1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường

120 363 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

12 - Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia Hà Nội- 1995; Đề tài: Chuyên khảo hệ thống đảo ven bờ Việt Nam Những vấn đề Địa lý moi trường của Lê Đức An đồng chủ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

BÙI HỒNG ANH

PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN ĐẢO PHÚ QUỐC PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MƠI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người và thiên nhiên luôn luôn có mối quan hệ không thể tách rời nhau Con người sống trong môi trường tự nhiên, tác động không ngừng vào đó để nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình Việc khai thác tự nhiên quá mức sẽ làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, từ đó dẫn đến sự suy thoái tài nguyên và môi trường Do đó, trong quá trình phát triển cần có những đánh giá, phân tích, những biện pháp, quy hoạch… cụ thể để có biện pháp sử dụng tự nhiên một cách hợp lý và bảo vệ môi trường, khai thác tự nhiên phải đi đôi với sự phát triển bền vững Đây là vấn đề cấp thiết hiện nay không chỉ ở Việt Nam

Nước ta có một vùng biển rộng lớn (khoảng 1 triệu km2) với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ chạy dài từ Bắc vào Nam Trong đó đảo Phú Quốc nằm trong vịnh Thái Lan là hòn đảo lớn nhất nước, có diện tích tự nhiên 561,65 km2

với chiều bắc nam là 49km, chỗ rộng nhất ở phía bắc là 27km, chỗ hẹp nhất ở phía nam là 3km

Về mặt hành chính, đảo Phú Quốc thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Đảo có đầy đủ các ĐKTN và TNTN cho việc phát triển về mọi mặt của đời sống

Và đặc biệt khi được Chính phủ cho phép thực hiện cơ chế kinh tế mở thì “Hòn đảo ngọc” Phú Quốc có sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt với những dự án qui mô

Theo các nhà nghiên cứu thì đảo Phú Quốc được phân loại thuộc nhóm đảo tiền tiêu biên giới Vì vậy, nó có một vị thế đặc biệt quan trọng về an ninh - quốc phòng Có thể xem nơi đây là “ranh giới đảo” thật sự giữa Việt Nam và Campuchia Phú Quốc là một đảo lớn có đường bờ đảo với các núi nằm sát biển và cửa sông thuận lợi cho xây dựng các căn cứ quân sự và quân cảng biển Địa hình bằng phẳng ở phía nam và phía tây thuận lợi cho xây dựng sân bay Điều đó càng làm tăng thêm ý nghĩa quốc phòng của đảo

Như vậy, tiềm năng của Phú Quốc là vô cùng to lớn, đặc biệt là phát triển

về du lịch, do đó cần có những đánh giá, phân tích cụ thể để có thể khai thác, sử dụng hợp lý nhất, hiệu quả nhất tiềm năng to lớn đó của đảo, nhằm nâng cao vị thế của đảo Phú Quốc hơn nữa

Trang 3

Việc tiếp cận Địa lý Tự nhiên tổng hợp nhằm hiểu biết, nắm vững những đặc điểm ĐKTN, TNTN, định hướng khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất quan trọng và cần thiết Hơn nữa, xuất phát từ nhu cầu của bản thân muốn được hiểu biết hơn về các ĐKTN và TNTN của đảo nói riêng và các đảo khác Việt Nam nói chung trong việc phát triển một số ngành kinh tế mà không bị phá vỡ tổng thể, đảm bảo cho sự phát triển và bảo vệ môi trường Đồng thời nhằm góp phần bổ sung, nâng cao kiến thức để phục vụ cho công tác giảng dạy sau này của bản thân.

Với những lý do nêu trên, bản thân đã lựa chọn đề tài “Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo Phú Quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường” để nghiên cứu

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu của đề tài

+ Thông qua hệ thống phân loại và bản đồ cảnh quan làm sáng tỏ được đặc điểm, tiềm năng của các ĐKTN và TNTN đảo Phú Quốc

+ Trên cơ sở phân tích cấu trúc, chức năng và đánh giá cảnh quan có thể đưa ra được những kiến nghị, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đảo Phú Quốc

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

+ Nghiên cứu những vấn đề về lý luận, phương pháp của địa lý tự nhiên tổng hợp cho việc phân tích, đánh giá cảnh quan đảo Phú Quốc

+ Thu thập tài liệu và số liệu về các nhân tố thành tạo cảnh quan đảo Phú Quốc như: địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật, các hoạt động KT -XH,…

+ Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan của đảo Phú Quốc

+ Phân tích, đánh giá tiềm năng tự nhiên, TNTN cho các mục đích cụ thể của đảo như: phát triển du lịch, nông - lâm - ngư nghiệp

Trang 4

+ Trên cơ sở phân tích, đánh giá đề ra những đề xuất, kiến nghị sử dụng hợp lý TNTN trong quá trình phát triển các ngành du lịch, nông - lâm - ngư nghiệp và BVMT của đảo

3 Giới hạn của đề tài

3.1 Giới hạn phạm vi lãnh thổ nghiên cứu

+ Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào đảo Phú Quốc gồm

8 xã, thị trấn trong 10 xã, thị trấn của huyện đảo Phú Quốc là: Thị trấn Dương Đông, thị trấn An Thới, xã Cửa Cạn, xã Cửa Dương, xã Hàm Ninh, xã Dương

Tơ, xã Bãi Thơm và xã Gành Dầu, có diện tích tự nhiên 561,65 km2

Phạm vi

có thể mở rộng và có sự liên kết không gian với phần đất liền và các đảo khác của tỉnh Kiên Giang

+ Ranh giới phạm vi hành chính lãnh thổ nghiên cứu được xác định trên

cơ sở bản đồ hành chính, bản đồ du lịch huyện đảo Phú Quốc của tỉnh Kiên Giang năm 2006

3.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu

+ Phân tích, đánh giá vai trò của các nhân tố thành tạo cảnh quan của đảo Phú Quốc

+ Xây dựng hệ thống phân loại và thành lập bản đồ cảnh quan khu vực nghiên cứu

+ Xác định những định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đảo

+ Đề xuất, kiến nghị những định hướng phát triển hiệu quả cho một số ngành kinh tế quan trọng và việc sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

cho sự phát triển bền vững của đảo

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Các công trình nghiên cứu về biển đảo Việt Nam như: Các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN và KT – XH hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội biển của Lê Đức An (chủ nhiệm) và nnk trong đề tài KT 03 12 -

Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia Hà Nội -

1993; Đề tài: Đánh giá ĐKTN, TNTN và KT – XH hệ thống đảo ven bờ Việt

Trang 5

Nam trong chiến lượng phát triển kinh tế xã hội biển của Lê Lê Đức An (chủ

nhiệm) và nnk trong đề tài KT 03 12 - Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự

nhiên và Công nghệ Quốc gia Hà Nội- 1995; Đề tài: Chuyên khảo hệ thống đảo ven bờ Việt Nam (Những vấn đề Địa lý moi trường) của Lê Đức An (đồng chủ

biên) và nnk - Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc

gia Hà Nội; Chiến lược phát triển kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội – 2005;…

- Các công trình nghiên cứu về tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang

như: Luận án Tiến Sĩ của tác giả Đào Ngọc cảnh về Tổ chức lãnh thổ các địa điểm du lịch tỉnh Kiên Giang năm 2003;…

- Các công trình nghiên cứu về địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế - xã hội

đảo Phú Quốc như: Điều tra, đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN và hiện trạng

KT – XH đảo Phú Quốc phục vụ quy hoạch tổng thể lãnh thổ Báo cáo giai

đoạn I: Các điều kiện địa lý tự nhiên, TNTN và hiện trạng KT – XH đảo Phú Quốc của Lê Đức An (chủ nhiệm) và nnk - Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia Hà Nội – 1995 Các đề tài, quy hoạch của Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê, các Viện nghiên cứu, các trường Đại học,…

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

+ Quan điểm hệ thống:

Là một quan điểm khoa học chung phổ biến, vì từ lâu đối tượng nghiên cứu của cảnh quan học được xem như là các hệ thống hoàn chỉnh được tạo thành từ rất nhiều hợp phần, các yếu tố có mối tác động qua lại trong việc tạo nên các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên Vận dụng quan điểm nghiên cứu này giúp cho việc giải thích các đối tượng nghiên cứu của cảnh quan rõ ràng hơn, tạo ra những hiểu biết mới và làm phong phú thêm những khái niệm về đối tượng nghiên cứu

Quan điểm hệ thống có ý nghĩa rất to lớn trong nghiên cứu các thể tổng hợp tự nhiên lãnh thổ, nó giúp xác định cấu trúc không gian, từ đó có thể phân tích được chức năng của các hợp phần, các yếu tố thành tạo nên cấu trúc đứng của cảnh quan và chức năng của thể tổng hợp tự nhiên với nhau theo cấu trúc

Trang 6

ngang trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng Quan điểm này cũng cho phép phân tích sự phân hóa lãnh thổ theo yếu tố động lực thành tạo, từ đó tìm ra các mô hình tính toán thích ứng để làm cơ sở cho những dự báo biến động của các thể tổng hợp tự nhiên lãnh thổ

Trong quá trình nghiên cứu ĐKTN, TNTN đảo Phú Quốc, quan điểm hệ thống đã được vận dụng Đảo Phú Quốc được xem như một hệ thống tự nhiên, trong đó có sự tác động tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên cũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội Do vậy, mỗi thành phần phải được nghiên cứu tổng hợp trong mối liên hệ với các hiện tượng và thành phần khác trong hệ thống về không gian, thời gian và động lực phát sinh lãnh thổ Trong quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá cảnh quan đảo Phú Quốc phục vụ các mục đích thực tiễn, việc áp dụng quan điểm này có ý nghĩa rất quan trọng vì mỗi đơn vị cảnh quan là một bộ phận của đơn vị cấp cao hơn và bản thân đơn vị cảnh quan đó lại bao gồm nhiều đơn vị cấp thấp hơn Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu cần phải xem xét nó trong hệ thống và sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố thành tạo cảnh quan khu vực nghiên cứu

+ Quan điểm tổng hợp:

Quan điểm tổng hợp đã có từ lâu và là quan điểm đặc thù cho mọi quá trình nghiên cứu địa lý Quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu địa lý là nghiên cứu các đối tượng trong tổng hòa các mối liên hệ giữa chúng với nhau, giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ và tạo thành một thể thống nhất Vì vậy, khi nghiên cứu, không thể tách rời các đối tượng ra một cách riêng rẽ mà phải luôn

có sự liên hệ giữa các đối tượng với nhau

Trong công tác nghiên cứu và đánh giá ĐKTN và TNTN một khu vực nào

đó cần phải dựa trên cơ sở các kết quả phân tích đồng bộ và toàn diện vì mỗi hệ thống tự nhiên là tập hợp của nhiều yếu tố tự nhiên, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo những quy luật phát triển riêng Khi có sự tác động vào một hợp phần hay bộ phận tự nhiên nào đó sẽ kéo sự theo thay đổi mang tính dây chuyền của hàng loạt các yếu tố tự nhiên khác Điều đó có thể dẫn đến những hậu quả to lớn, có khi vượt qua ngoài phạm vi không gian lãnh thổ bị tác động

Trang 7

Vì vậy, khi đánh giá tổng hợp lãnh thổ, quan điểm này là cơ sở quan trọng phục vụ cho việc quy hoạch lãnh thổ và bảo vệ môi trường

+ Quan điểm lãnh thổ:

Đối với bất kỳ đối tượng địa lý nào cũng đều gắn với một không gian lãnh thổ nhất định Với một lãnh thổ nhất định, các đối tượng địa lý có các quy luật hoạt động riêng, chúng luôn gắn bó và phụ thuộc rất chặt chẽ vào đặc điểm của lãnh thổ đó Trong mỗi lãnh thổ luôn có sự phân hóa nội tại và mối quan hệ chặt chẽ với các lãnh thổ cận kề cả về tự nhiên cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội Trong việc xác định không gian lãnh thổ nghiên cứu và trong nghiên cứu sự phân hóa không gian lãnh thổ thì quan điểm này không thể thiếu Sự phân hóa không gian lãnh thổ đó là sự phân hóa về cảnh quan ở khu vực nghiên cứu Trên

cơ sở đó, giúp ta có những ý kiến đánh giá, kiến nghị cho việc sử dụng hợp lý lãnh thổ đối với từng loại cảnh quan cụ thể

