TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ====&==== NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NÔNG THÔN TRONG VIỆC HỖ TRỢ CÁC HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH GỖ MỸ NGHỆ TẠI LÀNG MỘC THÁ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
====&====
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NÔNG THÔN TRONG VIỆC HỖ TRỢ CÁC HỘ SẢN
XUẤT KINH DOANH GỖ MỸ NGHỆ TẠI LÀNG MỘC THÁI – ĐỨC THỌ - HÀ TĨNH
TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Công Thành
Vinh - 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển làng nghề ở nông thôn là điều kiện thuận lợi để thực hiện chươngtrình “xóa đói giảm nghèo”, giảm dần sự tách biệt chênh lệch thu nhập giữathành thị và nông thôn bên cạnh đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn theo hướng giảm nhanh tỉ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giátrị sản xuất công nghiệp và nông thôn, giải quyết việc làm cho khoảng gần 30%lực lưọng lao động tại chỗ, nâng cao đời sống của nhân dân làng nghề làm thayđổi bộ mặt nông thôn và thúc đẩy quá trình hình thành kinh tế thị trưòng.Hiệnnay nước ta có khoảng 1450 làng nghề, phát triển mạnh với các hình thức tổ chứcsản xuất kinh doanh đa dạng và phong phú như HTX, công ty TNHH, công ty cổphần đặc biệt là phát triển mạnh với hình thức sản xuất hộ GĐ
Thái Yên là một xã thuộc huyện Đức Thọ - Hà tĩnh Đây là một trong sốnhững xã có tiềm lực kinh tế nhất của huyện Xã có 9 thôn là thôn và một cụmTTCN mới được thành lập năm 2005 Toàn Xã có hơn 1695 hộ với trên 6154khẩu nhưng tập trung chủ yếu là hộ kiêm, vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm gỗ
mỹ nghệ Số hộ thuần nông chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Trong những năm gần đây,khi kinh tế bước sang cở chế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa Xã TháiYên cũng từng bước đi lên cùng với tiến trình phát triển của đất nước đã có nhiềubiệt thự, nhà lầu được xây trên địa bàn thôn, đời sống nhân dân không ngừngđược nâng lên Có được những thành tích đáng mừng đó phần lớn là nhờ hoạtđộng SX – KD gỗ mỹ nghệ đã có truyền thống lâu đời của Làng nghề
Để duy trì và phát triển tôt hoạt động SX-KD có thể diễn ra một cách lêntục không bị gián đoạn thì cần luôn phải đảm bảo yếu tố đầu tiên là về nguồnvốn Trong thời buổi khủng hoảng kinh tế thường xuyên xảy ra như hiện nayngoài số vốn hộ tự có để đầu tư cho SX-KD thì các hộ dân vẫn thường xuyênphải bổ sung băng nguồn vốn đi vay bên ngoài vào những thời điểm thiếu vốn làtất yếu Các hộ SX-KD gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Làng mộc Thái Yên cũng khôngnằm ngoài thực trạng đó Ở đây ngoài sự lựa chọn nguồn vay từ nguồn tín dụngchính thức như hệ thống các ngân hàng hay các tổ chức TD thương mại thì nguồn
Trang 3vốn được vay từ nguồn tín dụng phi chính thức cũng chiếm một tỷ lệ khá caotrong cở cấu nguồn vốn vay của hộ Đê nắm bắt được rõ hơn thực trạng vay và sửdụng của các hộ từ hai nguồn tín dụng này như thế nào? Đánh giá xem tín dụng
có thực sự mang lại hiệu quả cho các hộ dân của Làng nghề hay không? Để từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn cho các hộdân, tăng thu nhập cho toàn xã và giúp phát triển Làng nghề một cách nhanhchóng và toàn diện, theo kịp tiến trình CNH – HĐH của đất nước
Chính vì vậy chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá
vai trò của tín dụng nông thôn trong việc hỗ trợ các hộ sản xuất kinh doanh
gỗ mỹ nghệ tại làng mộc Thái Yên - Đức Thọ - Hà Tĩnh”.
2 Mục tiêu tổng quát
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá vai trò của tín dụng nông thôn trong việc hỗ trợ các hộ SX – KD
gỗ mỹ nghệ trên địa bàn làng mộc Thái Yên - Đức Thọ - Hà Tĩnh đề từ đó đề ramột số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các hộ SX-KDtrên địa bàn nghiên cứu
Trang 4Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến tín dụng
1.1.1.1 Tín dụng
+ Tín dụng
Theo đại từ điển kinh tế thị trường “Tín dụng là những hành động vaymượn và bán chịu hàng hoá và vố giữa những người sở hữu khác nhau Tín dụngkhông phải là hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện,tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức Tín dụng là hình thức đặc thù vận độnggiá trị khác với lưu thông hàng hoá đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tới hìnhthức mượn tài khoản, bồi hoàn giá trị thanh toán”
+ Tin dụng phi chính thức: Khái niện tín dụng phi chính thức hiện nay đượcdùng với nghĩa tương đối, phản ánh một thực trạng tài chính rất phức tạp thườngđược dùng để chỉ những quan hệ tín dụng ngầm hoặc nửa công khai(nhiều trườnghợp là công khai) ở đó một hoặc một số vượt ngoài khuôn khổ của thế chế pháp
lý hiện hành Tuy nhiên, trong thực tế nó cũng có thể bao gồm cả những quan hệtín dụng trực tiếp giữa các cư dân nông thôn mà yếu tố lãi suất hoàn toàn bìnhthường, thậm chí còn thấp hơn so với lãi suất thị trường chính thức Những quan
hệ này phát sinh trên cơ sở những quan hệ tình cảm (họ tộc, bạn bè…) hoặc
nhiều thứ quan hệ đa dạng khác.Vì vậy, để cho bao quát nên hiểu tín dụng phi
chính thức bao gồm những giao dịch tín dụng theo kiểu tài chính trực tiếp giữa các chủ thể kinh tế nông thôn với nhau và những giao dịch tài chính gián tiếp không thông qua những tổ chức tín dụng hoạt động trong khuôn khổ của Luật Tổ chức tín dụng (tạm gọi là các tổ chức tín dụng chính quy = TCTDCQ [5].
1.1.1.2 Sự tồn tại khách quan của tín dụng
Tín dụng ra đời từ rất sớm cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hoá.Sản xuất hàng hoá mà chưa phát triển thì hoạt động tín dụng sẽ gặp nhiều khókhăn vướng mắc Điều này có thể chứng minh bằng cách kiểm nghiệm thực tế về
Trang 5phát triển sản xuất ở bất kỳ xã hội nào Ở Việt Nam, trước đây do áp dụng môhình kinh tế quản lý tập trung quan liên bao cấp đã kìm hãm sự phát triển kinh tế,
sự phát triển của sản xuất hàng hoá và hoạt động kinh tế ít sử dụng đến tiền tệ.Tín dụng từ đó bị kìm hãm do bị ảnh hướng lớn của cơ chế này Các thành phầnkinh tế nhà nước, kinh tế quốc doanh đều hoạt động theo những kế hoạch từ trênxuống, các thành phần kinh tế khác không được công nhận, đối tượng vay vốnNgân hàng là kinh tế tập thể và kinh tế quốc doanh, như vậy làm cho hoạt độngtín dụng kém hiệu quả, bị kìm hãm là điều tất nhiên
Từ khi nhà nước ta chuyển đổi từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường có
sự quản lỹ của nhà nước thì nền kinh tế của nước ta dần thoát khỏi “cái vòng luẩnquẩn”, kinh tế nước ta đã từng bước phát triển tương đối tốt, sản xuất hàng hoángày càng phát triển đồng thời kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng dướinhiều hình thức khác nhau
Trước đây kinh tế hộ, kinh tế trang trại không được công nhận là đơn vịkinh tế tự chủ thì tới nay đã được công nhận và hoạt động sản xuất rất có hiệuquả.Các đơn vị kinh tế do hoạt động với tư cách độc lập tự chủ và giữa chúng cómối liên hệ lẫn nhau thông qua việc trao đổi mua bán sản phẩm, nguyên liệu vậtliệu muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện được mối liên
hệ trên thì mỗi doanh nghiệp phải có nguồn vốn tiền tệ và đều phải thực hiệnđược mối liên quá trình tuần hoàn chu chuyển vốn riêng của mình
Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân, do tính thời vụ và đặc điểm của chu
kỳ sản xuất quy định, mỗi đơn vị kinh tế, mỗi ngành kinh tế có thời gian đầu tư
và thu hồi vốn khác nhau Thực tế này đã dẫn đến thực trạng tại một thời điểmnào đó trong toàn bộ nền kinh tế sẽ có một số đơn vị có vốn tàm thời chua sửdụng đến, trong khi đó một số đơn vị kinh tế lại thiếu vốn sản xuất.Từ đó tíndụng được hình thành để làm cầu nối giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn nhằm đảmbảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên, liên tục.Cầunối tín dụng được thực hiện bởi các tổ chức, hoặc cá nhân trung gian để điều hoàvốn, trong đó cơ bản là hệ thống các Ngân hàng
Trang 6Để mở rộng quy mô sản xuất phải thực hiện tái sản xuất mở rộng, do đónhu cầu về vốn đầu tư cho nhu cầu sản xuất không những phải duy trì mà cònphải được tăng cường liên tục.
