LỜI CẢM ƠN Luận văn với đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội” là kết quả học tập và nghiên cứu của tác giả trong khóa học 2012 - 2014, chuyên n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Ngọc Lâm
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn với đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng
tin tại Thư viện Hà Nội” là kết quả học tập và nghiên cứu của tác giả trong
khóa học 2012 - 2014, chuyên ngành khoa học thông tin - thư viện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện, tác giả đã được TS Chu Ngọc Lâm trực tiếp hướng dẫn Sự tận tình chỉ bảo của TS Chu Ngọc Lâm cùng với sự định hướng chuyên môn, gợi mở hướng nghiên cứu của các nhà khoa học trong ngành đã giúp tác giả có điều kiện tốt nhất hoàn thành luận văn Tác giả xin được bày tỏ sự biết ơn chân thành đến TS Chu Ngọc Lâm và đội ngũ các nhà khoa học ngành thông tin - thư viện
Bên cạnh đó, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Thư viện Hà Nội cùng đội ngũ cán bộ của Thư viện đã tạo điều kiện giúp đỡ để tác giả tiếp cận thực tế nghiên cứu của mình thông qua điều tra, thu thập dữ liệu và trao đổi ý kiến
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, và các thầy cô, đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành công trình này
Tác giả: Trần Thị Mai Lương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI 9
1.1 Cơ sở lý luận về công tác phục vụ người dùng tin và nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin 9
1.1.1 Các khái niệm trong công tác phục vụ người dùng tin 9
1.1.2 Hình thức phục vụ người dùng tin 13
1.1.3 Yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin 14
1.1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin 15
1.1.5 Vai trò của công tác phục vụ người dùng tin 17
1.2 Khái quát về thư viện Hà Nội 18
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện 18
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện 21
1.2.3 Cơ cấu tổ chức 25
1.2.4 Trụ sở, trang thiết bị công nghệ 27
1.3 Người dùng tin và yêu cầu phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội 27 1.3.1 Đặc điểm người dùng tin tại Thư viện Hà Nội 27
1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin tại Thư viện Hà Nội 31
1.3.3 Yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin của Thư viện Hà Nội 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI 42
2.1 Tổ chức phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội 43
2.1.1 Tổ chức phục vụ người dùng tin theo hình thức kho đóng 43
2.1.2 Tổ chức phục vụ người dùng tin theo hình thức kho mở 55
Trang 52.1.3 Tổ chức phục vụ người dùng tin theo hình thức kho bán kín, bán mở 61
2.1.4 Tổ chức phục vụ người dùng tin theo hình thức khác 65
2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội 72
2.2.1 Vốn tài liệu 73
2.2.2 Bộ máy tra cứu 77
2.2.3 Cơ sở vật chất trang thiết bị 79
2.2.4 Đội ngũ cán bộ thư viện và trình độ người dùng tin 80
2.3 Đánh giá hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội 81 2.3.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu tin 82
2.3.2 Mức độ lôi cuốn người dùng tin 83
2.3.3 Mức độ khai thác nguồn tin 84
2.3.4 Khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất 85
2.3.5 Năng lực, trình độ và tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ 85
2.3.6 Đánh giá chung 89
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỤC VỤ 91
NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI 91
3.1 Tăng cường vốn tài liệu, đảm bảo cơ cấu tài liệu hợp lý 91
3.1.1 Củng cố và tăng cường khai thác vốn tài liệu hiện có 92
3.1.2 Tăng cường vốn tài liệu 93
3.1.3 Đảm bảo cơ cấu tài liệu hợp lý 94
3.1.4 Chia sẻ vốn tài liệu 95
3.2 Đa dạng hoá hình thức phục vụ và dịch vụ thông tin thư viện 97
3.2.1 Đa dạng hoá hình thức tuyên truyền, giới thiệu tài liệu 98
3.2.2 Phổ biến thông tin chọn lọc 100
3.2.3 Dịch vụ sao chụp tài liệu 101
3.2.4 Dịch vụ “Hỏi - Đáp” và tư vấn thông tin 101
Trang 63.2.5 Hoàn thiện phương thức phục vụ người dùng tin theo hướng thư viện
hiện đại 102
3.3 Nâng cao chất lượng bộ máy tra cứu tin 104
3.3.1 Hoàn thiện bộ máy tra cứu truyền thống 104
3.3.2 Tăng cường bộ máy tra cứu hiện đại 106
3.4 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin 107
3.5 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện và hướng dẫn đào tạo người dùng tin 108
3.5.1 Nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ thư viện: 108
3.5.2 Đào tạo, hướng dẫn người dùng tin sử dụng thư viện 112
3.6 Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị 114
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Từ viết tắt tiếng Việt
1 CNTT Công nghệ thông tin
2 NCT Nhu cầu tin
3 NDT Người dùng tin
5 TVHN Thư viện Hà Nội
6 VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch
2 Từ viết tắt tiếng Anh
1 AACR Quy tắc biên mục Anh - Mỹ
Anglo-American Cataloguing Rules
2 MARC Khổ mẫu biên mục đọc máy
Machine Readable Cataloging
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG
Danh mục sơ đồ:
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của thư viện Hà Nội 26
Danh mục biểu đồ: Biểu đồ 1.1: Thành phần nhóm Người dùng tin tại TVHN 28
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các môn loại sách trong phòng mượn tự chọn 59
Biểu đồ 2.2: Thành phần NDT phòng đọc Báo - tạp chí 63
Biểu đồ 2.3: Độ tuổi cán bộ TVHN 76
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ giới tính cán bộ TVHN 77
Biểu đồ 2.5: Trình độ hạc vấn của cán bộ TVHN 78
Danh mục bảng Bảng 1.1: Thời gian sử dụng thư viện của NDT 35
Bảng 1.2: Loại hình tài liệu NDT thường sử dụng 37
Bảng 1.3: Ngôn ngữ tài liệu NDT thường sử dụng 39
Bảng 2.1: Danh mục cơ sở dữ liệu và số lượng biểu ghi tại thư viện Hà Nội (tính đến đầu 2014) 48
Bảng 2.2: Thống kê lượt luân chuyển sách của thư viện 58
Bảng 2.3: Cơ cấu vốn tài liệu theo các lĩnh vực, chuyên ngành khoa học 64
Bảng 2.4: Thống kê số lượng vốn tài liệu truyền thống tại TVHN 65
Bảng 2.5: Số lượng sách bổ sung từ năm 2010-2014 66
Bảng 2.6: Mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin của thư viện 72
Bảng 2.7: Bảng thống kê lượt người dùng tin sử dụng thư viện 73
Bảng 2.8: Mức độ hiệu quả các hình thức phục vụ của TVHN 73
Bảng 2.9: Tỷ lệ khai thác nguồn tin tại TVHN 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ mà thông tin (TT) và tri thức trở thành sức mạnh của nhân loại Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ và truyền thông, là sự bùng nổ của các nguồn lực thông tin, là
kỷ nguyên của thông tin và nền kinh tế tri thức Những TT cập nhật trong một thế giới không ngừng thay đổi đã trở nên hết sức cần thiết đối với việc tích lũy, trau dồi, nâng cao kiến thức mọi mặt của mọi người Vì vậy, việc đảm bảo nguồn tin đầy đủ, nhanh chóng, chất lượng đáp ứng cho nhu cầu tin của người dùng tin (NDT) đang là vấn đề có tính cấp thiết đặt ra cho các cơ quan Thông tin - Thư viện (TT-TV)
Đối với Việt Nam, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay việc đảm bảo và phát triển nguồn tin cho mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội nói chung, đặc biệt lĩnh vực kinh tế nói riêng còn có ý nghĩa lớn lao hơn bao giờ hết Giống như các lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội khác, ngành TT-TV Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Việc đưa ra những giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động TT-TV đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội là vấn đề then chốt hiện nay nhằm từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới để cùng sử dụng kho tàng tri thức của nhân loại
Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượng phục vụ của công tác TT-TV NDT là khách hàng của các dịch vụ thông tin đồng thời cũng là người tạo ra TT mới NDT giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống TT, giúp định hướng các hoạt động của đơn vị TT, NDT là yếu tố chính quy định chức năng, nhiệm vụ của thư viện
Hoạt động của một thư viện cụ thể gồm rất nhiều công đoạn chuyên môn khác nhau, bắt đầu từ chọn lọc thông tin, bổ sung đến xử lý, lưu trữ, bảo quản
và cuối cùng là tìm và phổ biến Thông tin Mỗi công đoạn đóng một vai trò
Trang 10nhất định nhưng tất cả đều chung một mục đích là đem thông tin phục vụ tốt nhất cho NDT Song, làm sao để TT đến với nhân loại, làm sao để TT không trở thành TT chết, làm sao để những hoạt động chuyên môn trong thư viện không trở nên vô nghĩa, đó chính là nhiệm vụ, chức năng mà công tác phục
vụ NDT phải giải quyết Cũng vì lẽ đó, công tác phục vụ NDT luôn được coi là công tác quan trọng nhất của hoạt động thư viện Bởi vì, thông qua công tác này vốn tài liệu quý giá của thư viện mới được sử dụng có hiệu quả, mới phát huy được tác dụng trong phát triển mọi mặt của đất nước, từ đó vị trí, vai trò xã hội của thư viện mới được khẳng định Tuy là công đoạn cuối cùng trong dây chuyền thông tin tư liệu nhưng lại là khâu trung tâm, đóng vai trò then chốt trong hoạt động thông tin thư viện, hiệu quả của công tác phục vụ NDT là thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động TV Bất cứ cơ quan TT-TV nào muốn đạt được hiệu quả hoạt động thì không thể không trú trọng đến công tác phục
vụ NDT
Hà Nội là thủ đô, trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của cả nước, đồng thời là trung tâm giáo dục lớn với hàng vạn nhà nghiên cứu, giáo viên, học sinh, sinh viên Do đó nhu cầu nghiên cứu, học tập của người dân trên địa bàn là rất lớn Để đáp ứng được nhu cầu đó, tại Hà Nội đã hình thành
và tập trung một số lượng lớn các viện nghiên cứu, các cơ quan và trung tâm TT-TV lớn của cả nước, trong đó có Thư viện Hà Nội
Thư viện Hà Nội là một trong những thư viện công cộng lớn, có tiềm lực mạnh mẽ cả về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực thông tin Không chỉ vậy Thư viện Hà Nội còn là một địa chỉ văn hóa lớn của Thủ đô, nơi thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động giao lưu văn hóa với nhiều hình thức khác nhau Người dùng tin đến thư viện có thành phần rất đa dạng với nhiều trình độ, nhiều lứa tuổi, mục đích, nhu cầu cũng rất phong phú Để
có thể đáp ứng được nhu cầu đó Thư viện Hà Nội đã rất chú trọng đến công tác phục vụ NDT
Trang 11Tuy nhiên với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, nhu cầu thông tin của NDT cũng ngày một tăng, cần phải có những giải pháp nhất định để nâng cao hơn nữa hiệu quả phục vụ NDT Việc nghiên cứu, đánh giá công tác phục vụ NDT để đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác phục vụ NDT là một vấn đề cấp thiết
Từ những phân tích trên cho thấy, công tác phục vụ NDT tại Thư viện
Hà Nội là một vấn đề bức thiết cần phải được nghiên cứu, phân tích hiện trạng để có những nhận xét, đánh giá khách quan, nghiêm túc trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp phù hợp, khả thi để nâng cao chất lượng công tác phục
vụ NDT và hiệu quả hoạt động của Thư viện Vì vậy, tôi chọn đề tài “Nâng
cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội” làm đề
tài luận văn thạc sĩ Khoa học Thư viện của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây các nội dung nghiên cứu về công tác phục
vụ NDT trong hoạt động TT-TV được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước nghiên cứu ở nhiều góc độ và phương diện khác nhau, thể hiện qua các luận văn, khóa luận, báo cáo, bài nghiên cứu:
Trước tiên là các luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Thư viện
nghiên cứu về công tác phục vụ người dùng tin Đó là luận văn với đề tài
"Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam" của tác giả Nguyễn Xuân Dũng, bảo vệ tại trường Đại học Văn Hóa Hà Nội năm 2011 Luận văn " Hiện đại hóa công tác phục vụ bạn đọc tại Trung tâm thông tin - thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội" của tác giả Lê Minh Thu, bảo vệ tại trường Đại học Văn Hóa Hà Nội năm 2006 Luận văn "Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ bạn đọc tại trung tâm thông tin thư viện trường đại học Giao thông vận tải Hà Nội" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy, bảo vệ tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2007 Luận văn" Công tác phục vụ bạn đọc tại Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2", của tác giả
Trang 12Hoàng Thị Bích Liên, bảo vệ tại trường Đại học Văn Hóa Hà Nội năm 2011
Luận văn" Công tác phục vụ người dùng tin tại thư viện trường Đại học Quảng Bình" của Trần Thị Lụa, bảo vệ tại trường Đại học Khoa Học Xã Hội
và Nhân Văn năm 2013
Các luận văn tập trung nghiên cứu công tác phục vụ NDT tại một thư viện cụ thể đã đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phục vụ nói chung,
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phục vụ NDT cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện tại các trường đại học đã khảo sát
Đối với các khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Thông tin- Thư viện cũng có một số đề tài tiêu biểu về công tác phục vụ người dùng tin như :
" Công tác phục vụ bạn đọc tại Thư viện trường Đại Học Khoa Học Huế" của
Trần Dương, bảo vệ tại trường đại học Văn Hóa Hà Nội năm 2008 Đề tài "
Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại trung tâm thông tin khoa học - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh" của Trần
Thị Hiền, bảo vệ tại trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn năm
2010
Hầu hết các khóa luận đã nêu được thực trạng công tác phục vụ NDT
và các giải pháp để hoàn thiện, phát triển, nâng cao hiệu quả công tác phục vụ NDT tại các cơ quan TT - TV cụ thể, với những đặc điểm riêng biệt
Về công tác phục vụ NDT còn có một số bài báo khoa học đăng trong Tạp chí Thư viện Việt Nam và Kỷ yếu của trường Đại học khoa học xã hội và
nhân văn- Đại học quốc gia Hà Nội như: Bài của tác giả Trương Đại Lượng,
Nguyễn Hữu Nghĩa xuất bản năm 2008, "Nâng cao chất lượng công tác phục
vụ người đọc", Tạp chí Thư viện Việt Nam (số 1), tr.32-35 Bài của tác giả
Trần Thị Thanh Vân năm 2011, " Đổi mới hoạt động phục vụ người dùng tin
để hội nhập với yêu cầu đào tạo tín chỉ tại các trung tâm thông tin - thư viện đại học", trích kỷ yếu 15 năm thành lập khoa Thông tin - thư viện, trường Đại
Trang 13Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Đại học Quốc Gia Hà Nội Bài của tác
giả Ông Thị Ánh Tuyết, " Những nội dung đổi mới phương thức Phục vụ bạn đọc của Thư viện trường Cao đẳng Lương thực - Thực phẩm", đăng trong Tạp chí Thư viện Việt Nam, năm 2011, " 90 năm công tác phục vụ bạn đọc tại thư viện Quốc Gia Việt Nam" của tác giả Phạm Quỳnh Lan in trong Tạp chí thư
viện Việt Nam số 01-2010
Đối với Thư viện Hà Nội, cho tới thời điểm hiện tại cũng đã có một số
đề tài nghiên cứu khóa luận tiêu biểu, đó là: Đề tài "Tìm hiểu ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động Thông tin - Thư viện tại Thư viện Hà Nội", của Lê Thị Thanh Nhàn K43, Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, bảo vệ năm 2002 Đề tài "Tìm hiểu ngôn ngữ tìm tin áp dụng tại Thư viện Hà Nội",
của Ngô Thị Nguyệt Minh K44, Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn,
