Nguyễn Đình Hòe: Môi trường và phát triển bền vững – Nxb Giáo Dục Nguyễn Phi Hạnh – Nguyễn Thị Thu Hằng: Giáo dục môi trường qua môn địa lí – Nxb Đại Học Sư phạm Hà Nội Nguyễn Cẩn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE PHỤC VỤ GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11
THPT Ở AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
========================
NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE PHỤC VỤ GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11
THPT Ở AN GIANG
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học địa lí
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ĐỨC TUẤN
HÀ NỘI - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sự thành công của đề tài nhắc tôi lòng biết ơn sâu sắc đến hai
đấng sinh thành luôn tạo điều kiện để tôi vươn lên phía trước, những
thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu vừa qua
Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Đức Tuấn, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài đồng thời cũng là người thường xuyên động viên, khích lệ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất
Tôi vô cùng biết ơn Ban giám hiệu trường đại học An Giang, thư viện trường đại học sư phạm Hà Nội cùng thư viện và quý thầy
cô Khoa Địa Lí – ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ đồng thời đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, các thầy cô giảng dạy địa lí lớp 11 trong cụm thành phố Long Xuyên, các học viên lớp cao học Địa lí K18 cùng các bạn sinh viên chuyên ngành
Sư phạm Địa lí của trường đại học An Giang
Tôi cũng xin cảm ơn các tác giả của những tài liệu tham khảo
đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức hết sức quý giá trong đề tài này Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 – 2010
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
GDPTBV giáo dục vì sự phát triển bền vững
GV giáo viên
Nxb nhà xuất bản
PTBV phát triển bền vững
SGK sách giáo khoa
TKGDPTBV thập kỉ giáo dục vì sự phát triển bền vững
THPT trung học phổ thông
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
Bảng 1 Nội dung GDPTBV trong chương trình địa lí THPT 36
Bảng 2 Kết quả điều tra thực trạng xây dựng và sử dụng website phục vụ GDPTBV 40
Bảng 3 Địa chỉ website 54
Bảng 4 Nội dung GDPTBV trong chương trình địa lí 11 – Cơ bản 62
Bảng 5 Nội dung GDPTBV trong chương trình địa lí 11 – Nâng cao 63
Bảng 6 Một số định dạng file thông dụng 86
Bảng 7 Nội dung phiếu điều tra 97
Bảng 8 Nội dung tham khảo ý kiến kĩ thuật viên tin học 99
Bảng 9 Kết quả phỏng vấn và điều tra qua phiếu của thực nghiệm lần 2 100
Bảng 10 Câu hỏi và kết quả điều tra của thực nghiệm lần 3 101
DANH MỤC HỘP Số hộp Tên hộp Trang
Hộp1 Các khái niệm về GDPTBV 18
Hộp 2 Đặc điểm chương trình địa lí 11 60
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang
Hình 1 Quan niệm về GDPTBV 23
Hình 2 Minh họa mạng cục bộ trong một phòng 52
Hình 3 Tìm hiểu nhu cầu độc giả 55
Hình 4 Sơ đồ các yếu tố tác động đến quá trình xây dựng website 59
Hình 5 Tác động của chương trình địa lí lớp 11 đến quá trình xây dựng
website 64
Hình 6 Tác động của cơ sở vật chất – kĩ thuật đến việc xây dựng website 66
Hình 7 Xác định mục tiêu của website 67
Hình 8 Xác định độc giả của website 68
Hình 9 Hình thành ý tưởng 69
Hình 10 Cấu trúc trang chính của một website 70
Hình 11 Sơ đồ cấu trúc nội dung của website 72
Hình 12 Biểu tượng các trình duyệt 79
Hình 13 Cửa sổ trình duyệt với Google 80
Hình 14 Nhập nội dung tìm kiếm vào của sổ trình duyệt 81
Hình 15 Danh sách kết quả tìm kiếm trên Google 82
Hình 16 Mở website trong thẻ mới 82
Hình 17 Cuối trang kết quả tìm kiếm 83
Hình 18 Save lại trang web 83
Hình 19 Kết quả với việc tìm hình ảnh 85
Hình 20 Chọn và lưu ảnh 85
Hình 21 Tải Flashget 87
Hình 22 Mở Flashget 88
Hình 23 Tải file video 88
Hình 24 Tải file video 88
Hình 25 Cài đặt CD 89
Hình 26 Cài đặt CD 89
Hình 27 Hoàn tất cài đặt CD 90
Trang 6MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 3
III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 3
IV LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
V PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 5
VI HƯỚNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 8
VII CẤU TRÚC LUẬN VĂN 8
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU I ĐỔI MỚI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 9
1 Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học địa lí 9
2 Những tiền đề cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí trung học phổ thông 11
3 Mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí 15
4 Bản chất, định hướng cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học 16
5 Đổi mới dạy học địa lí theo quan điểm GDPTBV 18
6 Tăng cường ICT trong dạy học địa lí 20
II GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: TRIẾT LÍ VÀ CÔNG CỤ ĐỔI MỚI DẠY HỌC ĐỊA LÍ 22
1 Quan niệm, đặc trưng và vai trò của GDPTBV 22
2 Mục đích, tầm nhìn của GDPTBV 25
3 Nội dung và các lĩnh vực chủ yếu của GDPTBV 25
4 Các thực thể và phương pháp GDPTBV 30
Trang 75 ICT là một công cụ hữu hiệu của GDPTBV 34
6 GDPTBV trong nhà trường phổ thông và môn địa lí 35
III SỬ DỤNG INTERNET VÀ WEB TRONG GDPTBV 37
1 Internet và Web 37
2 Vai trò của Internet trong dạy học địa lí 38
3 Thực trạng xây dựng và sử dụng website phục vụ GDPTBV ở môn địa lí 11 THPT 40
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE PHỤC VỤ GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 THPT I MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN WEBSITE 52
1 Mạng máy tính 52
2 Trang Web 53
3 Website 53
4 Trình duyệt 53
5 Địa chỉ website 53
II CÁC VIỆC CẦN LÀM TRƯỚC KHI XÂY DỰNG WEBSITE 54
1 Tìm hiểu nhu cầu của giáo viên và sinh viên 54
2 Đăng kí tên miền - tính chính danh của website 55
3 Chọn nền tảng để tạo website 56
III NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG WEBSITE 57
1 Bám sát chương trình địa lí lớp 11 57
2 Đảm bảo tính khoa học 57
3 Đảm bảo tính sư phạm 58
4 Đảm bảo tính trực quan 58
5 Đảm bảo tính kĩ thuật và thẩm mĩ 58
6 Đảm bảo tính hiệu quả và linh hoạt 59
Trang 8IV CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG WEBSITE 59
1 Đặc điểm chương trình địa lí 11 và khả năng xây dựng website giáo dục vì sự phát triển bền vững 60
2 Nhu cầu của GV 65
3 Cơ sở vật chất – kĩ thuật 65
4 Trình độ tin học 66
V QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG WEBSITE 67
1 Xác định mục tiêu 67
2 Xác định độc giả 67
3 Xác định yêu cầu và điều kiện thực hiện 68
4 Thiết kế cấu trúc, nội dung và hình thức thể hiện 69
5 Tạo đồ họa và hồ sơ HTML 74
6 Tạo một bản mẫu 74
7 Thử nghiệm 74
8 Tải lên, đánh giá và thử nghiệm lại 74
VI NỘI DUNG WEBSITE 75
1 Nội dung chính 75
2 Chuyên mục 78
3 Đăng kí thành viên và Diễn đàn 78
4 Liên kết 79
5 Thăm dò ý kiến 79
6 Thống kê 79
VII HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG WEBSITE 79
1 Khai thác thông tin trên Internet 79
2 Sử dụng website Giáo dục vì sự phát triển bền vững trong dạy học địa lí 11 THPT 89
Chương 3 THỰC NGHIỆM I MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 95
Trang 9II NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 95
III THỜI GIAN VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ THỰC NGHIỆM 96
IV PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 96
V TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 97
1 Thực nghiệm lần 1: Kiểm tra kĩ thuật 97
2 Thực nghiệm lần 2: Đánh giá website 97
3 Thực nghiệm lần 3: Hoàn thiện website 101
VI KẾT LUẬN CHUNG 102
PHẦN KẾT LUẬN I KẾT LUẬN CHUNG 103
1 Sử dụng website trong GDPTBV ở trường THPT đã trở thành một xu thế tất yếu 103
2 Việc xây dựng website có chất lượng đòi hỏi phải đáp ứng những điều kiện cơ bản, trong đó việc tuân thủ những nguyên tắc sư phạm, nắm rõ đặc điểm chương trình môn học và nhu cầu độc giả, hiểu biết về tin học là những điều kiện tiên quyết 103
3 Việc tuân thủ chặt chẽ quy trình xây dựng website cũng là một yêu cầu quan trọng 104
4 Những đóng góp của website đã xây dựng 105
II HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 106
1 Nâng cao chất lượng các chuyên mục 106
2 Phát triển chuyên mục Diễn đàn trên website đã có 106
3 Mở rộng đối tượng độc giả 106
III ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 107
1 Đề xuất 107
2 Kiến nghị 108
PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10mẽ của công nghiệp đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho môi trường và ngày nay chúng càng hiện hữu rõ rệt với quy mô toàn cầu Hệ lụy tiếp theo là sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu cùng hàng loạt thiên tai với sức tàn phá dữ dội Bên cạnh
đó, các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang, sự bất bình đẳng, nghèo đói, tệ nạn xã hội diễn ra khắp nơi
Trước thực tại này con người thấy cần thiết phải phát triển bền vững “Phát triển bền vững” là một thuật ngữ bắt đầu xuất hiện từ thập niên 80 của thế kỉ XX, khi mà cùng những hoạt động nhằm tạo dựng một xã hội tương lai phát triển, bền vững được các nhà khoa học, nhà quản lí đặt thành mối quan tâm lớn Trong 10 năm trở lại đây, thuật ngữ này đặc biệt được nhắc đến và bàn luận ở hầu hết mọi lĩnh vực, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng bởi tầm quan trọng của nó đối với sự tồn vong của xã hội
2 Ở các nhà trường phổ thông nước ta, giáo dục học sinh hướng đến sự phát triển một tương lai bền vững, hay nói cách khác là giáo dục vì sự phát triển bền vững, đã được thực hiện từ nhiều năm nay Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một môn học chính thức nào cho vấn đề này mà chỉ tích hợp vào các môn học như địa lí, lịch sử, sinh học, giáo dục công dân… với một thời lượng còn hạn chế Thực tế cũng cho thấy việc giáo dục để hình thành ý thức hướng đến sự phát triển bền vững
ở học sinh vẫn chưa được nhiều giáo viên chú ý Phần lớn thời gian lên lớp thường
Trang 11được các giáo viên sử dụng để chuyển tải những nội dung kiến thức mang tính chất
lí thuyết Điều này có thể được lí giải bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như chính bản thân giáo viên cũng thiếu sự cập nhật kiến thức về phát triển bền vững, tư liệu phục vụ giảng dạy còn hạn chế, phương pháp lồng ghép vào bài giảng chưa phù hợp…
3 Chúng ta đang sống trong thời đại của nền văn minh hậu công nghiệp với sự phát triển như vũ bão và mạnh mẽ chưa từng có của cách mạng thông tin và truyền thông Trong bối cảnh đó, những điều kiện và nền móng cho cuộc cách mạng mới trong toàn bộ hệ thống giáo dục của nhân loại đang được hình thành Việc chia sẻ
và cập nhật thông tin trên phạm vi toàn cầu ngày càng trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn bao giờ hết nhờ sự phổ cập của mạng Internet Trong nhiều trường trung học phổ thông, website đã phát triển mạnh, trở thành nguồn tư liệu hữu ích và là công cụ dạy học hữu hiệu Sự ra đời của hàng loạt website từ các cơ quan khoa học
và các tổ chức giáo dục phục vụ giảng dạy là những minh chứng cụ thể Điều này còn cho thấy các website hỗ trợ cho việc dạy và học đang dần chiếm một vai trò nhất định trong quá trình dạy học ở nước ta
4 Tôi thật sự mong muốn chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm giáo dục vì sự phát triển bền vững đến đồng nghiệp và các em sinh viên của mình, mặc dù sự hiểu biết còn nhiều hạn chế Công việc này sẽ bắt đầu từ việc nghiên cứu đề tài luận văn tốt
nghiệp cao học “Xây dựng và sử dụng website phục vụ giáo dục vì sự phát triển bền vững trong dạy học địa lí 11 THPT ở An Giang” Sản phẩm của đề tài
nghiên cứu là một website có tác dụng phục vụ GDPTBV trong dạy học địa lí 11 THPT ở An Giang Tôi tin tưởng rằng với kiến thức và kinh nghiệm thu được trong thời gian học tập ở ghế nhà trường phổ thông, ở trường đại học, với sự tận tâm dạy
dỗ và giúp đỡ của thầy cô, đề tài này sẽ được hoàn thành và mang một ý nghĩa thiết thực nào đó
Trang 12II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1 Mục đích
Mục đích quan trọng nhất của đề tài là xây dựng và hướng dẫn sử dụng một website phục vụ GDPTBV trong dạy học địa lí lớp 11 THPT nhằm góp phần tích cực vào đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở nhà trường phổ thông
- Xây dựng và đưa website vào hoạt động online; xác định cách thức khai thác
và sử dụng website này vào giảng dạy sao cho hiệu quả
- Thử nghiệm, đánh giá khả năng ứng dụng của website, đưa ra đề xuất
III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
1 Về phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu ở 8 trường THPT
cụm thành phố Long Xuyên – tỉnh An Giang
2 Đối tƣợng sử dụng: Đối tượng phục vụ chủ yếu của website là GV địa lí THPT
và sinh viên sư phạm ngành địa lí
IV LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong suốt hai thập kỉ qua, các hội nghị về phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc như Hội nghị thượng đỉnh ở Rio de Janero và ở Johnannesburg, COP 15 ở Đan Mạch, chương trình hành động về phát triển bền vững như chương trình nghị
sự Agenda 21; chương trình hành động của thập kỉ giáo dục vì sự phát triển bền vững của Việt Nam… đã đề cập rất nhiều về vấn đề phát triển bền vững Ở Việt
Trang 13Nam, đã xuất hiện các công trình khoa học mang tính lí luận lẫn thực tiễn bàn về vấn đề phát triển bền vững như:
Lưu Đức Hải - Nguyễn Ngọc Sinh: Quản lí môi trường cho sự phát triển bền vững – Nxb đại học quốc gia Hà Nội
Nguyễn Đình Hòe: Môi trường và phát triển bền vững – Nxb Giáo Dục
Nguyễn Phi Hạnh – Nguyễn Thị Thu Hằng: Giáo dục môi trường qua môn địa lí – Nxb Đại Học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Cẩn – Nguyễn Đình Hòe: Tai biến môi trường - Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
…
Các hội nghị quốc gia và quốc tế cùng các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững đã đề cập, phân tích sâu sắc sự cần thiết cũng như nội dung cơ bản của việc đổi mới giáo dục phổ thông theo những định hướng của sự phát triển bền vững GDPTBV cũng được đề cập trên báo chí, phim ảnh, các website trong và ngoài nước cũng ít nhiều đề cập đến vấn đề này GDPTBV cũng đã lồng ghép và tích hợp vào chương trình SGK địa lí phổ thông ở các khối lớp tuy còn hạn chế thời lượng và
tư liệu Vấn đề còn được đề cập ở các khóa luận tốt nghiệp của học viên cao học và sinh viên,…
Hiện nay, đã có các tài liệu, các website đề cập nhiều đến giáo dục vì sự phát triển bền vững Tuy nhiên, đây chưa thật sự là nguồn tư liệu gần gũi và dễ sử dụng
để GV khi lồng ghép, tích hợp các nội dung giáo dục vì sự phát triển bền vững vào giáo dục phổ thông Hơn nữa, việc thiết kế một website phục vụ GDPTBV cụ thể ở các trường THPT địa bàn tỉnh An Giang vẫn chưa được thực hiện Nhận thức được thực tế và nhu cầu thiết thực nêu trên, bản thân tôi cảm thấy cần thiết và rất có hứng thú với một website chuyên biệt nhằm phục công việc giảng dạy môn địa lí ở khối lớp 11 trong tỉnh Tôi hy vọng rằng sản phẩm mình làm ra sẽ góp phần tích cực trong công cuộc giáo dục vì sự phát triển bền vững của tỉnh nhà
Trang 14V PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phương pháp luận
- Quan điểm và tiếp cận của GDPTBV:
o Tiếp cận liên môn: Đây là một tiếp cận quan trọng thể hiện rõ nét đặc tính liên môn của GDPTBV Tiếp cận này được sử dụng tạo ra mối liên hệ thực sự giữa giáo dục môi trường và giáo dục dân số, nhằm thay đổi một thực tế chưa tốt vẫn còn tồn tại cho đến nay là giáo dục môi trường và giáo dục dân số đang được thực hiện song song nhau trong phạm vi một môn học hoặc trong phạm vi một cơ sở giáo dục
o Tiếp cận tích hợp và lồng ghép: Đây có thể xem là chiến lược hết sức quan trọng để đưa nội dung GDPTBV vào chương trình giáo dục chính quy và không chính quy GDPTBV đòi hỏi lồng ghép, tích hợp 5 thành phần cơ bản của nội dung GDPTBV (kiến thức, kĩ năng, phương pháp, vấn đề và giá trị) vào trong chương trình giáo dục của tất cả các bộ môn Tùy theo đặc trưng của bộ môn mà xác định mức độ tích hợp và lồng ghép thích hợp sao cho tình trạng quá tải không diễn ra khi thực hiện GDPTBV