+ Quan điểm lịch sử:

Mỗi một thể tổng hợp tự nhiên là một thể thống nhất và hoàn chỉnh, nó có quá trình phát sinh, phát triển và biến đổi không ngừng Trên thực tế, các cảnh quan hiện nay hầu hết đã bị biến đổi ở những mức độ nhất định, có khi là sự biến đổi rất lớn dưới các tác động của hoạt động nhân tác Do đó, trong quá trình nghiên cứu và đánh giá cảnh quan phải được dựa trên quan điểm lịch sử để có thể hiểu biết lịch sử phát sinh, tồn tại và phát triển của chúng trong mối tương quan giữa các yếu tố khác Từ đó mới có thể đánh giá cảnh quan một cách đúng đắn về nguồn gốc phát sinh, tồn tại và phát triển cũng như nguyên nhân của những biến đổi hiện tại và có thể dự báo được xu thế phát triển của cảnh trong tương lai

+ Quan điểm kinh tế sinh thái:

Quan điểm này được vận dụng trong nghiên cứu cảnh quan nhằm đặt hệ thống cảnh quan trong mối quan hệ với hệ thống kinh tế - xã hội Quan điểm này

có thể thực hiện được khi trong quá trình nghiên cứu cảnh quan xác định trước được mục tiêu ứng dụng cụ thể Ví dụ: nghiên cứu cảnh quan cho mục đích phát triển du lịch, nông nghiệp, công nghiệp, quy hoạch lãnh thổ, nghiên cứu cảnh quan cho sử dụng hợp lý tài nguyên,…

Trang 8

+ Quan điểm phát triển bền vững:

Để đánh giá cảnh quan cho các mục đích phát triển các ngành kinh tế đều cần phải đứng trên quan điểm phát triển bền vững Như Chủ tịch Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển – Brutland đã phát biểu năm 1987: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”

Phát triển bền vững của một quốc gia phải đảm bảo đồng thời bốn yếu tố: kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường Vì vậy, quan điểm này góp phần rất quan trọng trong đề xuất định hướng kiến nghị, giải pháp cho mục đích sử dụng hợp

lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của đề tài nghiên cứu Đây là tiêu chí hàng đầu trong phân tích và đánh giá cảnh quan cho các mục đích cụ thể

5.2 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu:

Các số liệu thu thập được về cả tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội của lãnh thổ nghiên cứu sẽ được phân tích, tổng hợp, xử lý có chọn lọc, phù hợp với lãnh thổ nghiên cứu và với đề tài Từ đó, lập ra được đề cương chi tiết cho công tác thực địa để bổ sung, cập nhật tài liệu, số liệu mới nhằm đảm bảo tính chính xác phục

vụ cho quá trình nghiên cứu của đề tài

+ Phương pháp tiếp cận hệ thống:

Phương pháp này được áp dụng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa các hợp phần trong cấu trúc đứng cũng như cấu trúc ngang của các loại cảnh quan nhằm xác định tính ổn định và sự biến động của các loại cảnh quan đó

Trang 9

+ Phương pháp bản đồ:

Đây là phương pháp thể hiện nội dung của các nhân tố lên bản đồ chuyên

đề Công việc chuẩn bị bản đồ cho quá trình nghiên cứu cảnh quan được bắt đầu

từ thu thập, phân loại, biên tập, thành lập, đánh giá bản đồ cho quá trình chuyên

về các hợp phần tự nhiên của lớp vỏ cảnh quan của trái đất, về đặc trưng hình thái của các địa tổng thể tự nhiên Sử dụng phương pháp này làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống phân loại, thành lập bản đồ cảnh quan

+ Phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS):

Đây là phương pháp được sự hỗ trợ của các phần mềm máy tính, nó được

sử dụng trong việc thể hiện các đối tượng trên các lớp thông tin, có thể phân tích, tách chiết, tổng hợp các thông tin của các đối tượng trên các lớp thông tin đó Từ

đó có thể tìm kiếm được những tính chất chung và đưa ra các lớp thông tin mới, giúp cho công tác phân tích, đánh giá và thành lập bản đồ được thuận lợi

+ Phương pháp đánh giá tổng hợp:

Là phương pháp quan trọng trong phân tích, đánh giá cảnh quan cho các mục đích sử dụng cụ thể Phương pháp này giúp ta dễ dàng xác định được mối quan hệ và tác động tương hỗ của các yếu tố hợp phần tự nhiên cũng như giữa các thể tổng hợp tự nhiên với nhau Đồng thời qua đó có thể thấy được mối quan

hệ trong tổ chức không gian, cấu trúc động lực của cảnh quan với đặc trưng phân hóa của các quá trình sử dụng tự nhiên một cách có quy luật và hiệu quả

6 Những hướng đóng góp mới của đề tài

+ Vận dụng cơ sở lý luận về cảnh quan và đánh giá cảnh quan, nghiên cứu một cách có hệ thống các ĐKTN, TNTN phục vụ phân tích, đánh giá lãnh thổ nghiên cứu

+ Xây dựng bản đồ cảnh quan cho lãnh thổ nghiên cứu

+ Xây dựng bản đồ đánh giá cảnh quan cho mục đích quy hoạch, sử dụng hợp lý cho việc phát triển du lịch, nông – lâm – ngư nghiệp đảo Phú Quốc

+ Đưa ra những kiến nghị định hướng cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường trong việc phát triển một số ngành kinh tế

+ Xây dựng sơ đồ phân bố không gian cho một số ngành sản xuất

Trang 10

7 Ý nghĩa của đề tài

+ Bằng việc tiếp cận địa lý tự nhiên tổng hợp để đánh giá các ĐKTN nhằm phục vụ sử dụng hợp lý các ĐKTN, TNTN và BVMT

+ Từ đó có thể đưa ra những giải pháp, những đề xuất cho việc sử dụng hợp

lý các ĐKTN, TNTN và BVMT đảo Phú Quốc như: xây dựng bản đồ cảnh quan, đánh giá tổng hợp, đưa ra những kiến nghị, xây dựng bản đồ đánh giá, bản đồ kiến nghị,… cho việc xây dựng chiến lược phục vụ mục đích phát triển của địa phương

8 Cấu trúc của luận văn

Luận văn bao gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục và các hình ảnh minh họa

Trong đó, phần nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Chương 2: Các nhân tố thành tạo cảnh quan và đặc điểm cảnh quan

đảo Phú Quốc

Chương 3: Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển du lịch, nông

– lâm – ngư nghiệp và bảo vệ môi trường đảo Phú Quốc

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU

CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1 Lý luận chung về nghiên cứu cảnh quan

1.1.1 Khái niệm chung về cảnh quan

Từ “cảnh quan” là tên gọi khá cổ của một ngành khoa học Địa lý hoàn chỉnh,

được sử dụng để biểu thị tư tưởng chung về một tập hợp quan hệ của các hiện tượng khác nhau trên bề mặt trái đất

Nền móng của cảnh quan học đã được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX trong các công trình nghiên cứu, sự phân chia địa lý tự nhiên bề mặt trái đất của các nhà địa lý kinh điển Nga Trong đó, V.V Đôcutsaev (1846 - 1903), nhà bác học Nga vĩ đại đáng được coi là người sáng lập học thuyết cảnh quan Sau ông là các nhà địa lý Nga như: L.C Berge, G.N Vưxotxkii, G.F Morozov,… Các nhà địa

lý Đức như: Z Passarge, A.Hettner Ở Anh có E.J Gerbertson và các nhà địa lý

Mỹ, Pháp,… Song việc nghiên cứu sự phân chia bề mặt trái đất dẫn đến sự hình thành học thuyết về các quy luật phân hóa lãnh thổ lớp vỏ địa lý chỉ được phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh Thế giới II, khi đó cảnh quan được xác định như

“đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới ” (A.G Ixatsenko, 1953)

Quá trình phát triển đó thể hiện trong sự xác định khái niệm cảnh quan trong các định nghĩa của các tác giả ở các thời kỳ khác nhau trên thế giới và Việt Nam, từ đó đánh dấu mỗi thời điểm phát triển của khái niệm cảnh quan cũng như của học thuyết cảnh quan

Định nghĩa cảnh quan của L.C Berge, 1931 như sau: “Cảnh quan địa lý

là một tập hợp hay một nhóm các sự kiện, các hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ thực vật và giới động vật cũng như hoạt động của con người hòa trộn với nhau vào một thể thống nhất hòa hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đới nhất định nào đó của trái đất”

Trang 12

Năm 1948, N.A Xolsev đã đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý được gọi là một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh, trong đó có sự lặp lại một cách điển hình và có quy luật của một và chỉ một tập hợp liên kết tương hỗ gồm: cấu trúc địa chất, dạng địa hình, nước mặt và nước ngầm, vi khí hậu, các biến chứng đất, các quần xã thực - động vật”

Còn theo A.G Ixatsenko trong “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý

tự nhiên” năm 1965 đã đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan là một phần riêng biệt về

mặt phát sinh của một phần cảnh quan, một đới cảnh quan hay nói chung của một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trưng bằng sự đồng nhất cả tương quan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và cấu tạo hình thái riêng”

Theo nhà địa lý Việt Nam Vũ Tự Lập, khi nghiên cứu cảnh quan địa lý

miền Bắc Việt Nam, ông đã đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thể được phân hóa trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” (Vũ Tự Lập, 1976)

Năm 1991, A.G Ixatsenko đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn: “Cảnh quan là một địa hệ thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới

và phi địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp”

Phân tích các định nghĩa trên cho thấy 3 quan niệm về cảnh quan mà sau

đó được áp dụng để chỉ các hình thức cảnh quan khác nhau phụ thuộc vào các quan niệm của người nghiên cứu (Từ điển Bách khoa Địa lý, 1988)

 Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ của một cấp bất kỳ, đồng nghĩa với tổng thể tự nhiên – lãnh thổ, địa tổng thể tự nhiên hay địa hệ tự nhiên (quan niệm chung)

 Cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ phân vị tổng thể tự nhiên, trong đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu được xem xét đến những biến đổi do tác động của con người (quan niệm kiểu loại)

Trang 13

 Cảnh quan để chỉ một phần lãnh thổ nào đó riêng biệt của lớp vỏ địa lý, trong đó có những đặc tính chung nhất (quan niệm cá thể)

Quan niệm cảnh quan là một đơn vị phân hóa chung như một địa hệ tự nhiên bất kỳ nào đó được sử dụng nhiều không phải trong lĩnh vực cảnh quan học thuần túy, mà ở các lĩnh vực khác, các ngành khác khi có động đến sự phân dị lãnh thổ Vì vậy, nhiều người cho cảnh quan đồng nghĩa với các quan điểm phân vùng khác

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, quan niệm về cảnh quan theo quan niệm chung không có một giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo sự phân cấp (phân hóa nào) vì sử dụng như một danh từ chung Do vậy, thường được dùng cho các công trình chung nghiên cứu môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu cho một dạng sử dụng rất cụ thể nào đó

Đối với các nhà nghiên cứu chuyên ngành cảnh quan thì sử dụng hai quan niệm: kiểu loại và cá thể Trong đó, quan niệm kiểu loại được dùng phổ biến trong các nghiên cứu cảnh quan Vì theo quan niệm này, cảnh quan là đơn vị cơ

sở, là cấp phân vị - đơn vị phân loại thể hiện rõ nét nhất cả hai quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới (A.G Ixatsenko, 1965), đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ

sở có cấu trúc hình thái riêng Điều này thể hiện một trong những đặc tính của tập hợp, là đặc tính “nổi bật” chỉ có trong hệ thống các cấp, mà mỗi cấp có tính chất riêng cho sự liên kết tương hỗ của các yếu tố hợp thành