bảo vệ năm 2003 Đề tài "Nghiên cứu công tác tuyên truyền giới thiệu sách tại Thư viện Hà Nội", của Nguyễn Thị Hảo K45, Đại học Khoa Học Xã Hội
và Nhân Văn , bảo vệ năm 2004 Đề tài "Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện Hà Nội" của Nguyễn Thị Bình K45, Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn , bảo vệ năm 2004 Đề tài “ Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Hà Nội”, của Trịnh Thị Loan, Đại học sư phạm Hà Nội 2, bảo vệ năm
2012
Hầu hết các khóa luận đều đã nêu được thực trạng về nguồn lực thông tin, cũng như cơ sở hạ tầng công nghệ và các công tác tuyên truyền quảng bá tại Thư viện Hà Nội
Đã có một vài Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Khoa học thư viện
nghiên cứu về Sản phẩm thông tin và công tác phục vụ bạn đọc tại Thư viện
Hà Nội như: Đề tài " Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm thông tin tại Thư viện Hà Nội" của tác giả Trần Nhật Linh, bảo vệ tại trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn năm 2010 Và đề tài "Tổ chức phục vụ bạn đọc tại thư viện Hà Nội trong giai đoạn Hội nhập và phát triển" của tác giả
Trang 14Nguyễn Hồng Vân, bảo vệ năm tại Đại học Văn Hóa Hà Nội năm 2010
Luận văn của các tác giả đã đưa ra các lý luận chung về sản phẩm thông tin và hiện trạng chất lượng sản phẩm thông tin cũng như các hình thức tổ chức phục vụ tại Thư viện Hà Nội và các giải pháp nâng cao chất lượng các sản phẩm thông tin và chất lượng công tác phục vụ người dùng tin tại TVHN trước năm 2010 Từ năm 2011 đến nay không có một đề tài nào nghiên cứu
về công tác phục vụ NDT tại TVHN
Như vậy, Với những thay đổi về phạm vi địa lý cũng như hiện trạng
thực tế, tôi khẳng định đề tài :" Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người
dùng tin tại Thư viện Hà Nội" là một đề tài hoàn toàn mới, không bị trùng
lặp với những đề tài đã nghiên cứu trước đó Đề tài có ý nghĩa nhất định đối với công tác phục vụ NDT tại Thư viện Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác phục vụ NDT tại Thư viện Hà Nội từ đó đưa ra hệ thống các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất: Nghiên cứu lý luận công tác phục vụ NDT trong hoạt động thông tin - thư viện
- Thứ hai: Nghiên cứu thực trạng công tác phục vụ NDT tại Thư viện Hà Nội
- Thứ ba: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội
- Thứ tư: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ NDT tại Thư viện Hà Nội
4 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác phục vụ NDT đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động TT-TV Chất lượng của công tác phục vụ NDT phụ thuộc vào rất nhiều
Trang 15yếu tố: tổ chức phục vụ, sản phẩm và dịch thông tin, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, trình độ cán bộ thư viện, ứng dụng công nghệ thông tin
Mặc dù đã rất quan tâm công tác phục vụ NDT, nhưng với nhu cầu thông tin trong thời kỳ đổi mới như hiện nay thì Thư viện Hà Nội vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong việc thỏa mãn nhu cầu thông tin của NDT Nếu công tác phục vụ NDT được chú trọng, Thư viện Hà Nội xây dựng được chính sách bổ sung hoàn chỉnh, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin được tăng cường đầu tư thì hiệu quả công tác phục vụ NDT tại Thư viện được nâng cao đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin của NDT
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Công tác phục vụ NDT tại Thư viện Hà Nội
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn cán bộ thư viện và NDT tại thư
viện
Trang 168 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ là 01 luận văn gồm khoảng 90 trang A4 gồm 3 chương, mở đầu, kết luận và phụ lục Nội dung luận văn đề cập tới những vấn
đề chính sau:
- Cơ sở lý luận thực tiễn về công tác phục vụ NDT tại thư viện Hà Nội
- Thực trạng công tác phục vụ NDT tại thư viện Hà Nội
- Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phục vụ NDT tại thư viện Hà Nội Luận văn đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng NDT tại thư viện Hà Nội, làm tăng hiệu quả hoạt động của thư viện
9 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần mục lục, phụ lục, luận văn có nội
dung chính chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội
- Chương 2: Thực trạng công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện
Hà Nội
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI
1.1 Cơ sở lý luận về công tác phục vụ người dùng tin và nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin
1.1.1 Các khái niệm trong công tác phục vụ người dùng tin
Trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện nay, thư viện không chỉ đơn thuần là nơi lưu giữ tài liệu mà còn là nơi cung cấp và hướng dẫn tìm tin cho NDT Vì vậy công tác phục vụ NDT giữ vai trò quan trọng trong hoạt động thông tin – thư viện, là cầu nối giữa NDT với vốn tài liệu thông qua cán bộ thư viện, là khâu cuối cùng, là mục đích cao nhất của mọi hoạt động thư viện Hiệu quả của công tác phục vụ NDT là tiêu chuẩn, là thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động của mỗi thư viện
Công tác phục vụ người dùng tin
Công tác phục vụ NDT là tổng thể các biện pháp về tổ chức, các quá trình tâm lý sư phạm, là một công việc khoa học liên quan đến giáo dục, xã hội học, tâm lý học Tác giả Lê Văn Viết đã định nghĩa về công tác phục vụ
NDT trong “ Cẩm nang nghề thư viện” như sau: “ Phục vụ NDT là hoạt
động của thư viện nhằm tuyên truyền và đưa ra phục vụ các dạng tài liệu hoặc
là bản sao của chúng, giúp đỡ người đến thư viện trong việc lựa chọn và sử dụng tài liệu đó Công tác này được xây dựng trên sự kết hợp các quá trình liên quan chặt chẽ với nhau của việc phục vụ Thư viện, phục vụ thông tin tra cứu"
Công tác phục vụ NDT là việc tổ chức phục vụ tài liệu cho NDT, là một hoạt động của thư viện nhằm thúc đẩy, phát triển và thỏa mãn nhu cầu, hứng thú đọc tài liệu thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn và cung cấp tài
Trang 18liệu dưới nhiều hình thức Công tác phục vụ NDT bao gồm các hình thức tổ chức và phương pháp phục vụ NDT ở trong và ngoài thư viện Đồng thời công tác phục vụ NDT còn là thước đo hiệu quả luân chuyển tài liệu và tác dụng của nó trong đời sống xã hội
Người dùng tin
Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin Đó là đối tượng phục vụ của công tác thông tin tư liệu Người dùng tin vừa là khách hàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời là người sản sinh ra thông tin mới
Người dùng tin là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu tin của mình, là chủ thể của nhu cầu tin Người có nhu cầu tin chỉ có thể trở thành NDT khi họ sử dụng thông tin(trực tiếp hoặc thông qua các sản phẩm và dịch
vụ thông tin), hoặc có điều kiện để sử dụng thông tin, thỏa mãn nhu cầu của mình
Ngày nay, với quan điểm hiện đại NDT được hiểu như một khách hàng đối với người làm công tác thông tin – thư viện Điều đó có nghĩa là hoạt động thông tin – thư viện muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm tới nhu cầu thông tin của NDT trong từng địa bàn cụ thể Nhu cầu tin của NDT là nguồn gốc ban đầu nảy sinh các hoạt động thông tin – thư viện
Như vậy trong bốn yếu tố cấu thành thư viện thì NDT là yếu tố trọng tâm Người dùng tin với tư cách là chủ thể của NCT đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động thông tin – thư viện Là đối tượng sử dụng kết quả cuối cùng của hoạt động thông tin – thư viện, NDT vừa là khách hàng, vừa là người sản sinh ra thông tin mới trong quá tŕnh sử dụng thông tin
Nhu cầu tin
