập đền ông cả phía bắc xã

Lúc đó xã có bảy làng thì sáu làng có thành hoàng riêng thờ tại các

đình nhỏ đơn sơ Lâu ngày, các đình nhỏ này bị h hỏng Năm 1942, cụ Nguyễn Công Thái đề xuất canh tân hơng thôn, lập hơng ớc, xã xây thêm hậu cung hai gian nằm dọc và sửa lại hai ngôi nhà cũ thành ba tòa rộng lộng lẫy rớc tất cả các thành hoàng ở các làng về thờ chung và lấy hiệu là

“Bách thần ch vị” Cạnh đình còn có vờn hoa, cây cảnh, bể cá rất lớn

Đình hiện còn một bản sắc thời Khải Định năm thứ 9

Ngày trớc, đình Ráng có hai lần lễ lớn trong năm Trong đó ngày giỗ thành hoàng 25/7 do làng biện lễ cúng Còn ngày mồng 4 tết xã tổ chức lễ hội

Các cụ còn nhớ đình Ráng là nơi phát chẩn cho mấy xã vào năm

đói 1945, là nơi tập hợp lực lợng tham gia biểu tình trong cách mạng tháng Tám, là nơi thành lập chi bộ Đảng cộng sản xã Đan Tràng tháng 12/1945

Đình Hội Thống từ khi xây dựng đến nay vị trí không thay đổi Duy chỉ có tên gọi hành chính cấp xã thuộc địa bàn của di tích là thay

đổi qua các thời kỳ lịch sử

Trang 26

Thời Lê - Nguyễn: Di tích thuộc xóm đình làng Hội Thống - Tổng

Đan Nhai - Nghi Xuân

Sau cách mạng tháng Tám 1945, đơn vị tổng đợc bãi bỏ trong toàn quốc Làng Hội đợc đổi sang một đơn vị hành chính mới - xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân

Hiện nay ngôi đình nằm trên địa phận xóm Hội Phú - xã Xuân Hội

- huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh

* Nguồn gốc lịch sử:

Di tích thuộc làng Hội Thống, xã Xuân Hội, cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 60 km về hớng Đông Bắc, cách thành phố Vinh khoảng 27 km về phía đông Xã Xuân Hội phía bắc giáp biển, phía nam giáp xã Xuân Tr-ờng, phía tây giáp sông Lam, phía đông giáp biển

Hội Thống là một làng quê thuộc xã Xuân Hội - Nghi Xuân - Hà Tĩnh Làng quê ven biển này nằm ở đầu sông Cả Con sông lớn nhất khu vực miền Trung và là điểm xung yếu về mặt kinh tế, quốc phòng trên bờ biển Thanh - Nghệ - Tĩnh Ngoài điều đó ra thiên nhiên còn u đãi cho Hội Thống mảnh đất “đầu sóng ngọn gió” này những cảnh đẹp nên thơ và

đầy ngoạn mục

Đình Hội Thống đợc khởi công xây dựng năm Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ thứ hai (1659), hoàn công năm Canh Tý niên hiệu Vĩnh Thọ thứ ba (1660) dới triều Lê Thần Tông

Hơn ba thế kỷ trôi qua đình Hội Thống là trung tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồng c dân của một vùng quê giàu truyền thông văn hóa và đã chứng kiến biết bao bớc thăng trầm lịch sử của mảnh đất và con ngời Hồng Lam

Đáng chú ý nhất là mỗi năm có bốn kì lễ lớn đã diễn ra tại đây Đó

là lễ khai hạ ngày mồng 7/1, lễ du xuân ngày 16/1, lễ rớc đồ mã vào ngày 26/12 và lễ kỳ yên vào ngày 15/7 Tại các kỳ lễ đó ngoài phần tế lễ trang trọng để tởng nhớ tới công lao những ngời đã có công với làng với nớc, còn có phần hội với những sinh hoạt văn hóa lành mạnh, vui vẻ

Trang 27

Năm 1930 - 1931 với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, đình Hội Thống trở thành điểm tập trung của các thanh niên, nhân dân địa ph ơng kéo lên huyện lỵ giành chính quyền.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đình lại trở thành nơi huấn luyện dân quân du kích và trờng học của địa phơng

* Đối tợng thờ tự:

Đình Hội Thống là nơi thờ tự ông Tô Hiến Thành Cuộc đời và sự nghiệp của ông có thể khái quát trên những nét lớn sau:

Ông sinh ra và lớn lên ở làng Chín Diên (nay thuộc Hạ Mô - huyện

Đan Nhai - tỉnh Hà Tây) Ông làm quan dới triều vua Lý Anh Tông (1138 - 1175) là một ngời thông minh, cơng trực, văn võ song toàn nên