Thông thường cấp cảnh quan cao nhất là hệ thống tự nhiên xuống đều các cảnh quan theo thứ tự (Nicolaev, A.E Fedina,…)

Sơ đồ 1.1 Hệ thống phân loại của Nicolaev và nnk

Hệ thống Phụ hệ thống Lớp Phụ lớp Kiểu

Cảnh quan Cảnh quan Cảnh quan Cảnh quan Cảnh quan

Phụ kiểu Hạng Loại Cảnh quan

Cảnh quan Cảnh quan Cảnh quan

Dưới cảnh quan là các đơn vị hình thái của cảnh quan gồm các dạng địa lý, diện địa lý Những đơn vị hình thái này tham gia vào cấu trúc ngang của cảnh quan

Trang 14

Còn cảnh quan theo quan niệm cá thể là đơn vị phân hóa trên những lãnh thổ cụ thể Hiển nhiên, trong thiên nhiên chỉ tồn tại cảnh quan – các địa hệ cụ thể

ở các bậc khác nhau, đó là các cá thể cảnh quan độc lập Song khi phân loại các cảnh quan tức là vào một hệ thống phức tạp của các đơn vị phân kiểu

Trong tự nhiên, các đơn vị cảnh quan là những đối tượng lãnh thổ cụ thể,

có thể là một lãnh thổ đồng nhất phát sinh, có thể là một phần riêng về mặt phát sinh của một miền cảnh quan hay một phần lãnh thổ của một đới ngang… song đều đặc trưng cho một lãnh thổ phân bố cụ thể Trong thực tế, chỉ có thể áp dụng cho nghiên cứu phục vụ sản xuất của một hộ, của một đội sản xuất nhưng không nhìn được khái quát trong quy hoạch sản xuất, trong việc sử dụng tổng hợp tiềm năng, trong việc điều khiển địa hệ Do vậy, càng xuống cấp thấp càng cần điển hình hóa các địa hệ Ở các cấp này, đối tượng để nghiên cứu và đánh giá cho các mục tiêu thực tiễn chỉ có thể là các loại, các kiểu, các lớp diện, dạng địa lý và cảnh quan địa lý, có như vậy nghiên cứu cảnh quan mới có ý nghĩa

Khi chuyển lên nghiên cứu các đơn vị phân vùng bậc cao, khả năng và ý nghĩa điển hình hóa bị mất đi, khi đó phải sử dụng đến các đơn vị cảnh quan cá thể bậc cao trùng với các đơn vị phân vùng Sự phân cấp của cảnh quan trong hệ phân vị được các tác giả sắp xếp theo thứ tự của các cấp địa đới, cấp phi địa đới hoặc xen kẽ nhau thành các hệ thống một hàng, hai hàng hoặc ba hàng

- Ở hệ thống phân vị một hàng, các cấp phân vị theo đặc trưng địa đới và phi địa đới xếp xen kẽ nhau Trong hệ phân vị này không thấy được mối tương quan của các đơn vị thuộc các cấp khác nhau Đới cảnh quan bị cắt xẻ bởi ranh giới các ô, mất tính toàn vẹn của mình

Sơ đồ 1.2: Hệ phân vị một hàng của A.A Grigoriev (1946):

Vành đai Ô hay Xứ Đới Tỉnh Cảnh quan

- Hệ phân vị hai hàng (hàng địa đới và phi địa đới) được A.A Grigoriev, V.B Xochava, I.P Geraximov, A.M Riapchicov và những người khác phân chia:

Sơ đồ 1.3: Hệ thống phân vị hai hàng của A.A Grigoriev và nnk

Trang 15

Vành đai địa lý Ô địa lý

Phụ ô địa lý

Đới cảnh quan

Xứ địa lý tự nhiên Phụ đới cảnh quan

Miền cảnh quan

Cảnh quan

Còn trong hệ phân vị ba hàng, V.I Prokaev đã xây dựng như sau:

Sơ đồ 1.4: Hệ phân vị ba hàng của V.I Prokaev

Hàng địa đới Đơn vị trung gian Hàng phi địa đới

Đới theo nghĩa rộng Đới theo nghĩa hẹp Xứ

Tỉnh

Phụ đới theo nghĩa hẹp

Phụ đới theo Phụ tỉnh Miền

có một định nghĩa thống nhất cho cảnh quan

Trang 16

1.1.2 Phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan

Cũng như sự phát triển của khoa học địa lý, học thuyết cảnh quan tuân thủ các giai đọan phát triển từ phân tích bộ phận rồi đến tổng hợp, rồi phân tích bậc cao hơn và lại tổng hợp cao hơn Trên con đường phát triển đi lên đó, ngày càng

đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu của lớp vỏ cảnh quan Học thuyết của cảnh quan từ chỗ nghiên cứu tập hợp tương hỗ của các hiện tượng khác nhau trên bề mặt trái đất, có mục đích, đối tượng nghiên cứu gắn với mục đích và đối tượng nghiên cứu của địa lý tự nhiên, sau đó cùng với sự phát triển của các khoa học địa lý bộ phận như các ngành địa mạo, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật,… và các thành tựu nghiên cứu sinh vật, trong đó nổi bật là

sự nghiên cứu sự phân hóa không gian của các hợp phần cảnh quan dựa trên sự kết hợp của các nguồn năng lượng tác động chủ yếu là nội năng và ngoại năng trong lớp vỏ cảnh quan Các yếu tố hợp phần như địa hình và các yếu tố ngoại lực hình thành địa hình phân hóa không gian theo các cấp khác nhau Sự phân hóa của nền nhiệt, của chế độ ẩm,… sự phân bố dòng chảy, của chế độ dòng chảy,… theo không gian, của đất, của thực vật, động vật đã được tổng hợp trong nghiên cứu sự phân hóa trong cấu trúc của cảnh quan Do vậy, vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX là thời kỳ nghiên cứu mạnh mẽ sự phân chia bề mặt trái đất và cảnh quan học mới xác định rõ nhiệm vụ của mình là học thuyết về các quy luật phân hóa lãnh thổ của lớp vỏ địa lý, cảnh quan là đơn vị cơ sở và hệ thống phân vùng Đây là giai đoạn nghiên cứu sâu cấu trúc không gian của cảnh quan và xem các cảnh quan là những hệ thống cấu trúc không gian có tính chất phân bậc logic theo những trật tự xác định Những nghiên cứu cấu trúc thiên về xác định một cách định tính các tính chất của cảnh quan, sử dụng các biện pháp liên ngành (trong đó đáng chú ý là sử dụng cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận điều khiển, tiếp cận sinh thái,… cũng như nghiên cứu tác động kỹ thuật vào cảnh quan), dần dần các nghiên cứu hướng sâu vào các chỉ tiêu định lượng cho các tính chất của cảnh quan cùng với sự ra đời của nhiều bộ phận khoa học cảnh quan mới như: Vật hậu cảnh quan học, địa hóa học cảnh quan, địa vật lý cảnh quan,…

Trang 17

Từ khi phát triển đến nay, cảnh quan học luôn tiếp cận đến cơ chế trao đổi vật chất và năng lượng cũng như trao đổi thông tin giữa các hợp phần trong cảnh quan giữa các đơn vị cảnh quan cùng bậc và sự chuyển hóa vật chất – năng lượng, thông tin đó từ trên xuống dưới - từ các đơn vị bậc cao xuống các đơn vị bậc thấp và ngược lại Song trong nghiên cứu chức năng của cảnh quan vẫn còn những khó khăn đó là việc xác định đúng các tác động tương hỗ của nhiều yếu

tố hợp phần tự nhiên Việc sử dụng các phương pháp cổ truyền và các phương pháp liên ngành mới chỉ cho phép giải quyết các cặp quan hệ như chỉ số tương quan nhiệt ẩm, chỉ số khô hạn của Grigoriev – Buduco,…

Việc áp dụng các biện pháp liên ngành và ứng dụng toán học vào giải quyết các vấn đề định lượng của cảnh quan đã cho phép mở rộng và đi sâu tìm hiểu bản chất của các cặp quan hệ thành phần của cảnh quan gần nhau như: nhiệt - ẩm, nước - lượng mưa,…

Để tìm hiểu cơ chế trao đổi, chuyển hóa vật chất trong cảnh quan phải tiến đến bước chi tiết, định lượng hóa nghiên cứu Vì vậy, việc áp dụng lý thuyết hệ thống điều khiển vào nghiên cứu các đặc tính của cảnh quan (tiếp cận hệ thống)

có vai trò cực kỳ to lớn và quan trọng, đánh dấu bước tổng hợp bậc cao hơn những vấn đề lý thuyết của cảnh quan và nó đã được bắt đầu từ những năm 60

Bên cạnh đó, vào những năm 60 vấn đề “Môi trường sống dựa trên các nguyên tắc sinh thái và cảnh quan địa lý” đã tạo nên một hướng nghiên cứu cảnh quan chung - hướng sinh thái cảnh quan

Sử dụng tiếp cận sinh thái và nghiên cứu cảnh quan cho phép xác định được mối quan hệ tương hỗ giữa hai hợp phần vật chất: các vật chất hữu cơ sống

và các chất không sống, hay nói cách khác giữa sinh vật và các điều kiện sinh thái trong phạm vị cảnh quan Đây là hướng ứng dụng nhằm trao đổi nghiên cứu

và chuyển hóa vật chất của vòng tuần hoàn sinh vật trong cảnh quan, nhằm bảo

vệ và làm tốt lên môi trường sống

Trong sự tiếp xúc, liên kết giữa cảnh quan học và sinh thái học đã hình thành nên một ngành khoa học cảnh quan khác đó là cảnh quan sinh thái Cảnh quan sinh

Trang 18

thái nghiên cứu sự phân hóa của các đơn vị cảnh quan sinh thái theo một hệ thống phân bậc, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu cảnh quan và hệ sinh thái

Với các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của các khoa học liên quan như hóa học, sinh thái học, vật lý học,… cảnh quan học, nghiên cứu cảnh quan trong quá trình phát triển của mình đã không dừng lại ở những nội dung mang tính khái quát ban đầu mà đã đi sâu thêm về vấn đề bản chất của các sự việc, xu thế phát triển, phức tạp giữa các thành phần của tự nhiên,… đặc biệt là xu hướng phát triển các cảnh quan hiện đại dưới tác động kỹ thuật của con người

Xu thế nghiên cứu cảnh quan trên thế giới và Việt Nam hiện nay là dựa vào các kết quả nghiên cứu ở phạm vi toàn cầu đã được chấp nhận để tiếp tục đi sâu vào những hướng tiếp cận khoa học tổng hợp nghiên cứu cảnh quan vùng và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó cho các mục đích thực tiễn cụ thể như: đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển sản xuất, kinh tế, bảo vệ và phát triển môi trường lãnh thổ trên quan điểm phát triển bền vững

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

1.2.1 Những vấn đề về phân tích cảnh quan

Trong cảnh quan học, phân tích cảnh quan là một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết Phân tích cảnh quan bao gồm việc phản ánh thực trạng cấu trúc cảnh quan, chức năng của chúng cũng như các vấn đề khác liên quan Trong quá trình phát triển của học thuyết cảnh quan, những nghiên cứu, đúc kết, phân tích cảnh quan đã được đề cập đến rất nhiều Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, những vấn đề này được đề cập đến với nhiều cơ sở và phương pháp mới, đáng chú ý nhất là phương pháp liên ngành và sử dụng các tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái, xử lý bằng máy tính,… để xác định cấu trúc, chức năng của các cảnh quan nói chung trong việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn

Như vậy, phân tích cảnh quan không tách rời với phân loại chúng trên từng lãnh thổ cụ thể phù hợp với tỷ lệ nghiên cứu, vì mỗi cảnh quan là một cá thể, một

hệ thống độc lập, song cũng đồng thời là một phần nào đó của tập hợp kiểu loại

Trang 19

cảnh quan bậc cao hơn Mặt khác, trong tự nhiên chúng ta có thể gặp rất nhiều hiện tượng cụ thể riêng biệt, song giữa chúng vẫn có những cái chung, cái thống nhất và đặc trưng nhất để có thể xếp chúng vào một hệ thống thống nhất logic có trật tự

