Vì vậy, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ của mình trong việctìm hiểu đặc điểm câu văn trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, để từ đó khẳng định những cống hiến của Nguyễn Minh C
Trang 1Lời cảm ơn
Khóa luận này đợc hoàn thành nhờ sự giúp đỡ và hớng dẫn tận tình củaPGS-TS Đỗ Thị Kim Liên, sự góp ý chân tình của thầy giáo phản biện và cácthầy cô bộ môn chuyên ngành Ngôn ngữ cùng bạn bè cùng khóa
Nhân đây cho phép chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới côgiáo Đỗ Thị Kim Liên, các thầy cô giáo trong bộ môn Ngôn ngữ và bạn bè đã
động viên, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khóa luận này
Mặc dù có nhiều cố gắng, song trong một thời gian ngắn việc thu thập,tìm hiểu tài liệu cha kỹ lỡng và phong phú, hơn nữa khóa luận này chỉ là bớc
đầu tập nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót Kínhmong nhận đợc sự góp ý quý báu của thầy cô và các bạn
1.1 Văn học là nghệ thuật ngôn từ, hay nói cách khác chính là ngôn từ
và quy tắc sắp xếp chúng theo những quy tắc nhất định đã tạo nên tác phẩmnghệ thuật Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm văn học
là việc làm không thể thiếu đợc đối với những ngời nghiên cứu ngôn ngữ
Đồng thời, việc nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học sẽ giúp chúng tarút ra đợc đặc điểm phong cách của nhà văn
Trang 21.2 Hiện nay trong công cuộc đổi mới đất nớc, việc tìm hiểu ngôn ngữ
trong tác phẩm của các nhà văn Việt Nam không chỉ là trách nhiệm của nhữngnhà nghiên cứu văn học mà còn là trách nhiệm của những nhà nghiên cứungôn ngữ học Vì vậy, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ của mình trong việctìm hiểu đặc điểm câu văn trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu,
để từ đó khẳng định những cống hiến của Nguyễn Minh Châu trên bình diệnngôn ngữ ở thể loại truyện ngắn
1.3 Nguyễn Minh Châu là một trong số các nhà văn tiêu biểu của nền
văn học đơng đại Việt Nam Các sáng tác của ông đợc giới nghiên cứu và phêbình đánh giá rất cao
Nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu, ngời ta hay nói đến những cuốn tiểuthuyết nh "Cửa sông", "Dấu chân ngời lính", "Miền cháy", "Những ngời đi từtrong rừng ra" Thực ra, trong sự nghiệp văn học của ông, truyện ngắn giữmột vị trí rất quan trọng, không thua gì tiểu thuyết Các tập truyện ngắn của
ông là kết quả chín muồi của một nhà văn nhạy cảm và tiên phong trên con đ ờng đổi mới còn cha định hình Và truyện ngắn của ông đã có nhiều cống hiếncho quá trình đổi mới và phát triển văn học Việt Nam giai đoạn sau chiếntranh chống Mỹ
-Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu ờng thiên về trần thuật và xen lẫn những màn độc thoại nội tâm Đấy cũng làphong cách nghệ thuật của riêng ông Nghiên cứu đặc điểm câu văn quatruyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là góp phần vào việc tìm hiểu đặc điểmphong cách của lớp nhà văn trong kháng chiến chống Mỹ và sau ngày hòabình lập lại Từ đó, góp thêm t liệu cho việc học tập và giảng dạy truyện ngắnViệt Nam Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài này
th-2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu.
2.1 Đối tợng:
Nguyễn Minh Châu là nhà văn lớn, tác phẩm của ông đợc viết theonhiều thể loại khác nhau nh tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn Riêngtruyện ngắn của ông có các tập truyện ngắn lớn sau: "Ngời đàn bà trên chuyếntàu tốc hành", "Bến quê", "Những vùng trời khác nhau", "Chiếc thuyền ngoàixa" ở đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm câu văn củaNguyễn Minh Châu qua năm truyện ngắn khá tiêu biểu trong các tập truyệnngắn trên và đợc in trong "Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn" Cáctruyện ngắn đó là:
1- Mảnh trăng
Trang 32- Bên đờng chiến tranh.
3- Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
4- Bến quê
5- Bức tranh
Tơng ứng với những truyện ngắn này, chúng tôi đánh theo số thứ tự LaMã là I- Mảnh trăng, II- Bên đờng chiến tranh, III- Ngời đàn bà trên chuyếntàu tốc hành, IV- Bến quê, V- Bức tranh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Qua khảo sát đặc điểm câu văn về mặt cấu trúc ngữ nghĩa và theo mục
đích phát ngôn qua năm truyện ngắn khá tiêu biểu của nhà văn Nguyễn MinhChâu để qua đó rút ra một số nhận xét về đặc điểm phong cách truyện ngắncủa ông
- Giúp việc học tập, nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Minh Châu mộtcách toàn diện và đầy đủ hơn
3 Lịch sử vấn đề.
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20/10/1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải,huyện Quỳnh Lu, tỉnh Nghệ An Là một trong số các nhà văn lớn của văn họcViệt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX
Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, gắn bóvới sự nghiệp cầm bút của một ngời lính, Nguyễn Minh Châu có dịp đi và tiếpxúc với thực tế sinh động của cuộc sống Ông đã cùng đồng đội trải quanhững năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc và giai đoạncam go nhất của những năm đầu hòa bình xây dựng Tổ quốc ở con ngời ôngnổi bật niềm đam mê sáng tạo, sự dũng cảm đáng quý của một nhân cách nhàvăn có một tình yêu sâu nặng đối với cuộc sống, con ngời, quê hơng, đất nớc.Tác phẩm của ông không đồ sộ nhng đa dạng về mặt thể loại bao gồm: truyệnngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, bút ký, phê bình miêu tả không khí hào hùng
và phẩm chất cao đẹp của con ngời Việt Nam trong chiến đấu, khi bộc lộ niềm
lo âu khắc khoải và khát vọng thức tỉnh lơng tâm trong cảm hứng nhân vănmãnh liệt Sau 1975, nhất là sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ngòi bútcủa ông luôn luôn thể hiện sự trăn trở, bản lĩnh và nhiệt thành với công cuộc
đổi mới đất nớc nói chung và đổi mới văn học nói riêng Nguyễn Minh Châu
là nhà văn tài năng và giàu tâm huyết, một nhà văn có t tởng phong phú vàphong cách sáng tạo riêng
Trang 4Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ngay từ khi xuất hiện đã đợc côngchúng hào hứng đón nhận Đến nay đã có hàng trăm bài viết, hàng chục côngtrình nghiên cứu lớn nhỏ đề cập nhiều khía cạnh về cuộc đời và sự nghiệp củanhà văn Tìm đọc các công trình nghiên cứu ấy, chúng tôi nhận thấy có những
xu hớng nghiên cứu sau:
3.1 Gắn việc nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu với toàn bộ
tác phẩm của ông Đi theo hớng nghiên cứu này, nổi bật là tác giả Tôn PhơngLan với các công trình khá công phu nh "Phong cách nghệ thuật NguyễnMinh Châu", "Nguyễn Minh Châu con ngời và tác phẩm", "Nhà văn NguyễnMinh Châu" Cùng với bà còn có nhiều tác giả khác nh Lại Nguyên Ân, VơngTrí Nhàn, Ngô Thảo, Mai Thục
3.2 Chỉ nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Có thể nói
rằng, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là "mảnh đất màu mỡ" thu hút sự chú ýcủa nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu Họ tìm hiểu truyện ngắn của ông ởnhiều khía cạnh, nhiều phơng diện Tác giả Bùi Việt Thắng nghiên cứu vấn đềtình huống( "Vấn đề tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu"[7,tr262]) Tác giả Ngọc Trai qua truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đi tìm sựkhám phá về con ngời Việt Nam ("Sự khám phá con nguời Việt Nam quatruyện ngắn"[7, tr274]) Tác giả Trịnh Thu Tuyết đi sâu nghiên cứu nghệ thuậtxây dựng truyện ngắn và kiểu loại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn MinhChâu ("Một số cốt truyện ngắn Nguyễn Minh Châu"[7,tr323]) Tác giả PhạmVĩnh C nghiên cứu về yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn (" Những yếu tốtiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu"[7,tr296])
Đặc biệt, tuần báo Văn nghệ tổ chức hẳn một cuộc trao đổi về truyệnngắn Nguyễn Minh Châu quy tụ nhiều cây bút, nhiều nhà nghiên cứu có têntuổi nh Tô Hoài, Phan Cự Đệ, Bùi Hiển, Đào Vũ, Phong Lê, Lê Lựu, XuânThiều, Xuân Trờng, Vũ Tú Nam, Vơng Trí Nhàn, Phạm Tiến Duật và cùngvới sự góp mặt của chính nhà văn Nguyễn Minh Châu
3.3 Nghiên cứu Nguyễn Minh Châu trong tơng quan với dòng văn học
dân tộc, với thời đại mà tác giả sống Tiêu biểu cho hớng nghiên cứu này có cáctác giả Nguyễn Đức Thọ, Nguyễn Đăng Mạnh, Vơng Trí Nhàn, Nguyễn Khải,Mai Hơng Tác giả Nguyễn Khải trong" Nguyễn Minh Châu - Niềm hãnh diện
những nguời cầm bút" đã từng nhận xét: "Mãi mãi nền văn học kháng chiến, cách mạng ghi nhớ những cống hiến của anh Châu Anh là ngời kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là ngời mở đờng cho những cây bút trẻ đầy tài năng sau này Anh Châu là bất tử, là một nghệ sĩ lớn của đất nớc, một đời trong sáng, trọn vẹn, không chút tì vết'.