Nhưng việc tích luỹ để đầu tư của doanh nghiệp chỉ có hạn, không thể đápứng trang trải cho tái sản xuất mở rộng được.Muốn thực hiện được việc mở rộngsản xuất thì việc cần thiết là huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bao gồm: Phầntiền của các đơn vị sản xuất kinh doanh, các cá nhân, các Ngân hàng Quan hệtín dụng đó được thể viện qua ba giai đoạn sau
- Giai đoạn 1: Phân phối tín dụng, chuyển quyền sử dụng vốn tín dụng từngười cho vay sang người đi vay
- Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh.Giai đoạn này được thể hiện sau khi người đi vay nhận được vốn tín dụng từngười cho vay và sử dụng nó vào mục đích của mình
- Giai đoạn 3: Hoàn trả vốn tín dụng: Giai đoạn này vốn tín dụng biểu hiệnkết thúc vòng tuần hoàn Người đi vay phải trả cho người cho vay cả giá trị banđầu và một phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức tín dụng [7]
1.1.1.3 Bản chất tín dụng
Thứ nhất, tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay
và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn vận động từ chủ thể này sang chủ thểkhác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội
Thứ hai, tín dụng được coi là một số vốn, làm bằng hiện vật hoặc tiền,vận động theo nguyên tắc hoàn trả, để đáp ứng cho các nhu cầu của chủ thể tíndụng [6]
1.1.1.4 Các hình thức tín dụng
* Tín dụng thương mại: Tín dụng thương mại phản ánh quan hệ sử dụngvốn lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh, thực hiện dưới hình thứcmua bán chịu hàng hoá
* Tín dụng Ngân hàng: Tín dụng Ngân hàng phản ánh quan hệ vay mượnvốn tiền tệ giữa các Ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế
Trang 7* Tín dụng nhà nước: Tín dụng nhà nước phản ánh mối quan hệ tín dụnggiữa nhà nước với dân cư và các chủ thể kinh tế khác, trong đó nhà nước là người
đi vay để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiện vụ của nhà nước trong quản lýkinh tế xã hội
* Tín dụng thuê mua: Tín dụng thêu mua phản ánh những mối quan hệ phátsinh giữa công ty tài chính (công ty cho thuê tài chính) với những người sản xuấtkinh doanh dưới hình thức cho thuê tài sản [6]
1.1.1.5 Vai trò của tín dụng trong sự phát triển nông nghiệp và nông thôn
Tín dụng đối với nông nghiệp chủ yếu là tín dụng chi phí sản xuất, tức làcác khoản mà các tổ chức tín dụng cung cấp cho nông dân để chi phí về giốngcây trồng, gia súc, gia cầm, và đầu tư vào sản xuất kinh doanh một số loại hìnhkinh tế khác Tín dụng giữ một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nôngnghiệp và nông thôn đặc biệt là trong sự nghiệp CNH – HĐH của nước ta hiệnnay Đó là nguồn cung quan trọng cung cấp những cơ hội để có được khả năngsản xuất kinh doanh tốt hơn cũng như tạo ra những ưu thế cho doanh nghiệptrong tương lai
* Vai trò trung gian thu hút vốn và tài trợ vốn
Các TCTD giữ vị trì trung gian thể hiện qua chức năng thu hút vốn và chovay Khi người nông dân thu hoạch, tiêu thụ được sản phẩm người nông dân cóthể đen tiền đi giử tại các Ngân hàng để kiếm lãi.Khi đó các TCTD sẵn sàng tiếpnhận các nguồn vốn nhàn rỗi để quay vòng vốn trong dân cư Và khi người dân
có nhu cầu vay vốn thì các TCTD chính là nơi cung cấp nguồn vốn ổn định chocác hộ có nhu cầu vay
* Tín dụng giữ vai trò trung gian giữa sản xuất nông nghiệp và các ngành sản xuất khác.
Công nghiệp và dịch vụ là những ngành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm từ nôngnghiệp dưới dạng tư liệu sản xuất Nếu sản xuât nông nghiệp gặp khó khăn thìcông nghiệp dịch vụ cũng khó khăn theo [7]
1.1.1.6 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất
Trang 8Với chức năng làm trung gian tín dụng Ngân hàng nhận các khỏan tiềnnhàn rỗi tạm thời tiến hành đầu tư cho những hộ có khả năng phát triển, mở rộngsản xuất nhưng thiếu vốn Như vậy, TDNH đã đem lại khoản thu cho nhữngngười có vốn nhàn rỗi đồng thời tạo cơ hội cho các hộ hoạt động tốt mở rộng dâychuyền sản xuất, mua sắm thiết bị máy móc đổi mới công nghệ và tiếp cận vớithồng tin môi trường sản xuất, quản lý, khôi phục và phát triển làng nghề truyềnthống Tạo công ăn việc làm, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, góp phần cải thiệnđời sống nhân dân Như vậy, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọngtrong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa.
* Tín dụng Ngân hàng còn góp phần vào việc hạn chế cho vay nặng lãi ở
nông thôn giúp kinh tế hộ sản xuất phát triển, làm ăn có hiệu quả
Thông qua vốn TCNH các hộ sản xuất đã thực sự được trợ giúp và có cơhội tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội.Việc mở rộng kinh tế hộ sản xuất
là hướng đi có tầm chiến lược đóng vai trò qua trọng đối với việc xây dựng mộtnền kinh tế toàn diện.Thúc đẩy CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn sẽ tạo thế làlực mới cho sự phát triển của đất nước
* Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Với đặc trưng SX-KD của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn hóa sảnxuất khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hóa để bán thì chưa có thunhập, nhưng trong khi đó hộ vẫn cần tiền để trang trãi cho các khản chi phí sảnxuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác Trong điềukiện như vậy, các hộ sản xuất cần có sự giúp đỡ của các nguồn tín dụng để duytrì quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên và liên tục Nhờ có sự hỗ trợ vềvốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực có sẵn như laođộng, tài nguyên để cải tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy cho việc sắp xếp, tổchức sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng cao đời sống vật chấtcũng như tinh thần của người dân
* Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Trang 9Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn của tín dụng Ngân hàng đãthực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ Bằng cánh tập trung vốnvào kinh doanh giúp cho các hộ có điều kiện để mở rộng sản xuất, làm cho sảnxuất kinh doanh có hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồngthời Ngân hàng cũng đảm bảo hạn chế được rủi ro tín dụng.Thực hiện tốt chứcnăng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng qua tâm đến nguồn vốn đãhuy động được để cho hộ sản xuất vay Vì vậy Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sửdụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sảnxuất và lưu thông Trên cơ sở đó hộ sản xuất phải biêt tập trung vốn như thế nào
để sản xuất góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn
* Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động.
Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa đượcquan tâm và đầu tư đúng mức Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩychuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH chúng ta cũng cần quan tâm đếnngành nghề truyền thống có đạt được hiệu quả kinh tế, đặc biệt trong quá trìnhthực hiện CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Phát huy được nội lực của kinh
tế hộ và tín dụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thuhút, giải quyết việc làm cho người lao động Từ đó góp phần phát triển toàn diệnnông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghịêp chế biến nông - lâm - thủy sản, côngnghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, dịch
vụ, du lịch ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại
Do đó, tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghềkinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề nàyphát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ [7]
1.1.1.7 Vai trò của tín dụng Ngân hàng về mặt chính trị, xã hội
Tín dụng Ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩyphát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội.Thông qua việc cho vay
mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việclàm cho người lao động Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước
Trang 10ta Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ hạn chế được những tiêu cực xãhội Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làmcho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố Thựchiện được vấn đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập chonông dân, đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn
và thành thị càng xích lại gần nhau hơn, hạn chế bớt sự phân hoá bất hợp lý trong
xã hội, giữ vững an ninh chính trị xã hội
Ngoài ra tín dụng Ngân hàng góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mớicủa Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo
Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh làm thay đổi
bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở lên khá hơn, hộ khá trở lên giàu hơn.Chính vì
lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xoá bỏ như: Rượu chè, cờ bạc, mê tín dịđoan nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động.Qua đây chúng ta thấy được vai trò của tín dụng Ngân hàng việc củng cố lòng tincủa nông dân nói chung và của hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng
và Nhà nước
Tóm lại: Tín dụng Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ mởrộng sản xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề Khai thác các tiềm năng
về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồn lực vào sản xuất
Tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất Tạo điều kiệncho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuấtphù hợp với tín hiệu của thị trường
Thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuấthàng hoá, góp phân thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp vànông thôn Thúc đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toán trong sản xuất kinhdoanh, tính toán lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất Tạonhiều việc làm cho người lao động Công việc củng cố lòng tin của nông dân nóichung và của hộ sản xuất nói riêng Hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trongnông thôn, hạn chế tình trạng bán lúa non Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 11nông thôn, tăng tính hàng hoá của sản phẩm nông nghiệp trong điều kiện pháttriển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Ngân hàng thực hiện mở rộngđầu tư kinh tế hộ gia đình, thực hiện mục tiêu của Đảng và nhà nước về phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước.
Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn cho vay cho thấy cơ chế hiện nay vẫncòn nhiều bất cập như quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn, cách xử
lý tài sản thế chấp giải quyết như thế nào? đấu mối với các ngành ra sao? sựkhông đồng bộ ở các văn bản dưới luật đã làm cho hành lang pháp lý do hoạtđộng Ngân hàng vẫn còn khó khăn, chưa mở ra được, việc cho vay tín chấpngười vay không trả được thì các tổ chức đoàn thể chịu đến đâu ? thực tế họ chỉchịu trách nhiệm còn rủi ro, tổn thất vẫn là Ngân hàng phải chịu Nếu không cónhững giải pháp để tháo gỡ thì Ngân hàng không thể mở rộng đầu tư vốn và nângcao hiệu quả việc cho vay phát triển kinh tế hộ [7]
1.1.2 Hộ sản xuất và vai trò của hộ sản xuất đối với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của hộ sản xuất
* Khái niệm hộ sản xuất
Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, được nhà nước giao đất quản lý và
sử dụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên một số lĩnh vựcnhất định do Nhà nước quy định
Trong quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự: Những hộ gia đình mà các thànhviên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất,trong hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp và một số lĩnh vực sản xuất kinhdoanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong quan hệ dân sự đó
Chủ hộ là đại diện của hộ sản xuất trong các giao dịch dân sự và lợi íchchung của hộ Cha mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộtrong quan hệ dân sự Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ sản xuất xác
Trang 12lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cả hộsản xuất.
Tài sản chung của hộ sản xuất bao gồm tài sản do các thành viên cùng nhautạo lập nên hoặc được tặng cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏathuận là tài sản chung của hộ Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ là tài sảnchung của hộ sản xuất
Hộ sản xuất phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụdân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ sản xuất Hộ chịu tráchnhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ Nếu Tài sản chung của hộ không đủ đểthực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đớibằng tài sản riêng của mình
Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn Hộ sảnxuất trong nhiều ngành nghề hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh vực nôngnghiệp và phát triển nông thôn Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghềmới đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nước tatrong thời gian qua [7]
* Đặc điểm của hộ sản xuất
Tại Việt nam hiện nay gần 70% dân số sinh sống ở nông thôn và đại bộphận còn mang tính tự cung tự cấp, tự túc Trong điều kiện đó, hộ là đơn vị kinh
tế cơ sở mà chính ở đó diễn ra quá trình tổ chức phân công lao động, chi phí chosản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng
Hộ được hình thành theo những đặc điểm tự nhiên, rất đa dạng Tùy thuộcvào hình thức sinh hoạt ở mỗi vùng và địa phương mà hộ hình thành một kiểucách sản xuất, cánh tổ chức riêng trong phạm vi gia đình Trong mô hình sảnxuất chủ hộ cũng là người trực tiếp làm việc có trách nhiệm và hoàn toàn tự giác.Sản xuất của hộ khá ổn định, vốn luân chuyển chậm so với các ngành khác.Đối tượng sản xuất phát triển hết sức phức tạp và đa dạng, chi phí sản xuấtthường là thấp, vốn đầu tư có thể rải đều trong quá trình sản xuất kinh doanhmang tính thời vụ, cùng một lúc có thể sản xuất kinh doanh nhiều loại cây trồng,vật nuôi hoặc tiến hành các ngành nghề khác lúc nông nhàn.Vì vậy thu nhập của
Trang 13hộ cũng rải đều, đó là yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triểntoàn diện.
Trình độ sản xuất của hộ ở mức thấp, chủ yếu là sản xuất thủ công, máymóc đơn sơ, giản đơn, tổ chức sản xuất mang tính tự phát, quy mô nhỏ khôngđược đào tạo bài bản Hộ sản xuất hiện nay nói chung vẫn hoạt đống sản xuấtkinh doanh theo tính chất truyền thống, thái độ lao động thường bị chi phối bởitình cảm đạo đức gia đình và nếp sinh hoạt theo phong tục tập quán làng quê
Từ những đặc điểm trên ta thấy kinh tế hộ rất dễ chuyển đổi hoặc mở rộng
cơ cấu vì chi phí bỏ ra ít, trình độ khoa học kỹ thuật thấp
Quy mô sản xuất của hộ thường nhỏ, hộ có sức lao động, có các điều kiện
về đất đai, mặt nước nhưng thiếu vốn, thiếu hiểu biết vè khoa học kỹ thuật, hiểubiết về kiến thức thị trường nên sản xuất kinh doanh còn mang tính thụ động.Nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước về chính sách, về vốn thì kinh tế hộ khôngthể chuyển sang sản xuất hàng hóa Không thể tiếp cận với những thị trường lớnđược [7]
1.1.2.2 Vai trò của hộ trong phát triển kinh tế
- Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế thị tự nhiên sangnền kinh tế thị trường
- Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giảiquyết việc làm ở nông thôn
- Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy sản xuấthàng hóa
- Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hôi
Từ những đặt điểm trên ta thấy kinh tế hộ là thành phần kinh tế không thểthiếu trong quá trình CNH – HĐH xây dựng đất nước Kinh tế hộ phát triển thúcđẩy sự phát triển kinh tế nhà nước nói chung, kinh tế nông thôn nói riêng và cũng
từ đó tăng mọi nguồn thu cho ngân sách địa phương cũng như ngân sách nhànước Góp phần đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH ở nước ta [7]
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến làng nghề - làng nghề truyền thống
Trang 141.1.3.1 Lịch sử phát triển và phân loại làng nghề ở Việt Nam
Làng nghề là một trong những đăc thù của nông thôn việt nam.Nhiều sảnphẩm đuợc sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổigóp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúcnông nhàn Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm,song song với quá trình phát triển KT-XH, văn hóa và nông nghiệp của đấtnước.Ví dụ như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển,làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ởĐồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ ở (Đà Nẵng) cũng hìnhthành cách đây hơn 400 năm… Nếu đi sâu tìm hiêu về nguồn gốc các sản phẩm
từ làng nghề đó, có thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban đầu đều được sảnxuất để phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc công cụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếulàm trong lúc nông nhàn Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm
ra các sản phẩm này đựoc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công
mà còn là điểm văn hoá của khu vực, của vùng Làng nghề là nơi hội tụ nhữngthợ thủ công có tay nghề cao mà tên tuổi gắn với sản phẩm trong làng.Ngoài ra,làng nghề cũng chính là điểm tập kết nguyên liệu, là nơi tập trung những tinh hoatrong kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng Các mặt hàng sản xuất ra không chỉ
để phục vụ sinh hoạt hàng ngày mà còn bao gồm cả các sản phẩm mỹ nghệ, đồthờ cúng, dụng cụ sản xuất,… Nhằm đáp ứng nhu cầu thị truờng trong vùng vàcác khu vực lân cận
Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh
tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển Quá trình công nghiệp hoá cũng vớiviệc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thúcđẩy sản xuất tại các làng nghề đã làm tăng mức thu nhập bình quân của ngườidân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày được áp dụng phổ biến Các làngnghề mới và các cụm làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm
Trang 15đạt được sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vựcnông thôn.
