Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìmhiểu, nghiên cứu về nhà thơ Quách Tấn cũng như những chân dung văn học mà ông đềcập trong hồi ký của mình;
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr ờng đại học vinh
Trang 2Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài ……… … 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Quách Tấn 3
2.2 Lịch sử nghiên cứu về Hồi ký Quách Tấn .15
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu …… 16
5 Phương pháp nghiên cứu 16
6 Đóng góp mới của luận văn 16
7 Cấu trúc của luận văn 17
Chương 1: Thể loại hồi ký và Hồi ký Quách Tấn trong bức tranh hồi ký Việt Nam đương đại 18
1.1 Về thể loại hồi ký 18
1.1.1 Nguồn gốc, đặc điểm thể loại hồi ký ……… … 18
1.1.2 Khái niệm hồi ký … 19
1.1.3 Đặc trưng nghệ thuật hồi ký 22
1.2 Hồi ký Quách Tấn trong dòng tác phẩm hồi ký của văn học Việt Nam đương đại ……… 23
1.2.1 Nhìn lại bối cảnh phát triển của dòng tác phẩm hồi ký trong văn học Việt Nam đương đại ……… 23
1.2.2 Hồi ký Quách Tấn trong đời sống văn học …… 30
Chương 2: Đặc trưng Hồi ký Quách Tấn nhìn từ bình diện nội dung 38
2.1 Những vấn đề được quan tâm thể hiện trong Hồi ký Quách 38
2.1.1 Tái hiện bối cảnh không khí thời đại … 38
2.1.2 Tái hiện đời sống văn chương ……… 45
2.1.3 Tái hiện chân dung các nhà văn ……… 51
2.2 Bức chân dung tự hoạ của Quách Tấn ……… ………90
Trang 32.2.1 Chân dung một con người ……… 90
2.2.2 Chân dung một nhà thơ …… 95
Chương 3: Nghệ thuật Hồi ký Quách Tấn nhìn từ bình diện nghệ
thuật ……… 103
3.1 Giọng điệu ……… 103
3.1.1 Giọng điệu trữ tình, thành thực ……….……… 104
3.1.2 Giọng điệu tự nhiên, bình dị ……….……… 107
3.1.3 Giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý ……….………… 109
3.1.4 Giọng điệu bộc trực pha chút dí dỏm .……… 111
3.2 Ngôn từ ……… 114
3.2.1 Ngôn ngữ bình dân dễ hiểu ……… …… 114
3.2.2 Ngôn ngữ đậm chất vùng miền ………115
3.3 Kết cấu ……… 118
KẾT LUẬN …… ……… 121
TÀI KIỆU THAM KHẢO ……… ………… 124
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tìm hiểu Hồi ký Quách Tấn, trước tiên chúng tôi muốn đem đến cho bạn đọc
cái nhìn đầy đủ, toàn diện về một giai đoạn sôi động của văn học nước nhà những thập niên đầu thế kỉ XX Giai đoạn văn học ấy đã chứng kiến biết bao sự kiện có ý nghĩa lớn, trọng đại; đó là việc văn học thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học Trung đại để bước vào quá trình hiện đại hoá vào những năm đầu thế kỉ XX và kết thúc năm 1945,
kể từ đây văn học Việt Nam thực sự trở thành nền văn học hiện đại với đầy đủ các thể loại tự sự, trữ tình và kịch Đặc biệt hơn, giai đoạn văn học này là tiền đề cho ra đời các trào lưu và xu hướng văn học mà tiêu biểu là sự ra đời của phong trào Thơ mới với sự xuất hiện của nhiều cây bút tài năng như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích
Trang 4Khê, Chế Lan Viên, Huy Cận ; bên cạnh đó cũng phải nhắc đến nhiều cây bút vănxuôi xuất sắc như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam
Qua tìm hiểu Hồi ký Quách Tấn, chúng ta sẽ có điều kiện hiểu thêm về chính tác giả
cuốn hồi ký cũng như sự nghiệp sáng tác của ông Thông qua cuốn hồi ký, bạn đọc sẽ
được tự mình khám phá về những chặng đường đời của con người đã làm nên Mùa cổ
điển trong văn học Việt Nam, từ lúc ấu thơ cho đến khi đi làm công chức và đặc biệt là
con đường dẫn đến văn chương của ông Từ đó, chúng ta thêm cảm phục và yêu mếnmột nghệ sĩ đã cống hiến gần trọn cuộc đời cho nghệ thuật và để lại cho đời nhiều tác
phẩm có giá trị như Một tấm lòng (1939), Mùa cổ điển (1941), Mộng Ngân sơn
(1967) Vì vậy, Quách Tấn được Chế Lan Viên xem là “nhà thơ Đường cuối cùng củaViệt Nam” Ngoài ra, Quách Tấn còn là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, dịch
thuật có giá trị như Luật thơ Đường, Xứ Trầm hương, Nước non Bình Định Bên cạnh
những đóng góp quan trọng của cho nền văn học, cũng như nhân cách, lối sống, bảnlĩnh, nghị lực trong cuộc sống đầy biến động và tinh thần lao động nghiêm túc, QuáchTấn đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên diện mạo của nền văn học Việt Namhiện đại nói chung và thơ Đường Việt Nam nói riêng
1.2 Tìm hiểu Hồi ký Quách Tấn, chúng ta sẽ có điều kiện hiểu hơn về thể loại ký
nói chung và thể loại hồi ký nói riêng Trong lịch sử văn học của nhân loại thể loại ký
ra đời từ rất sớm, từ thời cổ Hy Lạp, nhưng phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt là từ thế kỉXIX thì ký mới thực sự phát triển Còn ở Việt Nam đã có nhiều tác phẩm ký ra đời
trong thời kỳ văn học Trung đại như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Tây hành
nhật ký của Phạm Phú Thứ, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Dậu của Trương Vĩnh Ký Bước
sang đầu thế kỉ XX, đặc biệt là từ sau 1930 hoà chung với sự phát triển của văn học, thểloại ký nói chung và thể loại hồi ký, bút ký nói riêng đã phát triển hết sức nhanh chóng ,tạo nên một mảng văn học có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học Việt Namhiện đại cùng với những yêu cầu mới cho hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn học Bởi
nó không chỉ phản ánh nhu cầu tự biểu hiện cái tôi cá nhân - nhu cầu tự nói về mình củatác giả, mà còn tạo ra được sự đồng cảm trong lòng bạn đọc
Riêng ở thể loại hồi ký, các tác giả đã thể hiện sự nhìn nhận lại, hồi tưởng lại nhữngvấn đề của bản thân và của thời đại (bối cảnh xã hội, các sự kiện văn chương ) thuộcquá khứ xa, gần theo một cách nhìn mới, không giản đơn một chiều mà đa diện, nhiều
Trang 5chiều, sâu sắc và tinh tế hơn Điều đó đã khẳng định sự hiện diện của một thể loại vănhọc mang đậm tính cá nhân nhưng ngày càng phổ biến và được dư luận quan tâm.
1.3 Tìm hiểu Hồi ký Quách Tấn, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ bé của mình
vào phục vụ cho việc giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại, trong đó có việc giảng dạy
ký Như chúng ta đã biết, bất cứ thể loại văn học nào ra đời, cũng kéo theo một phươngpháp về cách tiếp cận thể loại văn học đó Vì muốn lĩnh hội thấu đáo, đầy đủ một tácphẩm ở bất kỳ thể loại nào, chúng ta đều phải dựa trên đặc trưng thể loại của nó Ký nóichung và hồi ký nói riêng cũng có những đặc trưng riêng mà khi tiếp nhận độc giả,trong đó giáo viên môn Ngữ văn cần đặc biệt chú ý Là vì trong tác phẩm hồi ký ngườitrần thuật chính là cái tôi tác giả đang kể lại những sự kiện có thực trong quá khứ màmình được tham dự hoặc chứng kiến và chỉ căn cứ vào những hồi ức của bản thân Do
đó, hồi ký thường mang đậm tính chủ quan của người viết
Từ những lí do trên, đã thôi thúc chúng tôi chọn và đi sâu vào tìm hiểu đề tài: “Đặc
trưng nghệ thuật Hồi ký Quách Tấn” Qua đó, góp phần khẳng định vị trí của nhà thơ
Mùa cổ điển trong nền văn học Việt Nam hiện đại, cũng như sức sống vững bền của
những trang Hồi ký Quách Tấn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về Quách Tấn
Từ trước đến nay có rất nhiều bài viết, bài phê bình nghiên cứu về thân thế và sựnghiệp của Quách Tấn Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứuQuách Tấn một cách toàn diện, hệ thống
Trước hết, chúng ta cần phải nói đến những nhận xét của Tản Đà trong tựa “Một tấm
lòng”, ông viết: “Ông Quách Tấn, làm phán sứ ở Toà sứ Nha Trang Ông có gởi ảnh
cho tôi xem, thời người mới trạc ba mươi tuổi Vậy như ông, kể là người trong tân học,
mà thơ ông phần nhiều là theo thể Đường luật, nhất là những thơ tả cảnh, có nhiều vẻhùng hậu, u ẩn, nhã chí, tinh công ( ) Thật là tài tình đủ vẻ Thơ ông Quách rất là cócông phu, nếu không nhận kỹ chỗ dụng công, thì không thấy bổn sắc của tác giả”
Trong bài bạt “Một tấm lòng” Hàn Mặc Tử viết: “Cứ mỗi tờ thơ là mỗi tờ trăng,
thơm mát, dịu dàng, cơ hồ có từng bản nhạc reo lên ở mỗi trang giấy Bắt chước ngườixưa tìm người đẹp trong sách, ta đã hoài công dưới bóng trăng đêm nay Nhưng hồngiai nhân không hiện lên với hàng chữ, mà khí vị thanh cao của văn chương ửng lên
Trang 6màu sắc phương phi, đơm ra một hồn thơ hùng hậu Những hàng chữ sang sáng, rung
rinh như bức tranh linh động, khiến hồn ta đắm mê tưởng chừng đây là Hàn Sơn Tự hay
Hoàng Hạc Lâu ( ) Cũng như Đỗ Phủ đời Đường, thi nhân của ta đây là người trong
vòng danh lợi Thế mà trí vẫn ung dung, siêu thoát ra ngoài lề phú quý, lòng luôn luôn
mơ ước cảnh giang hồ mây nước bốn phương Cho nên mỗi lần thấy chim bạch nhạn vỗcánh tung trời mà bay, là thi nhân háo hức, bồn chồn, muốn vất bỏ cả vinh ba phú quí
để làm người lãng tử ( ) Nhưng đời vẫn hoa lệ trong ánh áng văn minh, thi nhân dùngán ngẩm với nhân tâm thế đạo, song vẫn yêu đời, yêu say sưa, mê mẩn với một tâmhồn thi sĩ ”
Trong Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra ngày 5/1/1935, bàn về các vẻ của Thơ, tiên sinh nói:
“Cứ tôi xem ra: Thơ cụ Nguyễn Khuyến hay ở vẻ phóng đãng, thơ ông Tú Xương hay ở
vẻ sâu sắc, thơ Bà Huyện Thanh Quan hay ở vẻ nền nếp Thơ Vịnh sử thì ông Tôn ThọTường hay, thơ tả cảnh thì ông Quách Tấn hay, thơ tả tình thì Hồ Xuân Hương hay ”
Linh mục J.M.Thích ( tờ Vì Chúa hoan nghênh nồng nhiệt Một tấm lòng: “( )
nhưng nói ngon, ngon, làm cho các bạn độc giả chảy nước miếng Vâng, nhưng không
lẽ tôi viết lại đây cả Vả chăng muốn biết ngon thì nếm qua ít vị, những vị ngon thật đã
đủ Người xưa nói thơ có hai điều: Một là cảnh, hai là tình Vậy xin trích trong Một
tấm lòng những câu hay về cảnh và tình thì cũng đủ biết “toàn báo” được đại khái văn
tả cảnh lắm câu trau truốt dùng chữ rất đúng Thật thi đắc học lắm Những câu tả cảnhngụ tình thì nhiều Bình dị mà tinh xảo Thi như vậy là có học cổ nhiều lắm Thơ cókhí phách” Sau nhiều lời khen ngợi, tác giả kết thúc: “Ai muốn học thơ nên đọc sách
Một tấm lòng của Quách Tấn”.
Khi Mùa cổ điển ra đời (1941) cụ Phan Khôi trong tờ Sông Hương, khen: “Có nhiều bài rất hay, nhưng tiếc điển ông dùng trong bài Đêm thu nghe quạ kêu không chỉnh, vì
“ô y” là hiệu con én chứ không liên hệ đến quạ”
Trong tựa Mùa cổ điển Chế Lan Viên nhận xét: “Chúng ta thích những gì chúng ta
thiếu Khi, vì liên tài, tôi tìm và gặp được ông Quách Tấn, lòng tôi vui sướng bao nhiêu!
