1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị

126 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua ở lưu vực sông Thạch Hãn đã có một và nghiên cứu về nguồn lợi cá như: Nguyễn Trường Khoa và Võ Văn Phú 2000 bước đầu nghiên cứu thành phần loài cá lưu vực này đã công

Trang 1

-1-

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Lịch sử nghiên cứu cá ở Việt Nam 4

1.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội vùng nghiên cứu 8

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu 8

1.2.1.1 Vị trí địa lý 8

1.2.1.2 Đặc điểm địa hình 9

1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu 9

1.2.1.4 Đặc điểm thuỷ văn 10

1.2.2 Đặc điểm xã hội và nhân văn vùng nghiên cứu 10

1.2.2.1 Đặc điểm dân số 10

1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế 11

1.2.2.3 Về giáo dục - y tế 11

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Địa điểm nghiên cứu 12

2.2 Thời gian ngiên cứu 13

2.3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 13

2.3.1 Phương pháp thu và xử lý mẫu 13

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu hình thái phân loại 14

2.3.3 Phương pháp phân loại 15

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 15

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16

3.1 Thành phần loài cá lưu vực sông Thạch Hãn 16

3.2 Cấu trúc thành phần loài cá lưu vực sông Thạch Hãn 31

3.2.2 Nhận xét về cấu trúc taxon bậc giống 32

3.2.3 Nhận xét về cấu trúc taxon bậc loài 32

3.3 Khoá định loại và hình thái phân loại 33

3.3.1 Bộ cá đuối - Rajiformes 33

3.3.2 Bộ cá Thát lát - Osteoglosiformes 34

3.3.3 Bộ cá Chình - Anguilliformes 34

3.3.4 Bộ cá Trích - Clupeiformes 36

3.3.5 Bộ cá Đèn - Aulopiformes 39

3.3.6 Bộ cá Chép - Cypriniformes 39

Trang 2

-2-

3.3.7 Bộ cá Nheo - Siluriformes 62

3.3.8 Bộ cá Nhái - Beloniformes 65

3.3.9 Bộ cá Ngựa - Syngnathiformes 65

3.3.10 Bộ Mang liền - Synbranchiformes 65

3.3.11 Bộ cá Mù làn - Scorpaeniformes 66

3.3.12 Bộ cá Vược - Perciformes 68

3.3.13 Bộ cá Bơn - Pleuronectiformes 83

3.3.14 Bộ cá Nóc - Tetraodontiformes 84

3.4 Sự phân bố các loài cá trên lưu vực sông Thạch Hãn 86

3.4.1 Sự phân bố các loài theo thuỷ vực 86

3.4.2 Sự phân bố các loài theo các huyện 86

3.4.3 Sự phân bố theo các nhóm sinh thái nước 87

3.4.3.1 Nhóm cá nước ngọt điển hình ở VNC 87

3.4.3.2 Nhóm cá nước lợ ở VNC 87

3.4.3.3 Nhóm cá nước mặn ở VNC 87

3.4.3.4 Nhóm cá di cư ở VNC 87

3.5 Các loài cá quý hiếm và có giá trị kinh tế ở lưu vực sông Thạch Hãn 87

3.5.1 Các loài cá quí hiếm 87

3.5.2 Các loài cá có giá trị kinh tế 88

3.6 So sánh thành phân loài với các lưu vực lân cận 89

3.7 Nhận xét một số loài đang nghi vấn 89

3.7.1 Cá Lẹp - Thryssa cf hamiltonii 89

3.7.2 Cá Mương - Hemiculter sp 90

3.7.3 Cá Mại - Danio sp 90

3.7.4 Cá Chạch leo cây - Mastacembelus sp 91

3.7.5 Cá Chai - Platycephalus sp 91

3.7.6 Cá Chai - Elates sp 92

3.7.7 Cá Chai - Inegocia sp 92

3.7.8 Cá Chai - Onigocia sp 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 1 BẢNG THÀNH PHẦN LOÀI VNC NGHIÊN CỨU NĂM 2008 - 2010 101

PHỤLỤC 2 ẢNH SINH CẢNH CÁC ĐIỂM THU MẪU 114

PHỤ LỤC 3 ẢNH MỘT SỐ LOÀI CÁ Ở LƯU VỰC SÔNG THẠCH HÃN 116

Trang 3

-3-

MỞ ĐẦU

Quảng Trị là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ nằm ở toạ độ địa lý từ 16o18' đến

17o10' VĐB và 106o32' đến 107o24' KĐĐ Quảng Trị ở phía Nam tỉnh Quảng Bình

và phía Bắc Thừa Thiên - Huế; phía tây giáp nước CHDCND Lào với đường biên giới 206km, phía Đông là Biển Đông với đường bờ biển dài 75km

Thạch Hãn là sông lớn nhất của Quảng Trị, chảy qua nhiều vùng tự nhiên khác nhau, với diện tích lưu vực lớn ước khoảng 2660km2, dài 156km và chảy qua nhiều địa bàn dân cư khác nhau Mặt khác dọc hai bên lưu vực chủ yếu là người dân tốc thiểu số sinh sống Thực phẩm chủ yếu hàng ngày cho người dân nơi đây là nguồn lợi cá Trong thời gian qua ở lưu vực sông Thạch Hãn đã có một và nghiên cứu về nguồn lợi cá như: Nguyễn Trường Khoa và Võ Văn Phú (2000) bước đầu nghiên cứu thành phần loài cá lưu vực này đã công bố được 83 loài và Walter J

Rainboth (1996) có điều tra về loài Hypsibarbus annamensis ở vùng Đakrông Do

đó việc nghiên cứu đánh giá tổng thể lại nguồn lợi cá như: thành phần loài, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái học là việc làm cần và thiết thực cho lưu vực này Nhằm mục đích khai thác và sử dụng nguồn lợi cá một cách bền vững Bổ sung hoàn thiện danh lục cá nước ngọt đặc biệt các loài cá có giá trị kinh tế cung cấp thực phẩm hằng ngày cho người dân, các loài quí hiếm và những loài đặc sản phục vụ cho du lịch là cần thiết Hơn nữa làm tài liệu cho việc nghiên cứu phục vụ qui hoạch phát triển bền vững nghề cá sau này của các cấp chính quyền Trên cơ sở

đó chúng tôi chọn đề tài “Đa dạng sinh học cá lưu vực sông Thạch Hãn Quảng Trị” nhằm giải quyết các vấn đề sau:

- Xác định thành phần loài cá lưu vực sông Thạch Hãn

- Đặc điểm hình thái phân loại và xây dựng khoá định loại cho các loài phân bố ở lưu vực

- Xác định sự phân bố các loài theo lưu vực và ở các địa phương thuộc lưu vực

- Xác định thành phần loài cá có giá trị kinh tế, các loài cần được bảo vệ

Trang 4

số nước phát triển trên thế giới Điển hình có các nhà khoa học đầu ngành Về phân loại cá biển có: Nguyễn Nhật Thi, Bùi Đình Chung, Lê Trọng Phấn, Nguyễn khắc Hường Về Phân loại cá nước ngọt có Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực, Nguyễn Thái Tự, Võ Văn Phú, Nguyễn Văn Hảo, Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Huấn Theo Mai Đình Yên & cộng sự (1996) có thể chia sự phát triển của Ngư loại Việt Nam ra làm 3 thời kỳ sau [44]