Trang 5Còn tác giả Mai Hơng trong công trình "Nguyễn Minh Châu và di sảnvăn học của ông" đã khẳng định: Nguyễn Minh Châu là cây bút tiêu biểu củanền văn xuôi chống Mỹ, đồng thời cũng là ngời mở đờng "tinh anh và tàinăng", ngời đã "đi đợc xa nhất" trong cao trào đổi mới của văn học Việt Nam
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Khóa luận này nghiên cứu đặc điểm câu văn trong truyện ngắn NguyễnMinh Châu Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng thời các phơngpháp nh:
4.1 Phơng pháp thống kê phân loại.
Chúng tôi thống kê các câu văn trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
để lấy đó làm cơ sở phân loại câu theo cấu trúc và theo mục đích giao tiếp
4.2 Phơng pháp so sánh đối chiếu.
Trên cơ sở những vấn đề đã khảo sát, thống kê, phân loại, chúng tôi sosánh câu văn của nhà văn Nguyễn Minh Châu với câu văn của các tác giảcùng thời để rút ra đặc điểm câu văn của Nguyễn Minh Châu và khẳng định sự
đóng góp của ông về mặt ngôn ngữ trong thể loại truyện ngắn
4.3 Phơng pháp phân tích - tổng hợp.
Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đợc phân tíchthành nhiều mặt nh cấu trúc hay theo mục đích giao tiếp Từ đó, chúng tôi sẽ đi
đến khái quát những đặc sắc về biểu hiện câu văn trong truyện ngắn của ông
5 Cái mới của đề tài.
Nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu từ trớc đến nay có rất nhiều côngtrình nh nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ hội thoại hay về sáng tác của ông.Song đề tài "Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu" có thểxem là công trình độc lập đầu tiên nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Minh
Trang 6Châu về góc độ ngôn ngữ câu văn Qua đó khẳng định nhiều mặt về cấu trúccủa câu văn trong truyện ngắn của ông Đồng thời, tìm ra những cái mới mẻtrong câu văn của ông Cũng nh chỉ ra những đặc sắc, sức sáng tạo và sự đổimới trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu - một tác giả vănhọc có tầm cỡ bên cạnh nhiều cây đại thụ khác của nền văn học Việt Nam.
6 Cấu trúc khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nộidung khóa luận có 3 chơng:
Ch
ơng I: Những giới thuyết xung quanh vấn đề truyện ngắn,
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
Ch
ơng II: Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu xét về mặt cấu trúc.
Ch ơng III: Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu xét về mục đích giao tiếp.
Trang 7Nội Dung
Ch ơng I
Những giới thuyết xung quanh vấn đề truyện
ngắn, truyện ngắn nguyễn minh châu
1.1 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn.
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn.
Truyện ngắn là một thể loại văn học quen thuộc của mọi nền văn họccủa các quốc gia trên thế giới Thành công của truyện ngắn đã góp phầnkhông nhỏ cho bảng tổng sắc của nền văn học nhân loại Đã có nhiều nhà văntrở thành nổi tiếng bằng những truyện ngắn xuất sắc nh: L Tônxtôi, Gorki,Sêkhốp, Sôlôkhốp, Pautốpxki hay Đôđê, Môpátxăng, Conđôoen, Henri,GiắcLơnđơn hay Lỗ Tấn, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Thạch Lam,Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Khải
Và khi bàn về khái niệm truyện ngắn từ trớc đến nay có nhiều ý kiến,mỗi một ý kiến có một nét tơng đồng và khác biệt với nhau
Giáo s văn học ngời Pháp D Grônốpki viết: "Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi không cùng Nó là một vật biến hóa nh quả chanh của Lọ lem Biến hóa về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba mơi trang Biến hóa về kiểu loại tính chất: trào phúng, kỳ ảo, hớng về biến cố thật hay tởng tợng, hiện thực hoặc trào phúng Biến hóa về nội dung: thay đổi vô cùng vô tận Muốn có chất liệu để kể, cần có một cái gì đó xảy ra, dù đó chỉ là một sự thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong thế giới truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết, diễn biến cũng gây hiệu quả vì
nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt" [Dẫn theo 4, tr 9].
Còn nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích về khái niệm truyện ngắn
nh sau: "Trớc hết ta nên phân biệt thế nào là truyện ngắn, thế nào là truyện dài - loại truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây là loại mới có trong văn học Việt Nam, từ ngày ta chịu ảnh hởng của văn học Pháp Ngày xa ta chỉ có truyện
ký bằng miệng hoặc văn vần Những truyện "Muỗi nhà", "Muỗi đồng", "Hai
ông Phật cãi nhau" trong "Thánh Tông di thảo" là viết theo nghệ thuật á Đông.
"Hoàng Lê nhất thống chí" là lịch sử ký sự chứ không phải là lịch sử tiểu thuyết Cho nên loại truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây ta theo Trung Quốc mà gọi là tiểu thuyết, và cái nào viết trong vài trang gọi là đoản thiên, cái nào viết theo hàng ngàn trang gọi là trờng thiên - tiểu thuyết Năm 1932, báo Phong Hóa dịch đoản thiên tiểu thuyết ra tiếng ta gọi là truyện ngắn và trung thiên tiểu thuyết gọi là truyện vừa" [ Dẫn theo 4- tr 9].
Trong "Từ điển văn học", truyện ngắn đợc định nghĩa là: "Hình thức tự
sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung
Trang 8mô tả một mảng của cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Cốt truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn đ-
ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật t tởng, chủ đề, khắc họa nét tính cách của nhân vật, viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn tỉa tót và dồn nén Do đó trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện đợc những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn" [18,tr10].
Trong "Từ điển thuật ngữ văn học", truyện ngắn đợc coi là: "Tác phẩm
tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các ph ơng diện của đời sống: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu một mạch, đọc một hơi không nghỉ" [6-
tr314]
Trong sách "Lý luận văn học" cho rằng: "Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian nh truyện cổ, truyện cời, hoặc gần với những bài ký ngắn Nhng thực ra không phải Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi
là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đơng thời Nội dung thể loại truyện ngắn
có thể khác nhau: đời t, thế sự hay sử thi nhng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một
"chốc lát" trong cuộc sống nhân vật, nhng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời" [15-tr 397].