ông đợc nhà vua hết lòng yêu quý, tin dùng Năm 1161 ông đã giữ chức

Đô tớng quân dẫn hai vạn quân binh di tuần phía tây nam và vùng ven biển để trấn áp kẻ thù Năm 1167 ông lại dẫn quân đi đánh Chiêm Thành

ở phía nam Đại Việt Cũng vào thời gian này nhà vua giao cho ông đ ợc quyền rèn binh, kén tớng, giảng trận pháp, tập bắn cung tên, cỡi ngựa việc quân đội, việc biên phòng lúc bấy giờ nhất nhất đợc chấn chỉnh

Năm 1176, ông đợc phong chức nội Kiểm Hậu Thái phó Trọng trách phò tá Lý Cao Tông (thái tử con vua còn bé) Ngày vua ốm yếu mọi việc quốc gia đều do ông định đoạt Khi Lý Cao Tông lên ngôi thì ông đ-

ợc tôn làm Thái úy Ông thi hành mệnh lệnh nhà vua một cách rõ ràng, một cách công minh, chính trực Bởi vậy ba quân lúc bấy giờ đều mến

mộ ông Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã tôn ông làm thành hoàng của làng để ngàn năm hơng khói phụng thờ

Tiếc là, hiện nay chúng tôi cha có cứ liệu nào để khẳng định lý do Tô Hiến Thành trở thành thành hoàng làng của làng Hội Thống Các sắc phong còn lại của các triều đại phong kiến Việt Nam phong cho làng Hội Thống đều ghi tên hiệu Lý Thái úy Tô Đại Liên – Phong th ợng đẳng thần

Trang 28

ở đây qua quá trình khảo sát chúng tôi cho rằng trờng hợp Tô Hiến Thành đợc tôn làm thành hoàng của làng Hội Thống ngoài sự mến mộ tài

đức của ông còn có một lý do khác nữa

Nh chúng ta đã biết Hội Thống nằm ở cửa của một con sông lớn nhất miền Trung, là điểm xung yếu về mặt quốc phòng trên bờ biển Thanh - Nghệ - Tĩnh Và biết đâu đó ở thời kỳ đó cửa Hội là một trạm quân sự quan trọng nhất của Đại Việt Còn Tô Hiến Thành, nhà vua trao trọng trách trông coi về mặt quân sự và trấn ải biên phòng Hơn nữa ông

đã từng dẫn quân đi tuần tra ven biển và cũng đã có lần ông dẫn quân đi

đánh Chiêm Thành ở phía nam Đại Việt Những lần đi ấy chắc chắn ông

đã đi qua cửa sông này và đó có thể là một nguyên nhân

Còn một điều quan trọng nữa là cuộc đời làm quan của ông có những thời kỳ mọi việc của quốc gia đều do ông định đoạt Đặc biệt là việc rèn binh, kén tớng và có thể những ngời đặt chân lên vùng đất Hội Thống đầu tiên đều do ông tôi luyện cử đến “tấn cửa Hội” để trấn ải và với chính sách “ngụ binh nông” để mở mang bờ cõi và phát triển kinh tế Những vị “tiên hiền” đã trở thành những ngời lập nên làng Hội Thống nhng tởng nhớ đến tài năng đức độ mà Tô Hiến Thành đã làm cho họ và

họ cho rằng ông mới là ngời có công lập làng và là thành hoàng của làng

Ngoài Tô Hiến Thành, đình Hội Thống còn thờ thêm hai vị:

Bà Nguyễn Thị Khuê - ngời dã bỏ một số tiền lớn để trùng tu đình vào năm 1918

Ông Vũ Ninh Tiến - ngời đã cung cấp cho làng Hội Thống rất nhiều tiền và ruộng để giúp làng sửa chữa đê điều, trang trải su thuế

*Đặc điểm kiến trúc điêu khắc

Đình Hội Thống có hớng chính là hớng tây, trên một diện tích là

1496 m2 Bao gồm cổng tam quan, nhà tả, hữu vu, sân và đình Có hệ thống tờng bao vây quanh, phía nam là cánh đồng lúa, phía bắc và phía

đông là khu dân c sầm uất Trớc chính diện với đình là cánh đồng Hội màu mỡ và xa hơn tý nữa là dòng sông Lam đang cuộn sóng

