1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới phương pháp dạy học môn kinh tế chínhtrị theo hướng phát huy tính tích cực ,sáng tạo của người học ở các trường,

101 361 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 816,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Đề tài “Đổi mới PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tínhtích cực, sáng tạo của ngời học trong các trờng, lớp trung cấpkinh tế” đợc nghiên cứu trong hoàn cảnh toà

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng Đại học vinh

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Chuyên ngành: LL & PP giảng dạy chính trị

Trang 2

Phơng pháp dạy học (PPDH) là một trong những nhân tốquan trọng hàng đầu, trực tiếp quyết định chất lợng giáo dục

- đào tạo Thế nhng, sử dụng PPDH nào để nâng cao chất ợng, hiệu quả giáo dục - đào tạo là một trong những vấn đề

l-đã và đang đợc quan tâm nhất hiện nay của những ngời làmcông tác giáo dục

Trên thế giới, nhất là các nớc phát triển đã áp dụng phổbiến PPDH mới theo quan điểm phát huy tính tích cực, sángtạo của ngời học, đề cao vai trò tự học của ngời học kết hợp với

sự hớng dẫn của ngời dạy đã làm thay đổi cả cách dạy, cáchhọc, hình thức tổ chức dạy học, kết hợp sử dụng phơng tiện

kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào quá trình dạy học (QTDH)

đã tạo ra chất lợng mới cho ngành giáo dục - đào tạo

ở nớc ta, từ trớc đến nay, PPDH đợc sử dụng chủ yếu là

ph-ơng pháp thuyết trình (PPTT), nhất là các môn khoa học xãhội, trong đó có môn kinh tế chính trị (KTCT) Mặc dù cónhiều mặt tích cực, song PPTT có không ít những hạn chế

nh tạo tính thụ động trong học tập, không phát huy đợc tínhchủ động, tích cực, sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức, do

đó không rèn luyện đợc các kỹ năng: nói, viết, đặc biệt là tduy, nhận thức, thực hành, vận dụng cho ngời học Vì vậy,việc đổi mới PPDH để nâng cao chất lợng giáo dục trở thànhmột trong những nội dung quan trọng về chủ trơng phát triển

giáo dục của Đảng và Nhà nớc ta trong thời kỳ đổi mới Điều 5, Luật giáo dục nớc ta quy định: "Phơng pháp giáo dục phải phát

huy tính tích cực, tự giác, chủ động, t duy sáng tạo của ngời học; bồi dỡng cho họ năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vơn lên" [29, 7]

Trang 3

Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học - côngnghệ hiện đại, của kinh tế thị trờng và hội nhập, đòi hỏi mỗicá nhân phải thực sự có tri thức, kĩ năng, nhiệt tình, sáng tạomới có thể thích ứng với một thực tiễn kinh tế – xã hội hết sứcnăng động Vì vậy, trong dạy học, ngời dạy phải đổi mới ph-

ơng pháp giảng dạy để nâng cao chất lợng dạy học; ngời học

tr-đối phó, chất lợng dạy học cha tơng xứng với vị trí, vai trò quantrọng của bộ môn Vì vậy, việc đổi mới PPDH môn KTCT trongcác trờng, lớp trung cấp kinh tế để nâng cao chất lợng dạy học

bộ môn là vô cùng quan trọng và cấp thiết

Dựa vào lý luận và thực tiễn dạy học hiện nay cùng vớinhững hiểu biết và kinh nghiệm công tác của bản thân,

chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Đổi mới PPDH môn KTCT theo

hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học ở các

Trang 4

trờng, lớp trung cấp kinh tế” làm đề tài luận văn thạc sĩ

để nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài “Đổi mới PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tínhtích cực, sáng tạo của ngời học trong các trờng, lớp trung cấpkinh tế” đợc nghiên cứu trong hoàn cảnh toàn ngành đangthực hiện chủ trơng của Đảng về “Đổi mới mạnh mẽ nội dung,hình thức, biện pháp giáo dục các môn khoa học Mác - Lênin,

t tởng Hồ Chí Minh; đổi mới, nâng cao chất lợng hiệu quả

công tác giảng dạy và học tập lí luận nhằm góp phần giáo dục

đào tạo nguồn nhân lực toàn diện cho tiến trình hội nhập”

và thực hiện Quyết định của Thủ Tớng Chính Phủ số TTg ngày 24/6/2002 về phê duyệt Đề án: “Một số biện phápnâng cao chất lợng và hiệu quả giảng dạy, học tập các bộ mônkhoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh trong các trờng Đạihọc, Cao Đẳng; môn chính trị trong các trờng trung họcchuyên nghiệp và dạy nghề” [3, 3]

494/QĐ-Trớc khi đề tài đợc nghiên cứu thì đã có một số côngtrình khoa học về đổi mới PPDH, đa ra đợc những hệ thống

lý luận về PPDH tích cực đối với các môn khoa học Mác - Lênin,

t tởng Hồ Chí Minh Các công trình khoa học đợc in thànhsách, hoặc đăng trên các tạp chí giáo dục và đã đợc vận dụngvào dạy học ở một số trờng, góp phần khắc phục đợc nhữnghạn chế nhất định của PPTT Tuy cha đợc áp dụng vào dạyhọc một cách phổ biến, nhất là đối với các trờng trung cấpchuyên nghiệp và dạy nghề, nhng đó là những thành tựu lýluận về đổi mới PPDH làm nền tảng cho việc đổi mới PPDH

Trang 5

các bộ môn khoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh trong cácnhà trờng

Đối với môn KTCT - một trong ba bộ phận cấu thành củachủ nghĩa Mác - Lênin - đã có các công trình nghiên cứu củacác nhà khoa học s phạm nh:

1 PGS.TS Nguyễn Việt Dũng, PGS.TS Vũ Hồng Tiến, ThS

Nguyễn Văn Phúc - trờng Đại học S phạm Hà Nội, đã hợp tác

nghiên cứu và in cuốn: “Phơng pháp giảng dạy kinh tế chính

trị ở các trờng Cao Đẳng và Đại Học” Nxb GD,1999 Trong đó

đã nêu lên một số PPDH cần áp dụng đối với môn KTCT, có cảPPDH truyền thống và PPDH tích cực, nh PPTT, PPNVĐ, phơngpháp Xêmina, PPVĐ, PPHĐN, phơng pháp công não

2 Trờng Đại học Kinh tế quốc dân với tập: “Mô hình hoá

kiến thức cơ bản của giáo trình các bộ môn khoa học Mác Lênin và t tởng Hồ Chí Minh”, trong đó có môn KTCT Mác -

-Lênin (Tài liệu lu hành nội bộ dùng cho lớp tập huấn giảng viêncác bộ môn khoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh ở trờng

Đại học, Cao đẳng Hà Nội, năm 2005) Những nội dung kiếnthức cơ bản của mỗi bài học đã đợc khái quát bằng các môhình có cấu trúc nhất định Với các mô hình đó, ngời học cóthể dễ nắm bắt đợc những nội dung kiến thức cơ bản trongmột khối lợng lớn có tính trừu trợng

3 Chuyên đề: “Phơng pháp nghiên cứu và phơng pháp

giảng dạy môn kinh tế chính trị Mác - Lênin” của NGƯT PGS.

TS Phan Thanh Phố

4 TS Nguyễn Đăng Bằng (Chủ biên) cùng một số TS, Th.S

Tr-ờng Đại học Vinh đã viết cuốn: “Góp phần dạy tốt, học tốt môn

Trang 6

giáo dục công dân ở trờng THPT”, trong đó có một số bài về

kinh tế chính trị Nxb Giáo dục, năm 2002

5 Tạ Duy Hùng, Luận văn thạc sĩ với đề tài “Sử dụng

phơng pháp nêu vấn đề trong dạy học kinh tế chính trị Mác Lênin cho sinh viên trờng Cao đẳng hoá chất” đã nêu lên đợc

-một số biện pháp vận dụng vào dạy học môn KTCT để pháttriển t duy cho sinh viên Song, trong dạy học, đối với mỗi bàigiảng, tiết giảng không phải chỉ sử dụng PPNVĐ mà còn phải

sử dụng nhiều PPDH khác mới có thể vừa trang bị đầy đủ nộidung kiến thức của môn học vừa rèn luyện đợc các kỹ năngcho sinh viên

Ngoài ra, các đề tài luận văn thạc sĩ, các bài báo về PPDHcủa các môn khoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh đăngtrên các tạp chí giáo dục Nhng, đối với “Đổi mới PPDH mônKTCT trong các trờng, lớp trung cấp kinh tế để phát huy tínhtích cực, sáng tạo của ngời học” thì cha có công trình nàonghiên cứu Do vậy, đổi mới nh thế nào? Phơng hớng, giải pháp

để đổi mới là gì? thì cha có một cơ sở lý luận khoa học đểgiáo viên trung cấp kinh tế có thể áp dụng vào thực hiện đổi

mới PPDH bộ môn Vì vậy, việc lựa chọn đề tài "Đổi mới

PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế" là

nhằm xây dựng lý luận cho việc đổi mới PPDH môn KTCT ởcác trờng, lớp trung cấp kinh tế

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

- Mục tiêu: Xây dựng các phơng hớng, giải pháp về đổi

mới PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạocủa học sinh ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế nhằm nâng cao

Trang 7

chất lợng, hiệu quả dạy học bộ môn, góp phần nâng cao chấtlợng đào tạo của nhà trờng và của ngành giáo dục.

- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có

nhiệm vụ:

+/ Nghiên cứu lý luận về PPDH và đổi mới PPDH các mônkhoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh; về chủ trơng pháttriển giáo dục - đào tạo của

Đảng và Nhà nớc ta để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.+/ Khảo sát thực trạng dạy học môn KTCT ở một số trờng,lớp trung cấp kinh tế trên địa bàn Thành phố Vinh nói chung

và ở Trờng Cao đẳng GTVT Miền Trung nói riêng làm cơ sởthực tiễn cho việc nghiên cứu

+/ Xây dựng một số phơng hớng, giải pháp đảm bảo tínhkhoa học về đổi mới PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tínhtích cực, sáng tạo của ngời học để áp dụng vào thực tiễn dạyhọc ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế nói chung và trờng Cao

đẳng GTVT Miền Trung nói riêng

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tợng nghiên cứu: lý luận về PPDH và phơng pháp dạy học của giáo viên và học sinh ở các trờng, lớp trung cấp kinh tếnói chung và trờng Cao đẳng GTVT Miền Trung nói riêng

Phạm vi nghiên cứu: PPDH của giáo viên và học sinh ở trờngCao đẳng GTVT Miền Trung và một số trờng, lớp trung cấp kinh

tế trên địa bàn Thành phố Vinh - Nghệ An

5 Phơng pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở phơng pháp luận của CNM - LN, t tởng HồChí Minh; dựa vào quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về giáo

Trang 8

dục đào tạo, quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụnghai nhóm phơng pháp chính:

- Phơng pháp thu thập, hệ thống hoá, phân tích, tổnghợp, lôgic và lịch sử để xử lý các nguồn tài liệu về lý luậnPPDH

- Phơng pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn, so sánh, đốichiếu, thực nghiệm, toán học để nghiên cứu thực tiễn, từ

đó rút ra kết luận làm cơ sở xây dựng các giải pháp đổi mớiPPDH môn KTCT

6 Đóng góp của luận văn

- Về mặt lý luận: góp phần xây dựng lý luận khoa học về

đổi mới PPDH môn kinh tế chính trị trong các trờng trungcấp kinh tế

- Về thực tiễn: góp phần nâng cao chất lợng dạy học môn

KTCT trung cấp kinh tế, và để vận dụng vào giảng dạy họcphần KTCT cho hệ Cao đẳng vào năm học 2008 - 2009 vàsau này ở trờng Cao đẳng GTVT Miền Trung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, tài liệutham khảo và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm

ba chơng:

Chơng 1: Cơ sở lý luận của phơng pháp dạy học và sự cần thiết phải đổi mới phơng pháp dạy học môn kinh tế chính trị

Chơng 2: Thực trạng dạy học môn kinh tế chính trị ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế

Chơng 3: Phơng hớng, giải pháp đổi mới PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của ng-

ời học

Trang 9

Chơng 1

lý luận phơng pháp dạy học và sự cần thiết phải

đổi mới phơng pháp dạy học môn kinh tế chính trị

1.1 Khái niệm phơng pháp, phơng pháp dạy học và các nhân

tố ảnh hởng đến phơng pháp dạy học

1.1.1 Phơng pháp và phơng pháp dạy học

1.1.1.1 Khái niệm phơng pháp

Trang 10

Thuật ngữ “phơng pháp” đợc bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp

cổ "methodos" có nghĩa là con đờng, cách thức thực hiện

để đạt tới mục đích nhất định

Trong quá trình phát triển, có nhiều quan niệm khác nhau

về phơng pháp Về mặt triết học, có hai định nghĩa thôngdụng đáng lu ý: (1) Phơng pháp là cách thức, con đờng, ph-

ơng tiện tiến hành hoạt động nào đó để đạt đợc nhữngmục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn; (2)Phơng pháp là hình thức tự vận động bên trong của nội dung,

nó gắn liền với hoạt động của con ngời để nhằm mục đíchthực hiện thành công những mục đích, nhiệm vụ đã đề ra[24, 6]

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau, nhng chúng ta có thểhiểu: phơng pháp là cách thức, con đờng, phơng tiện tiếnhành hoạt động của con ngời để đạt tới mục đích đã xác

định Phơng pháp là hình thức tự vận động bên trong củanội dung, gắn liền với nội dung và hoạt động thực tiễn củacon ngời Nội dung và phơng pháp tác động biện chứng vớinhau: nội dung quyết định phơng pháp và phơng pháp tác

động trở lại nội dung làm cho nội dung ngày càng phát triểnhoàn thiện hơn

1.1.1.2 Khái niệm phơng pháp dạy học

Trên cơ sở khái niệm phơng pháp, các nhà khoa học giáodục đa ra nhiều khái niệm về PPDH khác nhau, tác giả xin nêuhai khái niệm làm cơ sở cho việc nghiên cứu

(1) Nguyễn Ngọc Quang quan niệm, “PPDH là cách thức làmviệc của thầy và

Trang 11

trò trong sự phối hợp thống nhất, trong đó, thầy truyền đạt nộidung trí dục để trên cơ sở đó, và thông qua đó mà chỉ đạo sựhọc tập của trò, còn trò thì lĩnh hội và tự chỉ đạo học tập củabản thân để cuối cùng đạt tới mục đích dạy học” [24, 23].

(2) Trần Bá Hoành quan niệm, “PPDH là cách thức hoạt

động của giáo viên trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt độnghọc tập nhằm giúp học sinh chủ động đạt đợc các mục tiêu dạyhọc” [Tài liệu tập huấn CBQLGD triển khai thực hiện chơngtrình, sách giáo khoa mới, năm 2002, tr.27]

Nh vậy, PPDH bao gồm phơng pháp giảng dạy của giáo viên

và phơng pháp học tập của học sinh, hai phơng pháp hoạt

động tác động, chi phối lẫn nhau nhng hớng tới mục tiêu chung

Trên cơ sở đó, chúng ta hiểu PPDH là tổng hợp những cách

thức hoạt động giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học để đạt mục đích giáo dục và đào tạo

PPDH có những dấu hiệu đặc trng sau:

+/ Phản ánh hình thức vận động của nội dung dạy học.+/ Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức củahọc sinh

+/ Phản ánh cách thức hoạt động, tơng tác, trao đổithông tin (truyền đạt, lĩnh hội) giữa giáo viên và học sinh.+/ Phản ánh cách thức tổ chức điều khiển, chỉ đạo, tổchức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả nhậnthức của học sinh

Trong thực tiễn dạy học, việc sử dụng phơng pháp phảiphụ thuộc vào mục tiêu, nội dung dạy học, phơng pháp, đối t-ợng học sinh và điều kiện vật chất của nhà trờng, và lịch sử

Trang 12

phát triển của giáo dục - đào tạo cũng là lịch sử của việcnghiên cứu, hình thành và phát triển các PPDH khác nhau.

