1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu di tích lịch sử văn hoá đại thi hào nguyễn du (nghi xuân hà tĩnh)

74 276 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 239,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nhà nghiên cứu phơng Tây và cácnhà nghiên cứu Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo thì cho rằng: Một trong nhữngnguyên nhân làm cho các quốc gia này phát triển nhanh và ổn định, đó chính là

Trang 1

Trờng Đại học Vinh Khoa lịch sử -*** -

Bùi Thị Hải

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu di tích lịch sử - văn hoá đại thi hào Nguyễn du (nghi xuân - Hà Tĩnh)

Trang 2

biệt làm thế nào mà các nớc này có thể duy trì sự cân bằng, hài hoà giữa sự pháttriển cao về kinh tế và ổn định xã hội mà không đánh mất đi những giá trị vănhoá truyền thống? Đó là những câu hỏi lớn, phức tạp không dễ trả lời

Xuất phát từ những góc độ tiếp cận khác nhau, ngời ta đã đa ra nhữngcách lý giải khác nhau Tuy nhiên, một điều thú vị là cả Nhật Bản và bốn conrồng châu á đều nằm trong khu vực lan toả cua văn hoá Trung Hoa và đều chịu

ảnh hởng mạnh mẽ của t tởng Nho giáo Chính đặc điểm này đã mở ra cho cáchọc giả một hớng tiếp cận mới Phải chăng là có mối liên hệ nào đó giữa văn hoáNho giáo với sự phát triển của các quốc gia, hay các vùng lãnh thổ nói trên?Việc nghiên cứu theo hớng này của các học giả đã mang lại nhiều kết luận mới

đáng chú ý, mặc dù còn gây không ít tranh cãi hiện nay

Bên cạnh những mặt tiêu cực và hạn chế có thể nhận thấy đợc ngời ta đãbắt đầu có sự xem xét đánh giá lại những giá trị của t tởng Nho giáo theo mộtchiều hớng tích cực và khách quan hơn Nhiều nhà nghiên cứu phơng Tây và cácnhà nghiên cứu Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo thì cho rằng: Một trong nhữngnguyên nhân làm cho các quốc gia này phát triển nhanh và ổn định, đó chính lànhờ họ đã biết phát huy đợc những mặt tích cực của t tởng Nho giáo trong di sảnvăn hoá của đân tộc mình Từ kết luận này, có thể thấy rằng việc tìm hiểu quátrình du nhập, phát triển và ảnh hởng của Nho giáo đối với đời sống xã hội NhậtBản vẫn luôn mang một ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

Mặt khác, cũng nh nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam á và Đông Bắc

á, Nhật Bản cũng là một trong những mảnh đất mà Phật giáo bén rễ từ khá sớm.Cho đến ngày hôm nay, khi Nhật Bản đã là một cờng quốc công nghiệp thì Phậtgiáo vẫn chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với cộng đồng đân c trên đất n-

ớc này Phật giáo hiện vẫn là tôn giáo lớn thứ hai ở Nhật Bản với số lợng tín đồ

đông đảo (hơn 90 triệu) và chỉ sau Thần đạo là tôn giáo bản địa của ngời Nhật

Đến với Nhật Bản, chúng ta có thể thấy nhiều công trình kiến trúc, điêu khắc,nhiều phong tục tập quán đặc trng của dân tộc này chịu ảnh hởng sâu sắc của ttuởng Phật giáo và vẫn đợc duy trì trên đất nớc Nhật Bản hôm nay Sức sống lâubền cũng nh ảnh hởng sâu sắc của Phật giáo đối với một đất nớc nh vậy quả cũng

là một điều kì lạ Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu vấn đề này vẫn có sức hút đối vớinhững ai muốn hiểu thêm về nền văn hoá Nhật Bản

Phật giáo và Nho giáo là những học thuyết triết học, học thuyết chínhtrị-xã hội có nội dung t tởng sâu sắc và triết lý cao siêu Trong suốt chiều dài củalịch sử, Phật giáo và Nho giáo đã đợc truyền bá rộng rãi và có ảnh hởng lớn đến

đời sống, văn hoá của nhiều quốc gia khu vực trên thế giới Quá trình truyền bá

Trang 3

Phật giáo và Nho giáo cũng là một bộ phận của quá trình truyền bá và giao luvăn hoá giữa các quốc gia, châu lục Tìm hiểu quá trình du nhập, phát triển cũng

nh ảnh hởng của Phật giáo và Nho giáo tới đời sống xã hội của một nớc lánggiềng nh Nhật Bản sẽ giúp chúng ta có đợc cái nhìn sâu sắc hơn, đầy đủ hơn vềvai trò của giao lu văn hoá trong tiến trình phát triển của nhân loại

Phật giáo, Nho giáo và lịch sử Nhật Bản là một phần quan trọng trongchơng trình học tập, nghiên cứu của sinh viên KHXH ở các trờng đại học cao

đẳng Tìm hiểu về Phật giáo và Nho giáo trong lịch sử Nhật Bản sẽ giúp chúng tahiểu biết sâu sắc hơn về lịch sử và nền văn hoá giàu bản sắc của dân tộc này

Đồng thời nó cũng là cơ sở để củng cố, phát triển mối quan hệ hữu nghị hợp tácgiữa hai dân tộc Việt Nam – Nhật Bản và góp phần làm cho mối quan hệ đóngày càng trở nên bền vững hơn

Xuất phát từ những ý nghĩa nói trên, cộng với việc tiếp thu và kế thừanhững thành tựu khoa học của các tác giả đã và đang nghiên cứu về Phật giáo,Nho giáo và Nhật Bản, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Xã hội Nhật Bản dới ảnh hởngcủa Nho, Phật Trung Quốc thời phong kiến" làm khoá luận tốt nghiệp của mìnhdới sự hớng dẫn của thầy giáo Hoàng Đăng Long

2 Lịch sử vấn đề và nguồn tài liệu

Có thể nói, việc nghiên cứu Nhật Bản từ trớc đến nay đã thu hút đợc sựquan tâm của khá nhiều học giả Tuy nhiên, nghiên cứu về Nho giáo và Phật giáocũng nh ảnh hởng của nó đến đời sống xã hội Nhật Bản thời trung đại thì cha cómột tác phẩm chuyên khảo nào Hầu hết các tác phẩm mới chỉ đề cập đén khíacạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề

Cuốn "Bách khoa th Nhật Bản" của Richard Bowring & Peter Kornicki

đã giới thiệu cho ngời đọc những nét đặc trng nhất về lịch sử Nhật Bản từ khởithuỷ đến nay, do đó các dữ liệu thờng chỉ có tính khái quát, vì thế việc xem xét

đánh giá ảnh hởng của Nho, Phật đối với xã hội Nhật Bản cha thể hiện rõ

Cuốn “Nhật Bản sử lợc” của 2 tác giả Châm Vũ – Nguyễn Văn Tần đã

đề cập một cách khái quát về lịch sử Nhật Bản cũng nh qua trình tiếp thu văn hoáTrung Hoa của đất nớc này

Cuốn “Lịch sử Nhật Bản ” của G.Sansom (3 tập) đã đề cập đến toàn bộ

lịch sử Nhật Bản, đồng thời tác giả cũng trình bày khái quát sự du nhật của Phậtgiáo vào Nhật Bản và việc Nhật Bản học tập cách thức tổ chức bộ máy nhà nớccủa Trung Hoa Tuy nhiên, phần viết về ảnh hởng của Nho giáo và Phật giáo đốivới đời sống xã hội Nhật Bản còn mang tính hệ thống

Trang 4

Cuốn “Lợc sử văn hoá Nhật Bản ” của GB.Sansom (2 tập) đã trình bày

các giai đoạn phát triển lịch sử của Nhật Bản, trong đó tác giả đã đề cập tới một

số tôn giáo và nghệ thuật Nhật Bản Đây là một cuốn sách đợc viết khá công phu

và là tài liệu tham khảo tốt cho việc viết luận văn

Cuốn “Lịch sử Nhật Bản ” của GS Phan Ngọc Liên (Chủ biên) cũng đã

đề cập đến tiến trình phát triển của lịch sử Nhật bản từ thời nguyên thuỷ đến nay

Cuốn “Kinh tế Nhật Bản – Những bớc thăng trầm trong lịch sử” của LuNgọc Trịnh chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề kinh tế đặc biệt từ thờiMinh Trị đến xã hội hiện đại Trong tác phẩm này, tác giả chỉ mới trình bày dớidạng giới thiệu những ảnh hởng của văn hoá Trung Hoa đối với Nhật Bản, một

số phân tích về ảnh hởng của Nho giáo đối với xã hội Nhật Bản thời Tokugawa

Cuốn “Nho giáo và phát triển ở Việt Nam ” của GS.Vũ Khiêu trong

ch-ơng I có đề cập tới Nho giáo ở Nhật Bản một cách khái quát, trong đó tác giả chỉ

ra sự khác biệt giữa Nho giáo ở Trung Quốc và Nho giáo ở Nhật Bản, sau đó tậptrung phân tích ảnh hởng của Nho giáo đến sự phát triển kinh tế của Nhật Bảnchủ yếu trong thời hiện đại

Ngoài ra, còn khá nhiều bài viết trên các tạp chí của các tác giả kháccũng đã đề cập đến mặt này hay mặt khác của vấn đề

Hai tác giả: Đỗ Công Định và Thích Minh Đăng với bài viết “Đạo phật ở

Nhật Bản” trên tạp chí “Nghiên cứu Phật học” số 4 – 2001 đã đề cập một cách

khá sinh động về quá trình truyền bá, phát triển đạo Phật của Nhật Bản

Nguyễn Thị Thuý Anh với bài "Tác động của tôn giáo đến đời sốngchính trị Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX" trong tạp chí "Nghiên cứuNhật Bản và Đông Bắc á" số 3 – 2001 đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát

về ảnh hởng của Phật giáo đối với chính trị Nhật Bản

Hoàng Thị Thơ trong tạp chí “Nghiên cứu tôn giáo” số 1- 2001 với bài

“Vài nét đặc trng của Phật giáo Thiền tông Nhật Bản ” đã giới thiệu những nét

đại cơng nhất về các tông phái Thiền ở Nhật Bản

Phạm Đức Thành với bài “Vai trò của Khổng giáo trong phát triển ở

đông á” trong tạp chí “Nghiên cứu Đông nam á ” số 4 – 2000 có đề cập dến

vai trò của nho giáo trong sự phát triển của đông á Tác giả đã phân tích một số

ảnh hởng tích cực của t tởng nho giáo đối với sự phát triển kinh tế- xã hội củakhu vực này, nhng chủ yếu trong xã hội hiện đại

Cung Hữu Khánh với bài “ảnh hởng của khổng giáo ở Nhật Bản giai

đoạn trớc thế kỉ XVIII ” trong tạp chí “nghiên cứu Nhật Bản” số 1- 1997 cũng đã

Trang 5

chỉ ra những tác động của đạo khổng đối với xã hội Nhật Bản trên một số lĩnhvực nh thiết chế chính trị, giáo dục

Nhìn chung, việc nghiên cứu Nhật Bản đã thu hút sự quan tâm củanhiều học giả trong và ngoài nớc Tuy nhiên, cho đến nay vẫn cha có một côngtrình nào đề cập một cách sâu sắc và toàn diện về vai trò của Phật giáo và Nhogiáo đối với đời sống xã hội Nhật Bản thời phong kiến Do đó, trên cơ sở tập hợp

t liệu và kế thừa thành quả của các tác giả đi trớc, luận văn sẽ cố gắng làm sáng

tỏ ảnh hởng của Nho giáo và Phật giáo đối với xã hội Nhật Bản trong thời phongkiến

3 Phạm vi nghiên cứu.

Là một sinh viên năm cuối, do khả năng và trình độ có hạn, đặc biệt làkhả năng sử dụng tiếng nớc ngoài trong việc su tầm tài liệu, nên trong khoá luậnnày tôi giới hạn đề tài là “Xã hội Nhật Bản dới ảnh hởng của Nho, Phật TrungQuốc thời phong kiến” Ngay trong phạm vi này, do hạn chế về nguồn tài liệu,luận văn chỉ tập trung tìm hiểu ảnh hởng của Nho giáo và Phật giáo đối với đờisống xã hội Nhật Bản ở một số lĩnh vực nh: Chính trị, kinh tế, văn học, kiến trúc,

điêu khắc, hội hoạ, giáo dục, đạo đức Tuy nhiên, để đảm bảo tính lôgic của vấn

đề, ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn cũng đề cập tới nhữngvấn đề có liên quan đến đề tài nh giới thiệu khái quát về đất nớc, con ngời NhậtBản cũng nh bối cảnh lịch sử của đất nớc này trớc khi Phật giáo và Nho giáo dunhập vào

4 Phơng pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi đã sử dụng nhiều phơngpháp nghiên cứu chuyên nghành của bộ môn đó là: Phơng pháp lôgic và phơngpháp lịch sử Ngoài ra, tôi cũng kết hợp các phơng pháp phân tích, so sánh, tổnghợp Để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu Tuy nhiên, trong quá trình làmkhoá luận, chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy rấtmong đợc sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy cô cũng nh tất cả các bạn sinh viên Tôixin chân thành cảm ơn và tiếp thu những ý kiến đó

Trang 6

B Nội dung

Chơng I quá trình du nhập, phát triển của phật giáo và nho

giáo ở nhật bản thời phong kiến

1 Vài nét khái quát về đất nớc và con ngời Nhật Bản.

1.1 Đất nớc Nhật Bản.

Nhật Bản là một quốc gia ở Đông Bắc Thái Bình Dơng thuộc miền cực

đông của lục địa châu á Quần đảo Nhật Bản đợc tạo nên từ những vụ núi lửacách đây hàng triệu năm kéo dài từ vĩ tuyến 30 độ đến 45 độ bắc, theo hình cánhcung ôm lấy lục địa châu á, Nhật Bản bao gồm 4 đảo lớn : Hokkaido, Honshu,Kyushu, sikoku và khoảng gần 4000 đảo nhỏ rải ra trên 3800 km Theo nh kếtquả nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết, trớc kia Nhật Bản vốn nối liền vớilục địa châu á chứ không bị ngăn cách bởi biển nh ngày nay Nhật Bản có thểliên lạc với châu á lục địa qua 3 con đờng: Con đờng phía Bắc từ Đông xibia

đến hokkaido qua xakhalin; Con đờng phía Đông từ bán đảo Triêù Tiên đếnhonshu và con đờng phía Nam từ đất Trung Hoa đến đảo kyushu qua Đài Loan

và đảo ryukyu Từ rất lâu những con đờng này đã trở thành cầu nối giao lu vănhoá giữa Nhật Bản với thế giới bên ngoài Do bản thân là một quần đảo nên NhậtBản hầu nh bị tách biệt với thế giới bên ngoài đặc biệt là với đại lục (nhất là ởnhững buổi đầu của lịch sử) Ngời ta thờng ví Nhật Bản nh là nớc Anh của châu

Âu Tuy nhiên, trờng hợp của Nhật Bản khác so với nớc Anh Trong khi Anhcách lục địa châu Âu chỉ có 31 km thì mỏm cực Tây của Nhật cách Triều Tiên

117 km và phải vợt 800 km đờng biển mới tới bờ biển Trung Quốc Trong điềukiện kĩ thuật đóng thuyền còn hạn chế, cộng thêm vào đó là bão tố thờng xuyênxuất hiện thì khoảng cách xa nh vậy của Nhật Bản với lục địa quả là một trở ngạirất lớn cho việc giao lu giữa Nhật Bản với lục địa, đặc biệt là Trung Quốc- mộttrong những trung tâm văn minh lớn của thế giới Với vị trí địa lý đặc biệt đó đãgiải thích vì sao mãi đến thế kỉ IV–VI thì quan hệ giữa Nhật Bản với TriềuTiên, Trung Quốc mới đợc đẩy mạnh Tuy vậy, cũng cần phải thấy rằng bêncạnh mặt hạn chế ấy thì yếu tố địa lý đặc thù cũng là nhân tố quan trọng giúpcho Nhật Bản có thể tiếp thu văn hoá Trung Quốc một cách tự nguyện chứ khôngphải chịu áp lực quân sự hay xâm lợc Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam lànhững quốc gia chịu ảnh hởng mạnh mẽ của văn hoá Trung Quốc, song do cáchbiệt với Trung Quốc nh vậy (800km đờng biển) nên ảnh hởng của văn hoá TrungQuốc đối với Nhật Bản có khác so với ở Triều Tiên và Việt Nam Sự cách biệt ấy