o Tiếp cận văn hóa: Xét về bản chất, GDPTBV “chính là quá trình thúc đẩy các giá trị mà trong đó tôn trọng được đặt ở vị trí trung tâm” Những giá trị ứng xử theo quan điểm phát triển bền vững cũng có những khác biệt đáng kể trong các môi trường văn hóa khác nhau Vì vậy, cần phải tính đến sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa khi vận dụng các thành tựu GDPTBV của thế giới vào thực tế Việt Nam
o Tiếp cận quá trình: GDPTBV là một quá trình liên tục và liên quan đến việc học tập suốt đời của mọi người Do đó, cần phải tổ chức các hoạt động GDPTBV sao cho nó không phải là những hoạt động giáo dục nhất thời diễn ra trong một thời điểm hay một thời gian ngắn mà phải là một quá trình học tập suốt đời nhằm tạo ra những công dân có hiểu biết, có năng lực tham gia vào các hoạt động cá nhân và tập thể một cách sáng tạo, có trách nhiệm nhằm đảm bảo cho một tương lai bền vững
Trang 15o Tiếp cận trải nghiệm: Sự cần thiết của tiếp cận này trong nghiên cứu lí thuyết và triển khai thực hiện GDPTBV là ở chỗ GDPTBV nếu được thực hiện theo tiếp cận này cho phép tác động mạnh mẽ đến động cơ, hứng thú, tình cảm, nghĩa là
có tác động đến hành vi, thái độ của người tiếp nhận
- Quan điểm và tiếp cận của lí luận dạy học địa lí hiện đại:
Trên thực tế, việc nghiên cứu đề tài là việc tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục Do đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi luôn quán triệt những quan điểm sau:
o Quan điểm tổng hợp - cấu trúc: Theo PGS.TS Lê Phước Lộc – đại học Cần Thơ: “Một vấn đề nảy sinh trong bất cứ lĩnh vực nào, thời điểm nào đều được quy định bởi hoàn cảnh sự vật, sự việc xung quanh” Vấn đề mà đề tài đặt ra cũng không ngoài quy luật đó Những câu hỏi mà đề tài cần giải quyết luôn đặt trong mối quan hệ giữa các yếu tố như nội dung bài học, các phương pháp, phương tiện dạy học, cơ sở vật chất trường lớp, nhu cầu tài liệu giảng dạy của GV… để từ đó có cái nhìn tổng quát và trọn vẹn mọi khía cạnh của vấn đề cần nghiên cứu
o Quan điểm thực tiễn: Mọi vấn đề nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn và
phục vụ cho thực tiễn Trong thời gian thực hiện đề tài, bên cạnh việc nghiên cứu lí thuyết tôi còn áp dụng các phương pháp thực nghiệm, điều tra, quan sát thực tế với mục đích làm sáng tỏ tính thực tiễn và khả năng ứng dụng của đề tài trong nhà
trường phổ thông hiện nay một cách thiết thực
o Quan điểm lịch sử: Có thể nói hiện nay website hỗ trợ dạy học địa lí chưa thật sự là một công cụ phổ biến khi GV tiến hành GDPTBV ở bậc phổ thông, song
nó đã được sử dụng từ nhiều năm qua và có nhiều ý kiến đánh giá mức độ khai thác cũng như hiệu quả sử dụng từ nhiều GV Sự đánh giá này có ý nghĩa rất lớn cho quá trình xây dựng một website phục vụ cho GDPTBV trong chương trình địa lí 11
o Quan điểm viễn cảnh: Đất nước ta đang trên đường phát triển, chất lượng cuộc sống ngày càng cao nên nhu cầu đổi mới giáo dục càng trở nên cấp bách Liệu trong thời
Trang 16gian tới đây nguồn tư dạy học trên Internet có được nhiều GV sử dụng như một nhu cầu tất yếu? Việc dự đoán khả năng này cũng là một mục tiêu mà luận văn cần đạt được
o Quan điểm lãnh thổ: Trong thực tế, các sự vật, hiện tượng luôn có sự phân hoá trong không gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Việc khai thác và sử dụng website cho GDPTBV cũng vậy, nó tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng nơi như điều kiện cơ sở vật chất, năng lực của GV, xu hướng chung trong công tác giảng dạy của tập thể GV của trường (hay lãnh thổ) đó… Nhằm tiếp cận với đối tượng nghiên cứu tương đối đầy đủ các mặt nên tôi chỉ giới hạn nghiên cứu đề tài ở phạm vi là các trường THPT thuộc cụm thành phố Long Xuyên Tuy nhiên, do hệ thống giáo dục của nước ta có nhiều điểm chung nên chúng tôi hi vọng những gì mình làm được hôm nay sẽ có những đóng góp nhất định cho quá trình GDPTBV ở các trường THPT nói chung
2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên những quan điểm của phương pháp luận, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài theo các phương pháp cụ thể sau đây:
- Phương pháp lí thuyết: Chúng tôi đã thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
từ nhiều nguồn như sách, giáo trình của các trường đại học, tạp chí giáo dục, tư liệu
từ các cuộc hội thảo, các website… Từ các nguồn tài liệu này, chúng tôi đã chọn lọc và kế thừa những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhằm phản ánh trung thực thực trạng của việc xây dựng, sử dụng website vào GDPTBV ở môn địa lí 11 và có được thông tin của độc giả về nhu cầu xây dựng một website chuyên biệt cho vấn đề này, chúng tôi cũng đã sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu thực tiễn Cụ thể là:
Phương pháp quan sát: Chúng tôi đã dự giờ nhiều tiết dạy trên lớp của GV phổ thông kết hợp với tham quan trường lớp của các trường thuộc phạm vi nghiên cứu Việc quan sát này đã cho biết nhiều thông tin về phương pháp dạy học của GV
và thực trạng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy của các trường phổ thông trong cụm
Phương pháp điều tra: Điều tra qua bảng hỏi kết hợp phỏng vấn trực tiếp
GV địa lí thuộc cụm thành phố Long Xuyên, sinh viên năm cuối của trường đại học
Trang 17An Giang đã từng dạy địa lí lớp 11 Phương pháp điều tra được thực hiện nhằm lấy
ý kiến của GV và sinh viên về tình hình sử dụng các website phục vụ cho GDPTBV trong nhà trường phổ thông hiện nay Chúng tôi đã tiếp thu được những ý kiến của độc giả và có được nhiều ý tưởng mới cho website của mình
Thực nghiệm sư phạm: Sau khi hoàn thành, webiste được đưa vào hoạt động online và được các GV đang dạy học địa lí 11 của thành phố Long Xuyên đánh giá Sự kết hợp giữa phương pháp thực nghiệm sư phạm và phương pháp điều tra sau khi website đã hoàn thành giúp chúng tôi nhận rõ khả năng ứng dụng sản phẩm trong thực tế dạy học, kịp thời chỉnh sửa, bổ sung thông tin làm cho website được hoàn thiện hơn
VI HƯỚNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài có hai hướng đóng góp chủ yếu sau:
- Xây dựng một website là công cụ để tiến hành GDPTBV trong dạy học địa lí lớp 11 phổ thông
- Hướng dẫn sử dụng website đã xây dựng để tiến hành GDPTBV
VII CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn được cấu trúc thành ba phần như sau:
Phần mở đầu: Đề cập đến lí do chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ, giới hạn, lịch
sử nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và hướng đóng góp của đề tài
Phần nội dung gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Xây dựng và sử dụng website phục vụ giáo dục vì sự phát triển bền
vững trong dạy học địa lí 11 THPT
Chương 3: Thực nghiệm
Ngoài ba chương chính nêu trên, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo được trình bày ở phần cuối của luận văn
Trang 18PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
I ĐỔI MỚI TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1 Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học địa lí
1.1 Yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới
Đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là con người, nguồn lực được phát triển cả về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Sự nghiệp này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trước hết là phải bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đào tạo như là xác định những gì cần đạt được (đối với người học) sau một quá trình đào tạo Đó chính là hệ thống phẩm chất
và năng lực được hình thành trên nền tảng kiến thức, kĩ năng đầy đủ và chắc chắn
Sự phát triển mạnh mẽ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ hiện đại đòi hỏi chương trình, SGK phải luôn được xem xét, điều chỉnh và đổi mới Bên cạnh việc trang bị kiến thức, nhà trường phổ thông phải coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới kiến thức của loài người, trên cơ sở đó mà tiếp tục học tập suốt đời Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải
có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng, các hiện tượng mới một cách thông minh khi gặp