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, đặc điểm xã hội
và truyền thống lịch sử, sự phấn bố và phát triển làng nghề giữa các vùng củanước ta không đồng đều, thông thường tập trung vào những khu vực nông thônđông dân cư nhưng ít đất sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động dư thừa lúc nôngnhàn Trên cả nước làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sôngHồng (chiếm khoảng 60%) còn lại ở miền trung (chiếm khoảng 30%) và miềnNam (khoảng 10%) [1]
1.1.3.2 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống
* Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:
+ Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính từ thời điểm đề nghịcông nhận
+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc dân tộc
+ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi củalàng nghề
+ Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước
* Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống.
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghềtruyền thống theo quy định trên
Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn: Có tối thiểu 30% tổng số hộ trênđịa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn và Hoạt động sản xuấtkinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.Nhưng
Trang 16có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định trên thì cũngđược công nhận là làng nghề truyền thống [3].
1.1.3.3 Phân loại và đặc trưng của các làng nghề
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một sốdạng sau:
+ Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới
+ Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm
+ Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ
+ Theo mức độ sử dụng nguyên/ nhiên liệu
+ Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển
Mỗi cách phân loại đều có những đặc thù riêng mà tùy theo mục đích mà cóthể lụa chon cách phân loại phù hợp
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm,thị trườngnguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta rathành 6 nhóm ngành chính mỗi nhóm ngành làng nghề có những đặc điểm đặctrưng khác nhau về tính cộng đồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
*.Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: có tổng
số lượng làng nghề lớn, chiếm 20 % tổng số làng nghề, phân bố khá đều trên cảnước Phần lớn sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao,hìnhthức sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thờiđiểm khi hình thành nghề.Phần lớn các làng chế biến lương thực, thực phẩmnước ta là các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh
đa nem, miến dong, bún, bánh đậu xanh, bánh gai…với nguyên liệu chính là gạo,ngô, khoai, sắn, đậu và thường gắn với hoạt động trồng trọt chăn nuôi ở quy môgia đình
* Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Nhiều làng có từ lâu đời, có các
sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, mang đậm nét địa phương Những sảnphẩm như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may… không chỉ là những sản phẩm có giá trị
mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao Quy trình sản xuấtkhông thay đổi nhiều Với nhiều lao động có tay nghề cao Tại các làng nghề
Trang 17nhóm này, lao động nghề thường là lao động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao độngnông nghiệp).
* Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành từ hàng
trăm năm nay, tập trung ở vùng có khă năng cung cấp nguyên liệu cơ bản chohoạt động xây dựng Lao động gần như thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệthô sơ, tỷ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay đổi Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu vềxây dựng nhà cửa, công trình ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật liệu pháttriển nhanh và lan tràn ở các vùng nông thôn Nghề khai thác đá cũng phát triển ởnhững làng gần các núi đá vôi được phép khai thác, cung cấp nguyên liệu cho cáchoạt động sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng
* Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số
lượn ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải, kimloại, giấy, nhựa, vải, đã qua sử dụng).Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế tạo vàđúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếpvào loại hình làng nghề này Đa số các làng nghề nằm ở phía Bắc, công nghệ sảnxuất đã từng bước được cơ khí hóa
* Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ thủy
tinh mỹ nghệ, chạm khắc đá, chạm vàng bạc, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹnghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren Đây là nhóm làng nghề chiếm tỷtrọng lớn về số lượng (gần 40 % tổng số làng nghề), có truyền thống lâu đời, sảnphẩm có giá trị cao, mang đậm nét văn hóa, và đặc điểm địa phương, dân tộc.Quy trình gần như không thay đổi, lao động thủ công, nhưng đòi hỏi tay nghềcao, chuyên môn hóa, tỷ mỉ và sáng tạo Đặc biệt mang đậm tính cộng đồng
* Các nhóm ngành khác: bao gồm các ngành nghề chế tạo công cụ thô sơ
như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc da dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy…Những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhucầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương Lao động phần lớn là thủ công với sốlượng và chất lượng ổn định [1]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2 Tín dụng nông nghiệp, nông thôn ở một số nước trên thế giới
Trang 18Hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống tín dụng dành riêng chonông nghiệp và nông thôn để cung cấp vốn cho sản xuất nông nghiệp nhằm mụcđích nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần làm giảm khoảng cách giữa nôngthôn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo và phát triển kinh tế một cáchtoàn diện và bền vững, tùy vào hoàn cảnh và sự quản lý của từng nước mà có cáchình thức tín dụng khác nhau Sau đây là một số hoạt động tín dụng của một sốnước trên thế giới và trong khu vực.
Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước có nền kinh tế mạnh nhất trong khu vực
và đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Trong lĩnh vực tín dụng Thái Lan cũng đãđạt được những thành công đáng kể Các hình thức cấp tín dụng trong nôngnghiệp Thái Lan chủ yếu thông qua các tổ chức Ngân hàng quốc gia Thái Lan,Ngân hàng thương mại, Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp, các
tổ chức tài chính Trong đó Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã nông nghiệpđóng vai trò quan trọng, các tổ chức này thành lập năm 1969 và cơ cấu chi nhánh
ở tất cả các tỉnh và có liên hệ với một nửa nông dân trong cả nước, đối tượng vaygắn liền với cây trồng, vật nuôi và đối tượng thế chấp cũng được xử lý linh hoạt.Mục tiêu lớn nhất của kế hoạch trợ cấp tín dụng nông nghiệp là khuyến khích sửdụng các khoản vay và tăng cường thực hiện việc trả nợ của người dân tham giavào đó
Philippin
Chính phủ philippin rất quan tâm đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp,nâng cao đời sống cho hộ nông dân bằng các biện pháp khác nhau Đặc biệt làchính sách tín dụng hỗ trợ sản xuất nông nghiệp Chính sách này chia làm haithời kỳ:
Năm 1986 trở về trước, nông nghiệp thực hiện chính sách “tài chính chủđạo” Đặc trưng cơ bản là Nhà nước can thiệp bằng cánh trợ cấp, thực hiện kiểmsoát lãi suất thấp, miễn thuế nông nghiệp Chính sách này được đánh giá làkhông mấy hiệu quả
Trang 19Từ năm 1986 trỏ lại đây.Năm 1986 chính phủ đã ban hành chính sách tíndụng với nội dung chủ yếu là thực hiện lãi xuất cho hộ nông dân vay theo lãi suấtthị trường, giảm trợ cấp ưu tiên cho nông nghiệp, chấm dứt các hoạt động chovay trực tiếp của các ơ sở nhà nước phi tài chính Cung cấp các dịch vụ và thựchiện cơ chế bảo hiểm để giả rủi tro trong khi cho vay Trong số các cơ quan tổchức có chất lượng hỗ trợ và phát triển khu vực nông thôn thì Ngân hàngLandbank, đây là Ngân hàng đã có những đóng góp quan trọng trong công cuộccải cách và phát triển nông nghiệp ở Philippin.
Bangladesh
Bangladesh là nước duy nhất có tổ chức tín dụng làm dịch vụ Ngân hàng ởnông thôn đó là: GreamenBank, tổ chức này được thành lập từ năm 1976 hoạtđộng không giống quy chế của Ngân hàng thương mại Cơ chế của tổ chức nàylà: Bất cứ người nào không có đất đai canh có thu nhập dưới 100 USD/ năm đềuđược vay vốn không phải thế chấp, cho vay theo nhóm 5 người, trong đó 2 ngườivay trước, trả nợ rồi 2 người tiếp theo được vay và nhóm trưởng được vay saucùng Mức tiền cho vay thấp nhất là 200USD với lãi suất là 1,66%/ tháng caohơn so với nâng hàng thương mại, song vay không phải thế chấp nên nhiều ngườimuốn gia nhập nhóm để vay Thành công của GreamBank là do: Phục vụ tại chỗnông thôn, việc tổ chức nhóm có ý nghĩa quan trọng trong làm giảm chi phí cấptín dụng, vừa thu hẹp mối quản lý, theo dõi người vay Hoạt động của nhóm làmcho thành viên có tâm lý được che chở, việc thúc ép nhau trong việc sử dụng vốn
và trả nợ giúp Ngân hàng thu nợ được đều đặn.Việc cấp cấp tín dụng bằng cáchcấp vật tư nông nghiệp tại trụ sở của chi nhánh thuận tiện và được nông dân ưathích Thủ tục vay đơn giản, nông dân không phải đi lại nhiều, tiết kiệm đượcthời gian và công việc [4]
1.1.3 Chính sách của chính phủ Việt Nam đối với tín dụng nông thôn 1.1.3.1 Môi trường chính sách
Từ năm 1986, chính phủ VIệt Nam đã xây dựng và theo đuổi chiến lượcgiảm nghèo quốc gia Trọng tâm của chính sách này là cung cấp các cơ hội chongười nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo đói thông qua phát triển các hoạt động
Trang 20sản xuất Do vây, các chương trình giảm nghèo chủ yếu tập trung vào việc cungcấp tài chính và công nghệ phục vụ cho các hoạt động sản xuất Về phương diệntài chính, tín dụng là một nhân tố chủ đạo trong rất nhiều nguồn lực mà ngườinghèo có thể lựa chọn nhằm cải thiện sinh kế Chính phủ Việt Nam đang nỗ lựcthúc đẩy phát triển nông thôn đảm bảo sự phát triển cân bằng giữa khu vực nôngthôn và thành thị Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách và quyết định nhằmkhuyến khích phát triển nông thôn và tấn công nghèo đói Nhiều chương trình tậptrung vào phát triển nông thôn và giảm nghèo đã và đang được triển khai Gầnđây nhất là chương trình 135 tập trung vào những xã nghèo và dễ bị tác độngnhất trong cả nước Thánh 6 năm 2000 Bộ NN & PTNT đã xây dựng một hệthống nông nghiệp trên cơ sở hàng hóa như mục tiêu chính cho sự phát triển củangành trong những năm tới Khi nông nghiệp Việt Nam chuyển từ giai đoạn tiêudùng sang giai đoạn đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi phục vụ nhu cầu củathị trường, Việt Nam có thể thực hiện được mục tiêu tấn công nghèo đói, cảithiện mức sống của nông dân, phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh phát triển côngnghiệp nông thôn và đảm bảo an ninh lương thực [5].