Trang 7

đã tạo ra một biên giới an toàn để ngời Nhật tự do lựa chọn những gì mình muốn

từ nền văn hoá rực rỡ của Trung Hoa và chính sự cô lập ấy đã làm nảy nở nhữnggiá trị văn hoá có tính chất độc đáo, khác xa cái vay mựơn Có một số quan điểmcho rằng ngời Nhật chuyên đi bắt chớc, nhng sự thật thì ngợc lại Tuy tiếp thunhiều luồng văn hoá từ bên ngoài, song ngời Nhật đã biết sắp xếp lại thành mộttổng hợp mới khác hẳn và thích ứng nó với đặc điểm của dân tộc mình

Do các đảo của Nhật Bản chạy dài từ Bắc tới Nam tạo thành một vòngcung dài (3800 km) nên khí hậu của hai miền Nam, Bắc rất khác nhau Nhiệt độtrung bình hàng năm ở cực Bắc Hokkaido là 6,50C, trong khi đó ở cực NamKyushu là 170C Mặc dù vậy, phần lớn đất đai của Nhật Bản đều nằm trong vùngkhí hậu ôn hoà Có đợc điều này là do tác động của các dòng hải lu ở biển TháiBình Dơng và biển Nhật Bản Nhìn chung khí hậu Nhật Bản thích hợp cho sựphát triển của động thực vật và đời sống con ngời Cũng nh nhiều miền ở châu á,Nhật Bản cũng nằm trong khu vực chịu ảnh hởng của gió mùa trải rộng từ miềnduyên hải Xibia ở phía Bắc đến miền Đông Nam ấn Độ và cũng thuộc vùngnông nghiệp trồng lúa nớc của miền Nam Trung Quốc và các nớc Đông Nam á.Khí hậu Nhật Bản tơng đối ôn hoà, mùa hè nóng, mùa đông lạnh nhng khôngkhắc nghiệt Đất nớc này nắng lắm ma nhiều, do đó có thảm thực vật phong phú,hoa trái bốn mùa tơi tốt, cảnh quan và môi trờng sinh thái rất thuận lợi cho sứckhoẻ con ngời [12,18]

Nếu nh thiên nhiên đã u ái khi ban tặng cho Nhật Bản một khí hậu ônhoà thì ngợc lại về tài nguyên, nó lại tỏ ra quá khắt khe với quốc gia này khi màhầu nh ở Nhật Bản không có nguồn tài nguyên, khoáng sản nào đáng giá Có thểnói, Nhật Bản là một quốc gia rất nghèo về tài nguyên Điểm hạn chế đó đã ảnhhởng khá lớn đến sự phát triển của Nhật Bản sau này, nhng phải chăng đây cũng

là một nhân tố để hình thành nên tính cách tiết kiệm của ngời Nhật? Mặt khác,

đất đai của Nhật Bản chủ yếu là đồi núi cằn cỗi không thích hợp cho sự pháttriển của nông nghiệp ở đây diện tích đất canh tác chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ(khoảng 15%) Hơn nữa, việc không có đợc vùng châu thổ rộng lớn nh Ai Cập,Trung Quốc, ấn Độ cũng là một hạn chế rất lớn cho Nhật Bản trong việc pháttriển kinh tế, nhất là trong điều kiện sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo.Mặc dù vậy, việc phát triển kinh tế nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọngtrong đời sống của c dân Nhật Bản cho đến đầu thế kỷ XIX Đất đai cằn cỗi, diệntích canh tác ít, do vậy để đáp ứng nh cầu lơng thực, thực phẩm cho mình, thìkhông còn cách nào khác là ngời dân Nhật phải lấy sự cần cù, tiết kiệm để bù

Trang 8

đắp vào những chỗ thiếu hụt đó Và phải chăng đây là một yếu tố góp phần địnhhình nên tính cần cù trong lao động của ngời dân Nhật Bản?

Cũng do nằm trong khu vực cha ổn định của cấu trúc địa chất mà NhậtBản phải thờng xuyên hứng chịu những trận núi lửa, những cơn bão biển ghêgớm Có thể nói, Nhật là một quốc gia có nhiều động đất trên thế giới Việc phảithờng xuyên sống chung với động đất, núi lửa, bão biển đã có ảnh hởng khôngnhỏ đến tính cách của con ngời Nhật Bản Trong một bức tranh toàn cảnh, ngời

ta có cảm nhận dờng nh ở Nhật có sự đan xen, kết hợp của những điều tởng nhkhông thể, những điểm trái ngợc nhau, nhng lại thống nhất trong một chủ thể tạonên một Nhật Bản rất riêng, rất độc đáo Đó là đất nớc của những cảnh quanthiên nhiên hùng vĩ và dữ dội, ngoạn mục nhng đầy biến động, đẹp nhng cũnghết sức khắc nhiệt đối với con ngời Có thể nói,những điều kiện ấy đã trở thànhnhững chất xúc tác quý giá tôi luyện nên con ngời Nhật Bản, tạo dựng nên ở họnhững phẩm chất đáng quý và một nền văn hoá đặc sắc không hề lẫn lộn vớibất cứ quốc gia nào – nền văn hoá của đất nớc Mặt Trời mọc

1.2 Con ngời Nhật Bản

Nguồn gốc dân tộc Nhật Bản cho đến nay vẫn là một vấn đề gây tranhcãi Ngời ta đã từng đa ra nhiều giả thuyết về tổ tiên của ngời Nhật Tuy cónhững điểm khác nhau giữa các giả thuyết, nhng hầu hết các ý kiến đêù tơng đốithống nhất ghi nhận đặc tính nổi trội của Môgôlôid trong dòng máu ngời Nhật.Bên cạnh đó, thông qua các kết quả nghiên cứu, so sánh về mặt văn hoá, các họcgiả đều nhận thấy những bằng chứng có tính thuyết phục về mối liên hệ chặt chẽgiữa ngời Nhật với cộng đồng c dân cổ xa định c ở vùng Đông Bắc á, NamTrung Hoa cũng nh Đông Nam á Những điểm tơng đồng này có thể thấy từphong cách chế tác những dụng cụ cầm tay thời đá cũ, nét hoa văn trên các bình,

vò gốm nguyên thuỷ, những huyền thoại về văn hoá tộc ngời và những phong tụctập quán, ngôn ngữ, âm nhạc, kiến trúc của c dân Nhật Bản với c dân các nớctrong khu vực [7,36] Từ những kết quả nghiên cứu liên ngành, trong những thập

kỷ gần đây nhiều nhà khoa học cho rằng: Ngay từ thời kỳ đồ đá cũ, con ngời đã

đến sinh sống trên quần đảo Nhật Bản – con số chính xác là khoảng 500.000 năm [7,35] và tổ tiên xa xa của ngời đã di c từ phía Bắc lục địa châu áxuống và có một bộ phận từ miền duyên hải Nam á lên Khảo cổ học đã chứngminh đợc rằng các nhóm c dân săn bắt và đánh cá từ phía Đông Xibia di c sangphía Bắc nớc Nhật qua đờng Hokkaido và Sakhalin Nền văn hoá của họ lan toảtới trung tâm hòn đảo HonShu và tới cả miền Kanto Nhóm ngời này có thể là

400.000-tổ tiên của tộc Ainu – một dân tộc hiện nay chỉ còn lại rất ít (khoảng 18.000

Trang 9

ngời) ở vùng cực Bắc đảo Hokkaido và Sakhalin Còn các nhóm c dân có phơngthức sản xuất chính là trồng lúa nớc có thể từ miền Nam Trung Hoa, miền ĐôngDơng di c vào Nhật qua đảo Đài Loan và các đảo Ryukyu vào thời kì đồ đá mới[12,23]

Nh vậy, có thể nhận định rằng : Dân tộc Nhật Bản là một tạp chủng đãhình thành trong thời kỳ tiền sử bởi nhiều thành phần, từ nhiều địa phơng ở châu

á du nhập vào ở những thời điểm khác nhau Trải qua quá trình sinh sống lâu dài

đã có sự hoà đồng giữa các cộng đồng dân c đến sau với những thổ dân đến trớchình thành nên dân tộc Nhật Bản Ngày nay, trên các quần đảo Nhật Bản, 123triệu dân Nhật là một dân tộc thống nhất với những truyền thống văn hoá, phongtục tập quán, tôn giáo, tâm lý xã hội riêng biệt và độc đáo [12,23]

Nói chung văn hoá của một bất cứ dân tộc nào cũng có nét riêng biệt

độc đáo, nhng đối với trờng hợp Nhật Bản, những nét đặc trng trong văn hoá của

họ mang sắc thái khá rõ ràng và đồng nhất Có thể kiểm định điều đó qua lịch sửhay quan sát trong những sinh hoạt hiện tại [25,19] Xuất phát từ nhiều góc độtiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể nhấn mạnh mặt này hay mặt kia,

đặc điểm này hay đặc điểm khác, nhng nhìn chung là khá thống nhất, mặc dù để

đi đến giải quyết đợc vấn đề bản sắc của văn hoá Nhật Bản là gì thì đòi hỏi phải

có những công trình nghiên cứu công phu của nhiều chuyên gia Song tựu trunglại có thể thấy một số đặc trng nổi bật sau đây:

Thứ nhất: Đó là tính hiếu kì và nhạy cảm đối với văn hoá nớc ngoài Về

điều này, giáo s Vĩnh Sính đã đa ra những nhận xét hết sức sắc sảo "Có thể nóirằng không có một dân tộc nào nhạy bén về văn hoá nớc ngoài cho bằng ngờiNhật Họ không ngừng theo dõi những diễn tiến trên thế giới bên ngoài, đánh giá

và cân nhắc ảnh hởng của những trào lu và xu hớng chính đối với Nhật Bản Một

điều đáng chú ý khác là khi họ biết trào lu nào đang thắng thế thì họ có khuynhhớng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lu đó, không để mất thời cơ"[25,20]

Trong lịch sử Nhật Bản có hai thời điểm hết sức quan trọng phản ánh nét

đặc trng này Vào thế kỷ VII – VIII và nửa sau thế kỷ XIX, khi nhận thấyTrung Quốc dới thời nhà Đờng và phơng Tây là trung tâm văn hoá, khoa học tiêntiến thì ngay lập tức Nhật Bản đã gửi các đoàn học giả, s tăng và du học sinhsang các nớc đó để học tập Đặc biệt, họ còn cho mời những ngời nớc ngoài cótrình độ cao để sang giúp họ xây dựng và canh tân đất nớc Tinh thần thực dụng,tính hiếu kỳ, óc cầu tiến của ngời Nhật là động lực quan trọng giúp họ có thể

đuổi kịp các nớc tiến tiến Mặc dù rất nhạy cảm đối với văn hoá nớc ngoài, song

Trang 10

ngời Nhật rất có ý thức về tài sản văn hoá của họ Họ học tập nớc ngoài, nhngkhông phải bắt chớc một cách nguyên xi mà là tiếp thu có chọn lọc và chủ độngbiến nó thành cái của mình, phù hợp với dân tộc mình Vừa nhạy cảm và sẵnsàng tiếp thu văn hoá nớc ngoài, vừa cố gắng bảo tồn văn hoá truyền thống củadân tộc, đó chính là hai dòng chủ lu trong văn hoá Nhật Bản.

Thứ hai: Ngời Nhật hết sức tôn trọng thứ bậc và địa vị ý thức tôn trọng

thứ bậc có lẽ đã có từ lâu trong đời sống của ngời Nhật, bằng chứng là các sửliệu Trung Quốc dựa trên sự quan sát của các sứ thần đến thăm Nhật Bản, biênsoạn vào cuối thế kỷ III có ghi lại: "Khi ngời ở tầng lớp thấp gặp ngời ở tầng lớpcao thì họ tránh khỏi đờng và bớc ra chỗ cỏ Nói với ngời trên thì phải ngồi bệthoặc quỳ, hai bàn tay chống xuống đất Đó là cách tỏ lòng cung kính " [22,39].Thái độ nhún mình hoặc khúm núm trớc ngời có địa vị, quyền chức đợc đặc biệtnhấn mạnh trong hơn 250 năm dới thời Tokugawa Vào thời kỳ này, xã hội NhậtBản đợc chia làm 4 giai cấp: Sĩ (võ sĩ), nông, công, thơng dựa trên quan niệm xãhội của Nho giáo Ngày nay, ý thức tôn trọng thứ bậc vẫn đợc thể hiện trongcuộc sống hàng ngày, từ vị trí ngồi trong phòng họp, trong các buổi tiệc tùngKhông ai bảo ai, tất cả đều biết chỗ nào mình có thể ngồi mà không đi ng ợc lạitrật tự thứ bậc Trong cách ăn nói, giao tiếp hàng ngày cũng vậy, đối với ngời lớntuổi hay ngời có địa vị thì phải dùng ngôn ngữ kính trọng; Khi nói về mình vànhững ngời trong gia đình mình thì phải dùng ngôn ngữ khiêm tốn Ngời nào nóikhông đúng cách có thể bị xem nh là ngời thiếu học [25,24]

Thứ ba: Ngời Nhật có tính cộng đồng rất cao Cộng đồng, tập thể đóng

một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của ngời Nhật Một trong nhữngviệc cấm kỵ nhất đối với họ là làm mất danh dự của tập thể, của cộng đồng.Trong mọi hoạt động, ngời Nhật thờng gạt "cái tôi" lại để đề cao cái chung, tìm

sự hoà hợp giữa mình và những thành viên khác trong một tập thể, trong cộng

đồng Giải thích về tính cộng đồng cao của ngời Nhật, có ngời cho rằng đó là donhững điều kiện thiên nhiên dữ dội của Nhật làm cho ngời Nhật phải đề cao cộng

đồng tập thể, có ngời lại cho "đó là hệ quả của sự kết hợp giữa t tởng Khổng giáovới Thần đạo" [12,25] Còn Ruth Benedict – nhà dân tộc học ngời Mỹ thì chorằng: "Đạo đức phơng Tây dựa vào ý thức cá nhân nhận thấy mình có tội vớichúa, do đó xng tội hay thú tội là nhẹ ngời, còn đạo đức Nhật Bản và một số nềnvăn hoá khác lấy động cơ hổ thẹn, sợ xã hội chê bai là chính chứ không phải tự l-

ơng tâm cắn rứt, do đó các nhân gắn chặt với chuẩn mực xã hội" [15,109]

Trang 11

Thứ t : Ngời Nhật có thói quen sống thanh bạch, giản dị, gần gũi với thiên

nhiên Có thể nói không ngoa rằng họ đã học đợc nghệ thuật sống thanh bạch,giản dị và điều này đợc thể hiện trong các món ăn hàng ngày, trong lối kiến trúcnhà cửa Tất cả đều là những vật liệu hết sức quen thuộc nh gỗ, tre, rau, cáNgời Nhật cũng rất gắn bó với thiên nhiên Tình cảm gắn bó với thiên nhiên của

họ có sắc thái tín ngỡng và tôn giáo trong tiềm thức dân gian Ngời Nhật cho câycối, loài vật đều có quỷ thần nên phải tôn thờ Đến nay, dân Nhật còn giữnhững lễ hội gắn với thiên nhiên, xuất phát từ sinh hoạt nông nghiệp theo mùa(lễ hội cấy lúa vào tháng 4, lễ hội cơm mới vào tháng 10 ) Ngời Nhật cũng cótục lệ ngắm hoa Anh đào, hoa Mẫu đơn, hoa sen, hoa cúc, hoa Asagaô Núinon đối với ngời Nhật cũng gần gũi chứ không đáng sợ Họ quan niệm rằng đó lànhững nơi thanh bình, yên tĩnh, trong lành, nên thơ Chính vì vậy, ở Nhật Bản từ