Trang 19trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người Chỉ trong điều kiện như vậy thì học vấn được hình thành và phát triển trong nhà trường mới có khả năng góp phần quan trọng để phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của HS; cung cấp cho HS những kĩ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này
Để đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi trên của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, … thì việc đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học là hết sức quan trọng
1.2 Thực trạng dạy học địa lí ở trường trung học phổ thông
Việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí bắt đầu được thực hiện từ những năm 1990 song song với việc đổi mới mục tiêu, chương trình, SGK địa lí THPT Qua gần 20 thực hiện đổi mới giáo dục, bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế do quá trình đổi mới phương pháp dạy học chuyển biến chậm chạp và chưa thể đáp ứng được mục tiêu của đổi mới giáo dục Có thể khái quát bức tranh chung về tình hình dạy học địa lí ở nhà trường phổ thông hiện nay
như sau (theo Nguyễn Đức Vũ, Phạm Thị Sen (2004), Đổi mới phương pháp dạy
học địa lí ở Trung học phổ thông, Nxb Giáo Dục):
- Còn có nhiều GV vẫn chưa thật sự thấu hiểu tính cấp thiết, tầm quan trọng, bản chất, phương hướng và cách thức đổi mới phương pháp dạy học địa lí Nói chung, sự hiểu biết về cơ sở lí luận cũng như thực tiễn của đổi mới phương pháp dạy học của nhiều GV còn chưa sâu sắc
- Vẫn còn một bộ phận GV xem việc giảng dạy địa lí là quá trình truyền thụ kiến thức nên phổ biến trong cách dạy học vẫn là thuyết trình, hỏi đáp Trong điều kiện những bài học mang nặng tính thông báo, liệt kê kiến thức thì tính tích cực của
HS ít được chú ý và thậm chí bị “bỏ quên” Trong một số giờ học, vai trò của người thầy nổi trội, song người thầy đã không kiểm soát được hết khả năng, mức độ nhận thức cũng như thái độ học tập của học trò mình HS ít có được cơ hội xây dựng bài hay bày tỏ năng lực thật sự của mình và vì vậy khả năng làm chủ kiến thức, làm chủ quá trình học tập của các em bị hạn chế rất nhiều
Trang 20- Việc tạo động cơ, gây hứng thú cho HS và thực hiện các hình thức khen thưởng động viên khác nhau đã không được GV quan tâm một cách thích đáng Trong một số lớp, HS yếu kém được giao những bài tập như các HS khá giỏi, bài tập khó đến mức các em không giành được thành công thật sự Một số em hiếm khi hoặc không bao giờ được khen thưởng hay động viên gì cả Bài kiểm tra ít khi được chấm ngay và kiến thức được dạy trong nhiều tháng mà ít khi được nhắc lại Do đó,
HS thường có tâm trạng buông xuôi
- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu Dạy theo lớp là chủ yếu (mỗi lớp thường là 40 – 50 HS) Các hình thức dạy học cá nhân, nhóm, ngoài trời ít được thực hiện hoặc thực hiện chưa hiệu quả Hơn nữa, cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ
Nhìn chung, mặc dù đã tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, giờ học địa lí vẫn chưa mang lại nhiều hứng thú cho HS Các em tỏ ra không quan tâm nhiều đến môn học, ít chịu trách nhiệm về việc học của bản thân mình và trở nên thụ động Nhiều HS còn cho rằng môn địa lí là môn học thuộc lòng chứ không cần đến tư duy
Có thể nói, cách dạy và học địa lí như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng dạy học, hạn chế việc phát triển trí tuệ của HS và biến việc dạy và học địa lí trở thành gánh nặng của thầy lẫn trò Vì vậy, tiếp tục đổi mới có hiệu quả các phương pháp dạy học địa lí đang nổi lên như một trong những vấn đề quan trọng nhất mà cải cách giáo dục bộ môn địa lí ở trường phổ thông phải tiếp tục quan tâm giải quyết
2 Những tiền đề cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí trung học phổ thông
2.1 Cơ sở pháp lí của đổi mới phương pháp dạy học
Việc đổi mới toàn diện giáo dục, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định trong những văn bản của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo
Trang 21của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, nhất là sinh viên đại học”
Khoản 1 Điều 27, Luật Giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản; phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Khoản 2 Điều 28 Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
2.2 Đổi mới chương trình và sách giáo khoa
Môn địa lí ở trường THPT hiện nay có trách nhiệm góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS, đồng thời tạo điều kiện cho HS có thể tiếp tục học lên các bậc học cao hơn nữa Mục tiêu hàng đầu của dạy học địa lí ở THPT là củng cố, phát triển tiếp tục bốn năng lực chủ yếu của HS đã hình thành ở cấp trung học cơ sở nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các năng lực đó là:
- Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng, phẩm chất đã được hình thành trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp
- Năng lực hợp tác, phối hợp hành động trong học tập và trong đời sống
- Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống
- Năng lực tự khẳng định bản thân
Trang 22Như vậy, nếu như trước đây mục tiêu chính của môn địa lí đặt nặng vào việc cung cấp cho HS các kiến thức địa lí khoa học, có hệ thống thì trong chương trình đổi mới, mục tiêu của môn địa lí hiện nay chú trọng vào việc hình thành và rèn luyện cho HS các năng lực cần thiết của người lao động mới
Để đạt được mục tiêu trên, chương trình địa lí THPT mới đã được thiết kế và xây dựng theo các yêu cầu sau:
- Xuất phát từ mục tiêu cấp học
- Đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong việc hoàn thành, phát triển học vấn phổ thông
- Tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam
- Đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hoá
- Góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
- Tiếp tục coi trọng vai trò của phương tiện dạy học
- Đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS
- Chú ý tới các vấn đề của địa phương
So với chương trình cũ, nội dung chương trình địa lí ở nhà trường phổ thông mới là rất chú trọng tới việc hình thành năng lực cho người học, đổi mới cách dạy
và cách học Điều đó thể hiện trong quan điểm lựa chọn các vấn đề, tăng số tiết dành cho hoạt động thực hành, có định hướng rõ về đổi mới phương pháp dạy học
và kiểm tra đánh giá… Bên cạnh chương trình bắt buộc còn có chương trình tự chọn nhằm đáp ứng khả năng và nhu cầu của HS Tất cả những thay đổi đó đều tạo điều kiện cho việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở nhà trường THPT
SGK là tài liệu thể hiện chương trình và là sự cụ thể hóa những quy định của chương trình về mục tiêu môn học, về phạm vi, số lượng và mức độ của các đơn vị nội dung SGK địa lí mới được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để GV tổ chức cho HS học tập một cách tự giác, tích cực, độc lập Bên cạnh việc cung cấp kiến thức, SGK còn chú trọng thể hiện quá trình dẫn đến kiến thức, cách thức làm việc, các hình thức làm việc, các hình thức hoạt động để tự khám phá, lĩnh hội kiến thức
Trang 23đó Nội dung bài viết được biên soạn theo tinh thần vừa cung cấp thông tin vừa tạo nên nhiều tình huống để GV có thể tổ chức, hướng dẫn HS học tập, tạo điều kiện cho HS vừa tiếp nhận kiến thức vừa rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy Nhiều nội dung của các bài không được trình bày một cách trọn vẹn mà có những phần để trống (dưới hình thức câu hỏi giữa bài), dành cho sự tham gia bổ sung trực tiếp của
HS thông qua các hoạt động học tập đa dạng dưới sự hướng dẫn của GV Đó là những tiền đề tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học
Tóm lại, việc đổi mới nội dung và cách thể hiện nội dung của sách gáo khoa địa lí mới không những đòi hỏi GV phải đổi mới phương pháp dạy học mà còn góp phần để họ thực hiện thành công quá trình đổi mới này
2.3 Nhận thức của giáo viên
Hầu hết GV địa lí đều hiểu được cùng với sự đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và SGK thì việc đổi mới phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất đến việc nâng cao chất lượng dạy học địa lí Một khi chương trình và SGK đã đổi mới thì việc đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu
Trong những năm gần đây, công tác bồi dưỡng thường xuyên cho GV đã góp phần quan trọng tạo nên những thay đổi trong nhận thức của GV về đổi mới phương pháp dạy học Ngoài việc nâng cao nhận thức và trình độ lí luận dạy học cho GV, chương trình bồi dưỡng thường xuyên còn tăng cường năng lực thực thi các phương pháp dạy học tiên tiến và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại cho GV trong thực tiễn dạy học địa lí ở trường THPT
2.4 Đặc điểm tâm sinh lí học sinh
Những kết quả nghiên cứu tâm – sinh lí của HS và điều tra xã hội học gần đây trên thế giới cũng như trong nước cho thấy thanh thiếu niên có những thay đổi trong
sự phát triển tâm – sinh lí Trong bối cảnh phương tiện thông tin và truyền thông phát triển mạnh, hội nhập, giao lưu quốc tế không ngừng mở rộng, HS - đặc biệt là
HS bậc trung học - được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú,
Trang 24nhiều mặt về cuộc sống và xã hội, có hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn
so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đây mấy chục năm
Do khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá ngày càng được phát triển, HS THPT không thích và không muốn chấp nhận một cách đơn giản những áp đặt của GV Các em thích được tranh luận, bày tỏ những ý kiến riêng biệt của cá nhân mình về những vấn đề lí thuyết và thực tiễn Đây là một thuận lợi trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học địa lí
2.5 Cơ sở vật chất - kĩ thuật phục vụ cho việc dạy học địa lí được tăng cường
So với trước đây, hiện nay cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho việc dạy học địa
lí đã có những chuyển biến tích cực, cụ thể là:
Trong các giờ học địa lí, hầu hết HS trong một lớp đều có SGK Hệ thống bản
đồ giáo khoa treo tường được phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng Một số tập bản đồ và Atlas địa lí đã được xuất bản Ngoài SGK, sách GV, nhiều loại sách tham khảo cho GV và HS cũng được biên soạn Một số băng hình phục vụ bồi dưỡng GV và phục vụ dạy học địa lí đã được xây dựng Các thiết bị kĩ thuật hiện đại dùng trong dạy học địa lí được sử dụng ngày càng rộng rãi hơn
3 Mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí
Đổi mới phương pháp dạy học địa lí trước hết thể hiện ở sự đổi mới phong cách dạy của thầy và cách học của trò Cách dạy học lấy thầy làm trung tâm với đặc trưng là thầy phát thông tin, trò tiếp nhận thông tin hoặc đơn giản hơn là thầy đọc trò chép đã không còn phù hợp nữa Khi mà người thầy chỉ quan tâm đến việc nhồi nhét kiến thức và không hề quan tâm đến nhu cầu, hứng thú của HS; người HS không có trách nhiệm đến việc học tập của chính mình thì không thể nói đến thành công của việc dạy và học Phong cách dạy học mới thể hiện ở những đặc trưng hết sức quan trọng như: người thầy thiết kế các tình huống để HS tự khai thác, tự chiếm lĩnh và kiến tạo kiến thức, tạo ra các cơ hội để người HS có thể suy nghĩ nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn và có trách nhiệm nhiều hơn đối với việc học tập của mình
Trang 25Mục tiêu tối cao của sự đổi mới phương pháp dạy học là nâng cao chất lượng
và hiệu quả của việc dạy học địa lí ở trường phổ thông Điều này còn có nghĩa là sự thay đổi phong cách dạy học phải dẫn đến kết quả là HS tiếp thu nội dung bài học tốt hơn, nắm vững kiến thức địa lí hơn, các kĩ năng thực hành và trí tuệ được hình thành và phát triển tốt hơn, các phẩm chất, các giá trị quan trọng của người HS hiện đại được hình thành, củng cố và phát triển một cách mạnh mẽ hơn
Giá trị của việc đổi mới phương pháp dạy học là ở chỗ nó tạo ra quá trình dạy học địa lí một hiệu quả cao hơn so với dạy học theo kiểu cũ Chúng ta cần đổi mới quá trình dạy học địa lí ngay trong điều kiện có và với những đầu tư chi phí về nhân lực và vật lực phù hợp với thực tế hiện nay Tư tưởng cho rằng phải đầu tư đủ các phương tiện dạy học hiện đại thì mới có thể đổi mới phương pháp dạy học là không phù hợp và làm cản trở sự phát triển của quá trình đổi mới Sự đổi mới cần được bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức của người GV địa lí
4 Bản chất, định hướng cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học
Lí luận dạy học địa lí hiện đại đã khẳng định con người phát triển trong hoạt động và bằng hoạt động Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học địa lí thực chất là quá trình phát huy mạnh mẽ các hoạt động tích cực, tự giác, sáng tạo của HS theo hướng tăng cường hoạt động độc lập và các hoạt động tương tác của HS Việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí chỉ thành công nếu chúng ta đẩy mạnh quá trình hiện đại hoá phương pháp dạy học địa lí, tức là tổ chức dạy học địa lí theo kiểu mới trên cơ sở tăng cường áp dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học địa lí hiện đại kết hợp với việc cải biến các phương pháp dạy học truyền thống theo những định hướng mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học, làm cho môn học địa lí có một vị trí xứng đáng trong hệ thống các môn học ở nhà trường phổ thông
Trong tác phẩm Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn địa
lí 10 – Nxb Hà Nội, các nhà lí luận dạy học cũng vạch ra những định hướng cơ bản
cho việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí như sau:
Trang 264.1 Tạo cho HS một vị thế mới và những tiền đề, những điều kiện thuận lợi
để hoạt động
- HS phải trở thành chủ thể hành động, tích cực, tự giác chủ động và sáng tạo trong hoạt động để kiến tạo kiến thức Người học cần phải thực sự hoạt động để đạt được không chỉ những tri thức và kĩ năng của bộ môn mà quan trọng hơn là tiếp thu được cách học, cách tự học
- Tạo ra và duy trì ở HS những động lực học tập mạnh mẽ, đó chính là động
cơ, hứng thú, niềm lạc quan của HS trong quá trình học tập Những nhân tố này chính là những động lực thúc đẩy mạnh mẽ HS tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo trong hoạt động độc lập hoặc hợp tác
- Phát triển ở HS khả năng tự đánh giá kết quả hoạt động để trên cơ sở đó bản thân HS có thể điều chỉnh các hoạt động của mình theo các mục tiêu đã định
4.2 Xác lập, khẳng định vai trò, chức năng mới của người thầy trong quá trình dạy học
- Người thầy phải là người tổ chức, chỉ đạo, điều khiển các hoạt động học tập
tự giác, chủ động và sáng tạo của HS Người thầy sẽ không còn là nguồn phát thông tin duy nhất, không phải là hoạt động chủ yếu ở trên lớp như trước đây mà sẽ là người tổ chức và điều khiển quá trình học tập của HS
- Với tư cách là người tổ chức, chỉ đạo, điều khiển quá trình học tập của HS, người thầy cần phải đảm nhiệm và thực hiện tốt các chức năng sau đây:
+ Thiết kế, tức là lập kế hoạch cho quá trình dạy học về cả mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học Người GV cần xuất phát từ mục đích và nội dung của bài học mà thiết kế ra những tình huống học tập thích hợp để
HS chiếm lĩnh nó thông qua hoạt động học tập tích cực, tự giác, sáng tạo theo hướng độc lập hoặc hợp tác, giao lưu
Trang 27+ Ủy thác, tức là thông qua đặt vấn đề nhận thức, tạo động cơ, hứng thú, người thầy biến ý đồ dạy của mình thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò và chuyển giao cho trò những tình huống để trò hoạt động và thích nghi
+ Điều khiển quá trình hoạt động học tập của HS trên cơ sở thực hiện một hệ thống mệnh lệnh, chỉ dẫn, trợ giúp, đánh giá (bao gồm cả sự động viên)
+ Thể chế hoá, tức là xác nhận, định vị kiến thức mới trong hệ thống tri thức
đã có, đồng nhất hoá kiến thức riêng lẻ của HS thành tri thức khoa học xã hội, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ
5 Đổi mới dạy học địa lí theo quan điểm GDPTBV
Theo bốn trụ cột trong triết lí dạy học ngày nay, quá trình dạy học phải hướng người học đến bốn vấn đề cơ bản: Học để biết, học để làm, học để tồn tại, học để cùng chung sống Do đó, trong quá trình đào tạo, nhà trường phải giúp cho người học đạt được những mục tiêu sau:
a Về kiến thức: HS hiểu biết và có khả năng để áp dụng các quan điểm và
khái niệm về GDPTBV
Hộp 1: Các khái niệm về GDPTBV Phát triển bền vững: Là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai
Phụ thuộc lẫn nhau: Mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố và các dạng