Cảnh quan cũng như cấu trúc của chúng là các hiện tượng lịch sử, hình thành trong một quá trình phát triển tiến hóa chung mà dấu ấn của nó ta thường thấy trong nền rắn, trong các đặc điểm tàn dư như một cá thể sinh vật, một tập hợp sinh vật hay

là một góc của cảnh quan còn lưu trữ các dấu vết phát triển Đồng thời, trong các cảnh quan có thể xuất hiện mầm mống của sự phát triển mới, đó là những dấu hiệu mang tính chỉ thị về hướng phát triển của cảnh quan đó trong tương lai Do đó, trong công tác phân loại cảnh quan có thể sử dụng các nguyên tắc khác nhau

1.2.2 Những vấn dề về đánh giá cảnh quan

Với sự tiến bộ vượt bậc ở tất cả các lĩnh vực của đời sống nói chung, trong đó có sự phát triển mạnh mẽ của các ngành sản xuất trong giai đoạn hiện nay đang làm phong phú, đa dạng thêm mối quan hệ nhiều chiều của hệ thống

“tự nhiên – xã hội” Các dạng tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng được khai thác một cách triệt để nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau của con người đã vượt quá khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của các dạng tài nguyên, dẫn đến những sự suy thoái của tự nhiên và điều kiện môi trường trên hành tinh này Vì vậy, vấn đề sử dụng, khai thác hợp lý các ĐKTN, TNTN đã trở thành vấn

đề rất bức thiết, có tầm quan trọng to lớn Do đó, công tác đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN là phần nội dung lớn không thể thiếu và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn to lớn trong các công trình nghiên cứu, quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên, các ĐKTN và KT - XH các lãnh thổ, để từ đó có những biện pháp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lãnh thổ nghiên cứu

Theo hướng đó, trong những thập kỷ gần đây đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu thực tiễn và đã mang lại những kết quả to lớn cả trên thế giới và Việt Nam Trong đó, phải kể đến những đóng góp trong các công trình nghiên cứu của các nhà địa lý tổng hợp tham gia vào quy hoạch các vùng lãnh thổ của Liên Xô (cũ) như Cộng Hòa Ucraina, Cộng Hòa Liên Bang Nga, vùng Viễn Đông thuộc Nga,… Ngoài ra cũng phải kể đến những công trình của các nhà địa lý Ba Lan, Cộng Hòa

Trang 20

Liên Bang Đức, Cộng Hòa Pháp,… và các nhà địa lý Mỹ Ở Việt Nam đó là những công trình của nghiên cứu đánh giá tổng hợp cho các vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Thanh Hóa, Hòa Bình,… và bước đầu đã giải quyết được một số vấn đề quan trọng, bức thiết Tuy nhiên, đánh giá tổng hợp là một công việc hết sức khó khăn vì đó là một bộ môn khoa học liên ngành, do đó, đối tượng, phương pháp và nguyên tắc nghiên cứu cũng phải là tập hợp của các phương pháp, nguyên tắc của từng hợp phần riêng nên chúng cũng rất đa dạng, phức tạp

Theo quan điểm chung của các công trình nghiên cứu cho thấy, đánh giá tổng hợp bao gồm các lý thuyết đánh giá chung và các thủ pháp tiến hành Việc thực hiện công tác đánh giá tổng hợp, nhiệm vụ quan trọng là phải xác định các đối tượng, mục đích, nội dung của nó cũng như việc lựa chọn các phương thức đánh giá phù hợp

Trong tự nhiên nói chung và trên từng lãnh thổ nói riêng, các thành phần và đơn vị tự nhiên luôn có liên quan, tác động tương hỗ lẫn nhau Bên cạnh là mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa con người và tự nhiên trong các hoạt động kinh

tế - kỹ thuật cũng rất chặt chẽ, được biểu hiện thông qua các biện pháp kỹ thuật nhất định Do đó, trong quá trình đánh giá cần có những hiểu biết một cách sâu sắc các quy luật của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ của hệ thống “tự nhiên – xã hội”, từ đó có thể đưa ra các biện pháp kinh tế - kỹ thuật cũng như những chính sách xã hội hợp lý

Trong công tác đánh giá tổng hợp, việc xác định đối tượng, mục đích đánh giá rất quan trọng và phức tạp Vì trong tự nhiên nói chung, các ĐKTN, các dạng tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, mức độ sử dụng chúng cho các mục đích cũng rất khác nhau Do đó, các kết quả đánh giá tổng hợp chúng cũng biểu thị mức “thích hợp” khác nhau cho các mục đích sử dụng

Với mức độ phức tạp của công tác đánh giá nên không thể tồn tại một kiểu đánh giá chung mà tùy thuộc vào từng mục đích cụ thể để có được một kiểu đánh giá khác nhau như: đánh giá chung là giai đoạn đánh giá sơ bộ, ban đầu trên cơ sở các kết quả nghiên cứu tự nhiên, tài nguyên theo các vùng lãnh thổ, mang tính định hướng chung của các mục đích thực tiễn khác nhau hay đánh giá mức độ “thuận lợi” hay “thích hợp” của các ĐKTN, TNTN đối với các ngành

Trang 21

sản xuất và đánh giá kinh tế - kỹ thuật lại đề cập sâu hơn đến giá trị và hiệu quả kinh tế của các ngành sản xuất đó Tuy nhiên, kiểu đánh giá được sử dụng rộng rãi nhất trong những thập kỷ gần đây là kiểu đánh giá các ĐKTN, TNTN theo mức độ “thuận lợi” hay “thích hợp” của nó cho các dạng khai thác khác nhau

Việc lựa chọn đúng, hợp lý phương pháp đánh giá là rất quan trọng và ảnh hưởng đến mức chi tiết, chính xác của kết quả đánh giá Hệ thống các phương pháp tổng hợp rất đa dạng và phức tạp nên tùy vào mục đích cụ thể cũng như cho từng lãnh thổ riêng biệt mà các phương pháp sẽ được chọn để sử dụng như: phương pháp mô hình chuẩn, phương pháp bản đồ, và phương pháp thang điểm tổng hợp

có trọng số, Các phương pháp này trong quá trình đánh giá có thể được sử dụng riêng lẻ hay kết hợp với nhau theo từng giai đoạn và với từng mục tiêu cụ thể

Ví dụ: Để đánh giá lãnh thổ đảo Phú Quốc cho mục tiêu phát triển một ngành sản xuất thì chúng ta có thể thì chúng ta có thể sử dụng phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số để phân định một cách khách quan mức độ thuận lợi của các đơn vị tổng hợp tự nhiên trên lãnh thổ đảo Phú Quốc cho ngành sản xuất đó

Tuy nhiên, trên thực tế một lãnh thổ rất hiếm khi chỉ có một ngành sản xuất Vì vậy, khi tiến hành đánh giá cho các mục đích khác nhau sẽ có sự trùng lặp vì mức độ “thích hợp” hay “không thích hợp” của đơn vị diện tích đó cùng lúc đối với nhiều ngành sản xuất khác nhau Do đó, lúc này đòi hỏi phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá

Bên cạnh, trong tự nhiên nói chung các thành phần và các yếu tố của tự nhiên thường không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ, tác động tương hỗ lẫn nhau, tạo nên một hệ thống tự nhiên đồng nhất, hoàn chỉnh Do đó, khi đánh giá mức độ thuận lợi của các ĐKTN, TNTN cho các mục đích thực tiễn không thể đánh giá chúng thông qua các đặc điểm các tính chất của các hợp phần của tự nhiên một cách riêng rẻ mà phải xem xét chúng trong mối quan hệ ràng buộc cũng như những tác động tương hỗ giữa chúng với nhau Chỉ như vậy mới có thể đánh giá một cách đầy đủ, đồng bộ nhất từng đơn vị tự nhiên vốn rất phức tạp và luôn luôn biến động cho các mục đích cụ thể mà không bỏ sót những thành phần và yếu tố dù nhỏ nhất, nhưng đôi khi lại là những yếu tố giới hạn quan trọng cho sự phát triển của chúng

Trang 22

Ngoài ra, để các phương án tổ chức, quy hoạch sản xuất theo lãnh thổ dựa trên các kết quả đánh giá đạt hiệu quả cao còn phụ thuộc quan trọng vào việc lựa chọn các thang bậc và các chỉ tiêu đánh giá Đối với thang bậc đánh giá thì tùy vào mức độ nghiên cứu, mức độ yêu cầu và mục đích đề ra mà định thang bậc đánh giá

từ 2,3,… 10 cấp hay nhiều hơn nữa Việc chọn đúng các chỉ tiêu trong công tác đánh giá tổng hợp có ý nghĩa quyết định đến độ chính xác của các kết quả đánh giá nên cần có sự nghiên cứu, lựa chọn kỹ các chỉ tiêu khi đưa vào áp dụng đánh giá

Từ những vấn đề mang tính lý luận trên, có thể thấy công tác đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN việc lựa chọn phương pháp, thang bậc hay hệ thống các chỉ tiêu đánh giá rất phức tạp, phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phân hóa đa dạng của tự nhiên cũng như

sự hiểu biết thấu đáo tự nhiên từng lãnh thổ nghiên cứu Ngoài ra, cùng với thời gian, các kết quả đánh giá còn được xem xét, kiểm nghiệm và được điều chỉnh cho phù hợp với từng mục đích nghiên cứu cụ thể nên việc thay đổi hay tổng hợp các phương pháp trong quá trình đánh giá là tất yếu để kết quả đánh giá chính xác, hiệu quả nhất

Trong đánh giá cảnh quan, những kết quả đạt được của đánh giá thành phần là tiền đề cho sự ra đời hướng tổng hợp trong địa lý nên có thể nói, đánh giá cảnh quan

là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên phục vụ cho mục đích cụ thể nào đó

Đánh giá cảnh quan nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu địa lý ứng dụng Nó có vị trí và đóng vai trò quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch có được những quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể

1.2.3 Những vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Cơ sở khoa học quan trọng của việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trước hết phải được lựa chọn từ các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên, các điều kiện môi trường sinh thái – lãnh thổ Sử dụng các kết quả nghiên cứu cảnh quan và nhất là qua bản đồ cảnh quan ở các tỷ lệ khác nhau sẽ cho một phương thức tiếp cận tổng hợp nhất, tương đối gần gũi, xác thực với hiện trạng tự nhiên mỗi vùng

Qua việc phân tích các quy luật hình thành, các đặc trưng về động lực phát triển của cảnh quan, mối tương quan và tác động tương hỗ giữa các yếu tố

và thành phần của tự nhiên cũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau,…

Trang 23

đặc biệt là việc đánh giá tổng hợp các đơn vị cảnh quan sẽ cho phép xác định mức độ “thích hợp nhất”, “tương đối thích hợp” hay “không thích hợp” của mỗi một đơn vị lãnh thổ cho từng ngành sản xuất, từng dạng sử dụng tài nguyên,…

Trong quá trình phân tích cảnh quan, miêu tả các đặc điểm của từng đơn

vị trong hệ thống phân loại các tổng hợp thể tự nhiên đã làm sáng tỏ không chỉ các đặc điểm chung, các đặc điểm riêng của các cảnh quan đó mà còn một cách định tính làm rõ những đặc điểm chức năng của chúng

Trên cơ sở nắm bắt, hiểu biết một cách hệ thống, có quy luật các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên, qua việc nghiên cứu các đơn vị cảnh quan, các quy luật phân hóa chúng theo không gian mỗi vùng, nhất là động lực phát triển của chúng theo thời gian, trong đó có tính đến những tác động cả chủ quan và khách quan của các quá trình tự nhiên cũng như của con người sẽ có thể hoạch định được một chiến lược lâu dài, tương đối phù hợp và với hiệu quả cao nhất của việc sử dụng hợp lý TNTN và BVMT cho mỗi vùng nghiên cứu, đồng thời bố trí một cách hợp lý nhất các kế hoạch phát triển KT - XH, các ngành sản xuất theo lãnh thổ