Muốn công tác phục vụ người dùng tin đạt kết quả tốt nhất thì việc đầu tiên cần làm là nghiên cứu xem NDT muốn, cần và thích những thông tin gì
Vì thế nghiên cứu NCT là công việc thiết yếu trong hoạt động thư viện
Trang 19Nhu cầu tin là một dạng của nhu cầu tinh thần, nhu cầu bậc cao của con người NCT nảy sinh trong quá trình thực hiện các loại hoạt động khác nhau của con người Thông tin về đối tượng hoạt động, về môi trường và phương tiện hoạt động là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động của con người Bất kỳ hoạt động nào muốn đạt kết quả tốt cũng cần phải có thông tin đầy đủ, chính xác Hoạt động càng phức tạp nhu cầu được cung cấp thông tin càng cao Như vậy, NCT của mỗi cá nhân, tập thể là không giống nhau, càng tham gia nhiều hoạt động khác nhau, nhu cầu tin càng đa dạng, phức tạp, đòi hỏi được đáp ứng tin tức ở mức độ cao hơn Đồng thời NCT phát triển cao lại tác động trở lại tới sự phát triển của các hoạt động sản xuất, góp phần phát triển
xã hội
Vì vậy, NCT là yếu tố quan trọng tạo nên động cơ hoạt động thông tin,
có thể coi NCT là nguồn gốc tạo ra hoạt động thông tin [16,tr.6]
Mục đích nghiên cứu NCT là làm cho việc đáp ứng NCT của NDT có
cơ sở khoa học Trong “cẩm nang nghề thư viện” tác giả đã đề cập : “ muốn việc phục vụ NDT đạt kết quả tốt nhất cần phải nghiên cứu xem người đọc muốn và thích đọc cái gì Nghiên cứu nhu cầu NDT, vì thế là bộ phận hữu cơ của hoạt động thư viện” Nghiên cứu hứng thú và nhu cầu tin sẽ giúp việc phục vụ NDT có hiệu quả, hướng dẫn đọc đúng tài liệu, tuyên truyền tài liệu đúng đối tượng
Khái niệm phục vụ
Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý làm chủ biên đã định nghĩa về khái niệm phục vụ là “làm việc vì lợi ích của đối tượng nào” Trong hoạt động thông tin – thư viện thì công tác phục vụ NDT nhằm mục đích thỏa mãn NCT, giúp cho NDT đạt được mục tiêu tìm kiếm thông tin Đó chính là các hoạt động vì lợi ích NDT
Trang 20Khái niệm hiệu quả
Có rất nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về hiệu quả Theo từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng (2011) định nghĩa: Hiệu quả là kết quả đích thực của một hoạt động, công việc nào đó Hiệu quả là so sánh đầu vào với đầu ra của một quyết định nào đó
Theo Đại từ điển tiếng Việt: Hiệu quả đích thực của một hoạt động, công việc nào đó( Nguyễn Như Ý, Đại tư tiếng Việt, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008,tr.702) Nói đến hiệu quả là nói đến mục tiêu đặt ra được hoàn thành tốt, xấu thế nào và ở mức độ nào Trong tổ chức hoạt động, khái niệm hiệu quả sử dụng khá thường xuyên Hiệu quả mô tả các kết quả được thực hiện đích thực và rõ rệt như thế nào so với mục tiêu đề ra
Hiệu quả của công tác phục vụ người dùng tin được hiểu là việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ Thông tin – Thư viện đáp ứng được NCT của NDT
Hiệu quả của hoạt động thông tin thư viện là khái niệm phức tạp và còn nhiều tranh luận trong khoa học Thông tin thư viện Trong nhiều công trình của các tác giả khác nhau khái niệm này cùng những phương pháp đánh giá
và xác định hiệu quả của hoạt động TTTV cũng được trình bày khác nhau: Có những quan điểm lập luận: Hiệu quả là khả năng của hoạt động TTTV cung cấp một lượng tối đa các dịch vụ TTTV
Theo F.W Lancaster: Tính hiệu quả phải được đo bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu của NDT
Theo Tom Wilson: hiệu quả của hoạt động TTTV gồm các tiêu chí: Sự thành công, hiệu quả, hiệu suất, lợi ích và chi phí
Theo quan điểm của Stefan Cronholm and Govan Gold Kuhl: Hiệu quả là mức độ tương ứng các khả năng của hệ thống thông tin với yêu cầu của NDT
Trong luận văn, chúng tôi xem xét khái niệm hiệu quả theo mục tiêu của hoạt động phục vụ NDT: Hiệu quả của công tác phục vụ NDT là phản ánh
Trang 21mức độ thỏa mãn NCT của NDT trong thư viện và mức độ đảm bảo thông tin cho NDT thông qua các sản phẩm dịch vụ thông tin thư viện
1.1.2 Hình thức phục vụ người dùng tin
Tại điều 1 của Pháp lệnh thư viện nêu rõ: “ Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc: thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tần lớp nhân dân; góp phân nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Công tác phục vụ NDT với mục đích làm thỏa mãn nhu cầu khai thác, tìm kiếm, sử dụng tài liệu bằng nhiều hình thức:
- Tổ chức phục vụ tài liệu cho NDT
- Phục vụ thông tin có chọn lọc
- Tuyên truyền giới thiệu sách, báo
- Phục vụ thông tin thư mục
- Hướng dẫn khai thác thông tin
Ở một góc độ khác có thể chia việc phục vụ NDT ra thành các hình thức phục vụ khác nhau như:
Trang 221.1.3 Yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin
Lê Nin từng nói “Đánh giá thư viện không phải là thư viện đó có bao nhiêu sách quý hiếm, có trụ sở khang trang, tiện nghi hiện đại, mà chính là thư viện đó thu hút và phục vụ được bao nhiêu bạn đọc đến sử dụng thông tin.”
Phục vụ NDT là khâu cuối cùng trong chu trình đường đi của sách nhưng là khâu then chốt, trực tiếp quyết định toàn bộ kết quả trong hoạt động của công tác Thư viện Trên thực tế công tác phục vụ NDT vừa là mục đích đồng thời là thước đo hiệu quả của hoạt động thư viện mà NDT là yếu tố chính thúc đẩy hướng phát triển của mọi thư viện
Nghiên cứu NCT là hoạt động then chốt trong hoạt động của các cơ quan thông tin – thư viện Mọi hoạt động trong dây chuyền thông tin – thư viện đều ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác phục vụ NDT Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác phục vụ NDT là :
- Nguồn lực thông tin: đối với bất kỳ cơ quan thông tin – thư viện nào thì nguồn lực thông tin luôn là yếu tố vô cùng quan trọng là tiền đề tạo nên mọi hoạt động của thư viện và là cơ sở để từ đó phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin nhằm thỏa man nhu cầu thông tin cho NDT Nguồn lực thông tin đa dạng, phong phú phù hợp với NCT của NDT là nền tảng cho sự phát triển của mỗi cơ quan thông tin- thư viện
- Chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin: sản phẩm thông tin là kết quả của hoạt động xử lý thông tin tại các cơ quan thông tin – thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu dùng tin của NDT, bao gồm các loại sau:
Hệ thống mục lục
Hệ thống phiếu tra cứu dữ kiện
Tạp chí tóm tắt
Danh mục
Trang 23 Dịch vụ cung cấp tài liệu
Dịch vụ tra cứu thông tin
Dịch vụ trao đổi thông tin
Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc
Triển lãm tài liệu
Dịch vụ tư vấn thông tin
- Trình độ chuyên môn, kỹ năng của cán bộ thư viện
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường của thư viện
- Hoạt động nghiên cứu về NCT và NDT
Mục đích đánh giá nhu cầu NDT là làm cho việc phục vụ NCT của NDT có cơ sở khoa học Trong "Cẩm Nang Nghề Thư viện" tác giả đã đề cập:
"Muốn việc phục vụ NDT đạt kết quả tốt nhất cần phải nghiên cứu xem người đọc muốn và thích đọc cái gì Nghiên cứu nhu cầu NDT, vì thế là bộ phận hữu
cơ của hoạt động thư viện" Nghiên cứu hứng thú và nhu cầu đọc sẽ giúp việc phục vụ NDT có hiệu quả, hướng dẫn đọc đúng tài liệu, tuyên truyền tài liệu đúng đối tượng
1.1.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin
Công tác phục vụ NDT luôn được coi là công tác quan trọng nhất trong hoạt động TT - TV Thông qua công tác này vốn tài liệu của thư viện mới được sử dụng có hiệu quả, giúp cho NDT thoản mãn một cách tốt nhất nhu cầu tin của mình
