Sau 1945, đặc biệt là sau 1986, đội ngũ cỏcnhà văn nữ trở nờn đụng đảo, và tài năng của họ được thừa nhận rộng rói vànhiều tỏc phẩm của họ cú ảnh hưởng đến cụng chỳng và được giảng dạy t
Trang 1Nguyễn thị oanh
âm hởng nữ quyền trong truyện ngắn
các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2007
Trang 2Nguyễn thị Oanh
âm hởng nữ quyền trong truyện ngắn
các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới
Trang 3Trang
Mở đầu 1
Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về nữ quyền 7
1.1 Giới thuyết về chủ nghĩa nữ quyền (nữ quyền luận) 7
1.2 Phong trào nữ quyền trong văn học 17
1.3 Âm hưởng nữ quyền trong văn học biểu hiện của tinh thần dân chủ 24
Chương 2 Âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại .29
2.1 Người phụ nữ Việt Nam từ góc nhìn văn hoá 29
2.2 Hình ảnh người phụ nữ trong ca dao, văn học trung đại 34
2.3 Âm hưởng nữ quyền trong văn học hiện đại 38
2.4 Âm hưởng nữ quyền trong văn học đương đại 46
Chương 3 Âm hưởng nữ quyền biểu hiện trong tác phẩm của ba nhà văn: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Hoàng Diệu 61
3.1 Võ Thị Hảo và những cuộc chiến vẫn còn nhức nhối bên trong 61
3.2 Nguyễn Thị Thu Huệ và khát vọng hạnh phúc đời thường .69
3.3 Đỗ Hoàng Diệu: Tính dục như một phương thức biểu đạt bản ngã 74
Kết luận 84
Tài liệu tham khảo 86
Trang 4Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nh đã trở thành một “thông lệ”, khi nhắc đến phụ nữ ngời ta lại tặc lỡi
“nữ nhi thờng tình” Thái độ “trọng nam khinh nữ”, qua hàng ngàn năm lịch
sử đã bám rễ rất sâu vào xã hội bị cai trị bởi t tởng nam quyền, thậm chí ngaycả nhiều phụ nữ cũng ngầm thừa nhận vai trò thống trị của nam giới Mặc dù
đợc coi là dân tộc có truyền thống tôn trọng phụ nữ (nhiều phụ nữ đợc tônvinh là anh hùng dân tộc nh Bà Trng, Bà Triệu…) nhng về đại thể, ở ViệtNam, trong tơng quan với đàn ông, thân phận ngời phụ nữ vẫn là thân phậncủa kẻ bị lệ thuộc Cũng như hàng triệu phụ nữ trờn thế giới, trong dòng chảychung lịch sử của nhân loại, chế độ phụ quyền đó đặt ngời phụ nữ trong thếthụ động, chỉ biết phục vụ cho đàn ông Bớc sang thời kỳ hiện đại, khi phongtrào dân chủ đợc mở rộng, phụ nữ đợc đi học, đợc tạo tham gia hoạt động xãhội, đợc đi làm và có thu nhập về kinh tế, họ bắt đầu đấu tranh đòi quyền bình
đẳng Phong trào đấu tranh đòi giải phóng phụ nữ đã phát triển mạnh mẽ vớitên gọi nữ quyền
Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) là sản phẩm của phong trào cỏch mạng
tư sản cận đại, đó cú bề dày lịch sử hơn hai trăm năm Phong trào này được cổ
vũ bằng cụng trỡnh Giới tớnh thứ hai (1949) của nữ văn sĩ Phỏp Simon de
Beauvoir Bằng lý luận sắc bộn bà đó phõn tớch thực trạng phụ nữ bị ỏp bức vàyờu cầu phải nhanh chúng giải phúng phụ nữ ra khỏi hàng loạt trúi buộc vụnhõn đạo
Cựng với sự đấu tranh đòi bình quyền ngày càng lớn mạnh ở Chõu
Âu, phong trào phờ bỡnh nữ quyền (lý thuyết về nữ quyền) đó phỏt triểnmạnh mẽ và phỏt triển thành nhiều nhỏnh, đũi hỏi bỡnh đẳng nam nữ trờnnhiều phương diện
ở Việt Nam - vào những năm đầu của thế kỷ xx, do ảnh hưởng của lànsúng tõn thư, một số người như Đạm Phương, Sương Nguyệt Ánh đó bắt đầubàn đến vai trũ của phụ nữ Phụ nữ đã bắt đầu thể hiện vai trò cũng nh vị thếcủa họ trong nhiều lĩnh vực vốn trớc đây chỉ dành riêng cho nam giới nh sáng
Trang 5tác văn học, hoạt động báo chí Âm hởng nữ quyền đã xuất hiện trong đờisống xã hội, trong đó có văn học Sau 1945, đặc biệt là sau 1986, đội ngũ cỏcnhà văn nữ trở nờn đụng đảo, và tài năng của họ được thừa nhận rộng rói vànhiều tỏc phẩm của họ cú ảnh hưởng đến cụng chỳng và được giảng dạy trongnhà trường.
Cùng với tinh thần tự do dân chủ, nhiều nhà văn nữ đã mạnh dạn phôbày đời sống của ngời phụ nữ ở “tầng sâu bản thể”, đem lại cho văn học nhiềuhiểu biết mới về ngời phụ nữ trong đời sống hiện đại, qua đó xác lập cái nhìn,
hệ quan điểm thẩm mỹ của mình, không phụ thuộc vào sự áp chế của đàn ông
Tìm hiểu âm hởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đơng đại là mộtvấn đề mới mẻ Do khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ tập trung tìmhiểu t tởng này trong sáng tác truyện ngắn của Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị ThuHuệ, Đỗ Hoàng Diệu - ba tác giả nữ đại diện cho ba thế hệ nhà văn sau 1975
2 Lịch sử vấn đề
Trong nghĩa rộng nhất, phong trào nữ quyền là một phong trào rộng lớn
ảnh hởng đến nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau Trong lĩnh vực văn học, tinhthần nữ quyền thể hiện trong cách lựa chọn đề tài, quan niệm về văn học, quanđiểm sỏng tỏc, thái độ đánh giá các giỏ trị của nhà văn Sau khi cụng trỡnh
Giới tính thứ hai của Simon de Beauvoir ra đời, đó cú hàng trăm cụng trỡnh
khoa học khỏc nhau bàn về nữ quyền (chẳng hạn quyền được đi học, được lyhụn, được làm chủ kinh tế, được tự do bầu cử và tham gia chớnh trường…)
Từ chõu Âu, phong trào nữ quyền đó lan rộng khắp thế giới, trở thànhmột trong những hoạt động tinh thần đỏng chỳ ý nhất trong lịch sử thời kỳhiện đại Tại Trung Quốc, một quốc gia chịu ảnh hởng sâu sắc của tinh thầnKhổng giáo, t tởng nữ quyền cũng bắt đầu lan rộng vào những năm 80 của thế
kỷ xx, nhất là sau khi Đại hội phụ nữ thế giới đợc tổ chức tại Bắc Kinh năm
1995 Thậm chí, nhiều ngời cho rằng, những năm cuối thế kỷ XX là “thế kỷcủa nàng” với sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ nổi đình nổi đám nh ThiếtNgng, Vệ Tuệ, Miên Miên…
Trang 6Ở Việt Nam sau 1986, âm hởng nữ quyền trong văn học mới thực sự
đ-ợc các nhà văn, nhà phê bình cũng nh độc giả chú ý đến Rất nhiều tác phẩmcủa Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Nguyễn Thị ThuHuệ… mang đậm dấu ấn t mang đậm dấu ấn t tởng nữ quyền Các nhà văn nữ công khai bày tỏchính kiến riêng của mình, nhiều nhân vật trong sáng tác của họ là những cáthể độc lập, có quan niệm riêng về các giá trị, có t tởng chống lại sự áp đặt t t-ởng của nam quyền và các định kiến xã hội Thậm chí những đề tài cấm kỵ
nh đề tài tình dục cũng đợc thể hiện một cách công khai, táo bạo, tạo thànhmột làn sóng d luận xung quanh vấn đề âm hởng nữ quyền và tình dục trongvăn học Không những vậy, dới con mắt của các nhà văn nữ, bằng quan điểmriêng của mình, họ viết về hiện thực không phải thứ hiện thực tô hồng nhtruyền thống mà một hiện thực đợc nhìn bằng một quan điểm, lập trờng riêngcủa cá nhân với những đề tài về chiến tranh, về con ngời trong và sau chiếntranh… từ đó xác lập một cái nhìn riêng của nữ giới
Khi bàn về vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam, tác giả Phan Việt
Thuỷ, trong bài Phái tính trong ngôn ngữ và văn học trên tạp chí Việt
(Tienve.org) nhấn mạnh “sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà không phải chỉ
là sự khác nhau thuần tuý có tính chất ngôn ngữ mà còn là sự khác nhau trong
văn hoá và xã hội” Cũng trên trang Tạp chí Việt, tác giả Tú Ân trong bài Văn
tự và phái tính khẳng định “chữ viết gắn liền với t duy phân tích và t duy phân
tích lại gắn liền với bán cầu bên trái của não bộ Trong khi đó, nữ giới lại gắnliền với bán cầu bên phải” Chính điều đó cho thấy, trong con mắt của cánh
đàn ông thì sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà là do bản chất nữ giới
Trong cách nhìn nhận vấn đề nh vậy, rõ ràng có sự phân biệt giới tính mộtcách khá cực đoan, đánh giá toàn bộ văn học Việt Nam cũng mang cái nhìncủa đặc trng giới
Về vấn đề văn học nữ tính, tác giả Nguyễn Vy Khanh trong bài Tản mạn về dục tình và nữ quyền đã cho rằng văn chơng dục tính có khuynh hớng
đi liền với nữ quyền Nhiều nhà văn nữ đã lên tiếng chống lại những thân phậnphục tùng, nhận chịu, chờ đợi Họ vạch mặt những quyền lực đàn áp của địnhchế chính trị, của xã hội của phái nam
Trong văn học thể hiện rõ sự kỳ thị phái tính, khi viết về đề tài tình dục
một đề tài đợc coi là “kỵ huý” đối với các nhà văn nữ, nhng trong bài Tình dục trong văn học Việt dới cách nhìn của đạo lý hồn nhiên và của đạo lý học
Trang 7thuyết (Tạp chớ Việt) tác giả Nguyễn Hữu Lê cho rằng: có thể nói trong văn
học cổ trung đại Việt Nam còn phụ thuộc vào vấn đề phái tính, nó quy định sởhữu tuyệt đối theo một chiều, đàn ông đợc quyền sở hữu tuyệt đối và không cóchiều quy định ngợc lại Chính vì vậy các nhà văn nữ đi vào đề tài tình dụcnhằm khẳng định đàn bà không còn phụ thuộc vào đàn ông và nhiều khiquyền chủ động thuộc về nữ giới
Bước sang thời kỳ dõn chủ khi chuẩn mực về nhiều giỏ trị được nhỡnthoỏng hơn, cỏc nhà lý luận, phờ bỡnh đó bắt đầu soi rọi vào những vấn đềđược cỏc nhà văn nữ phản ỏnh từ hiện thực cuộc sống qua cỏi nhỡn và quanniệm của cỏc nhà văn nữ Tuy nhiên, về cơ bản, các bài viết về âm hởng nữquyền trong văn học mới dừng lại bàn về những vấn đề chung mà cha có điềukiện đi sâu vào vấn đề nữ quyền qua sáng tác của các tác giả cụ thể đây chính
là điều mà luận văn sẽ hớng tới Chúng tôi hi vọng những trang viết của mình sẽgóp thêm một tiếng nói nhỏ bé vào hớng nghiên cứu triển vọng này
Để hoàn thành đợc luận văn này, chúng tôi đã thừa kế những ý kiến củacác công trình nghiên cứu trớc đó nhằm làm sáng tỏ hơn về “âm hởng nữquyền trong truyện ngắn các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới”
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ nêu lên những đặc
điểm chung nhất về t tởng nữ quyền trong văn học Ngời viết cha dám nói đến
t tởng nữ quyền trong văn học Việt Nam mà chỉ nói đến âm hởng nữ quyền với
hàm ý: ở nớc ta mặc dù đã bắt đầu hình thành cái nhìn riêng của nữ giới vềnhiều mặt khỏc nhau của đời sống, về giá trị và sự tồn tại độc lập của nữ giớivới t cách là giới thứ hai nhng cha thật nổi bật, điển hình nh văn học PhơngTây Luận văn sẽ tập trung phân tích âm hởng nữ quyền qua các tập truyệnngắn của ba nhà văn:
Võ Thị Hảo với Goá phụ đen; Ngời sót lại của Rừng Cời; Hồn trinh nữ;
Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 2006;
Nguyễn Thị Thu Huệ với 37 truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học, Hà
Nội, 2006;
Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005.
Ngoài ra, trong quỏ trình phân tích, lý giải, chúng tôi sẽ tiến hành so
sánh với truyện ngắn của một số nhà văn khác, để, thứ nhất, thấy rừ hơn đúng
Trang 8gúp của ba nhà văn; thứ hai, thấy được õm hưởng nữ quyền đó hiện hữu trong
văn học Việt Nam đương đại như một làn súng tư tưởng đỏng chỳ ý
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để làm nổi rõ âm hởng nữ quyền trong sáng tác của ba tác giả nữ,chúng tôi sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu cơ bản nh sau:
Phơng pháp hệ thống: Đặt các vấn đề, các loại nhân vật trong cùng một
hệ thống, từ đó đa ra những khái quát khoa học nhằm khẳng định sự mới mẻ
và độc đáo trong quan niệm của các nhà văn về đời sống và các giá trị nhânthế
Phơng pháp so sánh: tiến hành so sánh âm hởng nữ quyền trong văn
học qua sáng tác của các nhà văn để làm nổi rõ những sắc thái riêng trongsáng tác của Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ và Đỗ Hoàng Diệu
Phơng pháp phân tích, tổng hợp: Phơng pháp này giúp ngời viết đi sâu
phân tích lý giải tinh thần nữ quyền trong các văn bản nghệ thuật, đánh giỏmột cách khách quan những sáng tạo thực sự của các nhà văn theo tinh thầndân chủ và nhân văn
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm có
ba chơng:
Chơng 1 Một số vấn đề lý luận chung về nữ quyền.