* Thời kỳ Phong kiến (Thời kỳ trước những năm 1881): Thời kỳ này chủ yếu là

những hiểu biết lẻ tẻ về đời sống các loài cá, nghề nuôi, nghề khai thác cá cũng như ngành chế biến được ghi trong cuốn sử học và kinh tế học thời Phong kiến

* Thời kỳ Pháp (1881- 1954): Thời kỳ này chủ yếu là các nhà Ngư loại người

Pháp và một số nhà khoa học người Anh, Mỹ, Trung Quốc Điển hình là: H E Sauvage (1884), Đóng góp cho khu hệ cá Bắc Bộ, Nghiên cứu về khu hệ cá Châu Á

và mô tả một số loài mới ở Đông Dương Ông đã thống kê được 139 loài và 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam L Vallant (1891) thu thập 6 loài mô tả 4 loài mới ở Lai Châu, 5 loài mới ở sông Kỳ Cùng J Pellegrin (1905, 1906) Cá Nước ngọt Đông Dương, Cá Vịnh Hạ Long P Chabanaud (1924), A Gruvel (1925), nguồn lợi cá biển và cá nước ngọt H.W Fowler (1939), Về một sưu tập cá nước ngọt Sài Gòn

P Chevey (1930, 1932, 1935, 1936, 1937), Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam Ông và J Lemasson đã công bố 98 loài, 17 họ và rất nhiều công trình khoa học có tính chất hoàn chỉnh [44]

Tóm lại thời kỳ này, nghiên cứu Ngư loại chủ yếu là người nước ngoài (chưa

có các cán bộ Việt Nam), họ đã nghiên cứu khá nhiều về hình thái phân loại, khu hệ

cá của cả nước Tuy chưa nhiều, chưa đầy đủ song đó là nền tảng giúp cho các nhà Ngư loại học Việt Nam có những nghiên cứu tiếp

* Thời kỳ thứ ba (Từ 1954 đến nay): Từ khi hoà bình lập lại 1954 đến nay, các cán

bộ khoa học Việt Nam đã đảm đương nhiệm vụ nghiên cứu của mình và đã đưa Ngư loại học nước ta phát triển vượt bậc Các cơ quan chủ trì nghiên cứu

Về cá biển: Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng, Viện Nghiên cứu Biển Nha Trang; Viện nghiên cứu Biển Hải Phòng

Trang 5

-5-

Về cá Nước ngọt: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Viện nghiên cứu thủy sản II TP Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu thủy sản III Nha trang và các trường: ĐH Thủy sản Nha Trang, Khoa Thủy sản ĐH Cần Thơ, ĐH Sư phạm Hà Nội , ĐHKHTN, ĐHQG Hà Nội

Có thể tóm tắt những công trình nghiên cứu về Ngư loại trong những năm qua của các tác giả về các lĩnh vực nghiên cứu sau:

+ Cá Biển: Ba cơ quan chủ trì chính nghiên cứu phân loại cá Biển là: Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, Viện nghiên cứu Biển Hải Phòng, Viện nghiên cứu Biển Nha Trang Trong những năm qua đã tiến hành nghiên cứu vùng biển Việt Nam, đã phân loại được hơn 2000 loài Điển hình về lĩnh vực này có các tác giả: Lê Trọng Phấn, Bùi Đình Chung, Nguyễn Xuân Lộc, Phạm Thược, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Khắc Hường [10, 11, 35, 36, 44]

+ Cá nội địa: Từ ngày hoà bình lập lại 1954 ở miền Bắc, đặc biệt từ ngày

thống nhất cả nước 1975 đến nay, các nhà Ngư loại học nước ta kết hợp nghiên cứu với các nhà Ngư loại học nước ngoài đã tiến hành điều tra nghiên cứu phân loại cá ở

46 vực nước quan trọng và điển hình nằm rải rác khắp cả nước, đại bộ phận ở các sông chính, suối lớn, các hồ chứa: lớn, vừa, nhỏ và hồ tự nhiên, các vùng cửa sông,

ao, đầm và đập nước Theo số liệu của Nguyễn văn Hảo (2005) thành phần loài cá nội địa nước ta hiện này gồm có 1027 loài và phân loài thuộc 427 giống, của 98 họ

và 22 bộ [8, 9]

Tóm lại công trình nghiên cứu về ngư loại và nguồn lợi thời kỳ từ 1975 đến

1996 được Bộ Thuỷ sản tổng kết trong tập sách Nguồn lợi thuỷ sản Việt Năm 1996 Tuy chưa hoàn chỉnh nhưng tập sách có rất giá trị mở ra những hướng đi đúng đắn

và ghi lại công trình khoa học cho muôn đời sau, đánh dấu một mốc son của lịch sử ngư loại học Việt Nam

Riêng về phần cá nước ngọt ở nước ta có thể chia thành 2 giai đoạn

- Giai đoạn 1 (từ năm 1955 đến 1975) Ở miền Bắc: Các nhà khoa học đã tiến hành

điều tra nghiên cứu ở hầu hết các vùng sinh thái như Đông Bắc, Tây Bắc và Khu Bốn cũ ở tất cả các loại hình thủy vực sông, suối, hồ chứa, hồ tự nhiên, đầm, ao, ruộng Điển hình có các tác giả và các công trình đã nghiên cứu:

Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958, 1959), Dẫn liệu sơ bộ sông Bôi, Ngòi Thia Đặng Ngọc Thanh và Mai Đình Yên (1961), Điều tra nguồn lợi sinh vật Hồ Tây Mai Đình Yên (1962), Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng Nguyễn Văn Hảo (1964), Khu hệ cá sông Chảy và hồ Thác Bà, Kết quả điều tra nguồn lợi cá sông Thao, Kết quả điều tra nguồn lợi cá hồ

Ba Bể Mai Đình Yên (1964), Đặc điểm sinh học các loài cá sông Hồng Mai Đình

Trang 6

- Giai đoạn 2: Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Ngư loại đã chuyên sâu nghiên cứu,

đánh giá tiềm năng về nguồn lợi Việt nam, đã mở ra con đường cho nghề cá phát trển Điển hình có các tác giả với các công trình nghiên cứu sau:

Mai Đình Yên (1978), Định loại cá nước ngọt các Tỉnh phía Bắc Việt Nam Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992), Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ Đây là hai công trình tổng hợp đầy đủ nhất hiện nay về hai khu hệ cá miền Bắc và miền Nam nước ta Ngoài ra có rất nhiều công trình có giá trị nghiên cứu ở các khu hệ cá khác nhau như Nguyễn Hữu Dực (1982), Thành phần cá sông Hương, đã thống kê 58 loài Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991), Thành phần loài cá sông Thu Bồn (85 loài), Trà Khúc(47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba (48 loài), sông Cái (25 loài) Nguyễn Thái Tự (1983), Khu hệ cá sông Lam (157 loài và phân loài) Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992), Thành phần loài các sông Tiền, Hậu, Vàm Cỏ, Sài Gòn và sông Đồng Nai (255 loài) Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994), Thành phần loài