"San" nghĩa là núi thờng gắn với tên các tu viện hoặc các ngôi đền thiêng liêng

Thứ năm: Ngời Nhật có óc thẩm mỹ rất cao ấn tợng ban đầu của du

khách khi đến thăm Nhật Bản đó là sự ngạc nhiên và thán phục về óc thẩm mỹcủa ngời Nhật Từ cách bày biện đồ ăn thức uống, nhà cửa, trang hoàng sách vở,báo chí, hàng quán, cho đến các đền chùa đều khiến cho ngời đến thăm mơmàng về một thuở xa xa Gian phòng trà đạo nhỏ nhắn, đơn sơ, phảng phất mùiThiền mà ở đó thời gian nh ngừng lại, hay những khu vờn lát đá la tha với nhữngphiến đá không xếp thành hàng, bao quanh là rêu phong, cỏ dại khiến cho kháchbớc qua có cảm tởng nh mình đang lìa cõi tục Nét chung nhất trong óc thẩm mỹcủa ngời Nhật là coi trọng cái duyên dáng, tế nhị bên trong hơn là cái tráng lệbên ngoài Vờn Thiền – một công trình nghệ thuật độc đáo thấm đợm óc thẩm

mỹ tinh tế của ngời Nhật là một ví dụ điển hình "Đó là một loại hình điêu khắctrên mặt đất, tôn trọng mặt đất nguyên thuỷ Thiên nhiên ở đây đợc nghệ thuậtsắp xếp lại mang ý nghĩa tợng trng Một gốc cây, một hòn đá, một vũng nớc haymột cái thác nhỏ cũng đủ gợi lên một hình bóng cả vũ trụ" [12,30] Nghệthuật trà đạo nổi tiếng của Nhật Bản thể hiện sự hoàn thiện óc thẩm mỹ và tâmtính ngời dân xứ sở Mặt Trời mọc Phòng trà phải hẹp, thể hiện sự khiêm tốn, các

đờng nét phải giản dị, trang trọng, vật liệu thông thờng là tre và các thứ bình ờng khác Khi thởng thức trà, thể xác và tâm hồn phải trong sạch (tĩnh tâm) theotinh thần của Thiền và Thần đạo óc thẩm mỹ của ngời Nhật không chỉ biểu hiệnqua các sự vật hiện tợng bên ngoài mà quan trọng hơn là thể hiện trong nhânsinh quan của họ Giáo s Vĩnh Sính đã nhận định "có lẽ ngời Nhật xem công việccủa họ không những là một hoạt động kinh tế mà còn là một hoạt động thẩmmỹ" [25,25]

Trang 12

th-Tóm lại, những đặc trng nêu trên chắc chắn cha thể khái quát hết cái gọi làbản sắc văn hoá Nhật Tuy nhiên, đây là những đặc trng nổi bật dễ nhận thấy khixem xét lịch sử Nhật Bản Có nhiều tác giả đã tìm cách giải thích "tính độc đáoNhật Bản" bằng những yếu tố kinh tế, xã hội, địa lý, lịch sử, chủng tộc Songthật khó để khẳng định nhân tố nào đóng vai trò quyết định Có lẽ chính sự tác

động tổng hợp của các nhân tố đó đã tạo nên một "tính cách Nhật Bản", một nềnvăn hoá truyền thống hết sức độc đáo và đến lợt mình, những nhân tố độc đáo ấy

đã góp phần xây dựng một nớc Nhật hùng cờng Trải qua bao thăng trầm củalịch sử, bản sắc dân tộc Nhật Bản vẫn giữ gìn và phát huy cho đến tận hôm nay.Bên cạnh nền văn minh hiện đại, ngời Nhật vẫn luôn tôn trọng những giá trị độc

đáo của nền văn hoá cổ truyền Phải chăng bản sắc dân tộc trong đời sống xã hộinói chung, trong nền văn hoá truyền thống nói riêng đã góp phần tạo nên sứcmạnh cho nớc Nhật nhanh chóng bớc lên con đờng giàu mạnh, văn minh?

2 Qúa trình du nhập, phát triển của Phật giáo và Nho giáo vào Nhật Bản thời phong kiến.

2.1 Tình hình Nhật Bản trớc khi Phật giáo và Nho giáo du nhập.

Theo truyền thuyết, nớc Nhật Bản đợc thành lập từ năm 660 TCN khiThiên hoàng Jimmu (Thần Vũ) thuộc dòng dõi của thần mặt trời Amaterasu lênngôi Jimmu là ngời đầu tiên dựng lên nớc Nhật Bản và là vị Thiên hoàng thứnhất của đất nớc này Các biên niên sử đã ghi lại sự việc Jimmu trở thành Thiênhoàng nh sau: "Trong nhiều năm nhà vua này đã đánh thắng và bình định đợccác bộ lạc mà ông ta gặp trên đờng tiến của mình và đã trở thành chủ nhân củaYamato ở vùng này, ông xây dựng một cung điện ở đó ông ăn mừng cuộcchinh phục của mình bằng những cuộc tế lễ Nữ thần Mặt Trời vào ngày 11 tháng

2 năm 660 TCN" [22,37] Nhng tất nhiên đó là một ngày hoàn toàn dựa vàotruyền thuyết và hiện nay đã hoàn toàn bị các nhà sử học bác bỏ Những thành tụcủa khoa học liên nghành cho phép ta dựng lại tiến trình phát triển của lịch sửNhật Bản từ buổi đầu, dù rằng còn khá sơ sài

Cách đây khoảng 400.000-500.000 năm, trên dất nớc Nhật Bản đã có conngời sinh sống Điều chắc chắn là dấu vết của thời đại đồ đá đã đợc các nhà nhàkhảo cổ học phát hiện có niên đại từ 30.000-10.000 năm trớc đây Nền văn hoá

đồ đá giữa và nền văn hoá đồ đá mới bắt đầu từ khoảng 8.000 -7.500 TCN đã

đ-ợc tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nớc Nhật Bản Những di chỉ khảo cổ tìm thấytrong nền văn hoá Jômôn (thế kỷ V-I TCN) cho thấy hoạt động kinh tế chủ yếu

Trang 13

của thời kỳ này là săn bắn, đánh cá và hái lợm Con ngời cũng đã biết dựng lều

để ở bằng cách đào nền sâu xuống một ít rồi cắm cọc xung quanh, che cỏ bênngoài [12,35]

Thời kỳ Jômôn, ngời ta cũng biết làm đồ gốm bằng đất nung nhng không

có men, hình dáng thô sơ và đợc trang trí bằng hoa văn nh dây thừng xoắn, dovậy tên gọi Jômôn đợc đặt cho nền văn hoá này Văn hoá Jômôn tồn tại trênkhắp quần đảo Nippon và đây là nền văn hoá thực sự của ngời Nhật Bản

Sang thế kỷ III TCN, trên phần lớn lãnh thổ miền Nam Nhật Bản đã xuấthiện một nền văn hoá cao hơn – Nền văn hoá Yayoi Nền văn hoá này tồn tại

đến khoảng thế kỷ III sau công nguyên Yayoi là xã hội nông nghiệp trọn vẹn

đầu tiên trên quần đảo này Đồ gốm đợc nung một cách cẩn thận, thờng nhẵn và

có màu nâu tơi, không có hoa văn, nhng đã đợc làm trên bàn xoay với hình dángcân đối, tinh tế mà giản dị Đặc biệt hơn, ngoài đá mài thì c dân nông nghiệpYayoi đã bắt đầu biết sử dụng những công cụ bằng đồng và sắt để nâng cao sảnxuất

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của sức sản xuất, trong xã hội đã xuấthiện của cải d thừa, từ đó làm nảy sinh chế độ t hữu Việc tập trung của cải ngàycàng nhiều vào tay một số ngời đã dẫn đến hiện tợng phân hoá xã hội sâu sắc vàtrong những thế kỷ đầu công nguyên ở Nhật Bản đã diễn ra quá trình tan rã củachế độ công xã nguyên thuỷ và giai cấp xuất hiện Những hình thức phôi thai củanhà nớc bắt đầu ra đời ở miền Tây Nhật Bản Qua các th tịch cổ của Trung Quốcngời ta đã biết rằng vào khoảng giữa thế kỷ I, một tiểu quốc đầu tiên đã đợc hìnhthành ở miền bắc đảo Kyushu "Địa lý chí" trong sách" Hán th" có chép "Trongbiển Lạng Lãng có ngời Nuynô, chia làm hơn trăm nớc"[12,37] Tuy nhiên chữ

"nớc" đợc chép ở đây về thực chất chỉ là các bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc đợchình thành trong quá trình thôn tính lẫn nhau Từ thế kỷ II trở đi, sự xung độtgiữa các bộ lạc xảy ra thờng xuyên hơn, làm cho các bộ lạc này hoặc hoà nhậplại hoặc phụ thuộc vào nhau Đến đầu thế kỷ III đã xuất hiện những nớc tơng đốilớn với hàng nghìn, hàng vạn hộ, trong đó lớn mạnh nhất là nớc Yamatai do nữvơng Himico thống trị Tuy nhiên, về sau này nó đã bị một tiểu quốc khác hùngmạnh hơn là Yamato chinh phục

Khoảng cuối thế kỷ IV, ở miền Tây Nam đảo Honshu đã xuất hiện vơngquốc Yamato (Đại Hoà) Nhà nớc Yamato hình thành là kết quả của quá trìnhchinh phục, chiếm đoạt đất đai của nhiều tiểu quốc và cử sứ thần sang Trung

Trang 14

Quốc cầu phong Đến thế kỷ V, Yamato đã thống nhất đợc cả Nhật Bản Tuynhiên, về thực chất Yamato mới chỉ là một nớc sơ khai, một liên minh các thị tộcvới sự tập trung u thế kinh tế, chính trị, tôn giáo vào thị tộc Thiên hoàng, do đómối quan hệ giữa các thị thị tộc còn hết sức lỏng lẻo.

Về mặt xã hội: Yamato chia c dân ra thành các tầng lớp khác nhau: đạinhân, hạ hộ, bộ dân và nô lệ, trong đó bộ dân là tầng lớp khá đông đảo trong xãhội Yamato Tầng lớp này xuất hiện vào khoảng thế kỷ III, khi sự phân hoá xãhội và chế độ t hữu tài sản bắt đầu phát triển Một bộ phận hết sức quan trọngcủa bộ dân là những ngời Trung Quốc và Triều Tiên do chiến tranh loạn lạc hayvì cuộc sống đã di c đến Nhật Bản Những ngời này đã trải qua nền văn hoá cótrình độ cao hơn rất nhiều so với nền văn hoá Nhật Bản khi đó nên họ đóng mộtvai trò rất lớn trong việc truyền bá văn hoá và kỹ thuật tiến tiến vào Nhật Bản

Trong thời gian tồn tại của Yamato có một sự kiện vô cùng quan trọng đãxảy ra Vào năm 391, Yamato đã đa quân xâm lợc Triều Tiên và chiếm đóngmỏm đất phía Nam có tên gọi là Mimana (hay Nhiệm Na) Việc Nhật Bản chiếm

đóng Mimana của Triều tiên trong một khoảng thời gian dài có ý nghĩa rất lớn

đối với quan hệ giao lu văn hoá giữa Nhật Bản và các nớc bên ngoài, nhất là vớiTriều Tiên và Trung Quốc Văn hoá, kỹ thuật của Triều Tiên đợc du nhập ngàycàng mạnh mẽ vào Nhật Bản Thông qua Triều Tiên, Nhật Bản cũng mở rộnggiao lu, tiếp xúc với Trung Quốc Triều đình Yamato ngoài việc cử các phái bộsang Trung Quốc còn cho mời nhiều ngời Trung Quốc, Triều Tiên sang ở hẳnbên Nhật để truyền bá kỹ thuật và văn hoá, do đó ảnh hởng của văn hoá TrungQuốc với Nhật Bản ngày càng mạnh mẽ Bắt đầu từ đây, ảnh hởng của văn hoáTrung Quốc không còn phụ thuộc vào Triều Tiên nữa mà đã có thể du nhập trựctiếp sang Nhật bởi các nhân viên kỹ thuật, các phái đoàn ngoại giao của TrungQuốc gửi đến, hay các phái đoàn của Nhật Bản gửi sang Trung Quốc du học.Con đờng giao lu văn hoá Trung – Nhật đang ngày càng đợc mở rộng Đâychính là một nhân tố vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của xãhội Nhật Bản, từ đó chuyển xã hội Nhật Bản sang một giai đoạn lịch sử mới Sựphát triển của nội tại bên trong cùng với những tác động của các yếu tố đến từTrung Quốc, Triều Tiên đã làm cho xã hội Yamato có những chuyển biến mạnhmẽ

Từ thế kỷ VI trở đi, các quý tộc không ngừng bành trớng thế lực của mìnhbằng cách xâm chiếm đất công làm của riêng và biến dân tự do thành bộ dân.Chính vì vậy, mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị trong xã hội

Trang 15

Yamato ngày càng gay gắt Bên cạnh đó, trong cuộc cạnh tranh để tăng cờng thếlực thì mâu thuẫn giữa các dòng họ thống trị cũng đã bùng nổ Tiêu biểu là cuộc

đấu tranh giữa 2 dòng họ Sôga và Mônônôbê Chính những mâu thuẫn trên đãlàm cho Yamato bị chia rẽ và suy yếu Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến

sự thất bại của quân đội Yamato ở Triều Tiên Mỏm đất Mimana ở phía nam củaTriều Tiên bị Yamato chiếm từ năm 391 đã bị rơi vào tay Silla năm 562 và từ

đây Yamato bị mất chỗ đứng ở Triều Tiên Cũng trong thời gian này, TrungQuốc dần dần đợc thống nhất lại dới nhà Tuỳ Sự lớn mạnh của nhà Tuỳ đã trởthành mối đe doạ đối với Yamato Nhu cầu cấp thiết đặt ra cho Yamato lúc này

là phải xây dựng đợc một bộ máy nhà nớc tập trung thống nhất và nhà Tuỳ làmột tấm gơng, một khuôn mẫu hoàn chỉnh mà Yamato có thể học tập Chính vìvậy, việc tiếp thu, học hỏi những tinh hoa của văn hoá Trung Quốc đối vớiYamato đã trở nên cấp thiết và là sự lự chọn của giới cầm quyền ở đây

Về mặt tín ngỡng: Trớc khi Phật giáo và Nho giáo du nhập vào Nhật Bản,

ngời Nhật cũng có tín ngỡng bản địa của mình Tín ngỡng này lúc đầu cha có têngọi, chỉ sau khi Phật giáo du nhập thì tên gọi Shinto (Thần đạo) mới xuất hiện đểphân biệt nó với tôn giáo ngoại lai Nói đến Shinto là nói đến thế giới thần thánh,

đó là thế giới thần quyền có tác động đến số phận của con ngời trong một xã hộinông nghiệp Thế giới đó ngăn cách hoá bằng các thần núi, thần sông, thần lửa,thần nớc, thần ma, thần gió

Đối với ngời dân Nhật Bản, thế giới thần thánh là biểu hiện tình cảm caoquý của họ Về mặt nào đó mà nói, tình cảm giống nh tín ngỡng đa thần của ngời