Ai ngờ rằng cái thế kỷ hai mươi nhộn nhịp với những thi sĩ dâm loạn điên cuồng, giantrá, độc ác của nó, lại còn giữ nguyên vẹn, đâu đây, cả một bầu không khí Tống,Đường Thật thế, Quách Tấn chúng ta có đủ phong vận của một tao ông mặc khách thờibuổi đó ( ) Tôi nghĩ ngay lố bịch thay là ý tưởng đến một chiếc bình lọc nước: Chậm
Trang 7chạp mà vững vàng, âm thầm mà mạnh mẽ, nó sẽ thấm chất nước ngọt ngào ở chungquanh vào trong tinh khiết của lòng mình, gạn lọc, chọn lọc Quách Tấn làm như thế đó.Một sự thu nhận rất đỗi thận trọng điều hoà Cử chỉ lặng, nhưng đầy ý nghĩa Lời nóisưa, nhỏ, nhưng không thiếu sâu xa Tóm lại có thể trong mấy chữ: hiểm tuy rằng điềm( ) Bởi vì Quách Tấn không phải chỉ là người chôn hoa khóc hoa, tưởng nhớ một lòngxem, cảm thương một thân lá Cũng không phải ông là người ưa siêu thoát ra ngoài thế
sự mong lấy cái hư vô làm cái tâm hồn, bởi lẻ tâm hồn đã quá say đắm hư vô Không!Ông đủ cái phức tạp của chúng ta, lại thêm cái từng trải của một con người tam thập.Nhưng ông đã trót mang cái quan niệm là đàn áp, đàn áp tất cả để được bình tĩnh màđón tiếp thi ca Tưởng là khô khan của Cao Đạo, nhưng thật ra trong suốt của TượngTrưng Cũng không đáng lấy làm lạ, khi người ta bước ra từ địa hạt thơ Đường, nguồntượng trưng thuần tuý nhất ( ) Riêng về Quách Tấn, cái quan niệm “tình nhiều nhưngkhông được lộ, khí mạnh nhưng mà phải dằn” Ông nguyện ngày kia sẽ trả lại hoàntoàn cho thơ cũ, cái hoàn toàn của nó âm điệu, nhịp nhàng, uyển chuyển, đổi thay mà
“làng thơ Việt Nam đã bao lâu đánh mất” mười năm, hai mươi năm hay cần đến cả một
đời, điều ấy là một điều chẳng đáng kể với ông Bởi vì tập Mùa cổ điển bé bỏng nhưng
quá đầy đủ, trước hết đã giải cho ta một mối lầm ác nghiệt là phân chia bờ cõi Thơ bằnghai chữ Mới, Cũ chẳng có ý nghĩa gì Và cũng không thể gọi là sau hết, cái việc nó đemlại là những ý hay, tứ mới, ngoài những cảnh đẹp tình sâu, một cái quý báu nhất là HồnThơ, mà chưa ai định nghĩa cho rành mạch ( ) Qua các cổ nhân đến bây giờ, bạn trẻchúng ta mới tìm thấy những bài thơ bát cú mà chúng ta yêu được hoàn toàn, một nhàthơ Cổ điển hiến dâng một mùa mà chúng ta đón tiếp với một lòng vui sướng không dodự”
Và cũng chính Chế Lan Viên (trích ở tạp chí Bạn Đường, năm thứ 3, số 6 ngày
1/5/1941) đã xem Quách Tấn là nhà thơ Đường cuối cùng Ông nhận xét: “Người taquên đi rằng, xứng đáng để làm cho trường phái Thơ ấy hôm nay cũng vẻ vang nhưbuổi tiên sinh còn sống, lại còn một nhà thơ khác nữa, ông Quách Tấn, mà hôm nay tôimong sẽ nói đến nhiều ( ) Tâm hồn của nhà Thơ Cũ là như thế đó Nhưng tâm hồncủa nhà Thơ Cũ Quách Tấn là như thế nào? trong sự giao du cũng như trong thi văn củathi sĩ, tôi nhận thấy có mấy điều đáng chú ý nhất Đầu tiên là Tánh Cách Vương Giả -cái tánh cách cần thiết cho một nhà Thơ Nhà thơ có thể bình dân, có thể quê mùa
Trang 8nhưng cái bản chất cao quý, làm sao chúng ta cũng phải bắt buộc nó phải vẹn nguyên( ) Cái đặc điểm thứ hai của tâm hồn Quách Tấn là sự điều hoà Ông điều hoà cảnhnầy cùng cảnh khác, tình nầy cùng tình khác Và tình cảnh ông lại điều hoà với nhau.Không khí của câu thơ nhờ thế mà êm dịu lạ thường như một buổi mai tinh lặng saumột đêm dài của mùa xuân Cái tánh cách điều hoà ấy lại giúp cho một tâm hồn, riêngchỗ biết của tôi phong phú như tâm hồn ông ta, ăn nhịp dễ dàng với cái lề luật khắt khe,cái thể đối đáp ràng buộc ở trong Thơ Cũ ( ) Ông Quách Tấn, bạn trẻ chúng tôi, đónchào ông đó Ông, cành hoa cuối cùng của mùa xuân đã cạn – cành hoa mà cánh thắmnhị vàng lưu đọng cả hương sắc buổi xưa kia”
Vũ Ngọc Phan (trích ở Nhà văn hiện đại - quyển ba - xuất bản năm 1943) khi đọc hai tập thơ Một tấm lòng (1939) và Mùa cổ điển (1941) đã có lời nhận xét về nhà thơ
Quách Tấn: “Ông là một nhà thơ rất sở trường về thơ Đường Đọc thơ Nguyễn Giang,rồi đọc Quách Tấn, người ta thấy hai người cùng theo một đường mà khác hẳn nhau.Thơ Nguyễn Giang dễ dàng, giản dị bao nhiêu thì thơ Quách Tấn gọt dủa, cầu kỳ bấynhiêu; Nguyễn Giang coi thường sự cân đối bao nhiêu thì Quách Tấn thận trọng sự cânđối bấy nhiêu; thơ Nguyễn Giang nông và nhẹ bao nhiêu thì thơ Quách Tấn hàm súcbấy nhiêu ( ) Đọc thơ Quách Tấn, người ta thấy ông chú trọng vào sự gọt dủa nhiềuquá Ông cân nhắc từng chữ, ông lựa chọn từng câu, sự chú trọng ấy ông để người tathấy rõ quá nên sự thành thật bị giảm đi nhiều Thơ ông đẹp thì đẹp thật, nhưng khôngcảm người ta mấy” Và kết thúc, Vũ Ngọc Phan viết: “ Thơ Quách Tấn điêu luyện thì
có điêu luyện nhưng thành thật thì không”
Trong “ Một thời đại trong thi ca” của Hoài Thanh và Hoài Chân đã đánh giá về
Quách Tấn: “Thế rồi một hôm nàng đến với chúng ta và ta thấy nàng khác hẳn Vẫnkhuôn mặt cân đối ấy, vẫn cái dáng đi nghiêm chỉnh ấy, vẫn giọng nói nhỏ nhẹ ấy,nhưng mặn mà, nhưng đằm thắm y như mấy trăm năm trước, hồi nàng còn thơ Nàngtheo sau một người bạn mới Người bạn trân trọng giới thiệu nàng Ta vồn vã đón tiếp
cả hai: Nhà thơ mới Chế Lan Viên đề tựa Mùa cổ điển, một tập Thơ Cũ đã khép lại một
thời đại trong thi ca Hồn thơ Đường vắng đã lâu, nay lại trở về trong thơ Việt (…) Với
Đỗ Huy Nhiệm, Vân Đài, Lưu Kỳ Linh, Phan Khắc Khoan, Thâm Tâm, hoặc nó kínđáo tinh vi hơn, hoặc nó rắn rõi chắc chắn hơn, nhưng cũng nghèo hơn
Trang 9Cái nàng thơ xưa này thật là rắc rối Có người say theo nàng thì nàng lại chẳng mặn
mà chi, như hai thầy trò Đông Hồ, Mộng Tuyết Họ quyết giữ chọn nghĩa thuỷ chungvới nàng Thơ Cũ Nhưng họ đã bị ruồng rẫy mà không hay Có phải Nguyễn Giangcũng ở trong bọn những người xấu số ấy ? Cảm được lòng người đàn bà khó chiều kia,
họ chỉ có Quách Tấn Mối lương duyên gây nên từ Một tấm lòng đến Mùa cổ điển thì thực là đằm thắm Mùa cổ điển gồm cả cái giàu sang của Thái Can, Leiba, súc tích lại
trong một khuôn khổ rắn chắc ” [75,38]
Cũng chính Hoài Thanh (trích trong Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941 của Hoài
Thanh , Hoài Chân xuất bản năm 1942) đã nhận xét: “ tôi lắng lòng tôi để đón một sứgiả đời Đường, đời Tống Đời Đường có lẽ đúng hơn Đời Đường mới có cái âm u ấy.Thơ Tống dầu xem được ít tôi nhớ hình như quang đãng và bình yên, không như thế.Theo gót nhà thơ tôi đi dần vào một thế giới huyền diệu Ở đây người ta nói rất khẽ,bước rất êm Những tiếng khóc rộn ràng, những lời reo vui vẻ đều kiêng Một sức mạnh
vô hình, rất mềm mại nhưng rất chắc chắn nặng đè lên hết thảy Tình cảnh ở đây khôngcòn là những tình cảnh ta vẫn thường quen biết Tình cảnh ở đây đã biến thành một thứhương màu nhiệm Nó quện lấy mình ta vào chân ta tự nhiên bước theo một điệu nhịpnhàng dìu dặt Ta không thấy gì, ta không nghe gì Nhưng ta biết thế giới này giàu sanglắm ( ) [75, 306] Tiếng khóc âm thầm của con người dè dặt, kín đáo ấy, nó mới nãolòng là sao ! Quách Tấn đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấmthía Người đã thoát hẵn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người tronglàng thơ cũ [75, 307]
Sau khi đọc Mùa cổ điển Bích Khê cũng có những lời phê bình ngắn gọn: “Chỉ một bài “ Đêm thu nghe quạ kêu”, chừng nấy thôi cũng đã cho ta thấy thi sĩ đã vượt lên trên
những thi sĩ có tiếng như: Bà Huyện Thanh Quan, Yên Đỗ, Chu Mạnh Trinh Tôi tinchắc rằng, sau nầy, thi sĩ sẽ mở trực giác, phát tiết anh hoa vượt hẳn trên Chiêu Lì điđến cái Mạ hình Thanh thiên, cái thuần tuý của Thơ mà Hồ Xuân Hương và tác giả bảnTần cung nữ oán Bái công – Hai vị thần thơ đứng song song với Lý Thái Bạch phươngĐông đã đi đến Tôi mong còn sống đến ngày ấy để được hoan hô một vị thần thơ:Quách Tấn”
Trần Đình Sử khi viết lời giới thiệu cho cuốn Hương Thơ Quách Tấn (Nhà xuất
bản hội nhà văn, 2002) đã viết: “ Quách Tấn là một nhà thơ đi ngược lại phong trào
Trang 10thơ mới, ông vững tâm làm thơ cũ giữa lúc những lời công kích chế giễu thơ cũđang rộn lên như ong Và ông đã thắng Đến năm 1941 khi “ Nhà thơ mới” Chế Lan
Viên đề tựa tập Mùa cổ điển của “ Nhà thơ cũ” Quách Tấn, thì cuộc tranh cải thơ
mới thơ cũ đã khép lại Trong thi nhân Việt Nam, Quách Tấn ngồi chung với cácnhà thơ mới và Hoài Thanh đã viết những lời rất nâng niu ( ) và hôm nay chúng tabình tâm thưởng thức hương thơ Quách Tấn , một thế giới thơ có thể làm cho tatách mình trong giây lát khỏi cuộc đời bận rộn đặng chiêm nghiệm vẻ đẹp thiênnhiên và tình người Thơ Quách Tấn thuộc dòng thơ Đường luật Việt Nam chảysuốt từ thơ Nôm cổ điển đến thơ quốc ngữ hiện đại Hơn 600 năm Việt hoá, thơĐường luật Việt Nam ngày càng tinh tế, điêu luyện với những tên tuổi như BàHuyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương Đến QuáchTấn thơ Đường luật trở nên thâm trầm hàm súc và càng đi sâu vào nghệ thuật củathể loại, mỗi từ, mỗi ý tượng đều hàm nghĩa Mỗi bài là một ý cảnh độc lập Thơ
ông thiên về ý tượng và ám thị nhiều hơn là miêu tả và giải bày Từ Một tấm lòng,
Mùa cổ điển, đến Đọng bóng chiều, Giọt trăng thơ ông như càng ngắn lại, cô đúc
lại với thể loại thất tuyệt, ngũ tuyệt”
Là người đã giao du với Quách Tấn nhiều năm và có thể xem là một người bạn tri
kỉ, Nguyễn Hiến Lê đưa ra những lời nhận xét hết sức thẳng thắn mà cũng rất chânthành về con người và sự nghiệp của Quách Tấn qua những bức thư ông gửi cho QuáchTấn: “Về thơ cũ, nhất là thơ Đường luật, hiện nay chỉ còn ông và ông Đông Xuyên, mỗingười một vẻ, nhưng đều đạt đến một mức cao, hơn thơ cũ của Đông Hồ Đông Xuyênkhông viết văn Còn văn của ông có phần không tươi bằng văn Đông Hồ, nhưng ông tảcảnh hay hơn, và văn Đông Hồ đôi khi hơi cầu kỳ, văn của ông không mắc phải lỗi đó”[71, 404]
Cũng trong bức thư của Nguyễn Hiến Lê gửi cho Quách Tấn (Thư 110/1/1981), ông
cũng có nhận xét về tập biên khảo Luật thơ Đường của Quách Tấn như sau: “Anh là
người đầu tiên xét rành rọt, rất kỹ, đủ về thuật làm thơ Luật, như vậy là tiếp tục côngviệc bàn giao của các nhà trong Nam Phong Tôi chắc các cụ ấy còn sống cũng phảinhận rằng các cụ viết không hơn anh được, vì không ai chuyên về Luật như anh, kể cảTản Đà”
Trang 11Trong thư ( Thư 25/1/1983) Nguyễn Hiến Lê cũng nói: “Ở nước mình, chưa ai cócông nghiên cứu về thơ luật, giới thiệu, phê bình thơ luật Nôm như anh, mà sau nàycũng sẽ không có ai nữa Ngoài ra anh có công giới thiệu quê hương của anh (BìnhĐịnh và Khánh Hoà quê hương thứ hai) cho Quốc Dân: giới thiệu kỹ từ phong cảnh,danh nhân tới thi ca, ca dao Đó là hai công lớn của anh ( ) Đông Hồ và anh phải cóđịa vị cao trong văn học sử, nếu tác phẩm của anh in hết được Không in hết được thìcũng có một địa vị đặc biệt rồi ”.