ở một số sông suối của Tây Nguyên (82 loài) Võ Văn Phú (1995), Thành phần loài

cá ở các đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài) Nghiên cứu về đặc trưng phân bố và đặc điểm địa động vật học của cá nước ngọt Việt nam, có các tác giả: Mai Đình Yên (1973) Nguyễn Thái Tự (1983), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991).[4, 28, 45]

Trong những năm gần đây Walter J Rainboth (1996) đã có nghiên cứu về cá nước ngọt ở Quảng Trị qua công trình The taxonomy, systematics, and zoogeography of Hypsibarbus, a New Genus of Large Barbs (Pisces, Cyprinidae) from the Rivers of Southeastern Asia.[82]

Năm 1998 Hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản tổ chức tại Viện NCNT Thủy sản I có nhiều báo cáo có giá trị trong nghiên cứu ứng dụng Về nguồn lợi có các báo cáo như sau: Mai Đình Yên, Hiện trạng nguồn lợi thủy sản nước ngọt và đề xuất chương trình hành động để bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi này Trần Thanh Xuân, Bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long Nguyễn Văn Hảo, Kết quả nghiên cứu bước đầu về

Trang 7

-7-

thành phần, phân bố và nguồn lợi cá Lai Châu Ngô Sỹ Vân, Thành phần loài cá và

ý nghĩa kinh tế của chúng ở hồ chứa Thác Bà tỉnh Yên Bái, Nguyễn Thị Thu Hè, Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá tự nhiên ở các sông suối Đắc Lắc và một vài ý kiến bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng Nguyễn Thái Tự, Nguyễn Xuân Khoa, Nguồn lợi cá và khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, Nguyễn Thái Tự, Lê Viết Thắng, Khu hệ cá Phong Nha[44, 48]

Năm 1999 Hội nghị đa dạng Sinh học Bắc Trường Sơn tại Trường đại học Vinh, các tác giả Nguyễn Thái Tự, Lê Viết Thắng, Lê Thị Bình, Nguyễn Xuân Khoa đã có nhiều nghiên cứu về Khu hệ cá Phong Nha Kẻ Bàng - Quảng Bình, Bến

En - Thanh Hoá, Vũ Quang - Hà Tĩnh

Năm 2000 Maurice Kottelat, Heok Hee Ng công bố 4 loài cá mới ở Đông Dương.[57, 58] Jörg Frayhof, Dimitri V Serov đã nghiên cứu tổng quan về giống

cá Sewellia ở nước ta và mô tả hai loài mới ở Gia Lai [65], Võ Văn Phú, Nguyễn

Trường Khoa, Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị, đã công bố 83 loài thuộc 56 giống, 39 họ và 12 bộ.[29]

Năm 2001, Jörg Freyhof, Fabian Herder, Heok Hee Ng, Dmitri V Serov đã

mô tả 16 loài mới cho khoa học ở khu vực miền trung Việt Nam [67] và mô tả một

giống cá mới Traccatichthys [66]

Năm 2002, Jörg Frayhof, Fabian Herder đã phất hiện giống cá Hemimyzon phân bố ở Việt Nam và mô tả một loài mới Hemimyzon ecdyonuroides ở sông Pa

Kô - Kon Tum.[69]

Năm 2003, Jörg Freyhof, đã mô tả một loài cá mới ở sông Thu Bồn [69] Nguyễn Hữu Dực và cộng sự nghiên cứu về thành phần loài cá lưu vực sông Mã tỉnh Thanh Hoá Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự nghiên cứu về thành phần loài cá khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa và khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long - Gia Viễn - Ninh Bình Nguyễn Thị Thu Hè nghiên cứu về cá ở các hồ Tây Nguyên

Võ Văn Phú và cộng sự ở đầm Ô Loan - Phú Yên Nguyễn Thái Tự và cộng sự nghiên cứu về thành phần loài, trung tâm phát sinh cá ở Phong Nha Kẻ Bàng.[13,

18, 48]

Năm 2004, Hoàng Xuân Quang và cộng sự nghiên cứu thành phân loài cá ở rừng Ngập mặn Hưng Hoà Võ Văn Phú và cộng sự nghiên cứu thành phần loài cá ở Cửa Sót, Hà Tĩnh.[38]

Năm 2005, H H Ng, Jörg Frayhof, I Shiung Chen, M Kottelat đã mô tả năm loài cá mới: 1 loài ở Phú Yên [61], và 4 loài ở phía bắc nước ta.[76] Võ Phương Anh và cộng sự nghiên cứu về cá ở sông Tam kỳ - Quảng Nam Nguyễn Hữu Dực và cộng sự nghiên cứu về cá ở sông Bưởi - Thanh Hoá Nguyễn Thị Hoa

Trang 8

-8-

và cộng sự nghiên cứu về cá ở suối Sập và Nậm Mu - Sơn La Nguyễn Xuân Huấn

và cộng sự nghiên cứu về cá ở Tiên Lãng Hải Phòng Võ Văn Phú và cộng sự nghiên cứu ở sông Hương - Thừa Thiên Huế Nguyễn Kiêm Sơn và cộng sự nghiên cứu ở U Minh Thượng Nguyễn Thái Tự và cộng sự nghiên cứu về phân bố cá nước ngọt ở Việt Nam [1, 7, 14, 19, 25, 30]

Năm 2006, Hisashi I và cộng sự công bố các loài cá Bơn phân bố ở Nha Trang Khánh Hoà [62]

Năm 2007, Hoàng Xuân Quang và cộng sự nghiên cứu về thành phân loài cá

ở Tây Bắc Nghệ An Nguyên Kiêm Sơn và cộng sự nghiên cứu cá ở sông Vu Gia - Thu Bồn, Nguyễn Văn Hoàng và cộng sự ở sông Hương Hoàng Thị Long Viên và cộng sự nghiên cứu ở sông Bồ, Thừa thiên Huế Nguyễn Xuân Đông và cộng sự nghiên cứu về cá Chình ở Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị Thái Ngọc Trí ở Núi Chúa - Ninh Thuận Nguyễn Kiêm Sơn ở Thái Nguyên Hoàng Xuân Quang và cộng sự ở sông Con - Nghệ An [16, 26, 40, 41]

Điểm qua lịch sử nghiên cứu ngư loại kể trên thấy rằng trong những năm gần đầy nghiên cứu về cá nội địa đang được quan tâm, đặc biệt là khu vực miền trung Các công trình nghiên cứu không chỉ là các nhà ngư loại học trong nước mà còn có rất nhiều nhà ngư loại học ngoài nước Các loài cá mới được công bố trên các tạp chí chuyên ngành chủ yếu phân bố ở miền trung nước ta trong đó có Quảng trị Lịch

sử cũng chỉ rằng lưu vực sông Thạch Hãn với diện tích rộng như vây, mà chỉ mới phát hiện được 83 loài cá, đó là một câu hỏi lớn cho các nhà nghiên cứu ngư loại học