Ngoài việc xem xét, đánh giá đúng tiềm năng các nguồn lực tự nhiên thì yếu

tố con người luôn có ý nghĩa hết sức to lớn, là nguồn động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển xã hội, khống chế và tác động lên các quá trình tự nhiên, đặc biệt là vai trò của con người trong điều tiết, sử dụng các ĐKTN, TNTN từng lãnh thổ Do đó, trong quá trình đánh giá tổng hợp cần chú trọng đến những yếu tố con người cùng các đặc điểm chung của các điều kiện KT - XH và nhân văn

1.3 Những vấn đề về nguyên tắc, phương pháp đánh giá và xây dựng bản đồ cảnh quan

1.3.1 Những vấn đề về nguyên tắc, phương pháp đánh giá cảnh quan

Đánh giá cảnh quan là một nhiệm vụ quan trọng của nghiên cứu địa lý ứng dụng, nó có vị trí và vai trò quan trọng trong quy hoạch lãnh thổ cho việc phát triển

KT - XH dựa trên nguyên tắc sử dụng tối ưu các đặc điểm sinh thái cảnh quan và thiết lập các mối quan hệ hài hòa giữa con người với môi trường Đánh giá cảnh quan là một công việc hết sức phức tạp, nó cho phép xác định được tiềm năng tự nhiên trong mối quan hệ chặt chẽ với các đặc trưng của mỗi một thể chế xã hội,

Trang 24

trình độ cũng như mức độ nhận thức khoa học - kỹ thuật của xã hội đó, được thể hiện qua quá trình sử dụng, khai thác dạng tài nguyên, các ĐKTN của lãnh thổ

Mối liên hệ giữa nhiệm vụ và mục đích đánh giá được xây dựng trên cơ sở thực tế phát triển sản xuất kinh tế lãnh thổ, nó xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn cấp bách chứ không phải hoàn toàn mang tính chủ quan, áp đặt Vì vậy, một đặc điểm đặc trưng mang tính nguyên tắc của đánh giá tổng hợp là các ngành sản xuất, kinh tế cụ thể dự định bố trí, phát triển trên lãnh thổ và tương ứng với chúng là đặc tính, thành phần của khách thể: đặc điểm của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên luôn thay đổi theo không gian và thời gian, để xác định mức độ thích hợp của các thể tổng hợp tự nhiên cho từng vùng ngành sản xuất, kinh tế riêng biệt Chính việc phân tích, đánh giá tổng hợp này cho phép tiếp cận gần nhất với thực tiễn sử dụng tối ưu từng đơn vị lãnh thổ cụ thể

Trong nội dung đánh giá cảnh quan, việc xác định được đối tượng, nội dung, phương pháp đánh giá là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên Trong đó, việc lựa chọn đối tượng đánh giá phải dựa trên mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa tự nhiên – xã hội Tùy thuộc vào mục đích, đối tượng và yêu cầu mức độ chi tiết mà có các cách đánh giá khác nhau như: đánh giá chung, đánh giá mức độ “thuận lợi” hay “thích hợp” của các ĐKTN, TNTN đối với các ngành sản xuất, đánh giá kinh tế - kỹ thuật Tuy nhiên, hiện nay hướng đánh giá mức độ “thuận lợi” hay “thích hợp” là phổ biến nhất và được xem như tiền đề cho định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ

Căn cứ vào mục đích cụ thể cũng như đối với từng lãnh thổ riêng biệt để chọn các phương pháp thể hiện thích hợp như: phương pháp mô hình chuẩn, phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số, phương pháp bản đồ,…

Việc xác định đơn vị cơ sở cũng là yếu tố không thể thiếu Căn cứ vào mục tiêu, mức độ chi tiết của đánh giá một cách phù hợp

Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Phải có phân hóa rõ rệt trong lãnh thổ ở tỉ lệ nghiên cứu; Phải ảnh hưởng một cách mạnh

mẽ đến quá trình phát triển của các loại hình sản xuất, cụ thể là ảnh hưởng đối với các ngành; Số lượng chỉ tiêu được lựa chọn và phân cấp đánh giá có thể nhiều hoặc ít khác nhau giữa các ngành

Trang 25

Ngoài ra, còn phụ thuộc vào sự phân hóa lãnh thổ và mục tiêu nghiên cứu

để lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá

1.3.2 Những vấn đề về nguyên tắc, phương pháp xây dựng bản đồ cảnh quan

Bản đồ cảnh quan là một bản đồ tổng hợp phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng lẻ của tự nhiên

Nghiên cứu các đơn vị cảnh quan là nghiên cứu là nghiên cứu mối quan hệ

và tác động tương hỗ giữa hai tập hợp các yếu tố tạo thành cảnh quan và thành phần của tự nhiên (vô sinh và hữu sinh), trong đó biểu hiện một cấu trúc hoàn chỉnh một đơn vị tổng hợp tự nhiên hoàn chỉnh Mối quan hệ và tác động tương

hỗ giữa các thành phần và yếu tố thành tạo cảnh quan được thể hiện thông qua các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng giữa chúng với nhau

Trong thực tiễn nghiên cứu tự nhiên, công tác đánh giá các ĐKTN, TNTN với mục đích sử dụng hợp lý chúng, đồng thời bảo vệ và phát triển môi trường bền vững đòi hỏi trước hết phải có những nghiên cứu tổng hợp chung, đặc biệt là bản đồ cảnh quan của lãnh thổ Qua các đơn vị cảnh quan cụ thể, cấu trúc hệ thống phân loại, ngoài việc cho thấy một cách khách quan các đặc điểm và thành phần yếu tố tự nhiên còn cho những thông tin quan trọng, đặc biệt của mối quan hệ giữa chúng, những quy luật hình thành và phát triển, sự phân bố tự nhiên theo lãnh thổ

Trong xây dựng bản đồ cảnh quan mỗi một lãnh thổ, các nguyên tắc thường được sử dụng như: Nguyên tắc đồng nhất phát sinh; Nguyên tắc lịch sử phát triển; Nguyên tắc đồng nhất về chức năng của từng đơn vị lãnh thổ

Các nguyên tắc này thường liên quan chặt chẽ và bổ sung cho nhau để đạt được mục tiêu cuối cùng là xây dựng một bản đồ tổng hợp, trên đó nó thể hiện:

- Một cấu trúc đồng nhất của cảnh quan

- Phân biệt rõ được các chức năng tự nhiên của chúng

- Phản ánh hiện trạng tự nhiên gần với hiện trạng sử dụng lãnh thổ hiện tại Đối với phương pháp để xây dựng bản đồ cảnh quan thì có rất nhiều phương pháp để áp dụng như:

Trang 26

Phương pháp truyền thống có:

- Phương pháp yếu tố trội

- Phương pháp so sánh theo các đặc điểm riêng biệt của các chỉ tiêu phân loại từng cấp cảnh quan

- Phương pháp phân tích tổng hợp: để xác định các đơn vị cảnh quan theo các cấp cũng như thể hiện các khoanh vi trên bản đồ cụ thể

Ngoài các phương pháp truyền thống trên, để chính xác hóa ranh giới của các đơn vị cảnh quan trong phạm vi các lãnh thổ không thể đến quan trắc tại chỗ do điều kiện quá phức tạp của địa hình, có thể sử dụng các phương pháp như: Phương pháp bản đồ; Phương pháp viễn thám Những phương pháp này đã cho thấy sự hữu hiệu và ưu thế của chúng đối với các phương pháp truyền thống kể trên

Ngoài ra, phương pháp khảo sát thực địa theo tuyến hoặc theo các điểm chìa khóa cũng là một phương pháp không kém phần quan trọng

Nhìn chung, khi xây dựng bản đồ cảnh quan một lãnh thổ cụ thể thì cơ sở khoa học đầu tiên của nó phải là một hệ thống phân loại được thể hiện cụ thể trên bản đồ Với yêu cầu trước hết là có một hệ thống, một chỉ tiêu phân chia vừa có tính khách quan, vừa đảm bảo tính logic khoa học và ứng dụng thực tiễn Thực tế, các bản đồ cảnh quan được xây dựng dù ở bất cứ tỷ lệ nào thì các chỉ tiêu phân loại nói chung của từng cấp phân vị phải là các đặc điểm đặc trưng của môi trường tự nhiên có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến đặc trưng sinh thái của giới sinh vật

Từ các đặc điểm đặc trưng của cảnh quan nói chung hay các đơn vị phân chia cảnh quan nói riêng đã nảy sinh ra các yêu cầu khác của hệ chỉ tiêu phân loại, các chỉ tiêu phân loại các đơn vị tổng hợp tự nhiên thông thường Trong xây dựng bản đồ cảnh quan thường sử dụng các chỉ tiêu hợp phần như địa hình, khí hậu, nước, đất,… như là các yếu tố thành tạo cảnh quan bình đẳng trong các thể tổng hợp được phân chia theo hệ thống kiểu, loại với các tính chất định tính và định lượng đặc trưng Còn đối với các chỉ tiêu phân loại ở các yếu tố tự nhiên khác và càng xuống các đơn vị thấp, những chỉ tiêu phân chia này càng mang nặng những tính sinh thái cụ thể

Một cơ sở khoa học khác của việc xây dựng bản đồ cảnh quan hay nghiên cứu cảnh quan nói chung đó là tính thời gian Một trong những nguyên tắc quan trọng xây

Trang 27

dựng bản đồ cảnh quan chung là nguyên tắc lịch sử phục hồi hay phát sinh lịch sử Tuy nhiên, cũng không thể bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển cảnh quan vì có thể phát hiện được xu thế phát triển của các địa tổng thể dưới các tác động của tự nhiên và nhân tác, bảo vệ tự nhiên, MT tích cực và hiệu quả nhất

Theo lý luận chung, hệ phân loại cảnh quan có thể bao gồm một hệ thống nhiều cấp, từ các cấp bậc cao (biểu hiện các phân vị có tính chất địa đới của tự nhiên), đến các cấp dưới nó (thể hiện rõ quy luật phi địa đới của cảnh quan) và cuối cùng là các cấp phân vị bậc thấp (thể hiện những đặc điểm đặc trưng cho hiện trạng tự nhiên của lãnh thổ nhỏ) Tuy nhiên, tùy theo từng tỷ lệ nghiên cứu

và cho từng lãnh thổ khác nhau mà có sự phân hóa không gian của các đơn vị tổng hợp tự nhiên – sinh thái sẽ được thể hiện bằng một cấp phân vị tương ứng

Đối với cảnh quan, sự phân hóa các cấp phân vị cao (hệ, phụ hệ, phụ lớp) được đặc trưng bởi quy luật địa đới, phi địa đới, các quy luật này phần lớn mang tính khái quát Còn đối với các cấp phân vị thấp hơn (kiểu, phụ kiểu, loại) thì các đặc trưng sinh thái lại được biểu hiện rõ hơn Càng xuống thấp, nó càng gần với các đặc điểm hiện trạng của điều kiện tự nhiên, MT lãnh thổ nghiên cứu

1.4 Những vấn đề thực tiễn lãnh thổ nghiên cứu

Phú Quốc là một đảo ven bờ có diện tích lớn nhất và dân số đông nhất trong hệ thống đảo của nước ta Đảo Phú Quốc thuộc huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, nằm trong vịnh Thái Lan Diện tích tự nhiên 561,65km2

với chiều dài hướng Bắc Nam

là 49km, chỗ rộng nhất ở phía Bắc là 27km, chỗ hẹp nhất ở phía Nam là 3km Đảo Phú Quốc án ngữ phía Tây Nam của lãnh thổ Việt Nam Chính nhờ vị trí địa lý đặc biệt này mà đảo Phú Quốc có vị trí rất quan trọng trong giữ gìn an ninh quốc phòng và lợi thế trong giao lưu hàng hải quốc tế, cộng với tài nguyên thiên nhiên khá phong phú

và thuận lợi cho phép đảo phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là du lịch