Chơng 2 Âm hởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại
Chơng 3 Âm hởng nữ quyền trong sáng tác của ba nhà văn: Võ Thị
Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Hoàng Diệu.
Trang 9Chương 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN CHUNG VỀ NỮ QUYỀN
1.1 Vài giới thuyết về chủ nghĩa nữ quyền / nữ quyền luận
Loài người bắt đầu lịch sử của mỡnh bằng chế độ mẫu quyền (mẫu hệ),cựng với thời gian, đàn ụng với ưu thế mạnh mẽ về cơ bắp và là người tạo rathu nhập kinh tế nhiều hơn đó trở thành “kẻ mạnh” Theo tụn giỏo, Eva đượcsinh ra từ chiếc xương sườn thứ 7 của Adam, từ đú, vai trũ của nữ giới bị coi
là lệ thuộc, chịu sự chi phối bởi nam quyền; và trong cỏi nhỡn của lịch sử, chế
độ phụ quyền bắt đầu Trong suốt hai ngàn năm tồn tại, phỏi nam gần như giữvai trũ thống trị tuyệt đối, điều đú đó được minh chứng bằng nhiều tỏc phẩm,
trong đú cú sử thi Iliat của Homer, phụ nữ và nụ lệ là hai phần thưởng dành
cho kẻ thắng trận
Vai trũ thống trị của đàn ụng khụng chỉ nhận được sự ủng hộ của cỏcthiết chế xó hội mà cũn trở thành một tõm lý phổ biến trong cỏch nhỡn và quanniệm của con người Nếu ở Phương Tõy, ngự trị trờn đỉnh Olempo là thần Zotthỡ ở Phương Đụng, cỏc vị thần tối cao cũng gắn với đàn ụng, một số nướcHồi giỏo quy định phụ nữ ra đường phải che mặt
Cú nhiều nguyờn nhõn cả về mặt lịch sử lẫn trờn phương diện văn húagiải thớch vai trũ quan trọng của người phụ nữ trong xó hội Việt Nam truyềnthống Việt Nam nằm trong khu vực văn minh Đụng Nam Á bản địa trước khitiếp thu ảnh hưởng văn hoỏ Ấn – Hoa, vốn cú đặc trưng là văn minh nụngnghiệp độc canh cõy lỳa, đặc biệt là cõy lỳa nước, giống cõy đũi hỏi nhiềucụng sức lao động thủ cụng đến nỗi thành viờn nữ khú bị gạt ra ngoài lề sảnxuất Đụng Nam Á cũng cú chế độ mẫu hệ phổ biến và dai dẳng, cú nhiều nữthần đến mức nữ hoỏ một số phật và bồ tỏt nam, mà trường hợp điển hỡnh làphật quan Âm (Thế âm Bồ tỏt) Những yếu tố cổ đại này đến nay vẫn là thực
tế xó hội đảm bảo tớnh bền vững của truyền thống
Trang 10Theo dòng lịch sử của nhân loại, xã hội Việt Nam dần chuyển theo chế
độ phụ quyền Người phụ nữ Việt Nam bắt đầu chịu sự chi phối của tư tưởngKhổng Tử Chế độ phụ quyền Nho giáo thiết lập nam tôn nữ ti từ luật pháp, lệlàng đến luân thường đạo lý Chế độ phụ quyền với “Tam tòng, tứ đức” đãbiến người phụ nữ nho giáo với thành một hiện hữu thụ động và chỉ biết phục
vụ cho đàn ông Chính những điều này cho ta câu trả lời tại sao phong trào nữquyền lại được bắt đầu từ các nước tiên tiến và đã đạt được những thành côngđáng kể
Bước sang đời sống hiện đại, đa số phụ nữ đi làm việc và từ đó giá trịcủa người phụ nữ tỉ lệ thuận với những đóng góp về kinh tế của họ đối với giađình và xã hội Họ bắt đầu ý thức được vai trò của mình và lên tiếng đấu tranhđòi quyền bình đẳng
Cuộc chiến đấu để giành lại địa vị đã mất của nữ giới vốn âm ỉ từ lâutrong lịch sử đã dần phát triển mạnh mẽ với tên gọi là nữ quyền luận - chủnghĩa nữ quyền (Feminism)
Chủ nghĩa nữ quyền (Feminism) là sản phẩm của phong trào cáchmạng tư sản cận đại, đã có bề dày lịch sử hơn hai trăm năm Ngay sau khi Đạicách mạng Tư sản Pháp bùng nổ, vào tháng 10-1789 một nhóm phụ nữ Parisxông vào trụ sở Quốc dân đại hội, đòi quyền bình đẳng nam nữ, đến sau Đạichiến Thế giới lần thứ hai, tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đều xác địnhnam nữ bình quyền trong hiến pháp [30]
Trong khoảng bốn mươi năm gần đây, phong trào nữ quyền không ngớtlàm sôi động dư luận Chỉ riêng với tổ chức Liên Hiệp Quốc, năm 1952 bảnTuyên Ngôn về Quyền chính trị của Nữ giới được long trọng tuyên khai, năm
1975 được gọi là năm quốc tế Nữ quyền, và Liên Hiệp Quốc triệu tập Hộinghị Thế giới và Nữ quyền tại Mexico
Hội nghị đầu tiên về Quyền sinh sản làm mẹ và quyền tự do lựa chọnngừa thai, giữ thai hay phá thai họp tại Nairobi, Châu Phi năm 1985 Mười
Trang 11năm sau, năm 1995, Liờn Hiệp Quốc tổ chức Đại hội Nữ quyền Thế giới tạiBắc Kinh, thủ đụ nước Trung Hoa Hội nghị kết hợp một trăm tỏm lăm (185)quốc gia, gồm bốn ngàn đại biểu chớnh phủ, thảo luận trong mười ngày nhằmthay đổi đường lối, chớnh sỏch của cỏc quốc gia để cải thiện phương tiện y tế,giỏo dục, kinh tế, chớnh trị và văn hoỏ trong đời sống người phụ nữ.
Phong trào này dần dần chiếm được nhiều ưu thế và lớn mạnh lan sangcỏc nước ở Chõu Âu, Chõu Á, và cú ảnh hưởng mạnh mẽ vào văn học
Phong trào này được cổ vũ bằng cụng trỡnh “Giới tớnh thứ hai” (1949)
của nữ văn sĩ Phỏp Simon de Beauvoir Với sự phõn tớch về nhiều mặt bị ỏp
bức và với những yờu cầu cao hơn về việc giải phúng phụ nữ, “Giới tớnh thứ hai” (The second sex) cú ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thỳc đẩy sự
phỏt triển của chủ nghĩa nữ quyền trong đời sống hiện đại núi chung vàtrong văn học núi riờng, thỳc đẩy sự phỏt triển của phong trào sang một giaiđoạn mới
Trong cụng trỡnh của mỡnh, S.de.Beauvoir đó phờ phỏn gay gắt nền vănhoỏ phụ hệ đó đẩy người phụ nữ ra khỏi vị trớ ngoài lề của xó hội cũng nhưcủa văn học nghệ thuật Ngay tờn cụng trỡnh của mỡnh, bà đó phõn tớch vấn đềmột cỏch sõu sắc và tinh tế, ở cấp độ ngụn từ, bà dựng “giới tớnh thứ hai” (thứhai cú nghĩa là cú thứ nhất) đũi hỏi sự bỡnh đẳng bỏo hiệu một phong trào phờbỡnh nữ quyền đang dần hỡnh thành Giới là đặc trng văn hoá, xã hội của đờisống nam và nữ Giới tính là đặc trng sinh và thể của đời sống nam và nữ.Những đặc trng sinh và thể của con ngời thờng ít biến đổi và tuân theo quyluật tự nhiên, còn những đặc trng văn hoá, xã hội thờng biến đổi theo sự biến
đổi của cấu trúc một xã hội nhất định và tuân theo quy luật xã hội Điều này
có nghĩa, theo quan điểm giới, về mặt xã hội, nam và nữ hoàn toàn bình đẳngvới nhau Sự khác biệt của giới chỉ là do nhân tạo, do quan niệm, giáo dục,truyền thống và quyền lực chính trị của các thời đại tạo nên Vì cuộc sống làmột chuỗi dài bất tận của những vấn đề trong tơng quan đối lập: đen trắng, tốtxấu, thiện ác, nam nữ… tất cả luôn đối nghịch nhau [24]
Trang 12Giới nghiên cứu ngôn ngữ học và văn hoá học Phương Tây từ lâu đãphân tích kỹ và rất sâu về sự phản ánh của quan hệ phái tính trong lĩnh vựcngôn ngữ Các nhà nữ quyền luận lại càng quan tâm đến ngôn ngữ, coi đó nhưmột vài bằng chứng rõ rệt nhất tố cáo tình trạng mất bình đẳng về phái tínhtrong xã hội Theo họ, ngôn ngữ mà chúng ta hiện đang sử dụng, với tư cách
là một hệ thống cũng như với tư cách là một hoạt động chủ yếu là sản phẩmcủa nam giới, trong một xã hội phụ quyền, phản ánh những giá trị và nhữngchuẩn mực văn hoá của đàn ông, chúng được sử dụng như một vũ khí để chấn
áp phái nữ Lý do khiến người ta đặc biệt quan tâm đến ngôn ngữ vì quan hệgiữa chủ thể, ngôn ngữ và hiện thực là một quan hệ tương hỗ: qua hệ thốngngôn ngữ cũng như cách sử dụng ngôn ngữ người ta sáng tạo ra những hiệnthực khách quan do chính mình Bởi vậy, sự khác nhau giữa đàn ông và đàn
bà trong cách nói năng, không phải chỉ là sự khác nhau thuần tuý có tính chấtngôn ngữ mà còn là những sự khác nhau trong văn hoá và xã hội Hơn nữa,trong ngôn ngữ không phải chỉ có những kỳ thị nam nữ mà còn có xu hướngcoi đàn ông là trung tâm, còn đàn bà là chỉ là thứ yếu và phụ thuộc [23]
Chẳng hạn, trong tiếng Anh, chữ “Man” vừa có nghĩa là đàn ông vừa
có nghĩa là nhân loại Nhân loại (mankind) là thế giới đàn ông “man” Đànông là gốc, “man” là gốc, từ đó nảy sinh ra nhánh “woman” (đàn bà) Mr(ông) là gốc, từ đó nảy sinh ra Mrs (bà)
Trong Tiếng Việt cũng có sự phân biệt phái tính như vậy Ví dụ ngaytrong câu chào “Thưa quý ông, quý bà” đã bao hàm quan niệm nam trước nữsau Những cách nói quen thuộc như “nữ văn sĩ”, “nữ luật sư”, “nữ ký giả”,
“nữ bác sĩ”…cũng đều bao hàm những nghề ấy vốn là những người đặc biệtdành cho phái nam, phụ nữ ở đó chỉ là ngoại lệ, cho nên người ta phải thêmvào đó từ “nữ” để phân biệt Khi nói ai đó có “tính đàn bà”, là hàm ý chê baingười ấy là quá tỉ mỉ, nhỏ nhen Người đàn bà có chồng là bác sĩ, kỹ sư, giám
Trang 13đốc… cũng thường được gọi là bà bỏc sĩ, bà kỹ sư, bà giỏm đốc… trong khi
đú nếu người vợ làm nghề bỏc sĩ, giỏo sư.v.v thỡ người chồng khụng được gọinhư vậy Do vậy, khi nói đến ngời phụ nữ, ngời ta thờng nghĩ ngay đến nhữngphong trào đòi bình quyền, đòi quyền sống, đến những quan niệm kỳ thị namnữ Những ý kiến ủng hộ hay chống đối những quan niệm ấy chia ra hai phe