Cũng trong thư (Thư 22/4/1984) khi nói về công lao của Quách Tấn với thơ Nômluật, Nguyễn Hiến Lê đã so sánh với Trần Trọng Kim: “Trần Trọng Kim, khi Nho giáotàn tạ mới “vẽ lại cái bản đồ” của nó.Thơ Luật cũng tới lúc hấp hối mới có người viết
kỹ để chỉ cách làm nó, tức anh (Hư Chu không viết kỹ, đủ như anh) Anh có công với
nó cũng như Trần Trọng Kim với Nho giáo Và tôi viết cho Giản Chi, bảo thơ NômLuật bắt đầu từ Nguyễn Thuyên, tận cùng với Trường Xuyên ”
Đặng Thị Hảo ( trong cuốn Từ điển văn học – Nhà xuất bản Thế Giới, 2004 do Đỗ
Đức Hiểu chủ biên) đã có cái nhìn toàn diện về Quách Tấn: “ ông cũng chỉ chuyênchú làm thơ Đường luật, không quan tâm đến sự ra đời và phát triển của phong trào
“Thơ mới” lúc bấy giờ 1939, nhà thơ tập hợp một số bài in thành tập Một tấm lòng.
Tập thơ gồm hai phần chính và một phần phụ lục, có lời “Tựa” của Tản Đà, lời “Bạt”
của Hàn Mặc Tử Về hình thức thể loại cũng như về nội dung Một tấm lòng không có gì
mới mẻ, nhưng vừa ra đời đã gây lên hai luồng dư luận trái ngược Các nhà thơ cổ hoan
nghênh; những người hâm mộ “thơ mới” lại làm ngơ báo Phong hoá chỉ giới thiệu rất vắn tắt mà không bình luận gì Hai năm sau, Quách Tấn cho xuất bản tiếp Mùa cổ
điển (1941) Đây là tác phẩm tâm đắc nhất, đồng thời cũng là đỉnh cao nghệ thuật
của ông Ở Mùa cổ điển, ngòi bút nghệ thuật của Quách Tấn điêu luyện hơn, cảm xúc cũng sâu sắc hơn Một tấm lòng Song nếu như ở Một tấm lòng người đọc còn tìm thấy cái nhìn trong trẻo của nhà thơ trước con người và thiên nhiên, thì đến Mùa
cổ điển, mỗi bài thơ đều chất nặng ưu tư, ẩn dấu một nỗi buồn sâu xa Đó cũng là sự
phản ánh tâm trạng chung của lớp thanh niên trí thức Việt Nam trước không khínặng nề của cuộc đại chiến ( ) Từ đây ông làm thơ, dịch thơ chữ Hán của TháiThuận, Nguyễn Du, viết thi thoại và thi pháp, viết địa phương chí ca ngợi danh lam
thắng cảnh của đất nước: Nước non Bình Định (1968), Xứ Trầm hương (1969) , viết
Trang 12hồi ký danh nhân như: Đôi nét về Hàn Mặc Tử, đôi nét về Đào Tấn (chưa xuất bản),
Đời Bích Khê (1971) Ngòi bút viết địa chí và hồi ký của Quách Tấn thường thống
nhất với nhau ở sắc thái trữ tình nên khá độc đáo: chúng bộc lộ rõ tấm lòng yêuthương của người viết đối với bạn bè, với cảnh vật mà mình yêu quý ”
Vân Sơn khi đọc tập Một tấm lòng đã có những nhận xét rất xác đáng về Quách Tấn (trích báo Diễn Tín – ra ngày 13 Jarier 1940): “ Phần đông các bạn, hẳn cũng như tôi chỉ
được xem thơ ông Quách Tấn đăng rải rác trên các báo chí, và cũng như tôi các bạn xembằng con mắt lơ đễnh Lúc đọc mấy lời của Tản Đà tiên sinh nói trên, thấy tiên sinh khenngợi cái thi tài của Quách quân đặt Quách quân ngang hàng với các bậc thi nhân tiền bối,thì hẳn háo hức muốn đọc kỹ Quách Tấn, xem lời khen của Tản Đà tiên sinh có quá đánh
chăng Tập Một tấm lòng của Quách Tấn ra đời thật đã làm cho tôi mãn nguyện Một tấm
lòng là một tập thi Đường luật, gom góp những bài thi tả cảnh tả tình, mà lắm bài tác giả
đã đăng trên các báo chí lâu nay Thơ tả cảnh chiếm phần quan trọng trong tập Một tấm
lòng Về thơ tả cảnh ông Quách Tấn thật quả có ngọn bút tài tình ( ) cho nên thơ của
Quách quân không gieo trong lòng ta những mối buồn chán nản, tuy rằng tình cảm củathi nhân những tình cảm rất chân thật vẫn cảm mạnh lòng ta Thơ tả tình của Quách thi
sĩ, cũng không kém gì thơ tả cảnh thơ của Quách thi sĩ còn thêm được vẻ trung hậucủa người xưa Thật đã tỏ cho ta biết Quách quân là một khách đa tình rất có thuỷ
chung Nói tóm lại, tập Một tấm lòng thật là một tập thơ có giá trị ”
Yến Lan một thành viên trong nhóm Bàn thành tứ hữu khi đọc Mùa cổ điển cũng có
nhận xét: “tình tuôn ra lệ, lệ đọng thành châu, từng hàng từng hàng trên mặt nhungtuyết trải”
Phan Ngọc Châu sau khi xem Mùa cổ điển cũng nói: “ và tôi xin nói rằng văn chương Mùa cổ điển quả là hàng hàng châu ngọc vậy Nói như thế không phải bảo rằng
là bài thơ nào của Quách quân cũng đều toàn bích, bài nào cũng đáng giá liên thành.Châu ngọc thường có vết thì văn chương dù trác luyện đến đâu thỉnh thoảng cũng bị tì,không nhiều thì ít Những vì tay thợ khéo quá cặp mắt thường khó thấy rõ như nhìn vàonhững món vật không được tinh công ”
Và Khương Hữu Dụng đã nói cùng Nguyễn Đình: “với Một tấm lòng, Quách Tấn chỉ đáng làm học trò mình Qua đến Mùa cổ điển họ Quách đã làm thầy mình vậy”.
Trang 13Huyền Viêm nhân kỷ niệm lần thứ 16 ngày thi sĩ Quách Tấn từ trần đã có bài viết về
Quách Tấn, người đại biểu cuối cùng của Mùa cổ điển đã nhận xét: “Đúng vậy, Quách Tấn chính là người đại biểu cuối cùng của Mùa cổ điển” hay - nói như Hoài Thanh - Quách Tấn là chiếc lá cuối cùng của Mùa cổ điển Cũng có thể nói ông là “tín đồ”
cuối cùng của đạo Nho ở Việt Nam Quách Tấn là người rất có công với thơ Đườngluật Ông có khoảng 1500 bài thơ luật, nhưng chỉ một số nhỏ đã được in trong các tập:
Một tấm lòng, Mùa cổ điển, Đọng bóng chiều, Mộng ngân sơ, Giọt trăng và cuốn Tố Như thi, dịch thơ của Nguyễn Du Nếu Nguyễn Thuyên là người có công đầu trong việc
gây dựng phong trào thơ Nôm dưới đời Trần Nhân Tông thì Quách Tấn là người cuốicùng có công với nền thơ ấy
Trong Từ điển tác gia văn hoá Việt Nam có đoạn : “Quách Tấn là một nhà thơ
chuyên về Đường luật Có lẽ từ đầu thế kỷ đến nay, không một nhà thơ nào chuyên chú
và có công với thơ luật bằng ông; vì ông đã sáng tác trên cả ngàn bài thơ Đường, kể cảthơ dịch Đó là cống hiến lớn của ông đối với lịch sử thơ ca Việt Nam thơ Quách Tấn(dù là thơ Đường) vẫn có cảm xúc mới, ý lạ mà nồng nàn khiến người đọc rung động,bồi hồi theo nỗi lòng cô đơn của tác giả, hoặc đìu hiu như bên sông lạnh mà đó cũng làtiếng hư không từ cõi âm vọng về ”
Cũng là Phan Ngọc Châu (trích báo Tự Do số 1902, 1908, ngày 17, 4, 21-7-1963) khi đọc cuốn Xứ Trầm hương của Quách Tấn đã nhận xét: “Đôi nét về tỉnh Khánh Hoà
của Quách Tấn tuy chỉ là “ đôi nét” nhưng đủ cả lịch sử, địa lý, thắng cảnh, cổ tích củaKhánh Hoà Vài nét về tỉnh Khánh Hoà đượm nhuần mùi vị thi ca của đất nước Nórung động tâm hồn sầu xứ của người ly hương dù anh và tôi không phải sinh trưởng ởKhánh Hoà Nhưng Khánh Hoà là một phần của Tổ quốc cả huống hồ rừng núi, sôngbiển, cây cỏ, chim muông, nhân dân và vật sản của Khánh Hoà liên hệ mật thiết vớichúng ta: qua văn thơ ta phải thấy tâm hồn ta được ràng buộc với quê hương bằng mộtsợi dây vô hình, thân mật, thiêng liêng và bền dẻo biết bao
Trần Hữu Cư (trích Thời tập số 15, 1974) trong bài Quách Tấn và buổi chiều vàng
của Đông Phương có đoạn: “ Dường như, nơi con người của ông, tôi luôn luôn bắt gặp
một quê hương xa xôi nào đó nằm sâu trong tiềm thức ông: Những đền đài xưa cũ,những ngôi chùa u tịch trong rừng sâu, những chuyện nghìn lẽ một đêm thời đại xanhmộng thuở ban đầu- Những điều này, Quách Tấn luôn luôn say sưa yêu mến kể lể trong
Trang 14hầu hết những tác phẩm của ông, như những thông điệp mà ông muốn trao đến cho thời
đại đau thương này ( ) Trong suốt hai tập du ký: Nước non Bình Định và Xứ Trầm
Hương, mới đọc vào ta cứ nghĩ rằng chép về địa lí Nhưng kì thực Quách Tấn không
làm chuyện thông thường đó, điều mà ông muốn đạt đến là: thiên về phong cảnh, cổtích, giai thoại, huyền thoại là những cái dễ mất Còn những cái thuộc về khoa học,thuộc về chuyên môn thuần tuý, là những cái thường còn thì thường cho các nhà học
giả ( Xứ Trầm Hương, trang 6) Với Quách Tấn, bất cứ ở đâu và lúc nào ông cũng
triền miên trong thần thoại Trong dãy Trường Sơn chạy dọc theo miền Trung này, ngàynay đâu là đâu có ai ngờ rằng, trước kia là bao chuyện xảy ra: Con ngựa trắng củaNguyễn Nhạc ngơ ngác vì vắng chủ, đi lang thang một mình trong núi Và li kỳ hơn nữa
là chuyện chàng Lía Hồi xưa chàng sống một nơi mà “Quang cảnh man dại ” (Nước
non Bình Định, trang 279) Và cứ như vậy, Quách Tấn đưa ta đi từ cảnh âm u này đến
cảnh âm u khác, rợn người biết bao nhưng cũng thơ mộng biết bao ”
Còn Nguyễn Thái khi viết: Quách Tấn - Quê hương và thơ cũng đã nhận xét: “Khi tôi đọc “Nước non Bình Định” và “ Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn, tôi cảm giác như
mình đang đọc Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú Một Lê Quý Đôn đã được gạn lọc nềnbác học Trung Quốc để thọc sâu vào mối nguồn văn hoá Việt Thật vậy, Quách Tấnkhông viết riêng những thiên địa dư chí, không chép riêng truyện tiếu lâm, thần thoạihay giai thoại Dưới ngòi bút Quách Tấn, tất cả đều mang chủ đích nung nấu và thể hiệncái quý giá nhất, chân thật nhất để tồn tại và không mất gốc: Nền suy tư tộc Việt Giá trị
của hai cuốn “Nước non Bình Định” và “Xứ Trầm Hương” rất lớn và độc chuyên.