Trang 29

Tam quan

Tam quan đình Hội Thống có quy mô khá đồ sộ Nó đợc bố trí trên trục chính diện với ngôi đình với lối kiến trúc kiên hoàn, khép kín Hệ thống tam quan là một bộ bộ phận quan trọng trong kiến trúc đình Hội Thống Tam quan đình Hội Thống bao gồm một cửa chính và hai cửa phụ toàn bộ đợc xây bằng gạch, vôi, vữa.Cửa chính rộng 5.20 m Hai bên là hai cột nanh cao sừng sững Thân cột có hình khối vuông Trên đỉnh cột

có đắp hai con nghê đang quay đầu vào nhau Mặt chính của cột đ ợc đắp nổi hai con rồng bằng các mảnh sứ vỡ Toàn bộ cột tam quan cao 7.20 m Nối liền với hai cửa tiền là hệ thống tờng dài 2 m, dày 0.10 m Chính giữa có đặt xuyên hoa Đây là hệ thống tiếp nối hai cửa phụ, Cửa phụ đ ợc xây theo kiểu hình vòm cuốn chồng diêm, hai tầng

Tầng một là hai khu trụ xây bằng vôi, vữa, cách nhau tạo thành hai cửa vòm có kích thớc cao 3.20 m, rộng 2.40 m Nối với trụ là bốn mái nổi văn uốn cong Tầng trên có độ dài nhỏ hơn tầng một

Hai bên cửa phụ là hệ thống tờng giắc nối liền với cột quyết có chiều cao là 5 m, trên có đắp nổi lên tợng bông sen Cột quyết là giới hạn cuối cùng của hệ thống tờng giắc tam quan Hệ thống tờng giắc này mỗi bên có chiều dài 7 m, cao 1.20 m, dày 0.10 m Chính giữa của mỗi bên

đỡ hai cột trụ ốp chồng nhằm tạo độ vững cho bức tờng Và hệ thông ờng này có các hình ô vuông nhằm tạo sự thoáng đãng và tăng thêm vẻ

t-đẹp cho hệ thống tam quan của ngôi đình

Từ cột quyết này ngời ta xây hệ thống tờng vuông góc với hệ thống tờng giắc của tam quan Cùng với hệ thống tam quan, hệ thống tờng bao này đã tạo nên một hệ thống liên hoàn khép kín khu vực nội thất di tích

đình Hội Thống

Sân đình

Qua khỏi cổng tam quan là sân đình, sân đình có diện tích là 14.9

m x 29.6 m Từ cổng tam quan một con đờng đợc lát bằng gạch rộng 3.50

m hớng thẳng tới sân đình, sân đình dợc tạo bởi khuôn viên, cây cảnh nh cây bàng, cây đại, cây phợng

Trang 30

Bớc vào sân đình, cách cổng tam quan khoảng 3 m ta gặp hai pho ợng bằng đá thạch anh Đó là hai pho tợng voi đợc tạo dáng đứng đang h-ớng đầu vào nhau Mắt nhìn thẳng, đầu ngẩng cao, vòi buông thả, cổ đeo

t-đục đạc Toàn bộ tợng cao 1m Tợng đặt trên bệ đá có kích thớc 1m x 0.45m, nó đã cùng với hệ thống khuôn viên cây cảnh tạo sự thoáng mát, sạch sẽ tăng vẻ đẹp tĩnh mịch cho kiến trúc di tích

Nhà tả vu, hữu vu.

Nhà tả vu, hữu vu đợc thiết kế xây dựng ngay trong khu sân đình với chất liệu gạch, vôi, vữa Đợc bố trí đối diện nhau và thiết kế giống nhau, mỗi nhà bao gồm năm gian, bốn vì kèo bằng gỗ Trên lợp ngói vảy Tờng hậu cùng chung với hệ thống tờng bao quanh Phía hai đầu hồi của nhà tả vu, hữu vu đợc xây hai cột đứng cao 3.60 m Chính giữa là hệ thống bốn cột quyết làm trụ đỡ cho bốn vì kèo đồng thời tạo nên một hệ thống cửa ra vào

Kết cấu vì kèo: Kết cấu vì kèo nhà tả vu, hữu vu bao gồm đờng hạ làm bệ đỡ cho hai cột trụ con và hai đờng quá giang Toàn bộ tạo thành một bệ đỡ cho bộ phận của mái ngói Kích thớc đờng xà hạ là: 0,15m x 0,08 m x 3,50 m

Trên đình mái đợc đắp nổi một hệ thống gờ nổi nhằm tạo sự vững bền của mái ngói chống gió bão

Tờng hồi phải của nhà hữu vu và trái của nhà tả vu đợc xây nhô cao lên khỏi gờ mái với hình chữ nhật có ba cấp nhằm làm nổi trang trí Tại tờng hồi này có xây hệ thống cửa vòm có kích thớc: cao 1.85m, rộng 1m, dày 2,20 m