1.1.2 Phơng pháp dạy học truyền thống và PPDH tích cực

1.1.2.1 Phơng pháp dạy học truyền thống

PPDH truyền thống là cách thức dạy học quen thuộc đợc ápdụng phổ biến ở nớc ta từ trớc tới nay Đặc điểm nổi bật củaPPDH truyền thống là thông báo - tái hiện, tức là chỉ tính chấtthông báo, truyền đạt kiến thức thông qua lời giảng của giáoviên và tái hiện kiến thức sau khi đã lĩnh hội của học sinh.Thực hiện PPDH này, giáo án của giáo viên đợc thiết kế theomột “đờng thẳng” từ trên xuống, chung cho mọi đối tợng Giờlên lớp, giáo viên là tâm điểm của mọi hoạt động dạy học, vớinhiệm vụ là thuyết trình, diễn giảng những nội dung kiếnthức đã đợc chuẩn bị sẵn cho học sinh, học sinh tiếp nhậnnhững kiến thức đó một cách thụ động thông qua nghe,nhìn, cùng t duy theo lời giảng của giáo viên, ghi chép và ghinhớ Bởi vậy, ngời ta gọi PPDH này là PPDH lấy giáo viên làmtrung tâm

PPDH truyền thống, mà chủ yếu là PPTT, có nhiều u điểm

nh cho phép giáo viên truyền đạt những nội dung kiến thức cótính hệ thống và tơng đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiềuthông tin mà học sinh không dễ dàng tự mình tìm hiểu đợc;cho phép giáo viên trình bày một hình mẫu của t duy lôgíc,của cách đề cập và lí giải một vấn đề khoa học (bao gồm

đầy đủ các bớc đi của quy trình, tức algorit của việc giảiquyết một vấn đề khoa học), của cách dùng ngôn ngữ khoa học

Trang 13

để diễn đạt một vấn đề chính xác, rõ ràng và xúc tích, nhờ

đó học sinh hiểu mô hình mẫu của t duy khoa học, và pháttriển trí tuệ Trong một khoảng thời gian nhất định, giáo viên

có thể truyền đạt một lợng thông tin cùng một lúc đến nhiềuhọc sinh và không cần nhiều phơng tiện dạy học Do vậy, đây

là một phơng pháp tiết kiệm chi phí

Về mặt t tởng và tình cảm, sự tiếp xúc trực tiếp và sứctruyền cảm của ngôn ngữ cùng với toàn bộ nhân cách của giáoviên sẽ hình thành ở học sinh những t tởng và tình cảm cao

đẹp, những niềm tin và hoài bão Tuy nhiên, do quá đề caovai trò hoạt động dạy của giáo viên, ít chú trọng đến hoạt

động học của học sinh, cho nên nhợc điểm lớn của PPTT là

không phát huy đợc tính tích cực, sáng tạo của học sinh trongquá trình học tập, mà trái lại, tạo ra thói quen tiếp thu kiếnthức thụ động, một chiều, gây mệt mỏi cho học sinh; khôngrèn luyện đợc các kỹ năng: nói, t duy, thực hành, vận dụng Tuy vậy, lý luận dạy học vẫn khẳng định PPTT vẫn sẽ tiếp tục

là một PPDH thông dụng vì những u điểm của nó, và hiệuquả của nó sẽ tăng lên rõ rệt nếu chúng ta biết cách thay đổitính chất thông báo - tái hiện bằng cách kết hợp với PPDH tíchcực nhằm tích cực hoá PPTT để tích cực hoá hoạt động củahọc sinh

1.1.2.2 Phơng pháp dạy học tích cực

T tởng về PPDH tích cực có mầm mống từ thời cổ đại, đợcphát triển từ những năm 20 và phát triển mạnh từ những năm

70 của thế kỷ XX tại các nớc Châu âu, đáp ứng yêu cầu pháttriển năng lực trí tuệ của thế hệ trẻ trong thời đại khoa học -

Trang 14

công nghệ hiện đại, khuyến khích hoạt động tự học, phát huysáng kiến của học sinh

PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể mà là mộtkhái niệm theo nghĩa rộng, bao gồm những quan điểm,hình thức, phơng pháp, kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tínhtích cực, tự lực, sáng tạo của ngời học

"Tích cực" trong PPDH tích cực đợc dùng với ý nghĩa là

hoạt động chủ động, trái nghĩa với không linh hoạt, thụ động,

chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực Với ý nghĩa đó,PPDH tích cực là cách dạy hớng tới việc “trao quyền” cho họcsinh, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, chống lạithói quen học tập thụ động - tức là tập trung vào việc pháthuy tính tích cực hoạt động học của học sinh chứ không phảitập trung vào phát huy tính tích cực hoạt động dạy của giáoviên Cụ thể là giáo viên chỉ đóng vai trò là ngời chỉ đạo, h-ớng dẫn học sinh phơng pháp tự học, dẫn dắt các em tiếp thukiến thức, rèn luyện kĩ năng Về phía học sinh, mục tiêu làlĩnh hội kiến thức và rèn luyện các kĩ năng, cho nên, trongquá trình học tập phải thực sự chủ động nghiên cứu, tìm tòi,khám phá những tri thức mới Có thể nói, cả giáo viên và họcsinh đều hớng tới nội dung dạy học, làm sáng tỏ các vấn đề lýluận đã đợc xây dựng trong các chơng trình môn học và mốiquan hệ giữa lý luận với thực tiễn nhằm giải quyết những vấn

đề do thực tiễn đặt ra

* Đặc trng của phơng pháp dạy học tích cực

- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Trang 15

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm hay dạy học hớng vàongời học, dạy học tập trung vào ngời học các thuật ngữ đó cóchung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học tập của họcsinh và vai trò của học sinh trong QTDH, nó khác với cách tiếpcận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động giảng dạycủa giáo viên và vai trò của giáo viên Thực chất của dạy họclấy học sinh làm trung tâm là phát huy tính tích cực, chủ

động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập dới sựchỉ đạo của giáo viên để thông qua đó học sinh lĩnh hộikiến thức và rèn luyện kỹ năng

- Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động của học sinh

Trong PPDH tích cực, học sinh - đối tợng của hoạt động

là chủ thể của hoạt động “học” đợc cuốn hút vào hoạt độnghọc tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, tự lựcnghiên cứu, khám phá, tìm tòi để lĩnh hội kiến thức và rènluyện kỹ năng chứ không phải thụ động tiếp thu tri thức đã đ-

ợc giáo viên sắp đặt Học sinh luôn đợc đặt vào những tìnhhuống của đời sống thực tế, đợc quan sát, thảo luận và giảiquyết vấn đề theo cách suy nghĩ của mình Trên cơ sở đó,vừa nắm đợc kiến thức, kỹ năng, vừa có đợc phơng pháp lĩnhhội kiến thức và kỹ năng đó một cách sáng tạo chứ không phảirập khuôn máy móc Với PPDH này, giáo viên không chỉ truyền

đạt tri thức mà còn hớng dẫn học sinh biết cách hành độngtrong tập thể, cộng đồng, tạo điều kiện cho học sinh sớmthích ứng với đời sống xã hội

- Dạy học chú trọng việc rèn luyện phơng pháp tự học

Trang 16

PPDH tích cực xem việc rèn luyện phơng pháp học tập chohọc sinh không chỉ là một biện pháp, phơng tiện nâng caohiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu của dạy học Trong thời

đại ngày nay, với sự bùng nổ thông tin, sự phát triển mạnh mẽcủa khoa học - công nghệ hiện đại, với một lợng kiến thứckhổng lồ trong khi lợng thời gian dạy học không đổi thì việcdạy cho học sinh phơng pháp tự học là rất cần thiết Hơn nữa,nhu cầu lao động của xã hội đang cần những con ngời khôngchỉ có tri thức mà còn phải thực sự năng động và sáng tạo,chính vì lẽ đó mà dạy học không thể dừng lại ở việc giáo viêntruyền đạt kiến thức mà phải chuyển sang dạy phơng pháphọc cho học sinh để chuyển từ học tập thụ động sang học tậpchủ động, tự giác, sáng tạo

Các nhà khoa học s phạm sớm nhận thức đợc ý nghĩa củaviệc dạy cho

ngời học phơng pháp học tập Nhà s phạm Đức Desterwerg đãkhông ngần ngại khi viết: Ngời thầy giáo tồi là ngời thầy mangchân lý đến sẵn, còn ngời thầy giáo giỏi là ngời thầy biếtdạy học sinh tìm ra chân lý

- Tăng cờng học tập cá thể kết hợp với học tập hợp tác

PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực caocủa mỗi học sinh Song, năng lực và ý chí của học sinh trongmột lớp không thể đồng nhất, dẫn đến sự “phân hoá” vềmức độ hiểu biết và lĩnh hội tri thức cũng nh hoàn thànhnhiệm vụ học tập Vì vậy, nếu áp dụng PPDH tích cực càngnhiều thì sự phân hoá ngày càng lớn Thực tế đó đặt ra yêucầu phải gắn dạy học cá thể với dạy học hợp tác nhằm tạo điềukiện để các cá nhân trong lớp giúp đỡ nhau trong học tập

Trang 17

Hơn nữa, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều cóthể hình thành bằng con đờng hoạt động độc lập thuần tuý,trái lại, thông qua hoạt động tập thể (nhóm, tổ) mà ý kiến,quan niệm, nhân cách của mỗi cá nhân đợc điều chỉnh theohớng ngày càng hoàn thiện hơn, đồng thời hình thành ý thức

tổ chức, kỷ luật, ý thức tập thể Bởi nhóm, tổ học tập là môitrờng giao tiếp tạo mối quan hệ thân thiện giữa các cá nhân

- Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá kết quả học tập của học sinhkhông chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng dạy học để

đề ra giải pháp điều chỉnh hoạt động học của học sinh màcòn là điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt

động dạy của giáo viên Theo PPDH truyền thống, việc đánhgiá kết quả học tập của học sinh là độc quyền của giáo viên,còn trong PPDH tích cực, giáo viên hớng dẫn học sinh tự đánhgiá (đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau) từ đó học sinh

có thể điều chỉnh cách học Việc kiểm tra đánh giá trongPPDH tích cực không dừng lại ở việc tái hiện kiến thức màphải khuyến khích trí sáng tạo của học sinh trớc những vấn

đề nhận thức đợc đặt ra

Nh vậy, trong PPDH tích cực, giáo viên không còn đơnthuần là ngời truyền đạt kiến thức mà trở thành ngời tổ chức,hớng dẫn các hoạt động học tập của học sinh để học sinh tựmình chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kĩ năng Trong lớp học,mọi hoạt động của giáo viên có tính chất động viên, khuyếnkhích, gợi mở, cố vấn, trọng tài để học sinh hoạt động tìmtòi, tranh luận

Trang 18

1.1.2.3 Một số phơng pháp dạy học tích cực cần vận dụng vào quá trình dạy học môn kinh tế chính trị ở các trờng, lớp trung cấp kinh tế

* Phơng pháp vấn đáp (đàm thoại)

Phơng pháp vấn đáp (PPVĐ) có nguồn gốc lịch sử gắn

của nhà hiền triết nổi tiếng cổ Hylạp Sôcrat (khoảng 470

-399 TCN), ông chống đối lại mọi kiểu dạy học giáo điều và đãxây dựng một PPDH độc đáo đó là phơng pháp đàm thoại -tranh luận Qua cuộc đàm thoại giữa Sôcrat và Gorgias về “Tu

từ pháp” cho ta thấy, trong PPVĐ, giáo viên khéo léo dẫn dắthọc sinh bằng một hệ thống câu hỏi, thông qua câu hỏi vàcâu trả lời mà học sinh tự tìm ra chân lý PPVĐ đòi hỏi ở họcsinh một sự suy nghĩ trí tuệ căng thẳng nhng thú vị Vì vậy,hiện nay PPVĐ trở thành một PPDH quan trọng trong dạy học.Thực chất của PPVĐ trong dạy học môn KTCT, là trong giờlên lớp, giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi để học sinhtrả lời, hoặc có thể trao đổi qua lại với nhau (thậm chí tranhluận nhau) dới sự dẫn dắt của giáo viên để đạt tới mục tiêu dạyhọc Hệ thống câu hỏi và lời giải đáp là nguồn kiến thức chủyếu mà giáo viên muốn trang bị cho học sinh, và qua đó họcsinh sẽ lĩnh hội đợc kiến thức và rèn luyện kỹ năng nói, t duy

Có nhiều hình thức vấn đáp nh vấn đáp tái hiện: giáo

viên đặt câu hỏi yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã học

để trả lời trực tiếp mà không cần suy luận; Vấn đáp giải

thích - minh hoạ: nhằm mục đích giải thích làm sáng tỏ

một vấn đề nào đó, có kèm theo những ví dụ minh hoạ cholời giải thích để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phơng pháp này

Trang 19

đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của phơng tiện nghe

nhìn; Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic): giáo viên đặt ra

câu hỏi có tính chất nêu vấn đề buộc học sinh luôn ở trongtình huống có vấn đề, căng thẳng trí tuệ và tự lực tìm lờigiải đáp dới sự dẫn dắt của giáo viên Trong vấn đáp tìm tòi,giáo viên tổ chức sự tìm tòi, kích thích sự ham muốn hiểubiết cho học sinh, khuyến khích học sinh tự lực phát hiệnchân lý Kết quả của vấn đáp tìm tòi là niềm vui, sự hứng thú

về t duy sáng tạo của học sinh

Mỗi hình thức vấn đáp đều có tác dụng thu hút sự chú ý

và kích thích t duy của học sinh Vì vậy, chúng ta có thể vàcần phải áp dụng vào dạy học môn KTCT để phát huy tínhtích cực học tập, phát triển t duy cho học sinh Yếu tố quyết

định thành công nhất của PPVĐ là hệ thống câu hỏi, mức độkhó, dễ của từng câu hỏi và thời điểm hỏi của giáo viên trongQTDH Nếu giáo viên xây dựng và vận dụng hệ thống câu hỏimột cách hợp lý, phù hợp với nội dung và từng đối tợng học sinh

sẽ tạo ra sự chú ý và không khí học tập sôi nổi của lớp học, vớitinh thần đó, học sinh dễ dàng lĩnh hội kiến thức, rèn luyện

kỹ năng Việc xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp và dẫn dắthọc sinh trả lời tốt các câu hỏi để đi tới nắm chắc nội dungkiến thức và rèn luyện kĩ năng là yêu cầu trọng tâm củaPPVĐ Tuy nhiên, để vận dụng có hiệu quả, trớc hết, giáo viên

sử dụng những câu hỏi yêu cầu học sinh tái hiện những kiếnthức đã đợc học hay có sẵn trong giáo trình Bởi đó là cơ sở

để giáo viên nêu câu hỏi yêu cầu giải thích hay tìm tòi kiếnthức mới

Trang 20

* Phơng pháp nêu vấn đề

Nêu vấn đề là PPDH mà trong quá trình dạy học, giáo viên

đặt học sinh trớc những bài toán nhận thức có chứa đựngmâu thuẫn giữa cái đã biết và cái cần tìm, kích thích họcsinh tự lực giải quyết một cách sáng tạo Thông qua quá trìnhgiải bài toán nhận thức, học sinh vừa lĩnh hội đợc tri thức vừa

có đợc phơng pháp giải quyết bài toán một cách tích cực,sáng tạo

Trong bài toán nhận thức có bài toán tái hiện: học sinh

giải quyết theo một trật tự “khuôn mẫu” có sẵn dựa vào kiến

thức đã học hoặc sách giáo khoa, và bài toán sáng tạo: học

sinh tự lực suy nghĩ, giải quyết vấn đề không theo khuônmẫu sẵn có Bài toán sáng tạo luôn chứa đựng mâu thuẫngiữa cái đã biết và cái cần đạt đợc Khi mâu thuẫn của bàitoán nhận thức trở thành mâu thuẫn nội tâm, chính là lúchọc sinh rơi vào tình huống có vấn đề, căng thẳng t duy vàtìm cách giải quyết Tuy nhiên, không phải mâu thuẫn củabài toán nào giáo viên nêu ra có thể ngay lập tức trở thànhmâu thuẫn nội tâm của học sinh Vì vậy, đòi hỏi ở giáo viênmột trình độ khéo léo với những thủ thuật s phạm đểchuyển hoá mâu thuẫn của bài toán (mâu thuẫn bên ngoài)thành mâu thuẫn nội tâm (mâu thuẫn bên trong) của mỗihọc sinh Thực hiện bài toán sáng tạo có tác dụng khắc sâukiến thức và rèn luyện t duy sáng tạo cho học sinh

Xuất phát từ bản chất nêu trên, chúng ta có thể và cần phảivận dụng PPNVĐ vào các bài giảng KTCT của trung cấp kinh tếnhằm phát huy tính tích cực nhận thức và t duy sáng tạo chohọc sinh, giúp cho học sinh làm quen với các tình huống nhận

Trang 21

thức và cách thức giải quyết các vấn đề trong học tập cũng

nh trong thực tiễn đời sống Nội dung môn KTCT tuy trừu tợng,nhng cũng rất gần gũi với thực tiễn của đời sống kinh tế - xãhội, cho nên việc tạo tình huống có vấn đề để học sinh tự lựcgiải quyết là rất cần thiết

Việc nêu và giải quyết một vấn đề phải thực hiện theocác bớc:

- Đề xuất vấn đề: giáo viên nêu vấn đề, học sinh tiếp nhận và

chuẩn bị giải quyết

- Nghiên cứu và giải quyết vấn đề: học sinh nghiên cứu và

giải quyết vấn đề theo sự hớng dẫn của giáo viên

- Kết luận vấn đề: học sinh vận dụng những kiến thức vừa

mới tìm tòi để kết luận vấn đề Giáo viên theo dõi và cũng cố,

bỗ sung rồi cuối cùng kết luận vấn đề

Đối với học sinh hệ trung cấp, việc tự nghiên cứu để giảiquyết một vấn đề nhận thức là rất khó khăn Vì vậy, giáoviên phải hớng dẫn học sinh xác định xung quanh vấn đề đó

có những nội dung kiến thức nào liên quan, trong đó, nộidung kiến thức nào đã học, đã biết và nội dung kiến thức nàocần phải tìm tòi, nghiên cứu Từ đó xác định mối quan hệgiữa cái đã biết với cái phải tìm, hớng học sinh vào tập trungsuy nghĩ và giải quyết Mỗi học sinh phải t duy và làm việc