rõ rệt mà ngời bênh vực sự kỳ thị ấy đa số là phái nam, và ngời chống đối sựbất bình đẳng thì luôn luôn là phái nữ
Phải chăng ngụn ngữ cũng cú sự hỡnh thành tự phỏt từ xa xưa TheoBarbara Johnon - “vấn đề giới tớnh thực chất là vấn đề ngụn ngữ” Vỡ vậy, bàS.de.Beauvoir kờu gọi cỏc văn sĩ hóy dựng chớnh sức mạnh của ngụn từ đấutranh chống lại sự khống chế của nam giới, chứ không phải lui về nương nỏutrong ngụn từ quy thuận của mỡnh Phụ nữ chống văn minh, văn hoỏ dựa trờnquyền hành đàn ụng, phụ quyền, chống Phương Tõy kỹ nghệ định nghĩa đànụng ở khả năng sỏng tạo và chế biến sự vật Phụ nữ chống văn chương nhưmột nền chế, họ thớch mặt trận “ngụn ngữ” hơn, thớch phổ dương liờn hệ trựctiếp với chữ viết cũng như thõn xỏc Phụ nữ Chõu Mỹ đũi quyền lợi, họ dấnthõn, xuống đường, lập nghiệp đoàn…ớt cho người đọc thấy dõy dưa tỡnh cảm.Ngụn ngữ khụng quan trọng, cỏi quan trọng là chống đàn ỏp, đụ hộ của đànụng Trong khi đú ở Phỏp và Chõu Âu, ngụn ngữ được đặt lại vị trớ, thẩm mỹhọc, một loại phản văn hoỏ đặt trờn nền sự đố nộn Cỏc tỏc giả nữ dựng ngụnngữ để nờu bật lờn nội dung và tỡm lối thoỏt cho chớnh những gỡ mỡnh đang bịtrúi buộc Chớnh vỡ vậy đó xuất hiện hàng loạt những khuynh hướng mới vềthể loại tiểu thuyết, những quan điểm đổi mới nhằm thay cho những quanđiểm, tư tưởng bị lệ thuộc, từ đú khẳng định vai trũ của người phụ nữ trongđời sống gia đỡnh - xó hội đặc biệt là trong nghệ thuật Nhà văn nam dựng văn
để trỡnh bày lý thuyết, triết lý thể hiện quan điểm lập trường của mỡnh, nhàvăn nữ dựng văn học thể hiện cỏi tụi, xỏc định cỏi tụi, cỏ nhõn, và họ đi vào
Trang 14tỡnh dục Tỡnh dục được xem như là “vũ khớ” để cho cỏc nhà văn nữ phảnkhỏng lại chế độ phụ quyền đang tồn tại, chế ngự đời sống của người phụ nữ
Toàn bộ đời sống tình dục của con ngời, theo giới nghiên cứu văn học
và văn hoá học gần đây, là một “diễn ngôn” mà bản chất của diễn ngôn lại làcách nhìn và cách nói về một điều gì chứ không phải bản thân điều đó Theocác nhà nữ quyền luận, những cách nhìn và cách nói ấy mang đậm dấu ấn củaphái tính, trong đó u thế rõ rệt nghiêng về nam giới, tạo thành một thứ họ gọi
là “duy dơng vật luận” Bỏ qua một bên những chủ trơng cực đoan, quan điểmcủa nữ quyền luận đã mở ra một cái nhìn mới và khác về văn học Khác vớicác nhà hình thức luận của Nga, cấu trúc luận của Pháp, và phê bình mới của
Mỹ vồn chỉ tập trung vào một cái gì tự tại và tự trị chứ không chú ý đến vănhọc về con ngời, cả ngời sáng tác lẫn ngời đọc; cũng khác với các nhà Macxit,hậu cấu trúc và giải cấu trúc vốn ít nhiều quan tâm đến con ngời, nhng tất cả
đều xem con ngời nh là cái gì đợc quy định bởi các yếu tố nh giai cấp, ý thức
hệ hoặc ngôn ngữ Các nhà nữ quyền luận đã nhìn con ngời nh, trớc hết, mộtphái tính: “ngời ta viết và đọc bao giờ cũng nh một ngời nam hoặc một ngờinữ chứ không bao giờ nh một con ngời chung chung” Dới mắt các nhà nữquyền luận, lịch sử không phải là một chuỗi đấu tranh giữa các giai cấp mà làmột chuỗi đấu tranh giữa giống (sex) khác nhau [22]
Từ cỏch nhỡn này, dưới con mắt của nam quyền, trong văn học, ngườiphụ nữ phải chịu hai lần chà đạp, lần thứ nhất là của “giống đực trờn giốngcỏi” sự tấn cụng trờn thể xỏc, lần thứ hai là trờn quyền thể hiện Trong sự tấncông thứ nhất, ngời phụ nữ bị dày vò; trong sự tấn công thứ hai, ngời phụ nữ bịxuyên tạc.[23] Chúng ta hiểu vì sao trong văn học Việt Nam, cũng nh, có lẽ,văn học của nhiều quốc gia khác trên thế giới, từ văn học dân gian đến vănhọc viết, những cảnh hiếp dâm hay sách nhiễu tình dục nói chung nếu không
bị hài hớc hoá thì cũng bị h vô hoá hoặc nếu không cũng bị hoán chuyển đối ợng: nạn nhân thành tội nhân; bất hạnh biến thành khoái lạc, bi kịch của mộtcá nhân thành bi kịch của cả xã hội.[23]
t-Nói một cỏch khỏc, trong văn học, hỡnh ảnh người phụ nữ bị chà đạp cảnhõn hỡnh lẫn nhõn tớnh đều khụng được quan tõm, dưới con mắt của nam
Trang 15quyền đú chỉ đơn thuần là một sự kiện, một thứ tai nạn, hay có khi, lạ lùnghơn, một thứ may mắn đối với nạn nhân Rõ ràng ở đây là một cách nhìn đầy
kỳ thị về phái tính Nhng điều lạ là ở Việt Nam cho đến nay, hình nh cha cóngời phụ nữ nào tỏ ý bất bình về những cách nhìn này Không phải chỉ là mộtthói quen chịu đựng theo kiểu nói “làm hoa cho ngời ta hái, làm gái cho ngời
ta trêu” mà vấn đề chính ở chỗ, nói nh các nhà nữ quyền luận, một cách vôthức, cái đọc của ngời phụ nữ cũng bị nam hoá đi: họ đọc nh là những ngời
đàn ông đọc, cho nên không nhận ra cả những cái nhìn đầy bất công trong đóchính mình là nạn nhân Do đó, cái thiếu của chúng ta không phải là nhữngtác giả nữ mà là những ngời đọc nữ Nữ thực sự chứ không phải là những ngời
động ở các xã hội Phơng Tây, bắt đầu từ giữa thế kỷ XX Lý thuyết nữ quyềntạo nên các phong trào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị củanam giới, phê phán quyết liệt chế độ áp bức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ,tạo lập bình đẳng giới Mặc dù có chung mục đích là vì sự phát triển của phụnữ chống lại chế độ nam trị, nhng lý thuyết nữ quyền có nhiều trờng phái khácnhau, thậm chí, có những trờng phái mâu thuẫn nhau gay gắt Có thể nêu một
số lý thuyết nữ quyền có ảnh hởng mạnh đến xã hội Phơng Tây thời gian qualà: Nữ quyền tự do, Nữ quyền mác-xít, Nữ quyền xã hội chủ nghĩa, Nữ quyềntriệt để, Nữ quyền hiện sinh, Nữ quyền phân tâm… và gần đây xuất hiện một
số nữ quyền mới nh: Nữ quyền hậu hiện đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụnữ thế giới thứ ba…
Chính các lý thuyết nữ quyền này đã tác động đến nhiều khía cạnh khácnhau của đời sống xã hội và đã tạo nên những quan điểm lý luận và làn sóngnữ quyền đấu tranh giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới rất sôi động ở các xã
hội này hơn một thế kỷ qua Đó là làn sóng phụ nữ trong phát triển (WID) xuất hiện vào đầu những năm 70, giới và sự phát triển (GAD) xuất hiện vào
Trang 16những năm 80 của thế kỷ trớc và ngày càng đợc điều chỉnh, bổ xung tiếp tụcphát triển.
Bình đẳng giới tính và nữ quyền thuộc những vấn đề quan trọng nhấtcủa thời đại mới Trong đa số các nền văn hoá (không cứ là văn hoá Đông Ph-
ơng) giới chịu các bất công trong những bất bình đẳng về giới tính thờng là nữgiới Do đó, tranh đấu về bình đẳng giới tính thờng đồng nghĩa đấu tranh chonữ quyền
Bình đẳng về giới tính một cách tổng quát xoay chung quanh các vấn đềchính nh khái niệm đàn ông và đàn bà, khả năng tâm linh của họ, quyền có
địa vị, quyền đợc kính trọng, có quyền hành trong gia đình, bình đẳng trongcác vấn đề pháp luật nh li dị, quyền đợc hởng những vấn đề giáo dục, quyền
đợc theo đuổi nghề nghiệp, quyền chính trị…
Nếu ở nền văn hoá Phơng Tây có vẻ dễ dàng cho việc chấp nhận bình
đẳng giới tính, thì nền văn hoá Phơng Đông lại “đè nén” ngời phụ nữ, thật rathì “đè nén” phụ nữ hầu nh là đặc tính chung của văn hoá nhân loại, nhng nhờ
sự phát triển về mặt trí thức, kinh tế, chính trị, xã hội cho nên đã tạo điều kiệnthuận lợi cho phong trào tranh đấu nữ quyền phát triển, cũng đúng thật rằngphong trào nữ quyền là một hiện tợng mới và bắt nguồn từ Phơng Tây Phongtrào đấu tranh nữ quyền không còn là một hịên tợng thuần tuý ở Phơng Tâynữa mà những ngời phụ nữ tự giác ở khắp các nền văn hoá đã bắt đầu đónggóp đáng kể cho việc xác nhận quyền lợi, phẩm tính và vai trò tích cực lãnh
đạo của ngời phụ nữ trong đủ mọi phơng diện của đời sống và ở khắp nơi trênthế giới
Ở Trung Quốc - nhiều nhà nghiờn cứu cho rằng, phong trào nữ quyềnbắt đầu từ phong trào Ngũ Tứ, nhất là những năm 80 của thế kỷ XX khi lýluận phờ bỡnh văn học Phương Tõy và lý luận giới tớnh đổ bộ vào TrungQuốc, đặc biệt là từ sau Đại hội phụ nữ thế giới lần thứ tư được tổ chức tạiBắc Kinh năm 1995, phong trào nghiờn cứu văn học nữ tớnh hết sức sụi nổi.Chưa bao giờ trờn văn đàn lại xuất hiện nhiều nhà văn nữ như vậy Phong tràogiải phúng phụ nữ được đề cập đến một cỏch rỏo riết
Ở Nhật Bản - sau cuộc cỏch mạng về chớnh trị, kinh tế, xó hội Nhật Bản
là Minh Trị Duy Tõn, vị trớ của người phụ nữ chưa được cải thiện một cỏch
Trang 17đáng kể Từ sau 1975, trong phong trào đấu tranh nới rộng quyền sống củangười phụ nữ, các nhà văn nữ mới có những hoạt động đáng kể Đó là dòngvăn học đấu tranh cho nữ quyền (women rights) hay mạnh mẽ hơn, thiêntrọng phụ nữ (Feminism).