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 đã được Thủ tướng phê duyệt tại quyết định số 307/TTg ngày 24/5/1995 và đã được cụ thể hóa bằng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Nam Bộ và Nam Trung Bộ đến năm 2010 và định hước đến 2020 đã được Tổng cục Du lịch phê duyệt tại quyết định số 199/QĐ-TCDL ngày 5/6/2002 xác định Rạch Giá –

Trang 28

Hà Tiên – Phú Quốc là 1 trong 5 khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch ở vùng ven biển Việt Nam Bên cạnh, trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010 được Thủ tướng phê duyệt tại quyết định số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002 cũng đã xác định Rạch Giá – Hà Tiên – Phú Quốc là 1 trong 7 địa bàn du lịch trọng điểm của du lịch Việt Nam nằm ở khu vực Nam

Bộ, trong đó Phú Quốc được xác định là một cực có vị trí đặc biệt quan trọng của địa bàn đồng thời là 1 trong 17 khu du lịch quốc gia chuyên đề

Tuy nhiên, với vị thế là một đảo lớn có tiềm năng to lớn nên dân số trên đảo tăng lên nhanh chóng cả về tăng tự nhiên lẫn tăng cơ học (năm 2006 đảo Phú Quốc

có 82.486 người) đã tạo nên sức ép về dân số rất lớn đối với đảo và các vấn đề khác liên quan đến gia tăng dân số, cùng với việc khai thác, sử dụng tự nhiên cho phát triển kinh tế quá mức đã tạo ra sức ép nặng nề lên khả năng vốn có của tự nhiên Hậu quả là nguồn tài nguyên bị cạn kiệt, cảnh quan môi trường bị biến đổi

Quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đang diễn ra đang làm mất dần đi những nguồn lợi tài nguyên phong phú vốn có, làm cảnh quan môi trường bị biến đổi, cân bằng tự nhiên có nguy cơ bị phá vỡ Điều này kéo theo hàng loạt những hậu quả khác, đe dọa trực tiếp trước hết đến đời sống của người dân sống trên đảo và mục tiêu phát triển đảo du lịch tầm cỡ khu vực và thế giới có nguy cơ không thực hiện được Do đó, việc phân tích, đánh giá cảnh quan nhằm phục vụ mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên đảo đang là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách Nó có ý nghĩa rất quan trọng cho việc quy hoạch đảo hiện tại và phát triển bền vững trong tương lai

Trang 29

Chương 2: CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÀ ĐẶC

ĐIỂM CẢNH QUAN ĐẢO PHÚ QUỐC

2.1 Các nhân tố thành tạo cảnh quan

2.1.1 Các nhân tố tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Phú Quốc là một đảo lớn nằm trong vịnh Thái Lan (thuộc tỉnh Kiên Giang) án ngữ phía Tây Nam của lãnh thổ Việt Nam Đảo có hình tam giác, đáy nằm ở phía bắc, nhỏ dần lại ở phía nam, có diện tích tự nhiên là 561,65km2 với chiều dài bắc nam là 49km, chỗ rộng nhất ở phía bắc là 27km, chỗ hẹp nhất ở phía nam là 3km Tọa độ địa lý của đảo từ 10o00’30’’ đến 10o27’00’’ vĩ độ Bắc

và từ 103o50’30’’ đến 104o05’13’’ kinh độ Đông, cách thành phố Rạch Giá 115km, thị xã Hà Tiên 46km và gần với các nước láng giềng trong khu vực, cụ thể: cách điểm gần nhất của Campuchia khoảng 3km, cách thị xã du lịch Kép khoảng 30km, cách Thái Lan 500km, Malaysia 700km, Singapore 1.000km

Ngoài ra, đảo Phú Quốc còn nằm trên đường hàng hải quốc tế Xianucvin (Campuchia) – thành phố Hồ Chí Minh, Bangkok (Thái Lan) – thành phố Hồ Chí Minh và gần với tuyến hàng hải ngắn nhất trong tương lai nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương qua bán đảo Malaysia

Chính nhờ vị trí đặc biệt quan trọng này mà đảo Phú Quốc có vị trí rất quan trọng và lợi thế trong giao lưu hàng hóa quốc tế

Vị trí của đảo còn có tầm quan trọng đặc biệt về mặt an ninh - quốc phòng

Có thể coi đây là “đảo biên giới” thật sự giữa Việt Nam và Campuchia Với đường bờ đảo với các núi nằm sát biển và cửa sông thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự và quân cảng biển Địa hình bằng phẳng ở nửa phía nam và tây của đảo thuận lợi cho việc xây dựng sân bay Sự hiện diện của các quân cảng

và sân bay của đảo Phú Quốc sẽ làm tăng thêm ý nghĩa quốc phòng của đảo

Phú Quốc là đảo có diện tích lớn nhất và dân số đông nhất trong hệ thống đảo của nước ta Đảo nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm,ít thiên tai, tài nguyên đất, nước, rừng đều phong phú hơn cả so với các đảo khác ở trong hải phận Như vậy, xét về tiềm năng Phú Quốc rất đúng với tên của đảo, có điều kiện của một lãnh thổ có thể

Trang 30

trở thành một vùng phát triển kinh tế tổng hợp biển đầu tiên của nước ta, đồng thời cũng sẽ là một cứ điểm quân sự mạnh của đất nước ở vùng biển Tây Nam

- Phần trên chủ yếu là các thành tạo hạt thô gồm cát - cuội kết, cát kết, sạn kết acco, cát kết thạch anh Diện phân bố của dạng này khá rộng, bao gồm các đỉnh của dãy núi Chùa, Hàm Ninh và một loạt các đỉnh khác

 Các thành tạo Đệ Tứ: Ngoài các thành tạo Mezozoi cấu thành đảo nổi Phú Quốc còn có các thành tạo Đệ Tứ Tuy nhiên, cơ sở xác định tuổi của các thành tạo này cho đến nay phần lớn dựa vào tuổi tương đối được xác định trên

cơ sở so sánh các mực địa mạo khu vực

 Thống Pleistoxen trung - thượng: Các thành tạo này phần lớn là trầm tích biển (mQII - III), chúng phân bố trên các bậc địa hình có độ cao 20 – 30m Về thành phần vật chất, trầm tích không hoàn toàn đồng nhất, phụ thuộc vào điều kiện có hình thái động lực của đới bờ

 Thống Pleistoxen thượng: Thống này có nguồn gốc biển (mQIII), trên mực thềm 10 – 15m, với thành phần khá đồng nhất như: cuội sỏi, cát lẫn bột sét màu xám sáng và nâu vàng nhạt với bề dày trầm tích không ổn định

Tuổi của thành tạo khoảng 36.954 + 1584 năm, thuộc cuối QIII

 Thống Holoxen hạ - trung (mQIV 1 - 2

):

Trang 31

Thành phần trầm tích của thống này gồm cát màu xám sáng gắn kết yếu,

có nơi là cát lẫn sét bột và caolin Ở nam đảo trong khu vực Bãi Sao, Hàm Ninh,… phần lớn là cát có độ chọn lọc tốt, có cấp hạt như sau: sạn 4,3%, cát thô 35,5%, cát trung 57%, cát nhỏ 2% và bột 1,2%

 Thống Holoxen trung - thượng: Trầm tích biển - đầm lầy (mbQIV 2 - 3

): Dạng này phân bố khá hạn chế, chỉ qua sát thấy ở Hàm Ninh và phía bắc suối Cửa Cạn Thành phần trầm tích chủ yếu là cát bột lẫn mùn bã thực vật màu xám đen đến xám sáng, dưới là cát hạt mịn lựa chọn khá tốt có lẫn ít bột sét màu xám sáng, chuyển dần lên trên là các bột lẫn mùn bã thực vật màu xám đen Bề dày trầm tích chưa xác định được, phỏng đoán có thể từ 1,5 – 2,5m

 Trầm tích phong thành (vQIV 3

): Phân bố thành một dải kéo dài từ Dương Đông đến An Thới và rải rác ở bắc đảo Thành phần trầm tích chủ yếu là cát màu vàng, vàng xám đến xám sáng

 Trầm tích deluvi – proluvi (dpQIV 3

): Phân bố thành các vạt nhỏ ở thượng lưu các sông Dương Đông, rạch Cửa Cạn và Khu Tượng Thành phần chủ yếu là sỏi sạn, mảnh vỡ lẫn cát bột và đá tảng

2.1.1.2.2 Cấu trúc địa chất

Trong bình đồ cấu trúc chung của lãnh thổ, đảo Phú Quốc nằm trên gờ nâng Phú Quốc – Natuna kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam, từ tây nam Campuchia đến đảo Natuna gọi là đới Tây Nam Campuchia (Ngô Trường San và nnk)

Trang 32

Theo các tài liệu địa chấn, đảo Phú Quốc bao gồm các thành tạo lục địa tuổi kreta sớm, có cấu trúc chung là đơn nghiêng thoải đổ về tây nam.Trong đó bao gồm các cấu trúc đoản bối tà Hàm Rồng và đoản hướng tà Rạch Cửa Cạn Cấu trúc địa chất chung đó bị băm nát bởi hệ thống đứt gãy và phá hủy kiến tạo, đáng lưu ý là hệ thống tây bắc – đông nam và đông bắc – tây nam

Các đới phá hủy kiến tạo gồm hai phương chính là: á vĩ tuyến và á kinh tuyến Tại thượng lưu rạch Cửa Cạn quan sát thấy đới phá hủy kiến tạo có dăm kết kiến tạo và cùng theo đới phá hủy này sự phát triển vỏ phong hóa khá dày đã quan sát được ở chân cầu Sáng (cầu bắt qua rạch Cửa Cạn) Đới phá hủy kiến tạo thứ hai quan sát được cũng theo hướng á vĩ tuyến chạy qua lưu vực Rạch Cái Lấp đến Hàm Thuận thể hiện rất rõ trên địa hình hiện tại Còn đới phá hủy kiến tạo theo hướng á kinh tuyến đáng chú ý là đới An Thới – Võ Hương dài trên 10km

Như vậy, đảo Phú Quốc về cấu trúc kiến tạo chỉ bao gồm một tầng cấu trúc duy nhất: Mezozoi muộn, có dạng cấu trúc đơn nghiêng, nếp phủ bị biến đổi bởi các hệ thống đứt gãy – phá hủy kiến tạo có tính chất địa phương

2.1.1.3.Đặc điểm địa hình

Trên đảo Phú Quốc có 99 ngọn núi Nét chung nhất của địa hình đảo Phú Quốc là núi thấp xen các đồng bằng nhỏ hẹp phân bậc Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam, từ đông sang tây và có dạng bất đối xứng giữa bờ đông và bờ tây đảo

Dãy Hàm Ninh là dãy núi lớn nhất đảo (dài khoảng 30km) có thể xem như một xương sống của đảo, nằm sát bờ đông kéo dài từ bắc xuống nam đảo với đỉnh cao nhất trong khối núi Chùa (565m) Dãy núi có dạng vòng cung ở phía bắc và phía đông dốc đứng có vách bậc rõ ràng, sườn phía tây thoải dần vế phía biển Về mặt hình thái dãy Hàm Ninh còn kéo dài xuống tận mũi Ông Đội, nhưng bị các hệ thống thung lũng cắt ngang tạo thành các khối núi riêng biệt như: khối núi Suối

Đá – Hàm Ninh bị cắt tách ra khỏi dãy Hàm Ninh bởi thung lũng Cái Lớn – Dương Đông; thung lũng Cái Lấp,…

Dãy núi thứ hai là dãy Bãi Đại, Hàm Rồng, Núi Chảo có hướng kéo dài từ đông sang tây (á vĩ tuyến) nằm ở cực bắc của đảo, với các đỉnh cao như: Núi Chảo 382m; Hàm Rồng 366m và tới mũi Gành Dầu chỉ còn khoảng 200m