Chúng là tài liệu căn bản cho các nhà nghiên cứu dân tộc về sử học, địa dư học, dân tộchọc, nhân chủng học Không biết vì cố ý hay vô tình mà Quách Tấn đã mô tả rất nhiềunhững chuyện kể nhân gian pha lẫn màu sắc thần bí, mộng thực Đọc văn khí củaQuách Tấn chúng ta ngờ đây là chỗ dụng công Hoang đường , thần bí đối với QuáchTấn là chỗ dụng công Hoang đường, thần bí đối với Quách Tấn vốn không có làn ranhvới thực tại khôn dò Chúng trộn lẫn trong nhau ”
Nguyễn Viết Chung (Khánh Hoà xuân Quý Dậu 93) với bài viết Tấm lòng đã trải
cùng non nước có đoạn: “Với Xứ Trầm Hương con người nghiên cứu của Quách Tấn
dường như đã chọn cho mình một cách tiếp cận từ góc độ văn hoá dân gian Ông tìm vềnhững gì có thể chúng ta đã lãng quên, mất mát, những dấu tích, những vang bóng một
Trang 15thời Mỗi trang sách như mở ra một đoạn đường, một mảnh đất, một khoảng trời quêhương tốt đẹp Cả một dải non sông gấm vóc từ Đèo Cả đến Cam Ranh, tưởng chừngnơi đâu cũng gặp những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, những di tích lịch sử, những câu
ca, điệu hò Nói như một nhà văn, chỗ nào ta cũng thấy như phảng phất hình ảnh củangười xưa, văng vẳng tiếng nói của người xưa
Những nhận xét, phê bình về Quách Tấn, tuy có những ý kiến trái chiều nhau, nhưngđều khẳng định vị trí của Quách Tấn trong nền văn học hiện đại Việt Nam Trong khicác nhà thơ như: Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đông Hồ đã tuân theo luật tiến triển của thơ
ca từ bỏ thơ cũ theo thơ mới và đã khẳng định được địa vị trong nền thơ ca Việt Nam.Riêng nhà thơ Quách Tấn không những kiên trì trên con đường sáng tác thơ Đườngluật, mà còn góp phần làm cho thể thơ này phong phú hơn cả về nội dung lẫn hình thức
diễn đạt Bằng hai tác phẩm Một tấm lòng và Mùa cổ điển nhà thơ Quách Tấn đã “Khép
lại sự tranh chấp mới cũ của một thời đại trong thi ca Việt Nam” Những người yêumến thơ Đường vẫn tìm được hứng thú trong thơ Quách Tấn Những người thích cáimới trong thơ mới vẫn tìm được hượng vị nồng thắm mới mẻ trong thơ Quách Tấn
2.2 Lịch sử nghiên cứu về hồi ký Quách Tấn
Về phương diện loại hình, việc nghiên cứu thể loại hồi ký trong loại hình ký của vănhọc Việt Nam cho đến nay vẫn chưa thu hút được nhiều sự quan tâm từ giới nghiêncứu Vai trò và vị trí của hồi ký trong nền văn học Việt Nam hiện đại chỉ mới được đềcập và khẳng định qua một số công trình nghiên cứu khoa học Có thể kể đến:
- Đóng góp nghệ thuật của Tô Hoài qua hai tập hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều
chiều, luận văn tốt nghiệp Đại học của sinh viên Lê Sử, người hướng dẫn TS Phan Huy
Dũng, khoa Ngữ văn, trường Đại học Vinh
- Luận văn Thạc sĩ Hồi ký của một số nhà văn thời kì hiện đại, của học viên Phạm
Thị Lan Anh, do GS Hà Minh Đức hướng dẫn khoa học
- Bài viết Hồi ký và bút ký thời kì đổi mới của PGS.TS Lý Hoài Thu, Khoa Văn học,
Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm Hồi ký Anh Thơ của học viên Lê Thị Nguyên, do TS.
Lê Văn Dương hướng dẫn
- Luận văn Thạc sĩ Phong cách ký Vũ Bằng của học viên Lê Thị Hoài An, do TS Lê
Văn Dương hướng dẫn
Trang 16- Luận văn Thạc sĩ Hình tượng người trần thuật trong Hồi ký Nguyễn Hiến Lê của
học viên Trương Kim Nguyệt Linh, do TS Lê Thời Tân hướng dẫn
Tuy nhiên, mảng nghiên cứu về đặc trưng nghệ thuật của hồi ký vẫn chưa hềđược đề cập đến Hơn nữa, chưa có công trình nào xem hồi ký của Quách Tấn là đốitượng chính để nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống Vì thế, có thểxem luận văn này là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu Hồi ký Quách Tấn dướigóc độ tự sự học nói chung và thể loại hồi ký nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.1 Đề tài hướng tới mục đích nghiên cứu đặc trưng nghệ thuật Hồi ký Quách Tấn.1.2 Với mục đích đó, luận văn giải quyết các nhiệm vụ cụ thể:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý thuyết về thể loại hồi ký và sự đóng góp của Hồi
ký Quách Tấn trong bối cảnh hồi ký Việt Nam đương đại (trong mấy thập niên gần
đây)
Thứ hai, làm rõ đặc trưng nghệ thuật Hồi ký Quách Tấn trên cả bình diện nội dung
và nghệ thuật
Thứ ba, đi sâu tìm hiểu cái “tôi” trần thuật trong Hồi ký Quách Tấn qua các phương
diện biểu hiện: giọng điệu trần thuật và ngôn ngữ trần thuật
1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đặc trưng nghệ thuật Hồi ký Quách Tấn, bao gồm cácbình diện: nội dung và nghệ thuật
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát, tìm hiểu Hồi ký Quách Tấn (Nxb Hội nhà văn Hà Nội, 2003) kết hợp với quyển hồi ký Bóng ngày qua (Nxb Hội
nhà văn Hà Nội, 1999) được xem là phần viết tách ra và có cả phần bổ sung thêm choquyển hồi ký
2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi kết hợp vận dụng nhiều phương phápnghiên cứu, đặc biệt là các phương pháp như:
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
3 Đóng góp mới của luận văn
Trang 17Có thể xem luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên tập trung nghiên cứu khá
toàn diện, hệ thống về đặc trưng nghệ thuật Hồi ký Quách Tấn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìmhiểu, nghiên cứu về nhà thơ Quách Tấn cũng như những chân dung văn học mà ông đềcập trong hồi ký của mình; phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy về thể kýnói chung và hồi ký văn học nói riêng
4 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
Trang 18Chương 1THỂ LOẠI HỒI KÝ VÀ HỒI KÝ QUÁCH TẤN TRONG BỨC TRANH HỒI KÝ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Về thể loại hồi ký
1.1.1 Nguồn gốc hồi ký
Từ điển thuật ngữ Văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ
biên) và Từ điển Văn học bộ mới (Đỗ Đức Hiểu chủ biên) đã định nghĩa về hồi ký:
“Hồi ký (tiếng Pháp: mémoires) là thuật ngữ chỉ một thể loại thuộc loại hình ký Ởđây, ký là một loại hình văn học trung gian giữa báo chí và văn học gồm nhiều thể, chủyếu là văn xuôi tự sự như: bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, nhật ký, ký sự, tùy bút (…).Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả (“ tôi” tác giả, không phải “tôi”
hư cấu ở một số tiểu thuyết truyện ngắn), kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quákhứ mà tác giả tham dự và chứng kiến
Nhưng khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, ký có quan điểm thểloại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu Nhà văn viết ký luônđảm bảo tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm Kýthường không có cốt truyện có tính hư cấu Sự việc và con người trong ký phải xác thựchoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi Đó là vì ký dựng lại những sự thật đời sống cá biệt mộtcách sinh động, chứ không xây dựng các hình tượng mang tính khái quát Tính kháiquát đó do tác giả ký thể hiện bằng suy tưởng” [21,162]
Trong lịch sử văn học của nhân loại ký ra đời từ rất sớm, từ thời cổ Hy Lạp Hồi ứccủa Kxênophôn và Xôrat và những ghi chép của ông về cuộc hành quân của người HyLạp (thế kỉ V trước CN) thường được coi là những tác phẩm cổ xưa nhất
Nhưng phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt từ thế kỷ XIX (…) ký mới thực sự phát triểnmạnh mẽ Ở Việt Nam, vào giai đoạn hậu kỳ của nền văn học dân tộc thời trung đại đã
xuất hiện nhiều tác phẩm ký xuất sắc như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720 1791), Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi
-(1876) của Trương Vĩnh Ký (1837-1898) Bước sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triểnvượt bậc của chữ quốc ngữ và sự trưởng thành mau chóng của ngành báo chí, ngành xuấtbản khắp trong cả nước, đặc biệt với sự chuyển biến bước đầu của tư tưởng dân chủ, nhà
Trang 19văn ngày càng có ý thức tham gia trực tiếp vào những cuộc đấu tranh xã hội thì thể tài kýlại xuất hiện và mau chóng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn học
Đến thập kỷ ba mươi của thế kỷ XX, “thể loại ký về cơ bản đã định hình phong cáchnghệ thuật với các thể văn như phóng sự, hồi ký, nhật ký, bút ký, ghi chép, du ký ” [63,
17] Có thể kể tên các tác giả tiêu biểu như: Tam Lang (Vũ Đình Chí) với phóng sự Tôi
kéo xe (1932), Đêm Sông Hương (viết 1932, in sách 1938), Trọng Lang (Trần Tán Cửu)
với phóng sự Trong làng chạy (1935), Đồng bóng (1935-1936), Hà Nội lầm than (1937),
Những đứa trẻ (1941-1944) , Vũ Trọng Phụng với các tác phẩm nổi tiếng như Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy, cơm cô, Lục xì (1937), Một huyện ăn tết
(1938) , Ngô Tất Tố với Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940), Nguyễn Tuân với du
ký như Một chuyến đi (in báo 1938, in sách 1941), phóng sự Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn
đèn dầu lạc (1941), Lê Văn Hiến với hồi ký Ngục Kontum (1938)… Trong đó, thể phóng
sự đặc biệt lên ngôi
Sau cách mạng tháng Tám, gắn liền với những chuyển động lớn của xã hội quahai cuộc chiến tranh vệ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tác phẩm ký càng có
điều kiện phát triển: Nhật ký Ở rừng của Nam Cao, Ký sự Cao – Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, Vỡ Tỉnh của Tô Hoài, Sống như
Anh của Trần Đình Vân… Đặc biệt trong những năm đổi mới, ký dần giữ vai trò
thiết thực hơn trong đời sống văn học và không ngừng phát triển cho đến ngày nayvới sự hiện diện nổi trội của thể loại văn học mang tính cá nhân là hồi ký
1.1.2 Khái niệm hồi ký
Khi tìm hiểu về hồi ký, chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều khái niệm ở nhiều công trìnhnghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi chỉ xin phép được nêuqua vài khái niệm được xem là “ phổ biến” về hồi ký
Theo Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản từ điển bách khoa, năm 2007) thì “hồi ký là
bài văn, thể văn thuật lại việc đã qua”
Ngoài ra, chúng ta có thể dựa vào khái niệm hồi ký được trình bày trong cuốn Từ
điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000):
“Hồi ký là một thể loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tácgiả là người tham dự hoặc chứng kiến
Trang 20Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xáccủa sự kiện, về góc độ và phương diện diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ gần với nhật ký.Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không hư cấu thì hồi ký lại gần với vănxuôi lịch sử, tiểu sử khoa học Nhưng khác với sử gia và nhà viết tiểu sử, người viết hồi
ký không chỉ tiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cả dựa trên
cơ sở những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình Hơn nữa, bản thân người viếthồi ký luôn luôn luôn được mô tả, trình bày ở bình diện thứ nhất”
Trong Từ điển văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn
Tửu, Trần Hữu Tá đồng chủ biên (Nhà xuất bản thế giới, 2004) định nghĩa về hồi ký:
“Thuật ngữ chỉ một thể loại nằm trong nhóm thể tài ký Tác phẩm hồi ký là mộtthiên trần thuật từ ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải “tôi” hư cấu ở một số tiểuthuyết, truyện ngắn), kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham
dự hoặc chứng kiến Hồi ký gần nhật ký ở hình thức giải bày, ở chỗ không dùng các thủpháp cốt truyện, ở cách kể thường theo thứ tự thời gian, ở việc chú ý đến các sự kiệnmang tính tiểu sử Xét về chất liệu, về tính xác thực, không hư cấu thì phần lớn hồi kýgần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, ký sự tư liệu lịch sử Tuy nhiên, khác với
sử gia và các nhà nghiên cứu tiểu sử, người viết hồi ký chỉ tái hiện phần hiện thựcthường nằm trong tầm nhìn của mình, chỉ căn cứ chủ yếu vào những ấn tượng và hồi
ức của bản thân mình Bởi vậy, khắp nơi trong tác phẩm, nổi lên hàng đầu chỉ hoặc
là bản thân tác giả, hoặc là cái nhìn của anh ta vào tất cả những gì được kể lại, tả lại.Hồi ký, do vậy thường đậm tính chủ quan; các sự kiện được kể lại không khỏi chịutác động bởi các quy luật “quên lãng” và “làm méo lệch” của cơ chế hồi ức Tính xácthực sự kiện của hồi ký không thể so đọ với các tư liệu gốc, các chứng tích thực.Nhưng sự thiếu hụt về sự kiện, sự phiến diện hầu như không thể tránh khỏi củathông tin trong hồi ký lại được bù đắp bằng sự diễn đạt sinh động những ấn tượng,cảm tưởng trực tiếp của cá nhân tác giả, điều này cũng có giá trị như một “tư liệu” củađương thời”[26, 646]
1.1.3 Đặc trưng nghệ thuật hồi ký
Với đặc trưng viết về cái có thật trong cuộc sống (người thật, việc thật), ký tôntrọng tính xác thực của đối tượng miêu tả Tuy nhiên, vấn đề hư cấu nghệ thuật khôngphải hoàn toàn bị triệt tiêu ở thể ký Bởi vì việc “vận dụng hư cấu để hỗ trợ trong sáng
Trang 21tạo là điều cần thiết và có thể kết hợp trong phạm vi thể ký” [16, 295] Song, trên hếtvẫn là tính xác thực của nội dung, cho nên người viết ký không được sử dụng hư cấumột cách tùy tiện mà qua đó để làm tăng thêm ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật củatác phẩm Đồng thời, một đặc trưng quan trọng của ký là sự hiện diện của cái tôi trongtác phẩm Đó là cái tôi tác giả hoặc nhân vật có vai trò là nhân chứng góp phần xácminh sự thật và tính chính xác của việc miêu tả, phản ánh.