Trang 24Theo từ điển Wikipedia tiếng Việt thì “tiêu chí” được định nghĩa: Tiêu chí là tính chất, dấu hiệu để dựa vào mà phân biệt một vật, một khái niệm, để phê phán nhằm đánh giá Để đánh giá toàn diện về chất lượng của một hoạt động, phải xây dựng các tiêu chí đánh giá Tùy thuộc vào mục đích, đối tượng phục vụ của thư viện, người ta sẽ đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động phục vụ của thư viện Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác phục vụ NDT bao gồm:
- Mức độ đáp ứng nhu cầu tin: Sự phát triển kinh tế, xã hội, sự bùng
nổ của CNTT dẫn đến xuất hiện hàng loạt các sản phẩm thông tin mới NDT cũng yêu cầu cao hơn về vốn tài liệu nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, giải trí
và nâng cao trình độ của họ
- Mức độ lôi cuốn người dùng tin (lượt NDT đến thư viện, lượt NDT
truy cập CSDL của thư viện, đánh giá của NDT về sản phẩm, dịch vụ thư viện) Thoả mãn NCT luôn là mục tiêu hàng đầu của mỗi thư viện đó cũng chính là sức hấp dẫn, lôi cuốn NDT đến với thư viện Sự hài lòng tùy thuộc vào lợi ích hay hiệu quả mà thư viện mang lại so với những gì mà NDT đang
kỳ vọng Khi NDT hài lòng tích cực về thư viện thì nhu cầu sử dụng, tìm kiếm thông tin của họ ngày càng tăng lên Họ hy vọng các NCT ngày càng cao của mình sẽ được đáp ứng tối đa Sự hài lòng của NDT được chứng minh bằng các ý kiến của NDT khi thư viện phát phiếu khảo sát, thống kê lượng phiếu phát ra và thông qua tỷ lệ tài liệu được mượn để tính mức độ hài lòng của NDT từ đó có những chính sách phù hợp nhằm phát triển thư viện ngày càng thỏa mãn NCT của NDT
- Mức độ khai thác thông tin (vòng quay của tài liệu hay tần suất sử
dụng tài liệu) Sau khi quảng bá về lợi ích của NDT khi sử dụng thư viện luôn đáp ứng mọi yêu cầu tin phục vụ việc nghiên cứu, học tập của họ một cách kịp thời và chính xác, dựa vào thống kê của Module Lưu thông trên phần mềm quản trị thư viện trong một khoảng thời gian cụ thể để đánh giá tần suất sử
Trang 25dụng tài liệu của thư viện Tỷ lệ tài liệu được mượn càng cao thì tần suất sử dụng và sự hài lòng của NDT càng cao, hiệu quả hoạt động của thư viện tốt
- Khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất, trang thiết bị của thƣ viện:
Với sự phát triển của công nghệ thông tin, các hình thức truy cập đến vố tài liệu của thư viện vô cùng phong phú: CSDL online, phần mềm quản trị thư viện tích hợp, cổng thông tin hay thậm chí các diễn đàn trên các trang mạng
xã hội tương tác đều là phương tiện hiệu quả để giới thiệu NLTT đến với NDT Ngoài ra còn có máy tính, trang thiết bị cần thiết đảm bảo điều kiện vật chất tốt nhất cho NDT khi khai thác tài liệu tại thư viện
- Năng lực, trình độ và tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ thƣ viện: Trong hoa ̣t đô ̣ng phục vụ NCT của thư viện công cộng , NDT thường
xuyên tiếp xúc , giao di ̣ch với cán bộ thư viện , mọi thái độ , phong cách làm viê ̣c của người cán bộ thư viện có ảnh hưởng qu yết đi ̣nh đến hình ảnh và uy tín của thư viện Vì vậy , với kiến thức , kinh nghiê ̣m, thái độ phục vụ , khả năng thuyết phục NDT , ngoại hình, trang phục cán bộ thư viện… có thể làm tăng thêm chất lượng di ̣ch vụ hoặc cũng có thể sẽ làm giảm chất lượng di ̣ch
vụ Hiê ̣n nay, với sự xuất hiê ̣n của nhiều CSDL online trong và ngoài nước , trình độ công nghệ, sản phẩm gần như không có sự khác biệt , các thư viện chỉ
có thể nâng cao tính cạnh tranh bằng chất lượng phục vụ của độ i ngũ cán bộ Chất lượng cán bộ càng cao thì lợi thế ca ̣nh tranh của thư viện càng lớn Do đó, để duy trì và phát triển quan hê ̣ với NDT hiê ̣n ta ̣i cũng như NDT trong tương lai, các thư viện nói chung, Thư viện Hà Nội nói riêng cần phải không ngừng nâng cao chất lượng đô ̣i ngũ cán bộ của mình nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn NCT của NDT
1.1.5 Vai trò của công tác phục vụ người dùng tin
Công tác phục vụ NDT là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động TT - TV, là cầu nối giữa NDT và kho tài liệu của thư viện, là khâu cuối cùng, là mục đích cao nhất của mọi hoạt động thư viện Hiệu quả
Trang 26của công tác phục vụ NDT là tiêu chuẩn, thước đo để đánh giá chất lượng hoạt động của mỗi thư viện
Công tác phục vụ NDT có vai trò quan trọng đặc biệt, giúp cho việc vận hành kho sách đã được bổ sung và tổ chức tốt Dù kho sách có vốn tài liệu phong phú đến đâu mà không có NDT, khai thác thông tin thì kho sách
đó cũng chỉ là “kho sách chết”, không có giá trị sử dụng
Công tác phục vụ NDT giúp cho NDT thỏa mãn được nhu cầu tin, tra tìm thông tin mà họ cần Thông qua công tác phục vụ NDT có thể đánh giá hiệu quả xã hội của thư viện Thư viện càng thu hút, phục vụ được số lượng lớn NDT thì vai trò và tác dụng của nó càng lớn
Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thư viện không chỉ đơn thuần là nơi lưu giữ tài liệu mà còn là nơi cung cấp và hướng dẫn tìm tin cho NDT Vì vậy, công tác phục vụ NDT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
Công tác phục vụ NDT giúp cho mỗi cá nhân tìm kiếm, lựa chọn những thông tin mà họ cần, tổ chức tuyên chuyền, giới thiệu những sách báo cần thiết, tốt nhất cho từng người, từng nhóm NDT nói chung Cán bộ thư viên có trách nhiệm hướng dẫn đọc, tạo hứng thú cho NDT, giúp NDT tự học, hình thành thói quen đọc sách, từ đó văn hóa đọc được phát triển mạnh mẽ hơn
1.2 Khái quát về thƣ viện Hà Nội
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện
Thư viện Hà Nội (TVHN) thành lập ngày 15/10/1956 tại nhà Thủy Tạ bên hồ Hoàn Kiếm, Thư viện Hà Nội ra đời với tên gọi ban đầu là “Phòng đọc sách nhân dân” Từ xuất phát điểm đó, ba năm sau, vào tháng 1 năm 1959 Thư viện nhân dân Hà Nội chính thức được chuyển về trụ sở 47 phố Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Hiện nay Thư viện mang tên là “Thư viện thành phố Hà Nội”
Trang 27Ngày đầu thành lập, Thư viện chỉ có 4 cán bộ với 5000 cuốn sách, một
số báo, tạp chí được chuyển từ chiến khu Việt Bắc về Khó khăn là vậy, nhưng với lòng yêu nghề, cán bộ thư viện đã sáng tạo nhiều hình thức phong phú phục vụ sách báo kip thời cho Cách mạng, cho nhân dân
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1975), với phương châm “Sách đi tìm người”, bằng những phương tiện thô sơ (ba lô, túi sách, xe đạp…), Thư viện Hà Nội đã luân chuyển hàng vạn cuốn sách, báo kịp thời phục vụ đời sống tinh thần cho bộ đội, dân quân, nhân dân nội, ngoại thành Hà Nội, góp phần cùng toàn dân đánh Mỹ
Ngày 30/4/1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, Thư viện Hà Nội cùng với Thành phố bước vào mặt trận mới: Khắc phục những hậu quả của chiến tranh, vượt qua những khó khăn, hạn chế của thời bao cấp, xây dựng phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội thủ đô ngang tầm với vị thế mới Tháng 5/1996 Thư viện Hà Nội được cải tạo xây dựng lại, với khu nhà ba tầng khang trang Kho sách báo thư viện lớn dần lên với 25 vạn bản Đội ngũ cán bộ thư viện được bổ sung và đào tạo bài bản hơn
Tháng 8/2008, Thư viện Hà Nội khánh thành trụ sở xây mới với kiến trúc bề thế, ấn tượng của hai khối nhà cao 9 tầng có tổng diện tích sàn 6178
m2 mô phỏng hình ảnh trang sách mở như ôm lấy dòng chảy vô tận của tri thức nhân loại Đây cũng là một trong những công trình văn hóa chào mừng
kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
Đến tháng 2/2009, sau khi hợp nhất với Thư viện tỉnh Hà Tây, Thư viện Hà Nội có thêm một trụ sở tại số 2B đường Quang Trung, quận Hà Đông với tòa nhà 3 tầng thiết kế theo hình dải lụa có tổng diện tích sàn 2029 m2
Hiện nay, với 7 phòng chức năng: Hành chính - Tổng hợp, Bổ sung và
Xử lý kỹ thuật, Phục vụ NDT, Địa chí và Thông tin tra cứu, Phòng Nghiệp vụ
và Phong trào cơ sở, Tin học, Phục vụ Thiếu nhi, Thư viện Hà Nội cung cấp cho NDT hơn 48 vạn tài liệu; trong đó có 402 đầu báo, tạp chí và khoảng 2