Tóm lại, Từ khi nước nhà được độc lập, Ngư loại cũng mới được phát triển mạnh Những thành tựu mà Ngư loại đạt được đã thúc đẩy nghề thủy sản nước nhà phát triển, góp phần không nhỏ đưa nền kinh tế đất nước phát triển nhanh và mạnh Tuy nhiên, Ngư loại học nước nhà còn nhiều mặt cần được nghiên cứu sâu hơn nữa: Hiện trạng nguồn lợi và điều tra nghiên cứu những vực nước còn sót lại trên cả nước để có những biện pháp khôi phục và bảo vệ tính đa dạng sinh học Đồng thời các nhà Ngư loại cũng cần nghiên cứu sâu hơn nữa để bổ sung, tu chỉnh danh pháp

và thống nhất hệ thống phân loại cho phù hợp với hệ thống phân loại của thế giới

1.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội vùng nghiên cứu

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Diện tích tỉnh Quảng Trị là 4745,7km2, nhỏ nhất trong các tỉnh Bắc Trung

Bộ Tuy nhiên Quảng Trị lại có vị thế chiến lược quan trọng với đảo Cồn Cỏ nằm

án ngữ ở cửa Vịnh Bắc Bộ, với hành lang QL9 nối cảng Cửa Việt với cửa khẩu

Trang 9

Nhìn chung địa hình Quảng Trị có dạng bậc, từ đông sang tây, cũng là từ biển vào lục địa, địa hình nâng cao dần, lần lượt là các đồng bằng cồn cát ven biển, đồng bằng bồi tích sông - biển, vùng gò đồi thấp và cao, chuyển lên vùng núi thấp

và trung bình; sau đó địa hình thấp xuống với bậc núi thấp và thung lũng, giáp biên giới phía tây

Các khối núi thấp và trung bình tập trung chủ yếu ở phía tây bắc của lãnh thổ (Động Sá Mùi 1617m, Động Voi Mẹp 1701m), một số dãy núi thấp - trung bình phân bố ở phía nam, thuộc huyện Đa Krông (Động Ca Cút 1405m)

Các dãy, khối núi thấp và trung bình là phần tiếp tục của dải Trường Sơn Bắc

từ Nghệ An kéo vào; nhưng đến Quảng Trị Trường Sơn Bắc hầu như bị cắt thành 2 đoạn bởi thung lũng xuyên ngang Đa Krông - Quảng Trị, với điểm thấp nhất của đường chia nước là 370m, tạo một hành lang Đông - Tây thuận lợi nhất của Bắc Trung Bộ

1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu

Quảng Trị có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có mùa đông lạnh; có sự phân hoá Đông - Tây khá rõ nét; với sườn Đông Trường Sơn có khí hậu khắc nghiệt hơn,

do có mùa hè khô nóng ít mưa và mùa đông mưa ẩm

Tổng số giờ nắng trung bình năm khá cao, vào khoảng 1800-1900 giờ, các tháng 5-7 có số giờ nắng cao nhất (240 - 250giờ/tháng) Lượng bức xạ lớn 125-130Kcal/cm2

Nhiệt độ trung bình năm 20 - 25oC, cao nhất vào các tháng 5 - 7, đạt 35oC (có khi đến 40 oC), thấp nhất vào các tháng 12 và tháng 1, khoảng 18 o

Trang 10

-10-

Trường Sơn (Lao Bảo, Ba Tầng) có mùa mưa đến sớm hơn, từ tháng 5 đến tháng

11, có lượng mưa thấp (2000mm/năm), nhưng có nhiều ngày mưa và khí hậu điều hoà hơn phía sườn Đông

Hàng năm Quảng Trị chịu tác động của 2 loại gió mùa chính là gió mùa đông

và gió mùa hạ, các tháng chuyển tiếp là tháng 4 và 7

Nhìn chung, khí hậu Quảng Trị mang tính chuyển tiếp giữa khí hậu miền Bắc

và khí hậu miền Nam, đồng thời có sự phân hoá giữa khí hậu Đông và Tây Trường Sơn, thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp đa dạng

1.2.1.4 Đặc điểm thuỷ văn

Quảng Trị có 4 hệ thống sông là Bến Hải, Thạch Hãn, Thác Mã và Xê Pôn, trong đó lớn nhất là hệ thống sông Thạch Hãn,

Sông Bến Hải bắt nguồn từ vùng núi Động Châu với tên Rào Thanh ở phía thượng nguồn, chảy theo hướng TTN - ĐĐB, đổ ra biển tại cửa Tùng Diện tích lưu vực đạt 809km2, dài 64,5km, mật độ lưới sông trung bình 1,15km/km2

Nhánh lớn phía bờ trái của sông Bến Hải là sông Bến Xe mà ở phía đầu nguồn có tên là Rào Quang, dài 41,5km, lưu vực 357km2

Thạch Hãn là sông lớn nhất của Quảng Trị, chảy qua nhiều vùng tự nhiên khác nhau; phía đầu nguồn có tên là sông Đa Krông, chảy theo hướng ĐN - TB; đoạn trung lưu có tên sông Quảng Trị, chảy theo hướng Tây - Đông hình cánh cung; đoạn trung - hạ lưu với tên sông Thạch Hãn, có hướng chảy thay đổi từ Đông Bắc sang Tây Bắc, rồi lại Đông Bắc và đổ ra biển tại Cửa Việt Diện tích lưu vực 2660km2, dài156km Sông Thạch Hãn có 2 nhánh lớn là sông Rào Quán và sông Cam Lộ, đều thuộc phía bờ trái

Sông Rào Quán bắt nguồn từ vùng núi Động Sá Mùi hướng chảy TB - ĐN và

đổ vào sông Đa Krông ở phía TN thị trấn Đa Krông (cách khoảng 2,5km), Sông dài 39km, lưu vực 251km2

Sông Cam Lộ thường được gọi là sông Hiếu, là sông nhánh lớn nhất của

sông Thạch Hãn, hướng chảy tương tự hệ thống sông Bến Hải, TTN - ĐĐB, qua thị

xã Đông Hà, đổ vào sông Thạch Hãn tại Gia Độ Sông dài 66km, lưu vực khá rộng, 539km2

1.2.2 Đặc điểm xã hội và nhân văn vùng nghiên cứu

1.2.2.1 Đặc điểm dân số

Dân số trung bình năm 2005 của Quảng Trị là 628,954 người, trong đó có 24,5% dân ở thành thị và 75,5% sống ở nông thôn; và có 49,5% là nam giới Mật độ dân số 133 người/km2 Như vậy, Quảng Trị có dân số ít nhất so với các tỉnh Bắc Trung Bộ và là 1 trong 2 tỉnh có mật độ thưa nhất của Bắc Trung Bộ

Trang 11

-11-

1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế

Nhìn chung Quảng Trị còn là một tỉnh nghèo và nhiều chỉ tiêu của nền kinh

tế còn ở mức thấp hơn mức bình quân của toàn quốc Mặc dù vậy, trong những năm qua cơ sở hạ tầng được phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, năm 2005 đạt 10,5%, trung bình cả giai đoạn 2000 - 2005 là 8,94%