Trong quá trình phát triển cùng lúc với việc không ngừng định hình phong cáchnghệ thuật, hồi ký là một trong những thể văn quan trọng đã góp phần tạo nên diện
mạo của ký trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại Về điều này, ở bài viết Hồi
ký và bút ký thời kỳ đổi mới, Lý Hoài Thu đã nhận định: “Cùng với tư tưởng đổi mới
nhất quán trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, những năm 1986 trở đi cũng làthời kỳ nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn hóa, văn chương Không phải ngẫunhiên vào những năm cuối của thập niên 90 thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, trên văn đànxuất hiện nhiều tác phẩm Hồi ký, Bút ký của văn nghệ sĩ, chủ yếu là các nhà văn đãtạo nên một mảng sinh động của đời sống văn học mà có thể nói ngay rằng trước đóchưa thể có” [77, 76] Như vậy, bên cạnh phóng sự và bút ký, hồi ký - một thể loại vănhọc thuộc loại hình ký đang từng bước khẳng định vị trí và vai trò của mình trong tiếntrình phát triển của văn học
Ở Từ điển văn học bộ mới (2004) do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn
Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên, Nxb Thế giới, tác giả Lại Nguyên Ân nhận định: “Tácphẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải “tôi” hưcấu ở một số tiểu thuyết, truyện ngắn), kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quákhứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [26, 646] Trong phần chương IV, Về các thể
ký các tác giả đã trình bày: “hồi ký ghi lại những diễn biến của câu chuyện và nhân vật
theo bước đi của thời gian qua hồi tưởng” [16, 284] Đáng lưu ý, Từ điển thuật ngữ văn
học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), khẳng định: hồi
ký là “một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ màtác giả là người tham dự hoặc chứng kiến” [21, 152]
Tất cả những nhận định trên cho thấy, hồi ký là một thiên trần thuật về diễn biến củanhững sự kiện theo dòng hồi tưởng Vừa chịu sự chi phối của loại hình ký, hồi ký đồngthời vừa có những nét đặc thù Thứ nhất, người viết hồi ký - người trần thuật phải là
Trang 22người trong cuộc, kể lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ mà bản thân đã tham dựhay chứng kiến, thậm chí có thể lấy chất liệu từ chính cuộc đời mình Thứ hai, hồi kýcũng đòi hỏi phải có tính xác thực và không hư cấu Về điều này, giới nghiên cứu cũng
đã có nhiều ý kiến thống nhất: Lý Hoài Thu, trong bài viết Hồi ký và bút ký thời đổi mới
đã thừa nhận: “Hồi ký đòi hỏi phải hết sức tôn trọng tính chân thật của câu chuyện: sựviệc, số liệu, thời gian, địa điểm phải chính xác” [77, 76]
Trên thực tế, xét về phạm vi tư liệu, người viết hồi ký thường tái hiện phần hiện thựcnằm trong tầm nhìn, căn cứ chủ yếu vào những hồi ức, ấn tượng của bản thân Cho nên,tính xác thực của sự kiện được kể lại ít nhiều đã mang tính chủ quan “thường khó tránhkhỏi tính phiến diện” [21, 152] Tuy nhiên, sự diễn đạt sinh động trực tiếp của cá nhântác giả - người trong cuộc sẽ có ý nghĩa quan trọng, mang đến cho người đọc sự thấuhiểu về tính xác thực và độ tin cậy của nội dung được kể Đồng thời, tạo nên hiệu ứngnghệ thuật cho tác phẩm hồi ký từ nghệ thuật kể chuyện và lời văn trần thuật cùng kỹthuật bố cục, cấu trúc tác phẩm Cho nên, chính sự diễn đạt sinh động những ấn tượng,cảm tưởng trực tiếp của cá nhân tác giả “có giá trị như một “tư liệu” của đương thời”[26, 647]
Xét về phương thức biểu đạt, hồi ký tồn tại dưới hình thức giãi bày, có thể theo dạngkết cấu cốt truyện hay liên tưởng Với cách kể thường theo thứ tự thời gian và chú ýđến các sự kiện mang tính tiểu sử
Tuy nhiên, chính thái độ tôn trọng sự thật, khả năng diễn đạt trực tiếp sinh động củatác giả (người trần thuật) qua cái nhìn khoa học và nhân văn sẽ mang đến độ tin cậy vàgiá trị đích thực cho tác phẩm hồi ký
1.2 Hồi ký Quách Tấn trong dòng tác phẩm hồi ký của văn học Việt Nam
Trang 23tướng” (chữ dùng của nhà văn Nguyên Ngọc) chỉ tập trung kể lại chuyện của chiến tranh,
của anh hùng cách mạng, tiêu biểu có thể kể đến: Ngục Kon Tum (Lê Văn Hiến), Những
năm tháng không thể nào quên (Võ Nguyên Giáp), Sống như Anh (Trần Đình Vân)… để
quay trở về với hồi ức riêng của giới trí thức, đời riêng của những chứng nhân thời đại và
xã hội ngày đã qua Điều đó cho thấy tư duy nghệ thuật đang không ngừng trở về với conngười cá nhân ở một bình diện mới, một điểm xuất phát mới: con người nhìn lại quá khứ,nhận thức lại chính mình
Rõ ràng, trong lúc: “Văn học đang muốn trở nên đa dạng hơn Đang có những cốgắng tìm cách nói mới để soi rọi hiện thực xã hội ngày càng trở nên hết sức phức tạp”[42, 180], thì sự xuất hiện của một loạt sáng tác hồi ký (ở cả hai hình thức văn chươnggiấy và văn chương mạng) từ những năm đầu thập niên chín mươi của thế kỷ XX đếnnay đã mang đến cho văn xuôi Việt Nam một khuynh hướng sáng tác mới đáp ứng nhucầu thời đại
Đúng như nhận định của Lý Hoài Thu: “Không phải ngẫu nhiên vào những nămcuối thập niên 90 thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm Hồi
ký, Bút ký của văn nghệ sĩ, chủ yếu là các nhà văn đã tạo nên một mảng sinh động củađời sống văn học mà có thể nói ngay rằng trước đó chưa thể có Nhiều sự kiện văn họcquá khứ, nhiều số phận văn chương cùng nhiều vấn đề phức tạp của quá khứ gần, xa…
đã được tái dựng theo một cách nhìn mới, không đơn giản, một chiều mà khoan dung,thấu tình đạt lý hơn” [77, 76] Đoàn Cẩm Thi cũng đã nhận xét: “…trước việc bùng nổgần đây của những cuốn sách rất gần với tự truyện, cộng với cơn sốt nhật ký, hồi ký,blog, trong khi nhiều người cho đó là xu hướng thương mại hóa, tôi lại nghĩ rằng hiệntượng này phản ánh một nhu cầu mới của xã hội Việt Nam ở đó cái “tôi” đang lên ngôi:nhu cầu nói về mình”
Tạo nên sự chuyển động ban đầu với vai trò báo hiệu sự ảnh hưởng sâu rộng của
thể loại hồi ký đối với đời sống văn học Việt Nam đương đại có thể kể đến hồi ký của Đặng Thai Mai, Từ bến sông Thương của nữ sĩ Anh Thơ, hồi ký Ta đã làm chi
cho đời ta của nhà thơ Vũ Hoàng Chương, hồi ký Nguyễn Hiến Lê (1992) Đặc
biệt, hồi ký Cát bụi chân ai (1992), Chiều chiều (1999) của nhà văn Tô Hoài “đã có
đóng góp xuất sắc trong việc cách tân thể loại hồi ký và đưa thể loại hồi ký vào quá
trình đổi mới văn học” Tiếp đến là sự xuất hiện liên tục của Bóng ngày qua của
Trang 24Quách Tấn(1999), Hồi ký Quách Tấn (2003) Sang thế kỷ XXI, trong bối cảnh mới
của đời sống văn học khi mạng thông tin toàn cầu đã làm thay đổi thế giới, thìInternet cũng đã tác động không nhỏ đến lĩnh vực văn học Các webside cá nhân,rồi blog ồ ạt ra đời kéo theo số lượng người truy cập ngày càng tăng Và vănchương mạng là kết quả của sự thay đổi về cách viết, cách công bố, cùng cách đọc,cách nghĩ suy, cảm nhận của người sáng tác lẫn đối tượng tiếp nhận Dù dư luận về
sự xuất hiện của các sáng tác này vẫn đầy phức tạp nhưng cũng phải thừa nhậnrằng: chính sự mở rộng của mạng thông tin toàn cầu đã mang đến ít nhiều thay đổicho đời sống văn học viết Việt Nam gần như đang chững lại trong những năm gầnđây Bên cạnh các hiện tượng văn xuôi: Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, NguyễnNgọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần…, các trào lưu mang tên Hậu hiện đại hay Tân hình
thức của các nhóm thơ Mở Miệng, Ngựa trời, hiện tượng thơ Vi Thùy Linh,
Nguyễn Hữu Hồng Minh…, là sự xuất hiện hàng trăm gương mặt với số lượng sángtác vô cùng phong phú trên diễn đàn văn học mạng Những trang viết đã được ấp ủtrong bao năm có điều kiện đến với bạn đọc
Qua Internet, nhiều sáng tác có cơ hội công khai Người đọc không chỉ được tiếp cậnsáng tác của những cây bút trẻ, những nhà văn trong nước, mà còn có điều kiện được
mở rộng tầm nhìn ra nền văn chương thế giới, đặc biệt là có cơ hội hiểu biết về mộtphần của văn chương Việt Nam mà bấy lâu nay sự tiếp cận, tìm hiểu đầy khó khăn vàhạn chế, đó là sáng tác của cộng đồng người Việt, của những nhà văn Việt đang sống ởnước ngoài Sự chung sống của hai hình thức văn chương (tạm gọi là văn chương giấy
và văn chương mạng) đã mang đến cho đời sống văn học Việt Nam một không khí sôiđộng hơn cho hoạt động sáng tác và tiếp nhận Mà từ đó, cá tính sáng tạo của nhà văn
có thêm nhiều cơ hội bộc lộ và thể hiện Xu hướng dân chủ hóa của văn học ngày càngrộng mở tạo điều kiện thuận lợi cho con người cá nhân trải nghiệm và soi rọi lại chínhmình
Minh chứng cho sự vận động như đã nói trên của đời sống văn học, một loạt tác
phẩm hồi ký được công bố: Nhớ lại của Đào Xuân Quý, Hồi ký Đào Duy Anh - Nhớ
nghĩ chiều hôm của Đào Duy Anh, Nhớ lại một thời của Tố Hữu, Hồi ký Quách Tấn, Hồi ký Sơn Nam, Hồi ký Trần Văn Khê, Hồi ký song đôi (Huy Cận), Hồi ký Ma Văn Kháng, Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào? của Phùng Quán, Bí mật cuộc đời của
Trang 25Nguyễn Đình Thi, Hồi ký Toan Ánh, Hồi ức Mai Chí Thọ, Tôi đi làm tình báo của Đại
tá Đinh Thị Vân, Cô bé nhìn mưa của Đặng Thị Hạnh… Ngoài ra còn có các hồi ký đã được đăng tải trên các webside: Thời gian trong mắt tôi của Nguyễn Hữu Nghiệp, Kẻ bị
mất phép thông công của Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, tác phẩm gây xôn xao dư luận
trong mấy năm gần đây Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh… và một số hồi ký của các nhà văn
hải ngoại (Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Lữ Phương, Nguyễn Hộ, Trần Vàng Sao, Tô Hải,Dương Thu Hương…)
Rõ ràng sự xuất hiện như một dòng chảy liên tục của những tác phẩm hồi ký đươngđại đã khẳng định sự tồn tại của một thể loại văn học, dù ra đời từ thời cổ đại Hy Lạpnhưng chỉ xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ XX, đang ngày càng trở nên phổ biến, gầngũi và được dư luận quan tâm chú ý
Đồng thời, việc xuất hiện của các tác phẩm hồi ký cũng đã mang đến cho quá trìnhđổi mới tư duy nghệ thuật một cách nhìn mới, một tiếng nói mới Đó là cách khám phácon người và cuộc sống trong một cự ly gần với nhiều góc độ, là tiếng nói thẳng thắnđầy trách nhiệm trước các vấn đề được nhìn nhận lại với cái nhìn phân tích và lý giảimới Mà ở đó, tư duy nghệ thuật về con người cá nhân được soi chiếu từ nhiều góccạnh, thậm chí ở cả những góc khuất của chiều sâu nhận thức, tư tưởng mà trước đâyngười ta không muốn nhắc đến hoặc cố tình che đậy Giờ đây, với cái nhìn hướng vàotrong, người viết hồi ký - người trần thuật - “tôi” kể lại chuyện mình, chuyện người,…chiêm nghiệm lại những gì mình đã trải qua mà đương thời chưa có cơ hội để nói hoặcchưa có điều kiện để công bố
Chính sự góp mặt của dòng tác phẩm hồi ký đã chứng tỏ sự vận động không ngừngcủa xu hướng dân chủ hóa trong văn học Bên cạnh sự hiện diện ngày càng rõ nét củacon người cá nhân trong các mối quan hệ đan xen phức tạp là sự đa dạng của thànhphần tác giả Giờ đây, hồi ký không chỉ là tiếng nói của những văn nhân, chính khách,
mà còn là lời giãi bày, chia sẻ của giới trí thức (các học giả: văn học, lịch sử, âm nhạc;giáo sư; luật sư; bác sĩ…) về bao suy tư, trăn trở, thậm chí những uẩn khúc của bản thântrước sự biến chuyển của xã hội và thời đại…, hay còn là lời tâm sự của những người
bình thường với nhu cầu được bày tỏ, cảm thông (Bóng, Lê Vân - yêu và sống, Lời hứa
với ngày mai, Hành trình xương thủy tinh…).
Trang 26Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở cái nhìn mang tính xã hội học, không ít người sẽ chorằng sự xuất hiện của dòng văn học hồi ký (cùng tự truyện, nhật ký, blog…) là xuhướng thương mại hóa văn học nhằm đáp ứng nhu cầu tự bày tỏ của cá nhân và thỏamãn trí tò mò của người đọc Đồng thời, việc kể lại chuyện quá khứ qua cái nhìn chủquan từ hồi ức và trí nhớ của bản thân chủ thể (có thể là người nổi tiếng hoặc ngườibình thường), tất yếu sẽ dẫn đến sự hoài nghi: phải chăng qua chuyện kể của cá nhân,người viết nhân đó tự đánh bóng tên tuổi, thu hút sự chú ý của mọi người về phía mình,hoặc vô tình… hay thậm chí cố tình công bố những sự thật đã bị bóp méo, sự thật phichính thức cho dụng ý cá nhân?