Tờng hồi trái của nhà hữu vu và nhà tả vu cao 3.60 m x rộng 3.50m

x 0.20m Tờng hậu dài 11.70 m, cao 2.70 m, dày 0.11 m

Đối xứng với bốn cột quyết ngời xa đã đổ bốn trụ ốp tờng để làm trụ đỡ cho bốn vì kèo, cũng là trụ đỡ cho bức tờng hậu Tại gian trái và gian phải của gian chính ở tờng hậu ngời ta xây hai cửa sổ bằng song gỗ Nền láng xi măng và độ cao so với mặt bằng sân đình là 0.20m Mặt bằng của mỗi gian bằng nhau và có kích thớc nh sau: 3.50m x 2.30m

Trang 31

Nối liền với tờng hậu là tờng bao kéo dài tới đình ở hai phía trái và phải mặt tiền của ngôi đình ngời ta xây vuông góc với tờng bao tạo thành độ khép kín khu di tích.

Nhà bia

Nhà bia trái: Đợc làm cách tờng hồi phía nam của đình là 4.50m Nền đợc láng xi măng với kích thớc 2m x 1.35m Độ cao so với mặt bằng xung quanh là 0.20m có kiến trúc đơn giản, bốn góc xây bốn cột trụ đỡ lấy mái, không xây tờng bao

Bia: Bệ làm bằng đá thạch anh có kích thớc: 0.83m x 0.76 m x 0.21

m Bia đợc tạo dáng hình chữ nhật với kích thớc: 1.17 m x 0.76 m x 0.11m

Trán bia đợc tạo dáng hình mặt nguyệt Chính giữa tâm trán bia chạm nổi hình mặt trời, xung quanh là mây lửa Diềm bia đợc trang trí các họa tiết hoa lá Mặt chính đợc khắc chữ Hán nhng do thời gian nên chữ đã bị mờ

Nhà bia phải: Tờng hồi phải của đình, theo hớng bắc 3.50 m ngời

ta xây một nhà bia Nhà bia này cùng trục ngang với nhà bia trái Độ cao

so với mặt bằng xung quanh là 0.20 m, có cấu trúc nh sau: Nền nhà bia

có hình vuông, mỗi cạnh là 2.20 m Đợc xây một hệ thống tờng bao khép kín Trên đổ mái vòm cuốn Phía chính diện có xây một cửa có kích thớc: 1.30 m x 0.85 m Toàn bộ nhà bia cao 3 m

Bia: Đợc làm bằng đá thạch anh đặt trên bệ có kích thớc: 0.45 m x 0.80 m x 0.20 m Bia hình chữ nhật với kích thớc: 0.60m x 0.95 m x 0.15

m Bia khắc chữ hai mặt (chữ đã bị mờ) Trán bia chạm mặt hổ phù, xung quanh là họa tiết mây lửa Diềm bia với các họa tiết, hình quả trám hồng

Đình:

Ngày xa, đình đợc xây theo hình “chữ nhị”, trớc sân là hai cột hoa biển cao vút, trên đỉnh đắp đôi nghê chầu Năm 1979 xây thêm hai tòa dải vũ, dải văn thành chữ “quốc”, bên ngoài có tờng bao

Trang 32

Toà Đại đình: Đây là bộ phận chính và là bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc đình Hội Thống Vì vậy đình đợc xây cao hơn mặt bằng xung quanh là 0.40 m, với diện tích mặt bằng là 22.5 m x 9 m Nền đ ợc láng bằng xi măng Hành lang đợc lát bằng gạch hình vuông.

Toà Đại đình gồm bảy gian, tám vì kèo, bốn hàng cột ngang, tám hàng cột dọc, cột con có đờng kính 0,40 m, cột cái có đờng kinh 0,50 m Trên các câu đầu có một hàng cột trốn đỡ xà nóc Mái lợp ngói vảy Trên

đỉnh nóc đắp dầu hổ phù đội nguyệt và hai cột bên là hai con rồng đang uốn lợn Tại gác bẻ của dải bờ mái đắp nổi hai con nghê đang hớng vào nhau Tại gác mái là các đầu đao hình rồng cách điệu

Dãy cột hiên có hình vuông kích thớc là: 0.20 m x 0.20 m x 0.30 m làm cột trụ đỡ cho đuôi kẽ mái, chân cột kê đá tảng hình vuông