Tuy nhiên đối với truyện ngắn, mức độ ngắn dài cha phải là đặc điểm
để phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại,
có nhiều tác phẩm rất ngắn nhng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại.Truyện ngắn thời trung đại ngắn nhng cũng rất gần với truyện vừa Các hìnhthức kể truyện dân gian rất ngắn gọn nhng không phải là truyện ngắn nh: cổtích, truyện cời
Truyện ngắn hiện đại khác hẳn với truyện ngắn trung đại Đó là mộtkiểu t duy khá mới về cách nhìn vấn đề, cách nắm bắt đời sống riêng mangtính chất thể loại cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tơng đối muộntrong lịch sử văn học
Khác với tiểu thuyết là loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy
đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thờng hớng tới việc khắc họa một hiện ợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh, trong đời sống tâmhồn con ngời Chính vì vậy mà trong truyện ngắn thờng có ít nhân vật, ít ựkiện phức tạp
Trang 9t-Điểm khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là nếu nhânvật chính của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật truyện ngắn là một mảnhnhỏ của thế giới Truyện ngắn thờng không nhằm tới việc khắc họa những tínhcách điển hình, có cá tính đầy đặn, nhiều mặt trong tơng quan với hoàn cảnh.Nhân vật truyện ngắn thờng là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ýthức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời Mặt khác, truyện ngắn lại cóthể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳnghạn nh chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè những kiểu loại mà trong tiểuthuyết thờng hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ.
Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thờigian hạn chế Chức năng nói chung của nó là nhận ra một điều gì đó sâu sắc
về cuộc đời và tình ngời Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiềutầng, nhiều tuyến mà thờng đợc xây dựng theo nguyên tắc tơng phản hoặc liêntởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thờng là chấm phá
Yếu tố quan trọng nhất của truyện ngắn là các chi tiết cô đúc, có dunglợng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm nhiều chiều sâucha nói hết Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng là những yếu tố tạo thành cáihay của thể loại này Truyện ngắn rất gần gũi với đời thờng, lại súc tích, dễ
đọc và gắn liền với các hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hởng kịp thờitrong đời sống
Trong "150 thuật ngữ văn học", mục truyện ngắn, tác giả Lại Nguyên
Ân viết: "Truyện ngắn là một thể loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thờng đợc viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phơng diện của đời sống con ngời và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là giới hạn về dung lợng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với ngời tiếp nhận - độc giả - đọc nó liền một mạch không nghỉ" [18- tr11].
Những nét riêng của truyện ngắn vốn đã có ở những tác phẩm thời kỳtrung đại qua các hình thức kể truyện dân gian (truyện cời, giai thoại, cổtích ) nhng chỉ thực sự trở thành một đặc điểm riêng biệt của thể tài này ởthời kỳ hiện đại Nó gắn liền với sự xuất hiện của báo chí
Với t cách là thể loại tự sự, truyện ngắn cũng nh truyện vừa, truyện dàihiện đại đều ít nhiều mang đặc tính t duy tiểu thuyết Tuy vậy, khác với truyệnvừa và truyện dài - vốn là những thể tài mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đờisống trong sự toàn vẹn đầy đủ của nó - truyện ngắn thờng khắc họa một hiệntợng, một đặc tính trong quan hệ con ngời hay đời sống tâm hồn con ngời.Truyện ngắn thờng ít nhân vật, ít sự kiện chồng chéo Nhân vật trong truyệnngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn mà chỉthờng là sự hiện thân của một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặctrạng thái phụ thuộc của con ngời
Trang 10Cốt truyện của truyện ngắn thờng tự giới thiệu về thời gian, không gian;
nó có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về con ngời Kết cấucủa truyện ngắn thờng không nhiều tầng, nhiều tuyến mà thờng đợc dựng theokiểu tơng phản hoặc liên tởng Chi tiết và lời văn là những yếu tố quan trọngtrong nghệ thuật viết truyện ngắn Lối kể và cách kể chuyện là những điều màngời viết truyện ngắn đặc biệt khai thác để đạt đợc hiệu quả nh mong muốn
Qua ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trớc và qua sự phân tích trên,chúng ta có thể rút ra đặc điểm chính của thể loại truyện ngắn nh sau:
- Truyện ngắn là thể tài tự sự cỡ nhỏ Dung lợng có thể từ vài trang đếnvài chục trang Một câu chuyện kể không đợc dài dòng Chính hình thức ngắngọn làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức kể chuyện đơn giản.Truyện ngắn phải tạo đợc sự liên tởng của ngời đọc
- Truyện ngắn thờng tập trung vào một biến cố, một sự kiện, một mảng
đời nào đó của đời sống và tất cả đợc tập trung trong một không gian, thờigian nhất định
- Truyện ngắn không nhằm khắc họa một tính cách điển hình, đầy đặn,trọn vẹn, nhiều mặt trong mối tơng quan với hoàn cảnh
- Nhân vật truyện ngắn thờng hiện thân cho một trạng thái quan hệ xãhội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ngời Nhân vật trong truyệnngắn thờng rất đa dạng về nghề nghiệp, xuất thân, gia đình
- Bút pháp truyện ngắn thờng chấm phá Nó mang ẩn ý lớn lao tạo thêmchiều sâu cha nói hết
Đó là những đặc điểm cơ bản làm cho truyện ngắn có tiếng nói riêng,
có sức thu hút độc giả, ngời nghe mà mang đến một ý nghĩa lớn lao cho thểloại này
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn.
Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ miêu tả và đối thoại Ngôn ngữtruyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói Những phong cách
nó xen lẫn nhau, hòa hợp, tranh luận, cãi vã và đối chọi nhau ti tiện nh "một
đứa con lai", nó khỏe, đẹp và đầy sức sống
Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải đẹp.Ngôn ngữ tự đối thoại, tự tranh cãi, hay nói cách khác, ngôn ngữ lỡng lự nớc
đôi khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của những khả năng
Mỗi truyện ngắn hay thờng không tự nó đem cho ta một kết luận khẳng
định hay bác bỏ, dứt khoát, áp đặt Nó đặt ra trớc ngôn ngữ sự lựa chọn, haynói nh M Bakhtin là "trớc sự liên minh của lỡng lự"
Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ của truyện ngắn đã phát
biểu: "Truyện ngắn nào của Tsekhov cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta
Trang 11vì chúng đánh thức ở ta ý thức ham muốn "giác ngộ" về sự viết phân vân, đắn
đo hoặc nói nh các nhà hiền triết phơng Đông - biết tìm cái có trong cái không, cái không trong cái có" Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn khiến
cho truyện ngắn có khả năng mở rất lớn
Nhà văn Nga M Gorki nói: Muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn.Bởi, viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viếtcô đọng Nhà văn Ma Văn Kháng đã từng bộc bạch: Câu chữ tiêu dùng chotruyện ngắn là cả một nỗ lực to lớn và nh nó là yếu tố quyết định cho sự thànhbại của một truyện ngắn Truyện ngắn hay ở câu văn Quả là nh vậy, bởi vì cónhững truyện ngắn, nội dung câu chuyện hình nh không có gì là quá đặc sắc
mà khi đọc xong ta thấy d âm mê li của nó vẫn còn mãi Đó chính là câu chữ
đã hút hồn ta đấy Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nói: Chữ trong văn xuôi cần
có men, tôi thấy không có cách nào nói hay hơn Câu chữ trong truyện ngắnnói riêng là men, nó tỏa hơng, nó rủ rê, nó quyến rũ ta, nó là cái hồn của câuchuyện
1.2 Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu.