độc lập Nếu làm việc theo nhóm thì mỗi nhóm, các thànhviên phải tự mình suy nghĩ, đa ra ý kiến riêng để cuối cùngtập hợp ý kiến của cả nhóm và rút ra kết luận Đó chính là lờigiải đáp của nhóm cho vấn đề cần giải quyết Cuối cùng là sựtổng hợp ý kiến, nhận xét và kết luận của giáo viên

Trang 22

Ngoài cách thức xây dựng bài toán nhận thức, tạo tìnhhuống có vấn đề, PPNVĐ còn có khả năng thâm nhập vàohầu hết các PPDH khác nh: PPTT, PPVĐ, phơng pháp trựcquan làm cho tính chất của chúng trở nên tích cực hơn.Chẳng hạn, PPNVĐ thâm nhập với PPTT trở thành thuyết trìnhnêu vấn đề Vì vậy, có nhiều kiểu nêu vấn đề trong dạyhọc nh:

Trình bày nêu vấn đề: giáo viên diễn đạt vấn đề dới dạng

nghi vấn, gợi mở hoặc đa ra câu hỏi để gây tình huống lôicuốn sự chú ý của học sinh)

Nêu vấn đề từng phần: giáo viên trình bày bài giảng dới

dạng nêu vấn đề nhng chỉ tập trung làm rõ một phần nào đó,hoặc chỉ giải quyết vấn đề đến chừng mực nhất định,phần còn lại tổ chức cho học sinh tiếp tục giải quyết)

Nêu vấn đề toàn phần: giáo viên tổ chức cho học sinh

nghiên cứu bài giảng một cách sáng tạo, bằng cách nêu ra vấn

đề cùng với một hệ thống câu hỏi chính, phụ, gợi mở… dẫndắt học sinh từng bớc giải quyết vấn đề và đi đến kết luận.Kiểu nêu vấn đề này đảm bảo cao nhất sự phát triển khảnăng t duy của học sinh, đặc biệt là t duy biện chứng, sángtạo Tuy nhiên, để thực hiện kiểu PPNVĐ toàn phần, giáo viêncần đầu t nhiều thời gian để chuẩn bị cả nội dung và phơngpháp, còn học sinh phải có ý thức tốt trong học tập

Nêu vấn đề có tính giả định: phơng pháp này thờng đợc

áp dụng nhằm cũng cố, khắc sâu kiến thức cho học sinh Saukhi kết thúc một nội dung nhất định, giáo viên đa ra một sốgiả thuyết có tính chất mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên

Trang 23

cứu nhằm tạo tình huống có vấn đề và yêu cầu học sinh lựachọn quan điểm đúng, hoặc sai, có giải thích

Nêu vấn đề có tính chất so sánh, tổng hợp: đây là kiểu

PPDH gắn liền với việc sử dụng số liệu thống kê để phântích và rút ra kết luận Phơng thức này có u thế rõ rệt thôngqua các số liệu, dữ liệu thống kê cho phép thể hiện một cáchngắn gọn quá trình và hiện tợng kinh tế - xã hội Mặt khác,

nó góp phần tăng tính chính xác, tính thuyết phục của vấn

đề và rèn luyện cho học sinh biết khai thác những tri thứcthực tiễn

Nói tóm lại, nêu vấn đề là PPDH có khả năng phát huy tính

đề gặp phải trong học tập môn KTCT là rất cần thiết Tuỳtheo nội dung dạy học, chúng ta đặt vấn đề một cách phù hợpnhằm kích thích t duy học sinh

Trang 24

kiện trao đổi, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong học tập Họcsinh khá, giỏi sẽ giúp đỡ những học sinh trung bình và yếu.Thông qua đó, tất cả học sinh đều phát huy tính tích cực tduy và kỹ năng làm việc tập thể, kỹ năng giao tiếp, tổ chức,tinh thần hợp tác và hoà nhập cộng đồng.

Trong PPHĐN, lớp học đợc chia thành các nhóm nhỏ từ 4 - 6ngời, với một khoảng thời gian xác định, mỗi nhóm hoànthành các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của giáo viên, trêncơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc củamỗi nhóm đợc trình bày và đánh giá trớc toàn lớp Giáo viêntập hợp tất cả các ý kiến, chỉ ra những điểm chung và sựkhác biệt của các ý kiến, chỉ ra những ý kiến đúng, cha

đúng, rồi thực hiện phân tích, tổng hợp, rút ra kết luậnchung nhất và đúng đắn làm lời giải đáp cho vấn đề đợcnêu

Hoạt động nhóm thờng đợc sử dụng kết hợp với PPNVĐ trongcác giờ giảng, hoặc sau khi kết thúc một nội dung kiến thứcnhất định nào đó nhằm luyện tập, cũng cố, khắc sâu chủ

đề đã học, hoặc có thể tìm hiểu một vấn đề mới

Để tiến hành dạy học theo PPHĐN, cả giáo viên và học sinhphải có sự chuẩn bị chu đáo và tuân theo các bớc nh sau:

Bớc 1: giáo viên lập kế hoạch: xác định đề tài thảo luận,

mục tiêu thảo luận, nội dung và phơng pháp, phơng tiện và hình thức tổ chức thảo luận

Bớc 2: giáo viên giao đề tài thảo luận, hớng dẫn học sinh

xác định mục đích và nhiệm vụ của vấn đề thảo luận,nghiên cứu tài liệu và xác định nội dung kiến thức liên quan

Trang 25

để giải quyết vấn đề Học sinh nhận đề tài và nghiên cứutài liệu, chuẩn bị cho buổi thảo luận.

Bớc 3: Tổ chức thảo luận Trớc hết phải thảo luận theo

nhóm: xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nhóm thảo luận với nhau

và rút ra kết luận chung nhất Kết luận đó là lời giải đáp vấn

đề thảo luận của nhóm

Bớc 4: Thảo luận toàn lớp: đại diện của các nhóm trình bày

ý kiến của nhóm mình, các nhóm khác theo dõi và có quyềntranh luận nếu thấy ý kiến nhóm bạn không đúng Giáo viêntheo dõi, ghi chép những ý chính của nhóm

Bớc 5: Tổng kết: giáo viên nhận xét tinh thần chuẩn bị và

tổng kết ý kiến của các nhóm, hệ thống lại toàn bộ ý kiến

đúng mà học sinh nêu ra, bổ sung và hoàn thiện nội dungkiến thức của vấn đề cần giải quyết theo một lôgic chặt chẽnhằm cũng cố, khắc sâu nội dung kiến thức đã học cho họcsinh

Nh vậy, các PPDH tích cực nêu trên đều có u điểm là phát

huy đợc tính tích cực nhận thức, sáng tạo trong t duy của học

sinh Tuy nhiên, cũng có những hạn chế nh khi vận dụng vào

dạy học thờng mất nhiều thời gian do khả năng nhận thức và

Trang 26

giải quyết vấn đề của học sinh có hạn, cho nên giáo viên khó

có thể giảng dạy hết chơng trình theo thời gian quy địnhnếu kĩ năng vận dụng các phơng pháp đó cha thành thạo,

đồng thời, khó áp dụng đối với học sinh có ý thức học tập kém.Mặc dù vậy, nhng chúng ta có thể và cần thiết áp dụng cácPPDH tích cực vào dạy học môn KTCT để phát huy tính tíchcực nhận thức, t duy sáng tạo cho học sinh nhằm nâng chất l-ợng dạy học bộ môn

1.1.3 Các nhân tố ảnh hởng đến phơng pháp dạy học

Trong QTDH, việc sử dụng PPDH nào phải phụ thuộc vào

dung, phơng pháp và phơng tiện dạy học; vào quy luật về sựthống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học, sự phụthuộc giữa PPDH với khả năng đáp ứng và lĩnh hội của từnghọc sinh Bởi vậy, các nhân tố ảnh hởng đến các PPDH đợcxác định nh sau:

- Mục tiêu và nhiệm vụ dạy học: Mục tiêu dạy học là cái

của hoạt động dạy học Từ mục tiêu dạy học, giáo viên xác

định nhiệm vụ và PPDH phù hợp Mục tiêu dạy học hiện nay lànhững con ngời phát triển toàn diện Vì vậy, nhiệm vụ dạyhọc là làm thế nào vừa trang bị kiến thức, vừa rèn luyện các

kỹ năng cho học sinh, đồng thời rèn luyện cho các em có đợcphơng pháp lĩnh hội kiến thức đó Muốn đạt tới mục tiêu đóphải sử dụng phối hợp các PPDH, đặc biệt là các PPDH tíchcực