1.1.3.2 Cơ sở pháp lý
Việt nam đang có những bước đi quan trọng trong việc xây dựng một nềkinh tế “hoạt động theo pháp luật " Quốc hội gần đây đã sửa đổi và thông qua rấtnhiều điều luật tác động mạnh tới hoạt động của các thị trường tài chính Liênquan đến khu vực Ngân hàng, hai luật rất quan trọng là luật Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam và luật các tổ chức tín dụng đã được thông qua Bên cạnh đó, Bộ luậtLao động và luật hợp tác xã cũng có ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động tíndụng và Ngân hàng ở khu vực nông thôn
Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 209 ngày 17 tháng 1 năm
2000 về việc cho phép HPN tiếp tục thực hiện các chương trình tín dụng - tiếtkiệm nhằm mục tiêu XĐGN Tiếp theo quyết định này, NHNN đã ban hànhthông tư 699 ngày 17 tháng 6 năm 2000 khẳng định việc hỗ trợ các chương trìnhtín dụng - tiết kiệm của HPN trong cả nước đây là văn bản pháp lý cao nhất chophép tiếp tục phát triển chương trình tín dụng và tiết kiệm của hội phụ nữ
Trang 21Ngày 9 tháng 3 năm 2005, chính phủ Việt Nam đã ra quyết định ban hànhnghị định 28 về thành lập và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ.Nghị định ra đời đã tạo ra một khung pháp lý cho các hoạt động tài chính vi mô
và mở rộng cánh cửa cho ngành tài chính quy mô nhỏ đi vào chính thức hóa vànhân rộng hoạt động của mình Ngày 15 - 11 - 2007 chính phủ ra nghị định số165/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều Nghị định số 28/2005/NĐ
- CP nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức TCVM hoạt động [4]
1.1.3.3 Chính sách lãi suất
Chính phủ Việt Nam đã và đang theo đuổi chính sách lãi suất trần Theochính sách này, NHNN xác định mức lãi suất áp dụng cho các Ngân hàng thươngmại Từ tháng 10/1999 lãi suất cho vay trong toàn hệ thống NHNN là 1% /thángđối với ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Tháng 8 năm 2000, NHNN đã ban hànhquy định mới với lãi suất cho vay cao nhất sẽ được quyết định trên cơ sở tìnhhình cung cầu của thị trường tín dụng Các tổ chức tài chính vi mô của Việt Nam
áp dụng mức lãi suất khác nhau, Ngân hàng người nghèo được phép cho vay vớilãi suất ưu đãi vì hoạt động chính của Ngân hàng người nghèo là hoạt động philợi nhuận nhằm thực hiện nhiệm vụ XĐGN Còn đối với Ngân hàng NN &PTNT được phép áp dụng “lãi suất thương mại” giống như một Ngân hàngthương mại các tổ chức xã hội, NGOs quốc tế hiện đang tận dụng “kẽ hở pháplý” để áp dụng lãi suất cao hơn nhằm chứng tỏ thực tế tình hình tài chính vi môphát triển bền vững ở Việt Nam [5]
1.1.4 Nghiên cứu có liên quan
Trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thị trườngvốn tín dụng nông thôn và tín dụng nông dân đặc biệt là ở các nước đang pháttriển như:
Năm 1980: Adam đã có nhiều nghiên cứu về hình thức vay vốn và cho vayxuất hiện trong thị trường tài chính nông thôn ở những nước đang phát triển.Năm 1983, với nghiên cứu về huy động tiết kiệm của nông hộ qua thịtrường tài chính nông thôn ở các nước đang phát triển
Trang 22Năm 1985, cùng với giáo sư Rober C Vogel sau những nghiên cứu về thịtrường tài chính – tín dụng ở các nước Châu phi, Châu mỹ La tinh và Châu Á,ông đã đưa ra những ý kiến mới và những bài học về phát triển thị trường tàichính nông thôn ở các nước có thu nhập thấp.
Năm 1992, Adam cùng với D.A.Fitchectt đã có nghiên cứu về các hình thứctín dụng không chính thống ở những nước có thu nhập thấp, khẳng định vai tròđặc điểm của hình thức tín dụng này
Nghiên cứu thực trạng thị trường tín dụng ở miền tây Orissa Ấn Độ của tácgiả Kailas Sarap năm 1983
Năm 1981, Govind Koirala nghiên cứu về ảnh hưởng của tín dụng nôngnghiệp trong các trang trại nông nghiệp của huyện Rupod ở Neepan…
Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước vàngaoif nước về thị trường tín dụng nông nghiệp nông thôn và việc cho hộ nôngdân vay vốn sản xuất kinh doanh Tiêu biểu như:
“Thị trường vốn tín dụng nông thôn và sử dụng vốn tín dụng của hộ nôngdân huyện Gia Lâm – Hà Nội”của tác giả Kim Thị Dung (1999)
“Tín dụng Ngân hàng với quá trình phát triển kinh tế nông thôn Việt Namtrong giai đoạn hiện nay “của tác giả Lê Quốc Tuấn (2002)
“Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay vốn của TCTD với các hộ nôngdân trên miền núi phía bắc”của tác giả Nguyễn Vũ Bình (2005)…
Ngoài ra cùng có nhiều sinh viên có nghiên cứu về các hình thức tín dụng
để làm đề tài tốt nghiệp hay luận văn Thạc sỹ của mình [2]
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn nghiên cứu
- Các tổ chức và cá nhân có tham gia cho vay vốn trên địa bàn
2.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu“Đánh giá vai trò của tín dụng nông thôn trong việc hỗ trợ các hộ sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ trên địa bàn làng mộc Thái Yên - Đức Thọ - Hà Tĩnh”, vì vậy nội dung nghiên cứu của đề tài là: Đánh giá vai trò
của tín dụng nông thôn trong việc hỗ trợ các hộ sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ
trên địa bàn nghiên cứu từ hai nguồn tín dụng chính thức và phi chính thức.Ngoài
ra còn tìm hiểu những vấn đề tồn tại trong quá trình sử dụng hai nguồn vốn vaycủa hộ để từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn củacác hộ SX - KD trên địa bàn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài đúng mục tiêu và nội dung, đề tài thực hiện cácphương pháp nghiên cứu sau
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu áp dụng trong đề tài được thể hiện như sau:Dạng số liệu Cụ thể Phương pháp thu thập
Số liệu thứ cấp Thông tin chung về địa bàn
nghiên cứu (tình hình đất đai, dân số…)
Đọc và tổng hợp từ các báocáo có sẵn, trên internet…
Số liệu sơ cấp Các tác nhân tham gia hoạt Phóng vấn trực tiếp thông
Trang 24động SX-KD gỗ mỹ nghệ qua bảng hỏi (phụ lục)
a Số liệu thứ cấp: Là những số liệu có sẵn trên sách, báo, internet…Phương pháp này được sử dụng để thu thập những số liệu về tình hình chung củavấn đề nghiên cứu như: Tình hình về hiệu quả sử dụng vốn và nhu cầu vay vốncủa các hộ SX – KD gỗ mỹ nghệ của địa phương Tình hình đất đai, lao động, kếtquả sản xuất kinh doanh của địa phương Nguồn cung cấp số liệu là các cơquan chức năng như chính quyền xã, các Ngân hàng và các WEDSITE…
b Số liệu sơ cấp: Là số liệu thu thập được qua điều tra, phóng vấn Đó làcác thông tin được thu thập từ các tác nhân tham gia SX – KD gỗ mỹ nghệ thôngqua phóng vấn trực tiếp
Trong phương pháp thu thập số liệu sơ cấp tôi đã áp dụng các phương phápsau:
* Phương pháp chọn mẫu điều tra:
Căn cứ vào nội dung đề tài và quy mô, đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, tôitiến hành điều tra 50 hộ trên địa bàn xã Các đơn vị điều tra được lựa chọn mộtcách ngẫu nhiên Trong đó có:
- 32 hộ vừa sản xuất vừa kinh doanh
- 7 hộ kinh doanh
- 11 hộ làm thuê
* Phương pháp điều tra, phóng vấn thông qua bảng câu hỏi
Là phương pháp tiếp cận và thu thập thông tin thông qua bảng câu hỏi soạntrước Phương pháp này được áp dụng để thu thập thông tin sơ cấp từ các tácnhân tham gia SX - KD Ưu điểm của phương pháp này là thu thập được nhiềuthông tin, chính xác và khả năng điều chỉnh cao
2.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Thái Yên là một xã thuộc huyện Đức Thọ - Hà tĩnh Đây là một trong sốnhững xã có tiềm lực kinh tế nhất của huyện Đức Thọ Xã có 9 thôn là thôn vàmột cụm TTCN mới được thành lập năm 2005 Toàn Xã có hơn 1695 hộ với trên
6154 khẩu nhưng tập trung chủ yếu là hộ kiêm, vừa sản xuất nông nghiệp vừalàm gỗ mỹ nghệ Số hộ thuần nông chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Trong những năm
Trang 25gần đây, khi kinh tế bước sang cở chế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa
Xã Thái Yên cũng từng bước đi lên cùng với tiến trình phát triển của đất nước đã
có nhiều biệt thự, nhà lầu được xây trên địa bàn thôn, đời sống nhân dân khôngngừng được nâng lên Có được những thành tích đáng mừng đó phần lớn là nhờhoạt động SX – KD gỗ mỹ nghệ đã có truyền thống lâu đời của Làng nghề
Những năm gần đây được sự quan tâm và giúp đỡ của chính quyền xã vàcác cơ quan ban ngành hoạt động sản xuất kinh doanh của làng mộc Thái Yênđang ngày một phát triển.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhu cầu về vốn
đã và đang là 1 nhu cầu vô cùng cấp thiết cho viêc xây dựng cơ sở vật chất, nuasắm trang thiết bị, thuê nhân công để phục vụ cho hoạt động sản xuất của bất kỳ
hộ và doanh nghiệp sản xuất nào… Các hộ đã mạnh dạn tham gia vay vốn củacác Ngân hàng ngoài ra hoạt động tín dụng của khu vực tín dụng phi chính thức
ở đây cũng diễn ra vô cùng sôi nổi như hình thức mua bán chịu hàng hoá, vay từngười thân và các hộ kinh doanh khác…nhận thức được vấn đề quan trọng trênvới mong muốn tìm hiểu và năm bắt được tình hình về nhu cầu và thực trạng sửdụng nguồn vốn của các hộ sản xuất trên địa bàn như thế nào? Để từ đó có những
đề xuất thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các hộ
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi lựa chọn Xã Thái Yên để tiến hành đề tàinghiên cứu
2.3.3 Phương pháp phân tích
2.3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả và thống kê kinh tế
Thông qua quan sát, thông tin, số liệu tìm hiểu thực tế, qua các số liệu thứcấp, chúng tôi tiến hành mô tả quá trình vay vốn và sử dụng vốn của các hộ cótham gia vay vốn
Là phương pháp sử dụng các chỉ tiêu thống kê để tính toán và phân tích.Phương pháp này được dung để phân tích sự biến động về đất đai, dân số, kếtquả sản xuất kinh doanh xã qua các năm, dùng để phân tích so sánh kết quả giữahiệu quả vay vốn giữa nguồn vốn chính thức và phi chính thức của các hộ, đểtính toán chi phí, lợi nhuận của các yếu tố nguồn vốn mang lại
2.3.3.2 Phương pháp so sánh
Trang 26Sử dụng hệ thống chỉ tiêu kinh tế: Sử dụng các số so sánh tương đối, sosánh tuyệt đối, tốc độ phát triển để phân tích biến động về mặt lượng của nguồnvốn.
2.3.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân được
sử dụng để tìm hiểu mức độ hiểu biết về nguồn tín dụng chính thức và phi chínhthức của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu
2.3.5 Một số chỉ tiêu sử dụng trong đề tài
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu phán ánh khách quan kết quả của một quátrình sản xuất kinh doanh của một chủ thể nhất định Căn cứ vào phạm vi và mụctiêu nghiên cứu Đề tài sử dụng một số chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả kinh tếThứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng hiệu số giữa kết quả giá trịđạt được và chi phí bỏ ra, tức là so sánh giữa giá trị đạt được và chi phí bỏ ra đểsản xuất
H = Q – CTrong đó: H: Là hiệu quả kinh tế đạt được
Q: Là giá trị thu đượcC: là chi phí bỏ raThứ hai: Hiệu quả kinh tế được xem xét trong sự biến động giữa chi phí và
và kết quả sản xuất Hiệu quả kinh tế là tỷ số giữa phần tăng thêm của kết quả vàtăng thêm của chi phí Nghĩa là cứ tăng thêm một đơn vị chi phí thì tạo ra baonhiêu đơn vị kết quả
Trang 27∆ : là phần tăng thêm của chi phí bỏ ra
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý - Địa hình
Thái Yên là một xã thuộc vùng hạ phía đông của Huyện Đức Thọ- Hà tĩnh.Thái Yên tiếp giáp với:
Trang 28+ Phía Tây giáp xã Đức Thủy
+ Phía Bắc giáp xã Đức Thịnh
+ Phía Đông giáp xã Thuận Lộc
+ Phía Nam giáp xã Đức Thanh và Kim Lộc
Thái Yên là một Xã nằm phía Đông Nam huyện Đức Thọ có địa hình tươngđối bằng phẳng Với diện tích 418,28 ha là đồng bằng sâu trũng không có đồi núinên việc phát triển nông nghiệp là rất phù hợp Toàn xã chỉ có một nhánh sôngnhỏ chảy qua có chiều dài chạy qua xã khoảng 1 km nằm phía Đông Nam nênviệc cung cấp nước cho cả vùng vào những mùa khô hạn là rất khó khăn
3.1.2 Khí hậu
Thái Yên là một xã nằm trong khu vực có đặt trưng khí hậu nhiệt đới giómùa Nhiệt độ trung bình 24 – 250C và ít có biến động lớn trong năm.Nhiệt độcao nhất trong năm là 38 – 390C vào mùa hè và thấp nhất từ 9-100C vào mùađông
Lượng mưa trung bình từ 1.300-1.400 mm/ năm, và tập trung chủ yếu vàocác tháng 7, 8,9 trong năm chiếm gần 75% lượng mưa cả năm
Độ ẩm trung bình hàng năm 78% Ngoài ra do chịu ảnh hưởng trực tiếp củagió Lào khí hậu của vùng hầu như nắng nóng quanh năm nên việc phát triểnnông nghiệp là khá khó khăn vì vậy hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệpđóng góp một phần rất lớn vào đời sống của người dân của vùng
3.1.3 Đất đai
Xã Thái Yên là một vùng sâu trũng, cách quốc lộ 1A về phía tây nam 8 km,địa hình chủ yếu là đồng bằng, không có núi Cả vùng với tổng diện tích đất tựnhiên là 418,28 ha, diện tích này không thay đổi qua 3 năm Trong đó đứng đầu
là đất nông nghiệp là 302,5 ha (năm 2009) chiếm 72,33 % tổng diện tích đất tựnhiên Như vậy với dân số là 6154 người thì bình quân một người chưa đầy500m2 Do đó để có thể phát triển kinh tế và đảm bảo cuộc sống gia đình thì việctham gia các nghề phụ là yêu cầu tất yếu Đứng thứ 2 là đất chuyên dùng với diệntích 67,82 ha chiếm 16,21% diện tích đất này chủ yếu sử dụng cho mục đích xâydựng nhà xưởng sản xuất thủ công mỹ nghệ, qua (bảng 3.1) cho thấy tổng diện
Trang 29tích đất này tăng dần qua các năm điều này cho thấy xu hướng chuyển dịch cơcấu kinh tế từ nông sang tiểu thủ công nghiệp ngày một gia tăng đây là một dấuhiệu đáng mừng trong cơ cấu ngành nghề của vùng, góp phần giảm bớt gánhnặng về đất đai cho nông nghiệp.