La Mã và Hy Lạp cổ đại Đó cha phải là tôn giáo với những giáo lý có nguồn gốc

nh lịch sử đạo Phật, đạo Kitô hay đạo Hồi, nó không có ngời sáng lập, không cókinh thánh, không có thầy tu, không có kẻ tử vì đạo, không có các vị thánh thần

có tên tuổi cụ thể

Có thể coi đây là một hình thái tín ngỡng tự nhiên, xuất phát từ nhận thứccho rằng tất cả mọi vật đều có linh hồn, đều có đời sống tình cảm Những biểuhiện của tự nhiên lớn hay nhỏ đều có sự hiện diện của thánh thần (Kami) Dovậy, trong Nihongi (Nhật Bản th kỷ) đã viết: "ở mảnh đất trung tâm của đồngbằng lau sậy này có vô số Kami, chúng toả sáng rực rỡ nh đom đóm, còn Kami

ác thì kêu vo vo nh ruồi ở đó có cả loài cây và các loài cỏ, tất cả đều có thể nói

đợc" [8,207]

Trang 16

Từ những ý nghĩa trên ta thấy tín ngỡng Thần đạo ở Nhật Bản cũng cónhiều điểm giống các dân tộc khác ở giai đoạn sơ khai Tuy nhiên, cũng cần phảithấy rằng, Thần đạo vẫn có những đặc trng hết sức riêng biệt và do đó, nó là mộttôn giáo riêng của Nhật Bản trong thời cổ đại Đặc trng riêng ấy chính là sự quantâm đặc biệt đến sự trong sạch của nghi lễ Những cái xúc phạm đến Thần thìtiếng Nhật ngày xa gọi là Tsumi (tội) Tránh đợc những tội ấy thì gọi là Imi(trai), có nghĩa là kiêng giữ ở Nhật Bản có phờng Imibe gồm những ngời ănkiêng chuyên nghiệp Nhiệm vụ của họ là giữ gìn trai tịnh sạch sẽ để khi gần cácThần sẽ không làm xúc phạm đến Thần Điều cần phải tránh trớc hết là sự bẩnthỉu Đối với Thần đạo, ngời bẩn là điều tối kỵ, muốn tế lễ phải tắm rửa, thayquần áo sạch sẽ Giao hợp, hành kinh, sinh đẻ, bệnh tật, vết thơng, cái chết đều

bị coi là bẩn và là nguồn gây bệnh Do đó, khi tiến hành nghi lễ tất cả những ai

vi phạm vào những điều cấm kỵ ở trên đều tuyệt đối không đợc tham gia Sử liệuTrung Quốc đã ghi nhận việc để tang ở Nhật rất ngắn, sau khi đa tang thì cả gia

đình xuống sông, hồ tắm để tẩy uế Thậm chí đến thế kỷ VIII, khi nhà vua chếtthì Kinh đô hay ít ra là cung điện dọn đi nơi khác [22,61] Việc tẩy uế đợc thựchiện bằng các phơng pháp khác nhau nh trừ tà, tẩy uế và trai giới

Ngoài ra, trong tín ngõng Thần đạo, ngời Nhật đặc biệt tôn thờ Nữ thầnMặt Trời Amatêrasu Amatêrasu đợc xem là ngời đứng đầu 800 vạn thần dân của

vũ trụ và thiên hà Về sau, Nữ thần đã cử con cháu của mính xuống cai quản các

đảo Nhật Bản, đó chính là Thiên hoàng Dòng dõi Hoàng tộc đó vẫn trị vì ở NhậtBản cho đến tận ngày nay Có lẽ chính vì sự tôn sùng Thần Mặt Trời mà ngờidân Nhật Bản thờng gọi đất nớc mình là "Nippon" tức là "Xứ sở Mặt Trời" hay

"Đất nớc Mặt Trời mọc" Cùng với thời gian, tín ngỡng này ăn sâu bám rễ trong

đời sống ngời dân Nhật Bản và trở thành một tôn giáo bản địa có sức sống lâubền, có ảnh hởng sâu sắc trong đời sống xã hội Nhật Bản

Tóm lại: Trớc khi Phật giáo và Nho giáo du nhập, ở Nhật Bản đã hìnhthành các nhà nớc cổ đại Đặc biệt đến thế kỷ IV, nhà nớc Yamato ra đời và đếnthế kỷ V đã thống nhất Nhật Bản Nhà nớc đó tuy còn cha hoàn chỉnh và các mốiliên hệ còn lỏng lẻo, nhng cũng đã cho thấy những bớc tiến ban đầu về mặt tổchức xã hội của Nhật Bản cổ đại Mặc dù còn hết sức lạc hậu, nhng c dân nơi

đây đã có đợc tín ngỡng bản địa của mình, đó là Thần đạo Dù cha có hệ thống,nhng Thần đạo đã ăn sâu bám rễ trong đời sống của c dân Nhật Bản cổ đại Sựxâm nhập và tác động của các yếu tố văn hoá đến từ Triều Tiên và Trung Quốc

là nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy xã hội Yamato phát triển Sự chuyển biến

Trang 17

bên ngoài đã đặt ra cho Yamato một yêu cầu cấp bách là phải thiết lập bộ máynhà nớc tập trung thống nhất, xoá bỏ những tàn d lạc hậu của nhà nớc liên hiệp,của các dòng họ trớc đây Tấm gơng Trung Quốc (nhà Tuỳ) cùng với sự pháttriển rực rỡ của nền văn hoá ấy đã làm cho Yamato hết sức ngỡng mộ và TrungQuốc trở thành khuôn mẫu để nó noi theo Việc học tập theo mô hình TrungQuốc đã thúc đẩy Yamato phát triển vợt bậc và đa lịch sử Nhật Bản sang mộttrang mới.

2.2 Quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo và Nho giáo vào Nhật Bản thời phong kiến.

Vào thế kỷ VI, nhu cầu học hỏi văn hoá Trung Quốc đã trở thành vấn đềcấp thiết với quốc gia Yamato Tuy nhiên, việc học hỏi nền văn hoá Trung Quốclại đợc thực hiện trớc tiên thông qua việc tiếp nhận Phật giáo Điều này cónguyên nhân của nó

Vào thế kỷ V trên bán đảo Triều Tiên có 3 nớc: Paikche (Bách tế), Silla vàKoguryo Thời bấy giờ Nhật Bản có quan hệ thân thiện với Paikche và thù địchvới Silla Chính sách của Nhật Bản là bành trớng ảnh hởng sang bán đảo TriềuTiên Bằng cách ủng hộ một trong 3 nớc kia đánh nhau Thời kỳ đó, Paikchechẳng những bị Silla đe doạ mà còn phải đơng đầu với một lực lợng mạnh hơn ởphía bắc đó là Koguryo Vua Paikche đã nhiều lần cầu cứu sự giúp đỡ củaYamato Lịch sử đã từng ghi nhận vào các năm 517, 527 quân đội của Yamato

đã đợc cử sang Paikche chống lại Silla nhng không thành công Năm 554, Silla

đánh bại quân Paikche và đến năm 562 thì ngay cả mỏm đất Mimana ở phía namTriều Tiên của Yamato cũng bị rơi vào tay Silla Mặc dù vậy, vua Paikche vẫntrông chờ vào sự viện trợ của Triều đình Yamato và theo đó nhiều đồ cống vậtcũng đợc gửi sang Năm 538 (có sách nói 552) vua Paikche sai ngời gửi biếuYamato một bức tợng Phật kèm theo một số bộ kinh và khuyên Yamato nên tiếpnhận thứ tôn giáo này Ông ta nói rằng, tuy học thuyết Phật giáo là khó hiểu vàkhó giải thích, song đây là một học thuyết hay nhất và có thể giúp thực hiện mọinguyện vọng Món quà mà vua Paikche tặng triều đình Nhật Bản đã gây ra sựchú ý trong giới quý tộc Nhật Bản

Đạo Phật với t cách là một tôn giáo đợc ca ngợi với những lời đẹp nhất đãphần nào làm xáo động tâm lý trong giới quý tộc Nhật Niềm tin vào "Con đờngthần thánh" bắt đầu bị phân tán bởi tôn giáo mới là đạo Phật Tuy nhiên, thựcchất vấn đề không phải là tôn giáo hay là tín ngỡng khác mà là sự xung đột về ý

Trang 18

thức hệ giữa phái bảo thủ và phái cấp tiến hơn trong lĩnh vực chính trị Phái cấptiến đứng đầu là dòng họ Sôga đã sớm nhận thấy sức mạnh của các vơng quốctrên bán đảo Triều Tiên và sự u việt của nền văn hoá từ Trung Hoa Do đó, để v-

ơn lên, Nhật Bản nhất thiết phải có sự cải cách bằng việc nhanh chóng tiếp thunền văn hoá Trung Hoa, tất nhiên là thông qua việc tiếp nhận Phật giáo ở đâychúng ta cần hiểu rằng, Phật giáo đợc tiếp nhận chắc chắn không phải vì lý dotín ngỡng mà ẩn đằng sau đó là động cơ chính trị Những ngời cấp tiến ở NhậtBản đã nhận thức đợc rằng "ẩn chứa đằng sau Phật giáo là cả bề dày của mộtnền văn minh đang đạt đến giai đoạn phát triển sung mãn" [7,42] Và bên cạnhviệc đa đến Nhật Bản một vũ trụ luận mới thì "hẳn là ấn tợng mạnh mẽ nhất củangời Nhật Bản vào thế kỷ VII và thế kỷ VIII về Phật giáo chính là vì giá trị thiếtyếu của một nền văn minh phát triển cao hơn" [7,42]

Đợc sự ủng hộ của dòng họ Sôga, trải qua những khó khăn ban đầu thìPhật giáo đã đợc triều đình Yamato chấp nhận Sau cuộc nội chiến năm 587, vớidòng họ Mônônôbê bị tiêu diệt thì Phật giáo có đợc địa vị chính thức ở NhậtBản Nhiều đền chùa đợc xây dựng, nhiều xá lị đợc mang thêm từ Triều Tiên vềcùng với thầy cúng, s, thợ mộc làm chùa, thợ vẽ, ngời đúc đồng, nặn tợng Nhiềucon gái của các nhà quý tộc đã đi tu và một số ngời gốc Trung Quốc đã xuất gia

tu hành Umako (ngời đứng đầu dòng họ Sôga đang thống trị toàn nớc Nhật lúc

đó) đã cử các Nico sang Triều Tiên để học và xúc tiến việc phổ biến tôn giáomới [22,78]

Nh vậy là đến cuối thế kỷ VI, Phật giáo đã chính thức đứng chân ở NhậtBản Năm 538 đã trở thành một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Phậtgiáo ở Nhật Bản Mặc dù từ khi giới thiệu đến khi có đợc địa vị chính thức ởNhật Bản, tôn giáo này cũng phải trải qua không ít cản trở từ các thế lực bảo thủ.Bằng con mắt tinh tờng và nhạy bén về chính trị, tầng lớp lãnh đạo Nhật Bản đãtiếp thu Phật giáo và biến nó trở thành một "phơng tiện quan trọng nhất trongviệc truyền tải văn minh Trung Hoa vào Nhật Bản Và ngời Nhật, qua niềm tintôn giáo cũng đã lĩnh hội những yếu tố văn hóa từ lục địa một cách hứng khởi,sâu sắc hơn" [7,42]

Từ khi du nhập (thế kỷ VI) đến thế kỷ XIX , Phật giáo đã trải qua nhữnggiai đoạn phát triển khác nhau Lịch sử Phật giáo Nhật Bản có thể chia làm 3 thờikỳ:

Trang 19

Thời kỳ truyền bá đạo Phật (Từ thế kỷ VI đến thế kỷ VIII), Thời kỳ "NhậtBản hoá" đạo Phật (Từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIV), Thời kỳ suy thoái của đạoPhật ở Nhật Bản (Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX).

+ Thời kỳ truyền bá đạo phật (Từ thế kỷ VI thế kỷ VIII)

Thời kỳ này nổi bật lên vai trò của Thái tử Shotoku (572 - 622) Ông đợcxem là ngời thực sự hiểu biết các t tởng của đạo Phật và tin tởng vào nó cũng nhbản thân Đức Thích Ca Đặc biệt, ông còn đợc đánh giá là ngời sáng lập ra Phậtgiáo ở Nhật Bản một cách chính thức, thậm chí ông còn đợc xem là hoá thân của

Đức Phật

Là ngời có học vấn uyên thâm, ngay từ năm 21 tuổi Thái tử đã đợc tể tớngUmako của dòng họ Sôga chọn làm quan nhiếp chính cho Thiên hoàng Suiko.Năm 604, Shotoku đã công bố hiến pháp 17 điều mà nội dung của nó phần lớn là

đạo Nho xen lẫn ảnh hởng của t tởng pháp gia, nhng xét về bản chất thì lại là cácgiáo lý của đạo Phật Điều mà Thái tử thực hiện đánh dấu bớc tiến lớn đầu tiêntrong sự phát triển của đạo Phật Nhật Bản

Bản thân thái tử Shotoku là ngời mộ đạo, do đó ông đã làm rất nhiều việc

có ích để đa đạo Phật đến với đại đa số quần chúng, nhân dân Năm 607, ông đã

cử sử đoàn đầu tiên của Nhật Bản do học giả OnonoImoko dẫn đầu sang TrungQuốc để học tập văn hoá của nớc này Không những thế, ông còn cho mời nhiềuhọc giả Triều Tiên, Trung Quốc là các Tăng, Ni sang Nhật Bản để giúp đỡ trongviệc truyền đạo và phát triển văn hoá Phật giáo trong đại bộ phận các tầng lớpnhân dân

Trong suốt 30 năm làm nhiếp chính, Thái tử Shotoku đã 3 lần cử các sứ

đoàn sang Trung Quốc thực hiện sứ mệnh quan trọng và cao cả này Đồng thời,

"46 ngôi chùa cũng đợc xây dựng, trong đó có Horyuji (Pháp Long tự ) – ngôichùa gỗ cổ nhất Nhật Bản đợc công nhận là di sản văn hoá thế giới cho 816 hoàthợng và 569 Nicô học tập và tu luyện" [4,33] Nhiều kinh sách, tợng Phật, cácbức bích hoạ quý vẫn còn đợc lu giữ cẩn thận cho đến tận ngày nay, dù đã trảiqua hàng nghìn năm lịch sử với bao biến cố thăng trầm Sau khi Thái tử Shotokumất, công việc mà ông khởi xớng vẫn tiếp tục trong các thế kỷ tiếp theo

Năm 685, Thiên hoàng Nhật Bản ra một chiếu chỉ khuyên mỗi gia đìnhnên có một bàn thờ Phật, một bức tợng Phật và một quyển kinh Phật Việc làmnày đã có tác động thúc đẩy Phật giáo nhanh chóng phát triển, nhất là trong các

Trang 20

gia đình quyền quý và những ngời thuộc tầng lớp trên Do vậy, đến cuối thế kỷVII đã có trên 540 ngôi chùa đợc xây dựng Giáo lý của đạo Phật đợc giảng giảisâu rộng thêm nhờ công lao to lớn của các vị hoà thợng du học từ Trung Hoa trở

về và các học giả Nhật Bản đi truyền giáo khắp nơi Triều đình đã giành nhiều u

ái cho hoạt động của chùa chiền, kể cả việc trở cấp những khoản tiền lớn ĐạoPhật đã thực sự trở thành quốc giáo

Sau khi Thái tử Shotoku qua đời (năm 621), ở Nhật hàng loạt biến cốchính trị đã xảy ra do sự lộng quyền của dòng họ Soga Nhu cầu phát triển củaNhật Bản đòi hỏi phải gạt bỏ dòng họ Soga và do đó đã dẫn đến cuộc chính biếncủa Hoàng tử Nacanoe dới sự ủng hộ của dòng họ Nakatomi (sau đổi thànhFujiwara) vào năm 645 Ngày sau đó Hoàng tử Nacanoe đã đa Thiên hoàngCôtoc lên ngôi, đặt niên hiệu là Taika, còn mình thì giữ vai trò nhiếp chính Mộtnăm sau khi lên ngôi (646) Thiên hoàng Côtoc đã ban chiếu cải cách, mà lịch sửNhật Bản gọi đó là cải cách Taika – một cuộc cải cách do tầng lớp quí tộc thựchiện dựa vào các luận thuyết chính trị của Shotoku Dòng họ Soga bị lật đổ, vàgiờ đây quyền lực nằm trong tay dòng họ mới Fujiwara Một hệ thống chínhquyền theo mô hình nhà Đờng đợc hình thành với chế độ định đô