Ở Việt Nam - Thời Pháp thuộc, bên cạnh vô vàn tội ác của thực dân,không thể không tính đến những chuyển biến theo hướng hiện đại hơn Phuđồn điền, phu mỏ, công nhân nhà máy, tuy phụ nữ bị bóc lột tàn khốc hơn vìkhông có chuyên môn, vì chế độ lương phân biệt, song họ biết thế nào là tựchủ kinh tế vì đi làm có lương Trường học mở ra tuy nhằm mục đích đào tạođội ngũ viên chức, nhân viên kỹ thuật không thể thiếu cho việc xác lập bộmáy cai trị thực dân và nền móng kinh tế tư bản song cũng tạo điều kiện chonhiều trẻ em và thanh niên trai gái có điều kiện tiếp thu tri thức mới Lần đầutiên nữ học sinh đến lớp đến trường Trong phong trào cách mạng đầu thế kỷ
XX, Đông kinh nghĩa thục cũng như các trường học cách mạng khác bắt đầu
có vài cô giáo bên cạnh các thầy Lê Thị Đàn được Phan Bội Châu tôn xưng
Âu Triệu, Cô Bắc, Cô Giang dưới ngọn cờ Việt Nam Quốc dân Đảng củaNguyễn Thái Học, rồi Minh Khai và những nữ đảng viên cộng sản đầu tiên,những người phụ nữ cứ đông dần lên và được biết đến nhiều hơn cùng với sựphát triển của cuộc đấu tranh chống áp bức xã hội, chống chủ nghĩa thực dân
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, do ảnh hưởng của làn sóng tân thư,một số người như Đạm Phương, Sương Nguyệt Ánh đã bắt đầu bàn đến vaitrò của phụ nữ Một dòng chảy không kém phần quan trọng của lịch sử, nhất
là sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến 1945, là sự hình thành trào lưu vănhọc và tư tưởng mới Nền văn học chữ quốc ngữ ra đời và nhanh chóng thaythế văn học cổ điển Hán – Nôm Về thể loại - Thơ mới, truyện ngắn và cácthể loại báo chí như bản tin, phóng sự, phỏng vấn…thay thế thơ phú, câu đối,văn tế cổ điển - cũng như về chủ đề, nội dung, người viết và người đọc, tất cả
Trang 18đều đổi mới và tự ý thức mình là mới mẻ, những từ như “tân thư”, “tân văn”,
“thơ mới” họ dùng để chỉ sách báo và tác phẩm của mình
Phụ nữ - tuy là số ít song đó thường là những chị em năng động nhất,bắt đầu theo đuổi việc học lên cao, có người đi học đại học ở Pháp, số đônghọc ở trong nước và hành nghề tự do như dạy học, viết báo, trở thành văn sĩ,cũng có người mở trường dạy nghề cho nữ, viết báo cổ động cho nữ quyền
Nữ học đường như Áo Tím ở Sài Gòn, Đồng Khánh ở Hà Nội, Huế được biếtđến như là nơi đào tạo tầng lớp nữ trí thức, tuyệt đại bộ phận là yêu nước và
có ý thức về giới Báo chí nữ, xuất bản nữ ra đời với tôn chỉ rõ ràng là ủng hộcuộc đấu tranh vì nam nữ bình quyền, vì nâng cao dân trí và khả năng đónggóp của nữ lưu cho dân tộc Thơ mới, tiểu thuyết vượt ra ngoài phạm vi đơnthuần văn học để tham gia đặt lại các vấn đề tự do, hạnh phúc cá nhân trongtình yêu và hôn nhân, về gia đình, về địa vị, vai trò phụ nữ
Vai trò của phụ nữ đặc biệt được đề cao trong chính thể mới sau 1945với sự ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam Đó là tiền đề văn hoá và xã hội thuậnlợi cho “văn học nữ tính” có cơ hội phát triển So với trước đây, đội ngũ cácnhà văn nữ đông đảo hơn, tài năng của họ được thừa nhận rộng rãi hơn Nhiềutác phẩm của họ có ảnh hưởng đến công chúng và được giảng dạy trong nhàtrường
Những thay đổi về ý thức phái tính và thái độ đề cao vai trò người phụ
nữ đã ảnh hưởng rất lớn vào nhiều lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là văn học.Nhưng quan trọng hơn, ý thức về giới một cách tự giác đã ăn sâu vào tâmthức của đội ngũ người cầm bút và tạo nên âm hưởng nữ quyền trong văn học
1.2 Phong trào nữ quyền trong văn học
Trong lĩnh vực văn học, từ tự phát đến tự giác, các nhà văn đều có ýthức lên tiếng phản đối, phản kháng lại những tôn ti trật tự vô lý để đòi quyền
xã hội Các cây bút nữ “không phải chỉ chống lại mọi hình thức áp chế của
Trang 19nam giới mà cũn phải cố gắng xỏc định một thứ mỹ học riờng của nữ giới, từ
đú, thiết lập nờn những điển phạm riờng, xõy dựng nhiều tiờu chớ riờng trongviệc cảm thụ và đỏnh giỏ lại cỏc hiện tượng của văn học” [23]
Bằng lý lẽ sắc bộn và lập luận của riờng mỡnh, cỏc nhà nữ quyền luậnnhắm đến mục tiờu: “cố gắng phỏt hiện và tỏi hiện cỏc tỏc phẩm văn học củaphụ nữ, qua đú, đỏnh giỏ – phõn tớch cỏc khớa cạnh hỡnh thức của tỏc phẩm ấy,tỡm hiểu xem những tỏc phẩm ấy đó phản ỏnh quan hệ nam nữ ra sao vànhững yếu tố liờn quan đến tõm lý, huyền thoại của người phụ nữ như thế nàotrong văn học” [23]
Trên cơ sở khẳng định kinh nghiệm văn học và kinh nghiệm xã hội củanữ giới, họ nghiên cứu đánh giá lại toàn bộ văn học sử, phát hiện lại địa vị vàgiá trị của những nữ văn sĩ với những phơng thức sáng tác đặc thù trong sự đốisánh với nam giới Khẳng định phụ nữ là một giá trị độc lập trong mối quan hệvới nam giới Trong phê bình, nhiều khi thái độ coi thờng phụ nữ một cáchcực đoan, phủ nhận vai trò của phái nữ bằng cách cùng vạch trần xã hội đentối nhng tác phẩm của nam văn sĩ thì đợc coi là “hiện thực” sâu sắc còn nếu làtác giả nữ thì bị nhận xét là “tàn nhẫn”, “lòng dạ sắt đá” Nếu một tác giả nữnào đợc khen thì cũng chẳng qua là vì có bút pháp “nam tính” Có thể nói, tôn
ty trật tự và thái độ trọng nam khinh nữ là một vấn đề lớn trong đời sống xãhội đang chuyển dần sang lĩnh vực sáng tác và thởng thức văn học cũng nhnhiều hoạt động tinh thần khác Về phía sáng tạo văn học, công việc này cũng
đợc coi là đặc quyền của đàn ông Cho nên phong trào nữ quyền bắt đầu từPhơng Tây lan sang các nớc Phơng Đông và nhất là ở Việt Nam từ sau đổi mới
1986 đến nay
Ở Trung Quốc - đất nớc mang nặng t tởng nho giáo với những luật lệ hàkhắc nhng từ sau phong trào Ngũ Tứ và đặc biệt phát triển mạnh mẽ vào thậpniên 90 của thế kỷ trớc đã trở thành một phong trào mạnh mẽ với sự góp mặtcủa hàng loạt các nhà văn nữ, họ đã phản ánh những hiện thực cuộc sống, tâm
lý ngời phụ nữ dới ngòi bút và chính bằng sự chiêm nghiệm của bản thân.Nhiều tác phẩm đi sâu vào đời sống tình cảm cá nhân nh: Thiết Ngng, Vệ Tuệ,Miên Miên… mang đậm dấu ấn t
Trang 20Nhật Bản - t tởng nho giáo không chịu ảnh hởng nặng nề nh ở TrungQuốc và Việt Nam nhng ngời phụ nữ Nhật Bản vẫn đợc cả thế giới biết đếnbằng đức tính “tùng – thuận”, nhng cùng với làn sóng nữ quyền trên khắp thếgiới thì cũng có, tuy hiếm hoi một giọng văn nữ đấu tranh cho nữ quyền Tấtnhiên, ngời phụ nữ Nhật Bản cũng chỉ cất tiếng nói bàng bạc về thân phận,những thảm kịch, bi kịch của ngời phụ nữ Trong những lời phản kháng đó củaphái nữ Nhật Bản, tơng đối ấn tợng nhất là các tác phẩm của Yoshimo Banana
và Yamada Eimi, hai tác giả vừa đợc giới thiệu trên tạp chí da màu(Dama.org)
Tác phẩm văn học nh là một cái nhìn mới về đời sống của ngời phụ nữ:gia đình, xã hội, giới tính…
Trong một xã hội hiện đại, vốn quá tiện nghi cho nam giới, trong mộtnền văn hoá truyền thống “trọng nam khinh nữ”, ngời phụ nữ với những “thânphận” bị lên án bởi những ngoại tình, đồng tính luyến ái… một hậu quả củaxã hội thiếu công bằng, vũ phu đầy quyền lực mà những nạn nhân chỉ phảnkháng một cách yếu ớt, tiêu cực, nhà văn nữ Nhật Bản Yoshimo Banana đa ranhững nạn nhân, những thân phận trong xã hội hẩm hiu, hiện đại đó đã phảnkháng bằng cách trốn vào “nhà bếp” hoặc những chỗ vắng vẻ… những kiểuphản kháng này là một sự phản kháng dịu nhẹ nh những lời ta thán
Trong khi Yoshimo Banana phản kháng kín đáo, nhẹ nhàng trong t duytriết lý trí tuệ thì Yamada Eimi lại có kiểu phản kháng viết thật “sỗ sàng”, đến
“trâng tráo” về chuyện tình dục Tính dục có vẻ nh là mặt trận duy nhất màphái nam có vẻ chịu thua phái nữ Thành trì bảo vệ cho phái nam còn một góc
hớ hênh đó là tình dục Do đó, không có gì lạ khi phái nữ cần lên tiếng nóiphản kháng hay nữ quyền thì họ dùng ngay vũ khí tình dục Các nhà văn nữquyền Nhật Bản từ trớc đến nay giống nhau ở chỗ, bằng những cách thức haybiểu hiện chừng mực khác nhau, đều muốn chứng minh rằng: Tình dục khôngphải là độc quyền của đàn ông, không phải phụ nữ mới là đối tợng tình dục,phụ nữ có lợi thế tất thắng trong tình dục Yamada Eimi - miêu tả nhân vật nữ
- bao giờ cũng muốn “xỏ mũi” phái nam mà dắt đi, “chơi trội” hơn phái nam,
có bản lĩnh hơn, có t tởng hơn và ít chịu bó mình trong khuôn khổ luân lý, đạo
đức “lạc hậu” của xã hội.[32]
Yamada Eimi không tuyên ngôn là ngời đấu tranh cho nữ quyền Thựcchất cô là tiếng nói phản kháng với trật tự, nền nếp xã hội hiện đại Nhng so
Trang 21với Yoshimo Banana hay các nhà văn phái nữ khác của Nhật Bản, YamadaEimi lên tiếng thẳng thừng, khiêu khích trực tiếp những thành trì xã hội trọngnam khinh nữ, nhất là trờng học Vì thế, Yamada Eimi có thể đợc xem là mộttiếng nói hiếm hoi của nữ quyền trong xã hội Nhật Bản vốn trọng luân thờng -truyền thống, ngời đàn bà luôn lấy sự tùng thuận làm đạo đức, lấy sự nhờngnhịn nam giới làm vẻ đẹp nữ tính, đàn bà luôn bớc sau đàn ông, và bộ áoKimono không cho phép họ bớc dài hay mạnh bạo Dù sao đi nữa, các nhà vănnữ Nhật Bản còn thơng tởng phái nam, cha đến nỗi lôi đàn ông ra mà hỏi tộihay đa lên máy chém Có lẽ trong cuộc đấu tranh cho nữ quyền hiện nay, cácnhà văn nữ Nhật Bản chỉ mới tiến đợc mức phản kháng của các nhà văn nữViệt Nam trớc thời 1975 chứ cha tiến kịp tiếng nói nữ quyền nh các nhà vănsau 1986 và đặc biệt là nhà văn nữ đơng đại.
Ở Việt Nam - những năm đầu thế kỷ XX, do ảnh hởng của những tân
th hải ngoại, một số ngời đã lên tiếng bắt đầu bàn về vai trò của nữ giới và kêugọi đấu tranh đòi sự bình quyền, kêu gọi phải có một vị trí xứng đáng dànhcho phụ nữ trong gia đình và xã hội Một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn đãnói nhiều đến phụ nữ trong gia đình tự giải phóng thông qua hình ảnh “gáimới” đấu tranh quyết liệt với những ụng chồng nhu nhược để bảo vệ nhõnphẩm, giỏ trị cỏ nhõn của mỡnh Vẻ đẹp thể chất và những khát khao thân xáccũng bắt đầu đợc các nhà văn lãng mạn chú ý miêu tả Khác với các nhà vănlãng mạn, các nhà văn hiện thực phê phán tuy cũng lên tiếng nhng lại chú ý
đến khía cạnh xã hội, đến sự tha hoá trong nhân cách của họ, thờng là nhữngnạn nhân của sự nghèo nàn, dốt nát, thê thảm sống trong cánh bị hãm hiếp,cùng quẫn và bị làm nhục
Sau 1945, với sự ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam, đó là tiền đề văn hoá
- xã hội thuận lợi để cho “văn học nữ tính” có cơ hội phát triển Đặc biệt sau
86, với sự phát triển mạnh mẽ của đất nớc, phong trào đấu tranh đòi bình đẳng
đã đạt đợc nhiều kết quả: Ngời đàn bà đã thoát khỏi sự áp chế của đàn ông, cókhả năng tồn tại độc lập, có khả năng tự quyết định số phận của mình í thức
về giới đã tạo thành một âm hởng trong đời sống của ngời phụ nữ và nhà vănnữ một cách mãnh liệt Cha bao giờ văn học thời kỳ này lại tăng nhanh về số l-ợng nhà văn nữ, và thật sự có tài năng nh: Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, VõThị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, gần đây là: Phan Huyền
Trang 22Th, Vi Thuỳ Linh, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc T… họ đã đem đến cho văn
đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn và nhà phê bình nam giới phảithừa nhận tài năng thật sự của họ
Sự xuất hiện và mở rộng âm hởng nữ quyền trong văn học Việt Nam
đ-ơng đại có nhiều lí do, các nhà nghiên cứu đã lý giải bằng nhiều nguyên nhân
nhng theo ý kiến của PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp trong bài Âm h“ ởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đơng đại” đã khái quát đợc mọi vấn đề, đó chính là
“sự thay đổi t duy và mở rộng của tinh thần dân chủ xã hội khiến cho nữ giới
có điều kiện cất cao tiếng nói của mình với t cách là chủ thể độc lập Bản thânnữ giới đã có những thay đổi lớn về nhận thức, học vấn, điều kiện tự chủ kinh
tế, khả năng am hiểu pháp luật… trở thành một chủ thể độc lập Cấu trúc sinhhọc cũng nh sự nhạy cảm và mối quan tâm của nữ giới có nhiều điểm gặp gỡvới nhịp sống thời hiện đại.”