Trang 27

- Nội dung dạy học: Phơng pháp là hình thức vận động

của nội dung Cho nên, việc lựa chọn PPDH phải dựa vào nộidung dạy học Nếu nội dung kiến thức của môn học có tínhtrừu tợng, khó hiểu thì phải sử dụng kết hợp PPTT với các PPDHtích cực Ngợc lại, nội dung dạy học gần với thực tiễn đời sốngxã hội thì cần sử dụng PPDH tích cực để nâng cao nhậnthức và rèn luyện kỹ năng t duy, vận dụng cho học sinh

- Giáo viên - chủ thể của hoạt động dạy: Việc lựa chọn

PPDH có phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học hay khôngthì trớc hết giáo viên là ngời quyết định dựa trên cơ sở kiếnthức và kỹ năng s phạm Mỗi giáo viên có kỹ năng s phạm riêng,cùng với sự nhiệt tình và trách nhiệm trong lao động s phạmcho nên việc lựa chọn PPDH cũng khác nhau

- Học sinh - đối tợng của hoạt động dạy và là chủ thể của hoạt động học

Mỗi học sinh là một chủ thể tiếp nhận tri thức, rèn luyện

kỹ năng dựa trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý của chính conngời đó Bởi vậy, cùng một bài giảng nhng với những đối tợngkhác nhau, hoàn cảnh khác nhau đã đặt giáo viên trớc nhiệm

vụ là phải lựa chọn PPDH cho phù hợp nhằm khơi dậy ở họcsinh niềm tin và sự hứng thú học tập, tiến tới hình thành cácphẩm chất cao đẹp của con ngời để đạt hiệu quả cao trongQTDH

- Điều kiện cơ sở vật chất phục, thiết bị phục vụ dạy học:

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một trong những yếu

thậm chí quyết định đến việc lựa chọn PPDH của giáo viên.Nhất là trong xã hội hiện đại, với sự phát triển mạnh mẽ của KH

Trang 28

- CN và lợng thông tin khổng lồ thì việc dạy học đòi hỏi phải

có thiết bị và phơng tiện hiện đại nh Cassette, phòng máy vitính, máy Projecter nhằm đảm bảo việc gắn học với hành,

lý luận với thực tiễn Đặc biệt, đối với các môn khoa học xã hội,phơng tiện và thiết bị hiện đại là điều kiện để giáo viên cóthể lồng ghép các hình ảnh, phim t liệu trong các tiết giảng,bài giảng làm căn cứ minh hoạ, hay sơ đồ hoá nội dung kiếnthức nhằm thu hút sự chú ý và kích thích sự hứng thú, tínhsáng tạo trong học tập của học sinh

1.2 Sự cần thiết phải đổi mới phơng pháp dạy học môn kinh

tế chính trị

1.2.1 Tác động của khoa học - công nghệ hiện đại

- Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ hiện

đại, xu hớng phổ biến của loài ngời là tìm cách rút ngắn con

đờng, thời gian đến với chân lý, tính tích cực nhận thức vàsáng tạo trong t duy của con ngời không ngừng đợc phát huy.Vì vậy, trong dạy học cần phải lựa chọn những phơng pháp

có khả năng vừa trang bị kiến thức, vừa rèn luyện cho họcsinh phơng pháp lĩnh hội kiến thức cũng nh các kỹ năng t duysáng tạo, vận dụng

- Lợng thông tin về khoa học – công nghệ ngày càng tăngnhanh

Nếu nh năm 1750, khi bắt đầu cuộc cách mạng kỷ thuậtlần thứ hai, trên toàn thế giới mới có 10 tạp chí khoa học thìsau 100 năm (1850) đã có 100 tạp chí; năm 1980 có 100.000tạp chí; năm 2000 đã có tới trên 1000.000 tạp chí khoa học.Hàng năm, có tới 4 - 5 triệu bài báo; 300.000 báo cáo khoa học;110.000 tên sách và có tới 400.000 phát minh, sáng chế về các

Trang 29

lĩnh vực khoa học đợc công bố Theo sự tính toán và nhậnxét của các nhà khoa học thì khoảng 7 - 10 năm, khối lợngthông tin tăng lên gấp 2 lần, 2/3 lợng tri thức và hơn 90% lợngthông tin khoa học mà loài ngời thu lợm đợc chỉ trong thế kỷ

XX, đặc biệt trong vài thập niên gần đây [6, 179]

- Thời gian từ khi phát minh ra những nguyên lý khoa học

đến khi ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống ngàycàng rút ngắn lại

- Số lợng các nhà khoa học tăng lên rất nhanh Nền kinh tếtri thức ngày càng phát triển đang đòi hỏi đội ngũ lao độngthực sự có năng lực và trình độcao, đặc biệt là những nhà khoa học – công nghệ giỏi

- Loài ngời đã đạt đợc những thành tựu vô cùng to lớn trongcác lĩnh vực điện tử, lợng tử, kĩ thuật hạt nhân, đại dơng học,sinh thái học, công nghệ gen , xuất hiện những phạm trù mới

nh "cách mạng liên tuyến", "môi trờng tin tức", "môi trờng thông

minh", "bộ nhớ xã hội và xuất hiện nhiều lĩnh vực nghiên cứu

mới, nảy sinh nhiều ngành nghề mới, khoa học - công nghệhiện đại đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống chínhtrị, văn hoá, xã hội

Thực tế trên đã và đang đặt ra những câu hỏi: làm thếnào để trong một thời gian xác định, con ngời có thể tiếpthu đợc lợng tri thức nhiều nhất của nhân loại? Làm thế nào

để thế hệ trẻ Việt Nam sau khi ra trờng có thể thích ứngnhanh với thực tiễn kinh tế - xã hội hết sức năng động vàuyển chuyển? Làm thế nào để nớc ta không bị tụt hậu xa vềtrình độ kĩ thuật và công nghệ so với các nớc trên thế giới? Vàlàm thế nào để có đợc những con ngời vừa "Hồng" vừa

Trang 30

"Chuyên" tiếp tục sự nghiệp cách mạng XHCN ở nớc ta mà Bác

Hồ đã căn dặn? Một trong những con đờng để đi tới các

đích đó là phải đổi mới PPDH để hình thành và phát huytính tích cực, năng động, sáng tạo, rèn luyện phẩm chất và kỹnăng cho học sinh, giúp học sinh làm quen với tự lực, nghi vấn,suy luận và phản xạ nhanh ngay khi đang ngồi trên ghế nhàtrờng, nếu không, tính thụ động, máy móc sẽ làm thui chộttrí tuệ và năng lực sáng tạo vốn có của mỗi con ngời trong hoạt

động thực tiễn

1.2.2 Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội của Đảng và Nhà nớc ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Vì lợi ích mời năm thì phải

trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngời", "Muốn xây dựng CNXH phải có con ngời XHCN", “ về giảng dạy và học tập, phải thực hiện tốt phơng châm: giáo dục kết hợp với lao động sản xuất Tránh dạy “nhồi sọ”, tránh học nh vẹt học phải suy nghĩ, phải liên hệ với thực tế, học với hành phải kết hợp với nhau”

[8, 615]

Thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp đổimới đất nớc, Đảng ta xem giáo dục - đào tạo và khoa học - côngnghệ là quốc sách hàng đầu, xác định nhiệm vụ trọng tâm

là tập trung xây dựng và phát triển con ngời - nguồn nhânlực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Hội nghị lần thứ

4 (khoá VIII, 1993) của Đảng đã khẳng định: " Hớng tới bồi ỡng và phát huy nhân tố con ngời Việt Nam và không ngừnggia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh

Trang 31

d-bên trong của mỗi cá nhân kết hợp với sức mạnh của cả cộng

đồng ”; Văn kiện Đại hội X tiếp tục chỉ rõ: “Đổi mới toàn diệngiáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lợng cao”,

“Bảo đảm đủ số lợng, nâng cao chất lợng đội ngũ giáo viên ởtất cả các cấp bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phơng phápgiáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngời học” [7,

150 - 153]

Thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc, sau 20 năm

đổi mới, cùng với những thành tựu quan trọng về kinh tế - xãhội, ngành giáo dục phát triển cả về quy mô và chất lợng Tuynhiên, để phát triển hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu lao

động của xã hội hiện nay thì cần phải đẩy mạnh đổi mớiPPDH nói chung và môn KTCT nói riêng theo hớng phát huytính tích cực, sáng tạo của học sinh, đào tạo thế hệ trẻ thànhnhững con ngời có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ lao

động và tay nghề cao, có hoài bảo, ý chí, tính tự chủ, tựgiác, năng động trong việc nắm bắt thông tin và giải quyếtcác vấn đề của thực tiễn cuộc sống, có khả năng sáng tạo vàứng dụng công nghệ mới tiên tiến