Sang thời kỳ Nara (710 – 794), do đợc triều đình xem là một quyền lựcthiêng liêng bảo vệ xứ sở nên Phật giáo trở thành một thế lực quan trọng Mọihành động phá hoại tợng Phật đều bị coi là trọng tội và ở một mức độ nào đó còn

bị coi là hành động chống lại chính quyền Sở dĩ có quan niệm đó là vì các Thiênhoàng Nhật Bản không chỉ là lãnh tụ về chính trị mà còn là lãnh tụ về tôn giáo.Nơi ở của Thiên hoàng cũng chính là nơi ở của thần linh Nhiều chùa chiền, tựviện đợc xây dựng khắp nơi

Tuy nhiên, sự phát triển của Phật giáo không buộc phải loại trừ yếu tốtruyền thống Shinto bản địa, mà thay vào đó là xu hớng Thần- Phật hỗn hợp.Trên thực tế, đây là một trong những cách thức chủ yếu để Phật giáo đợc "NhậtBản hoá" Đức Phật đợc xem là một Kami thợng đẳng Các Kami lại đợc coi nhthần hộ Pháp với quyền lực tối cao Nhiều Kami đợc đa vào Phật điện, nhiều bậctôn giả đợc đa vào thần điện Shinto [28,34]

Xu hớng Thần- Phật hỗn hợp vừa thể hiện đợc sự uyển chuyển của Phậtgiáo khi vào Nhật Bản, vừa thể hiện đợc sức sống của tín ngỡng bản địa Shinto

Điều này cho thấy đặc tính dung hoà, đan xen bổ sung cho nhau các giá trị vănhoá thuộc các khuynh hớng khác nhau ở Nhật Bản – một đặc tính chung của

Trang 21

văn hoá phơng Đông Đi sâu phân tích các khía cạnh cụ thể thì chúng ta thấyrằng: Thần đạo lúc này còn là một tôn giáo sơ khai Nó quan tâm đến lợi ích trầnthế mà không đa ra đợc giải pháp thoả đáng về cuộc sống sau khi chết Trong khi

đó, Phật giáo lại hứa hẹn đem đến sự giải thoát khỏi những đau khổ ở kiếp sau,

điều mà ở ngời cổ đại không thể không day dứt Bởi vậy giai đoạn này ngời tathờ cả Thần lẫn Phật Thờ Thần để đợc may mắn, đợc che chở khỏi tai ách khisống Thờ Phật để đợc giải thoát về cõi Niết Bàn sau khi chết Một quan niệm

nh thế đã bao chứa mầm mống của tín ngỡng Thần – Phật hợp nhất sau này

Thời Nara, Đạo Phật phát triển rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân.Mỗi giới xuất phát từ quyền lợi và địa vị của mình mà tin vào đạo Phật ở nhữnggóc độ khác nhau Quần chúng nhân dân tìm thấy ở đạo Phật chỗ dựa về mặt tinhthần Quan niệm về cõi Niết Bàn trở thành điểm tựa để họ tin tởng vào một cuộcsống tốt đẹp sau khi chết, để quên đi những đau khổ của cuộc sống hiện tại Giaicấp thống trị tìm thấy ở đạo Phật một thứ công cụ để ru ngủ, thống trị quầnchúng Mặt khác, chính tổ chức tập trung và tôn ti của Giáo hội Phật giáo cũng làmột thứ khuôn mẫu cho Nhà nớc phong kiến Sự thống nhất niềm tin vào một vịthần tối cao (Phật) đã góp phần vào việc thống nhất đất nớc, khắc phục nhữngtàn d phân tán của chế độ thị tộc, bộ lạc gắn liền với việc truyền bá Phật giáo vàoNhật Bản chính là các khía cạnh khác của quá trình ảnh hởng văn minh TrungHoa

Trong thời Nara, quan hệ ngoại giao Trung – Nhật vẫn tiếp tục phát triển.Các phái đoàn liên tục đợc gửi sang Trung Quốc để học tập nền văn hoá tiên tiếncủa nớc này, trong số đó có rất nhiều nhà s Nhật Bản Họ đi du học không chỉ đểlĩnh hội thêm kiến thức về mặt Phật giáo mà còn để nhằm học hỏi các lĩnh vựckhác của văn minh Trung Quốc Nhận xét về những nhà s Nhật du học này,Edwin.O.Reischauner cho rằng: "từ lục địa trở về, những nhà s du học này cònhăng hái hơn cả các nhà truyền đạo ngoại quốc trong việc truyền đạt các tôn giáomới này cùng các khía cạnh khác của nền văn minh Trung Quốc cho ngời Nhật"[18,24]

Lúc này, các nhà s Nhật Bản đã chuyển từ việc học các nguyên lý đại cơngcủa đạo Phật sang việc tìm hiểu sâu hơn về những cái cao siêu của học thuyếtnày Sự phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản đợc thể hiện thông qua sự xuất hiệncủa các giáo phái khác nhau và vào cuối thời Nara đã hình thành nên 6 giáophái Phần lớn các giáo phái này phụ thuộc vào sự phát triển về nghiên cứu, chúgiải kinh ở Trung Quốc Sáu tông phái trong thời kỳ Nara không phải là những

Trang 22

học thuyết chống đối gì nhau lắm, mà chỉ là những biến thể của một chủ đềchung.

Tông phái đầu tiên tính theo trình tự thời gian là Tam Luận Tông( Sauron)

do một nhà s Triều Tiên tên là Hyekwan (hoặc Eikwan) vốn học ở Trung Quốc

đợc vua Koguryo phái sang Nhật đa vào Sau khi Tam Luận tông thành lập đợcmột thời gian thì trờng phái Thành Thực Tông (Jojitsu) cũng xuất hiện Trờngphái này đợc du nhập từ Paikche Các giáo lý của nó đợc nghiên cứu tự do dớithời Nara, nhng chẳng bao lâu nhập vào Tam Luận Tông và ngày nay còn rất ítdấu vết về sự tồn tại riêng biệt của tông phái này Một tông phái nữa ở Nhật làPháp Tớng tông (Hosso) hay còn gọi là Duy Thực tông đợc du nhập vào TrungQuốc vào năm 650 bởi một nhà s ngời Nhật đã từng học ở nớc này đa về Tiếp đó

là Câu Xá Tông Tông này cha rõ lúc đầu ra đời nh thế nào nhng cũng khôngchắc nó có bao giờ tồn tại nh một tông phái riêng biệt ở Nhật hay không Cácgiáo lý của nó hình nh đợc nghiên cứu vào lúc học thuyết của Pháp Tớng tôngmới đợc du nhập lần đầu Nó chủ trơng một triết học duy thực của Phật giáo TiểuThừa Ngoài ra, còn phải kể đến Luật tông (Ritsu) Ngời ta biết đến tông pháinày có thể từ thời những Nicô Nhật Bản đầu tiên đợc cử sang Triều Tiên để học

"giới luật tu hành", những điều đó bắt đầu ăn sâu bén rễ ở Nhật từ cuối thế kỷVII Luật tông không chú tâm nhiều tới các vấn đề học thuyết mà chỉ đặc biệtchú ý đến giới luật và việc giữ sao cho đúng sự kế thừa của các bậc chân tu.Tông phái cuối cùng ở thời Nara là Hoa Nghiêm tông (Kegom) Là một trờngphái triết học, học thuyết của tông phái này tự cho là một sự lý giải kinh HoaNghiêm và kinh Phạm Võng với chủ trơng Phật Thích Ca là hiện thân của một vịPhật tối cao, toàn năng và có mặt ở khắp nơi, tức là Đức Phật L Xá Na Nhờnhững nét độc đáo đó mà Hoàng gia Nhật Bản tỏ ra rất thích Hoa Nghiêm tông

Do vậy, ở Nhật Bản tông phái này đặc biệt phát triển phần nghi lễ Nhà vuaShomu đã ra sắc lệnh năm 749 coi kinh Hoa Nghiêm là quyển kinh có quyền uylớn, đồng thời ông đã cho xây một ngôi chùa lớn nhất ở Nhật Bản để thờ Phật LXá Na, đó là chùa Todaiji, còn đợc gọi là Đại Hoa Nghiêm tự

Có thể nói, sự tồn tại của 6 tông phái Phật giáo ở Nhật Bản đã chứng tỏ sựphát triển khá mạnh mẽ Phật giáo thời kỳ Nara Có đợc điều đó chính là nhờ vào

sự ủng hộ của tầng lớp cầm quyền, sự hấp dẫn của hình thức nghi lễ cùng vớinhững đóng góp to lớn của nó đối với nền văn hoá Nhật Bản Tuy nhiên, vàocuối thời Nara, Phật giáo bắt đầu suy vi Sự phát triển của các chùa chiền, việcnhanh chóng vơn lên dành tài sản và quyền lực của giới tăng lữ cũng kéo theo

Trang 23

không ít những tác động tiêu cực Một số nhà s thiếu lơng tâm, lợi dụng mốiquan hệ mật thiết với triều đình có ý đồ can thiệp vào công việc chính trị Nhiều

kẻ xin vào làm Tăng, vì cốt để khỏi phải đóng thuế và thu đợc nhiều đồ cúng củatín đồ, lợi dụng chốn chùa chiền để kiếm lợi Việc dời đô từ Nara về Heian đãchấm dứt giai đoạn đầu tiên truyền bá đạo phật ở Nhật Bản

+ Thời kỳ Nhật Bản hoá đạo Phật (từ thế kỷ IX - XIV).“ ”

Sang thời kỳ Heian để tránh ảnh hởng của Phật giáo, không cho các nhà s

có điều kiện tham gia vào chính trị, Thiên Hoàng Kamu chủ trơng dời đô từ Nara

đến Heian Khi đến đây, Thiên hoàng đã đặt ra các quy định chặt chẽ đối vớiPhật giáo, do đó quyền lực của Phật giáo bị hạn chế dần

Trong lịch sử Nhật Bản, thời kỳ Heian (794 - 1185) là thời kỳ cực thịnhcủa giai cấp quý tộc đợc đánh dấu bởi gần 400 năm cầm quyền của giai cấp này.Trong bốn thế kỷ đó giai cấp quý tộc sống xa hoa trong cung vàng điện ngọc,

đối lập với cuộc sống nghèo khổ của ngời dân Hiện thực đó đã làm cho tầng lớpbình dân mất niềm tin vào cuộc sống và vì vậy tôn giáo đến với họ nh một niềm

an ủi về mặt tinh thần Đây chính là điều kiện tốt để Phật giáo phát triển mạnh

mẽ và đi vào quần chúng Đến đầu thế kỷ IX, lịch sử Nhật Bản đã chứng kiếnmột phong trào chấn hng Phật giáo gắn liền với tên tuổi của các Đại s: Kukai,Saicho, Ghenshin

Một sự tình cờ thú vị đã xảy ra khi Saicho (736 - 822) đợc hệ phái ThiênThai tông ở Trung Quốc chọn làm vị tổ s thứ 7 của mình nhân một lần ông đi dungoạn nớc này Năm 805, Saicho về nớc truyền bá đạo pháp trên núi Hiei Ôngvinh dự đợc Nhật Hoàng phong tặng danh hiệu vị đại s đầu tiên của Nhật Bản.Mặc dù là ngời truyền bá giáo lý Thiên Thai từ Trung Hoa vào Nhật Bản song,

ông cũng không coi hệ thống này là một giáo lý hoàn chỉnh về mặt tôn giáo.Môn phái Thiên Thai ở Nhật Bản đợc mô tả nh là sự kết hợp của 4 yếu tố: "Trầm

t mặc tởng, hành xác, bí truyền và Thiên Thai chính thống" [22,249]

Cũng vào thời điểm này còn xuất hiện một gơng mặt đặc biệt khác đó làHoà thợng Kukai Ông chính là vị tổ s thứ 8 của dòng Chân Ngôn tông bênTrung Quốc Năm 807, sau khi về nớc, Kukai đã phát triển Chân Ngôn tôngthành một tông phái có ảnh hởng lớn tới dân chúng Cả Chân Ngôn tông vàThiên Thai tông "đã chiếm lĩnh đợc tình cảm của ngời dân Nhật Bản và lên tới

đỉnh cao của sự hng thịnh" [22,184]

Trang 24

Cuối thời kỳ Heian, xã hội Nhật Bản lâm vào cảnh xung đột, rối loạn.Theo đó, các hệ phái Phật giáo cũng bắt đầu bớc vào giai đoạn thanh trừng lẫnnhau dới lá bài "đấu tranh bảo vệ giáo pháp trong sáng của Đức Phật", mà thựcchất là tranh giành quyền lực và của cải Tuy nhiên, cuối cùng "cuộc chiến" giữacác giáo phái cũng đi vào hồi kết Một dòng Phật giáo mới đợc hình thành từnhững Phật tử có mong muốn chấn hng lại đạo Phật, động viên nhân dân xoá bỏhận thù, thực hiện những lời dạy nhân từ của Đức Phật Adiđà Hệ phái mới này

do Ghenshin (942 - 1017) sáng lập đã nhanh chóng đợc tiếp nhận Số Phật tử thờ

Đức Phật Adiđà đông nhất trong các dòng Phật giáo

Phật giáo Nhật Bản sau cuộc chấn hng đã bắt đầu bớc vào kỷ nguyên mới– kỷ nguyên phục vụ cung đình Chính tính đa dạng của t tởng Phật giáo đã làmcho đạo Phật trở thành tôn giáo có ảnh hởng to lớn tới đời sống xã hội Nhật Bản

Đạo Phật trở thành công cụ trực tiếp của giai cấp thống trị Họ tiêu pha rất tốnkém để tôn tạo và trang hoàng các đền chùa thờ Phật Họ tham dự hầu hết cácnghi lễ của đạo Phật và thờng xuyên đến cầu nguyện ở các chùa, nhất là nhữngthời kỳ đất nớc có thiên tai Một điều đáng chú ý là trong giai đoạn này Thần đạocũng chịu ảnh hởng mạnh mẽ của Phật giáo, thể hiện rõ nhất là Thần đạo bắt đầuthờ ảnh tợng và tụng kinh – hình thức tín ngỡng trớc đây Thần đạo không hề có

Sang giai đoạn Kamakura (1185 - 1333) nhiều tông phái Phật giáo mới đãxuất hiện đem lại hy vọng cứu rỗi cho tầng lớp thơng nhân và nông dân Đây

đựơc xem là thời kỳ "Quần chúng hoá Phật giáo", trong đó nổi lên 4 tông phái là:Tịnh Độ tông, Tịnh Độ Chân tông, Nhật Liên tông và Thiền tông Ra đời trongmột giai đoạn hỗn loạn của xã hội nhng 4 tông phái này đã biết nắm lấy bản chấtcủa niềm tin đạo Phật thông qua kinh nghiệm cá nhân và dựa trên cơ sở này đểchống lại những hình thức Phật giáo đã tồn tại trớc đó Hoạt động này đã tạo nênmột sự thức tỉnh tôn giáo, thậm chí giống nh một cuộc cải cách tôn giáo ở NhậtBản

- Tịnh Độ tông (Jodo) do Honen (1133 - 1212) sáng lập vào năm 1175

Ông đi tìm con đờng giác ngộ mà mọi ngời có thể hiểu đợc và con đờng ấy chính

là sự chuyên tâm niệm Phật (Nembutsu) trong khi từ bỏ tất cả các cứu cánh cứuvớt linh hồn dựa trên sự cố gắng của bản thân Với giáo lý đơn giản nên Tịnh Độtông đã thu hút đợc một số lợng tín đồ đông đảo, thậm chí nhiều quý tộc, tăng lữcủa Thiên Thai và Chân Ngôn cũng cải đạo đi theo Tịnh Độ tông

Trang 25

- Tịnh Độ Chân tông (Jodo Shiushu) do Shinran (1173 - 1262) sáng lập.