Song, giá trị đích thực của một tập hồi ký vượt lên trên cả nhu cầu tự nói về mình và
sự hấp dẫn nghệ thuật là vẻ đẹp nhân cách của người cầm bút Điều này lí giải vì saonhững hồi ký thật sự có giá trị thường là sáng tác của những con người chân chính Vàđương nhiên, đó sẽ là những tác phẩm văn học luôn nhận được sự quan tâm, trân trọngcủa độc giả Bởi “Hồi ký là bức tranh về một thời đại, bên cạnh câu chuyện của mình,tác giả đi tìm hiểu những mảnh đời khác” và “trong khi đi tìm hiểu cái tôi, tác giả viếttặng chúng ta một tác phẩm văn học” Hơn nữa “khi tác giả của những cuốn sách đó tôntrọng sự thật và nhìn sự thật với một con mắt khoa học và nhân văn thì cuốn sách đó sẽrất có ích cho xã hội” Cho nên, việc tìm đến các sáng tác hồi ký không chỉ đơn thuần là
sự tò mò mà với điều kiện nếu hồi ký được biểu lộ đúng ý nghĩa của nó thì đọc hồi kýlại là một thích thú vô cùng
Trong bài viết Văn xuôi Việt Nam hiện nay – logic quanh co của các thể loại, những
vấn đề đang đặt ra và triển vọng, nhà văn Nguyên Ngọc đã bày tỏ nhận định về sự xuất
hiện của các sáng tác hồi ký, đồng thời khẳng định giá trị hồi ký của nhà văn: “Vài nămgần đây, có phần lặng lẽ nhưng thâm trầm, xuất hiện một số hồi ký của các nhà văn…Trong xã hội nào cũng vậy, nhà văn là một kiểu kí ức của xã hội Nhà văn cũng lànhững người được xã hội “giao cho” cái công việc thường xuyên là tự soi lại mình của
xã hội trên con đường đi tới của nó Cho nên khi nhà văn viết hồi ký thì có khác nhữngngười khác, đấy là xã hội tự nó nói về chính mình (tất nhiên trong những hồi ký thànhcông)”
Như vậy, viết hồi ký không phải là một việc dễ dàng Bởi phải đảm bảo yêu cầu chotrung thực khách quan, khiêm tốn mà vẫn tạo được sự thu hút, gợi được thi vị cho
Trang 27người đọc mới là điều đáng kể, đáng đón nhận Dù vẫn hay có mình ở trong nhưng tácgiả vẫn tránh được sự tự đề cao đáng trách Đó chính là vẻ đẹp bình dị mà cao thượngcủa người cầm bút.
Nhìn lại xu hướng phát triển của thể loại hồi ký trong văn học Việt Nam hai thậpniên qua, dù “lặng lẽ, thâm trầm” nhưng với sự xuất hiện liên tục và đa dạng (hồi kýcủa nhà văn, giới trí thức, chính khách, người bình thường…), dòng sáng tác ấy đãmang một luồng sinh khí mới đến cho nghệ thuật tự sự của văn xuôi Việt Nam hiện đại
Dù việc thẩm định một sáng tác đạt tiêu chuẩn và có giá trị đích thực cần phải có thờigian… nhưng chính sự quan tâm, chú ý của dư luận, phần nhiều đối với hồi ký của nhàvăn, giới trí thức, đặc biệt là hồi ký của những con người đã có sự trải nghiệm sâu sắcvới cuộc đời, hoặc có ảnh hưởng đến sự phát triển và tiến bộ của xã hội (Tô Hoài,Nguyễn Hiến Lê, Đào Duy Anh, Đào Xuân Quý, Nguyễn Mạnh Tường…) đã đánh dấu
sự khởi đầu cho hành trình mở rộng tư duy nhận thức của người tiếp nhận đối với hồi
ký - một thể loại văn học có ý nghĩa xã hội sâu sắc
Chính tiếng nói của dư luận, của số đông độc giả là tiếng nói của những nhà phêbình trung thực nhất sẽ góp phần làm sáng tỏ chân giá trị từ những hồi ký mang vẻ đẹpcủa nhân cách cao thượng, tư duy khoa học, trung thực và trong sáng Tuy nhiên, cũngchính cái nhìn khách quan của dư luận và thời gian sẽ đào thải những hồi ký được viết
ra với dụng tâm đề cao cá nhân, quyền lực hoặc hàm chứa sự oán hận, trả thù
Có thể nói sự xuất hiện và quá trình tồn tại của các sáng tác hồi ký trong đời sốngvăn học Việt Nam đương đại vẫn chưa nhận được sự phản hồi tích cực và xứng đángcủa giới nghiên cứu, phê bình Nhưng qua phản ứng của dư luận (ở nhiều mức độ, nhiềugóc nhìn), qua những cuộc phỏng vấn, trao đổi với các nhà văn, nhà nghiên cứu nhằm
đi sâu tìm hiểu thể loại hồi ký, tự truyện ta đã có thể thấy được rằng: hiện tượng xuấthiện và sự công bố ở các tác phẩm hồi ký là biểu hiện một sự quan tâm, nhu cầu khámphá giá trị đích thực về thể loại hồi ký của mọi người
Như vậy, sự xuất hiện của dòng văn học hồi ký trên diễn đàn văn học Việt Namtrong những năm qua không chỉ phản ánh nhu cầu của cái tôi cá nhân với khát vọng tựbiểu hiện, mà còn đặt ra một yêu cầu mới cho đời sống văn học - yêu cầu sàng lọc, nhậndiện những hồi ký đúng nghĩa của những con người chân chính
1.2.2 Hồi ký Quách Tấn trong đời sống văn học
Trang 281.2.2.1.Tổng quan sự nghiệp văn học của Quỏch Tấn
là xã Bình Hoà, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định)
Tổ tiên ông vốn là ngời Trung Quốc sang Việt Nam Cha ông làQuách Phơng Xuân, thông chữ Pháp; thân mẫu là Trần Thị Hào giỏichữ Hán Cha mẹ sinh mời lần nhng chỉ còn lại ba là: Quách Tấn,Quách Tạo và Quách Thị Mộng Lan
Lúc nhỏ có theo học chữ Hán rồi đến năm 12 tuổi mới học chữQuốc ngữ và Pháp ngữ Tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học năm 1929.Sau khi tốt nghiệp tiểu học, ông làm phán sự toà sứ tại toà khâm
sứ Huế, rồi đổi lên toà sứ Đồng Nai Thợng ở Đà Lạt, năm 1930 Đến
1935 thì về làm việc tại toà sứ Nha Trang Đến năm 1945 tản c vềBình Định tham gia kháng chiến chống Pháp (1945 - 1949) Đến năm
1949, ông mở trờng trung học t thục Mai Xuân Thởng tại thôn AnChanh, huyện Bình Khê (1949 - 1951)
Năm 1951 đợc trng dụng dạy trờng trung học An Nhơn, rồi trờngtrung học Bình Khê (1951 – 1953)
Năm 1954, hồi c về Nha Trang đợc tái bổ vào ngạch th kí hànhchánh
Năm 1951 ông làm tại toà hành chánh Quy Nhơn đến năm 1951.Tiếp đó ông giữ chức phó tỉnh trởng tỉnh Bình Định ít lâu sauQuách Tấn đổi về sở du lịch Huế (1957 - 1958), rồi về Ty kiến thiếtNha Trang (1958 - 1963) và sau đó chuyển về toà hành chánh NhaTrang (1963 - 1965) giữ chức phó tỉnh trởng tỉnh Khánh Hoà
Năm 1965, ông nghỉ hu tại số nhà 21 đờng Bến Chợ - Nha Trang.Năm 1987, ông lâm vào cảnh mù loà rồi mất vào ngày 21 tháng 12năm 1992
Trang 29Quách Tấn lập gia đình năm 1929 Vợ ông là bà Nguyễn ThịNhiếp, hiệu Thanh Tâm, sinh trởng tại Phú Phong - Bình Khê - Bình
Định
Quách Tấn làm thơ từ rất sớm và tỏ ra là ngời có khiếu văn chơng
Đến năm 1933, ông đã có thơ đăng trên các báo An Nam tạp chí, Phụ
Nữ Tân Văn, Tiếng Dân và Tiểu Thuyết Thứ Bảy Ông đợc Chế Lan
Viên gọi là nhà thơ Đờng cuối cùng của Việt Nam Tản Đà trên Tiểu
Thuyết Thứ Bảy đã viết: “Thơ cụ Nguyễn Khuyến hay ở vẻ phóng
đãng, thơ ông Tú Xơng hay ở vẻ sâu sắc, thơ bà Huyện Thanh Quanhay ở vẻ nền nếp , thơ tả cảnh thì Quách Tấn hay, thơ tả tình thì
Hồ Xuân Hơng hay”
Quách Tấn, ngoài tên hiệu Trờng Xuân, ông còn có bút danh là
Định Phong, Cổ Bàn Nhân, Thi Nại Thị, Lão giữ vờn Ông cùng vớiHàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên đợc ngời đơng thời ở Bình
Định gọi là bàn thành tứ hữu, nghĩa là bốn ngời bạn ở thành Đồ Bàn Hoạt động sáng tác của Quách Tấn liên tục và kéo dài hơn 60 năm
và để lại tám tập thơ, năm quyển hồi kí, hai quyển thơ dịch và một
số tác phẩm thuộc các thể loại khác Ngoài ra có hơn ngàn trang bảnthảo văn, hơn mời tập thơ cha xuất bản
Sự nghiệp văn học của Quỏch Tấn
Quách Tấn – nhà thơ
Gồm các tập thơ:
- Một tấm lòng (1939): Gồm hai phần chính và một phần phụ lục,
có lời Tựa của Tản Đà, lời Bạt của Hàn Mặc Tử
- Mùa cổ điển (1941).
- Động bóng chiều ( 1965).
- Mộng Ngân sơn (1967).
- Giọt trăng (1973).
- Mây cổ tháp (1973, cha xuất bản).
- Giàn hoa lý (viết từ 1976 – 1979, cha xuất bản).
Trang 30- Trờng xuyên thi thoại: Những bài thơ kỷ niệm
Những công trình dịch thuật, biên khảo
- Lữ Đờng Thi: Thơ Thái Thuận, do Quách Tấn su tầm, khảo cứu,
dịch nghĩa, dịch thơ - Nhà xuất bản Văn Học in năm 2001
- Tố Nh thi: Dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du (1973) – NXB An
Tiêm tái bản, Paris (1995)
- Trăng ma lầu Việt (1941 2003 tái bản): Viết phỏng theo Truyền
kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đời hậu Lê.
- Những tấm gơng xa (không rõ năm xuất bản, thể loại sách học
làm ngời)
- Thi pháp thơ Đờng (1998).
- Nhà Tây Sơn (1998, biên khảo).
- Bớc lãng du (1965): Giới thiệu danh lam, thắng tích từ Huế đến
Ninh Thuận
- Non nớc Bình Định (1968).
- Xứ Trầm hơng (1969): Viết về Nha Trang.
Quách Tấn – tác giả của nhiều hồi ký có giá trị
- Cảnh cũ còn đây (1958 – 1963, cha xuất bản).
- Hồi ký Quách Tấn ( NXB Hội nhà văn, 2003).
- Đôi nét về Hàn Mặc Tử ( Sài Gòn 1967, in lại trong Hàn Mặc Tử –
Hôm qua và hôm nay, NXB Hội nhà văn, 1966)
- Đôi nét về Đào Tấn ( cha xuất bản).
- Đời Bích Khê (1971).
- Bóng ngày qua (Quách Giao su tầm và biên soạn, NXB Hội nhà
văn)
1.2.2.2 Hồi ký Quỏch Tấn trong đời sống văn học
Bạn đọc nếu đó từng mến mộ thơ Quỏch Tấn hẳn sẽ khụng khỏi thắc mắc QuỏchTấn là người ra sao? Tớnh cỏch như thế nào? Do đõu cú sự hiểu biết sõu rộng về thơĐường luật? …Những thắc mắc ấy phần nào sẽ được giải đỏp trong chớnh cỏc thi phẩmcủa ụng Tuy nhiờn, điều đú khụng thể làm thoó món chớ tũ mũ của độc giả Bởi thơ và
Trang 31đời không hoàn toàn trùng khớp nhau, con người Quách Tấn trong thơ không hoàn toàn
là Quách Tấn ngoài đời Muốn giải đáp được những thắc mắc ấy chúng ta chỉ có thể tìm
đọc Hồi ký Quách Tấn cùng cuốn Hồi ký Bóng ngày qua.
Hồi ký Bóng ngày qua được xuất bản bởi Nxb Hội Nhà văn năm 1999, tức là sau 7
năm ngày thi sĩ tạ thế Cuốn hồi ký này ngoài lời dẫn còn được chia làm bốn phần rất rõràng:
Phần thứ nhất: Vài nét tự thuật, ở đây tác giả lại chia làm hai phần nhỏ để tiện choviệc theo dõi của người đọc Đó là buổi thiếu thời (1910-1930), tác giả đã tự thuật rất tỉ
mỉ và chân thực về tuổi thơ ấu của mình Qua đó, để độc giả có thể thấy được phần nàotính cách, sự nhẫn nại và đặc biệt là những kỉ niệm sâu sắc bên cạnh những người thânyêu và bạn bè những ngày cắp sách tới trường, vui buồn lẫn lộn Chính điều đó là độnglực giúp thi sĩ vươn lên và đạt được những thành quả mà bất cứ ai trong chúng ta phảikhâm phục Còn khi tự thuật về đời công chức của mình (1930-1945), tác giả lại mộtlần nữa cho chúng ta thấy một tấm gương về sự thẳng thắn, không chịu luồn cúi đối vớichính phủ Pháp; đồng thời là sự khinh miệt đối với bọn mật thám chó săn cho chínhngười Pháp ngay trên mảnh đất Việt Nam Tuy có nhiều lần “suýt” vào tù nhưng dù saođời công chức được đi đây đi đó cũng đã giúp ích cho sự nghiệp của thi sĩ Quách Tấn
Phần thứ hai: Đến với Một tấm lòng và Mùa cổ điển, Quách Tấn đã cho người đọc
hiểu hơn về hai tập thơ có thể xem là hai thi phẩm tiêu biểu cho thơ Đường luật củaQuách Tấn, cũng là hai tập thơ thể hiện chặng đường phát triển của thi nhân QuáchTấn
Phần thứ ba: Mùa cổ điển (tập thơ).