sống, bao gồm con người và hệ thống tự nhiên
Nhu cầu cơ bản của con người: Quyền con người, xã hội công bằng, bình đẳng trong
việc tiếp cận đối với dòng năng lượng và vật chất cho sự tồn tại và thỏa mãn chất lượng cuộc sống trong giới hạn của trái đất
Quyền con người: Quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn luận, hòa bình và sự
liên kết, đảm bảo để tham gia dân chủ đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người
Dân chủ: Quyền tiếp cận các kênh cho việc ra quyết định của cộng đồng
Kết nối địa phương và toàn cầu: Con người nhận ra rằng việc tiêu thụ sản phẩm hoặc
dịch vụ của một phần toàn cầu phụ thuộc vào dòng năng lượng và vật chất trong các phần
Trang 28khác của toàn cầu; điều này tạo ra các cơ hội tiềm năng và thiệt hại kinh tế, xã hội và môi trưởng tất cả các điểm trong chuỗi xích địa phương – toàn cầu
Đa dạng sinh học: Sự thay đổi khác nhau và các thành phần phụ thuộc lẫn nhau của
tất cả dạng sống trong hệ sinh thái cần thiết cho sự chống đỡ các dòng năng lượng và vật chất không giới hạn
Bình đẳng giữa các loài vật: Sự nhìn nhận về nhu cầu của nhân loại đối với việc đối
xử tử tế các loài vật và bảo vệ chúng, tránh những hành động gây tuyệt chủng giống loài
Dấu chân sinh thái: Đưa ra các mức tiêu thụ và lượng chất thải của một cá nhân,
nhóm dân cư hay tổ chức Nó được đo đạc theo diện tích đất và nước phát sinh sinh học cần để sản xuất ra lượng hàng hóa được tiêu thụ và để phân hủy lượng chất thải được sinh
ra trong một năm
(Theo Nguyễn Thị Thu Hằng, Trần Đức Tuấn, giáo trình Giáo dục vì sự phát triển bền
vững, đại học Sư Phạm Hà Nội)
b Về kĩ năng: Người học phải đạt được những kĩ năng cơ bản sau đây:
Suy nghĩ phê phán và sáng tạo;
Nói và giao tiếp;
Cộng tác và hợp tác;
Ra quyết định, giải quyết vấn đề và lập kế hoạch;
Sử dụng công nghệ thích hợp, truyền thông và ICT;
Tham gia và hoạt động nghĩa vụ công dân;
Đánh giá và phản hồi
c Về thái độ và hành vi: Để góp phần xây dựng một xã hội PTBV, con người
phải hình thành và phát triển những giá trị về PTBV:
Tôn trọng trái đất và cuộc sống với toàn bộ tính đa dạng của nó
Quan tâm đến cuộc sống cộng đồng – cả loài người và các loài sinh vật khác với sự hiểu biết và lòng yêu thương
Phát triển xã hội dân chủ, công bằng và hòa bình
Đảm bảo sự đa dạng của trái đất cho các thế hệ hiện tại và tương lai
Trang 29Quá trình dạy học cần được xây dựng hướng vào người học nhiều hơn, giảm
sự phụ thuộc vào giáo trình, SGK và quy chế thi cử Điều này làm cho chương trình giảng dạy ở trường học phù hợp và cũng góp phần giúp cho HS trở thành người tự điều khiển, tự học và tự đánh giá Ngoài ra, nhà trường không chỉ có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu học tập ở hiện tại mà còn phải tạo dựng nơi họ hứng thú, động cơ cũng như khả năng học và tự học đến suốt đời
6 Tăng cường ICT trong dạy học địa lí
Hiện nay, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang
nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục – đào tạo trên cơ sở ứng dụng công nghệ và truyền thông Ở nước ta, ngày 17-10-2000, Bộ chính trị đã ra chỉ thị
số 58-CT/TW về đẩy mạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục
và đào tạo ở các cấp học, bậc học và ngành học Chỉ thị đã nhấn mạnh đến việc tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục đào tạo, kết nối Internet tới tất
cả các cơ sở giáo dục và đào tạo, phát triển đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu của toàn xã hội
Sử dụng ICT có thể góp phần không nhỏ vào quá trình đổi mới dạy học địa lí ở các khía cạnh sau:
6.1 Công nghệ phần mềm dạy học thúc đẩy đổi mới cách dạy, học và tăng cường khả năng phát triển trí tuệ của HS
Một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục và đào tạo là phát triển và rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo cho người học ICT với các phương tiện phong phú, đa dạng cho phép tạo ra các công cụ, phương pháp nghiên cứu, hỗ trợ quá trình
tư duy sáng tạo như khả năng xử lí văn bản, hình ảnh, âm thanh, truy cập thông tin Cùng với phương tiện truyền thông đa dạng, đa chức năng, đa phương tiện, các thể hiện trực quan, các khả năng mô phỏng cho phép thiết lập nhanh chóng các mô hình nghiên cứu Nhờ các phương tiện mới, các nhà giáo dục có thể tập trung nhiều hơn vào tiến trình tổ chức nghiên cứu khoa học qua các phương pháp thu thập, xử lí,
Trang 30phân tích thông tin tiên tiến trong một môi trường đầy đủ chất liệu thông tin và nhiều phương tiện hỗ trợ cho rèn luyện tư duy sáng tạo
6.2 Công nghệ đa phương tiện (multimedia), sách giáo khoa và thư viện điện tử đổi mới phương pháp tổ chức và phân phát thông tin tri thức
Khả năng xử lí hypertext, phép tích hợp các văn bản, hình ảnh động, phương tiện multimedia, thư tín điện tử,… đã góp phần đáng kể vào quá trình chuẩn bị và phân phát SGK Với khả năng trình diễn bằng giao tiếp tương tác, SGK điện tử đã trở thành công cụ hỗ trợ mạnh mẽ cho quá trình truyền thụ tri thức Khả năng phát triển của mạng máy tính và các ứng dụng phong phú của nó cho phép phát triển các thư viện điện tử, phát hành nhanh chóng SGK trên diện rộng với giá thành hợp lí nhất Khả năng truy cập thông tin nhanh nhất của SGK điện tử thông qua các phần mềm máy tính cho phép đưa vào SGK các tri thức mới, các thành tựu mới của khoa học kĩ thuật và công nghệ đến tay người học nhanh chóng Thư viện truyền thống sẽ trở thành thư viện điện tử với một khối lượng tri thức khổng lồ trải rộng trên phạm
vi toàn cầu và có thể truy cập vào bất cứ lúc nào SGK và thư viện điện tử đã góp phần rất quan trọng vào việc đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
6.3 Công nghệ mạng đổi mới phương thức tổ chức dạy và học
Nhờ xa lộ thông tin và kĩ thuật truyền thông tiên tiến, lớp học không còn bị lệ thuộc vào yếu tố không gian nên sự liên lạc giữa thầy và trò, giữa gia đình và học đường trở nên thường xuyên hơn Lớp học sẽ dành nhiều thời gian cho nghiên cứu thông tin do xa lộ thông tin mang lại và quy trình dạy học sẽ tập trung vào việc tổ chức quy trình sáng tạo nhiều hơn
Công nghệ thông tin với khả năng diệu kì của truyền thông dữ liệu cho phép công nghiệp hóa quá trình chuẩn bị bài giảng Quá trình dùng chung các tài liệu quý giá do các nhà khoa học và nhà giáo dục hàng đầu cung cấp sẽ giúp đỡ người học các cơ hội tiếp xúc với các nguồn tri thức uyên thâm mà trong các phương pháp truyền thống không thể nào thực hiện được Việc sử dụng mạng máy tính và các
Trang 31phương tiện xử lí, phân tích thông tin tiên tiến cho phép đánh giá chất lượng bài giảng, tìm câu trả lời cho các câu hỏi phức tạp, từ đó góp phần tích cực vào việc thay đổi nội dung và phương pháp giảng dạy Qua xa lộ thông tin, thầy giáo dễ dàng phát hành các bài tập, theo dõi quá trình chuẩn bị bài ở nhà của người học và đánh giá đúng khả năng của từng người học để đề xuất từng kế hoạch và từng chương trình học thích hợp Nhờ các mạng thông tin, sự giao lưu giữa gia đình và học đường sẽ trở nên hết sức nhanh chóng Các bậc phụ huynh có thể truy cập thông tin học tập của con mình và có thể bàn bạc với các nhà giáo dục qua mạng máy tính Nhà trường và gia đình trở thành một trường học rộng lớn, nơi mà các thầy cô, các bậc phụ huynh đều có thể tham gia vào quá trình giáo dục HS
II GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: TRIẾT LÍ VÀ CÔNG CỤ ĐỔI MỚI DẠY HỌC ĐỊA LÍ
1 Quan niệm, đặc trƣng và vai trò của GDPTBV
1.1 Quan niệm về GDPTBV
Trong bài viết Những điều kiện cơ bản để thực hiện thành công giáo dục vì sự
phát triển bền vững ở Việt Nam, tạp chí khoa học số 3/2008, PGS.TS Trần Đức Tuấn đã đưa ra quan niệm về GDPTBV như sau:
“GDPTBV là quá trình đổi mới và hiện đại hoá giáo dục theo những định hướng của sự phát triển bền vững nhằm tạo ra nhiều cơ hội bình đẳng cho các cá nhân, cộng đồng có hoàn cảnh khác nhau hình thành và phát triển những phong cách sống bền vững, những năng lực hành động cần thiết để kiến tạo các quá trình phát triển bền vững và môi trường sống bền vững trong các không gian lãnh thổ khác nhau”
Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về GDPTBV Tuy nhiên, theo tác giả thì khi đưa ra định nghĩa, những đặc tính bản chất của GDPTBV dưới đây cần được biểu đạt:
Trang 32
GDPTBV
Đổi mới và hiện đại hoá giáo dục theo những định hướng của sự PTBV
Phát triển các năng lực của người học:
- Năng lực kiến tạo cuộc sống một cách bền vững,
- Năng lực xây dựng, phát triển các quá trình và không gian bền vững
=
- GDPTBV về bản chất là một trào lưu giáo dục hiện đại mà cốt lõi của nó là quá trình đổi mới và hiện đại hóa giáo dục theo những định hướng của sự phát triển bền vững nhằm biến giáo dục trở thành một công cụ chủ chốt của GDPTBV
- GDPTBV có nhiệm vụ trọng yếu là tạo ra những cơ hội bình đẳng cho mọi người hình thành và phát triển các năng lực, cách sống bền vững của mình
- GDPTBV còn thực hiện một trọng trách khác nữa là khuyến khích, thúc đẩy việc tạo lập một mạng lưới rộng khắp ở các không gian lãnh thổ khác nhau nhằm liên kết những con người có mong muốn và năng lực phát triển bền vững tham gia tích cực vào việc xây dựng và phát triển không ngừng phạm vi không gian của các loại môi trường (sinh thái, kinh tế, xã hội) phát triển bền vững
Hình 1 Quan niệm về GDPTBV
Tác giả cũng nhận định rằng khái niệm bền vững luôn luôn tiến triển và thay đổi khi xã hội thay đổi và khi đó nhận thức cũng như quan niệm của chúng ta về trái đất, tính nhân văn, sự tương tác giữa con người và môi trường cũng thay đổi Như vậy, định nghĩa về GDPTBV và cách thức thực hiện nó có thể có hiệu quả ở nơi này nhưng lại không có hiệu quả hay không phù hợp ở những nơi khác trên thế giới
1.2 Đặc trưng cơ bản của GDPTBV
Với tư cách là một trào lưu cải cách giáo dục hiện đại theo những định hướng của sự phát triển bền vững, GDPTBV có những đặc trưng cơ bản sau đây (nguồn: Trần Đức Tuấn, Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ GDPTBV, http://cereprod.violet.vn/present/show/entry_id/2686837)
Trang 33- GDPTBV xuất phát và phấn đấu vì mục tiêu phát triển bền vững của cá nhân, cộng đồng và xã hội: Dựa trên những nguyên tắc và giá trị nền tảng của phát triển bền vững, chứa đựng bản chất tiên tiến của khái niệm bền vững
- GDPTBV là nền giáo dục cho và có ý nghĩa với tất cả mọi người: Đây là nền giáo dục mới, hiện đại, có chất lượng và đa dạng về các loại hình nhằm khuyến khích việc học tập suốt đời GDPTBV sử dụng đa dạng các phương pháp sư phạm như lời nói, nghệ thuật, kịch, tranh luận, kinh nghiệm … nhằm khuyến khích việc học tập có sự tham gia tích cực, suy nghĩ có phê phán, giải quyết vấn đề… của người học
- GDPTBV là nền giáo dục hiện đại có tính liên môn, liên ngành: GDPTBV quan tâm và thúc đẩy sự phát triển cả ba lĩnh vực của sự bền vững là môi trường, xã hội và kinh tế
- GDPTBV là giáo dục hiện đại theo đuổi mục tiêu xây dựng và phát triển các năng lực phát triển bền vững cho các cá nhân và các cộng đồng nhằm tạo điều kiện cho công dân trong việc đưa ra các quyết định dựa trên cộng đồng, sự khoan dung
xã hội, việc cai quản môi trường, lực lượng lao động có khả năng thích ứng và chất lượng cuộc sống
- GDPTBV liên kết chặt chẽ, phù hợp môi trường và văn hoá địa phương: GDPTBV dựa trên những nhu cầu, nhận thức và điều kiện của địa phương, ưu tiên giải quyết các vấn đề địa phương trong bối cảnh chung, cục diện toàn cầu
Trang 34Tôn trọng và quan tâm tới môi trường sống đa dạng của con người và thiên nhiên, trong đó không tách rời việc khôi phục và bảo tồn hệ sinh thái của trái đất
Tôn trọng tính đa dạng của văn hoá, cam kết xây dựng một nền văn hoá hoà bình, không bạo lực và khoan dung ngay tại mỗi địa phương và trên toàn cầu
Giáo dục giúp chúng ta hiểu mình và những người khác, liên kết của chúng ta với môi trường thiên nhiên và xã hội rộng lớn Sự hiểu biết này là cơ sở lâu bền cho
sự tôn trọng tự nhiên và con người xung quanh chúng ta
2 Mục đích, tầm nhìn của GDPTBV
Mục đích của GDPTBV là thay đổi hành vi con người tạo nên xã hội bền vững cho tất cả mọi người trên cơ sở kết nối hoạt động kinh tế, sinh thái và xã hội thông qua sự tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội với mục tiêu tích hợp các giá trị phát triển bền vững vào trong tất cả các lĩnh vực học tập Tầm nhìn của GDPTBV là một thế giới mà ở đó tất cả mọi người đều có cơ hội được hưởng lợi từ giáo dục, học tập các giá trị, hành vi và cách sống tiến tới một tương lai bền vững
Sự chuyển biến này thể hiện ở các mục tiêu:
- Nâng cao vai trò trung tâm của giáo dục và học tập trong bối cảnh chung của phát triển bền vững,
- Xây dựng mạng lưới và các liên kết, trao đổi giữa các bên tham gia trong GDPTBV,
- Nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập trong GDPTBV,
- Phát triển chiến lược củng cố tiềm năng GDPTBV ở tất cả các cấp
3 Nội dung và các lĩnh vực chủ yếu của GDPTBV
3.1 Nội dung cơ bản của GDPTBV
PTBV là một công việc phức tạp và có mối quan hệ với mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong quá trình lập kế hoạch và triển khai Thập kỉ Giáo dục vì sự phát triển bền vững (TKGDPTBV), điều quan trọng cần phải làm là duy trì những mối quan
Trang 35hệ này nhằm giúp cho con người thông qua quá trình học tập sẽ có nhiều cơ hội được ứng dụng những nguyên tắc PTBV vào cuộc sống của họ; đồng thời giúp họ hiểu được những tác động mà hành vi và thái độ của mình có thể gây ra 15 nội dung cơ bản được đề cập dưới đây và mối quan hệ giữa những nội dung này có nhiệm vụ thông tin cho chúng ta biết những chủ điểm chính của hoạt động giáo dục
và học tập vì sự phát triển bền vững Ngoài ra, 15 nội dung này còn đóng vai trò làm cơ sở xác định đối tượng tham gia và hưởng lợi trong quá trình triển khai TKGDPTBV
3.1.1 Các nội dung về văn hoá – xã hội
a Quyền con người: Tôn trọng các quyền của con người là một nhân tố tối cần
thiết cho PTBV GDPTBV phải trang bị cho con người ý thức được quyền đòi hỏi được sống trong một môi trường bền vững
b Hoà bình và an ninh: Sống trong môi trường hoà bình và an ninh là nhân tố
hết sức quan trọng đối với sự phát triển của con người GDPTBV hướng con người đến việc tìm kiếm và phát triển các giá trị, kĩ năng xây dựng hoà bình trong nhận thức của nhân loại như đã khắc ghi trong Hiến chương Liên Hợp Quốc
c Bình đẳng giới: Các vấn đề về bình đẳng giới luôn được lồng ghép vào các
quá trình lập kế hoạch giáo dục - từ lập kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cho đến phát triển tài liệu và các quá trình giảng dạy
d Đa dạng văn hoá và hiểu biết về giao thoa văn hoá: Kiến thức bản địa là
một kho tàng về tính đa dạng và là một nguồn hỗ trợ chủ yếu trong quá trình nhận thức về môi trường và trong cách thức sử dụng chúng sao cho có lợi nhất cho thế
hệ hôm nay và mai sau Đưa những kiến thức này vào quá trình học tập sẽ làm tăng mối liên hệ giữa nhà trường và cộng đồng
e Sức khoẻ: Các vấn đề liên quan đến sự phát triển, môi trường và sức khoẻ
có mối liên hệ mật thiết với nhau Những người dân khoẻ mạnh và một môi trường an toàn là những điều kiện tiên quyết của PTBV Môi trường học đường cũng phải lành mạnh và an toàn Nhà trường không chỉ đóng vai trò là các trung
Trang 36tâm học tập và giáo dục mà còn phải phối hợp với gia đình và cộng đồng tích cực
hỗ trợ cung cấp các dịch vụ, các hình thức giáo dục cần thiết về sức khoẻ
f HIV/AIDS: Đại dịch HIV/AIDS là mối đe dọa lớn của nhân loại Giáo dục
là một trong những cách góp phần thúc đẩy sự thay đổi về hành vi, tăng cường sự hợp tác của con người để cùng diệt trừ đại dịch này hiệu quả nhất
g Thể chế: Ở tất cả các cấp từ địa phương, quốc gia và quốc tế, PTBV sẽ
được thúc đẩy một cách tốt nhất tại những nơi có cơ cấu thể chế rõ ràng, minh bạch Một cơ cấu như vậy sẽ tạo cơ hội tốt nhất cho GDPTBV được đơm hoa kết trái xét trên khía cạnh có sự đóng góp và tham gia đầy đủ của mọi người dân vào quá trình phát triển các thước đo PTBV và các thể chế tốt
3.1.2 Các nội dung về môi trường
a Nguồn tài nguyên thiên nhiên: GDPTBV tiếp tục phát huy tầm quan trọng
của giáo dục môi trường trong việc đón đầu một chương trình PTBV có quy mô lớn Việc xem xét mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên thiên nhiên với các vấn đề kinh tế, xã hội sẽ giúp cho người học có thể áp dụng những phương pháp hữu hiệu trong bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới
b Biến đổi khí hậu: GDPTBV giúp cho người học nhận thức được rằng phải
có sự thống nhất toàn cầu và cần phải có những biện pháp mạnh nhằm giảm thiểu những nguy hại đối với bầu khí quyển, kiểm soát những tác động có hại của hiện tượng thay đổi khí hậu
c Phát triển nông thôn: Thất học, đói nghèo, mù chữ và bất bình đẳng giới
trong giáo dục có tỉ lệ rất cao tại các vùng nông thôn Sự mất cân đối giữa thành thị
và nông thôn về đầu tư cho giáo dục, về chất lượng dạy học đang ngày một lớn và cần được điều chỉnh Do đó, các hoạt động giáo dục phải hướng đến việc rèn luyện
kĩ năng nghề nghiệp và năng lực nắm bắt các cơ hội kinh tế, cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư nông thôn
Trang 37d Đô thị hoá bền vững: Đô thị hóa nhanh chóng là thách thức của nhiều quốc
gia hiện nay Hiện nay, có rất nhiều thành phố lớn phải đối mặt với những thách thức tiềm tàng của PTBV nhưng cũng có nhiều cơ hội đầy hứa hẹn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường ở địa phương, quốc gia và quốc tế Nắm bắt cơ hội, hạn chế những khó khăn để có được quá trình đô thị hóa bền vững
là một nội dung quan trọng của GDPTBV
e Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai: PTBV bị thách thức ở những nơi mà
cộng đồng dân cư đang phải gánh chịu hay bị đe dọa bởi thiên tai Giáo dục và kiến thức mà giáo dục mang lại cung cấp cho xã hội những chiến lược và phương pháp
tự cứu mình cũng như giảm thiểu rủi ro do thiên tai gây ra
3.1.3 Các nội dung về kinh tế
a Giảm nghèo: Xuất phát từ quan điểm PTBV, giảm nghèo là mối quan tâm
cơ bản của nhân tố kinh tế nhưng chúng phải được hiểu trong mối tương quan với các nhân tố khác đó là xã hội, môi trường và văn hoá Hay nói cách khác, các mối quan tâm thuộc phương diện kinh tế tuy là chìa khoá của PTBV nhưng lại là một nhân tố cấu thành hơn là một mục tiêu tổng quát
b Tinh thần và trách nhiệm tập thể: Phát triển quyền lực kinh tế và những ảnh
hưởng về mặt chính trị của các tập đoàn kinh tế lớn sẽ huỷ hoại những tác động và khả năng đóng góp vào sự PTBV Các vấn đề về thương mại đa phương đang có những ảnh hưởng to lớn đối với PTBV GDPTBV làm cho người học có khả năng nâng cao trách nhiệm công dân và tăng cường các hình thức hoạt động thương mại một cách có ý thức và trách nhiệm trước cộng đồng
c Kinh tế thị trường: Nền kinh tế thị trường toàn cầu hiện nay không góp phần
bảo vệ môi trường, gần một nửa dân số thế giới không được hưởng lợi từ nền kinh
tế này Một thách thức cơ bản hiện nay là làm thế nào để tạo ra các hệ thống thể chế toàn cầu sao cho vừa hiệu quả về kinh tế, vừa bảo vệ được môi trường mà vẫn đạt được mục tiêu bình đẳng Giáo dục là một phần của hệ thống kinh tế và chịu sự tác động của các quy luật cung - cầu, của các hạn mức thuế và các lực lượng kinh tế
Trang 38khác Để GDPTBV tìm thấy chỗ đứng của mình trong các hàng hoá giáo dục thì phải tác động đến các quy luật và chức năng hoạt động của thị trường
3.2 Các lĩnh vực chủ yếu của GDPTBV
GDPTBV lần đầu tiên được đưa ra trong chương 36 của Chương trình Nghị
sự 21, chương này đã xác định bốn mũi nhọn của GDPTBV đó là:
Thúc đẩy và cải tiến giáo dục cơ bản,
Định hướng lại chương trình giáo dục hiện thời để đón đầu PTBV,
Phát triển nhận thức và hiểu biết của cộng đồng,
Đào tạo
3.2.1 Thúc đẩy và cải tiến giáo dục cơ bản
Tiếp cận giáo dục cơ bản vẫn còn là một vấn đề khó khăn đối với nhiều người, đặc biệt là các em gái và người lớn thất học Nếu chỉ đơn giản là tăng cường khả năng biết đọc, viết và làm tính như nhiều nước đang thực hiện thì không thể tạo ra một xã hội phát triển bền vững Thay vào đó, giáo dục cơ bản phải tập trung vào việc truyền đạt kiến thức, kĩ năng, giá trị và các lĩnh vực khác nhằm khuyến khích và hỗ trợ công dân có được một cuộc sống bền vững
3.2.2 Định hướng lại chương trình giáo dục hiện thời ở tất cả các cấp, bậc học
để đón đầu phát triển bền vững
Thực hiện cải cách giáo dục từ mầm non đến đại học đòi hỏi phải dựa trên nhiều nguyên tắc, kĩ năng, phương diện hoạt động và các giá trị liên quan đến tính bền vững của ba chân kiềng: xã hội, môi trường và kinh tế Đây là một việc làm quan trọng đối với xã hội hiện nay và mai sau
3.2.3 Phát triển nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về bền vững
Để đạt được những tiến bộ hướng tới một xã hội bền vững hơn, đòi hỏi mỗi người dân phải nhận thức được các mục tiêu của một xã hội bền vững và phải có kiến thức và kĩ năng để góp phần vào quá trình thực hiện những mục tiêu đó Nâng
Trang 39cao nhận thức về quyền công dân và tiêu dùng hợp lý có thể giúp cộng đồng và chính phủ thực hiện được những biện pháp bền vững nhằm phát triển hơn và hướng tới một xã hội bền vững hơn
3.2.4 Đào tạo
Tất cả các ban ngành đều có thể đóng góp vào sự PTBV ở địa phương, vùng
và quốc gia Việc xây dựng những chương trình đào tạo chuyên môn phải làm sao
để đảm bảo tất cả các lực lượng lao động trong xã hội đều có kiến thức và kĩ năng cần thiết để thực hiện công việc của mình theo cách thức bền vững như đã được xác định là một nhân tố tích cực của GDPTBV
4 Các thực thể và phương pháp GDPTBV
4.1 Các thực thể của GDPTBV
GDPTBV dành cho mọi người ở mọi lứa tuổi Do đó, nó diễn ra trên bình diện học tập suốt đời, ở tất cả những nơi có thể diễn ra quá trình học tập, từ giáo dục chính quy đến giáo dục không chính quy, từ lứa tuổi mầm non cho đến lứa tuổi trưởng thành
Những bộ phận khác nhau của cùng một hệ thống giáo dục có thể thực hiện những chức năng liên quan đến GDPTBV khác nhau nhưng mục đích thì giống nhau, đó là làm cho người học có khả năng ứng dụng những kinh nghiệm và hành vi thúc đẩy sự phát triển bền vững của cả cá nhân và tập thể
Quan điểm học tập suốt đời nhìn nhận môi trường học tập chính quy và không chính quy là một quá trình liên tục Như vậy, các thực thể của GDPTBV có thể được kể đến và xếp vào hai nhóm sau:
4.1.1 Giáo dục chính quy
Áp lực về thời gian cộng với những mục tiêu và công việc khác sẽ hạn chế việc thực hiện các sáng kiến GDPTBV, một nội dung thường được xem là một phần riêng biệt và phát sinh thêm trong chương trình chuẩn GDPTBV không nên coi là một “môn học phát sinh” được đưa thêm vào chương trình vốn đã quá tải mà là một
Trang 40phương pháp tiếp cận lồng ghép và tổng thể, trong đó PTBV được xem là bối cảnh cho các mục đích giáo dục hiện thời chứ không phải là một ưu tiên cạnh tranh với các ưu tiên khác Biến GDPTBV trở thành một sợi chỉ xuyên suốt quá trình học tập của người học trong cả hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học sẽ thúc đẩy tối đa tác động của nó
GDPTBV có thể được tiến hành ở trường học từ cấp học mầm non cho đến đại học với tất cả ngành nghề, ở trường dạy nghề và kĩ thuật, ở cơ quan cố vấn - thanh tra giáo dục và ở các cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách
4.1.2 Giáo dục không chính quy
Giáo dục không chính quy hiện nay gồm giáo dục cho người lớn, giáo dục tại cộng đồng và giáo dục từ xa cũng như một số sáng kiến giáo dục khác Xét trên bình diện mối liên hệ đa dạng giữa PTBV và các phương tiện học tập, GDPTBV có thể tìm thấy chỗ đứng của mình trong chương trình giáo dục thường xuyên, từ các môn xã hội học cho đến dạy nghề GDPTBV có thể được thực hiện thông qua hình thức giáo dục không chính quy như các cơ sở đào tạo nghề và kĩ thuật, các tổ chức dựa vào cộng đồng, các tổ chức xã hội địa phương và nơi làm việc
4.2 Các phương pháp tổ chức GDPTBV trong quá trình dạy học
Với sự đa dạng về nội dung, lĩnh vực hoạt động và hình thức thể hiện, GDPTBV cũng phong phú về phương pháp thực hiện
4.2.1 Phương pháp tổ chức GDPTBV trong các giờ học trên lớp
Trong các giờ học trên lớp, GV có thể sử dụng những phương pháp sau đây để tiến hành GDPTBV:
a Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một phương pháp tổ chức cho người học cùng nhau trao đổi, tranh luận về một chủ đề nào đó nhằm giúp cho họ đạt được sự hiểu biết chung
và có được thái độ phù hợp với những vấn đề đó