Trang 28vạn tài liệu địa chí Hà Nội với nhiều loại hình (bản đồ, văn bia, thần tích, thần sắc, hương ước…), cùng 5 CSDL thư mục và CSDL dữ kiện với hàng trăm nghìn biểu ghi
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùng tin Thủ đô, Thư viện đã không ngừng đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả phục vụ: đơn giản thủ tục làm thẻ; mở rộng hệ thống các phòng phục vụ: phòng thiếu nhi, phòng đọc báo tạp chí, phòng mượn, phòng đọc tự chọn, phòng đọc theo yêu cầu, phòng đọc sách ngoại văn, phòng đọc dành cho người khiếm thị, phòng đọc tài liệu về
Hà Nội, phòng đọc đa phương tiện…thời gian mở cửa phục vụ từ 8h - 20h hàng ngày (không nghỉ trưa)
Song song với việc cung cấp tài liệu, phục vụ thông tin thư mục cho NDT Thư viện Hà Nội còn đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách, báo, nói chuyện chuyên đề cùng các hoạt động khác nhằm thu hút NDT đến sử dụng thư viện, đồng thời giúp NDT lựa chọn những cuốn sách bổ ích
và phù hợp
Với định hướng phát triển thư viện trở thành thư viện hiện đại, bằng kinh phí nhà nước và nguồn xã hội hóa, Thư viện Hà Nội đã đầu tư trang bị phần mềm quản lý thư viện LIBOL 6.0; phần mềm sản xuất sách nói cho người khiếm thị Daisy; cùng hệ thống máy tính, máy scan, máy in laze, máy photo…toàn bộ phòng đọc được trang bị máy điều hòa, kho sách có máy hút bụi, chống ẩm Đặc biệt, Thư viện Hà Nội còn đầu tư xây dựng một Studio chuyên dụng sản xuất sách nói cho người khiếm thị
Góp phần thực hiện tốt chủ trương xây dựng “xã hội học tập suốt đời”, đưa văn hóa về cơ sở của Ðảng, Nhà nước và Thành phố, Thư viện Hà Nội còn thực hiện chức năng hướng dẫn nghiệp vụ và xây dựng mạng lưới thư viện cơ sở cho 30 Thư viện quận – huyện, 107 thư viện cấp xã - phường,
1.138 thư viện, tủ sách tại các cụm dân cư, thôn, làng
Trang 29Là thành viên của Liên hiệp Thư viện Đồng bằng sông Hồng, Thư viện
Hà Nội luôn phát huy tinh thần hợp tác, chia sẻ trao đổi thông tin, kinh nghiệm để cùng nhau phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của hệ thống thư viện công cộng nước ta
Trong hơn nửa thế kỷ qua, sự phát triển của Thư viện Hà Nội luôn gắn liền với sự phát triển của văn hóa, chính trị, kinh tế Thủ đô Thư viện đã trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc và để lại dấu ấn tốt đẹp trong ký ức của nhiều thế hệ người Hà Nội
Ghi nhận kết quả hoạt động đối với sự phát triển chung của Thủ đô, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như UBND Tp Hà Nội đã tặng nhiều giải thưởng thi đua, bằng khen cho Thư viện Hà Nội trong nhiều năm liền Thư viện Hà Nội vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng ba huân chương Lao động (hạng nhất, nhì, ba) và Huân chương Độc lập Hạng 3 vì thành tích phục
vụ đắc lực công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta Cùng với sự yêu mến, tin tưởng của NDT, những phần thưởng này có ý nghĩa khích lệ hết sức
to lớn, giúp tập thể cán bộ, nhân viên Thư viện Hà Nội luôn có động lực vượt qua mọi khó khăn để đưa Thư viện phát triển ngày càng vững mạnh, xứng tầm là Thư viện trung tâm của mảnh đất Rồng thiêng ngàn năm văn hiến
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện
* Chức năng của thƣ viện Hà Nội
Thư viện Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có chức năng thu thập, bảo quản,
tổ chức khai thác và sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại Hà Nội và nói
về Hà Nội, các tài liệu trong nước và nước ngoài, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thư viện Hà Nội là một trong 6 thư viện quan trọng được nhà nước đầu
tư đặc biệt, là thư viện công cộng lớn nhất Thủ đô, do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội thành lập, là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở văn hóa, Thể thao và Du
Trang 30lịch Hà Nội, có chức năng thu thập, bảo quản và tàng trữ các loại hình tài liệu phản ánh các môn loại tri thức về khoa học, chính trị, kinh tế, văn hóa nghệ thuật phù hợp với đặc điểm và trình độ của người dân thủ đô
Thư viện là cơ quan tham mưu cho Giám đốc Sở VHTT&DL Hà Nội về
tổ chức và hoạt động của thư viện quận, huyện và cơ sở và các loại hình thư viện khác trên địa bàn Thành phố Hà Nội TVHN là trung tâm luân chuyển sách báo, nối kết với các mạng lưới thư viện, tủ sách cơ sở phục vụ NDT ở các quận, huyện, nội ngoại thành Hà Nội Đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức phổ thông và các nhu cầu khác
Với chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại Hà Nội và về Hà Nội, TVHN là trung tâm địa chí về thủ đô, phục vụ các loại tài liệu địa chí cho NDT có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về Hà Nội Đây là công tác đặc thù nổi bật của TVHN
Là trung tâm thông tin thư mục của thủ đô, Thư viện đã xây dựng hệ thống sản phẩm thông tin hữu dụng như thư mục thông báo khoa học, thư mục chuyên đề, thư mục thông báo sách mới, thư mục địa chí…đề cập đến nhiều lĩnh vực khoa học, nhiều mặt của cuộc sống
Với chức năng quản lý thư viện theo ngành dọc, TVHN là trung tâm hướng dẫn nghiệp vụ cho mạng lưới thư viện quận huyện và cơ sở TVHN thường xuyên kiểm tra, đôn đốc hoạt động nghiệp vụ của hệ thống Thư viện công cộng của Thủ đô, mở các lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao trình độ cho cán bộ thư viện của hệ thống này nhằm đẩy mạnh phong trào đọc sách, báo ở Thủ đô
TVHN có trách nhiệm dùng sách, báo, tài liệu tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mac- Lê Nin, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, phổ biến những kiến thức về khoa học kỹ thuật, giáo dục con người XHCN, phục
vụ và phát huy truyền thống, phát triển kinh tế và văn hóa của Thủ đô góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới của dân tộc
Trang 31* Nhiệm vụ của Thƣ viện Hà Nội
Sau khi hợp nhất Thư viện Hà Nội và Thư viện Hà Tây, mạng lưới thư viện cơ sở tăng gấp đôi, địa bàn hoạt động mở rộng Để đảm bảo tốt cho việc phục vụ NDT, ngoài chức năng trên TVHN có các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng và trình Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch thành phố Hà Nội quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động dài hạn, hàng năm của Thư viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
- Tổ chức phục vụ và tạo mọi điều khiện thuận lợi cho NDT được sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ, mượn về nhà hoặc phục vụ ngoài thư viện phù hợp với nội quy thư viện
Phục vụ miễn phí tài liệu thư viện tại nhà cho NDT cao tuổi, tàn tật bằng hình thức gửi qua bưu điện hoặc thư viện lưu động theo quy định của Pháp lệnh Thư viện
- Xây dựng và phát triển vốn tài liệu phù hợp với đặc điểm tự nhiên- kinh tế- văn hoá của Hà Nội và đối tượng phục vụ của thư viện như:
+ Thu thập, tàng trữ và bảo quản lâu dài các tài liệu được xuất bản tại
Hà Nội và viết về Hà Nội
+ Bổ sung, trao đổi, nhận biếu tặng tài liệu của cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật
+Nhận các xuất bản phẩm lưu chiểu tại Hà Nội: các bản sao khoá luận, luận văn, luận án của sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các trường đại học tại Hà Nội, các công trình nghiên cứu khoa học của Hà Nội và nghiên cứu về Hà Nội
+ Xây dựng bộ phận tài liệu dành cho trẻ em, người khiếm thị, tài liệu bằng tiếng dân tộc phù hợp với đặc điểm dân cư trên địa bàn Thành phố
+ Tăng cường nguồn lực thông tin thông qua việc mở rộng sự liên thông giữa thư viện với các thư viện trong nước và ngoài nước bằng hình thức cho mượn, trao đổi tài liệu và kết nối mạng máy tính