Ông là môn đệ của Honen Tuy nhiên, vợt xa thầy mình, Shinran đã đẩy thuyếtNembutsu tới logic cùng cực của nó và lập luận rằng "Chỉ cần một lần thànhkhẩn tụng niệm Adiđà là đủ để đợc cứu rỗi và tất cả những sự nhắc đi nhắc lạicông thức đó là ca ngợi thật mà thôi, nên làm nhng không cần thiết" [23,65]

Ông cũng chính là ngời đầu tiên quyết định tách khỏi nhân sinh quan và thế giớiquan Phật giáo truyền thống Ông bác bỏ các tổ chức tự nguyện truyền thống,tán thành việc môn đồ có thể lấy vợ và có cuộc sống bình thờng Dốc lòng tônthờ Phật Adiđà, bình đẳng trớc Phật pháp, thành thực trong cuộc sống là chủ tr-

ơng của Shinran

- Nhật Liên tông (Hokke) do Nichiren (1222 - 1282) sáng lập Nichirencho rằng kinh Pháp Hoa có lời dạy cuối cùng của Đức Phật liên quan đến sự giảithoát Ông tin rằng tụng niệm kinh Pháp Hoa sẽ dẫn tới sự giải thoát, giác ngộ.Cuộc đời Nichiren là tấm gơng về tinh thần cải cách, chiến đấu Ông đã phá bỏtruyền thống khoan dung tôn giáo ở Nhật Bản khi coi các học thuyết khác đều là

tà giáo và đáng nguyền rủa Lập trờng chủ nghĩa dân tộc của ông đợc coi nh mộtluận điểm tiên tri, điều hiếm thấy trong truyền thống tôn giáo Nhật Bản (biểuhiện bằng lời tuyên bố không hề sợ hãi sự xét xử) xuất phát từ niềm tin vào sứcmạnh siêu nhiên và đợc áp dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống Sau khiNichiren mất, giáo phái của ông bị chia thành nhiều hệ phái nhỏ và trở thànhnguồn gốc của nhiều tôn giáo mới

- Thiền tông (Zen) do Eisai (1141 - 1215) sáng lập và thực sự phát triểnmạnh dới sự hoằng pháp của Dogen (1200 - 1253) Dogen tin rằng nhờ toạ Thiền

mà Đức Phật đã bừng tỉnh, giác ngộ và đắc đạo Năm 1227, khi trở về Nhật Bản,Dogen đã không xác lập hệ thống giới luật hay lý thuyết Phật học nào mà chỉchú trọng đề xớng một cuộc đời tu đạo với cuộc sống ẩn dật, khổ hạnh ở nơi tuviện hẻo lánh cùng với những kỷ luật hà khắc nhằm sớm đạt đợc sự giải thoát.Cùng với Dogen, các Thiền s đã kế tục đa Thiền tông lên những bớc phát triểnmới với một sự ảnh hởng mạnh mẽ cha từng thấy cùng số lợng tín đồ đông đảo

từ thành thị đến nông thôn, từ tầng lớp thấp hèn nhất là thơng nhân cho đến tầnglớp cao quý nhất trong xã hội là võ sĩ

Tóm lại: Trong thời kỳ "Nhật Bản hoá" đạo Phật, ta thấy Phật giáo truyềnbá từ Trung Quốc sang Nhật Bản đã một lần nữa đợc nhào nặn theo kiểu NhậtBản, tạo ra "một dị bản khác xa so với cội nguồn của nó, kể cả dị bản đạo PhậtTrung Hoa" [1,46] Sau một thời gian du nhập và "Nhật Bản hoá", đạo Phật đã

Trang 26

thực sự ăn sâu bén rễ và có sức thu hút mạnh mẽ đối với đông đảo các tầng lớpnhân dân trong xã hội Nhật Bản

+ Thời kỳ suy thoái của đạo phật ở Nhật Bản ( Từ thế kỷ XV cuối thế

kỷ XIX)

Từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI đợc gọi là thời đại Chiến Quốctrong lịch sử Nhật Bản Năm 1603, sau những cuộc chiến tranh dai dẳng, cuốicùng nớc Nhật cũng bớc vào giai đoạn thịnh trị Ieyasu dòng họ Tokugawa đợc

cử làm Shogun (Tớng quân), lập ra chính quyền quân sự mới ở Edo, tồn tại songsong với chính quyền Thiên hoàng Tuy nhiên, đối lập với sự phát triển của chế

độ phong kiến đang bớc vào thời đại hoàng kim, thì ảnh hởng của Phật giáo đangngày càng bị thu hẹp, mặc dù mức sống của nó còn tiềm tàng trong nhân dân.Nguyên nhân dẫn tới sự giảm sút này, có thể kể đến 3 yếu tố sau đây:

1 Nhiều chùa chiền trong cuộc chiến tranh đã ngả theo các phe phái và trởthành lực lợng tham chiến, do đó uy tín bị giảm sút Việc tham chiến của các lựclợng Phật giáo đã biến nó trở thành đối tợng cần thanh toán của một số thế lựcquân sự mạnh đang muốn thống nhất đất nớc

2 Nhiều Tăng, Ni sa sút về nhân cách, do đó gây mất lòng tin trong nhândân

3 Tống Nho trở thành hệ t tởng chính thống của chính quyền Mạc Phủ,các nho sinh đông dần tạo nên một thế lực hùng mạnh Họ chỉ trích Tăng, Nithậm chí còn tiến hành phá huỷ tợng Phật, chùa chiền

Cuối thời Edo (1600 – 1868), khi mà phong trào nghiên cứu Quốc học,Nho học, Sử học đang là những sự kiện văn hoá đợc coi trọng thì giới cầm quyềnlại không đợc lòng dân Do t tởng phục cổ của Nho học và Quốc học phát triểnmạnh mẽ, ngoài việc phế Phật huỷ chùa ra, chủ nghĩa “tôn vơng nhơng di” cũng

ra đời T tởng tôn vơng chín muồi buộc tớng quân của Mạc Phủ phải trả lạiquyền lực cho Thiên hoàng – ngời đợc xem là con cháu của các vị thần lậpquốc và phong trào duy tân Minh Trị bắt đầu Quan niệm nhơng di đã dẫn đếnkết quả khôi phục Thần đạo, bài xích Phật giáo Đây là sự chấp hành chính sáchThần, Phật phân ly của thời đại Minh Trị sau này

Sự hồi sinh của Thần đạo, sự phát triển của Nho giáo cũng nh sự du nhậpcủa văn hoá phơng Tây đã làm cho Phật giáo bị suy giảm nghiêm trọng ở NhậtBản Đây là thời kỳ đen tối nhất của đạo Phật, song không phải vì thế mà Phậtgiáo bị tiêu diệt Năm 1951, khi Chính phủ ban hành Hiến pháp đảm bảo quyền

tự do tín ngỡng thì Phật giáo đã khôi phục đợc vị trí của mình và tiếp tục thu hút

Trang 27

đợc đông đảo tín đồ Hiện nay, đạo Phật vẫn là tôn giáo chính, khoả lấp khoảngtrống tinh thần mà nhiều ngời Nhật Bản cảm thấy là di sản của quá trình hiện đạihoá đến chóng mặt.

Gần nh đồng thời với quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản, trongcác thế kỷ V –VI, Nho giáo cũng đợc truyền bá và nhanh chóng trở thành mộtphơng tiện hữu hiệu để xây dựng, củng cố bộ máy nhà nớc trên quần đảo này.Vấn đề Nho giáo đợc du nhập vào Nhật Bản từ bao giờ ? Hiện nay vẫn có một

số quan điểm khác nhau Có ngời cho rằng, Nho giáo đợc du nhập vào Nhật Bản

từ thế kỷ I Một số ngời khác lại cho rằng phải đến thế kỷ V –VI thì Nho giáomới đợc truyền bá sang Nhật Bản Vậy ý kiến nào là chính xác hơn ?

Chúng ta biết rằng, ngay từ thế kỷ I, Nhật Bản và Trung Quốc đã có mốiquan hệ với nhau Từ đó cho phép chúng ta có thể suy luận rằng, vào thời điểmnày Nho giáo đã đợc biết đến ở Nhật Bản Tuy nhiên, cần phải khẳng định, lúcbấy giờ Nhật Bản còn hết sức lạc hậu, chữ viết cha có, cho nên sự hiểu biết củangời Nhật về văn hoá Trung Quốc, đặc biệt là về đạo Khổng – một thứ triết lýcao siêu, phức tạp còn rất sơ sài Do vậy, nếu nói rằng đạo Khổng vào Nhật Bản

từ thế kỷ I thì nó là quá sớm Bớc sang thế kỷ V – VI, khi Nhật Bản đợc thốngnhất bởi Vơng Quốc Yamato và khi sự phát triển nội tại bên trong bản thânYamato đã dẫn đến nhu cầu cẩn phải xây dựng bộ máy Nhà nớc tập quyền theokiểu Trung Quốc thì việc truyền bá Nho giáo đến Nhật Bản vào thế kỷ V –VIthì có lẽ chính xác hơn Bởi vì, lúc này quan hệ ngoại giao giữa Nhật Bản, TrungQuốc và các nớc khác mới thực sự phát triển và cũng phải đến lúc này ngời Nhậtmới đủ khă năng để tiếp nhận nó

Sang thế kỷ VII, Nho giáo ngày càng có ảnh hởng mạnh mẽ ở Nhật Bản.Trong bối cảnh lịch sử nớc Nhật lúc bấy giờ, nhu cầu thống nhất quốc gia và xâydựng nhà nớc tập trung quyền hành trong tay Thiên hoàng đang đặt ra bức xúc

Do vậy, t tởng Nho giáo về vơng quyền tỏ ra cực kỳ thích hợp với Nhật Bản.Trong con mắt của Nhật Bản lúc đó, tấm gơng nhà Tuỳ, nhất là Nhà Đờng là mộtkhuôn mẫu hoàn hảo để noi theo Ngời Nhật bị ấn tợng mạnh mẽ về quyền lựctuyệt đối của Trung Quốc và họ sớm tin rắng sức mạnh đó chủ yếu do chế độchính trị mà có, chế độ này về cơ bản trái ngợc hẳn với các thiết chế quý tộc do

đẳng cấp thống trị của ngời Nhật Điều đó đã thúc đẩy Nhật Bản "bắt chớc" theomô hình Trung Hoa và dẫn đến sự bùng phát sôi nổi của phong trào học hỏi thiếtchế chính trị nớc ngoài ở thế kỷ VII

Dới sự ảnh hởng của t tởng Nho giáo, năm 604, Thái tử ShotoKu đã ban

bố Hiến pháp 17 điều với những nguyên lý về đạo đức và chính trị làm cơ sở cho

Trang 28

cuộc cải cách đất nớc Đây là một văn kiện lịch sử quan trọng đối với xã hộiNhật Bản vì nó đã chuyển tải những t tởng lớn từ nền văn minh Trung Hoa vậndụng vào hoàn cảnh cụ thể của Nhật Bản [19,84] Mặc dù nội dung của hiếnpháp là sự "hỗn hợp của các nguyên tắc Phật giáo và Khổng giáo" [22,82], nhng

về cơ bản vẫn mang dáng dấp của Nho giáo

Trong thời kỳ diễn ra cải cách Taika (646), Nho giáo truyền bá và có ảnhhởng khá mạnh mẽ ở Nhật Bản T tởng của nó đợc quán triệt chặt chẽ trong việcxây dựng bộ máy Nhà nớc cũng nh chế độ sở hữu ruộng đất theo kiểu nhà Đờng

Đặc biệt, về việc đề cao vai trò của Thiên hoàng đã thể hiện rõ ảnh hởng của t ởng trung quân của Nho giáo

t-Sang thời Nara và Heian, t tởng Nho giáo đợc phổ biến tơng đối rộng rãi

Nó không chỉ ảnh hởng đến giai cấp quý tộc mà còn có tác động đến các tầnglớp khác trong xã hội Trong thời kỳ này nhiều trờng học đợc mở và Nho giáotrở thành nội dung học tập quan trọng trong nhà trờng Nhiều công trình nghiêncứu về Nho giáo xuất hiện Một số gia đình chuyên tâm nghiên cứu về một số tácphẩm nào đó và đã trở thành những chuyên gia cha truyền con nối về những mônhọc riêng của họ Tuy nhiên, có một thực tế là từ thế kỷ IX trở đi, việc học tập,truyền bá t tởng Nho giáo không còn sôi nổi và bồng bột nh thế kỷ VII nữa NgờiNhật từ việc chỉ biết kính phục, tôn trọng và bắt chớc đã chuyển sang sự vậndụng có phê phán, áp dụng kinh nghiệm Trung Quốc để giải quyết những vấn đềthực tiễn của Nhật Bản Sự chuyển biến thái độ này đã dẫn đến một quá trìnhmới trong tiếp thu, học hỏi nền văn hoá bên ngoài và đánh dấu sự trởng thànhcủa văn hoá Nhật Bản

Bớc sang thời kỳ Mạc Phủ, nhất là Mạc phủ ToKugawa, Nho giáo mớithực sự đi sâu vào xã hội Nhật Bản và phát huy đợc những ảnh hởng to lớn của

nó, bởi lẽ những t tởng của Nho giáo phù hợp với quan điểm của giới quân nhânNhật Bản Thời kỳ này, những t tởng Nho giáo đợc truyền bá vào Nhật Bản lànhững t tởng của phái Lý học thời Tống

Trong kỷ nguyên Muromachi, các nhà tu hành thuộc phái Thiền Tông( Zen) là những ngời hết sức uyên bác trong việc nghiên cứu Tống Nho (Lý học)

Họ chịu ảnh hởng của t tởng Nho giáo, nhất là Tống nho Do đó, sau một thờigian học tập ở Trung Quốc khi trở về nớc, họ đã tích cực tuyên truyền t tởng này,bên cạnh việc tuyên truyền Phật giáo Chính vì vậy, Lý học của Chu Hi đã đợctruyền bá và phát triển ở Nhật bản Bản thân Đại nguyên soái Yoshimitsu- ngời

đứng đầu chính quyền Mạc phủ Muromachi cũng đợc nhà s Ghido giảng giảinhững điều cơ bản về đạo Khổng, các trờng phái khác nhau của nó, về triết học

Trang 29

Chu Hi và các học trò của ông, cũng nh về sự gặp nhau giữa các học giả Tốngnho và giáo lý môn phái Phật giáo Zen [20,266].

Sang thời Mạc Phủ, sau một thời kỳ chến tranh loạn lạc, Nhật Bản lại bớcvào thời kỳ hoà bình lâu dài hơn 200 năm Trong bối cảnh xã hội lúc đó, TốngNho tỏ ra rất thích hợp và do vậy nó đã đợc chính quyền Mạc Phủ lựa chọn làm

hệ t tởng chính thống để ổn định xã hội Một câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao MạcPhủ Tokugawa lại chọn Tống Nho chứ không phải là học thuyết khác?