1.2.1 Cuộc đời và tác phẩm.
1.2.1.1 Cuộc đời.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (tên khai sinh đồng thời cũng là bút danh)sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930, trong một gia đình nông dân tại làng Thơi,xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lu, tỉnh Nghệ An
Trong số các nhà văn sinh vào năm Canh Ngọ thì Nguyễn Minh Châu làngời viết muộn và đợc bạn đọc biết đến cũng muộn Sáng tác của ông không
đồ sộ nhng đều là những trang viết tâm huyết, thấm đợm tinh thần bao dung, u
ái với con ngời, với cuộc đời
Ngay từ khi còn thiếu niên (1944 - 1945) theo học trờng Kỹ nghệ ởHuế, mỗi lần ngồi trên con tàu xuyên Việt, cảnh làng quê đất nớc in đậmtrong ông và sau này tất cả đều hiện lên trang viết của ông
Con đờng đi đến tài năng, con đờng để đến với bạn đọc của ông khôngphải bằng phẳng, mà nó gập ghềnh nh con đờng đi vào xứ Nghệ quê ông Đầunăm 1950, là học sinh chuyên khoa trờng Huỳnh Thúc Kháng, sau đó vào bộ
đội, theo học trờng sĩ quan Trần Quốc Tuấn Vào bộ đội với nghề chính là sĩquan tham mu, thời trai trẻ của ông gắn liền với những chiến dịch Đó là mộtcuộc đời không một lúc dừng chân với súng đạn và cơm nắm, cơm đùm phiêubạt khắp mặt trận Cả cuộc đời trai trẻ của ông không có thời gian để nghĩ đếnchữ nghĩa văn chơng, nhng đó chính là thời gian ông tích lũy đợc khá nhiềukinh nghiệm Mãi đến đầu 1960 khi thấy có khả năng viết, quân đội điều ônglên làm trợ lý văn hóa của Tổng cục chính trị Thời gian này trên văn đàn ViệtNam đã có hàng loạt những tên tuổi sáng giá nh: Chính Hữu, Vũ Cao, Nguyễn
Trang 12Khải, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyên Ngọc và Nguyễn Minh Châu đã làm
"choáng ngợp" độc giả với sự ra đời của cuốn tiểu thuyết đầu tay "Cửa sông"
Từ đây, sự nghiệp văn học của ông bắt đầu và phát triển mạnh mẽ cho đến khi
ông mất tại Hà Nội vào ngày 23 tháng 1 năm 1986
Nguyễn Minh Châu sống, viết và suy nghĩ về cuộc đời, về văn học, vềnghề luôn luôn với thái độ nghiêm túc, một tinh thần hết mình Ông là mộttrong số rất ít các nhà văn mặc áo lính đợc bạn bè nớc ngoài biết tới qua nhiềutác phẩm Nhắc đến văn học Việt Nam đơng đại không một tác giả, khôngmột nhà nghiên cứu, nhà phê bình nào lại không nhắc đến ông Ông là nhà vănduy nhất vinh dự đợc Bộ Quốc phòng trao "giải thởng đặc biệt" cho những tácphẩm văn học nghệ thuật xuất sắc 5 năm (1984 - 1989)
1.2.1.2 Tác phẩm.
Tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Minh Châu thuộc nhiều thể loại:
- Cửa sông (tiểu thuyết - 1967)
- Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn - 1970)
- Dấu chân ngời lính (tiểu thuyết - 1972)
- Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi - 1974)
- Miền cháy (tiểu thuyết - 1977)
- Lửa từ ngôi nhà (tiểu thuyết - 1977)
- Những ngày lu lạc (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi - 1981)
- Những ngời đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết - 1982)
- Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành ( tập truyện ngắn - 1983)
- Đảo đá kỳ lạ (viết cho thiếu nhi - 1985)
- Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết - 1987)
- Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn - 1987)
- Cỏ lau (tập truyện vừa - 1989)
- Trang giấy trớc đèn (tiểu luận phê bình - 1994)
Và nhiều bút ký, truyện ngắn đăng trên các báo
Với những cống hiến xuất sắc của mình trong hoạt động văn học nghệthuật, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đợc nhận:
- Giải thởng Bộ Quốc phòng (1984 - 1989) cho toàn bộ tác phẩm viết vềchiến tranh và ngời lính
- Giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam (1988 - 1989) cho tập truyện vừa
"Cỏ lau"
Trang 13- Giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho tác phẩm "Dấu chânngời lính", "Cửa sông", "Cỏ lau", "Ngời đàn và trên chuyến tàu tốc hành".
1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
"Cho đến nay, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu vẫn là đề tài trao
đổi khá thú vị giữa các nhà văn, nhà phê bình, không chỉ là sự tranh cãi giữa những ngời đồng tình và không đồng tình, mà giữa những ngời yêu thích truyện ngắn của ông cũng mỗi ngời thích một cách, và có ngời còn băn khoăn, ngần ngại cũng do ở chỗ mỗi ngời hiểu truyện của anh một cách Đối với ngời viết, đó quả là một điều hạnh phúc, lý thú" (Trần Đình Sử).
Quả là nh vậy, dù truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đợc giới nghiêncứu chú ý muộn hơn thể loại tiểu thuyết nhng đã gây đợc sự tò mò, hứng thú của
đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình trong nớc và cả nớc ngoài
Trong lời bạt cho tập truyện "Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành",GS-TS Xô Viết N.I Niculin phân tích: Cảm hứng các tác phẩm của NguyễnMinh Châu nh tự anh nói, trớc hết là cố gắng "tìm cái hạt ngọc ẩn dấu trong
bề sâu tâm hồn của ngời viết" Nhà văn dờng nh vợt lên khỏi cái hàng ngày vàhớng về cái đẹp đẽ của cuộc đời, cái đẹp dờng nh thoát khỏi gánh nặng của cáixấu, bay vợt lên khỏi cái thờng nhật Truyện ngắn "Mảnh trăng cuối rừng" đợcviết bởi chính chìa khóa này
Với quan niệm "mỗi con ngời đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp
đẽ, kỳ diệu đến nỗi cả một đời cũng cha đủ để nhận thức, khám phá tất cảnhững cái đó" Nguyễn Minh Châu say sa thể hiện ý tởng sáng tạo của nhữngnhân vật chính diện, qua việc xây dựng tình huống và xu hớng phát triển logictác phẩm khiến cho truyện và ký trớc năm 1975 của ông thờng lấp lánh vẻ đẹplãng mạn và dồi dào chất thơ Điều này khác hẳn với những sáng tác của ôngsau 1975 Khi Nguyễn Minh Châu bị giằng xé giữa hai đề tài văn học: chiếntranh và xây dựng CNXH nh ông tâm sự, thì tác phẩm của ông xuất hiện vớinhững cách trình bày và lý giải hiện thực mới Vẫn là một Nguyễn Minh Châutài hoa, tinh tế trong những phát hiện và phân tích, miêu tả hiện thực cuộcsống và tâm lý nhân vật - nhng trong giai đoạn này, sự tài hoa, tinh tế khôngbay bổng trên đôi cánh lãng mạn, hùng tráng chất sử thi của một thời mà thểhiện qua bút pháp trầm tĩnh đề cập những góc cạnh xù xì, phức tạp của cuộcsống, vì thế nó hớng đến tính đa dạng và phổ quát
Trong "Bức tranh", phải chăng sau chiến tranh ngời ta mới có điều kiệnbình tâm để nhìn rõ hơn những góc khuất, những khoảng trống còn tồn tại là
có thật, những phức tạp mới nảy sinh nh hệ quả tất yếu của một cuộc trờngchinh vĩ đại mà chính Nguyễn Minh Châu đã từng dự cảm Phải chăng khi đó,không tính những điều gợi ra sự "vô nghĩa" trong những thứ "đồ đạc" nh vừa
Trang 14mới ẩn dụ kia, nhà văn sẽ còn đối diện với hai vấn đề: kỷ niệm đẹp đẽ và niềm
"trong con ngời tôi đang sống lẫn lộn ngời tốt kẻ xấu, rồng phợng lẫn rắn rết,thiên thần và ác quỷ"; hay một cô Quỳ quyến rũ, đầy sức sống, có khả năngthuyết phục ngời khác bằng một tình yêu một ánh chớp cơn giông lay thứctâm hồn của mỗi con ngời để quyết định đời mình Tất cả những điều đó trởthành đối tợng để Nguyễn Minh Châu khám phá, sáng tạo nên hàng loạt cáctruyện ngắn của ông, mỗi truyện đều thể hiện dới dạng cấu tứ một luận đề
"Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành" phê phán cách nhìn lý tởng hóa nhữngngời anh hùng, coi họ là những "thánh nhân" Hay trong "Bức tranh", NguyễnMinh Châu đã cho nhân vật họa sĩ tự lột mặt nạ, tự nhận bột mặt bên trong giảdối, tệ bạc của mình, đó là bộ mặt "xấu xí lạ lùng"
Tuy nhiên, những sự thể nghiệm của nhà văn không đợc tất cả d luận
đồng tình, chia sẻ Và những sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt làtruyện ngắn, từng là nội dung tạo nên không khí tranh luận sôi nổi trong sinhhoạt văn học một thời kỳ Tiêu biểu nhất là cuộc "Trao đổi về truyện ngắn củaNguyễn Minh Châu những năm gần đây", nhà văn Đào Vũ đã nói rằng:
"Chúng tôi cho rằng những năm vừa qua, tiểu thuyết và cả truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu có nhiều thành tựu, có nhiều đóng góp đáng quý Chúng tôi tin ở tấm lòng của anh, cũng nh ở tài năng của anh, chúng tôi trân trọng
và nâng niu từng trang viết của anh Nhng cũng phải nói thật lòng, bên cạnh niềm vui và cả niềm tự hào về ngời bạn viết của mình, chúng tôi có không ít những băn khoăn về một số truyện ngắn của anh những năm gần đây Khi lớt một vòng nhận mặt lại những nhân vật, truyện ngắn ấy dờng nh có những con ngời lạ lẫm quá Đọc xong truyện này, truyện kia, cứ phải loay hoay tìm mãi xem vấn đề anh đặt ra là gì vậy ? Mối quan hệ giữa cuộc sống sôi động trong lao động và chiến đấu của cuộc sống đợc tái tạo trong trang viết của anh thế nào đây ? Ngòi bút anh trăn trở, tìm kiếm, tìm ra sao và tìm tới đâu ? Còn ng-
ời đọc có phải đang đi tìm lại Nguyễn Minh Châu hôm qua Có lúc thấy dờng
nh tác giả bối rối điều gì đó, nhng lại có lúc sợ rằng chính mình bối rối".