Trang 32+ Lưu trữ các tài liệu có nội dung quy định tại Khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thư viện và phục vụ người đọc theo quy định của Pháp luật
+ Thực hiện việc thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu không còn giá trị sử dụng theo quy định
- Tổ chức và thực hiện công tác tuyên truyền giới thiệu kịp thời, rộng rãi vốn tài liệu thư viện đến mọi người, đặc biệt là các tài liệu phục vụ công cuộc phát triển kinh tế- văn hoá - xã hội Thủ đô; xây dựng phong trào đọc sách, báo sâu rộng trong nhân dân
- Biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin- thư mục, thông tin có chọn lọc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đối tượng phục vụ của thư viện
- Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thư viện
; tham gia xây dựng và phát triển mạng thông tin- thư viện của hệ thống thư viện công cộng
- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư viện quận - huyện và
cơ sở trên địa bàn thành phố bằng các phương thức: biên soạn tài liệu, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo về nghiệp vụ thư viện theo sự phân công của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội
- Hợp tác quốc tế về lĩnh vực Thư viện: tham gia các tổ chức quốc tế
về thư viện, xây dựng và tiếp nhận các dự án tài trợ tài liệu, trang thiết bị và
dự án bồi dưỡng cán bộ thư viện do các thư viện , tổ chức nước ngoài tài trợ hoặc tổ chức, tổ chức hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động, triển lãm tài liệu theo quy định của pháp luật
- Tổ chức các hoạt động, dịch vụ có thu phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ được giao và phù hợp với quy định của pháp luật
- Quản lý và tổ chức bộ máy, biên chế, hồ sơ tài liệu, thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm vị quản
lý theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội
Trang 33- Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản được giao và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao
và Du lịch thành phố Hà Nội giao
Với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xã hội thông tin ngày càng mạnh mẽ, nhiều thách thức to lớn đang đặt ra cho ngành TT-TV nói chung và TVHN nói riêng Sứ mệnh, trách nhiệm của TVHN quả thật lớn lao khi xã hội xem thư viện là nơi quản lý tri thức Hơn bao giờ hết, TVHN cần tự đổi mới chính mình, xây dựng kế hoạch chiến lược lâu dài và xác định nhiệm vụ trọng tâm của thư viện Đó là nâng cao chất lượng dịch vụ TT-TV, tổ chức hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin đáp ứng nhu cầu tin của người dân thủ đô
1.2.3 Cơ cấu tổ chức
Hiện nay Thư viện có 79 cán bộ, trong đó có 56 cán bộ đã trong biên chế và 23 cán bộ làm hợp đồng 100% cán bộ chuyên môn có trình độ cử nhân, 7 cán bộ là thạc sĩ khoa học thư viện, 7 cán bộ có văn bằng 2: chuyên ngành ngoại ngữ, báo chí, hành chính
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Thư viện luôn tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các chương trình hội thảo, tập huấn về chuyên môn do
Vụ Thư viện, Thư viện Quốc Gia Việt Nam… tổ chức, về các chuẩn nghiệp
vụ, ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa tài liệu, kỹ năng phục vụ người khiếm thị… Các chương trình tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, chuyên ngành ở nước ngoài: tập huấn về công tác phục vụ NDT tại Singapore – do Quỹ SIDA Thụy Điển tài trợ, tham gia học tập kinh nghiệm công tác thư viện tại Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc…
Thư viện đã có 4 cán bộ được đào tạo 2 tháng tại Ấn Độ về Tiếng Anh và Tin học Được học tập và làm việc với các chuyên gia nước ngoài góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng và tác phong làm việc Các cán bộ đi học đều
đã áp dụng những kiến thức được học vào hoạt động của Thư viện
Trang 34Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức của thư viện Hà Nội
Cơ cấu tổ chức của TVHN gồm:
- Ban giám đốc TVHN: Giám đốc và các phó giám đốc
Phòng địa chí và thông tin tra cứu
Pḥòng nghiệp vụ và phong trào cơ sở
Phòng tin học
Trang 351.2.4 Trụ sở, trang thiết bị công nghệ
Hiện nay, TVHN có 01 tòa nhà 9 tầng ở 47 Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội (cơ sở 1) và 01 tòa nhà 5 tầng ở số 2B Quang Trung, quận Hà Đông,
Hà Nội(cơ sở 2), Thư viện có 04 máy chủ, 133 máy tính, 02 máy scan, 03 máy chiếu, 03 máy photocopy và máy in Hệ thống bảo vệ, bảo quản tài liệu: Camera, máy hút bụi, máy điều hòa không khí…có hệ thống mạng nội bộ, mạng internet đường truyền tốc độ cao, mạng wifi
1.3 Người dùng tin và yêu cầu phục vụ người dùng tin tại Thư viện Hà Nội
1.3.1 Đặc điểm người dùng tin tại Thư viện Hà Nội
Hiệu quả hoạt động thư viện bị chi phối bởi yếu tố: NDT, NCT, vốn tài liệu, cơ sở vật chất, kỹ thuật, trong đó NDT và NCT là yếu tố đóng vai trò quyết định NDT là thành phần không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động nào của một cơ quan TT-TV NDT và NCT của họ là cơ sở để định hướng cho toàn bộ hoạt động thông tin của cơ quan TT-TV Nắm vững nhu cầu thông tin, đáp ứng một cách kịp thời đầy đủ và chính xác NCT của NDT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện nói chung và của Thư viện Hà Nội nói riêng
Để tìm hiểu NDT và xác định NCT của người dùng tin, TVHN đã nghiên cứu thông qua các nhật ký thư viện, báo cáo hàng tháng và tổng kết hàng năm của phòng Phục vụ TVHN, qua phiếu khảo sát NCT của NDT tại TVHN
Các phương pháp nghiên cứu trên đã xác định được số lượng, thành phần người sử dụng, đồng thời xác định được mức độ đáp ứng của NCT và mức độ thỏa mãn nhu cầu sử dụng thư viện của NDT, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của công tác phục vụ NDT tại TVHN
Thư viện Hà Nội là một thư viện công cộng lớn nhất thủ đô, đối tượng
sử dụng thư viện rất rộng rãi, bao gồm NDT trong nước và nước ngoài đang
Trang 36sinh sống và làm việc tại Hà Nội Đó là cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc các ban ngành của Thành phố và của Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội; cán
bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy ở các trường Đại học và phổ thông, cán bộ chuyên môn ở các cơ quan và cơ sở, cán bộ hưu trí, công nhân, nông dân, sinh viên, học sinh phổ thông, người làm nghề tự do…họ ở mọi lứa tuổi và lĩnh vực hoạt động khác nhau Họ là người sử dụng kết quả hoạt động của thư viện, là người điều chỉnh thông tin qua các thông tin phản hồi, là chủ thể của nhu cầu tin- nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin đồng thời cũng là người sản sinh ra thông tin mới
Qua khảo sát 285 phiếu thu được từ NDT tại Thư viện Hà Nội và dựa vào trình độ học vấn và lĩnh vực hoạt động có thể chia thành phần NDT của Thư viện thành 4 nhóm chính, được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 1.1: Nhóm Người dùng tin tại TVHN
Mỗi nhóm NDT của thư viện có những đặc điểm riêng, phân chia các đối tượng phục vụ theo các nhóm NDT là để tìm ra những đặc điểm chung
12.3%
21.7%
43.2%
22.8%
Nhóm NDT tại Thư Viện Hà Nội
Trang 37của từng nhóm người có cùng trình độ, chuyên ngành, công việc, tâm lý, hứng thú nắm bắt những quy luật, để phát triển nhu cầu tin cho từng nhóm
Nhóm 1: Nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý
Đó là cán bộ lãnh đạo, quản lý tuy số lượng không nhiều, 12,3% nhưng