Dãy cột con có hình tròn Chân cột kê bằng đá thạch anh, cột cao 3.20m

Dãy cột cái có hình tròn Chân cột kê bằng đá thạch anh có kích

th-ớc 0.70 m x 0.70 m x 0.20 m, cột cao 4.90 m

Từ đỉnh nóc hay còn gọi là thợng lơng có một cột trốn xuống câu

đầu có bệ làm trụ đỡ cho đỉnh xà nóc, cột trốn đ ợc đỡ bằng khâu đầu to khoẻ

Toàn bộ hệ thống vì kèo, xà ngang, xà dọc, đờng hoành, câu đầu

đ-ợc liên kết với nhau bởi những con mộng, tạo thành một bộ khung vững chắc đỡ lấy mái

Ngôi đình đợc khép kín bởi các tờng hồi và tờng hậu Tờng hồi đợc xây tiếp giáp với tờng bao vừa làm hệ thống đỡ cho kê mái hồi và mái ngói Tờng hậu đợc xây khép kín với hai tờng hồi Tại các đuôi kẽ mái có xây hệ thống cột trụ liền tờng để thay thế cho các hiên hồi đỡ lấy hiên kẽ mái Phần chính giữa của tờng hậu gian chính có một xuyên hoa hình tròn

Nh vậy, từ hệ thống tam quan cùng với hệ thống tờng bao, tờng hồi, tờng hậu của ngôi đình đã tạo nên một tổng thể khép kín khu vực nội

Trang 33

thất của kiến trúc đình Hội Thống Điều đó nhằm tạo nên một không gian tĩnh mịch, nghiêm trang đầy nét văn hóa của kiến trúc đình làng.

Kết hợp với quy mô kiến trúc đình Hội Thống thì nghệ thuật điêu khắc ở đây cũng chiếm một vị trí quan trọng Bởi lẽ nó đã cùng với quy mô kiến trúc tạo nên sự hoàn chỉnh, thống nhất trong nghệ thuật kiến trúc đình Hội Thống

Tại gian chính của đình phía dới câu đầu là đầu d Đầu d đợc thể hiện bằng các đầu rồng miệng ngậm ngọc chạm lọng Và thân rồng đợc thể hiện lên phần kẽ mái

Các nghệ nhân xa đã khá công phu, tỷ mỉ cho việc hóa thân hình ợng rồng vào đó Với những đờng chạm sắc nét, tỉ mỉ hình tợng rồng đã

t-đợc thể hiện một cách nhẹ nhàng uyển chuyển nhng rất chắc khỏe

Trên hệ thống ván ấm của đờng xà trung và đờng hoành gian giữa

đợc chạm nổi mặt hổ phù, hai bên hai con rồng và khoang cách chia đều nhau bằng bốn chữ Hán chạm nổi: Thánh trạch quân ân (Lộc thánh ơn vua)

Hệ thống ván ấm của các gian khác cũng đợc chạm khắc khá công phu vì các đề tài long vân, cuốn th Cũng tại các điểm tiếp giáp của kẻ chuyền đình Hội Thống nghệ nhân ngày xa đã thể hiện các đề tài sóng n-

ớc, cá đề tài về rồng đang uốn lợn, về đề tài hoa lá

Trên các đờng xà, câu đầu không chạm khắc mà chỉ bào xoi hình

vỏ măng hai đầu nối thu nhỏ chút ít Những kỹ thuật đó cùng với thời gian, khí hậu của khu vực tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật c ỡng lại những khuyết tật thô của từng bộ phận

Nghệ thuật điêu khắc của nghệ nhân làng Hội còn đợc thể hiện tại các mặt của kẽ mái và ở phía đuôi kẽ mái tiếp giáp với cột con và những lá ván hình tam giác đỡ lấy những lá ván hình tam giác này là nơi ẩn hiện của những họa tiết rồng uốn lợn

Đồng thời cái tài nghệ thuật, cái dịu dàng, cái tinh tế của nghệ thuật điêu khắc còn đợc còn đợc thể hiện ở hai đầu ván hồi Chính giữa là cột trốn hạ xuống câu đầu là hai lá ván hình tam giác đỡ lấy hoành mái

Trang 34

Phía dới là một hệ thống ván hồi Hai bên chạm nổi hai con hạc đứng chân to, khỏe, đầu cao ở t thế vơn lên và chính giữa là cụm hoa với các loài hoa khác nhau, sống động và trang nghiêm, thuần khiết

Toàn bộ đã tạo nên một mảng trang trí hết sức độc đáo, hấp dẫn của kiến trúc

Thật khó mà nói hết về tài nghệ của các nghệ nhân ở đình Hội thống: Thông minh, dí dỏm, vui nhộn, sâu sắc Hình ảnh thiên nhiên hiện thực sinh động của hoa lá đợc họ nâng lên thành một nghệ thuật mộc mạc; nhát chạm phóng khoáng mà bó gọn, bố cục đơn giản mà đầy đủ,