1.2.3 Thực trạng dạy học hiện nay ở nớc ta nói chung

và dạy học môn kinh tế chính trị nói riêng

Với sự cống hiến to lớn của hàng chục vạn nhà giáo, các nhàkhoa học s phạm, nền giáo dục nớc ta có sự phát triển mạnh mẽ

về quy mô và chất lợng, căn bản đã đáp ứng đợc nhu cầu về

đào tạo nguồn lực cho xã hội Mặc dù vậy, về chất lợng nguồnnhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,với yêu cầu “đi tắt, đón đầu” trong tiến trình hội nhập và

Trang 32

phát triển đất nớc thì giáo dục nớc ta vẫn còn nhiều yếu kém

và bất cập Trong đó, điều đáng lo ngại nhất là chất lợng giáodục còn thấp Vậy, nguyên nhân là do đâu? Trớc hết, việcgiảng dạy và học tập ở các nhà trờng nói chung còn biểu hiệnchạy theo thành tích (điều này đã đợc xã hội phản ánh từlâu), PPDH chủ yếu vẫn đang là PPTT - phơng pháp phát huytính tích cực của ngời dạy, còn ngời học thì thụ động, lời suynghĩ trớc những vấn đề nhận thức Nội dung dạy học còn

đang bó hẹp trong sách giáo khoa và mang tính lý thuyết, xarời thực tiễn; coi trọng ghi nhớ kiến thức và tái hiện nó khi giáoviên yêu cầu trong giờ học, khi làm bài kiểm tra, bài thi Còncác kĩ năng t duy sáng tạo, phân tích, tổng hợp, vận dụng,

đánh giá cha đợc quan tâm đúng mức; cha hình thành ởhọc sinh thói quen tự học ở các trờng trung cấp chuyênnghiệp và dạy nghề, việc sử dụng PPDH của giáo viên chủ yếuvẫn là PPTT, thầy giảng trò nghe, thầy đọc trò chép Việctiếp thu kiến thức của học sinh còn rất hạn chế do tính chấtthụ động chứ cha nói đến việc rèn luyện các kỹ năng

Dạy học môn KTCT ở trờng, lớp trung cấp kinh tế cũngkhông nằm ngoài thực trạng đó Do nội dung trừu tợng, kháiquát cao, cho nên giáo viên chủ yếu sử dụng PPTT Nội dungkiến thức giáo viên truyền đạt chủ yếu là lý thuyết và có tínhchất rập khuôn với nội dung trong giáo trình, ít đợc minh hoạbằng thực tiễn Về phía học sinh, với tâm lý luôn cho rằng đó

là những môn học phụ, không quan trọng, ít đầu t thời giancho việc học tập môn học này, lúc kiểm tra, thi thì tìm mọibiện pháp quay cóp tài liệu Vì vậy, kết quả dạy học không t-

ơng xứng với tầm quan trọng của bộ môn

Trang 33

Để khắc phục những tồn tại và nâng cao chất lợng dạy học

bộ môn, thì hơn ai hết, giáo viên phải đổi mới PPDH, đa họcsinh vào nề nếp học tập nghiêm túc áp dụng PPDH tích cựcvào dạy học để tích cực hoá hoạt động nhận thức của họcsinh; tăng cờng gắn lý luận với thực tiễn để học sinh thấy rõvai trò quan trọng của môn học đối với thực tiễn cuộc sống, vớithực tiễn xây dựng và phát triển của dân tộc ta Làm đợc nhvậy là góp phần hiện thực hoá chủ trơng của Đảng về đổi mớimạnh mẽ nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục các môn họcchủ nghĩa Mác - Lênin và T tởng Hồ Chí Minh; đổi mới, nângcao chất lợng hiệu quả công tác giảng dạy và học tập lí luận,nhằm giáo dục đào tạo nguồn nhân lực toàn diện cho tiếntrình hội nhập

1.3 Đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh

1.3.1 Quan điểm đổi mới phơng pháp dạy học

1.3.1.1 Lấy ngời học làm trung tâm của quá trình dạy học

Quan điểm "Dạy học lấy ngời học làm trung tâm" là cơ sở

để thực hiện đổi mới PPDH môn KTCT và là xu hớng chungcủa đổi mới PPDH hiện nay Quan điểm này có cơ sở lý luận

từ việc nhận thức QTDH là quá trình có hai chủ thể: giáo viên

và học sinh Cả hai chủ thể đều chủ động, tích cực, bằnghoạt động của mình hớng tới tri thức Hoạt động của giáo viên

là truyền đạt tri thức nhng dới hình thức “chỉ đạo, hớng dẫn,

bỗ sung và nâng cao” cho học sinh chứ không phải truyền

đạt tri thức theo kiểu PPDH truyền thống, còn hoạt động của

Trang 34

học sinh là chiếm lĩnh tri thức bằng cách tự mình nghiên cứu,tìm tòi, vận dụng theo sự chỉ đạo của giáo viên

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tínhtích cực học tập và t duy sáng tạo vốn có của mỗi cá nhân, tạotiền đề cho việc phát huy tính tích cực, sáng tạo trong côngviệc sau này và phù hợp với yêu cầu chất lợng nguồn nhân lựccủa thực tiễn kinh tế - xã hội Muốn vậy, điều quan tâm trớchết phải dạy học sinh phơng pháp tự học, tự nghiên cứu tài liệu

để lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng trên cơ sở mục

đích, nhu cầu, khả năng, hứng thú, lợi ích học tập đều đợctôn trọng Nội dung dạy học chú trọng các kĩ năng phân tích,tổng hợp, thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn

đề thực tiễn, hớng vào sự chuẩn bị thiết thực cho học sinhhoà nhập với cộng đồng

Thực hiện dạy học lấy ngời học làm trung tâm thì hoạt

động của giáo viên và học sinh phải tơng ứng nh sau:

- Giáo viên chỉ đạo, hớng dẫn học sinh tự học, rèn luyện;học sinh phải tự nghiên cứu để lĩnh hội kiến thức, rèn luyện

kĩ năng theo sự hớng dẫn của giáo viên và tự rút kinh nghiệm

về phơng pháp học tập, rèn luyện của mình

- Học sinh tự trình bày nội dung tự học và có thể nêu cáccâu hỏi đối với giáo viên, với bạn về những nội dung kiến thứccủa bài học mà bản thân không hiểu để đợc giải đáp Giáoviên là ngời trọng tài

- Học sinh tự đánh giá và cùng tham gia đánh giá kết quả

Giáo viên là ngời cố vấn, trọng tài

Trang 35

Có vẻ nh áp dụng PPDH lấy ngời học làm trung tâm thì vaitrò của giáo viên mờ nhạt? Hoạt động dạy của giáo viên nhànnhã hơn? Nếu quan niệm nh vậy chứng tỏ cha thực sự hiểu vềPPDH này Ngợc lại, để thực hiện dạy học lấy ngời học làmtrung tâm đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị giáo án chu

đáo trớc khi lên lớp; phải nắm chắc kiến thức chuyên môn,nắm chắc yêu cầu s phạm của các PPDH, xác định PPDH phùhợp với mục đích, nội dung và đối tợng giảng dạy Ngoài kiếnthức chuyên sâu về môn học mình đảm nhiệm, giáo viêncòn phải cập nhật kiến thức thực tiễn kinh tế - xã hội, phảihiểu sâu sắc về mối quan hệ giữa lý thuyết với thực tiễn

đời sống xã hội mới có thể thực hiện thành công vai trò là ngời

“chỉ đạo, hớng dẫn, cố vấn” cho học sinh Đồng thời, trongQTDH phải linh động để nắm thông tin ngợc từ học sinh:

đặc điểm, tâm lý, khả năng nắm bắt kiến thức, kỹ năngdiễn đạt và t duy sáng tạo trên cơ sở đó mà điều chỉnhPPDH cho phù hợp để đạt hiệu quả tốt nhất

1.3.1.2 Lấy việc đáp nhu cầu lao động của xã hội làm mục tiêu

Mục đích của dạy học là trang bị cho thế hệ trẻ nhữngkiến thức, kỹ năng nghề nghiệp làm hành trang bớc vào cuộcsống và thoã mãn nhu cầu lao động của xã hội Nhu cầu lao

động của xã hội là mục đích cuối cùng của dạy học, giáo dục.Nhng nhu cầu lao động của xã hội trong các giai đoạn lịch sửkhác nhau là không giống nhau

Trớc thời kỳ đổi mới, với nền kinh tế khép kín, bao cấp, kĩthuật thủ công, lạc hậu, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì

Trang 36

nhu cầu lao động của xã hội chủ yếu là về số lợng, thể lực.Mục đích của giáo dục là những con ngời “thừa hành”, mục