họ có vai trò rất quan trọng Họ là nhóm người dùng tin có đặc điểm lao động trí óc, sáng tạo và khoa học quản lý, là những người có trách nhiệm đưa ra những quyết sách về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và chịu trách nhiệm trước các quyết định đó Thông tin cung cấp cho họ yêu cầu cao: vừa rộng vừa có tính chuyên sâu, đòi hỏi độ đáp ứng chính xác và kịp thời Hình thức thông tin ở nhiều mức độ và nhiều dạng Thông tin cho nhóm này thường là những vấn đề nóng hổi, các tài liệu chỉ đạo: chỉ thị, nghị quyết, các phương pháp quản lý… Tuy nhiên, do tính chất của công việc họ không thường xuyên đến thư viện, do đó phương pháp phục vụ chủ yếu cho nhóm này là đưa ra các thông tin chọn lọc phục vụ thông tin theo yêu cầu, hình thức
sử dụng của họ là thông tin chuyên đề, thông tin tóm tắt, tổng quát
Nhóm 2: Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu và giảng dạy
Nhóm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy chiếm 21,7 % Họ là những người tham gia giảng dạy ở các trường chuyên nghiệp, giáo viên, cán bộ nghiên cứu, cán bộ chuyên môn trong các cơ quan trung ương và thành phố, 100% có trình độ đại học và biết sử dụng từ 1 ngoại ngữ trở lên Đây là nhóm NDT có tầm hiểu biết sâu rộng, có kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực Họ thường quan tâm đến tài liệu chuyên sâu về một ngành khoa học nào đó, hoặc các tài liệu mang tính chất bổ trợ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy Tài liệu họ cần là tài liệu có tính cập nhật, bền vững và đa dạng, chủ yếu là tài liệu xám để bảo đảm tính kế thừa và tránh trùng lặp trong nghiên cứu Họ là những người tham mưu cho các cơ quan Đảng và chính quyền các cấp Họ đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, chỉ đạo và hướng dẫn người
Trang 38dân áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất của cải vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống
Nhóm 3: Nhóm người dùng tin là học sinh, sinh viên
Đây là nhóm NDT đông đảo nhất hiện nay tại thư viện Hà Nội, chiếm 43,2% Họ là học sinh, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học sinh các trường phổ thông đóng trên địa bàn Hà Nội Nhu cầu đọc của họ thay đổi theo năm học, cấp học hoặc ngành nghề học theo học Đối với mỗi giai đoạn học hay cấp độ nghiên cứu, có những nhu cầu về thông tin khác nhau Thông tin họ cần chủ yếu phục vụ cho các môn học ở trường, thường là những sách giáo khoa, đáp ứng công việc học tập và làm luận văn tốt nghiệp Vì vậy, tài liệu họ sử dụng là những tài liệu mang kiến thức cơ bản về các ngành khoa học và không quá chuyên sâu như văn học, từ điển tiếng Anh Sinh viên thường đến phòng đọc tổng hợp, đó là phòng đọc
mở nên sinh viên có thể tự tìm tài liệu trên giá, một số loại sách không có tại phòng đọc sinh viên có thể thông qua bộ máy tra cứu của thư viện và viết phiếu yêu cầu để được mượn đọc tại chỗ
Học sinh, sinh viên là những người trẻ tuổi ham hiểu biết, thích học hỏi, tìm tòi, khám phá, do đó họ còn quan tâm đến những thông tin cập nhật
về các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giải trí, thể thao… Họ tự trang bị cho mình những kiến thức làm hành trang vào đời sau này
Phục vụ đối tượng này rất quan trọng, người cán bộ thư viện giúp cho
họ biết phương pháp sử dụng thư viện và tra tìm tài liệu nhanh nhất, hiệu quả nhất
Người dùng tin là học sinh ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng: Nhu cầu thông tin là những kiến thức phổ thông đơn giản, dễ hiểu, các loại sách truyện
cổ tích, truyện tranh hiện đại, những cuốn sách được viết giản dị, dễ hiểu và
có minh họa kèm theo Ngoài ra, do điều kiện ở thành phố lớn và sớm được
Trang 39tiếp xúc với các phương tiện truyền thông hiện đại nên các em lứa tuổi thiếu nhi được quan tâm đến tin học và ngoại ngữ cũng khá cao
Đối với thiếu nhi, phương thức phục vụ rất quan trọng, bởi thư viện là vấn đề mới mẻ đối với các em Cán bộ thư viện không chỉ phục vụ đơn thuần
mà còn phải hướng dẫn tận tình cách thức sử dụng thư viện, tìm tài liệu, định hướng đọc sách và tạo hứng thú đọc sách cho các em
Nhóm 4: Các đối tượng người dùng tin khác
Các đối tượng người dùng tin khác chiếm 22,8% Đây là nhóm NDT đa dạng và có nghề nghiệp, trình độ, tuổi tác khác nhau Thông tin nhóm này không cần sâu, có tính phổ cập, dễ tiếp nhận, phương tiện thông tin thuận lợi,
dễ sử dụng và ở nhiều loại hình tài liệu khác nhau
Có thể phân chia họ ra một số nhóm nhỏ sau:
- Những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh: Họ là những công nhân, viên chức, những người hoạt động kinh doanh Thông tin
họ cần chủ yếu là những tài liệu về ngành nghề mà họ quan tâm nhằm nâng cao tay nghề, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả trong kinh doanh Ngoài ra họ rất cần tài liệu giải trí, thư giãn
- Các thành phần lao động khác của xã hội: Gồm tiểu thương, nội trợ, thở thủ công, hưu trí, người hành nghề tự do… Thông tin phục vụ cho nhóm người này rất phong phú và đa dạng, đề cập đến nhiều vấn đề của xã hội những không sâu, thường mang tính phổ cập như: báo mới, sách giáo khoa học thường thức, truyện, văn hóa nghệ thuật, sách về sức khỏe, nội trợ….nhằm mục đích giải trí và tham khảo Họ là những bạn đọc tích cực của thư viện, thường xuyên tham gia các buổi tọa đàm, nói chuyện, giới thiệu sách tại thư viện Phục vụ nhóm NDT này, cán bộ thư viện phải nắm bắt tâm lý và
sở thích của từng đối tượng, hướng dẫn và tìm tài liệu giúp họ
1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin tại Thư viện Hà Nội
Căn cứ vào các nhóm đối tượng NDT đã chia ở trên, có thể đánh giá khái quát đặc điểm NCT của từng nhóm NDT tại Thư viện Hà Nội:
Trang 40Nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là cán bộ lãnh đạo, quản lý
Ngày nay xã hội ngày càng phát triển, sự cạnh tranh và những đòi hỏi thực tế của nền kinh tế thị trường ngày càng lớn khiến những nhà quản lý phải thật năng động và tinh tế mới đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bản thân và của nhà trường, tổ chức của mình Nhu cầu tin của nhóm ngày càng phong phú, sâu sắc hơn, đòi hỏi được thỏa mãn kịp thời và đáp ứng bằng những phương tiện hiện đại Đây là nhóm NDT có số lượng không nhiều chiếm (12,3%) nhưng lại là thành phần có ảnh hưởng lớn tới hoạt động thông tin, là nhóm đối tượng được ưu tiên phục vụ trong các cơ quan Thông tin – thư viện
Đặc điểm nổi bật của nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý là họ có cả quyền
uy và sự tín nhiệm Họ là những người có năng lực và trí tuệ, hiểu biết rộng
về môi trường xung quanh, thông minh sáng tạo, biết phân tích xử lý thông tin
để nhận biết thời cơ và nắm được thời cơ ấy Đồng thời, họ có khả năng đánh giá nhận biết chính xác con người mà họ quản lý, có năng lực tổ chức Ngoài
ra nhóm NDT này có trình độ học vấn cao, ngoại ngữ tốt Do tính chất công việc nên NCT của họ lớn, đa dạng về nội dung và hình thức, lượng thông tin ở diện rộng, khái quát trên mọi lĩnh vực khoa học, thông tin cần có chất lượng cao, có độ tin cậy, chọn lọc phù hợp
Nhu cầu tin của nhóm người dùng tin là cán bộ, giảng viên
Nhóm NDT này là những người làm công tác chuyên môn, giảng dạy, nghiên cứu Nhu cầu tin của họ hướng tới các thông tin chuyên ngành, tập trung vào các chuyên ngành đào tạo thuộc các lĩnh vực khác nhau Với số lượng chiếm (21,7%), nhưng đây là lực lượng cán bộ nòng cốt quyết định tới quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường Nhóm NDT này có khả năng sử dụng ngoại ngữ thành thạo, ngoài tài liệu tiếng việt họ thường xuyên có nhu cầu tham khảo tài liệu tiếng nước ngoài, nhóm NDT này thường xuyên cập nhật những kiến thức mới, chuyên sâu về các lĩnh vực khoa học Thông tin của nhóm người này cần là những thông tin về khoa học, giáo dục