Phần thứ tư: Quách Tấn trong đời sống văn chương tiền chiến Ở đây tác giả ghi lạinhững nhận xét của các bạn thơ, những nhà phê bình văn học khi viết về thơ của mình.Trong suốt sáu mươi năm cặm cụi trên con đường văn nghiệp, thi sĩ Quách Tấn đã
để lại cho đời hơn năm văn phẩm và hai mươi tập thơ (đa phần chưa xuất bản) Một sốthi phẩm đã xuất bản song ít được lưu hành vì thơ in ra để tặng chứ không bán Tuynhiên danh phận của nhà thơ vẫn được người đời nhắc đến và được văn học sử ViệtNam ghi nhận
Mọi người biết đến Quách Tấn như là người đại diện cuối cùng cho thể thơ Đường luật
ở Việt Nam với sự ra mắt của nhiều tập thơ có giá trị như: Một tấm lòng (1939) , Mùa cổ
Trang 32điển (1941) Ông đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của các nhà Thơ cũ cũng như sự
cổ suý của những người bạn - nhà Thơ mới
Các thi phẩm của nhà thơ Quách Tấn ra đời khi cuộc tranh luận Thơ cũ- Thơ mới đãtạm lắng xuống Hơn thế nữa, nó được những nhà thơ có tên tuổi trong làng thơ mớigiới thiệu cho nên có thể xem là một chiếc lá chắn an toàn khỏi sự công kích của cácnhà thơ mới khác, đó cũng có thể xem là điều may mắn đối với kẻ hậu sinh như tác giả
so với vị tiên bối Tản Đà của mình Trong cuốn hồi ký Bóng ngày qua của mình, Quách
Tấn cũng đã kể lại việc này: “( ) Các nhà Thơ mới nổi danh không thấy lên tiếng Báo
Ngày nay, sau khi nhận được sách chỉ đăng dưới mục Tin thơ do Lê Ta tức Thế Lữ phụ
trách, mấy hàng giới thiệu đóng khung: “Một tấm lòng của Quách Tấn vừa xuất bản, giá
bán 0$50” Không có một lời khen hay chê
Tố Yên Thiên và Phạm Đình Nguyên bảo:
- Xuân Diệu, Thế Lữ không đem Một tấm lòng ra công kích vì có bài bạt của Hàn
Mặc Tử
Nguyễn Tử Anh không đồng ý, nói:
- Bản thân Hàn Mặc Tử còn bị Xuân Diệu “chửi” xỏ, huống hồ lời khen của Tử mà
có thể làm cho họ nể nang ư? Nhóm Ngày nay không tha một nhà thơ nhà văn nào ở
ngoài nhóm và cũng không khi nào nâng đỡ một người nào không phải là bạn bè Họ
đối với Một tấm lòng như thế có thể gọi là biệt nhãn Họ mạt sát Thơ Cũ ngót bảy tám
năm nay, mà nay một tập thơ cũ ra đời, họ lại để yên mà còn giới thiệu như thế, tức là
họ gián tiếp khen đó Chúng ta nên mừng cho anh Tấn
Một tấm lòng tuy không đem lại được cảnh thịnh vượng cho làng Thơ cũ đã
điêu tàn, nhưng vẫn chứng tỏ rằng mạch Thơ cũ vẫn chưa bị đứt hẳn [20, 202-204].Qua đây để thấy rằng, một hiện tượng văn học khi ra đời dù có hòan hảo đến đâucũng nhận được những lời phê bình trái chiều nhau.Tác phẩm của Quách Tấn cũngkhông thể nằm ngoài quy luật ấy Tuy nhiên, chúng ta có thể khẳng định một điều chắcchắn rằng những gì Quách Tấn đã cống hiến cho nền văn học hiện đại Việt Nam nóichung và thể thơ Đường luật nói riêng là không thể phủ nhận Điều này có thể được thểhiện ở vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam Ông đựơc đánh giá là cành hoa cuốicùng của mùa xuân cạn - cành hoa mà cánh thắm, nhuỵ vàng Ông được đặt ngang hàng
Trang 33với các vị tiền bối của làng thơ Đường luật như: Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương, Bàhuyện Thanh Quan Và cũng được xem là “Mùa cổ điển” cuối cùng của thể thơ này.Qua cuốn hồi ký, bạn đọc đã phần nào hiểu về con người Quách Tấn Tuy nhiên, để
hiểu hơn về nhà thơ chúng ta không thể không đọc cuốn Hồi ký Quách Tấn.
Cuốn hồi ký này được ông hoàn thành từ tháng 9 năm 1985 tại Nha Trang nhưngphải đợi đến năm 2003, tức là sau khi thi sĩ qua đời 11 năm cuốn sách mới đến tay độcgiả
Ở ngay lời dẫn trong cuốn Hồi ký Quách Tấn có viết: “Ngoài những hồi ký kể về đời mình và công việc làm thơ của mình (đã có một phần trong Bóng ngày qua, NXB Hội
Nhà văn 1999) nhà thơ Quách Tấn còn viết nhiều hồi ký kể về những nhân vật mà ôngquen biết trong giới văn chương
Một bộ phận các bài viết ấy được ông tập hợp lại trong bản thảo Tình thầy bạn Ở
đây ông viết về Lâm Giang và Vũ Hân, Nguyễn Đồng và Châu Hải Kỳ, Nguyễn Vỹ vàHoài Thanh ”
Không giống như cuốn Hồi ký Bóng ngay qua đã giới thiệu ở trên, cuốn Hồi ký này
Quách Tấn không tự thuật về mình (lời dẫn ngay phần đầu sách đã giới thiệu rất rõ mục
đích và nội dung của cuốn Hồi ký) Bởi vậy, cuốn Hồi ký Quách Tấn chỉ tập trung thể
hiện chân dung của:
Sào Nam Phan Bội Châu
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu
Bích Khê
Tương Phố
Nguyễn Hiến Lê
Tuy độ dài ngắn của từng phần trong cuốn hồi ký có khác nhau, nhưng bạn đọc có
thể tìm thấy được rất nhiều vấn đề mình quan tâm thông qua cuốn Hồi ký Quách Tấn.
Vì trong cuốn Hồi ký này Quách Tấn đã tái hiện bằng chính hồi ức của mình về chândung những nhà văn đã từng một thời vang bóng như: Phan Bội Châu, Tản Đà, BíchKhê, Đông Hồ và Mộng Tuyết Với tài năng và tâm huyết của mình, Quách Tấn đãcho người đọc đi từ sự tò mò này đến sự tò mò khác Tuy là dựng chân dung nhà vănnhưng nhờ sự am hiểu sâu sắc về đối tượng phản ánh, cũng như tôn trọng tính chânthực, tác giả đã khiến mỗi trang viết như có hồn Ông không chỉ làm cho người đọc
Trang 34thấy được vị trí của họ trong văn học sử, mà điểm khác biệt của Quách Tấn so vớinhững nhà phê bình nghiên cứu là ông còn làm cho họ “sống dậy” bằng xương bằng thịt
với những nét tính cách đặc trưng trong cuộc sống đời thường Trong cuốn Hồi Ký
Quách Tấn và cuốn Bóng ngày qua, bạn đọc sẽ cảm thấy thích thú như đang được sống
lại với cái “thời đại” vừa đau thương vừa hào hùng của dân tộc thông qua dòng ký ứchồi tưởng của nhà văn Đó là thời đại không mấy bình yên khi mà nhân dân ta phảichống Pháp, chống Nhật Thời đại mà những người như cụ Phan Bội Châu tuy có lòngyêu nước nồng nàn nhưng bị giam lỏng ở Bến Ngự nên chỉ còn biết dùng thơ văn củamình để làm vũ khí tuyên truyền cách mạng và khích lệ tinh thần yêu nước; thời đại mànhững phong trào yêu nước phải lui vào hoạt động bí mật… Trong bối cảnh ấy, nền vănhọc Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hoá (1900-1945) và đã góp phần cổ vũ phongtrào yêu nước cũng như phản ánh kịp thời những “biến cố” của hiện thực xã hội Có rấtnhiều tên tuổi các nhà văn, nhà thơ đã được khẳng định trong thời kì này như nhóm Tựlực văn đoàn, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, ChếLan Viên Tuy trong cuốn hồi ký của mình Quách Tấn không phản ánh đựơc mộtcách sâu sắc và toàn diện những con người đã làm nên sự vẻ vang cho nền văn họcnước nhà, nhưng cũng đã giúp người đọc hiểu hơn về một số nhà thơ tiêu biểu củaphong trào thơ mới như: Bích Khê, Đông Hồ và Mộng Tuyết, Tương Phố hay nhànghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi
Cùng với sự phát triển mau lẹ của nền văn học nửa đầu thế kỉ XX, đã kéo theo sựxuất hiện các cuộc tranh luận giữa các trường phái, các xu hướng văn học Đặc biệt làcuộc tranh luận giữa Thơ mới và Thơ cũ, giữa quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật haynghệ thuật vị nhân sinh
Đến với Hồi ký Quách Tấn ta như lạc vào một xứ sở khác Bởi ở đây, Quách Tấn đã
tạo dựng được cả một bối cảnh thời đại, để từ đó tạo nên những phong trào thơ văn vàhơn thế nữa là những đứa con ưu tú cho nền văn học Việt Nam
Có một điều mà chúng ta không thể nào phủ nhận được là thông qua những trang hồi
ký kể cả Bóng ngày qua, ta bắt gặp một Quách Tấn “dễ thương, thật tình với bạn bè
lắm Và biết giá trị con người” (Nhận xét của Nguyễn Hiến Lê)
Và cũng trong những trang hồi ký này bạn đọc bắt gặp một nét tính cách kháctrong con người được xem là “mùa cổ điển” cuối cùng của văn học Việt Nam- Quách
Trang 35Tấn Như Phạm Đình Nguyên đã nhận xét: “Cặp mắt anh Tấn đã xếch ngược, nhãnquang lại sắc bén, nếu ảnh không có cái miệng thường điểm nụ cười hoá giải bớt vẻnghiêm nghị thì ít ai dám ngó thẳng vào mặt”…[20, 212].
Còn rất nhiều ý kiến, nhận xét , đánh giá về con người cũng như thơ văn Quách Tấn
mà bạn đọc có thể tìm thấy qua việc từ từ lật mở những trang hồi ký của chính tác giả,người đã khép lại “một thời đại trong thi ca”
Tuy nhiên chúng ta cũng cần khẳng định một điều rằng, những cuốn hồi ký của thi sĩQuách Tấn có đời sống riêng của nó, chứ không phải hoàn toàn lệ thuộc vào các thiphẩm của thi nhân Bởi qua những trang hồi ký, Quách Tấn không những hồi tưởng lạinhững kỉ niệm về bản thân, mà thông qua đó là sự hồi tưởng về bạn bè, về thời cuộc
Vì vậy, chúng ta hãy đón nhận nó với tư cách là một tác phẩm văn học thực sự, có đờisống riêng Và qua đây để thấy được đóng góp quan trọng nữa của thi sĩ cho nền vănhọc, đó là với mảng hồi ký Việt Nam nói chung và hồi ký Việt Nam đương đại nóiriêng
Chương 2
ĐẶC TRƯNG HỒI KÝ QUÁCH TẤN NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NỘI DUNG
2.1 Những vấn đề được quan tâm thể hiện trong Hồi ký Quách Tấn.
2.1.1 Tái hiện bối cảnh, không khí thời đại.
Trong Hồi ký Quách Tấn, điều đầu tiên chúng ta cảm nhận được chính là việc tác giả
đã tái hiện lại thông qua dòng hồi ức của mình về một thời đại hào hùng mà bi thươngcủa dân tộc Việt Nam Mặc dù, không thể tái hiện lại một cách đầy đủ, cụ thể, chi tiết vềtất cả những sự kiện lớn đã diễn ra của dân tộc như những cuốn sách chuyên viết về lịch
sử, và cũng do đặc trưng của thể loại hồi ký là tái hiện lại phần hiện thực thường nằmtrong tầm nhìn của mình, chỉ căn cứ chủ yếu vào những ấn tượng và hồi ức của bản thân
Trang 36mình Do đó, hồi ký thường mang đậm tính chủ quan và các sự kiện được kể lại khôngkhỏi chịu tác động của quy luật “quên lãng” và “làm méo lệch” do cơ chế hồi ức Vànhững phần thiếu hụt đó sẽ được bù đắp bởi sự diễn đạt sinh động, đầy ấn tượng.