đích của dạy học là để học sinh vợt qua các kỳ thi, để đợclên lớp Còn hiện nay, đất nớc đã hội nhập, sự nghiệp đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng, phát triểnnền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thì nhucầu lao động của xã hội là những con ngời vừa có kiến thứcvừa có kỹ năng và lý tởng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, mục tiêucủa giáo dục là những con ngời phát triển toàn diện, nhiệm vụcủa dạy học là trang bị tri thức, kỹ năng và phơng pháp tự họccho học sinh

Ngành Giáo dục - Đào tạo nớc ta cơ bản đã đáp ứng đợc

nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nớc.Song, vẫn tồn tại mâu thuẫn lớn đó là mâu thuẫn giữa yêucầu cao về nguồn lực lao động của sự nghiệp đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá với sự phát triển có hạn về chất lợngcủa nguồn nhân lực đợc đào tạo Do vậy, khả năng đáp ứngnhu cầu lao động của xã hội hiện nay vẫn còn hạn chế.Nguyên nhân lớn nhất là PPDH của nớc ta còn mang nhiều

đặc điểm của PPDH cổ truyền, kết quả là đào tạo nhữngcon ngời chỉ thích ứng với nền kinh tế khép kín, chậm biến

đổi và phát triển Thực tế đó, mỗi cấp bậc đào tạo đều cóvai trò và nhiệm vụ phải đổi mới PPDH để nâng cao chất l-ợng giáo dục, đáp ứng nhu cầu lao động của xã hội

Hệ thống trờng trung học chuyên nghiệp có vai trò đàotạo những ngời lao động có kiến thức, kĩ năng thực hành cơbản của một nghề, có đạo đức, lơng tâm nghề nghiệp, ý

Trang 37

thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có khả năng làm việc

độc lập và sáng tạo, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào côngviệc Để đạt đợc mục tiêu đó thì cùng với nội dung chơngtrình đã đợc thay đổi là đổi mới PPDH để phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh là yêu cầucấp thiết, trong đó, môn KTCT là một bộ phận

1.3.1.3 Lấy lý luận khoa học làm nền tảng

Hồ Chí Minh đã từng dạy “ thực tiễn mà không có lý luận

hớng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng” [8, 196] Việc đổi mới

PPDH môn KTCT theo hớng phát huy tính tích cực, sáng tạo củahọc sinh phải đợc thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học Tronghơn thập kĩ qua, các nhà khoa học giáo dục đã xây dựng một

hệ thống lý luận về PPDH có khả năng phát huy tính tích cực,sáng tạo trong học tập của học sinh Tuy nhiên, đối với từngmôn học cụ thể cần đổi mới nh thế nào? Quy trình thực hiện

ra sao để đảm bảo tính hiệu quả thì vẫn còn là những bí

ẩn Do vậy, một yêu cầu của dạy học trong nhà trờng là cầnphải có cơ sở lý luận về đổi mới PPDH đối với từng bộ môn cụthể, ở đó xác định rõ bản chất của mỗi phơng pháp, và cácgiải pháp đổi mới bảo đảm tính khoa học để đạt hiệu quảdạy học tốt nhất

Đề tài hớng tới xây dựng các phơng hớng, giải pháp làm cơ

sở lý luận khoa học cho việc đổi mới PPDH môn KTCT ở các ờng lớp trung cấp kinh tế, đảm bảo phù hợp với mục tiêu dạy họccủa bộ môn, với nội dung kiến thức khoa học của chơng trình

tr-mà Bộ Giáo dục - đào tạo đã xây dựng, đồng thời, gắn vớikiến thức thực tiễn kinh tế – xã hội phong phú, đa dạng sẽ

Trang 38

đảm bảo cho học sinh lĩnh hội đợc những kiến thức KTCT cơbản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đờng lối, chính sách kinh tếcủa Đảng, Nhà nớc ta và thực tiễn sinh động của nền KTTT

định hớng XHCN, rèn luyện cho học sinh phơng pháp tự học,

tự rèn luyện các kỹ năng t duy, vận dụng để nhận thức và giảithích các hiện tợng và quá trình KT - XH trong thực tiễn

1.3.1.4 Lấy say mê, nhiệt tình làm động lực

Trong bất kỳ hoạt động thực tiễn nào của con ngời, sự say

mê công việc luôn là động lực lớn, là con đờng đi tới thànhcông Việc đổi mới PPDH cần có sự say mê, nhiệt tình, sángtạo trong lao động s phạm của giáo viên, bởi đó là "hạt nhân"của quá trình đổi mới PPDH Nếu thiếu đi “hạt nhân” đóthì việc đổi mới PPDH khó có thể đạt đợc hiệu quả nh mongmuốn

Đổi mới PPDH trớc hết phải đợc bắt đầu từ giáo viên Giáoviên không chỉ có kiến thức chuyên sâu mà còn phải say mê,nhiệt tình trong lao động s phạm để không ngừng nâng caonăng lực s phạm, khả năng vận dụng thành thạo các PPDH, nhất

là PPDH tích cực nhằm thu hút học sinh đi vào lĩnh hội kiếnthức và rèn luyện kỹ năng, làm cho học sinh nhận thức đợcrằng: mỗi cá nhân muốn tồn tại và phát triển trong xã hội hiện

đại phải thực sự có tri thức, kỹ năng, muốn vậy, phải nâng cao

ý thức học tập và rèn luyện

Sự phối hợp nhịp nhàng giữa say mê, nhiệt tình lao động

s phạm của giáo viên và tinh thần tự giác, tích cực học tập củahọc sinh sẽ tạo động lực lớn để đạt tới mục đích dạy học

1.3.2 Nội dung đổi mới

Trang 39

1.3.2.1 Tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh

“Tích cực” là đem hết khả năng và tâm trí của mìnhvào công việc, chịu khó tìm tòi, khám phá, tìm ra cái mới.Phát huy tính tích cực học tập là điều hết sức quan trọng vàcần thiết vì nó sẽ tạo cho học sinh tính tích cực, chủ độngtrong nhận thức cũng nh hoạt động thực tiễn Vì vậy, mộttrong những nội dung đổi mới PPDH là phải tích cực hoá hoạt

động học tập của học sinh

ý tởng về một PPDH phát huy tính tích cực của học sinhkhông phải mới bắt đầu mà đã đợc các nhà t tởng giáo dục lớncủa các thời đại đề cập từ rất sớm Chẳng hạn, Khổng Tử (551

- 479 TCN) - nhà triết học, nhà văn hoá, nhà giáo dục TrungQuốc thời cổ đại đã quan tâm đến vấn đề dạy học thế nào

để phát huy đợc tính tích cực suy nghĩ của học trò, ông bảo:vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góckia thì không dạy nữa Ông chủ trơng, nếu học trò khôngkhao khát hiểu biết, cha hổ thẹn vì ngu dốt thì không dạycho, kẻ nào chẳng ráng lên mà không hiểu thì ta giúp chothông hiểu Ông yêu cầu học trò cố gắng suy nghĩ trong họctập, học mà không suy nghĩ thì uổng công vô ích, suy nghĩ

Trang 40

đúng đắn, phát triển nhân cách Hãy tìm ra phơng phápcho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn.

Nhà giáo dục lỗi lạc ngời Nga K.Đ.Usinxki (1829 - 1870) xemtính tích cực trong QTDH nh là cơ sở vững chắc cho mọi sựhọc tập có hiệu quả Theo ông, tính tích cực nhận thức là biết

định hớng vào môi trờng xung quanh, biết hành động mộtcách sáng tạo, biết tự mình nâng cao trình độ học vấn, pháttriển bản thân và có kỹ năng tự giành lấy kiến thức Ông chorằng, tính tích cực là điểm khác nhau giữa nhà trờng cũ và

nhà trờng mới Nhà trờng cũ dồn tất cả tính tích cực vào hoạt

động dạy của giáo viên, để học sinh thụ động, còn nhà trờngmới, cố gắng làm sao cho bản thân học sinh tích cực ở mức

độ cao nhất

T tởng của các nhà giáo dục trên đã đặt nền móng cho lýluận về dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinhtrong QTDH hiện nay Thực tế cho thấy, việc học tập chỉ thực

sự đạt kết quả cao khi học sinh chủ động và tích cực trongquá trình học tập, thông qua tích cực học tập, học sinh mớinắm chắc kiến thức, rèn luyện đợc kỹ năng và có phơng pháphành động đúng đắn Vì vậy, mục đích của tích cực hoáhoạt động học tập của học sinh là nhằm chuyển học sinh từ

đối tợng của hoạt động dạy trở thành chủ thể của hoạt độnghọc, từ chổ bị động tiếp thu kiến thức từ một nguồn thànhchủ động, tích cực, sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức từnhiều nguồn và rèn luyện các kỹ năng

Tính tích cực học tập của học sinh đợc biểu hiện:

- Học sinh chủ động nghiên cứu tài liệu trớc và sau khi lên

Ngày đăng: 15/12/2015, 06:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w