1.3 Xung quanh định nghĩa câu và hớng tiếp cận.
Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về câu Theo thống kê của
bà A Akhmanôva, có trên 300 định nghĩa về câu Chúng tôi quy về những h ớng chính sau:
-1.3.1 Hớng định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa.
Trang 15Định nghĩa về câu theo tiêu chí về ý nghĩa từ lâu đã đợc các nhà ngônngữ học thế giới thừa nhận, nh Aristốt thế kỷ V trớc công nguyên, hay họcphái ngữ pháp Alêchxanđri.
ở nớc ta thời kỳ đầu của ngữ pháp tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũngkhông vợt qua khỏi phạm vi này với các tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn
Lân Tác giả Trần Trọng Kim cho rằng: "Câu lập thành bởi mệnh đề có nghĩa hoặc hai hay nhiều mệnh đề" [Dẫn theo 12Tr 311] Nh vậy, hớng định
nghĩa này quan tâm đến mặt ý nghĩa nhng lại bỏ qua mặt hình thức biểu thịcủa câu
1.3.2 Hớng định nghĩa câu dựa theo quan điểm ngữ pháp duy lý (mệnh đề).
Các nhà ngữ pháp duy lý nghiên cứu câu gắn liền với phán đoán, họ chorằng mọi lời nói đều là phán đoán hay một chuỗi phán đoán Mà phán đoándiễn đạt bằng các từ, chính là cái mà ngời ta gọi là mệnh đề Vậy, mọi lời nói
đều là mệnh đề hay một chuỗi mệnh đề Quan điểm này chỉ phù hợp với việcnhận diện câu về mặt logic
1.3.3 Hớng định nghĩa câu dựa vào hành động phát ngôn.
Tác giả E Sapir (1921) định nghĩa câu dựa vào hành động phát ngôn:
"Câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành động của t duy" [Dẫn theo
12 Tr310] Việc định nghĩa câu dựa trên định hớng triển khai của t duy đã dẫn
đến việc phân loại câu theo hớng cấu trúc - ngữ nghĩa, cấu trúc đề - thuyết.Tác giả Cao Xuân Hạo đã chọn cách phân loại này để phân loại câu theo cấutrúc
1.3.4 Hớng định nghĩa câu dựa vào mặt hình thức.
Theo hớng này có các tác giả F.F Phooctunatôp, L.E Thompson Tác
giả F.F Phooctunatôp đa ra định nghĩa thiên về hình thức: "Câu là một tổng hợp từ với một ngữ điệu kết thúc" [Dẫn theo 12 Tr311].
Hớng định nghĩa này chỉ dựa vào tiêu chí hình thức mà bỏ qua phầnquan trọng là ý nghĩa cũng nh cấu trúc của câu
1.3.5 Hớng định nghĩa câu dựa đồng thời vào hai mặt cấu trúc và ngữ nghĩa.
Trong những năm cuối thế kỷ XX, các nhà ngữ pháp học đã nhận thấynhững hạn chế của các hớng nghiên cứu chỉ dựa vào tiêu chí hình thức haytiêu chí ý nghĩa để định nghĩa hoặc phân loại câu Chính vì thế họ đi theo h-ớng mới, dựa đồng thời vào cả hai tiêu chí cấu trúc và ý nghĩa khi nghiên cứu
về câu Theo hớng này có đông đảo các tác giả nh: Nguyễn Kim Thản, DiệpQuang Ban, Phan Thiều, Lê Cận, Hoàng Văn Thung, Hồ Lê, Hồng Dân,Hoàng Trọng Phiến, Hữu Quỳnh, Đỗ Thị Kim Liên
Trang 16Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi không đi sâu vào các định nghĩacâu theo tiêu chí hình thức - ý nghĩa mà chỉ chọn định nghĩa sau đây của giáo
s Diệp Quang Ban làm cơ sở lý thuyết để từ đó đi vào phân loại các kiểu câu
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu "Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tơng đối trọn vẹn trong thái độ, sự đánh giá của ngời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt t tởng tình cảm, câu đồng thời là
đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ" [Dẫn theo12 Tr312].
Trang 17Ch ơng II
Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn
nguyễn minh châu xét về mặt cấu trúc
2.1 Thống kê và phân loại
Sự phân loại trong câu truyện hiện nay trong ngôn ngữ học khá phứctạp, dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau Có thể dựa vào mặt cấu tạo ngữpháp hay dựa vào mục đích giao tiếp…
ở đây chúng tôi khảo sát câu văn Nguyễn Minh Châu qua việc tìm hiểucấu trúc câu văn tác giả - là câu văn do nhà văn thể hiện, câu văn nhân vật - làcâu văn thể hiện thông qua lời thoại nhân vật, để qua đó khảo sát các kiểu câu
mà Nguyễn Minh Châu sử dụng, quy tắc hoạt động của chúng và đặc điểmchung của chúng
Chúng tôi khảo sát 2329 câu trong năm truyện ngắn của Nguyễn MinhChâu và phân loại chúng nh sau (xem bảng 1)
1296 câu, chiếm 55,4% Chúng tôi lấy kết quả ở bảng 1 làm cơ sở để phânloại sâu hơn ở các phần sau nhằm tìm ra đặc điểm câu văn trong truyện ngắnNguyễn Minh Châu
2.2 Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu xét về cấu trúc
Qua việc khảo sát câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,chúng ta thấy rằng trong tác phẩm, số câu văn tác giả và câu văn nhân vậtkhông phải lúc nào cũng bằng nhau, cũng đồng nhất nhau về số lợng từ mà nódài, ngắn khác nhau ở đây để thuận lợi cho việc thống kê, phân loại, lý giảitrong quá trình phân tích, chúng tôi tạm gọi kiểu câu thứ nhất là câu với số l -
Trang 18ợng 10 âm tiết trở xuống và kiểu câu thứ hai là câu với số lợng 10 âm tiết trởlên.
điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
a Câu dới 10 âm tiết:
Trong tổng số 324 câu văn dới 10 âm tiết trong câu văn tác giả, chúngtôi nhận thấy rằng: Câu văn ngắn nhất chỉ có một từ, nhng số lợng loại câunày không nhiều
Thí dụ: <1> Trong tổ đá của chị tôi có một cô tên là Nguyệt
Phải (I,Tr 21).
<2> Một trong hai ngời ai là ngời tôi sắp tìm đến?
Ai? (I,Tr 21).
Chiếm tỉ lệ nhiều trong câu dới 10 âm tiết là các câu có số lợng từ hai từ trở lên
Trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, loại câu dới 10 âm tiết trongcâu văn tác giả thờng xuất hiện trong các trờng hợp sau:
+ Câu dới 10 âm tiết thờng đợc dùng để giới thiệu lời thoại của nhân vật
Thí dụ: <3> Tôi ngạc nhiên hết sức, hỏi vặn:
- Sao cậu tự động, vô nguyên tắc thế hử?