1.2.2.3 Về giáo dục - y tế

Nền giáo dục Quảng Trị có nhiều tiến bộ, với quy mô các ngành học, cấp học

và số lượng giáo viên tăng qua các năm; phấn đấu hoàn thành phổ cập THCS, Số học sinh phổ thông của Quảng Trị năm 2005 là 155,421 người, bình quân có 248 học sinh trên 1000 dân, là tương đương với Quảng Bình và lớn hơn nhiều so với mức chung toàn quốc

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đạt nhiều thành tựu, Mạng lưới y tế được mở rộng, nhất là ở các xã, huyện miền núi Số lượng các trạm

y tế xã đạt chuẩn hoá và có bác sĩ tăng nhanh

Số giường bệnh năm 2005 là 1559, với tỉ lệ 2,5 giường bệnh trên 1000 dân, cao hơn nhiều so với toàn quốc (2 giường bệnh/1000 dân)

Tỉ lệ y bác sĩ trên đầu người của Quảng Trị cũng cao hơn mức chung của toàn quốc: năm 2005 có 745 y bác sĩ, với tỉ lệ 1,20 y bác sĩ/1000 dân (1,07 y bác sĩ/1000 dân của toàn quốc)

Trang 12

-12-

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị (Hình 1)

Hình 1 Địa điểm thu mẫu Sông Thạch Hãn chảy qua 8 huyện, thành phố và thị xã bao gồm: huyện Đakrông, Hướng Hoá, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị và một phần của huyện Gio Linh Nhưng các điểm thu mâu nằm ở 4 huyện (Triệu Phong, Cam Lộ, Đakrông, Hướng Hoá) Vì vậy trong phần kết quả nghiên cứu chúng tôi chỉ đề cập đến 4 huyện

Trang 13

-13-

Bảng 1 Địa điểm thu mẫu

2.2 Thời gian ngiên cứu

Chúng tôi tiến hành đi thu mẫu tại thực địa ba đợt với tổng số 41 ngày ở 14 địa điểm vào thời gian

- Đợt I: 27/11/2008 đến 11/12/2008

- Đợt II: 07/06/2009 đến 18/6/2009

- Đợt III: 27/07/2010 đến 09/8/2010

2.3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu và xử lý mẫu

Mẫu cá chủ yếu trực tiếp theo ngư dân đánh bắt tại các địa điểm nghiên cứu trên Dụng cụ đánh bắt gồm lưới, vợt, chài, câu có kích cỡ khác nhau và một số dụng cụ khác của ngư dân như: nơm, đó, lừ Một số nơi mẫu được mua lại từ ngư dân hoặc nhờ ngư dân đánh bắt Mẫu thu được ghi nhật ký, chụp ảnh và cố định hình bằng formalin 8 - 10% và được bảo quản trong dung dịch Formalin 5% và lưu trữ tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh học, Trường đại học Vinh

Trang 14

-14-

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu hình thái phân loại

Phân tích các đặc điểm hình thái theo Pravdin I.F (1963) [77]

Đối với phân tích hình thái cá có rất nhiều loại hình thái Vì vậy chúng tôi chỉ xin giới thiệu dạng hình thái phân tích cá chép

Hình 2 Sơ đồ đo các chỉ tiêu hình thái họ cá chép A: vây hậu môn, C: vây đuôi, D: vây lưng, P: vây ngực, V: vây bụng, LL: đường bên a: Chiều dài toàn thân(L), b: Chiều dài tiêu chuẩn(Lo), c: Chiều dài trước vây lưng(daD), d: Chiều dài sau vây lưng(dpD), e: Chiều dài bên đầu (T), f: Chiều dài mõm(Ot), g: Đường kính mắt(O), h: Chiều dài đầu sau mắt(Op), i: Chiều dài vây lưng, j: Chiều dài vây ngực, k: Chiều dài vây bụng, l: Chiều dài trước vây bụng, m: Chiều dài trước vây hậu môn, n: Chiều dài vây hậu môn, o: Chiều cao cán đuôi(ccd), p: Chiều dài cán đuôi(lcd), q: Chiều dài gốc vây hậu môn, r: Chiều dài gốc vây lưng, s: Khoảng cách hai mắt(OO), t: chiều dài lưng đầu, y: cao đầu ở gáy(hT), x: cao cơ thể lớn nhất(H), z: rộng đầu ở gáy Bổ sung thêm một số chỉ tiêu khác: Khoảng cách P-V, Khoảng cách V-A, Chiều dài thùy trên vây

C, Chiều dài thùy dưới vây C, Dày thân, Răng hầu, Lược mang, Đốt sống

Hình 3 Sơ đồ đếm các chỉ tiêu hình thái họ cá chép

Trang 15

-15-

A: số vảy đường bên, B: số vảy trên đường bên, C: số vảy dưới đường bên tính ở vây bụng, D: số vảy đường bên tính ở vây hậu môn, E: số vảy quanh cán đuôi, F:

số vảy trước vây lưng, G: số vảy dọc cán đuôi

2.3.3 Phương pháp phân loại

Các tài liệu chính được dùng định loại: Vương Dĩ Khang (1958), Mai Đình Yên (1978, 1992), Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2001), Nguyễn Văn Hảo (2005a, 2005b) và có bổ sung tài liệu của Rainboth W J (1996), Kottelat M (1990, 1998, 2001), Chu Xinluo et al (1989), Chen Yiyu et al (1998), Yue Peiqi et al (2000), Nguyễn Khác Hường (1974, 1991, 1993, 2007), Nguyễn Hữu Phụng (2001), Nguyễn Nhật Thi (1991, 2000), FAO (1974), Hisashi Imamura, Mayu Komada and Tetsuo Yoshtno (2006), A.G.K Menon (1977) Đỗ Thị Như Trang (2007), Nguyễn Văn Lục và cộng sự (2007)

Hệ thống phân loại sắp xếp theo hệ thống mà Nguyễn Văn Hảo và cộng sự (2001, 2005a, 2005b) sử dụng

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Ảnh và bản đồ được xử lý trên phần mền Adobe Photoshop 7.0 và Map info Các số liệu đo được xử lí trên phân mềm Microsoft Office Excel 2007