Trang 30Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Thái Yên trong 3 năm (2007 - 2009)
CC (%) SL (ha)
CC (%) 08/07 09/08 BQ
Trang 313.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Đặc điểm Dân số và lao động
Dân số và lao động là nguồn lực quan trọng và là cơ bản trong quá trình sảnxuất, quyết định đến hiệu quả của mọi ngành nghề
Theo kết quả thống kê năm 2009 thì toàn xã có 6.154 người với 1695 hộ sinhsống Trong đó hộ sản xuất nông nghiệp kiêm TTCN chiếm số lượng lớn nhất 1500hộ.Hộ sản xuất nông nghiệp 1200 hộ Hộ chuyên tiểu TTCN 300 hộ và cuối cùng là
hộ kinh doanh dịch vụ khác với 50 hộ Qua số liệu trên cho thấy Thái Yên là một xãnông nghiệp nhưng hoạt động TTCN lại là hoạt động chủ chôt
Bảng 3.2 Cơ cấu lao động của Xã từ năm 2007 đến 2009
TT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Thái Yên là một xã có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời, gần 70%
hộ trong vùng có sản xuất nông nghiệp như thu nhập chính lại từ hoạt động sản xuấtkinh doanh gỗ mỹ nghệ Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khá đồng đều qua các năm Bìnhquân mỗi năm tăng 4% đi kèm theo đó là sử tăng lên của tổng mức thu nhập bìnhquân của mỗi người năm 2007 bình quân thu nhập đầu người là 6,5 triệu đồng/người/ năm đến năm 2008 con số này tăng lên thành 7,4 triệu đồng/ người/ năm,năm 2009 đã đạt đến 9,3 triệu đồng/ người/ năm Qua đây ta thấy được sự chuyếnbiến tích cực nền kinh tế của vùng
Bảng 3.3 Tổng giá trị sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2007 - 2009)
Trang 32TT Chỉ tiêu ĐVT SLNăm 2007CC% SLNăm 2008CC% SLNăm 2009CC%
1 Tổng GTSX Tỷ.đ 30 100% 34,5 100% 45,2 100%
2 CN-TTCN Tỷ.đ 20 66,67 22 63,77 26,2 57,96
3 Nông nghiệp Tỷ.đ 8 26,6 10 28,99 16 35,4
4 TMại- DV Tỷ.đ 2 6,67 2,5 7,24 3 6,64
(Nguồn: Theo ban thống kê Xã Thái Yên)
Nhìn vào (bảng 3.3) ta thấy được tổng giá trị sản xuất của toàn xã qua các năm
2007 - 2008 và 2009.Năm 2007 tổng giá trị sản xuất của toàn xã đạt được là 30 tỷđồng trong đó hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiêp đạt số lượng cao nhấtvới 20 tỷ đồng và chiếm 66,67 % tổng thu nhập toàn xã Đứng thứ hai là hoạt độngnông nghiệp với tổng giá trị là 8 tỷ đồng chiếm 26,6 % tổng thu nhập toàn xã vàcuối cùng là hoạt động thương mại dịch vụ chiếm 6,67 % tương ứng với mức giá trị
là 2 tỷ đồng
Năm 2008 tổng giá trị sản xuất kinh doanh toàn xã đạt 34,5 tỷ đồng tăng 4,5 tỷđồng so với năm 2007 tương ứng với sự tăng trưởng đó là sự tăng lên khá đồng đềucủa 3 loại hình sản xuất Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt 22 tỷ đồng tươngứng với 63,77 % Nông nghiệp đạt 10 tỷ đồng chiếm 28,99 % tổng giá trị sản xuâttoàn xã và hạot động thương mại dịch vụ đạt được là 2,5 tỷ đồng chiếm 7,42 % tổnggiá trị SX-KD toàn xã
Tổng giá trị sản xuât năm 2009 toàn xã đạt 45,2 tỷ đồng tăng hơn 1,5 lần sovới năm 2007 Trong đó tăng mạnh nhất là tổng giá trị do hoạt động nông nghiệpmang lại với tổng doanh thu là 16 tỷ tăng gấp 2 lần so với năm 2007 và gấp 1,6 lần
so với năm 2008 và chiếm 35,4 % tổng giá trị SX-KD toàn xã.Qua đây ta cũng thấyđược cho dù các hoạt động phi nông nghiệp vẫn là hoạt động sản xuất được ngườidân ở đây quan tâm Năm 2009 tổng giá trị do hoạt động công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp đem lại là 26,2 tỷ đồng tương ứng với 57,96 % tổng giá trị SX-KD toàn xã
Trang 33Hoạt động thương mại - dịch vụ với tổng số giá trị sản xuất mang lại là 3 tỷ đồngchiếm 6,64 % tổng giá trị sản sản xuất của toàn xã Qua việc phân tích tình hình biếnđộng kinh tế của xã Thái Yên ta thấy.Qua 3 năm nhìn chung tổng giá trị sản xuấtđều tăng lên đồng đều qua các năm.Sự phát triển đồng đều đó đã giúp người dân ởđây yên tâm làm ăn sinh sống.
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người của Xã Thái Yên qua 3 năm 2007-2009
Lương thực BQđầu người
2007 11,2% 6.500.000đ/người 460 kg thóc
2008 11,6% 7.400.000đ/người 450 kg thóc
2009 12 % 9.300.000đ/người 430kg thóc
(Nguồn: Theo ban thống kê Xã Thái Yên)
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình cơ bản về các hộ điều tra
4.1.1 Tình hình về nhân khẩu, lao động, trình độ của chủ hộ và hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 34Để có thể nắm bắt một cách khái quát tình hình chung về cuộc sống cũng nhưnhững yếu tố có thể tác động đến hoạt động SX-KD, và nắm bắt được thực trạng vay
và sử dụng nguồn tín dụng của các hộ SX-KD gỗ mỹ nghệ trên địa bàn Xã Thái Yênnói chung và 50 được chọn điều tra ngẫu nhiên nói riêng.Tôi tiến hành thu thập vàthống kê một số chỉ tiêu và tình hình chung của các hộ được điều tra như sau:
* Về nhân khẩu: Qua việc điều tra 50 hộ sản xuất trên địa bàn nghiên cứu cho
thấy số khẩu bình quân trên mỗi hộ ở đây là khá cáo, bình quân mỗi hộ có 4,46khẩu Độ tuổi bình quân của chủ hộ là 45,34 tuổi Do hầu hết chủ hộ có độ tuổi khácao nên những quyết định về nguồn vốn sử dụng trong gia đình họ luôn là người cótiếng nói nhất Những chủ hộ nhiều tuổi thường đã tham gia SX – KD đã lâu nên họ
có kinh nghiệm trong việc phân phối và sử dụng nguồn vốn hiệu quả Nhưng bêncạnh đấy do tâm lý ngại mạo hiểm đầu tư trong kinh doanh nên nhiều lúc cản trở sựphát triển mở rộng sản xuất của hộ theo hướng đi mới
* Về lao động: Tổng số lao động của 50 đơn vị mẫu điều tra là 191 người trong
đó số lao động nam là 129 chiếm 67,54 %, lao động nữ với 62 người chiếm 32,46 %tổng số lao động Qua những con số này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanhmộc hao tốn nhiều công sức nên thu hút nhiều lao động nam hơn.Hầu hết lao động
nữ được sử dụng với vai trò là người thợ phụ để thực hiện các công việc đơn giảnnhư đánh giấy nhám., phun sơn, phun vec ni những công việc này tuy không đòihỏi nhiều công sức như độ độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe lại rất lớn.Còn nhữngcông việc đòi hỏi sự tỷ mỉ, chính xác như đục đẽo, chạm khắc mà cũng có khi lànhững công việc nặng nhọc như cưa, xẻ gỗ do vậy thu nhập của lao động nữthường thấp hơn nam giới từ 20 nghìn đến 100 nghìn đồng/ ngày công đây cũng làmột vấn đề về phân biệt giới trong lao động sản xuất của làng nghề Thái Yên nóiriêng và các làng nghề truyền thống của Việt Nam nói chung
Bảng 4.1 Tình hình cơ bản về hộ điều tra
Chỉ tiêu Số lượng Tỉ lệ %
Trang 35Tổng số mẫu điều tra 50
-1 Số nhân khẩu bình quân/hộ 4,46
- SX mộc kiêm nông nghiệp 28 56
- SX mộc kiêm kinh doanh khác 2 4
- SX mộc kiêm, nông nghiệp, KD khác 2 4
(Nguồn: Theo tổng hợp điều tra 2010)
* Trình độ chủ hộ: Trong nền kinh tế thị trường trình độ của chủ hộ đóng một
vai trò quan trọng Sự quản lý tốt hoạt động sản xuất hay khả năng nhạy bén về thịtruờng của người chủ hộ quyết định đến năng suất lao động và nguồn thu nhập của
hộ sản xuất Theo số liệu điều tra các hộ sản xuất trên địa bàn có trình độ cấp 1 là 12
%, trình độ cấp 2 là 44 %, cấp 3 là 38 % và trên cấp 3 chiếm một số luợng rất ít là 6
Trang 36% Điều này cũng lý giải được phần nào việc tác động đến hoạt động sản xuất nhỏ lẻcủa vùng.