động tác chọn lọc mà không thiếu, nếu cần thì tỉa gọt nhng không cầu kì Các hình khối thì rõ ràng thể hiện cái sinh động của các chi tiết, cái đậm

đà và cái tơi tắn của thiên nhiên và con ngời xứ Nghệ

Vậy với sự nhuần nhuyễn của nghệ thuật điêu khắc với một quy mô

đồ sộ, cùng sự khép kín liên hoàn đã tạo nên một tổng thể, thống nhất

đậm đà tính văn hóa dân tộc của đình làng Hội

Đình Hội Thống đợc tôn lên vị trí quan trọng, không hẳn vì đó là một trong những ngôi đình cổ nhất của Hà Tĩnh còn lại đến ngày nay

* Bài trí nội thất

Tại gian chính đình hội thống trên cùng treo bức đại tự bằng gỗ có sơn son thiếp vàng với bốn chữ Hán lớn “Xuân Đài Thọ Vực” tạm dịch là: “Cõi thọ đài xuân”

Phía dới là bức tranh vẽ trên gỗ có màu sắc hài hòa với đề tài “L ỡng long chầu nguyệt”

-Tại gian chính có đặt hệ thống hai ghế đối diện nhau Mặt ghế bằng gỗ lim đợc đặt trên bệ xi măng có hình chân quỳ

Trang 35

Hai bên trái, bên phải của gian chính ngời ta xây nổi hai bệ xi măng hình chữ nhật Đây là nơi tiến hành làm lễ khi hội đình.

Đình Hội Thống là một di tích kiến trúc nghệ thuật cổ đã và đang

đứng vững trên mảnh đất chứa đựng nhiều sự kiện lịch sử đáng nhớ này Năm 1995 đình Hội Thống đợc nhà nớc cấp bằng “Di tích lịch sử - văn hóa” cấp quốc gia

2.2 Đền Liễu Hạnh công chúa (Đền Củi).

2.2.1.Khái quát một số đền ở huyện Nghi Xuân.

Thiên nhiên và con ngời Nghi Xuân trong quá trình phát triển của lịch sử đã tạo nên một miền quê hội tụ nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Ngoài hệ thống đình nh trình bày ở phần trớc, hệ thống đền thờ cũng là một loại hình di tích phong phú, đa dạng trên đất Nghi Xuân

* Đền Thánh mẫu

Từ xa đến nay ngời dân xã Xuân Lam gọi ngôi đền ở núi Na là đền

“Đức Thánh mẫu” Các cụ cao niên cho biết, sở dĩ đời trớc suy tôn bậc thánh mẫu là bởi ngời sinh ra vua Lê Thái Tông

Đền Đức Thánh mẫu thờ hoàng hậu Ngọc Trần, vợ vua Lê Lợi lên ngôi năm 1428 Phần mộ có từ sau ngày mất năm ất Tỵ (1425) Phần đền xây dựng đầy đủ vào đời Lê Thái Tông

Ngôi đền có kiến trúc kiểu hậu am tiền miếu Thợng điện hai gian, dài 5.6 m, rộng gần 5 m Gian trong là phần mộ, gian giữa là h ơng án chạm trổ tinh xảo, phía trớc mộ, bái đờng rộng ba gian để nhân dân cúng tế

Thợng điện là cung cấm với bốn cửa thợng song hạ bản Một cửa phụ về hớng tây do thủ từ đóng mở

Hàng năm cứ đến ngày giỗ của Ngời (ngày 24/3) nhân dân địa

ph-ơng tổ chức lễ hội, cúng tế tởng nhớ đến bà, ngời có công cứu dân cứu ớc

n-* Năm đền thờ Nguyễn Xí ở tổng Cổ Đạm.

Trang 36

Cổ Đạm là một tổng trong huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, có bốn xã và một làng lập đền thờ Nguyễn Xí Đó là:

Đền Yên Ninh ở làng Yên Ninh, xã Cơng Gián nơi ông nội là Nguyễn Hợp làm nghề muối

Đền thờ đại vơng Nguyễn Xí, khuôn viên khoảng hai sào, xung quanh xây tờng bao quanh

Đền Chính ở xã Động Gián (nay thuộc xã Cơng Gián huyện Nghi Xuân) Thờ bản thuộc quốc công Nguyễn Xí Đền nằm trong lùm cây cổ thụ, phía trớc có những hồ sâu, nớc mát và trong Đền có ba tòa thợng, trung và hạ điện