Trang 33

Tính bất đối xứng của dãy núi này thể hiện rõ ở sườn bắc và sườn nam Sườn bắc dốc đổ trực tiếp xuống biển, sườn phía nam thoải, chuyển dần xuống hệ thống thung lũng rạch Vũng Bầu, rạch Cửa Cạn, Rạch Tràm, cũng như dãy Hàm Ninh, dãy Bãi Đại – Núi Chảo bị hệ thống thung lũng cắt qua đó là Rạch Tràm, ngăn cách Núi Chảo với Hàm Rồng, Rạch Vạn ngăn cách giữa Hàm Rồng và Bãi Đại

Ngoài ra, nằm rãi rác ở tây đảo là một loạt các khối núi sót nhỏ có độ cao xấp xỉ 200m như: núi Khu Tượng (245m), Điện Tiên (207m),… Các khối núi này

có dạng đẳng thước nhưng cũng có sườn bất đối xứng rõ rệt Sườn dốc đổ về hướng bắc và sườn thoải đổ về nam và tây nam Nằm sát chân núi và giữa các khối núi sót là các dải đồng bằng phân bậc Đồng bằng cao (với độ cao tuyệt đối 20 – 30m) có dạng đồi lượn sóng, thoải và đồng bằng (< 15m) có bề mặt nghiêng thoải

Đối với đặc điểm hình thái địa hình có thể được tính đến là: độ dốc sườn, mật độ chia cắt ngang và chia cắt sâu

2.1.1.3.1 Độ dốc của địa hình:

Độ dốc địa hình của đảo Phú Quốc được chia thành 5 cấp như sau:

Bảng 2.1: Độ dốc địa hình của đảo Phú Quốc

Địa hình

gần như

nằm ngang

Địa hình nghiêng thoải Địa hình

và tỉnh lộ 46

Sườn nam núi Bãi Đại, sườn tây dãy Hàm Ninh, phía nam Bãi Khem

Thượng lưu rạch Cửa Cạn, rạch Dương Đông, núi Mắt Quỷ, núi Hàm Ninh

Phần lớn sườn đông của dãy Hàm Ninh và sườn bắc của dãy Bãi Đại

2.1.1.3.2 Độ chia cắt ngang của địa hình: dao động từ 0,1 đến >

1,5km/km2 và được chia thành 4 cấp sau:

Bảng 2.2: Độ chia cắt ngang của địa hình đảo Phú Quốc

Độ chia cắt

Mức độ chia

Trang 34

cắt (km/km2) 0,1 – 0,5 0,5 – 1 1 – 1,5 > 1,5

Phân bố

Khu vực đồng bằng

và các cửa sông

Phía nam đảo (từ Dương Tơ đến An Thới) và bắc đảo (Rạch Tràm, Rạch Vẹm, Gành Dầu)

Khu vực rạch Cửa Cạn, Dương Đông

Sườn tây dãy Hàm Ninh (khu vực thượng lưu rạch Cửa cạn, rạch Dương Đông)

2.1.1.3.3 Độ chia cắt sâu của địa hình: dao động từ < 5 – 150m/km2

, được chia thành 4 cấp sau:

Bảng 2.3: Độ chia cắt sâu của địa hình đảo Phú Quốc

Khu Tượng, rạch Vũng Bầu, trung lưu rạch Cửa Cạn (khu vực Cầu Trắng), Suối

Đá, Dương Tơ đến An Thới

Chiếm hầu hết các dãy núi Bãi Đại, Hàm Ninh

và núi Bãi Vòng

Phân bố rất

ít ở khu phía bắc núi Hàm Ninh đến Đá Bạc

Tóm lại, đảo Phú Quốc là một đảo núi - đồi xen đồng bằng Phương của các dãy núi có hướng á kinh tuyến (dãy Hàm Ninh) và á vĩ tuyến (dãy Bãi Đại) và một loạt các khối núi sót với địa hình đảo thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây

và giữa sườn đông và sườn tây của đảo tính bất đối xứng rõ nét hơn tính phân bậc trong phạm vi toàn đảo Trong đó địa hình ít phức tạp và đơn giản chiếm phần lớn diện tích đảo, thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng lãnh thổ

Đặc biệt, đối với đảo nên cần phải nhấn mạnh dạng địa hình bờ biển quanh đảo (dài khoảng 150km) với những bãi biển đẹp như bãi Vũng Bầu, bãi Trường, bãi Sao, bãi Khem,… Bên cạnh là dạng bờ mài mòn đá gốc ở phía bắc và các mũi đá gốc chạy sát ra biển tạo nhiều cảnh đẹp (Gành Cậu, mũi Tàu Rũ, mũi Ông Đội,…) Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho các hoạt động du lịch của đảo

2.1.1.4 Đặc điểm khí hậu

Trang 35

Khí hậu của đảo Phú Quốc mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nóng quanh năm, nhiệt độ của tất cả các tháng đều trên 25oC ở những vùng thấp Do ảnh hưởng của biển nên chế độ nhiệt ở đây điều hòa trong năm và trong ngày Phú Quốc là một đảo lớn có địa hình núi thấp là chủ yếu, phần lớn các đỉnh có độ cao 300 – 400m, nhưng cũng có những đỉnh cao trên 500m ở khu vực đông bắc đảo Vì vậy, chế độ nhiệt ở đây cũng phân hóa theo độ cao địa hình

Hơn nữa, núi ở đây phân bố chủ yếu theo hướng bắc nam nên rất thuận lợi cho việc giữ không khí nóng ẩm trong gió mùa tây nam ở bên sườn tây và gây mưa lớn Vì vậy, chế độ mưa ở hầu hết lãnh thổ rất phong phú, chỉ trừ một phần lãnh thổ nhỏ ở bên sườn đông có lượng mưa thấp hơn nhưng vẫn thuộc chế độ mưa tương đối nhiều Ngoài ra, chế độ khí hậu ở đây ít biến động thất thường và

ít xảy ra những hiện tượng thời tiết bất lợi có tính thiên tai như: giá rét, sương muối, gió khô nóng,… Tuy vẫn có xảy ra bão và dông nhưng không nhiều

2.1.1.4.1 Chế độ bức xạ, mây, nắng:

Đảo Phú Quốc có chế độ bức xạ dồi dào, nhiều nắng và tương đối ít mây Lượng bức xạ năm đạt khoảng 135 - 140Kcal/cm2 năm Bốn tháng (tháng 4 - 9) mưa nhiều, nhiều mây, ít nắng, có lượng bức xạ tổng cộng thấp, dao động trong khoảng 8 - 9Kcal/cm2

tháng Hai tháng giữa mùa khô (tháng 2, 3) rất nhiều nắng, ít mây nên có lượng bức xạ tổng cộng lớn nhất, đạt khoảng 14 - 15Kcal/cm2

tháng Mỗi năm có khoảng 2340 giờ nắng, tất cả các tháng trong năm đều có trên

120 giờ nắng Do nằm tương đối gần xích đạo, biến trình năm của giờ nắng mặc

dù mờ nhạt nhưng vẫn có dạng 2 cực đại và 2 cực tiểu Cực đại chính rơi vào tháng 3, đạt khoảng 270 giờ nắng/ tháng (tức là mỗi ngày có khoảng 8,7 giờ nắng); cực đại phụ rơi vào tháng 7 chỉ đạt khoảng 158 giờ/ tháng (tức có khoảng 5,1 giờ nắng/ ngày) Hai cực tiểu là vào tháng 6 và 8, mỗi tháng chỉ có 126 –

128 giờ nắng (tức chỉ 4,1 – 4,3 giờ nắng/ ngày) Vào mùa mưa tương đối ít nắng (tháng 6 đến tháng 11), còn vào mùa khô lại rất nhiều nắng (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau), mỗi tháng đều có trên 200 giờ nắng

Ngược lại với giờ nắng, lượng mây tổng quan trung bình năm ở đây đạt trị

số tương đối thấp và cũng phân bố theo hai mùa và không trùng với hai mùa gió

Trang 36

Lượng mây tổng quan trung bình năm không nhiều, chỉ đạt 6,4/10 bầu trời vào mùa mưa, trời tương đối nhiều mây (đạt 6,4 – 8,2/10 bầu trời) Trong khi đó vào mùa khô trời quang, ít mây (chỉ đạt khoảng 4,4 – 5,6/10 bầu trời)

Như vậy, chế độ bức xạ, mây, nắng ở đảo Phú Quốc dồi dào và phân bố theo hai mùa mưa và khô rõ rệt: mùa khô, bức xạ lớn, nhiều nắng, ít mây; còn mùa mưa tương đối ít nắng và tương đối nhiều mây

2.1.1.4.2 Chế độ gió:

Chế độ gió ở Phú Quốc phản ánh rất rõ chế độ hoàn lưu chung của khu vực Mùa khô là mùa hoạt động của gió mùa đông bắc, gió thổi chủ yếu theo hướng đông và đông bắc Đầu mùa khô (tháng 11, 12) gió thổi theo hướng đông bắc với tần suất 40 – 50%, còn gió đông chỉ chiếm 23 – 26%; sau đó (tháng 1 đến tháng 3) gió chuyển sang thổi theo hướng đông với tần suất 35 – 40% Giữa mùa mưa (tháng 6 - 8) mùa hoạt động của hoàn lưu gió mùa tây nam, gió thổi chủ yếu theo hướng tây với tần suất 40 – 47%, gió mùa tây nam với tần suất 20 – 27% Các tháng chuyển tiếp giữa hai mùa như các tháng 4, 5, 9, 10 gió thổi theo các hướng đông, đông bắc, tây nam và tây với tần suất dao động trong khoảng 15 – 25%

Do điều kiện địa hình của đảo có dãy Hàm Ninh gần như chạy dọc theo hướng bắc nam và sát theo bờ đông của đảo nên hầu hết lãnh thổ bên sườn tây có phần trăm lặng gió thấp vào mùa mưa, dao động trong khoảng 5 - 8%, vào mùa khô thì lại có phần trăm lặng gió tương đối lớn, dao động trong khoảng 20 – 25% do là sườn khuất gió Một phần lãnh thổ nhỏ bên sườn đông của đảo thì có hiện tượng ngược lại

Tốc độ gió trung bình ở đây thuộc tốc độ gió vừa phải, đạt 2,9m/s năm Ở sườn tây, sườn đón gió mùa tây nam có tốc độ gió trung bình tương đối lớn vào mùa mưa với vận tốc gió trung bình đạt > 3m/s tháng, nhất là ba tháng 6,7,8 có vận tốc gió trung bình > 4m/s tháng.Vào mùa khô tốc độ gió vừa phải dao động trong khoảng 1,8 – 2,9m/s Còn ở phần nhỏ lãnh thổ bên sườn đông thì ngược lại, tốc độ gió trung bình tương đối lớn vào mùa khô và tương đối thấp vào mùa mưa

Do ảnh hưởng của điều kiện địa hình và hoàn lưu chung của khu vực nên chế độ gió ở đây phân hóa tương đối rõ theo mùa và hai bên sườn núi của đảo

2.1.1.4.3 Chế độ nhiệt:

Trang 37

Đảo Phú Quốc bao gồm dãy núi có độ cao dưới 300 – 400m là chủ yếu, chỉ

có một vài đỉnh có độ cao trên 500m nên đại bộ phần lãnh thổ của đảo có nền nhiệt cao Ở những vùng có độ cao dưới 400m, nhiệt độ trung bình năm dao động

từ 25 – 27,2oC, tương đương tổng nhiệt năm dao động trong khoảng 9000 –

9900oC Đây là vùng có điều kiện nhiệt đủ tiêu chuẩn của vùng nhiệt đới điển hình Chỉ những vùng có độ cao trên 400m mới có nhiệt độ trung bình năm <

Do chuyển động biểu kiến của mặt trời và ảnh hưởng của biển nên nhiệt độ không khí thay đổi rất ít trong năm và trong ngày Giá trị biên độ nhiệt năm ở đây rất nhỏ (đạt khoảng 3o