Lý giải về vấn đề này ta thấy, học thuyết Chu Hi là học thuyết có tính duy

lý cao, đựơc trình bày giản dị, dễ hiểu, lý lẽ dễ đợc chấp nhậnở Nhật Bản[20,126] Đặc biệt, nó còn thể hiện cụ thể 5 mối quan hệ của con ngời và nghĩa

vụ của con ngời với nhau Đó là các mối quan hệ giữa vua- tôi, cha- con,chồng– vợ, anh– em và bè bạn Nó đề cao lòng chung thuỷ và trung thành lànhững điều rất phù hợp với xã hội phong kiến Nhật Bản trong thời kỳ này, cungcấp một mô hình thống nhất mà họ Tokugawa cần xây dựng để duy trì trật tự xãhội trên toàn lãnh thổ Do phù hợp với xã hội phong kiến quân sự thờiTokugawa, học thuyết của Chu Hi đã nhận đợc sự giúp đỡ, tạo điều kiện củachính quyền và nó nhanh chóng phát triển

Sự phát triển của Tống Nho thời Tokugawa gắn liền với hoạt động của nhàtriết học Hayashi Razan (1583 – 1657) Bản thân Hayashi Razan đã lập một tr-ờng t thục chuyên dạy về Nho giáo Cùng với nó một th viện lớn có đầy đủ cáctác phẩm của Nho giáo cũng đợc xây dựng Cuối thế kỷ XVIII, Mạc PhủTokugawa đã cho thành lập một trờng đại học chính thức gần trờng HayashiRazan ở Edo Trờng này do chính quyền quản lý và nó đã đào tạo đợc nhiều ngờicai trị có hiệu quả sau này [3,198] T tởng Tống Nho đợc truyền bá mạnh mẽ và

đợc bảo trợ tới cấp lãnh địa Một số Đaimyô trở thành ngời đỡ đầu hăng hái choTống Nho Chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đã ban hành một bộ luật, trong đóquy định võ sĩ phải chăm chỉ học tập cả văn lẫn võ (Văn ở đây là học về Nhogiáo, Tống Nho) Đặc biệt để nâng cao uy tín của Nho giáo, một ngôi đền Khổng

Tử đợc xây dựng ở Eđo và nghi lễ của đạo Khổng đợc khôi phục lại từ năm

1633 Tống Nho cũng thu hút đợc cả những ngời không phải là Samurai Cáchọc giả Tống Nho cũng đã lập ra các trờng t hoặc các cơ sở giáo dục thu hút cảSamurai cũng nh các học sinh bình dân

Có thể nói rằng, đợc sự ủng hộ của chính quyền Mạc Phủ, Tống Nho đãtrở thành hệ t tởng chính thống của chính quyền Nhật Bản Tuy nhiên, ngaytrong lúc Tống Nho đang thịnh hành thì đã có nhiều ngời bày tỏ thái độ phê phánhọc phái này Chịu sự ảnh hởng của Vơng Dơng Minh (1472 – 1529), Nakae

Trang 30

Toju (1608 – 1648) đã khởi xớng Dơng Minh học ở Nhật Bản Cũng có nhữngngời bất mãn với cả hai học phái Tống Nho và Dơng Minh học đã lập nên pháiKogaku (cổ học) với chủ trơng trở về nghiên cứu ngay chính t tởng Khổng –Mạnh lúc ban đầu.

Mặc dù Nho giáo chiếm u thế trong học giới, đời sống văn hoá và trí thứcthời Tokugawa nói chung rất đa dạng và khởi sắc Ngoài Nho giáo, ở Nhật còn

có hai học phái: Kokugaku (Quốc học) và Rangaku (Lan học) Sự hiện diện củahai học phái mới này có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, "nó giúp cho nớc Nhậttránh đợc sự độc tôn của Nho giáo và có những dự bị sơ bộ rất cần thiết trong khi

đối phó với những thử thách của Tây phơng sau này, đặc biệt trên lĩnh vực vănhoá t tởng" [25,70]

Sự đa dạng của các học phái t tởng ở Nhật Bản thời Tokugawa là một thực

tế Sự phản đối những t tởng triết học của Tống nho cũng là một sự thực lịch sử.Tuy cuộc đấu tranh giữa các học phái đã xảy ra, nhng kết quả cuối cùng là triếthọc của Chu Hi vẫn đứng vững, nó vẫn là t tởng chính thống của chính quyềnMạc Phủ Tokugawa ảnh hởng mạnh mẽ của t tởng Tống Nho dới thời Mạc Phủ

là biểu hiện sinh động đánh dấu một giai đoạn mới trong quá trình truyền bá vàphát triển của Nho giáo ở Nhật Bản

Trang 31

Chơng II:

Xã hội Nhật bản dới ảnh hởng của Nho, phật trung quốc

thời phong kiến

1 ảnh hởng của Nho giáo, Phật giáo đối với đời sống chính trị -xã hội Nhật Bản.

1.1.ảnh hởng của Nho giáo đối với đời sống chính trị - xã hội Nhật Bản.

Sự du nhập và phát triển của Nho giáo vào Nhật Bản đã để lại dấu ấn khásâu sắc trong đời sống chính trị của quốc gia này Ngay từ những thế kỷ VI –VII, Nho giáo đã đợc giới lãnh đạo Nhật Bản sử dụng để xây dựng một thiết chếchính trị tập trung thống nhất thay thế cho hình thức liên minh lỏng lẻo giữa cácthị tộc trớc đây Hệ thống những quan điểm của Nho giáo về một trật tự xã hội tỏ

ra phù hợp với nhu cầu của giới lãnh đạo Nhật Bản lúc đó Trớc khi tìm hiểu ảnhhởng của Nho giáo tới đời sống chính trị Nhật Bản, thiết nghĩ chúng ta cũng cần

điểm qua một vài nét về mối quan hệ giữa Nho giáo với thiết chế chính trị – xãhội ở Trung Quốc thời phong kiến

Có thể nói, Nho giáo là ý thức hệ luôn bênh vực và bảo vệ chế độ phongkiến Là một học thuyết chính trị, nó chủ trơng thống nhất tập trung quyền hànhvào tay Thiên tử, bảo vệ Thiên mệnh, bảo vệ chính thống, thực tế là bảo vệ vơngtriều, cho nên kể cả trong tình hình nhà nớc coi trọng tam giáo thì "chức năng tổchức trông nom chính quyền cũng là phần của Nho giáo" [ 5, 87] Hán Cao Tổsau khi lên ngôi đã tỏ ý khinh Nho, không dùng Nho, nhng sau đó trớc cảnh võ t-ớng tranh công làm hỗn loạn cả triều đình, phải nhờ lễ nhạc triều nghi của ThúcTôn Thông mới đa đợc họ vào trật tự, vẻ uy nghiêm của ngôi vua đợc xác lập, từ

đó mới tôn Nho, dùng Nho Đến thời Vũ Hán Đế, Nho giáo đợc độc tôn và trởthành hệ t tởng chính thống của giai cấp cầm quyền

T tởng Nho giáo cho rằng, nguyên nhân dẫn tới tình trạng xã hội rối loạn

là do: "Vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con"

và coi một trong những nguồn gốc làm cho xã hội rối loạn chính là sự rối loạn từtrong gia đình Nho giáo mong ớc một xã hội ổn định, thái bình, đại đồng, mọingời đều sống trong hoà mục, thân ái Xã hội lý tởng theo quan niệm của Nhogiáo còn là một xã hội ở đó có vua thánh, tôi hiền, mọi cái đều là của chung vàmọi ngời đều đợc chăm sóc Do đó, các nhà Nho đều cho rằng, muốn cho xã hội

có trật tự, kỷ cơng thì trớc hết và cơ bản là gia đình phải có trật tự, kỷ cơng Bởivậy, việc giáo dục, giáo hoá mọi ngời trong xã hội theo những nguyên lý đạo đức

Trang 32

Chính danh, Tam cơng, Ngũ thờng rất đợc chú trọng Đó chính là biện pháp cănbản nhất để duy trì trật tự, kỷ cơng trong gia đình- tiền đề và điều kiện đảm bảotrật tự, kỷ cơng, ổn định xã hội Song những chủ trơng ấy không phải là nhằm

đem lại một gia đình mà trong đó mọi ngời đều bình đẳng hoàn toàn Trong gia

đình ấy, ngời cha luôn có uy quyền cao nhất và gia đình ấy đợc xem là gia đình

có kỷ cơng, có trật tự, có giáo dục Ra đến ngoài xã hội thì quyền gia trởng tuyệt

đối của ngời cha trong gia đình trở thành quyền tối cao của Thiên tử với toàn xãhội Nh vậy, rốt cuộc Nho giáo chủ trơng duy trì một trật tự xã hội có đẳng cấp,duy trì vĩnh viễn địa vị thống trị tuyệt đối của ông vua, cố định hoá trật tự và cơcấu giai cấp của xã hội phong kiến Rõ ràng cái xã hội lý tởng theo quan niệmcủa Nho giáo là một xã hội mà đứng đầu nhà nớc là Vua (Thiên Tử) và Thiên Tử

là ngời có quyền cao nhất, dới Thiên tử là vua ch hầu, dới vua ch hầu là quan đạiphu, dới quan đại phu là thần dân trong thiên hạ Cái xã hội đó phải luôn đặttrong trật tự có lợi cho giai cấp thống trị và vì vậy, kẻ nào phá hoại cái trật tự đó

sẽ bị Thiên tử trừng phạt

Nhận thức đợc tình hình thực tế của Nhật Bản ở đầu thế kỷ VII, hơn nữathấy rằng t tởng Nho giáo (Hán nho) về một trật tự xã hội ổn định là phù hợp vớiyêu cầu đặt ra của đất nớc, Thái tử Shotoku đã từng bớc áp dụng t tởng Nho giáo

để xây dựng một bộ máy chính quyền trung ơng tập quyền thống nhất ở NhậtBản Năm 603, Thái tử Shotoku đã đặt ra chế độ phẩm hàm 12 cấp và lấy tên 6

đức của Nho giáo để đặt, mỗi đức đợc phân biệt bằng mũ áo với những màu sắckhác nhau Bao gồm: Đại Đức, Tiểu Đức,Đại Nhân, Tiểu Nhân, Đại Lễ, Tiểu Lễ,

Đại Tín, Tiểu Tín, Đại Nghĩa, Tiểu Nghĩa, Đại Trí , Tiểu Trí

Việc làm này của Thái tử Shotoku đợc xem là sự thể hiện ảnh hởng của ttởng Nho giáo đầu tiên về măt chính trị ở Nhật Bản Đây là đòn tấn công đầutiên vào chế độ tập tớc (cha truyền con nối) đang rất thịnh hành ở Nhật Bản lúc

đó Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng việc ban hành 12 cấp bậc quan lại củaThái tử Shotoku mới chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết chứ cha hẳn đợc thực hiện rộngrãi trong xã hội Nhật Bản Mặc dù vậy, điều này cũng thể hiện sự ảnh hởng bớc

đầu của t tởng Nho giáo tới quan niệm về một trật tự xã hội khác hẳn với cấutrúc xã hội Nhật Bản trớc đó

Đến năm 604, Thái tử Shotoku lại đích thân khởi soạn Hiến pháp 17 điều.Nội dung của nó phản ánh đậm nét ảnh hởng của t tởng Phật giáo và Nho giáo,trong đó t tởng Nho giáo thẫm đẫm và chiếm phần lớn nội dung Hiến pháp 17

điều trớc hết là những điều giáo huấn các quan lại về đạo lý trị nớc, song nó thể

Trang 33

hiện một cách sâu sắc t tởng về quốc gia, về chính trị của Thái tử Shotoku Ngay

ở điều thứ nhất, quan niệm về sự hài hoà trong xã hội đã đợc đề cập "trong nớclấy chữ Hoà làm nền tảng trong đạo c xử để tạo nên sức mạnh chung" Tiếp đó, ttởng về một trật tự xã hội của Nho giáo đợc thể hiện rất rõ: "ra đến ngoài nớcphải tuân lệnh đấng quân vơng (tức Thiên hoàng), ở trong nhà phải thuận mệnhPhụ – Mẫu, không trái ý hàng xóm, mọi ngời giải quyết bằng tơng thoả"[31,118]

Hiến pháp 17 điều của Thái tử Shotoku đợc ban hành đã thể hiện rõ t tởngtrung quân và ý đồ tăng cờng việc thiết lập nhà nớc trung ơng tập quyền Thôngqua hiến pháp này, Thái tử đã dùng chế độ quan lại để xây dựng chính quyềntrung ơng, để thực hiện chế độ chính trị và tăng cờng uy quyền của triều đình vàdựa trên tinh thần Phật giáo để xây dựng một quốc gia lý tởng [16,151] Tuynhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên những công việc mà Shotoku tiếnhành mới chỉ đặt nền móng cho những cải cách sau này chứ trong thực tế nó cha

có nhiều thành tựu ảnh hởng của Nho giáo chỉ thực sự có tác động sâu rộng

đến Nhật Bản sau cải cách Taika năm 646

Tháng 1 năm 646, sau khi lật đổ dòng họ Soga, Thiên hoàng Côtôc banchiếu cải cách – lịch sử Nhật Bản gọi đây là cải cách Taika Nội dung căn bảncủa cải cách Taika là xây dựng một thiết chế chính trị quân chủ trung ơng tậpquyền từ trung ơng đến địa phơng, trong đó quyền tối cao thuộc về Thiên hoàng.Xoá bỏ quyền sở hữu đất đai của các dòng họ, thị tộc và khẳng định quyền sởhữu tối cao về ruộng đất nằm trong tay Thiên hoàng; thực hiện chế độ đăng ký

hộ tịch và ban hành chính sách thuế đồng nhất trên toàn quốc Đến năm 702, bộluật Taihôriô (Đại bảo luật lệnh) đợc ban hành và cải cách Taika coi nh hoànthành Theo quy định của luật này, một bộ máy nhà nớc trung ơng tập quyền đợcxây dựng Thiết chế Nhà nớc này phản ánh rõ ảnh hởng của t tởng Nho giáo từTrung Quốc cũng nh việc học tập mô hình tổ chức bộ máy nhà nớc của nhà Đ-ờng ở Trung Quốc

ở Trung ơng: Thiên hoàng trở thành ngời có quyền lực cao nhất, đợc thầnthánh hoá và coi nh một vị thần sống Guồng máy ở cấp trung ơng bao gồm 8 bộ:

Bộ trung ơng, Bộ lễ, Bộ lại, Bộ hộ, Bộ binh, Bộ hình, Bộ ngân khố, Bộ hoàngcung Bao trùm lên hoạt động của 8 bộ đó là Thái chính quan điều hành chung

và Thần kỳ quan tổ chức việc tế lễ Thần đạo Nh vậy, tuy học theo mô hình nhà

Đờng, nhng Nhật Bản có nét khác (thêm bộ Hoàng cung và Bộ trung ơng) và một

Trang 34

điểm khác biệt nữa là quyền lực to lớn của Thần kỳ quan, điều này cho thấy vaitrò to lớn của Shinto ở Nhật Bản.