- Nguyên do thế này anh ạ … thế này (I,Tr 18)
<4> Ngừng một lát, Liên hỏi tiếp:
Trang 19- Anh cứ tập tành và uống thuốc cho đều Sáng tháng mời nhất
định anh đi lại đợc
- Vậy thì đầu hoặc giữa tháng mời một, anh sẽ đi thành phố HồChí Minh một chuyến (IV,Tr246)
<5> Tôi gợi chuyện:
- Bức tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ?
- Anh nhà tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là ngời ta
vẽ anh ấy Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B, cho nên mới mua
ở thí dụ <4> là lời giới thiệu cuộc hội thoại giữa ngời chồng bệnh tậtNhĩ và Liên, ngời vợ đảm đang, hiền dịu
ở thí dụ <5> lại là lời giới thiệu cuộc nói chuyện của chính nhân vật tôivới một ngời vợ của ngời lính thồ tranh năm nào khi anh đến hiệu cắt tóc củangời lính ấy
+ Câu ngắn d ới 10 âm tiết dùng để miêu tả
Trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, câu đợc sử dụng để miêu tả ờng là câu lớn, lớn hơn 10 âm tiết nhng câu ngắn đợc sử dụng để miêu tả cũngchiếm một tỉ lệ tuy không lớn nhng khá quan trọng
th-Trong câu văn tác giả, câu dới 10 âm tiết dùng để miêu tả là 55 câu chiếm
tỉ lệ 20% Trong đó gồm có hai loại câu miêu tả khác nhau Loại câu miêu tả thứnhất là miêu tả lời của nhân vật và loại câu thứ hai là miêu tả cảnh vật
Thí dụ: <6> Cái cách xử sự của ngời chiến sĩ đối với tôi chỉ có thể giải
thích bằng lòng độ lợng Độ lợng?
Thế nhng tôi nhiều tuổi hơn? (V,Tr 379)
<7> Tôi thở phào và nói đùa một câu nhạt thếch!
Lòng tôi rối nh tơ vò (I,Tr 27)
<8> Thật chán hết sức Thế là bay đi một ngày phép (I,Tr35)
<9> Anh ấy đỡ lấy tôi, giúp tôi rút cái chân lên Rồi dìu tôi đi Tôi thở dốc Mồ hôi rơi vã nh tắm (V,Tr 378)
Trang 20- Câu văn miêu tả cảnh vật: Đó là những cảnh vật hiện ra trớc mắt tác giả Đó
có thể là những ngọn núi, những hàng cây, con đờng hay là những đám mâytrên bầu trời…
Thí dụ: <10> Đờng sá núi non cứ rung chuyển ầm ầm (I, Tr 25)
<11> Một dải sơng tím sà xuống trên những luống cỏ (III,Tr 225) <12> Chiều sậm dần xuống (II,Tr 41)
<13> Cái hiệu quen sạch sẽ, thơm phức (II,Tr 41)
b Câu lớn hơn 10 âm tiết
Nh đã nới ở trên, khái niệm câu ngắn, câu dài ở đây đợc chúng tôi đặt ra
và áp dụng trong phạm vi câu văn tác giả và câu văn nhân vật trong truyệnngắn Nguyễn Minh Châu chứ chúng tôi không có ý đặt tên cho một loại câutrong việc phân loại câu tiếng việt
Loại câu trên 10 âm tiết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, thờngmiêu tả những biều hiện đa dạng về dáng vẻ, hành động của nhân vật Loạicâu này chiếm số lợng lớn
<14> Qua làn ánh đèn lù mù của đoàn xe xích lao đi ầm ầm bên cạnh, tôi kịp nhận thấy vẻ xinh đẹp của cô gái, một vẻ đẹp giản dị và mát
mẻ nh sơng núi toả ra từ nét mặt và tấm thân mảnh dẻ, khác hẳn với nhiều cô gái công trờng thờng thấp và đẫy đà Cô ta mặc áo xanh chít hông vừa khít, mái tóc dày tết thành hai dải Chiếc làn và chiếc nón mới trắng loá khoác ở cánh tay một cách nhẹ nhàng (I,Tr 25) Miêu tả hình dáng bên
ngoài của nhân vật Nguyệt với vẻ xinh đẹp, nhẹ nhàng
<15> Bằng một vẻ thản nhiên và thoải mái, thậm chí hơi phóng khoáng, ngời đàn bà mến khách và hết sức nhiệt tình với bộ đội đói đang từ
từ ngoài vờn vào sau nhà, vội vã giơ tay sửa lại chiếc khăn xanh trùm đầu rồi đa mắt nhìn hai ngời, cặp mắt rất đẹp nhng vẫn còn ẩn náu cái ánh xanh của tuổi hai mơi chỉ nhìn lớt qua rất nhanh trên gơng mặt Thụy, rồi liền quay về phía Nhĩ (II,tr 44) Miêu tả từ vẻ bên ngoài để tập trung miêu
tả đôi mắt củangời phụ nữ
<16> Khuôn mặt hơi gầy, không đẹp lắm, nhng theo tôi, rất thông minh, và đặc biệt, ngoài trẻ con ra, tôi cha hề gặp một khuôn mặt nào lại
cứ luôn thay đổi sắc thái nh vậy (III, Tr 138) Tập trung miêu tả khuôn
mặt nữ y tá Quỳ
<17> Rồi Liên xuống thang, vẫn cái tiếng bớc chân rón rén quen thuộc, suốt cả một đời ngời đàn bà trên những bậc gỗ mòn lõm (IV,Tr 247)
Miêu tả hoạt động của ngời phụ nữ luôn tận tụy với chồng con
<18> Tôi không phải loại ngời say mê môn bóng đã đến mức quá khích nh một số ngời khác, nhng cái bài tờng thuật trận đấu bóng khéo
Trang 21quá, đã hấp dẫn tối đến mức ngời thợ cắt tóc đã trở về lúc nào tôi không biết, tôi cứ để mặc cho ngời thợ cắt tóc quấn vào ngực chiếc khăn choàng, rồi dùng lợc chải qua mái tóc, rồi bấm thử tông-đơ tanh tách bến trái, rồi hình nh anh ta kêu tôi để tóc tốt quá lâu không chịu cắt (V,Tr 383) Miêu
tả hoạt động của nhân vật khác tác động đến nhân vật để gián tiếp miêu tảnhân vật
1296 câu văn nhân vật, câu văn dới 10 âm tiết là 142 câu, chiếm tỉ lệ 11%.Còn câu văn trên 10 âm tiết là 1154 câu, chiếm 89%
a Câu dới 10 âm tiết:
Khác với câu văn dới 10 âm tiết trong câu văn tác giả thờng chỉ mộtnhân vật, câu văn dới 10 âm tiết trong câu văn nhân vật thờng là những câuhội thoại giữa các nhân vật với nhau
- Cô lên cầu Đá Xanh có việc gì?
- Em là công nhân giao thông Anh gì ban nãy đã xem chứng minh th rồi Em về đơn vị có chút việc (I,Tr 20)
Trang 22<20> Ngời cha sắp từ giã cõi đời đang giấu một tâm sự bí mật gì đó
trong cái vẻ lúng túng Anh ngớc nhìn ra ngoài cửa sổ một lầnnữa rồi quay vào bất chợt hỏi:
- Đã bao giờ Tuấn … sang bên kia ch sang bên kia ch a hả?
- Sang đâu hả bố?
- Bến kia sông ấy!
Anh con đáp bằng vẻ hững hờ
- Cha … sang bên kia ch (IV,Tr 248)
<21> Bà cụ lại ngớc mặt lên nhìn tôi nh lần trớc, khuôn mặt đờ đẫn và
- Tôi có phải cút khỏi đây không?
- Không Anh cứ đến đây Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết
đấy! (V,Tr 296)
+ Dạng giới thiệu và đáp lời
Thí dụ <23> Trời ơi, không biết tôi có lầm không?
- Ngời đàn bà chủ nhà bỗng kêu lên bằng một giọng đầy khắckhoải
- Hạnh! Tôi là An đây!
- Anh! Em đi tìm anh suốt bao nhiêu năm, anh có biết không?