* Loại hình hộ: Thái Yên với thực trạng đất chật người đông nên hoạt động sản
xuất mộc đóng góp một phần rất lớn vào thu nhập của người dân và đưa họ thoátnghèo Qua số liệu điều tra cho thấy tỉ lệ hộ nghèo chỉ chiếm 6 %, chiếm lớn nhất là
số lượng hộ trung bình với 25 hộ chiếm 50 %, xếp thứ 3 là các hộ khá 38 % con sốnày cũng không phải là ít qua đây ta thấy được vai trò quan trọng của nghề mộctrong đời sống của người dân Thái Yên, và cuối cùng chiếm một tỉ lệ khá nhỏ là hộgiàu với 4 hộ chiếm 8 % trên tổng số hộ điều tra
4.1.2 Tình hình về nguồn vốn
Đối với các hộ sản xuất kinh doanh mộc thì yêu cầu về vốn luôn là một trongnhững yêu cầu đầu tiên để bắt đầu vào SX-KD Qua (bảng 4.2) cho thấy nguồn vốn
bình quân để SX-KD mộc trung bình là 484,20 triệu Đây là một con số khá cao
trong đó chiếm tỉ trọng lớn nhất là các hộ vừa sản xuất vừa kinh doanh với bìnhquân 650,03 triệu/hộ chiếm 86% tổng số vốn của các đơn vị điều tra Các hộ vừa sảnxuất vừa kinh doanh này yêu cầu cần có số vốn phải lớn để đầu tư vào máy móc,thiết bị Các hộ kinh doanh có tổng nguồn vốn bình quân là 345,71 triệu đồng/hộchiếm 10% tổng nguồn vốn.Còn các hộ làm thuê bình quân tổng nguồn vốn của các
hộ chỉ 88,11 triệu đồng/hộ và chiếm 4 % tổng nguồn vốn.Bên cạnh đó nghề mộc cóđặc thù về nguyên liệu vật liệu mà cụ thể nguyên vật liệu chính ở đây là gỗ thườngrất lớn Do vậy để mở rộng và phát triển được hoạt động sản xuất thì việc đảm bảonguồn vốn vô cùng cần thiết Theo điều tra cho thấy nguồn vốn chính để các hộ sửdụng sản xuất kinh doanh bao gồm 2 nguồn chính là nguồn tự có và nguồn đi vay.Trung bình nguồn vốn tự có của mỗi hộ là 395,94 chiếm 81,77 % tổng nguồn vốncủa hộ.Còn nguồn vốn đi vay trung bình của mỗi hộ là 88,26 triệu chiếm 18,23 %tổng số vốn kinh doanh của hộ.Nguồn vốn đi vay này có nguồn gốc từ nhiều nguồn
Mà chủ yếu tập trung ở đây là vay từ hệ thống các Ngân hàng như Ngân hàng chính
Trang 37sách, Ngân hàng nông nghiệp và Ngân hàng đầu tư.Ngoài ra hoạt động vay ngoàicủa hệ thống tín dụng phi chính thức cũng rất phát triển như vay từ người thân,vayngoài từ các hộ khác hay mua chịu hàng hóa.
Bảng 4.2 cho thấy trong tỉ phần nguồn vốn đi vay thì nguồn vốn vay từ các tổchức Ngân hàng và vay ngoài là gần tương đương nhau Vay từ các tổ chức Ngânhàng là bình quân/ hộ là 43,68 triệu chiếm 49,49 % tổng số vốn vay và vay từ nguồnvốn phi chính thức trung bình/hộ là 44,58 chiếm 50,51 % tổng nguồn vốn đi vay.Qua đây chúng ta thấy được hoạt động tín dụng phi chính thức của làng nghề TháiYên là khá phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất củacác hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn
Trang 38Bảng 4.2 Nguồn vốn sản xuất kinh doanh của hộ
Chỉ tiêu
Vay Ngân hàng Vay ngoài
SL (trđ) CC
%
BQtrđ/hộ
SL(trđ)
CC
%
BQtrđ/hộ
SL(trđ)
CC
%
BQtrđ/hộ
SL(trđ)
CC
%
BQtrđ/hộTổng 24210,2 100 484,20 19797 100 395,94 2184 100 43,68 2229,2 100 44,58
Trang 394.2 Tình hình cung ứng vốn từ các tổ chức tín dụng trên địa bàn
4.2.1 Các nguồn vay vốn của các hộ sản xuất kinh doanh gỗ mỹ nghệ trên địa bàn xã Thái Yên.
Sơ đồ 4.1 Các nguồn vay vốn của hộ SX-KD trên địa bàn
Nhìn vào (sơ đồ 4.1) ta thấy được các nguồn vay chủ yếu của các hộ sản xuấtkinh doanh ở đây là từ hai nguồn chính là tín dụng chính thức trong đó bao gồm các
tổ chức Ngân hàng như Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàngchính sách, và Ngân hàng đầu tư và phát triển Và nguồn vay thứ hai là từ nguồn tíndụng phi chính thức như vay người thân, mua chịu và vay các hộ khác.Trong đó có
44 hộ là có tham gia vay vốn ở các tổ chức Ngân hàng trên tổng số 45 hộ được điềutra là có tham gia vay vốn chiếm 97,78 % Có 22 trên tổng số 45 hộ có tham gia vayvốn bên ngoài chiếm 48,89% Và có 20 trên 45 hộ có tham gia vay vốn ở cả hainguồn và chiếm 44,44 % (bảng 4.3) Tuy hình thức TD phi chính thức ở đây hoạtđộng khá phổ biến nhưng TD chính thức vẫn giữu vai trò chủ đạo
Nguồn vay
TD chính thống
TD không chính thống NH
Mua chịu Vay hộ khác
Trang 40Bảng 4.3 Số hộ tham gia vay vốn
(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra 2010)
4.2.1.1 Ngân hàng chính sách
Theo tinh thần tại nghị định của chính phủ số 78/2002/ NĐ- CP ngày 04/10/2002
và Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 thì các đối tuợng phục vụ củaNHCS là các hộ nghèo, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giả quyết việc làm,
đi lao động có thời hạn tại nước ngoài, HSSV có hoàn cảnh khó khăn, NS&VSMT…Với đặc thù như vậy, nên nguồn vốn hàng năm tăng lên của ngân hàng chủ yếu là dophân bổ từ ngân hàng cấp trên và phân bổ theo từng đợt trong năm Còn nguồn vốntăng thêm do huy động tiền gửi tiết kiệm cả khách hàng tại địa phương là hầu nhưkhông có Điều này làm ảnh hương một phần đến tính chủ động về nguồn vốn chongân hàng
* Quy trình cho vay vốn của Ngân hàng chính sách
Quy trình cho vay vốn của NHCS là khá phức tạp Khi có ngân sách cấp trêncấp xuống thì NHCS thông báo cho trưởng ban xóa đói giảm nghèo và các tổ chứchội của xã các tổ chức hội ở đây vao gồm hội cự chiến binh, hội phụ nữ, hội nôngdân và Đoàn viên thanh niên Xã Thông qua các tổ chức hôị này thông báo về đợtgiải ngân cho chính quyền thôn và tổ vay vốn Hiện nay cả Xã có 9 thôn và 1 cụmtiểu thủ công nghiệp Do địa hình đất đai chật hẹp nên các thôn hầu như sinh sốngthành một cụm chỉ được phân cánh bởi các con đường làng hay ngõ xóm chính vìvậy hầu như không có sự khác biệt giữa các thôn Tổ vay vốn do các tổ chức hội phụtrách hiện nay có tổng tất cả 20 tổ vay vốn trong đó có 1 tổ do hội cự chiến binh phụtrách.5 tổ do hội phụ nữ Xã phụ trách 2 tổ do đoàn thanh nên phu trách còn lại 12 tổ