Trang 18

26 Nicholsicypris dorsohorizontalis Ng & Do., 1969 Cá Dầm suối lƣng thẳng 38 +

31 Rasbora pauciperforata Weber & Beaufort, 1916 Cá Lòng tong +

Trang 23

105 Ambassis gymnocephalus (Lacepède, 1802) Cá Sơn biển đầu trần +

Trang 24

111 Epinephelus epistictus (Tem & Schlegel, 1842) Cá Mú chấm đen +

114 Pelates sexlineatus (Quoy & Gaimard, 1825) Cá Căng răng chặc 3 + +

Trang 25

127 Leiognathus brevirostris (Valenciennes, 1835) Cá Liệt mõm ngắn +

Trang 26

147 Monodactylus argenteus (Linnaeus, 1758) Cá Chim trắng mắt to +

Trang 27

151 Ellochelon vaigiensis (Quoy & Gaimard, 1825) Cá Đối đuôi bằng +

Trang 28

167 Oxyurichthys tentacularis (Valenciennes, 1837) Cá Bống van mắt +

Trang 29

184 Brachirus orientalis (Bloch & Sch., 1801) Cá Bơn sọc đông phương 2 +

Trang 30

KT: Những loài cá có giá trị kinh kinh tế

VU, EN: Những loài cá có giá trị bảo tồn

Trang 31

-31-

3.2 Cấu trúc thành phần loài cá lưu vực sông Thạch Hãn

Bảng 3 Cầu trúc thành phần loài cá lưu vực sông Thạch Hãn

Tỷ lệ

%

Số Loài

Trang 32

-32-

Qua biểu đồ 1 cho thấy rằng bộ cá Vƣợc có số họ nhiều nhất (26 họ chiếm 46% tổng số họ) tiếp đến bộ cá Nheo (6 họ chiếm 11%), đến bộ cá Bơn, bộ cá Chình, bộ cá Chép, bộ cá Nóc (3 họ chiếm 5%), rồi đến bộ cá Mang liền, Bộ cá Nhoái, bộ cá Trích, bộ cá Đuối (2 họ chiếm 4%) Các bộ còn lại mỗi bộ có 1 họ chiếm 2%

3.2.2 Nhận xét về cấu trúc taxon bậc giống

Biều đồ 2 Cấu trúc taxon bậc giống Qua biều đồ 2 cho thấy rằng bộ cá Vƣợc có số giống nhiều nhất (47 giống chiếm 37% tổng số giống), tiếp đến bộ cá Chép (37 giống chiếm 29%), đến bộ cá Nheo (9 giống chiếm 7%), bộ cá Trích (7 gống chiếm 5%), bộ cá Chình (6 giống chiếm 5%) bộ cá Mù làn, bộ cá Bơn, bộ cá Nóc (4 giống chiếm 3%) Các bộ còn lại

có từ 1 đến 2 giống chiếm 1 đến 2%

3.2.3 Nhận xét về cấu trúc taxon bậc loài

Qua biểu đồ 3 cho thấy rằng bộ cá Vƣợc có số loài nhiều nhất (79 loài chiếm 41% tổng số loài), tiếp đến bộ cá Chép (57 loài chiếm 30%), đến bộ cá Nheo (11loài chiếm 6%), bộ cá Trích (10 loài chiếm 5%), bộ cá Chình (7 loài chiếm 4%), bộ cá

Trang 33

-33-

Mù làn, bộ cá Bơn, bộ cá Nóc (5 loài chiếm 3%), Bộ cá Đèn (4 loài chiếm 2%) Các

bộ còn lại có từ 1 đến 3 loài chiếm 0,5 đến 1%

Biều đồ 3 Cấu trúc taxon bậc loài

3.3 Khoá định loại và hình thái phân loại

3.3.1 Bộ cá đuối - Rajiformes

1(2) Mõm tù, đuôi ngắn hơn chiều dài đĩa thân Có hoa văn màu trắng

Cá Đuối en đuôi hoa - Gymnura poecilura (Shaw, 1804)

2(1) Mõm nhọn, đuôi dài hơn chiều dài đĩa thân Không có hoa văn màu trắng

Cá Đuối bồng - Dasyatis sinensis (Steindachner, 1892)

1 Cá Đuối bồng - Dasyatis sinensis (Steindachner, 1892)

Tên gốc:

Trygon sinensis Steindachner, 1892

Thân hình quả trám Chiều rộng đĩa thân bằng 1,25 lần chiều dài thân Chiều dài toàn thân gấp 3 lần chiều rộng và gấp 6 lần chiều dài đầu Mõm bằng 0,5 lần chiều dài đầu Khoảng cách 2 mắt bằng 1,5 lần chiều dài đầu Đáy miệng có 5 mấu thịt Có 5 khe mang

Trang 34

-34-

2 Cá Đuối en đuôi hoa - Gymnura poecilura (Shaw, 1804)

Tên gốc:

Raja poecilura Shaw, 1804

Thân gần như hình thoi Chiều rộng địa thân bằng 1,5 lần chiều dài thân Chiều dài toàn thân gấp 1,5 lần chiều rộng thân và gấp 4 lần chiều dài đầu Mõm bằng 0,34 lần chiều dài đầu Khoảng cách hai mắt bằng 1,3 lần chiều dài đầu Có 5 khe mang

3027142

V

Lo = 3,49 (3,24 - 3,52) H = 5,45 (4,98 - 6,21) T = 1,72 (1,59 - 1,78) daD = 3,14 (3,04 - 3,25) daA = 3,91 (3,27 - 4,17) HD = 3,59 (3,44 - 3,72) HA

T = 3,45 (3,02 - 4,00) Ot = 4,05 (3,02 - 4,09) O = 3,09 (2,78 - 3,49) OO = 1,16 (1,00 - 1,25) Op = 1,08 (0,97 - 1,29) HT = 2,14 (1,99 - 2,42) WC = 2,16 (2,00 - 2,57) WE; H = 1,47(1,22 - 1,56)HC = 1,23(1,07 - 1,89) HD; OO = 1,37 (1,25 - 1,49) O; Op = 2,45 (2,12 - 2,67) Ot

3.3.3 Bộ cá Chình - Anguilliformes

1(2) Lưỡi cá hoàn toàn tự do ……

Cá Chình hoa - Anguilla marmorata Quoy & Gaimard, 1824

2(1) Lưỡi cá tự do không hoàn toàn

3(6) Lỗ mũi ở hai bên hoặc phía trên của đầu, có vây đuôi bình thường

4(5) Khởi điểm D ở ngang giữa P, mút đuôi không có vệt đen

Cá Chình thường - Gnathophis nystromi (Jordan & Snyder, 1901)

5(4) Khởi điểm D ở trước gốc P Mút đuôi có vệt đen rõ rệt

Cá Chình đuôi đen - Rhynchoconger ectenurus (Jor & Ric., 1909)

6(3) Lỗ mũi trước dạng ống ở rìa của môi trên, lỗ mũi sau ở rìa môi trên gần mắt,

không có vây đuôi hoặc vây đuôi rất bé

7(8) Răng trên hai hàm có chóp nhọn, dạng nón

Cá Chình rắn mắt to - Ophichthus celebicus (Bleeker, 1856)

8(7) Răng trên hai hàm dạng hạt lớn bé không đều nhau

Cá Lịch cu - Pis oodonophis boro (Hamilton, 1822)

Trang 35

-35-

4 Cá Chình hoa - Anguilla marmorata Quoy & Gaimard, 1824

Lo = 13 – 16 H = 6,2 - 6,9 (T ); T = 9,0 – 10 (O) = 4,6 – 4,8 (OO) = 4,5 – 6,0 (Ot), OO = 2,0 – 2,5 (O)