Đền Thợng ở xã Cơng Gián, nơi ba đời của Nguyễn Xí đã từng sinh sống Ngày trớc đền có ba tòa thợng, trung và hạ điện, sau đó chỉ còn lại thợng điện xây kiểu hai lầu và gần đây xây trung điện ba gian đơn giản làm bái đờng Đền nằm trong lùm cây cổ kính, đoạn sông chảy qua, bờ sông đợc kè bằng đá

Đền Cơng Khấu ở xã Cơng Đoán (nay thuộc xã Xuân Liên)

Đền Cơng Khấu ở Phú Lạp (nay là xã Cổ Đạm), lớn nhất về kiến trúc có thể vì đó là đền Hàng Tổng Đền nằm trên cồn đất cao trên bờ sông, quanh đền cây cối rậm rạp

Các đền đều có nét chung: Nằm phía tả ngạn dòng sông Mỹ Dơng chảy từ dãy Hồng Lĩnh đổ ra lạch Động Kèn; đều nằm sát bờ sông, ngoảnh về hớng nam

Cấu trúc của các đền đều có ba tòa thợng, trung, hạ điện, tòa nào cũng lớn, chạm trổ đẹp

Các đền không chỉ thờ riêng mình Nguyễn Xí, thí dụ: Đền thợng ở Cơng Gián thờ cả ông nội là Nguyễn Hợp và cha là Nguyễn Hội hay

đền thợng ở Cơng Đoán thờ cả thần Tô tớng công và thần Hoàng Mạnh Lang (đều là ngời trong xã có công với làng với nớc)

* Đền thờ Đức Đại Vơng Hai (Xuân quận công Nguyễn Nghiễm)

Trang 37

Nguyễn Nghiễm là con thứ hai của Thái bảo quận công Nguyễn Quỳnh Ông sinh ngày 14/3 năm Mậu Tý (1708) tại thôn Võ Phấn (nay thuộc thôn Hồng Lam xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

Năm 1731 thi Đình đậu Hoàng giáp, là ngời trẻ nhất khoa thi ấy

Ông làm quan dới triều Lê – Trịnh, đợc phong tặng đôi câu đối:

Lỡng triều danh tể tớng

Nhất thế đại nho s

Ông là ngời nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực cả văn lẫn võ Ông mất năm 1776 đợc chúa Trịnh ban tiền bạc cho dân làng và con cháu xây lập

Tòa thợng: Gồm ba gian, ba mặt tờng, sau và hai bên xây kín , có hai dãy cột bằng gỗ lim, xà hạ đều gác tờng Các bục bệ hơng án thờ đều xây bằng gạch Riêng gian giữa có hơng án làm bằng đá thanh chạm chân quỳ, đờng nét thanh, l hơng, bát nhang toàn làm bằng đá hoặc gốm nung Tòa thợng có ba cửa ra vào

Đây là ngôi đền nổi tiếng linh thiêng

Ngoài ra chúng ta còn có thể kể dến một số đền: Cụm đền huyện,

đền thánh s địa lý Tả Ao, đền tam tòa

2.2.2 Đền Liễu Hạnh công chúa (Đền Củi).

2.2.2.1 Nguồn gốc lịch sử.

Từ thành phố Vinh theo đờng quốc lộ 1A theo hớng Nam khoảng mời km, hoặc từ thị xã Hà Tĩnh theo hơng bắc khoảng 40 km là đến xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Đây là nơi Hồng Lĩnh vơn

Trang 38

mình sà vào dòng Lam giang, và Lam giang dịu dàng ôm ấp, vỗ về núi Hồng để tạo nên một vùng non nớc sơn thủy hữu tình, nên thơ:

“Dãy núi dồn nhau xuống phía đông

Để rơi một ngọn cạnh bờ sông

Chân lèn sâu, cạn, triều lên xuống

Mõm núi dày, tha, cỏ chéo chồng

Núi lặng mõ canh, chòi gác vắng

Tai không rửa bẩn, nớc nguồn trong

Lớt bè trên nguyệt, đêm qua lạnh

Vẽ lại Ngân hà cảnh đẹp chung”

Thơ Bùi Dơng Lịch

Võ Hồng Huy dịchNhững ngọn núi dồn nhau xuống phía đông ấy là núi Ngũ Mã, còn ngọn núi rơi cạnh bờ sông là núi Khu Độc (Cô Độc) Nơi đây đã trở thành một trong Nghi Xuân bát cảnh mà ngời đời vẫn gọi là: Cô Độc lâm

lu Chắc lẽ không chỉ vì thiên nhiên hùng vĩ của núi cao sông rộng và sự giao hòa sắc duyên của sơn thủy mà phải chăng còn bởi ngôi đền thiêng thờ Thánh Mẫu - Thánh Mẫu linh từ (Đền Củi)