Thông qua dòng kí ức của mình, tác giả dẫn dắt người đọc đi từ sự kiện này đến sựkiện khác và nhiều khi các sự kiện được tác giả tái hiện thông qua cái nhìn, cảm nhậnriêng của tác giả hay đó cũng là những tâm sự, giãi bãy của chính tác giả về chính sựkiện đó Những sự kiện này, chủ yếu được tác giả ghi nhận trong quãng đời thơ ấu haycông chức của mình khi ở Huế, Đà Lạt, Nha Trang…
Sự kiện có thể được xem là trọng đại của dân tộc đó chính là việc thực dân phápxâm lược nước ta và năm 1858 Sự kiện đã làm cho xã hội Việt Nam có sự biến đổi sâusắc, biến nước ta từ một nước thuần phong kiến trở thành một nước thực dân nửa phongkiến
Trong cuốn hồi ký Bóng ngày qua, ông viết: “Ở vào khoảng cuối thời Tự Đức trở về
sau, tình trạng nước Việt Nam thật là bối rối Ở ngoài thì giặc Pháp hoành hành, ở trongthì đình thần chia bè phái tranh giành quyền thế, khuynh loát lẫn nhau” [20, 94]
Cũng trong hồi ký Bóng ngày qua, Quách Tấn đã tái hiện rất rõ tình hình của nước
ta lúc bấy giờ:
“…Lúc bấy giờ nước Pháp củng cố nền đô hộ ở Việt Nam Nước chia ra làm ba Kỳ:Nam Kỳ là thuộc địa Trung kỳ và Bắc Kỳ là xứ bảo hộ Chế độ thuộc địa và chế độbảo hộ khác nhau hẳn
Ở Nam Kỳ, cấp chỉ huy hoàn toàn là người Pháp hoặc người Việt gốc Pháp (số rấtít) Cầm đầu là quan Thống Đốc
Trung Kỳ và Bắc Kỳ thuộc quyền cai trị của vua nhà Nguyễn Nhà vua đóng đô tạiHuế Ở Bắc Kỳ có quan Kinh Lược (sau này đổi thành Khâm Sai) thay mặt nhà vua.Dưới nhà vua có 6 bộ: bộ Lại , bộ Lễ, bộ Hộ, bộ Binh, bộ Hình, bộ Công Trong các bộ,
bộ Lại và bộ Công là hai bộ “phì nhiêu”, còn Bộ lễ là bộ “càn táo” chỉ được nhờ vàohương khói cúng thần thánh Cho nên ca dao có câu:
Nhất nhì bộ Lại, bộ Công Còn như bộ Lễ, lạy ông tôi về.
Đó là triều đình” [20, 43-44]
Trang 37Không chỉ tái hiện một cách cụ thể về việc thay đổi trong nội bộ triều đình và vấn đềphân chia lãnh thổ của Việt Nam thành ba chế độ khác nhau để dễ bề cai trị Quách Tấnthông qua những trang hồi ký còn cho bạn đọc nhìn rõ sự thay đổi ấy ở các địa phương:
“ Còn ở các tỉnh, thì tỉnh lớn có quan Tổng Đốc cầm đầu, quan Bố chánh, quan Ánsát phụ tá Tỉnh nhỏ thì quan Tuần vũ cầm đầu, quan Án phụ tá Ở phủ, huyện thì cóquan Tri phủ, Tri huyện ” [20, 44]
Thực dân Pháp từ khi vào xâm lược nước ta, chúng đã dùng những luận điệu xảo trá
là “khai hoá”, là“bảo hộ” để buộc triều đình nhà Nguyễn dần cắt các tỉnh của nước tacho chúng Từ đó, Việt Nam trở thành một nước thực dân nửa phong kiến, triều đìnhnhà Nguyễn thành bù nhìn, thực quyền đều nằm trong tay thực dân Pháp Quách Tấnvới sự hiểu biết của mình đã ghi lại rất chi tiết hiện thực này:
“ Bên cạnh nhà vua, ở Trung Kỳ, có khâm sứ Pháp Dưới tỉnh có Công sứ và Phó
Sứ bên cạnh các quan tỉnh Ở Bắc Kỳ có Thống Sứ Hợp tác với các quan tỉnh cũng cóCông Sứ cầm đầu như ở Trung Kỳ
Thành ra ở Trung Kỳ và Bắc Việt có hai chính phủ: chính phủ Pháp gọi là chính phủBảo hộ Chính phủ Việt gọi là Nam Triều
Tuy chia là hai, nhưng quyền hành nằm trong tay ngưòi Pháp, Nam Triều chỉ có thihành mệnh lệnh của “quan thầy” và giữ an ninh trật tự ở thôn quê Vua không cóquyền”.[20, 44-45]
Bằng ngòi bút sắc sảo kết hợp với giọng điệu vừa như kể vừa như tâm tình đầy mỉamai mà chua xót, Quách Tấn đã tái hiện được một bức tranh khá sinh động về hiện thực
xã hội Việt Nam lúc này Một xã hội mà nhân phẩm con người không còn được xemtrọng, ăn hối lộ không còn là cái tệ mà đã thành cái lệ như tác giả nói trong hồi ký củamình:
“Các quan từ trên chí dưới, phần đông đã mất hết nhân phẩm Đối với trên thì luồncúi, nịnh nọt Đã có lắm quan lạy Tây giữa ba quân thiên hạ Có quan dâng cả vợ concho Tây để xin chút ân huệ Còn đối với nhân dân thì hiếp đáp, bóc lột
Và ca dao có câu:
Than ôi! sinh phải đời nay.
Ban đêm thì cướp, ban ngày thì quan.
Trang 38Nạn hối lộ trong quan trường thời bấy giờ không còn là cái tệ mà đã thành cái lệ”[20, 45].
Không chỉ thuật lại các sự kiện đã diễn ra theo dòng hồi ức mà trong khi viết hồi ký,Quách Tấn còn đan xen vào những mẩu truyện vui “cười ra nước mắt” khiến cho ngườidân An Nam nào nghe thấy cũng phải mủi lòng Đây cũng chính là một thành công củaQuách Tấn khi viết hồi ký Bởi hồi ký không đơn thuần là việc tác giả ghi chép lạinhững sự kiện đã tận mắt chứng kiến theo kiểu “tai nghe, mắt thấy” mà còn thể hiệnđậm chất chủ quan của tác giả, ở chính những lời bình, những kiến giải, suy nghĩ của
tác giả về những sự kiện đó Cũng chính vì thế, chúng ta sẽ hiểu được lí do vì sao Hồi
ký Quách Tấn lại cuốn hút nhiều độc giả đến vậy.
Chúng tôi chỉ xin đơn cử ra một mẩu chuyện khi Quách Tấn kể về nạn hối lộ trong
xã hội lúc bấy giờ: “ Vua Bảo Đại không có việc làm, ngày ngày ra hồ sen ngồi câu cá.Một anh lính thị vệ đúng sau lưng cầm chiếc dù che nắng cho Ngài Ngự Một hôm NgàiNgự quay lưng hỏi anh lính lương được bao nhiêu Tâu rằng chỉ có 350 mỗi tháng, vàthan rằng vợ con đông, túng thiếu quanh năm Nhà vua tỏ ý muốn giúp đỡ Người línhtâu huyện Quang Điền có khuyết một chân đội lệ, xin cho y điền vào Nhà vua bảo rabẩm cùng quan Thượng bội Lại, lúc ấy là cụ Thái Văn Toản Người lính bẩm được línhNgài Ngự cho đến Cụ Thượng thản nhiên chỉ vào giá biểu để trên bàn giấy: Đườngquan mấy ngàn, thuộc quan mấy ngàn, Thừa phái Thông lại mấy trăm Và Đội Lệ
30 đồng
Người lính đi về và ngày ngày tiếp tục cho Ngài Ngự Nhà vua lầm lì ngồi câu,không để ý đến người lính hầu Một hôm chợt ngoảnh lại, ngạc nhiên hỏi:
- Sao ngươi còn ở đây ?
Người lính ấp úng không dám ngỏ sự thiệt Nhưng mà bị nhà vua gạn hỏi phải tâu rõ
sự tình:
- Vì không thể nào chạy ra số bạc ấy, nên đành cam số phận
Nhà vua mỉm cười, rút túi lấy 30 đồng đưa cho người lính:
- Hãy đi nạp cho cụ lớn để lãnh chức mới
Thật là một bi hài kịch!” [20, 45 - 46]
Thực dân Pháp đặt ách đô hộ ở nước ta, không chỉ làm cho xã hội có sự biến đổi sâusắc mà còn kéo theo cả sự thay đổi trong vấn đề khoa cử Trong xã hội phong kiến chỉ
Trang 39trọng dụng những người đỗ đạt trong các kỳ thi Hán học Còn trong thời kỳ này, cụ thể
là đến triều Bảo Đại đã phải dùng đến tân học Điều đó cũng được tái hiện rất rõ trong
cuốn hồi ký Bóng ngày qua của Quách Tấn:
“Từ triều Khải Định trở về trước, chỉ có những người khoa bảng về Hán học mớiđược bổ làm quan Người Tây học có thân thế lắm như: Nguyễn Hữu Bài, Vương TửĐại mới được trọng dụng Đến triều Bảo Đại (1925 – 1945), lớp cựu học đã tàn hếtphải dùng đến tân học Các ông tham, ông hưởng bên Chánh phủ Bảo Hộ chuyển ngạchsang, các người đậu bằng tú tài Pháp được thi vào ngạch tri huyện, hậu bổ Nhữngngười đậu trung học được bổ đi thừa phái, nếu xin
Còn bên Chánh phủ Bảo Hộ, ngạch hành chính thì có ba cấp: Thượng, Trung, Hạ”[20, 46 - 47]
Tiếp đến tác giả đã nhắc đến sự kiện có ý nghĩa trọng đại làm thay đổi xã hội ViệtNam lần nữa Đó chính là sự kiện Nhật đem quân vào nước Việt Nam tháng 9 năm
1940 Khi Nhật vào Việt Nam, Pháp đã phải nhân nhượng cho mượn lại Hải Phòng vàcác sân bay ở Việt Bắc để đánh phe Đồng Minh, làm cho nhân dân Việt Nam phải một
cổ ba tròng Cái thời mà Quách Tấn gọi là “nước nhà thật lắm việc” Những việc ấy
được ông hồi tưởng trong hồi ký Bóng ngày qua của mình một cách chân thật và cụ thể:
“Nhật ở phe trục Muốn đánh tập hậu trận đường tiếp tế Tưởng Giới Thạch, thuộcphe Đồng Minh, quân đội Phù Tang tìm cớ đỗ lỗi cho Pháp để mượn đường Bắc Việthành quân Pháp yếu thế phải nhượng bộ cho mượn Hải Phòng và các sân bay ở ViệtBắc Rồi tháng 9 năm 1940, theo thoả hiệp ký kết giữa chính phủ nước Pháp và nướcNhật do sự áp của Hitler, quân đội Thiên Hoàng đô hộ lên các hải cảng trong nước từBắc vào Nam
Ở Nha Trang, gầm 100 chiếc tàu màu cho đậm kéo vào cửa rồi lính rầm rộ kéo lên
bờ đóng ở sân bay, nhà ga và các căn cứ quân sự Đồng bào kéo đến bãi biển xem đôngnhư hội Còn người Pháp thì vừa giận vừa sợ cười nước mắt, khóc hổ ngươi, cắn răngquay mặt ” [20, 124]
“Trong thời kỳ nầy (1939 1943) nước nhà thật lắm việc Nhật đóng binh khắp nơi,tàu bay Mỹ khủng bố liên tiếp, ngày nào cũng có nơi bị bom đạn tàn phá giết hại Lắmlúc chúng thả bom cả ban đêm, cho nên đèn đường tắt, đèn trong nhà phải chùm kín,
Trang 40không có ánh sáng lọt ra ngoài Vật giá lên cao vùn vụt, chợ đen mở rộng phạm vi.Công chức phải thêm giờ và luân phiên đến gác trụ sở
Khắp Trung Kỳ đều thế cả Mà Bắc Kỳ, Nam Kỳ không tốt đẹp hơn” [20, 94]
“Nhưng rủi thay! Thời cuộc mỗi ngày mỗi thêm rối ren Qua năm 1944, tàu bay Mỹthả bom phá Nhật gia tăng gấp mấy lần năm trước Trung cũng như Bắc, đều không ănyên ngủ yên.” [71, 196]
Những sự kiện mà Quách Tấn hồi tưởng lại thông qua hồi ức của mình là những gìông đã trải qua và được tận mắt chứng kiến Đặc biệt là những sự kiện xảy ra trongnhững năm 1940, 1944 và 1945 đã được tác giả lặp đi lặp lại rất nhiều lần.Tác giảkhông đi cụ thể và bao quát được tất cả những vấn đề liên quan đến thời cuộc của cảdân tộc Nhưng thông qua những chi tiết ấy chúng ta có thể hình dung một cách khá
rõ nét về hoàn cảnh của cả dân tộc Bởi đã chia thành 3 Kỳ với 3 chế độ chính trịkhác nhau nhưng nhìn chung cuộc sống của nhân dân ở Nam Kỳ và thậm chí ởTrung Kỳ và cả Bắc Kỳ cũng chẳng khác nhau là mấy Trên danh nghĩa chỉ có Nam
Kỳ là thuộc địa và dưới quyền cai trị trực tiếp của thực dân Pháp, còn Bắc Kỳ vàTrung Kỳ là xứ bảo hộ nằm dưới quyền cai trị của triều đình nhà Nguyễn Và nhưvậy, triều đình nhà Nguyễn chỉ là tay sai, bù nhìn cho chính phủ Pháp chứ không cóchút thực quyền nào Kế đó và mùa thu năm 1940 phát xít Nhật đã kéo quân vào xâmlược nước ta, chính phủ Pháp đã đã hèn nhát bán nước ta hai lần cho Nhật khiếnnhân dân ta đã khốn đốn nay lại khốn đốn hơn nhiều Những vấn đề này được QuáchTấn phản ánh rất rõ trong hồi ký của mình
“Lúc bấy giờ tình hình trong nước mỗi ngày mỗi thêm rối ren Nhân dân ViệtNam phải mang trên lưng ba thứ khổ, khổ vì quan Tây, khổ vì quan An Nam, khổ vìquan Nhật Nét tươi cười ít khi thấy trên mặt người dân” [71, 340]
“Từ 1944 trở đi cuộc thế chiến càng ngày càng dữ dội, trên lãnh thổ Việt Nam cũngnhư nhiều nơi khác, biến cố dồn dập xảy đến” [71, 258]
“Lúc bấy giờ thế chiến lại đến giai đoạn kịch liệt Những trận đánh giữa Trục vàĐồng Minh vang rềnh khắp Âu Á Trên lãnh thổ Việt Nam tàu bay Mỹ khủng bố Nhậtlàm liên luỵ đến đồng bào ta Ngày nào cũng có nhà tan người chết Tình cảnh thảmthiết vô cùng!” [20, 330]