Thân dài, dạng rắn, phía sau dẹp bên Chiều dài đầu lớn hơn khoảng cách từ khe mang đến khởi điểm vây lưng lớn hoặc nhỏ hơn một chút với khoảng cách giữa khởi điểm vây lưng và khởi điểm vây hậu môn Mõm nhọn, chiều dài mõm lớn hơn chiều rộng của đáy miệng Miệng khá rộng, rạch miệng kéo dài về phía sau tới qua viền sau của mắt Răng trên xương gian hàm và xương lá mía tạo một dải rộng ở phía trước, hẹp dần ở phía sau và kết thúc bởi đuôi nhọn Răng trên xương hàm trên

có khoảng trống giữa hàng phía trong và phía ngoài Dải răng trên xương lá mía kết thúc trước dải răng trên xương hàm trên

5 Cá Chình rắn mắt to - Ophichthus celebicus (Bleeker, 1856)

Tên gốc:

Ophisurus celebicus Bleeker, 1856

Chiều cao cơ thể = 2,5 - 4,1% chiều dài tiêu chuẩn, Chiều dài đầu = 9,4 - 11,1 % chiều dài tiêu chuẩn Thân dạng rắn, tiết diện gần tròn, phần đuôi hơi dẹp bên, dài bằng 1,5 - 1,8 lần chiều dài đầu và thân cộng lại Không có vảy Đầu tương đối lớn, miệng rộng Không có vây bụng và vây đuôi, Vây lưng và vây hậu môn rất dài

6 Cá Lịch cu - Pisodonophis boro (Hamilton, 1822)

Tên gốc:

Ophisurus boro Hamilton, 1822

Chiều cao cơ thể = 2,0 - 3,1% chiều dài tiêu chuẩn Chiều dài đầu = 8,6 - 10,3 % chiều dài tiêu chuẩn, Thân dạng rắn, tiết diện gần tròn, phần đuôi hơi dẹp bên, dài bằng 1,4 - 1,5 lần chiều dài đầu và thân cộng lại Không có vảy Đầu to vừa, miệng rộng Vây lưng và vây hậu môn rất dài Khởi điểm vây lưng ngang sau vây ngực Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn nối liền nhau, Mút đuôi nhọn

7 Cá Chình thường - Gnathophis nystromi(Jordan & Snyder, 1901)

Tên gốc:

Leptocephalus nystromi Jordan & Snyder, 1901

Trang 36

-36-

Chiều cao cơ thể = 5,6 - 7,7% chiều dài tiêu chuẩn Chiều dài đầu = 16,7 - 20,1 % chiều dài tiêu chuẩn Thân dạng rắn, tiết diện gần tròn, phần đuôi hơi dẹp bên, dài bằng 1,4 - 1,7 lần chiều dài đầu và thân cộng lại Không có vảy Khởi điểm vây lưng ngang khởi điểm vây ngực Khe mang vuông góc với trục thân, Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn nối liền nhau Riềm tia vây lưng vây đuôi và vây hậu môn màu đen

8 Cá Chình đuôi đen - Rhynchoconger ectenurus (Jor & Ric., 1909)

Tên gốc:

Leptocephalus ectenurus Jordan & Richardson, 1909

Chiều cao cơ thể = 3,9 - 5,4% chiều dài tiêu chuẩn Chiều dài đầu = 11,8 - 15,9 % chiều dài tiêu chuẩn Vây ngực 11 -13 Thân dạng rắn, tiết diện gần tròn, phần đuôi hơi dẹp bên, dài bằng 1,6 - 2,5 lần chiều dài đầu và thân cộng lại Không

có vảy Khởi điểm vây lưng ngang trước khởi điểm vây ngực Khe mang vuông góc với trục thân Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn nối liền nhau

3.3.4 Bộ cá Trích - Clupeiformes

Họ cá Trích - Clupeidae

1(4) Tia vây lưng kéo dài thành sợi

2(3) Hai bên thân có rất nhiều chấm đen rõ … ………

…… Cá Mòi cờ hoa - Clupanodon thrissa (Linnaeus, 1758)

3(2) Hai bên thân có 1 chấm đen rõ

…… Cá Mòi cờ chấm - Konosirus punctatus (Tem & Sch., 1846)

4(1) Tia vây lưng không kéo dài thành sợi

5(8) Khởi điểm vây D ở trước vây bụng

6(7) Rìa sau vảy có dưới 20 lỗ nhỏ

Cá Trích bầu - Sardinella sindensis (Day, 1878)

7(6) Rìa sau vảy có trên 20 lỗ nhỏ

Cá Trích đầu ngắn - Sardinella albella (Valenciennes, 1847)

8(5) Khởi điểm vây D ở trên hoặc sau vây bụng

…… … Cá Mai - Escualosa thoracata (Valenciennes, 1847)

Trang 37

T = 4,42 (4,06 - 4,78) Ot = 3,21 (3,10 - 3,32) OO = 3,72 (3,67 - 3,76) O = 3,00 (2,89 - 3,10) lcd = 2,44 (2,39 - 2,49) ccd, OO = 0,86 (0,88 - 0,84) O, lcd = 0,82

Trang 38

-38-

Lo = 3,04 (2,98 - 3,11) H = 3,20 (3,09 - 3,31) T = 6,14 (5,95 - 6,33) Gốc D

= 4,20(4,02 - 4,39) Gốc A = 9,88(9,86 - 9,91) lcd = 10,30 (10,12 - 10,47) ccd

T = 4,19 (4,13 - 4,26) Ot = 4,02 (3,99 - 4,05) O = 4,30 (4,29 - 4,31) OO = 3,09 (2,98 - 3,21) lcd = 3,22 (3,16 - 3,28) ccd, OO = 0,93 (0,92 - 0,94) O, lcd = 1,04 (1,02 - 1,06) ccd

13 Cá Mòi cờ chấm - Konosirus punctatus (Tem & Sch., 1846)

Họ cá Trỏng - Engraulidae

1(2) Có một chấm đen sau nắp mang

Cá Lẹp - Thryssa cf hamiltonii Gray, 1835

2(1) Không có chấm đen sau nắp mang

Cá Rớp - Thryssa hamiltonii Gray, 1835

14 Cá Rớp - Thryssa hamiltonii (Gray, 1835)

T = 4,43 (4,32 - 4,54) Ot = 4,01 (3,93 - 4,08) O = 3,87 (3,80 - 3,95) OO = 1,48 lcd = 2,59 (2,53 - 2,65) ccd, OO = 1,03 (1,00 - 1,07) O, lcd = 1,75 (1,71 - 1,79)

ccd,

15 Cá Lẹp - Thryssa cf hamiltonii Gray, 1835

Trang 39

3.3.6 Bộ cá Chép - Cypriniformes

Phân họ cá Lòng tong - Danioninae

1(2) Râu dài đến vây bụng

Cá Lòng tong sắt - Esomus metallicus Ahl, 1923

1(2) Râu ngắn chưa đến vây ngực

3(4) Có đột mõm

Cá Cháo thường - Opsariichthys bidens Günther, 1873

4(3) Không có đột mõm

5(6) Đường bên trên 35 vảy

Cá Dầm suối lưng thẳng - Nicholsicypris dorsohorizontalis Ng & Do., 1969

6(5) Đường bên dưói 35 vảy

V , Số vảy quanh cán đuôi: 14; Số vảy trước vây lưng: 15; Số vảy dọc cán đuôi: 10