Ngôi đền tọa lạc ở mạn bắc ngọn núi, ngoảnh về hớng tây, ngay

tr-ớc mặt là dòng sông Lam trong xanh rộng lớn, chung quanh có nhiều cây

ăn quả, cây cảnh tơi tốt nh hồng, nhãn, khế, bởi, bàng Sau lng là dãy núi Ngũ Mã, có thông xanh tầng tầng, lớp lớp

Các tòa điện cao dần theo thế núi uy nghiêm và đờng bệ trong ngút ngàn màu xanh của rừng cây cổ thụ ngắm nhìn mênh mông sông n ớc của dòng Lam, tạo nên một không gian kiến trúc vừa huyền ảo linh thiêng, vừa khoáng đạt gần gũi

Từ quốc lộ 1A, men theo chân núi Ngũ Mã khoảng 300 m, rồi lại theo mép sông vài chục thớc là đến khu đền thiêng Đền Củi có tên chữ

là Khu Độc linh từ đợc tạo lập từ cuối đời nhà Lê, đã trải qua một vài lần tôn tạo nhng vẫn giữ nguyên nét xa, trang nghiêm, thần bí, hài hòa với cảnh quan sông núi và tâm thế của dân gian

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phan Thuận An (2004), Kiến trúc cố đô Huế. Nhà xuất bản Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cố đô Huế
Tác giả: Phan Thuận An
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hoá
Năm: 2004
[2] Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hoá sử cơng. Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cơng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2002
[3] Toan ánh (1992), Tìm hiểu phong tục Việt Nam nếp cũ - tết lễ - hội hè. Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong tục Việt Nam nếp cũ - tết lễ - hội hè
Tác giả: Toan ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 1992
[4] Vũ Kim Biên (2003), Giới thiệu khu di tích lịch sử đền Hùng . Sở Văn hoá thông tin thể thao Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giíi thiệu khu di tích lịch sử đền Hùng
Tác giả: Vũ Kim Biên
Năm: 2003
[6] Ngô Văn Doanh (2004), Thánh địa Mỹ Sơn. Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thánh địa Mỹ Sơn
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2004
[7] Trần Tấn Hành - Chủ biên (1997), Di tích danh thắng Hà Tĩnh . Sở Văn hoá thông tin Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích danh thắng Hà Tĩnh
Tác giả: Trần Tấn Hành - Chủ biên
Năm: 1997
[8] Chu Trọng Huyến (1995), Nguyễn Công Trứ con ngời và sự nghiệp. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Trứ con ngời và sự nghiệp
Tác giả: Chu Trọng Huyến
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1995
[9] Vũ Ngọc Khánh (1996), Nguyễn Công Trứ. Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Hà Nội
Năm: 1996
[10] Bùi Dơng Lịch (1993), Nghệ An ký. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An ký
Tác giả: Bùi Dơng Lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1993
[11] Lịch sử Đảng bộ Nghi Xuân (2000). Ban thờng vụ Huyện uỷ Nghi Xu©n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghi Xuân
Tác giả: Lịch sử Đảng bộ Nghi Xuân
Năm: 2000
[12] Lịch sử Nghệ Tĩnh (1994), Tập 1. Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Tác giả: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
Năm: 1994
[13] Nhiều tác giả (2005), Nghi Xuân di tích và danh thắng . Nhà xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi Xuân di tích và danh thắng
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2005
[14] Lơng Ninh - Chủ biên (2001), Lịch sử văn hoá thế giới cổ - trung đại. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hoá thế giới cổ - trung đại
Tác giả: Lơng Ninh - Chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
[15] Vũ Dơng Ninh - Chủ biên (2000), Lịch sử văn minh thế giới. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Vũ Dơng Ninh - Chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
[16] Đặng Duy Phúc (1994), Về Tiên Điền nhớ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Đặng Tất, Đặng Dung. Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Tiên Điền nhớ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Đặng Tất, Đặng Dung
Tác giả: Đặng Duy Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 1994
[17] Đặng Thanh Quê (2002), Ngời Nghi Xuân. Nhà xuất bản Văn hoá thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời Nghi Xuân
Tác giả: Đặng Thanh Quê
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin. Hà Nội
Năm: 2002
[18] Thánh Mẫu Lnh Từ Đền Củi (2003). Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thánh Mẫu Lnh Từ Đền Củi
Tác giả: Thánh Mẫu Lnh Từ Đền Củi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 2003
[23] Trần Quốc Vợng (2003), Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vợng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
[5] Lê Văn Diễn (2001), Nghi Xuân địa chí Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w