ở địa phơng: Cả nớc đợc chia thành 66 tỉnh đợc gọi là Kuni (tiểu quốc),

d-ới tỉnh là quận, dd-ới quận là làng Toàn bộ quan lại trong hệ thống chính quyềntrên đây đợc đặt dới sự điều hành trực tiếp của triều đình do Thiên hoàng đứng

đầu Những ngời đảm đơng chức vị từ cấp tỉnh trở lên do triều đình bổ nhiệm,còn những ngừơi cấp dới thì đợc chọn trong số các thủ lĩnh, hào tộc địa phơng[7,48]

Có thể nói, dới ảnh hởng của t tởng Nho giáo Trung Hoa, Nhật Bản đã xâydựng đợc một số bộ máy hành chính hoàn chỉnh theo kiểu nhà nớc chuyên chếtrung ơng tập quyền Lần đầu tiên xã hội đợc quản lý bằng luật lệ thông qua một

số tổ chức đợc điều hành từ trung ơng đến địa phơng Thiết chế chính trị TrungQuốc đã thay thế cho kiểu nhà nớc liên minh của các thị tộc lỏng lẻo trớc đây vàNhật Bản sau cải cách Taika đã bớc vào một thời đại mới - thời đại phong kiến.Tuy nhiên, một điều nằm ngoài dự kiến của các nhà cải cách là mô hình chínhtrị này chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn Đến cuối thế kỉ IX, chính quyền ởcấp tỉnh và huyện của Nhật đều nằm trong tình trạng rối loạn, mục nát Bộ máychính quyền do các nhà cải cách Taika sắp đặp tỏ ra bất lực và uy tín của chínhphủ trung ơng giảm sút nghiêm trọng Sự thiết lập của chế độ Mạc phủKamakura đã đánh dấu chấm hết cho mô hình nhà nớc tập quyền ở Nhật Bản bắtchớc theo kiểu nhà Đờng (Trung Quốc) ảnh hởng của t tởng Nho giáo ở góc độthiết chế chính trị cũng coi nh chấm dứt khi Mạc phủ lên cầm quyền Với việcxây dựng một bộ máy quản lý hữu hiệu, các cơ quan của Mạc phủ mới đ ợcthành lập đã thay thế hoàn toàn chức năng của chính quyền Thiên hoàng trớc

đây Mặc dù chính quyền của Thiên hoàng vẫn tồn tại nhng chỉ là hữu danh vôthực Đây là một hình thái hai chính quyền song song tồn tại hết sức đặc biệttrong lịch sử chỉ có ở một vài nớc

Trong thời Mạc phủ cầm quyền , t tởng Nho giáo tiếp tục có nhiều ảnhhởng và đợc sử dụng làm hệ t tởng chính thống của xã hội nhằm duy trì vĩnhviễn một trật tự xã hội đẳng cấp dới sự chỉ huy của Tớng quân và tầng lớp võ

sĩ Đồng thời, Nho giáo cũng đợc chính quyền lợi dụng triệt để để xây dụng mộtthứ đạo đức cho tầng lớp võ sĩ – cơ sở xã hội của chính quyền Mạc phủTokugawa

Sau một thời kỳ dài chiến tranh, sang thời Tokugawa, hoà bình đợc lập lại

Đối với Tớng quân, chính phủ của ông ta và cả số đông các nhà quý tộc đều

Trang 35

muốn đợc yên bình để phát triển thái ấp của mình Thể chế chính quyền Mạcphủ cần phải đợc ủng hộ và bảo đảm bởi một hình thái đạo lý nào đó Trớcyêu cầu ấy, ngời ta đã lựa chọn hệ thống triết học Nho giáo nói chung và họcthuyết Chu Hi nói riêng Học thuyết Chu Hi nhấn mạnh đến lòng trung thành

và nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ học thuyết này Việc thành lập các ờng học giảng dạy về Tống nho cũng nh sử dụng những học giả Nho giáochính là thể hiện sự ủng hộ của chính quyền Mạc phủ đối với học thuyết Chu Hivì mục đích chính trị của nó

tr-Để ổn định chính trị, chính quyền Tokugawa dựa trên quan niệm xã hộicủa Nho giáo, chia xã hội thành 4 giai cấp (Sĩ, nông, công, thơng) Sĩ tức là võ sĩ(Samurai) chiếm 6-10% dân số, có quyền chém tại chỗ thờng dân nào vô lễ.Nông dân chiếm khoảng 80% dân số, tuy đợc coi trọng hơn công, thơng nhngthực tế lại có số phận hẩm hiu hơn cả.Thợ thủ công và thơng nhân chiếm 6-7%dân số, có địa vị thấp trong xã hội , nhng lại nắm trong tay thế lực kinh tế Theothời gian, sự lớn mạnh về kinh tế của công, thơng đã dần đa tới sự đảo lộn trật tựgiai cấp ở Nhật Bản cuối thời Mạc phủ

Cả một thời kì dài, Tống Nho đợc sử dụng để duy trì trật tự xã hội đẳngcấp đã làm cho ngời dân Nhật thấm nhuần nhiều mẫu luân lý và đạo đức của triếthọc Trung Hoa Tống Nho dần trở thành một sức mạnh lý tởng, đạo đức lớnnhất tại nhật Bản và là cội nguồn chính yếu của những phép tắc luân lý bấtthành văn của giai cấp Samurai, xuất hiện trong bối cảnh liên tục có các cuộcchiến tranh giữa các thế lực phong kiến Chủ thuyết trung thành với chủ đợcchính quyền Mạc phủ ra sức nhồi nhét vào đầu giai cấp võ sĩ và có thể nói, Mạcphủ đã thành công khi đa đợc các nghĩa vụ phục vụ lên đỉnh điểm của bậcthang đạo đức đến nỗi "lòng hiểu đễ con cái đối với cha mẹ một thời là tuyệt

đối của đạo đức nay biến thành chỉ còn là một dạng của lòng trung thành đốivới chủ hoặc ngời ban ân" [23,233]

Hơn 2 thế kỉ , dới con mắt canh chừng và trong bàn tay vững chắc củachính quyền Edo, nền hoà bình của Nhật Bản đã đợc duy trì thông qua nhữngbiện pháp cứng rắn Dấu ấn của những chính sách mà Mạc phủ Tokugawa đãthực thi ở Nhật Bản hết sức rõ nét Một dân tộc mạnh mẽ và mạo hiểm của thế

kỉ XVI đã trở thành một dân tộc hiền lành, hoàn toàn chờ đợi sự chỉ đạo của

ng-ời cai trị và tuân theo không một chút thắc mắc mọi mệnh lệnh từ trên xuống ởthế kỷ XIX Những chính sách ấy đã kìm hãm sự phát triển về kinh tế và xãhội Nhật Bản Do đó , khi phải đối mặt với những vấn đề nảy sinh trong nớc và

Trang 36

trớc áp lực của t bản phơng Tây cuối thế kỷ XIX , chính quyền Tokugawa đã thểhiện sự lúng túng và bất lực của nó

Một điều đáng nói là: Nếu nh Tống Nho đã từng là công cụ hữu hiệu đểchính quyền Mạc phủ Tokugawa duy trì một trật tự xã hội đẳng cấp và việc họctập những nội dung của Tống Nho là bắt buộc trong các trờng học Nhật Bản thìcũng chính thông qua việc nghiên cứu ấy, ngời ta ngày càng đi đến một nhậnthức mà chắc chắn một ngời đa mu túc trí nh Tokugawa Ieyasu cũng không nghĩ

đến rằng: Thiên hoàng ở Tokyo mới là đối tợng cao nhất của chữ "trung" màthần dân Nhật Bản phải tôn thờ Trong khi đó, những công trình biên soạn sửngày càng gợi lại lịch sử của một thời kì xa xa khi Thiên hoàng chứ không phảiShogun đã trị vì đất nớc Nhật Bản [25,70] Việc gạt bỏ Mạc Phủ và trả lại quyềnlực cho Thiên hoàng, đồng thời tiến hành những biện pháp cải cách đã đặt racấp thiết vào cuối thế kỷ XIX T tởng "trung quân" của Nho giáo đã từng tạo

điều kiện để Shogun cai trị thần dân một cách dễ dàng thì nay biến thành thứ vũkhí quay lại hại chính nó Mạc phủ vào cuối thế kỷ XIX lại trở thành đối tợnglên án quyết liệt Cuộc cải cách của Minh Trị vào năm 1868 đã hoàn thành côngviệc khôi phục lại quyền lực cho Thiên hoàng và lịch sử của Nhật Bản bớc sangmột trang mới- thời cận đại

1.2 ảnh hởng của Phật giáo đối với đời sống chính trị xã hội Nhật Bản

Du nhập gần nh đồng thời với Nho giáo, Phật giáo nhanh chóng thu hút sựquan tâm của các tầng lớp trong xã hội Nhật Bản và đợc xem là phơng tiện hữuhiệu để truyền tải nền văn minh Trung Hoa vào xứ sở Phù Tang Xem xét cả quatrình lâu dài từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIX, có thể thấy Phật giáo đã ảnh hởngkhông nhỏ tới đời sống chính trị của Nhật Bản và nó đợc thể hiện ở 3 góc độkhác nhau dới đây:

1 Phật giáo là một phơng tiện, một công cụ hữu hiệu để tầng lớp cầmquyền thực hiện các ý đồ chính trị

2 Thế lực của Phật giáo có ảnh hởng không nhỏ đến trật tự xã hội NhậtBản

3 Các tăng lữ Phật giáo có ảnh hởng khá lớn tới những ngời lãnh đạo đấtnớc thông qua mối quan hệ cá nhân và uy tín của họ

ở góc độ thứ nhất: Lịch sử đã ghi nhận một sự thực là tôn giáo nói chungthờng gắn với chính trị và bị các thế lực chính trị lợi dụng Phật giáo cũngkhông là một ngoại lệ Với Nhật Bản thì điều này thể hiện rất rõ Ngay từ khimới du nhập vào Nhật Bản, Phật giáo đã gây ra cuộc đấu tranh giữa 2 dòng họ

Trang 37

thế lực là Mônônôbe và Soga Kết quả dòng họ Mônônôbe bị tiêu diệt và dòng

họ Soga đã ủng hộ nhiệt thành cho Phật giáo và Phật giáo ngày càng có vai tròquan trọng trong đời sống quốc gia

Đến thời Thái tử Shotoku, nhờ công lao truyền bá của ông, Phật giáo ngàycàng phát triển mạnh mẽ và ảnh hởng của nó đến đời sống chính trị ngày cànggia tăng Điều 2 trong hiến pháp 17 điều của Thái tử Shotoku đã khuyên mọingời thành kính đối với Tam bảo và đánh giá cao tính giáo dục của Phậtgiáo Điều 10 hiến pháp cũng ghi "dứt phẫn, bỏ sân, không giận ngời làm trái,ngời ngời đều có tâm, tâm ai cũng cố chấp Kia đúng thì ta sai, ta đúng thì kẻkia sai Ta hẳn không phải Thánh, kẻ kia hẳn không phải ngu, đều là phàm phucả thôi " Nh vậy, có thể thấy Shotoku đã coi Phật giáo là phơng tiện để dẫn dụbầy tôi mê hoặc, là đờng tắt để qui tụ nhân tâm của xã hội Trong bối cảnh lúcbấy giờ, khi mà nhu cầu thiết lập một bộ máy nhà nớc thống nhất tập trung đang

đặt ra cấp thiết thì Phật giáo chính là phơng tiện hiệu quả để giới cầm quyềnNhật Bản có thể "dùng giáo nghĩa Phật giáo để xây dựng tinh thần hoà bình,hoà mục, dẫn dắt lòng ngời từ chỗ rối loạn mà hớng tới chỗ đờng ngay Tiếpnhận văn hoá Phật giáo để xúc tiến sự phát triển của văn hoá Nhật Bản"

Nh vậy, ngay từ thế kỷ VII, trong đờng lối chính trị của giới lãnh đạo NhậtBản thì Phật giáo đã đợc xem là nhân tố để cố kết dân c trong một quốc giathống nhất Từ thời đại Nara đến thời đại Heian, sang thời đại Mạc phủKamakura và Murômachi, Phật giáo vẫn luôn là một thế lực lớn, đợc chínhquyền triệt để lợi dụng Ngay cả khi Phật giáo mất dần uy tín và bớc vào thời kỳsuy thoái dới thời Mạc phủ Tokugawa thì nó vẫn đợc chính quyền Mạc phủ lợidụng để ổn định xã hội Vào thế kỉ XVII, để phục vụ cho chính sách cấm đạo đốivới Thiên Chúa giáo, chính quyền Mạc phủ đã dựa vào Phật giáo bằng việc ralệnh cho mỗi hộ gia đình Nhật Bản phải gia nhập các chùa Phật giáo nhất định,

do vậy đã tạo ra "chế độ đàn gia" cha hề có trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản[8,504] Với chính sách này, Phật giáo không chỉ là chỗ dựa quan trọng của chế

độ phong kiến mà còn là "một khuôn khổ các hiệu quả để gắn kết gia đình và xãhội " [8,504] Đến đây, ta có thể kết luận: Dù trải qua những bớc thăng trầmqua các thời kỳ khác nhau, nhng Phật giáo ở Nhật Bản luôn đợc giai cấp thốngtrị lợi dụng để thực hiện các ý đồ chính trị và nó đã đợc lợi dụng để thực hiện

điều này ở Nhật Bản hết sức thành công

ở góc độ thứ 2: Một điều dễ nhận thấy là Phật giáo đã nhanh chóng pháttriển ở Nhật Bản và trở thành một thế lực có ảnh hởng không nhỏ đến đời sốngchính trị của nớc này Từ một tôn giáo ngoại lai, Phật giáo đã trở thành quốc

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Thuý Anh, Tìm hiểu về đạo Phật ở Nhật Bản, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 5 - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về đạo Phật ở Nhật Bản
2. Nguyễn Thị Thuý Anh, Tác động của Tôn giáo đến đời sống chính trị Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản vàĐông Bắc á, số 3 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Tôn giáo đến đời sống chính trị Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX
3. Richard Bowring & Peter Kornicki, Bách khoa th Nhật Bản, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Hà nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa th Nhật Bản
4. Đỗ Công Định - Thích Minh Đăng, Đạo phật ở Nhật Bản, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 4 - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo phật ở Nhật Bản
5. Trần Đình Hợu, Mấy ý kiến bàn về Nho giáo, Tạp chí văn hoá Nghệ thuËt, Sè 2 - 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến bàn về Nho giáo
6.Nguyễn Văn Kim, Nhật Bản với châu á - những mối liên hệ và chuyển biến kinh tế xã hội, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với châu á - những mối liên hệ và chuyển biến kinh tế xã hội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
7. Nguyễn văn Kim, Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa: Nguyên nhân và hệ quả, NXB Thế giới, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa: "Nguyên nhân và hệ quả
Nhà XB: NXB Thế giới
8. Joseph. M. Kitagawa, Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản, NXB Khoa học, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản
Nhà XB: NXB Khoa học
9. Cung Hữu Khánh, ảnh hởng của Khổng giáo ở Nhật Bản giai đoạn trớc thế kỷ XVIII, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 1- 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hởng của Khổng giáo ở Nhật Bản giai đoạn trớc thế kỷ XVIII
10. Vũ Khiêu, Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và phát triển ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
11. Kinh nghiệm khai thác Nho giáo ở một số nớc châu á ngày nay, Tạp chí Việt Nam và Đông Nam á ngày nay, số 23 - 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm khai thác Nho giáo ở một số nớc châu á ngày nay
12. Phan Ngọc Liên (CB), Lịch sử Nhật Bản, NXB Văn hoá thông tin, Hà Néi, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
13. Michio Morishima, Tại sao Nhật Bản thành công: Công nghệ phơng Tây và tính cách Nhật Bản, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao Nhật Bản thành công: Công nghệ phơng Tây và tính cách Nhật Bản
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
14. Mạnh Thị Thanh Nga, Nguồn gốc của tục uống trà và sự du nhập vào Nhật Bản, Tạp chí văn học dân gian, số 1- 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của tục uống trà và sự du nhập vào Nhật Bản
15. Hữu Ngọc, Chân dung văn hoá đất nớc Mặt Trời mọc, NXB Thế giới, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn hoá đất nớc Mặt Trời mọc
Nhà XB: NXB Thế giới
16. Nhật Bản trong thế giới Đông á và Đông Nam á, NXB Thành phố Hồ ChÝ Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong thế giới Đông á và Đông Nam á
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ ChÝ Minh
17. Ngô Hùng Quang, Kiến trúc cổ đại châu á, NXB Văn hoá thông tin, Hà Néi 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cổ đại châu á
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
18. Edwin. O. Reischauner, Nhật Bản quá khứ và hiện tại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản quá khứ và hiện tại
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
19. G. Sansom, Lợc sử Nhật Bản từ thợng cổ đến 1334, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợc sử Nhật Bản từ thợng cổ đến 1334
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
20. G. Sansom, Lợc sử Nhật Bản, tập 2 (1334- 1615), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợc sử Nhật Bản, tập 2 (1334- 1615)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w