Tác phẩm văn học nh là sự thể hiện cái nhìn mới về đời sống của ngờiphụ nữ về gia đình, xã hội, và giới tính Nhằm khẳng định phụ nữ là một giátrị độc lập trong quan hệ với nam giới Trớc đây, ngời đọc chỉ quen nhìn thấytrong sáng tác, trong cách thể hiện của các nhà văn nữ sự dịu dàng, thơ mộng,ngôn ngữ mang đậm dấu ấn nữ giới, nhng giờ đây trong các tác phẩm củamình, các nhà văn nữ đã dùng chất liệu ngôn từ một cách quyết liệt, mạnh mẽ
đầy góc cạnh, cá tính, nhiều khi còn tạo ra một thứ ngôn ngữ mạnh mẽ, gâyhấn, gây “shock” bằng sức mạnh không kém gì nam giới Điều đó xuất phát từ
ý thức ngôn ngữ trong tác phẩm của họ là thứ ngôn ngữ thể hiện chính xácnhất những “trải nghiệm cá nhân” giới nữ trong nhiều mối quan hệ khác nhau.Nhiều nhà văn nữ đã công khai bày tỏ thái độ chống lại sự lệ thuộc vào thếgiới đàn ông và dám xông vào những đề tài cấm kị nh đề tài tình dục Tại đây,không phải lúc nào đàn bà cũng là trò chơi và nô lệ cho đàn ông, mà nhiều khiquyền chủ động thuộc về nữ giới Với họ, tình dục là một phơng tiện thể hiện
rõ nhất sự tự do bản ngã Phụ nữ vốn là những ngời hiểu một cách sâu sắc,hiểu bằng tâm hồn mình, cái sức ép trớc đây của hoàn cảnh, nỗi đau hôm quacủa họ còn thấm thía, nên sự hồi sinh của họ giờ đây nh sự hồi sinh cùng dântộc
Sự hình thành của văn học nữ tính và sự xuất hiện mạnh mẽ của âm ởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đơng đại minh chứng cho tính dân chủthời đại ngày nay
Trang 23h-Hoàn toàn có thể nói, thế kỷ xx là thế kỷ giải phóng phụ nữ, đó cũngchính là sự thiết lập tự do giới tính và tất yếu dẫn đến tự do tình dục Văn học
là cuộc đời, là tấm gương phản chiếu thời đại Vậy tất yếu văn học và nghệthuật của thế kỷ XX không thể đứng ngoài dòng lũ của dục vọng Chính vìthế, đề tài tình dục trong văn chơng mọi dân tộc không còn là tính dục thuầntuý, nó là vấn đề văn hoá - xã hội, là triết lý sống, là hệ giá trị và chuẩn mực.Cuộc giải phóng phụ nữ là cuộc cách mạng về nhân vị và nhân tính, nâng pháiyếu lên ngang tầm bình đẳng với đàn ông, một cuộc cách mạng từ cổ chí kimcha từng có Cuộc cách mạng tự do tình dục là cuộc tháo lũ “nớc chảy chỗtrũng” xu thế ca ngợi quá trình xã hội hoá tình dục trong văn ch… mang đậm dấu ấn t ơng thờngnhấn mạnh tính hợp lý, hài hoà của sở hữu tuyệt đối trong quan hệ tình dục
Có thể nói từ văn học cổ - trung - đại Việt Nam, tình dục trong văn chơng làvấn đề trinh hay không trinh, là sở hữu tuyệt đối hay loạn luân Chỉ có điềuvấn đề sở hữu tình dục trong xã hội phong kiến là vấn đề còn phụ thuộc vàophái tính Nó quy định sở hữu tuyệt đối nhng chỉ theo một chiều: Đàn ôngtoàn quyền sở hữu tuyệt đối đàn bà chứ không quy định chiều ngợc lại Quyluật “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” Quyền sở hữu tìnhdục không đặt ra đối với giới tính nữ Chuyện trinh thử là chuyện đề cao phẩmhạnh trinh tiết đối với con chuột cái Tất cả các truyện Nôm Trung đại thế kỷ
đều ca ngợi gơng đàn bà tiết hạnh chứ không phải là gơng đàn ông thờ một vợ
Đã một thời những giá trị văn hoá này khá bền vững Nền tảng gia đình gắnvới các quan hệ xã hội huyết thống đã quy định đặc tính tôn nghiêm của quan
hệ tình dục dới chế độ phong kiến
Trong văn học hiện đại, tình dục trong văn chơng ngày càng vùng vằng
đòi trả lại vị trí hồn nhiên, cha bị xã hội hoá của thời tiền sử Con ngời hiện
đại mặc sức thí nghiệm để trả giá
Nhng “nghệ thuật tình dục” có phải là cái đẹp mỹ học thuần khiết haykhông? Từ lâu, các nhà mỹ học đã cho rằng, nghệ thuật đánh vào dục vọngcủa con ngời là nghệ thuật kiếm lời nhanh nhất, nhng cũng là thứ nghệ thuậtnon bấy chúng tàn nhất vì vẫn phải bấu víu vào những ham hố của con ngời
Ví dụ tranh vẽ một cô gái vẫn đợc ngắm nhiều hơn vẻ một đứa bé con, vì côgái hoàn mãn với những đờng cong gợi dục nhiều hơn, nhng cũng chính cô gái
đó, bức tranh khoả thân thờng dễ quyến rũ hơn bức vận trang phục, bởi nó trực
Trang 24tiếp đập vào thị dục Và một nền văn học nhắm đến tính dục cũng ào ạt lấn lớtchiếm đoạt ngay mối quan tâm của độc giả và xã hội Văn học dục tính chiếm
u thế trên diễn trờng xã hội nhng có sức sống lâu bền trong đời sống văn hoátinh thần không - câu trả lời đã quá rõ ràng
Ở Việt Nam một thời gian dài xuất hiện hàng loạt các tác phẩm miờu tảnhững cảnh trai gỏi mùi mẫn, thơng nhớ sụt sùi đã lụi tàn rất nhanh chóng.Những sáng tác nặng bản năng, nặng trực cảm vẫn là con đờng mòn củanhững cây bút thiếu t tởng Do các khả năng văn hoá, phán đoán, lý luận, tôngiáo, thần học, triết học không trở nên nguồn vốn thu hái và đào luyện thờngxuyên, nên các cây bút thờng loay hoay rơi vào ranh giới dục vọng đời thờngkhông bứt mình vọt cánh bay lên đợc Hêghen đã phát biểu: “Nghệ thuật gợilên cho tâm hồn ta và trong trí tởng tợng của ta những tình cảm tốt đẹp cũng
nh xấu xa, có thể cũng có ở ta những ham thích cao thợng cũng nh đa vào lòng
ta những dục vọng ích kỷ có tính chất tình dục” [9]
Một nền văn chơng nhằm vào nơi hành lạc của dục tính nh mục đíchcuối cùng là một nền văn chơng không băng ra khỏi “vốn tự có” của cuộc đời.Nhng một nền văn chơng thoát ly dục vọng trần tục- không coi đó là một nềntảng thiết yếu thì trái lại, là một nền văn học mất gốc, dở ngời dở thánh Nếuvăn chơng là thứ cứu rỗi tâm hồn con ngời khỏi cuộc trầm lụt của dục vọng,thì đầm lầy dục vọng càng lớn, cuộc vợt thoát khỏi tâm hồn càng lớn JeanLacroix nói: “ở đâu bản năng nghèo nàn, nhân cách cũng nghèo nàn.” Mộtnền văn chơng lớn không muốn đợc ơm trồng trên một bình nguyên màu mỡ,
ở đó, cây mọc lên vùn vụt, chim bớm bay về, sâu mọt kéo đến, đạo chích quần
tụ rình mò và chành hiệp sĩ cứu rỗi bắt đấu xuất hiện Một nền văn chơng lớnchỉ xuất hiện ở một xã hội văn minh, ở đó, dục vọng phát triển cùng sự tiến bộ
đã bày ra vô vàn vấn nạn “mặt trái của tấm huân chơng” về tội ác, sự tha hoá,những bế tắc và lạm phát
Không giống điêu khắc, hội hoạ, là nghệ thuật không gian, dựng chấtliệu nghệ thuật hỡnh khối, màu sắc, chỳng tỏc động trực tiếp vào thị hiếu ngườixem và ngay lập tức phải trỡnh diễn sự hoàn mỹ của nó, văn chơng là nghệthuật thời gian, chất liệu của nú là nghệ thuật ngụn từ, ngoài sự hoàn mỹ của
Trang 25một tỏc phẩm nghệ thuật ngụn từ nú cũn hướng độc giả đến cỏi chõn thiện
-mỹ, đem lại cho con người sự cao quý của tõm hồn một cỏch tớch cực nhất
Văn chơng không thể thoát ly thực tại đời sống, vỡ nú là tấm gươngphản ỏnh hiện thực Chỳng ta thường hướng văn học đi theo mục đớch lớn lao
là cải thiện những bất cụng, bạo hành lam lũ nhằm đem đến cho nhõn loại mộtcuộc sống tốt đẹp hơn và phải là một nhà văn cú tư tưởng mới làm được điều
đú Tuy vậy, một nhà văn cú tư tưởng chõn chớnh, đớch thực, phải bỏm sỏt đờisống trần gian mới làm được điều đú Pascal nói: “con ngời không phải là thầnthánh cũng không phải là súc vật, nhng sự bất hạnh muốn rằng kẻ nào làmthần thánh sẽ làm súc vật” Văn học Việt Nam đương đại đang cựng văn họcthế giới vận động đi lờn nhằm đến đỉnh cao của tư tưởng và cỏi đẹp
1.3 Âm hởng nữ quyền trong văn học - biểu hiện của tinh thần dân chủ
Nh chúng ta đã thấy, trong hầu hết các nền văn hoá suốt lịch sử nhânloại, hầu hết phụ nữ đã bị đối xử nh dụng cụ phục vụ dục tính cho nam giới.Cuộc đấu tranh cho nữ quyền trong suốt thế kỷ qua đã dần dần nâng giá trị vàquyền hạn của ngời đàn bà lên ngang tầm với đàn ông trong mọi lĩnh vực.Trong văn chơng, điều này cũng đợc thể hiện rất rõ ràng Một trong những nétchính là đàn bà có quyền phát biểu khát vọng dục tính của mình Thậm chí, cónhững nhà văn đã xây dựng những tiểu thuyết trong đó đàn bà sử dụng đàn
ông nh công cụ phục vụ dục tính, với mục đích công khai biểu lộ sự xem ờng nền đạo đức xã hội phụ hệ và xem đàn ông nh một đồ chơi tình dục
th-Ngôn ngữ và hành động dục tính đợc sử dụng trong văn chơng khôngchỉ nhằm thử thách các giá trị rất tơng đối của các tiêu chuẩn đạo đức Cónhững nhà văn còn dùng khả năng gây “shock” của chúng nh những ẩn dụ để
đào xới những vấn đề tiềm ẩn trong nội tâm con ngời Với loại ngôn ngữ lạnhlùng, đơn giản và sắc bén, giúp ngời đọc ra khỏi chỗ đứng của phái tính, phủ
định trong ngời mọi ý nghĩ dục tính, và khởi động trong ngời đọc cả nam lẫnnữ một mạch t duy về những ý nghĩa tởng nh bình thờng nhng bị khuất lấp sautấm màn văn hoá và lịch sử Khả năng gây “shock” của ngôn ngữ và hành
động của dục tính còn đợc sử dụng nh những ẩn dụ nhức nhối nhằm đào xớinhững vấn nạn sâu sắc và quan trọng về sinh mệnh văn hoá của một dân tộc
Trang 26Một trong những sự thay đổi của tinh thần dõn chủ đú là số lượng cỏc
nhà văn nữ Cuốn Thi nhân Việt Nam xuất bản năm 1942, trong tổng số 46
nhà thơ nữ đợc Hoài Thanh- Hoài Chân giới thiệu, chỉ có 7 ngời là phụ nữ
Con số ít ỏi ấy đã bị Vũ Ngọc Phan - tác giả của Nhà Văn hiện đại xuất bản
đầu thập niên 40 loại mất 6 còn giữ lại nhà văn nữ Tơng Phố Giai đoạn saunày 1930-1940 ông chỉ chọn nhà văn nữ duy nhất Thụy An Nh vậy, trongsuốt giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 40, trong danh sách chọnlọc 79 tác giả ấy, ông chỉ chọn đợc hai nhà văn nữ
Tuy vậy, cùng với thời gian, ngời ta ghi nhận là ngày càng nhiều phụ nữtham gia vào sinh hoạt văn học Đặc biệt sau 1945, ở Miền Bắc, số lợng câybút nữ tăng lên khá nhiều Trong số 750 hội viên chính thức của Hội nhà vănViệt nam từ năm 1957 đến 1997, có hơn 70 tác giả nữ, chiếm tỉ lệ gần 10% làmột con số đáng kể Sau 1986, đất nớc bớc vào thời kỳ đổi mới đến nay, số l-ợng của các nhà văn nữ tăng lên nhanh chóng, có ngời đã cho rằng đây là thời
kỳ “âm thịnh dơng suy” khi chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữtính
Trong cuốn Văn học Việt Nam, tổng quan, chính nhà văn Võ Phiến đã
nhận định: “về phơng diện phái tính, văn học Miền Nam thời kỳ 45 -75 càngngày càng nghiêng về nữ phái” Trớc hết về phía độc giả, nếu ngày xa hầu hết
độc giả văn học đều thuộc phái nam thì từ đầu thế kỷ XX, số lợng độc giả nữngày càng tăng, và từ thập kỷ 60 trở đi, “độc giả đọc văn học ở Miền Nam chủyếu là nữ” [25] Phụ nữ thích đọc tác giả nữ hơn tác giả nam, mà đặc biệt đềtài liên quan đến tình dục
Yếu tố phái tính độc giả liên quan đến yếu tố phái tính của tác giả Trớc
đây, tác giả nữ chỉ chiếm thiểu số trong sinh hoạt văn học gần đây tăng lênnhanh chóng Các nhà văn nữ có mặt ở tất cả mọi thể loại, đi vào phản ánh ởtất cả đề tài trong cuộc sống, kể cả những đề tài xa nay là cấm kị
Vấn đề phái tính và văn học nữ tính đến nay vẫn cha đợc giới học thuậtcủa chúng ta nghiên cứu, quan tâm nhiều mặc dù trong ý thức, chúng ta đềuhiểu đây là một vấn đề quan trọng trong đời sống hiện đại Đồng thời nó cho
ta thấy, bên cạnh những bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề bản thểvăn chơng vẫn tồn tại những khuynh hớng phê bình chính trị - xã hội
Sự hình thành của văn học nữ tính và sự xuất hiện của âm hởng nữquyền trong văn học nói chung và Văn học Việt Nam đơng đại nói riêng đã
Trang 27chứng minh cho tính dân chủ của thời đại ngày nay Trong quá trình khẳng
định bản ngã của mình, các nhà văn nữ đã đi sâu vào khai thác những đề tàicấm kị mà trớc đây chỉ dành riêng cho nam nhà văn nh đề tài tình dục Tìnhdục đợc xem là một đề tài thể hiện rõ nhất sự tự do bản ngã tuy nhiên khôngcoi đó là con đờng duy nhất để giải phóng cá nhân mà cần qua đó để biểu đạtnhững vấn đề nhân sinh một cách nghệ thuật, từ đó tạo ra một thứ ngôn ngữgóc cạnh, đầy cá tính không kém phần quyết liệt, mạnh mẽ so với nam giới
Các nhà văn nữ đã rất táo bạo trong việc diễn tả những ớc vọng vànhững tình cảm của họ Chỉ cần họ thành thực và dám vợt ra ngoài khuôn sáo
để kể lể những ớc vọng riêng t của họ, đặc biệt là những xúc động ít nhiều liênquan đến xác thịt, làm ngời đọc sửng sốt nh khám phá ra một cái gì bất ngờ.Các nhà văn nữ thờng đi sâu vào miêu tả những vấn đề gần gũi với bản thân,nhng câu chuyện của họ không xa vời, to tát mà gắn với đời sống thờng nhật,hơi văn giàu cảm xúc
Tuy nhiên, trong môi trờng xã hội hiện đại và hậu hiện đại cần có sựtỉnh táo khi nhìn nhận những vấn đề về vấn đề giới tính, nhất là ở những câybút trẻ Khát vọng bình đẳng giới, vì thế, không đồng nghĩa với việc đòi hỏithay đổi chức năng giới tính mà nhằm tạo một môi trờng thuận lợi nhất để cácgiới thực hiện tốt chức năng của mình theo tinh thần hiện đại Vậy nên, điềuquan trọng để hình thành một nền văn học nữ tính thực sự là phải xây dựng đ-