(II,tr 60)+ Dạng hỏi đáp mà có thái độ khuyên nhủ
Thí dụ: <24> Còn giấc ngủ?
- Mỗi đêm đợc khoảng bốn, năm tiếng
- Vậy đừng uống mê-tro-mát nữa Phải tự luyện giấc ngủ, bằng
cách nào đó thì luyện giấc ngủ sinh lý tự nhiên bao giờ cũng tốthơn, chóng bình phục hơn
ở thí dụ 21 câu ngắn đợc sử dụng để Lãm và Nguyệt nói chuyện vớinhau khi xe của Lãm gặp sự cố
ở thí dụ 20 ngời cha hỏi ngời con, tính chất khuyên nhủ nhng qua đónói lên ớc vọng, khát vọng suốt đời của ngời cha là qua bên kia sông mà chathực hiện đợc Và dờng nh anh muốn con trai thay mình thực hiện nguyệnvọng đó
Trang 23ở thí dụ 23 hai ngời yêu nhau sau mấy chục năm họ mới gặp lại nhau.Câu ngăn chỉ là một âm tiết hay bốn âm tiết nhng nó chứa đựng biết bao tìnhcảm của hai ngời đã dồn nén, chân chất bấy lâu.
ở thí dụ 24 là sự qua tâm, săn sóc, hỏi han của cô nữ y sĩ Quỳ với anhbệnh nhân mới vào, nó còn mang tính chất khuyên nhủ
b Câu trên 10 âm tiết:
Câu trên 10 âm tiết trong câu văn nhân vật thờng là lời kể của nhân vật
về cuộc đời mình Đó là những sự việc, sự kiện đã xảy ra, đang xảy ra trongcuộc sống của mình Câu trên mời âm tiết chủ yếu kể lại những sự việc trongquá khứ
<25>Trong mời một tiếng đồng hồ, nghĩa là gần suốt đêm hôm ấy, tôi không dám rời mắt khỏi khuôn mặt anh ấy, và suốt đêm, tôi lại thấy cái nụ cời bí ẩn luôn luôn trở lại cứ phẳng phất trên môi anh ấy, cũng giống nh cặp mắt luôn luôn trầm tĩnh, vô cùng trầm tĩnh trong mọi hoàn cảnh của anh ấy mà tôi vẫn không bao giờ quên đợc, khi anh ấy đang chiến đấu và làm việc, nh một nét đặc trng của con ngời (II,Tr 167).
<26> Từ bấy giờ, tôi coi mẹ Hậu nh một ngời mẹ thứ hai của tôi Khi
đã lấy chồng cũng nh khi cha lấy chồng, mỗi năm vài ba lần hoặc khi rảnh rỗi công việc tôi lại đáp tàu hoả trở về ngôi nhà gỗ cũ kĩ ấy, giải chiếu xuông cái nền đất mát rợi gối đầu lên cánh tay nhìn qua ngạch cửa, lại thấy những mảng nắng đuổi nhau trên một dải sáng lấp lánh nh dát bạc rồi tiếp tục đuổi nhau trên những bãi cỏ, bãi mía xanh rờn bên kia sông Châu, lại đợc trông thấy cái dáng ngời mẹ quê mùa đang lúi húi làm lụng giữa ngôi vờn cây trái um tùm và khi chợt ngẩng lên, lần nào cũng vậy, sau câu chào hỏi vội vã của tôi, bao giờ mẹ tôi cũng kêu lên một tiếng Cha“
mày, tàu bè khó khăn, chen chúc thế này, về làm gì luôn cho khổ hả con?”
(III,Tr 193)
ở thí dụ 25 quỳ kể lại mời một tiếng đồng hồ chị giành giật sự sống với
tử thần của ngời chỉ huy xuất sắc và cũng là ngời yêu mến của chị Trong thờigian ấy, không một giây phút nào mắt chị rời khỏi anh Chính chị là ngời đãgiữ ạnh lại với trần gian hơn mời tiếng đồng hồ qua
Còn ở thí dụ 26 chính là sự bình yên, sự thanh bình của làng quê Hậu,nhà mỗi khi về đó Quỳ luôn thoải mái và nhẹ nhỏm, bởi nơi đó còn có bà mẹrất dịu dàng và thơng yêu cô
Nh
vậy , trong năm truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu hầu nh số lợngcâu văn trên 10 âm tiết chiếm tỉ lệ lớn hơn những câu văn dới 10 âm tiết rấtnhiều Có thể nói đây là một điểm nổi bật góp phần làm nên một phong cáchriêng trong ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Và không phảingẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu sử dụng nhiều dạng câu dài này thế Văn
là ngời, theo chúng tôi, lý do đích thực chính là ngay trong con ngời mộc mạc,dản dị, mà cuộc đời luôn gắn với ngời lính, với những trận đánh, những cuộc
Trang 24hành quân Lối nói dài dòng, chồng chất thông tin, sự kiện, của ngời lính đãtheo ông đi vào tác phẩm tạo nên những câu văn dài, rất dài.
Dạng 1: Câu có một kết cấu C-V duy nhất làm nòng cốt
Dạng 2: Câu có từ hai kết cấu C-V trở lên trong đó chỉ có một kết cấu C-V
Trang 25<31> Nguyệt đang đứng cheo leo giữa vách núi, trên vai vác một
chiếc khoan, đôi mắt đen láy ngây thơ nhìn ra xa (I,Tr 37)
Về mặt cấu tạo của câu đơn có chủ ngữ thờng do danh từ và ngữ danh từ
đảm nhiệm và vị ngữ thờng do động từ, ngữ động từ hoặc tính từ, ngữ tính từ
đảm nhiệm
Trong loại câu đơn chỉ có thành phần chính này có những câu đơn chỉ
có một chủ ngữ và một vị ngữ làm nòng cốt câu nh thí dụ 27, 28, 29, 30, > loạicâu đơn có một chủ ngữ và nhiều vị ngữ nh thí dụ <31>
Thí dụ: <32> Qua bên kia sông, Anh chống gậy tập tễnh đi bộ suốt cả ngày
giữa nắng chang chang, tìm về cái phố tre nứa của những ngời dân tứchiêng từ các thị xã và thành phố trong vùng địch chiếm tản c ra (II,Tr50)
<33> Sát bên kia bờ của dải đất lở dốc đứng bên này, một đám đông
khách đợi đò đang đứng nhìn sang (IV,Tr 250)
<34> Nh một đứa trẻ hà hơi cho một con chim non, tôi cúi xuống
sát mặt anh ấy, gắn môi mình lên cặp môi của anh đang đông cứng lại(III,Tr 166)
So với các thành phần khác, thành phần phụ là trạng ngữ đợc nhà văn NguyễnMinh Châu sử dụng khá nhiều trong truyện ngắn của mình Các trạng ngữ mà
ông thờng sử dụng là trạng ngữ chỉ thời gian, không gian Đây là hai trạng ngữ
đề cập đến khoang cảnh mà sự cố xảy ra, trạng ngữ chỉ cảnh cũng đợc sử dụngnhng tần số thấp hơn
+ Câu đơn có thành phần phụ giải thích
Giải thích ngữ là thành phần phụ của câu, nó thờng do từ, cụm từ, kếtcấu C-V chen vào giữa nòng cốt C-V, tách nòng cốt đó bằng ngữ điệu, nhằmlàm sáng tỏ một phơng diện nào đó của cả câu nh bình chú, chú giải, giảithích
Trang 26Trong câu văn của Nguyễn Minh Châu thành phần này đợc đa từ bênngoài vào để giải thích, bình chú thêm một chi tiết về tình cảm, thái độ.