C), còn biên độ ngày đêm trung bình năm đạt khoảng 6,1oC Vào mùa mưa, tỷ số này tương đối thấp (đạt 4,3 – 4,7o

C); còn vào mùa khô thì biên độ nhiệt ngày đêm lại tương đối cao, dao động trong khoảng 6,4 – 8,3o

C Những giá trị cao nhất của nhiệt độ có thể lớn hơn 35o

C vào các tháng 1 –

5, đạt trị số cao nhất vào tháng 3 (38,1oC) ở vùng dưới thấp, còn các tháng còn lại trong năm (tháng 6 đến tháng 12) chỉ đạt 33 – 34oC Ở các vùng cao trị số này ít khi vượt quá 35o

C Những giá trị thấp nhất của nhiệt độ không xuống dưới 15oC ở tất cả các tháng trong năm, phần lớn dao động trong khoảng từ 16 – 22o

C

Như vậy, chế độ nhiệt ở đây điều hòa, nóng quanh năm ở những vùng thấp nhưng không có thời kỳ quá nóng Biên độ dao động nhiệt nhỏ trong năm cũng như trong ngày

2.1.1.4.4 Chế độ mưa ẩm:

Do điều kiện địa hình thuận lợi cho việc đón gió mùa tây nam nên đại bộ phận lãnh thổ của đảo có chế độ mưa ẩm phong phú Tổng lượng mưa năm lớn ở bên sườn tây, sườn đón gió mùa tây nam dao động trong khoảng 2500 – 3000mm Còn bên sườn đông chỉ chiếm một phần nhỏ diện tích của đảo, không

Trang 38

thuận lợi cho việc đón gió mùa tây nam nên có lượng mưa năm thấp hơn ở sườn tây, tổng lượng mưa năm trong khoảng 2200 – 2500mm

Mùa mưa trên đảo Phú Quốc kéo dài 8 tháng (từ tháng 4 đến tháng 11) với lượng mưa chiếm khoảng 93 – 94% tổng lượng mưa năm Mùa ít mưa kéo dài 4 tháng (tháng 12 đến tháng 3 năm sau), trong đó có hai tháng khô ở bên sườn tây (tháng 1 và 2) và 3 tháng khô ở bên sườn đông (tháng 1 đến tháng 3)

Số ngày mưa trong năm khá cao, khoảng 150 – 162 ngày Trong mùa mưa, mỗi tháng có từ 11 – 22 ngày mưa; vào mùa khô, mỗi tháng là 3 – 6 ngày

Như vậy, chế độ mưa ở đây phong phú và phân hóa ra hai mùa mưa và khô rất rõ rệt theo hai mùa gió kể cả về lượng mưa lẫn số ngày mưa

Độ ẩm không khí của đảo có giá trị tương đối trung bình năm cao nhất (đạt 83%) so với các đảo ở khu vực Nam Bộ Tất cả các tháng trong mùa mưa đều có độ

ẩm trung bình tháng > 80%, trong đó từ tháng 7 đến tháng 10 đạt 87 - 88% Các tháng mùa khô, độ ẩm không khí tương đối trung bình dao động trong khoảng 76 - 78%

Bên cạnh, không thể không nói đến các hiện tượng thời tiết đặc biệt, mà thường gặp là một số hiện tượng thời tiết như bão và dông Tuy rất ít khi xảy ra nhưng nó cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động kinh tế - xã hội của đảo Bão thường có ở 3 tháng cuối năm và dông chủ yếu vào mùa mưa

2.1.1.5.Đặc điểm thủy văn và chế độ hải văn

2.1.1.5.1 Đặc điểm thủy văn:

Hệ thống thủy văn trên đảo Phú Quốc phát triển khá phong phú, bao gồm các hệ thống sông suối nhỏ, ngắn ở sườn phía đông và hệ thống các sông suối lớn hơn ở sườn phía tây Mạng lưới sông có dạng cành cây (rạch Dương Đông)

và dạng lông chim (rạch Cửa Cạn),…

Nét đặc thù của tất cả các sông trên đảo thường ngắn, dốc, mang tính chất của sông miền núi nên khả năng tích nước hạn chế Do tác động của sóng và thủy triều cũng như dòng chảy ven bờ chi phối, nên cửa sông có dạng hình phểu

Hệ thống sông suối trên đảo Phú Quốc chủ yếu đều bắt nguồn từ dãy Hàm Ninh Tổng chiều dài của mạng lưới sông suối trên đảo khoảng 218,5km, đạt

Trang 39

mật độ trung bình 0,42km/km2, lớn hơn bất cứ đảo nào ở Việt Nam Trên đảo hiện có 3 hệ thống rạch chủ yếu bao gồm:

- Rạch Cửa Cạn: là sông có lưu vực lớn nhất trên đảo, bắt nguồn từ núi Chùa, nhánh chính dài 28,7km, lưu vực rộng 147km2 Mật độ sông suối của lưu vực là 0,47km/km2

- Rạch Dương Đông: bắt nguồn từ núi Đá Bạc và đổ ra biển tại mũi Gành Dầu Nhánh chính dài 18,5km và tổng chiều dài toàn bộ sông suối trong lưu vực

là 63,1km Lưu vực của sông rộng 105km2 Mật độ sông suối thuộc loại lớn nhất trên đảo 0,60km/km2

- Rạch Đầm: nằm ở phía nam đảo Sông bắt nguồn từ đỉnh núi cao 242m

ở phía bờ đông đảo và đổ ra biển tại vịnh Đầm Mật độ sông suối thấp, chỉ đạt 0,3km/km2 với tổng chiều dài sông là 14,8km, diện tích lưu vực rộng 49,6km2

Ngoài 3 hệ thông sông trên, đảo Phú Quốc còn có một số sông suối khác

đổ ra biển như rạch Tràm, rạch Vũng Bàu, rạch Cá, rạch Cái Lấp,…

Với lượng mưa trung bình năm khá cao, ước tính hàng năm Phú Quốc tiếp nhận tới 1,6 tỷ m3

nước, trong đó khoảng 900 triệu m3 theo hệ thống sông suối đổ ra biển, lượng nước còn lại được lưu giữ trong hệ thống sông rạch và các bể nước ngầm trong tầng đất Trữ lượng nước mặt của các con sông trên đảo Phú Quốc khoảng 9,31 triệu m3

với chất lượng tương đối tốt, đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Nước ngầm nhìn chung ít, hiện đang được khai thác ở phía nam đảo từ thị trấn Dương Đông đến thị trấn An Thới và một số nơi như xã Bãi Thơm, Cửa Cạn,…

Tuy nhiên, trữ lượng nước trên đảo biến đổi theo mùa, theo đó mùa khô trữ lượng nước thấp hơn nhiều và chỉ ước bằng khoảng 1/4 trữ lượng nước vào mùa mưa

Trang 40

Vùng nước ven bờ đảo Phú Quốc trong thời kỳ gió mùa Tây Nam mang đặc tính một xoáy thuận có trao đổi nước với biển Đông ở hai đầu của vịnh Tuy nhiên ở các vùng cụ thể, cấu trúc dòng chảy ở vùng ven bờ Tây, trong đó có Phú Quốc, rất phức tạp và thiếu bền vững và phụ thuộc vào cấu trúc địa hình bờ

Chế độ sóng chủ yếu phụ thuộc vào chế độ gió Trong mùa có gió mùa Đông Bắc, trong toàn vịnh Thái Lan sóng có hướng Đông Bắc, Bắc – Đông Bắc và Đông Vùng biển phía tây nam đảo Phú Quốc có sóng hướng Đông Bắc với độ cao trung bình 1,1 – 3,0m với tần xuất 10% vào tháng 12

Gió mùa Tây Nam thịnh hành vào các tháng 7 đến tháng 9 tạo ra trường sóng

có hướng chủ yếu Tây Nam và Tây – Tây Nam trong toàn vịnh Thái Lan Sóng có

độ cao lớn 1,1 – 3,0m có tần xuất 13% vào tháng 7, 16% vào tháng 8 Trong một số trường hợp, độ cao sóng lớn nhất quan trắc thấy có thể đạt 5m vào tháng 7

Nước biển quanh đảo Phú Quốc có độ mặm trung bình đạt 30,3%0, nhiệt

độ nước biển trung bình năm là 29,2o

C, độ trong suốt không dưới 0,5m (có nhiều khu vực đạt 4 – 5m)

2.1.1.6.Đặc điểm thổ nhưỡng, sinh vật

- Bãi bằng (Ica/1) có diện tích 1308 ha

- Đụn (dốc 3 – 8o) (IICa/1) có diện tích 1240 ha Ở dộ dốc 8 – 15o ký hiệu (IIICa/2) có diện tích là 61 ha Cát có màu trắng, dày hàng mét Thành phần chủ yếu là cát hạt mịn, độ chọn lọc khá tốt Cát có nguồn gốc biển Sau khi thoát khỏi ảnh hưởng của sóng biển cồn cát được hình thành do gió thổi mòn đường

bờ Cồn cát rõ nét nhất dài tới 7km nằm cách An Thới về phía tây bắc khoảng 5km Trên đất cát này nhìn chung nghèo dinh dưỡng

 Đất cát (Cd):

Ngày đăng: 15/12/2015, 07:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.4:           Hệ phân vị ba hàng của V.I. Prokaev - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Sơ đồ 1.4 Hệ phân vị ba hàng của V.I. Prokaev (Trang 15)
Bảng 2.1:                  Độ dốc địa hình của đảo Phú Quốc - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.1 Độ dốc địa hình của đảo Phú Quốc (Trang 33)
Bảng 2.3:            Độ chia cắt sâu của địa hình đảo Phú Quốc - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.3 Độ chia cắt sâu của địa hình đảo Phú Quốc (Trang 34)
Bảng 2.4: Hiện trạng khách du lịch đến Phú Quốc giai đoạn 1995 – 2006 - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.4 Hiện trạng khách du lịch đến Phú Quốc giai đoạn 1995 – 2006 (Trang 50)
Bảng 2.6:     Diện tích, năng suất và sản lượng điều của đảo Phú Quốc - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.6 Diện tích, năng suất và sản lượng điều của đảo Phú Quốc (Trang 54)
Bảng 2.10: Sản lượng khai thác hải sản và giá trị sản xuất ngành khai thác - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.10 Sản lượng khai thác hải sản và giá trị sản xuất ngành khai thác (Trang 56)
Sơ đồ 1.12:           Hệ thống phân loại cảnh quan đảo Phú Quốc - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Sơ đồ 1.12 Hệ thống phân loại cảnh quan đảo Phú Quốc (Trang 65)
Bảng 2.17:   Thống kê diện tích phụ lớp cảnh quan đảo Phú Quốc - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.17 Thống kê diện tích phụ lớp cảnh quan đảo Phú Quốc (Trang 77)
Bảng 2.20:       Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.20 Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với (Trang 87)
Bảng 2.21:      Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.21 Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với (Trang 90)
Bảng 2.22 :       Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.22 Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan đối với (Trang 93)
Bảng 2.23:     Đánh giá riêng mức độ thuận lợi của các loại cảnh quan - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.23 Đánh giá riêng mức độ thuận lợi của các loại cảnh quan (Trang 94)
Bảng 2.24: Đánh giá riêng mức độ thuận lợi của các loại cảnh quan - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.24 Đánh giá riêng mức độ thuận lợi của các loại cảnh quan (Trang 95)
Bảng 2.25: Đánh giá riêng mức độ thuận lợi của các loại cảnh quan - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.25 Đánh giá riêng mức độ thuận lợi của các loại cảnh quan (Trang 97)
Bảng 2.28:  Tổng hợp các kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các loại cảnh    quan đối với các ngành du lịch, nông – lâm – ngư nghiệp của đảo Phú Quốc - Phân tích, đánh giá cảnh quan đảo phú quốc phục vụ mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
Bảng 2.28 Tổng hợp các kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các loại cảnh quan đối với các ngành du lịch, nông – lâm – ngư nghiệp của đảo Phú Quốc (Trang 107)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w