ợc một thứ “văn học con ngời” siêu giới tính, có giới tính nhng không chỉ cógiới tính, văn học thoát thân từ “dàn hợp xớng đa thanh sắc” bị che lấp songtrùng của ngôn ngữ quyền lực và ngôn ngữ nam tính, thuộc văn hoá cá nhân từkết cấu đa nguyên hoá, là văn học thần thoại, từ bỏ việc “đi tìm đàn ông”, từ
bỏ chỉ đơn thuần, duy nhất phê phán, lên án từ góc độ nam quyền, lấy việcxem xét lập trờng giá trị con ngời bình đẳng, nhìn thẳng phản tỉnh nam giới vànữ giới, nhận xét và phản tỉnh vận mệnh của nam giới và nữ giới, thực trạngsinh tồn của họ, tích cực xây dựng chủ thể nam tính và nữ tính, để từ đó có thểxây dựng một nền văn học nữ tính phát triển mạnh mẽ, mang tinh thần nhânvăn sâu sắc ở Việt nam
Tiểu kết chương: Khụng cũn nghi ngờ gỡ nữa, tư tưởng nữ quyền là
một tư tưởng tiến bộ, là biểu hiện sinh động của tinh thần dõn chủ trong thờiđại ngày nay Khụng chỉ lan rộng trong đời sống xó hội, tư tưởng nữ quyền
Trang 28ngấm sâu vào văn học, tồn tại như một thế nhìn về đời sống Từ thế nhìn ấy,
các nhà văn nữ đã thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của người phụ nữ tronghàng loạt mối quan hệ khác nhau Theo đó, khuôn mặt phụ nữ trong thế giớihiện đại trở nên đa dạng hơn, phong phú hơn
Trang 29Chơng 2
Âm hởng nữ quyền trong văn học
Việt nam đơng đại
2.1 Ngời phụ nữ Việt Nam từ góc nhìn văn hoá
Nghiên cứu khoa học về phụ nữ là một nghành khoa học xã hội và nhânvăn, vì vậy, cũng nh nhiều ngành khoa học xã hội khác, với t cách là mộtngành độc lập xuất hiện ở nớc ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ trớc
Sự ra đời của ngành khoa học mới này là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thựctiễn đổi mới đất nớc, của phong trào phụ nữ rộng khắp Vì vậy, sau khi ra đời,khoa học nghiên cứu về phụ nữ đã nhận đợc sự quan tâm, ủng hộ của các cấplãnh đạo Đảng, Nhà nớc, đông đảo các nhà khoa học và hầu nh của toàn xãhội
Phụ nữ Việt nam có một truyền thống vẻ vang trong lịch sử dân tộc.Lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt nam, phụ nữ đóng vai trò quantrọng, để lại những dấu ấn đặc biệt Dù trải qua hàng nghìn năm chế độ phongkiến với hệ t tởng Nho giáo thống trị nhng đợc hun đúc và kết tinh từ sứcmạnh của văn hoá bản địa, văn hoá truyền thống, ngời phụ nữ Việt Nam vẫn
đóng góp những giá trị quan trọng và độc đáo với nhiều tên tuổi kiệt xuất trêncác lĩnh vực đấu tranh xã hội nh Hai Bà Trng, Bà Triệu, hoạt động văn chơngnghệ thuật nh Đoàn Thị Điểm, Hồ xuân Hơng…
Qua thăng trầm lịch sử, thời đại nào gơng mặt ngời phụ nữ cũng hiệnlên rạng ngời cùng những chiến công hiển hách của sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, cũng nh ở nhiều nơi, phụ nữ Việt Nam mặc dùchiếm một nửa dân số, có vai trò to lớn và tham gia trực tiếp vào mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội, thế nhng, lại thờng trở nên “vô hình”, thờng là ngời phải
“hy sinh” và chịu thiệt thòi nhất
Việt Nam - cũng nh trên toàn thế giới chịu ảnh hởng của văn hoá TrungHoa, ngời ta rất coi trọng “truyền thống lịch sử”, trong đó có truyền thống phụnữ Có nhiều nguyên nhân lịch sử và văn hoá giải thích vai trò quan trọng củangời phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống Việt Nam nằm trong khuvực văn minh Đông Nam á bản địa trớc khi tiếp xúc với chịu ảnh hởng củavăn hoá ấn - Hoa vốn có đặc trng là văn minh nông nghiệp độc canh cây lúa,
Trang 30đặc biệt là cây lúa nớc, giống cây đòi hỏi nhiều công sức lao động thủ công,cho nên thành viên nữ khó bị gạt ra khỏi ngoài lề sản xuất Cũng nh khu vực
Đông Nam á, Việt Nam cũng chế độ mẫu hệ tồn tại dai dẳng, đã nữ thần hoámột số phật và Bồ tát nam Một thực tế lịch sử khác, là dùng đê điều ngăn lũlụt - tập quán lâu đời đợc nghi dấu trong truyền thuyết Sơn Tinh -Thuỷ Tinh -
có tác dụng cố kết cộng đồng, huy động đông đảo ngời nam tham gia lao độngcông ích Chiến tranh, với thù trong, giặc ngoài kéo dài nhiều tháng, nhiềunăm, có khi nhiều chục hay đến mấy trăm năm, càng đặt ngời phụ nữ vào tìnhthế thờng xuyên gánh vác việc nhà và cả việc làng, việc nớc
Các truyền thuyết thời Hùng Vơng khắc sâu trong kí ức cộng đồngnhững giá trị cội nguồn dân tộc Việt Mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng nở trăm con,nhắc nhở “đồng bào” là một mẹ sinh ra, dẫu nòi Rồng giống Tiên là “tơngkhắc, bất đồng” mà vẫn dung nạp khác biệt, hoà hợp âm dơng sinh sôi con đàncháu đống Ngôn ngữ Việt không duy lý mà đậm đà tình cảm: cốt nhục, đồngbào, ruột thịt, rồi lòng mẹ, đất mẹ, tổ quốc thờng ví với mẹ hiền… Ngời phụnữ trong truyền thuyết thời sơ khai hồn nhiên mà quyết liệt, trong nghịch cảnhvẫn khẳng định mình nh Tiên Dung, nh ngời vợ trong truyện sự tích Trầu Cau,
nh ngời đàn bà vọng phu ôm con hoá đá, nh Mỵ Châu dẫu hai lần mang trọngtội vẫn đợc khoan dung nhìn nhận là trắng ngần, trong suốt ngọc trai
Lịch sử Việt Nam có hơn nghìn năm Bắc thuộc trong hơn hai nghìnnăm lịch sử biết tơng đối rõ ràng Mở đầu lịch sử chống Bắc thuộc là chiếncông của hai nữ tớng Lời thề xuất quân của Hai Bà Trng với quyết tâm: rửasạch thù nhà, dựng lại nghiệp xa, ba giải oan lòng chồng, bốn xin vẹn cônglênh này Nợ nớc trớc thù chồng, tham gia gánh vác việc chung là điều rấtbình thờng trong vô số nữ binh, nữ tớng hởng ứng dới trớng Hai Bà Chỉ vàithế kỷ sau đó, ngời thiếu nữ Triệu Thị Trinh đã phải tự khẳng định mình vợtlên trên thờng tình nữ nhi: “tôi muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chémcá Kình ngoài biển Đông, quét sạch quân ngô ra khỏi bờ cõi chứ không chịukhom lng làm tì thiếp ngời ta” Lẫm liệt là nh thế, một lý tởng đời ngời, oaiphong là nh thế, Vua Bà làm khiếp sợ đối phơng Nhng suốt nhiều trăm nămtiếp theo, do trật tự trọng nam khinh nữ, nam nội nữ ngoại, phụ nữ hình nhkhông có mặt hay không lu dấu trong lịch sử chiến tranh, ngoại trừ hiếm hoinhững ả Đào, những phụ nữ vô danh trong khởi nghĩa Lam Sơn, hay trong độiquân áo vải cờ đào của Quang Trung Nguyễn Huệ, Nữ tớng Bùi Thị Xuân…
Trang 31những danh xng nhiều khi cha lu dấu tên ngời phụ nữ nhng đủ minh chứngtruyền thống quật cờng của những ngời đàn bà không chỉ làm vợ làm mẹ.
Việt Nam - lịch sử nào chỉ có chiến tranh và khởi nghĩa ỷ Lan từ mộtcô hái dâu rồi trở thành Nguyên phi, Thái hậu, hai lần nhiếp chính thay chồng,thay con trị vì đất nớc là hai lần để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng ngời DơngVân Nga, hoàng hậu của hai vua Lý Chiêu Hoàng nhờng ngôi cho chồng rồi
bị giáng xuống làm công chúa vì cái “tội” oan khiên là không con nối dõi.Trần Thị Dung - hoàng phi triều Lý và Quốc mẫu triều Trần Nàng công chúaTrần Huyền Trân trở thành bà hoàng Chiêm quốc để đất nớc thêm hai châu Ô,
Rí Trịnh Thị Ngọc Trúc với hai đời chồng ngang trái nhng là tác giả nhữngcông trình nghiên cứu tâm huyết, uyên bác Trần Thị Thái và Nguyễn Thị Lộ
đóng vai trò nào trong cuộc đời danh nhân Nguyễn Trãi? Văn thơ hay danhphận đợc nhiều đời truyền tụng, nhng hậu thế hiểu đến đâu tâm hồn phụ nữcủa những Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Thị Hinh (mà ngời đời thờng chỉ biết dớidanh xng bà Huyện Thanh Quan), Hồ xuân Hơng, Lê Ngọc Hân hay gần hơn
là bà Từ Dũ, Từ Cung và cô Mariette Nguyễn Thị Lan đợc phong Nam Phơnghoàng hậu… bao nhiêu nữa những ngời phụ nữ “con vua cháu chúa” hay lam
lũ dân thờng với những số phận tâm t còn chờ trang sử cũ đợc soi thêm quan
điểm giới? Dẫu sao chính sử Việt Nam tuy ít nói về phụ nữ song thờng lu dấuhình ảnh đẹp
Phong trào giải phóng dân tộc và Cách mạng xã hội chủ nghĩa dới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam cùng hai cuộc kháng chiến chống pháp
và chống Mỹ đã thu hút nhiều thế hệ phụ nữ tham gia Họ là học sinh, trí thức,
là công nhân, nông dân, là thiếu nữ phơi phới tuổi xuân hay ngời vợ, ngời mẹhiền tiễn chồng, rồi lại tiễn con cháu lên đờng chiến đấu Trong chiến tranhvào loại khốc liệt nhất xa nay, những ngời phụ nữ có mặt ở hầu hết hậu phơng
- tiền tuyến, là chiến sĩ hay tớng cầm quân, đó là hình ảnh bà Định, bà Bình trong cuộc đấu tranh với kẻ thù trên mặt trận vừa quân sự vừa ngoại giao khiếncho quân giặc sợ phải rút lui, vừa cảm phục, đã để lại cho nhân dân yêuchuộng hoà bình trên thế giới ngỡng mộ ngời phụ nữ Việt Nam, là ngời xoadịu nỗi đau hay nạn nhân thầm lặng, vừa đánh giặc vừa làm trăm công nghìnviệc khác, không ít ngời vì cuộc chiến kéo dài mà gác lại bao nhiêu sinh hoạt
đời thờng nh yêu đơng, lấy chồng, sinh con, nuôi dạy con khôn lớn, lo cơm áothực hiện ớc mơ hoài bóo đó là những ngời phụ nữ thanh niên xung phong…
Trang 32Từ khắp nơi mọi miền đất nớc họ đã cùng dân tộc viết nên những trang đau
th-ơng, anh dũng của cuộc kháng chiến bền bỉ và rất đỗi anh hùng, vì độc lập tự
do cho tổ quốc và vì nhân cách con ngời
Anh hùng, bất khuất không chỉ trong đấu tranh vũ trang, ngời phụ nữViệt Nam trung hậu, đảm đang trong cuộc sống gia đình Nhìn vào tiến trìnhlịch sử, chúng ta có thể thấy đóng góp của ngời phụ nữ Việt Nam đợc thể hiện
ở trờn tất cả cỏc lĩnh vực: lòng yêu nớc, trong đó nổi bật là sức mạnh và ý chíchống giặc ngoại sâm; Sự đảm đang trong lao động, sản xuất; Xây đắp nhữnggiá trị đạo đức truyền thống của dân tộc; là hạt nhân chủ yếu để cố kết gia
đình, quan hệ huyết thống, dòng họ và làng xã; lực lợng lu giữ, truyền bánhững giá trị văn hoá dân tộc từ đời này qua đời khác
Nhng thời nay phụ nữ Việt Nam còn là tác nhân của hiện tại và tơng lai,
là ngời tham dự vào thực tiễn xã hội đang thay đổi nhanh chóng cùng thời đại.Một trong những thành tựu của cuộc cách mạng và kháng chiến là khẳng địnhnăng lực và phẩm chất của ngời phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống hiện
đại, kể cả những lĩnh vực “phi truyền thống” nhất Không phải đã hết những
định kiến, nghi ngại, thậm chí là kỳ thị, song nhìn toàn cục ngời phụ nữ ViệtNam cả về số lợng và chất lợng đóng góp, có vẻ giữ gìn và phát huy đợc vaitrò của mình trong nhiều mặt sinh hoạt, cả trong gia đình và cộng đồng rộnglớn hơn, trong học tập, hoạt động nghề nghiệp hay hoạt động chính trị xã hội
Bớc sang thời kỳ dân chủ, đổi mới cùng toàn xã hội, với sự đóng gópcủa phụ nữ chúng ta có thể thấy rằng: xuất phát từ đặc thù xã hội Việt Nam làmột nớc nông nghiệp lạc hậu, bị thống trị bởi t tởng Nho giáo với những yêucầu đòi hỏi khắt khe đối với ngời phụ nữ về “công, dung, ngôn, hạnh” mà thựcchất và chủ yếu là những quy định, chuẩn mực trong quan hệ gia đình, dòngtộc theo kiểu thứ bậc, tôn ti mà hàng nghìn năm ở Việt Nam hầu nh không cómột truyền thống nghiên cứu khoa học nữ
Từ đầu thế kỷ XX, do tác động nhiều mặt của văn hoá Phơng Tây, đặcbiệt từ khi xuất hiện Đảng cộng sản Việt Nam và t tởng Hồ Chí Minh về cáchmạng giải phóng dân tộc, trong đó có cả giải phóng phụ nữ, ngời phụ nữ đã v-
ợt qua áp lực nặng nề của những thế kỷ trớc, dần dần xuất hiện những cá nhân
và tiến tới một bộ phận, một nhóm ngời hình thành về mặt xã hội, có ý thức vànăng lực đi vào các lĩnh vực khoa học Đặc biệt sau cách mạng tháng tám vàsau thời kỳ kháng chiến chống pháp từ những cá nhân đã trở thành một đội
Trang 33ngũ cán bộ khoa học nữ Việt Nam hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực khoahọc và đã đạt đợc những thành tựu xuất sắc trên các lĩnh vực khoa học, giáodục, y tế, khoa học xã hội và nhân văn…
Có thể thấy rằng, sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong mấy chục năm qua
ở Việt Nam đã có những thành tựu đặc sắc, hiếm có so với một số nớc trongkhu vực Trớc hết phải nhấn mạnh hai thành tựu đó là: sự tham gia đông đảocủa phụ nữ trong lĩnh vực hoạt động chính trị-xã hội, cách mạng và sự hìnhthành lớn mạnh một đội ngũ chuyên gia khoa học nữ có nghị lực, có tài năng,
điều mà hàng chục thế kỷ trớc cha hề có
Là nhà cán bộ khoa học, cũng là hạt nhân cố kết của gia đình, tạo ra
đ-ợc sự phát triển hài hoà giữa vai trò làm mẹ, làm vợ và làm khoa học, đó chính
là nhân cách văn hoá của ngời phụ nữ làm khoa học trong chiến lợc phát triểncon ngời ở thế kỷ XXI.