Thí dụ: <35> Nhà tôi đã dịnh dọn về dới Thái từ ngày mới hợp nhất tỉnh
Ông Phái giảng giải (II,Tr 54)
<36> Tôi lấy chồng cách đây một năm,- Quỳ Kể (III,Tr145)
<37> Ngoài cửa sổ lúc bấy giờ những bông bằng lăng đã tha Cái giống hoa ngay khi mới nở, màu sắc đã nhợt nhạt (IV,Tr 244)
<38> Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại
để đu mình nhô ngời ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía
ngoài cửa sổ khoát khoát - Y nh đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngời nào đó (IV,Tr 252)
So với truyện ngắn của Nguyên Hồng thì Nguyễn Minh Châu sử dụng loạithành phần giải thích cao hơn
+ Câu đơn có thành phần phụ chuyển tiếp
Nguyễn Minh Châu sử dụng kiểu thành phần phụ này trong câu nhằmmục đích để nối tiếp nó với câu phía trớc Vì thế muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩacủa câu thì phải đặt nó trong mối qua hệ với câu trớc đó Thành phần phụchuyển tiếp trong truyện ngắn của ông thờng do các quan hệ từ nh: cho nên,vì,… đảm nhận
Thí dụ: <39> Cho nên tôi cảm thấy mình nh một kẻ chịu ơn (I,Tr 23)
<40> Vì anh vẫn đầy lòng tin vào hai bàn tay của anh (III,Tr 146 ) <41> Nhng chính tôi lại bắt giữ tôi lại (V,Tr 390)
+ Câu đơn có thành phần phụ tình thái
Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu, thờng đứng đầu câu (hoặc cuốicâu), tách nòng cốt C-V đứng đầu câu (hoặc cuối câu), tách nòng cốt C-Vbằng ngữ điệu nhằm thể hiện tình cảm, cảm xúc của ngời nói hoặc dùng đểgọi đáp So với Nam Cao ông thờng sử dụng lối từ tình thái này cao hơn thểhiện thái độ kêu ca, than vãn, trách móc
Còn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ông sử dụng câu đơn cóthành phần phụ tình thái nhằm thể hiện sự gọi đáp của nhân vật hay thể hiệnthái độ, cảm xúc của ngời viết
Thí dụ: <42> Chết thật, cô ta bị thơng rồi (I,Tr 33)
<43> ừ cũng lạ, hồi đang còn chiến tranh, mỗi lúc ra vùng giáp ranh
để xuống đồng bằng, phải đi qua những cánh đồng bỏ hoang quanhchân các đồn bốt, mình vẫn thấy tiếc, thấy xót ruột, nhng chỉ đến saungày hoà bình mới càng thấy tiếc từng tấc đất bỏ hoang (III,Tr 202)
Trang 27<44> Hôm nay có trám đen, đã đến mùa trám đen rồi
- Bác Nhĩ ạ! (II,Tr 45)
+ Câu đơn có thành phần phụ là đề ngữ.
Đề ngữ là thành phần phụ của câu, thờng đứng trớc nòng cốt C-V, táchnòng cốt đó bằng ngữ điệu hoặc trợ từ thì Đề ngữ thờng có quan hệ ngữnghĩa với một thành phần nào đó ở trong câu nhng đợc đa lên đầu câu nhằmmục đích nhấn mạnh nh một chủ đề
Loại câu này đợc Nguyễn Minh Châu sử dụng trong truyện ngắnkhông nhiều
đáng kể Cụ thể là trong 2329 câu thì có 192 câu đặc biệt, chiếm tỉ lệ là 8,3%
Câu đặc biệt là kiểu câu mà trên bề mặt cấu tạo chỉ có một thành phần
do một từ hoặc một cụm danh từ, cụm từ tính từm, cụm động từ đảm nhận
Dựa vào những đặc trng về cấu tạo, ngữ ngĩa, ngữ điệu, ngữ cảnh màngời ta chia câu đặc biệt thành ba nhóm: Câu đặc biệt tự thân, câu đặc biệttỉnh lợc và câu đặc biệt tách biệt Sau đây chúng tôi sẽ lần lợt trình bày đặc
điểm của các kiểu loại câu đặc biệt
b1 Câu đặc biệt tự thân
Là kiểu câu mà về mặt cấu tạo chỉ có từ, cụm từ Trong ngữ cảnh chophép, chúng có khả năng xuất hiện nh thế, không thể tiếp nhận thêm yếu tốmới vào cấu trúc vốn có về mục đích nói, chúng không nhằm mục đích nhấnmạnh Loại câu đặc biệt tự thân gồm hai nhóm: Câu đặc biệt danh từ và câu
đặc biệt vị từ
Câu đặc biệt danh từ là do danh từ, cụm danh từ đảm nhận, câu đặc biệt
có vị từ là do động từ, cụm động từ hoặc tính từ, cụm tính từ đảm nhận
Câu đặc biệt tự thân trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đợc biểuhiện ở các dạng sau:
Câu do danh từ và ngữ danh từ làm nòng cốt
+ Dùng để gọi đáp
Thí dụ: <46> Hạnh! Tôi là An đây!
Trang 28-Anh! Em đi tìm anh suốt bao nhiêu năm trời anh có biết không?
(II,Tr 60)
<47> Chờ Liên xuống tầng dới tồi Nhĩ mới lên tiếng:
- Tuấn, Tuấn à! (IV,Tr 247)
- Bên kia sông ấy! (IV,Tr 248)
<59> Anh ấy dời ra phố ngoài kia
- Cách mấy ngõ thôi (V,Tr 391)
<60> Xa lắm, xa lắm, tận Tây Nam
Câu đặc biệt tự thân do vị từ đảm nhận
+ Dùng để nêu hành động ngăn cản
Trang 29Thí dụ: <61> Tôi sốt sắng bàn với anh kiếm củi nhen lửa để tôi vẻ ngay, nhng
anh ngăn lại Đừng đốt lửa!“ ” (V,Tr 380)
- Thế nào, kể tiếp đi! (I,Tr 34)
<64> Ngủ đi, ngời mẹ nói rất khẽ quá nữa đêm rồi đấy Hơng ạ (II,Tr
158)
+ Nêu tính chất của một sự vật hiện tợng
Thí dụ: <65> Mát quá, trong quá, lại ngọt nữa! (II,Tr 54)
<66> Anh mệt lữ Và đau nhức (IV,Tr 249)
b2 Câu đặc biệt tỉnh l ợc
Đây là kiểu câu chỉ có một hoặc một số thành phần hay nói cánh khác
là câu không đầy đủ thành phần Nhờ mối quan hệ với các câu khác trong văncảnh mà ngời phát ngôn có thể tỉnh lựơc đi một hoặc một số thành phần nào
đó và cũng chính nhờ văn cảnh mà các thành phần bị tỉnh lợc có thể đợc khôiphục đầy đủ và chính xác để trở thành câu có đầy đủ thành phần Câu tỉnh lợcchỉ xuất hiện trong văn cảnh hội thoại và có quan hệ chặt chẽ với các câu trớc
- Cách đây ba, bốn tháng (I,Tr 26)
<68> Mặt mũi sáng sủa đấy chứ? Lái xe à ? (I,Tr 36)
<69> Vì mục đích phục vụ số đông của ngời nghệ sĩ cho nên anhquên tôi hả…
- Có quyền lừa dối hả? (V,Tr 389)
<70> Hôm trớc tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ…
Trang 30- Anh ấy, một trung đoàn trởng mới hăm chín tuổi (III,Tr 152)
<74> Anh làm ở tận trong cái ngõ này chắc ít khách?
- Cũng đủ làm Phần nhiều khách quen (V,Tr 384)
<75> Tất cả hãy còn trẻ, rất trẻ, quá trẻ, tất cả đều ở cái tuổi cha đến
hai mơi và riêng anh ấy, mới mời bảy tuổi Một hàng những mái đầu xanh.
(III,Tr 206)
+ Tỉnh lợc cả chủ ngữ, lẫn vị ngữ, chỉ còn lại phụ từ
Thí dụ: <76> Đợc Tôi trả lời và rất bằng lòng với công việc ấy (I,Tr 18)
<77> à quên, tôi cha kịp hỏi tên cô đấy nhé
- Đúng Anh ấy đấy! Đồng chí ạ! (III,Tr 152)
<82> Hoà hy sinh hồi nào hả chị? (III,Tr 152)
Câu đặc biệt tỉnh lợc là số câu chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong số câu đặc biệt đợc
sử dụng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
Câu tỉnh lợc trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng đợc trong cácvăn bản khác, nó gắn chặt với ngữ cảnh cho nên muốn hiểu đợc ý nghĩa củacâu đặc biệt tỉnh lợc chúng ta phải đặt nó vào trong hoàn cảnh cụ thể