Trang 40

-40-

Lo = 3,96 (3,80 - 4,16) H = 4,60 (4,41 - 4,89) T = 6,25 (6,09 - 6,50) T’= 1,48 (1,40 - 1,52) daD= 3,96 (3,73 - 4,17) dpD = 5,44 (4,91 - 5,73) lcd = 8,16 (8,00 - 8,40) ccd

T = 3,36 (3,19 - 3,65) Ot = 3,01 (2,78 - 3,17) O = 2,27 (2,13 - 2,37) OO= 2,15 (2,08 - 2,24) Op = 1,68 (1,60 - 1,71) WC = 1,33 (1,28 - 1,41) HC = 1,19 (1,00

- 1,29) lcd = 1,78 (1,64 - 1,91) ccd; OO = 1,33 (1,29 - 1,38) O; lcd = 1,51 (1,41 - 1,63) ccd; PV = 1,57 (1,37 - 1,71) VA

18 Cá Dầm suối lưng thẳng - Nicholsicypris dorsohorizontalis Ng & Do., 1969

D = 2-3.7; P = 1.10 - 11; V = 1.7; A = 2 - 3 7 - 8; C = 5.17; Ll = 38

2

6536

V ;

Số vảy quanh cán đuôi: 13 - 14; Số vảy trước vây lưng: 13 - 15; Số vảy dọc cán đuôi: 13 - 14

Lo= 3,57 (3,21 - 4,17) H = 3,82 (3,48 - 4,32) T = 5,47 (4,56 - 6,06) T’= 1,80 (1,65 - 1,93) daD = 2,92 (2,67 - 3,12) dpD = 4,80 (3,70 - 5,44) lcd = 7,44 (6,23 - 8,46) ccd

T = 3,29 (2,70 - 3,83) Ot = 3,51 (3,04 - 4,07) O = 2,28 (1,97 - 2,79) OO= 2,27 (2,04 - 2,78) Op = 1,82 (1,64 - 1,99) WC = 1,39 (1,18 - 1,62) HC = 1,26 (0,88

- 1,48) lcd = 1,95 (1,68 - 2,17) ccd; OO = 1,55 (1,32 - 1,78) O; lcd = 1,57 (1,20 - 2,26) ccd; PV = 1,07 (0,73 - 1,47) VA

19 Cá Cháo thường - Opsariichthys bidens Günther, 1873

D = 2-3.7; A = 3,10; P = 1.12 - 13; V = 1.8; C = 3.19.4 Số vảy trước vây lưng:

16; Số vảy dọc cán đuôi: 10; Số vảy quanh cán đuôi: 16; Ll = 42

5

939

V

Lo= 3,75 (3,33 - 4,19) H = 3,13 (2,92 - 3,24) T = 4,21 (3,83 - 4,50) T’= 1,90(1,78 - 2,01) daD= 2,62 (2,46 - 2,74) dpD = 6,06 (5,25 - 7,34) lcd = 9,75 (9,11 - 10,69) ccd

T = 2,88 (2,67 - 3,24) Ot = 5,13 (4,20 - 5,55) O = 3,46 (3,03 - 3,68) OO= 2,05 (1,99 - 2,20) Op = 2,39 (2,20 - 2,50) WC = 1,53 (1,44 - 1,63) HC = 1,93 (1,64

- 2,31) lcd = 3,12 (2,88 - 3,51) ccd; OO = 1,48 (1,39 - 1,56) O; lcd = 1,62 (1,24 - 1,82) ccd; PV = 1,31 (1,10 - 1,54) VA

Ngày đăng: 15/12/2015, 07:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Địa điểm thu mẫu  Sông  Thạch  Hãn  chảy  qua  8  huyện,  thành  phố  và  thị  xã  bao  gồm:  huyện  Đakrông, Hướng Hoá, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, thành phố Đông Hà, thị xã  Quảng  Trị  và  một  phần  của  huyện  Gio  Linh - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Hình 1. Địa điểm thu mẫu Sông Thạch Hãn chảy qua 8 huyện, thành phố và thị xã bao gồm: huyện Đakrông, Hướng Hoá, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị và một phần của huyện Gio Linh (Trang 12)
Bảng 1. Địa điểm thu mẫu - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 1. Địa điểm thu mẫu (Trang 13)
Hình 3. Sơ đồ đếm các chỉ tiêu hình thái họ cá chép - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Hình 3. Sơ đồ đếm các chỉ tiêu hình thái họ cá chép (Trang 14)
Hình 2. Sơ đồ đo các chỉ tiêu hình thái họ cá chép  A: vây hậu môn, C: vây đuôi, D: vây lưng, P: vây ngực, V: vây bụng, LL: đường bên - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Hình 2. Sơ đồ đo các chỉ tiêu hình thái họ cá chép A: vây hậu môn, C: vây đuôi, D: vây lưng, P: vây ngực, V: vây bụng, LL: đường bên (Trang 14)
Bảng 2. Thành phần loài cá sông Thạch Hãn - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 2. Thành phần loài cá sông Thạch Hãn (Trang 16)
Bảng 3. Cầu trúc thành phần loài cá lưu vực sông Thạch Hãn - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 3. Cầu trúc thành phần loài cá lưu vực sông Thạch Hãn (Trang 31)
Bảng 5. Các loài cá có giá trị kinh tế - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 5. Các loài cá có giá trị kinh tế (Trang 88)
Bảng 7. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài thuộc giống  Thryssa ở VNC - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 7. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài thuộc giống Thryssa ở VNC (Trang 89)
Bảng 9. Các chi tiêu hình thái giữa các loài thuộc giống  Danio ở Việt Nam - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 9. Các chi tiêu hình thái giữa các loài thuộc giống Danio ở Việt Nam (Trang 90)
Bảng 8. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài thuộc giống  Hemiculter ở VNC - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 8. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài thuộc giống Hemiculter ở VNC (Trang 90)
Bảng 10. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài thuộc giống Mastacembelus ở VNC - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 10. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài thuộc giống Mastacembelus ở VNC (Trang 91)
Bảng 13. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài Inegocia sp. & Inegocia japonica - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 13. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài Inegocia sp. & Inegocia japonica (Trang 92)
Bảng 14. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài Onigocia sp. & Onigocia macrolepis - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
Bảng 14. Các chi tiêu hình thái giữa hai loài Onigocia sp. & Onigocia macrolepis (Trang 93)
PHỤ LỤC 1. BẢNG THÀNH PHẦN LOÀI VNC NGHIÊN CỨU NĂM 2008 - 2010 - Đa dạng sinh học cá lưu vực sông thạch hãn quảng trị
1. BẢNG THÀNH PHẦN LOÀI VNC NGHIÊN CỨU NĂM 2008 - 2010 (Trang 101)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w