2.2 Ngời phụ nữ trong văn học dõn gian và văn học Trung đại
Hình tợng ngời phụ nữ đã trở thành một đề tài vô tận cho thơ ca ViệtNam Ngời phụ nữ Việt Nam tham gia lao động sản xuất làm ra của cải vậtchất và thờng là nguồn yêu thơng chăm sóc chồng con, đỡ đần cha mẹ giàyếu, là chỗ dựa cho gia đình về nhiều phơng diện Mẹ hiền, vợ đảm - ngời phụnữ lặn lội thân cò, chịu thơng chịu khó, thức khuya dậy sớm, cùng lúc làmnhiều việc mà việc nào cũng chu tất, vẹn toàn, là ngời giỏi giang, hiệu quả màthầm lặng hy sinh
Vô số bài ca dao hát về tình yêu đôi lứa, trong đó ngời phụ nữ là đối ợng thơng yêu, mong nhớ, khát khao, cả giận hờn, oán trách hay thơng cảmxót xa Cũng rất nhiều bài nói lên sự quý trọng đối với công lao “gánh vácgiang sơn nhà chồng”, lòng biết ơn và tình cảm sâu sắc, thiết tha của con gái,con trai đối với công cha nghĩa mẹ Ngời yêu, ngời vợ, ngời mẹ… nói chunghình ảnh ngời phụ nữ đợc yêu thơng chiếm vị trí lớn trong ca dao và tâm hồnngời Việt
t-Song bên cạnh đó cũn cú những bài ca dao nói về những mối tình dang
dở do những luật lệ hà khắc của lễ giáo phong kiến, ví dụ, khi nói về mối tìnhkhông thành của trai gái, câu ca dao: “vì cha mẹ tham giàu ép uổng duyêncon” hay “lòng bác mẹ nh dơng khoá rồi”, vì “xấu ngời mai chớc, lỡ chừng
Trang 34đôi ta”… trong ca dao số phận của ngời con gái thể hiện ở những cản trở tởngchừng nh không, nhng vì đờng xa cách trở, vì bị phụ bạc, lỡ làng, biết bao lờithan thân, hờn duyên trách phận vì tảo hôn, vì đa thê, vì hôn nhân không cânxứng, biết bao cơ cực nhọc nhằn, từ bé gái đến đời mẹ, đời bà, bao cay đắngcủa phận làm vợ, làm dâu, của nghèo khổ, thất học, đói rách… Truyện thơ,ngâm khúc đợc truyền tụng, có tác giả hay khuyết danh đều chọn phụ nữ làmnhân vật trung tâm Thi hào Nguyễn Du hai lần thống trách: “Đau đớn thayphận đàn bà!” Ngời chinh phụ, ngời cung nữ, gái lầu xanh, ngời kỹ nữ cô đơntrong đêm lạnh ở Tầm Dơng, hay ngời đàn bà thôn dã “em buồn nh ngọnnhang tàn thắp khuya”… Văn chơng bác học hay bình dân đều có quá nhiềuchân dung phụ nữ đau buồn, và ngay cả khi ca ngợi đức tính đợc xem làtruyền thống, hình nh cũng quá đề cao sự chịu đựng, hy sinh, nhẫn nhục quênmình “nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn lời mẹ cha”, “bên ớt mẹ nằm, bên ráo phầncon”… và trong quan niệm lệch lạc của chữ hiếu, chữ trinh, chữ tình, chữnghĩa khiến nhiều ngời phụ nữ không dám làm chủ cuộc đời mình, đến hônnhân gả bán, đến vợ lẽ, con nuôi nh những quan hệ bán, đợ trá hình, đến nạnbạo hành trong gia đình nay vẫn còn phổ biến, đến quan hệ “chồng chúa vợtôi”, hay “trai năm thê bảy thiếp” nh sự thờng tình, đến thành kiến con gáikhông đợc học cao, khiến đờng học của nữ giới bị gián đoạn không vì lý dokinh tế.
Qua đó cho thấy ngời phụ nữ trong ca dao, tục ngữ chịu nhiều ràngbuộc của lễ giáo phong kiến, luật lệ hủ tục cho nên họ không có đợc hạnhphúc và chỉ biết than thân trách phận chứ cha có ý thức phản kháng lại xã hội,càng không có ý thức về giới, họ khổ thì chỉ do “số” của mình nên phải chấpnhận trong một chế độ xã hội phong kiến, phụ quyền
Trong kho tàng Ca dao còn có một đề tài chiếm tỉ lệ không nhỏ đó làtình yêu ở mảng đề tài này thì chế độ nam quyền cũng thể hiện đó là trongtình yêu quyền chủ động vẫn là đàn ông Ví dụ câu ca dao: “hỡi cô cắt cỏ bênsông / Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây / Sang đây anh nắm cổ tay / Anhhỏi câu này: có lấy anh không?”, hình ảnh ngời phụ nữ nh “thân em nh dảitấm lụa đào, phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” hoặc cõu “thõn em như hạtmưa xa…” không có đợc ý thức làm chủ cuộc đời của mình, mà hầu nh để đàn
ông tự định đoạt số phận cho mình
Trang 35Trong văn học dân gian, tỡnh dục khụng phải là đề tài chớnh nhưng cũng
cú một số bài viết về đề tài này, nhưng nú lại trở thành một đề tài để cời hả
hê, để tếu táo Điều đáng nói là cách nhìn hài hước nh thế đó đặt số phận ngờiphụ nữ với những bi kịch bị xúc phạm trở thành trò cời hay nói đúng hơnthành một chuyện hài hớc, thay vì lên án tố cáo hành vi vô đạo đức của đàn
ông dâm đãng Chính vì vậy, không thấy hết đợc bi kịch khốc liệt mà nạnnhân phải gánh chịu Tuy nhiên, qua đó cũng cho chúng ta thấy chế độ phụquyền đó ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của con ngời
Sang giai đoạn văn học Trung đại - khi ý thức hệ Nho giáo đã ăn sâuvào tâm thức của ngời Việt Nam, về cơ bản giới cầm bút vẫn thuộc về đàn
ông Tuy vậy, trong vòng cơng toả của t tởng nam quyền, đã bắt đầu xuất hiệnnhững tài danh văn học là nữ giới nh Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuõn Hương…nhưng ngời phụ nữ trong văn học Trung đại vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi vìchế độ trọng nam khinh nữ, suốt một thời gian dài ngời phụ nữ với những thânphận nh Thuý Kiều, Vũ Nơng, ngời chinh phụ trong thơ của các nhà thơ nữ
Hồ Xuân Hơng có lẽ là ngời thấu hiểu nhất số phận ngời phụ nữ trongxã hội phong kiến, bà lên tiếng phản kháng chống lại trật tự xã hội, đã chà đạplên số phận ngời phụ nữ Thấu hiểu và thông cảm chính vì bà cũng là một ngờiphụ nữ có tài nhng do xã hội khiến cho bà không có đợc hạnh phúc, bà đã dámcải lại cái phi lý, bất công trong sở hữu tình dục một chiều: “chém cha cáikiếp lấy chồng chung / kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”, hay số phận ngời đàn
bà long đong lận đận, bà lên tiếng bênh vực những ngời đàn bà không chồng
mà chửa bị xã hội ruồng bỏ: “không chồng mà chửa mới ngoan / có chồng màchửa thế gian cũng nhiều” Có lẽ trong văn học bà là ngời phụ nữ đầu tiêndám lên tiếng công phá vào lĩnh vực tình dục, lĩnh vực cấm của ngời phụ nữ,đặc biệt là lễ giỏo phong kiến, dám nhìn thẳng vào cái đạo đức giả của ngờiquân tử trong xã hội phong kiến trớc sự cám dỗ của tình dục: “Quân tử dùngdằng đi chẳng dứt / Đi thì cũng dở ở không xong” Hoặc bỡn cợt cả với cáitriết lý khổ hạnh thoát dục của các nhà tu hành: “Ba cô đội gạo lên chùa /mộtcô yếm thắm bỏ bùa cho s / s về s ốm tơng t/ ốm lăn ốm lóc cho s trọc đầu”.Tuy nhiên, bà Chúa thơ Nôm lại bị cầm tù bởi những từ ngữ ớc lệ, ẩn dụ trơ
Trang 36cứng khi mô tả một “thiếu nữ” loã thể qua ánh mắt say đắm của một ngời
“quân tử”: “yếm đào”, “nơng long” và để chỉ vẻ trinh nguyên của cô gái bàkhông tìm đợc hình ảnh nào mới hơn “sơng còn ngậm”, “suối chửa thông” T-
ơng tự bà cũng phải dùng đến hai chữ “gò Bồng đảo”, “lạch Đào nguyên”- để
vẽ nên dung nhan nữ chuẩn, khuôn nếp, phù hợp với lý tởng thẩm mỹ đơngthời Cô thiếu nữ của Hồ Xuân Hơng chỉ đợc cảm nhận qua thị giác của chàngquân tử, không hơi thở, không vị, không thân nhiệt, cô là một bức tranh đẹpnhng tĩnh Thế nhng, cả Hồ Xuân Hơng lẫn cô thiếu nữ của bà đều không “vôt” chút nào Cô đã chẳng chọn cho mình một vẻ đẹp cực kỳ lẳng lơ ? ai chắc làcô đang ngủ thật? Mỗi lần đọc bài thơ, chúng ta đều thấy lấp ló đâu đây nụ cờitinh quái của bà chúa thơ Nôm trớc “đạo đức” của ngời quân tử
Không chỉ trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng, mà trong thơ của bà
Đoàn Thị Điểm chúng ta cũng bắt gặp tinh thần nhân đạo, thơng cảm trớc sốphận của đàn bà trong xã hội phong kiến thực dân Đoàn Thị Điểm là nhà thơnổi tiếng, bà đó dịch hay hơn nguyờn tỏc “Chinh phụ ngõm” của Đặng TrầnCụn, số phận người phụ nữ, hỡnh ảnh người chinh phụ khiến cho người đờithương sút cảnh của người phụ nữ trong hoàn cảnh chiến tranh và trong suốtmột thời gian dài số phận người phụ nữ trong thơ xưa luụn được nhỡn như một
sự hy sinh to lớn mà quờn đi cuộc sống riờng tư của họ Hoặc trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, số phận ngời phụ nữ nh Thuý Kiều, Đạm Tiên…
Nh vậy, ý thức nữ quyền trong văn học dân gian và văn học Trung đạichỉ là sự phản kháng lại xã hội với những luật lệ hà khắc đã chèn ép, t ớc đoạthạnh phúc của ngời phụ nữ, họ chỉ biết than thân, trách phận chứ không biếtrằng mình khổ là do đâu, họ chỉ nghĩ tại số trời đã định, nếu có phản kháng
nh bà Hồ Xuân Hơng thì đó chỉ là ý thức tự phát, đòi bình đẳng lên án xã hộibất công, cho nên bà mới ao ớc “ví đây đổi phận làm trai đợc- sự nghiệp anhhùng há bấy nhiêu.” Câu thơ ẩn cho ta thấy tâm trạng không chỉ của riêng HồXuân Hơng mà là của giới nữ: muốn nên sự nghiệp thì phải đổi phận Song ớcmuốn kia cho ta thấy dờng nh sự đổi phận là bất khả kháng trong thực tế, một
điều nữa là chứng minh sự thắng thế của đàn ông
2.3 Âm hởng nữ quyền trong văn học hiện đại
Trang 37Trong nhiều năm qua, ngời ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽphong trào nữ quyền Loài ngời càng văn minh thì sự bất bình đẳng giữa nam
và nữ càng đợc thu hẹp, đời sống của phụ nữ càng đợc cải thiện Nhng những
sự cải thiện đó không tự nó đến mà là do sự đấu tranh kiên trì của phụ nữ ở tấtcả các quốc gia trên thế giới
Sau một quá trình du nhập vào Việt Nam, quan điểm giới nhanh chóng
đợc tiếp nhận và triển khai sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.Thực tế, vấn đề giới đã trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội và trởthành phong trào thực tiễn sâu rộng của phụ nữ Việt Nam Mặc dù đã có sựchuyển biến tích cực trong quan hệ giới, địa vị, đời sống của ngời phụ nữ ViệtNam đã từng bớc đợc nâng cao, cải thiện cùng với những thành tựu to lớn củacông cuộc đổi mới đất nớc nhng sự nghiệp giải phóng phụ nữ và tạo lập bình
đẳng giới ở Việt Nam vẫn là những vấn đề bức xúc, cần nhiều nỗ lực hơn nữacủa cả hai giới và của xã hội
Bớc sang xã hội hiện đại, khi dân chí đợc nâng cao, phụ nữ bắt đầu đợc
đi học, đợc tự do bầu cử, tầng lớp công chức đã có sự tham gia của phụ nữ thìcán cân công bằng về giới mới bắt đầu đợc thực hiện hoá Vai trò của ngờiphụ nữ đợc đặc biệt đề cao trong chính thể sau cách mạng tháng tám, và với sự
ra đời của Hội phụ nữ Việt Nam, không những là tiền đề cho văn học nữ có cơhội phát triển mà số phận ngời ngời phụ nữ trong đời sống cũng đợc cải thiện
đáng kể
Một dòng chảy không kém phần quan trọng của lịch sử, nhất là sauchiến tranh thế giới thứ nhất đến nay là đã hình thành và phát triển một trào luvăn học và t tởng mới Vào những năm đầu của thế kỷ XX, do đợc tiếp xúc vớivăn hoá Phơng Tây và ảnh hởng của làn sóng tân th, trong nớc đã bắt đầu bàn
đến vai trò của ngời phụ nữ, họ đã lên tiếng kêu gọi, đòi hỏi sự bình quyền,bình đẳng và kêu gọi phụ nữ phải có một vị trí xứng đáng trong gia đình và xãhội
Văn học là tấm gơng phản chiếu thời đại, cho nên, tất yếu đã tham gia
vào quá trình đặt lại các vấn đề xã hội vào trong tác phẩm Chính vì vậy, Thơ mới ra đời Cùng với tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn, văn học hiện thực phê
phán cũng tham gia đặt lại các vấn đề tự do, hạnh phúc cá nhân trong tình yêu
và hôn nhân gia đình, địa vị và vai trò của ngời phụ nữ
Trang 38Thể loại Thơ mới ra đời nhằm giải phóng cái “tôi”, thoát khỏi lối thơ cổ
điển với những “khuôn vàng thớc ngọc”, thể hiện những khát khao đợc sốnghết mình, không bị ràng buộc của lễ giáo phong kiến Nhà thơ Xuân Diệu, ThếLữ, Hàn Mặc Tử… đều thể hiện một sự yêu đời tha thiết
Tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn đã xây dựng nhiều nhân vật nữ trongquá trình đấu tranh tự giải phóng mình thông qua hàng loạt hình ảnh “gáimới” nh Mai, Loan, Tuyết… đã đấu tranh với những bà mẹ chồng - tợng trngcho những ràng buộc của lễ giáo phong kiến, để tìm hạnh phúc Bên cạnh đó,
vẻ đẹp thể chất và những khát khao thân xác cũng bắt đầu đợc các nhà vănlãng mạn chú ý miêu tả
Khác với các nhà văn Tự lực văn đoàn - các nhà văn thuộc khuynh hớnghiện thực phê phán lại chú ý đến khía cạnh đấu tranh xã hội Những nhân vậtnữ thờng là những nạn nhân thê thảm, hậu quả của sự nghèo đói và đốt nát
Nh nhân vật Thị Mịch - Giông tố, đã bị dụ dỗ để hãm hiếp; hoặc nhân vật chị Dậu - Tắt đèn, bị đẩy vào thế cùng quẫn và suýt bị làm nhục; hoặc sống trong cảnh chịu ơn “con chó trung thành với chủ” nh Từ - Đời thừa Trong xã hội
ấy, đàn ông cũng khổ nhng đàn bà còn khốn nạn hơn nhiều Hình ảnh những
kẻ thống trị chủ yếu là gơng mặt đàn ông Tuy nhiên, các nhà văn chỉ tậptrung vào thể hiện xung đột giai cấp, nên nhìn chung, trong văn học hiện thựcphê phán chủ yếu các nhà văn miêu tả sự tha hoá và méo mó của các nhân vậttrong nhân cách nhiều hơn là vấn đề giới tính
Trong sáng tác của các nhà văn hiện thực phê phán - vấn đề tình dụccũng đợc các nhà văn khai thác Tất nhiên, tình dục - trong tác phẩm của cácnhà văn hiện thực phê phán không phải là đề tài chủ yếu mà các nhà văn sửdụng yếu tố tình dục để phản ánh xã hội nhng điều đáng nói ở đây là dới cáinhìn, quan điểm của nam giới khi nhìn về số phận của những ngời phụ nữtrong vấn đề bản năng, tình cảm Trong văn học dân gian, những bài ca daoviết về đề tài tình dục thờng thể hiện cá nhìn tếu táo nhng qua đó cũng chứngminh vấn đề quan trọng của tình dục trong đời sống của con ngời Trong vănhọc hiện thực phê phán, tình dục đợc nhìn dới quan điểm của xã hội và củanam giới
Ngô Tất Tố khi miêu tả cảnh chị Dậu bị quan phủ hay quan cụ tìm cáchhãm hiếp chị, ông không nhằm mô tả sự tấn công tình dục của một ngời đàn
ông với một ngời đàn bà mà chủ đích chính của ông nhằm lột trần bản chất
Trang 39dâm ô vô liêm sĩ của giai cấp thống trị ở đây, nạn nhân đợc nhìn nh một giaicấp hay nh một công dân chứ không hoàn toàn là một phụ nữ.
Trong Giông tố của Vũ Trọng Phụng, nhân vật thị Mịch vừa đợc nhìn
nh là nạn nhân của giai cấp vừa nh một ngời phụ nữ bị lừa để hiếp dâm
Qua cỏch miờu tả của Vũ Trọng Phụng, chúng ta thấy rõ ràng cảnh âm
mu của Nghị Hách nhằm lừa Mịch để hiếp dõm, cách miêu tả ấy làm mờ hẳntính cách nạn nhân của cô Dưới ngũi bỳt của một người đàn ụng và bằngquan điểm của nhà văn đang đứng về phớa nhõn dõn lao động nờn ngời ta đọc
Giông tố có thể căm ghét bọn trọc phú nh Nghị Hách nhng lại không thấy sót
thơng những kẻ bị hãm hiếp nh Mịch Nếu có căm ghét Nghị Hách, ngời tacũng chỉ căm ghét y nh một điển hình của tầng lớp giàu có, ích kỷ và độc ácchứ không căm ghét y nh một kẻ dâm đãng Mà quả thật, Nghị Hách hiếpMịch có lẽ chủ yếu là vì thoã mãn ý thức tự hào về quyền lực của mình hơn làvì lòng hiếu dâm Nghị Hách và Mịch lúc này không còn là tơng quan giữamột ngời đàn ông và một ngời đàn bà, mà chủ yếu là mối tơng quan giữa haitầng lớp xã hội Đó là cuộc hiếp dâm của một giai cấp chứ không phải của mộtngời đàn ông [23]
Dới ngòi bút của Nam Cao, Thị Nở chỉ là một con thú giống cái sốngthuần bằng bản năng [23] Mà hình nh trong truyện "Chí Phèo" phần lớn phụnữ đều thế Nam Cao đã miêu tả Thị Nở hởng ứng hành động cỡng dâm củaChí Phèo một cách quá mau chóng và quá nồng nhiệt “Thị Nở bỗng nhiên bậtcời Thị Nở vừa rủa vừa đập tay lên lng hắn Nhng đó là cái đập yêu, bởi vì
đập xong, cái tay ấy lại dúi lng hắn xuống Và chúng cời với nhau…”(T.NNC) Một ngời dở hơi nh Thị Nở, trong hoàn cảnh ấy có thể bật cời Nhngquả là Nam Cao phóng bút khi hơi quá tay khi cho một ngời phụ nữ lần đầutiên tiếp xúc với đàn ông nh Thị Nở, trong hoàn cảnh ấy đã phản ứng nh mộtngời dày dặn kinh nghiệm: sau khi vỗ yêu trên lng Chí Phèo lại kéo giằng cáilng ấy xuống để cùng “cời với nhau” Rõ ràng Nam Cao đã cờng điệu nhng
nh thế ông đã xoá sạch tội cho Chí Phèo Cũng giống nh khi miêu tả Thị Nở,Nam Cao miêu tả mấy bà vợ của Bá Kiến, bà ba thì thích gọi Chí Phèo đếnbóp chân mà lại đòi “bóp lên trên, trên nữa”, còn bà t thì “gần bốn mơi tuổi rồi
mà còn phây phây”, nghe bọn con trai đùa là “cời toe toét, tít cả mắt lại”, congái tự Lãng thì chửa hoang, bỏ nhà theo trai, còn vợ binh Chức thì hình nh sẵn
Trang 40sàng ngủ với mọi đàn ông, bất kể già trẻ, lớn bé, sang hèn Và Thị Nở nữa,vốn khùng khùng, dại dại, tởng không còn là ngời, đừng nói là ngời nữ, vậy
mà khi bàn tay của Chí Phèo chạm vào, bản năng tình dục bật dậy, cũng cấtlên tiếng cời giữa khuya khoắt.[23]
Nh vậy, ngay trong cách tả ngời của Nam Cao cũng có cái gì thiên lệch.Với các nhân vật nam, nếu phải tả ngoại hình, ông chỉ phác hoạ qua vài nétcốt để nói lên tính cách của họ Mà những nét tả phác ấy thờng chỉ là bề ngoàicủa bề ngoài, tức là những yếu tố mang tính xã hội hơn là thuần tuý sinh lý,chúng là sản phẩm của một nếp sống hơn là những gì do cha mẹ sinh ra: đó là
bộ râu lơ thơ của tự Lãng, một anh thầy cúng; tiếng cời giòn giã của Bá Kiến,một tên cờng hào; là cái đầu trọc lóc, cái răng trắng hớn, đôi mắt gờm gờm vànhững vết sẹo trên mặt của Chí Phèo, một tên lu manh “hiện đại” Những nétphác hoạ ấy vừa đủ để nói lên thành phần xã hội của nhân vật Với các nhânvật nữ thì khác, thứ nhất ông tập trung chủ yếu miêu tả vào hai chi tiết nhằmnói lên đời sống tâm lý và đức hạnh của họ: đôi mắt và gò má Hầu hết cácnhân vật nữ không “đàng hoàng” trong truyện "Chí Phèo" đều có hai chi tiếtgiống nhau: đôi mắt thì sắc, gò má thì “hồng hồng”, “hây hây”, hay “phâyphây” Thứ hai, ông tập trung vào những đờng nét tự nhiên, thô mộc trên cơthể của ngời phụ nữ, chủ yếu là của Thị Nở Ông đặc tả lỗ mũi và đôi môi củaThị Nở: trên khuôn mặt vừa ngắn ngủn, có cái mũi “vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ,vừa sần sùi nh vỏ cam sành” và một đôi môi “cũng cố to cho không thua cáimũi”, hơn nữa, lại dày, có “màu thịt trâu xám ngoách”
Nói cách khác, Nam Cao đặt nhân vật nam ở khía cạch xã hội, còn nhânvật nữ ở khía cạnh tự nhiên Sự đối lập giữa nam và nữ, do đó, trớc hết là sự
đối lập giữa văn hoá và bản năng Cái xấu của nhân vật nam là cái xấu có tínhcách văn hoá, do hoàn cảnh và thời thế tạo ra: đi lính (Binh Chức), ở tù (ChíPhèo và Năm Thọ), hay làm quan (hiện tợng đa thê của Bá Kiến, đợc mô tả
nh một thứ đặc quyền, đặc lợi của giới có quyền chức chứ không phải từ bảnchất tham lam của phái nam); ngợc lại cái xấu của đàn bà là do trời sinh.[23]
Nh vậy, “dới ngòi bút của hai nhà văn Nam Cao và Vũ Trọng Phụng,với lập trờng của giai cấp và với cái nhìn của quan điểm giới, mặc dù, có côngtrong việc phát hiện ra tình dục quan trọng trong đời sống của con ngời nhnglại bằng cái nhìn, sự đánh giá của một nhà văn là nam cho nên nhân vật nữkhông đợc thông cảm mà thờng bị nhìn cái nhìn khinh miệt, xem thờng” [23],