Ngoài ra, những công trình nghiên cứu, bài viết của các nước chủ yếu tập trung vào điểm đến nói chung, các điểm hấp dẫn, hoạt động ở các điểm đến, về chất lượng dịch vụ hay chỉ đơn thuần
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRINH
NGHIÊN CỨU ĐIỂM THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ HUẾ PHỤC VỤ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỂM THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH 12
1.1 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa và điểm tham quan du lịch 12
1.1.1 Di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH) 12
1.1.2 Điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa phục vụ du lịch 14
1.2 Phân loại di tích lịch sử văn hóa 16
1.3 Những đặc điểm cơ bản của di tích lịch sử văn hóa 18
1.4 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa đối với điểm tham quan du lịch 20
1.5 Nhu cầu và hành vi tiêu dùng của du khách tại các điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa 22
1.5.1 Nhu cầu của du khách tại các điểm tham quan DTLSVH 23
1.5.2 Hành vi tiêu dùng của du khách tại các điểm tham quan DTLSVH 23
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tham quan DTLSVH 24
1.6.1 Cơ sở hạ tầng (CSHT) 24
1.6.2 Môi trường tự nhiên của các di tích lịch sử văn hóa 25
1.6.3 Môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội 25
1.6.4 Các nhà cung ứng dịch vụ 26
1.6.5 Sự an toàn của điểm tham quan 26
1.7 Tổ chức các điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa 27
1.7.1 Các bên tham gia vào tổ chức hoạt động du lịch 27
1.7.2 Lợi ích của tổ chức các hoạt động du lịch tại các DTLSVH 28
1.7.3 Chi phí của việc tổ chức các hoạt động du lịch tại các DTLSVH 29
Trang 31.8 Kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm trong nước về tổ chức điểm tham
quan DTLSVH và bài học kinh nghiệm 29
1.8.1 Kinh nghiệm quốc tế 29
1.8.2 Kinh nghiệm trong nước 33
1.8.3 Bài học kinh nghiệm 36
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐIỂM THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 39
2.1 Khái quát về tình hình phát triển của du lịch thành phố Huế 39
2.1.1 Tài nguyên du lịch thành phố Huế 39
2.1.2 Về loại hình du lịch tại TP Huế 41
2.1.3 Thực trạng hoạt động du lịch TP Huế 41
2.2 Khái quát chung về hệ thống các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế 45
2.2.1 Khái quát chung về các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế 45
2.2.2 Khái quát về một số điểm tham quan DTLSVH chủ yếu tại TP Huế 50
2.3 Đóng góp của các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế trong phát triển du lịch 54
2.4 Thực trạng về khai thác các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế 55
2.4.1 Thực trạng về khai thác điểm tham quan DTLSVH Đại Nội- Huế 55
2.4.2 Thực trạng khai thác điểm tham quan DTLSVH tại lăng Minh Mạng và lăng Tự Đức 57
2.5 Biến động lượng khách đến các điểm tham quan Đại Nội, lăng Minh Mạng và lăng Tự Đức 58
2.6 Phân tích kết quả điều tra đánh giá của khách du lịch về các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế 59
2.6.1 Thống kê mô tả về thông tin mẫu nghiên cứu 59
2.6.2 Thống kê mô tả về đặc điểm mẫu nghiên cứu 61
2.6.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA đối với tất cả các biến quan sát 63
2.6.4 Kiểm định độ tin cậy thang đo 67
Trang 42.6.5 Kiểm định phân phối chuẩn 68
2.6.6 Kiểm định giá trị trung bình của các yếu tố đánh giá của du khách về điểm tham quan DTLSVH tại Thành phố Huế 69
2.6.7 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm khách du lịch khác nhau khi đánh giá về các DTLSVH tại TP Huế 83
2.7 Nhận xét chung về các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế 87
Tiểu kết chương 2 89
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐIỂM THAM QUAN DTLSVH TẠI THÀNH PHỐ HUẾ PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH 90
3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 90
3.1.1 Những mục tiêu và quan điểm phát triển du lịch thành phố Huế 90
3.1.2 Căn cứ thực tiễn 93
3.2 Một số giải pháp và kiến nghị 94
3.2.1 Một số giải pháp đối với các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế 94
3.2.2 Một số kiến nghị 103
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 111
Trang 5Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế
Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch
Organisation-Tổ chức Giáo dục- Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Biến động lượt khách du lịch đến Huế qua các năm
( từ năm 2011 đến năm 2013)
Bảng 2.2 Doanh thu du lịch tại TP Huế từ năm 2011 đến năm 2013
Bảng 2.3 Thống kê lượt khách tham quan và doanh thu tại các điểm tham quan
Bảng 2.4 Biến động lượng khách đến các điểm tham quan Đại Nội, lăng Tự Đức
và lăng Minh Mạng qua các năm ( từ năm 2011 đến năm 2013)
Bảng 2.5 Mẫu điều tra địa điểm tham quan
Bảng 2.6 Kết quả kiểm định KMO- Bartlett đối với biến quan sát
Bảng 2.7 Hệ số Cronbach Alpha của các nhóm biến quan sát
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong hoạt động du lịch, điểm tham quan du lịch đóng một vai trò quan trọng
và là một trong những yếu tố không thể thiếu được để thu hút khách, đặc biệt đối với điểm tham quan DTLSVH, nó không chỉ là một điểm tham quan thuần túy mà còn là bài học về lịch sử thực tiễn đối với khách
Huế từ lâu được xác định là một trong những trung tâm du lịch văn hóa quan trọng của nước ta Các điểm tham quan DTLSVH ở Huế vừa hội tụ những đặc trưng, những tinh hoa của văn hóa dân tộc, vừa thể hiện những nét đặc trưng của một vùng đất giàu truyền thống văn hóa Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh và những thành tựu đã đạt được thì các điểm tham quan ở Huế vẫn còn những tồn tại
Để các điểm tham quan DTLSVH ở đây phát triển một cách bền vững, thực sự trở thành một loại hình du lịch văn hóa chuyên đề, một nhân tố quan trọng không chỉ mang lại sự tăng trưởng của nền kinh tế mà còn phát huy giá trị tinh thần…vv thì vẫn còn nhiều việc phải làm và nghiên cứu
Vì vậy việc nghiên cứu điểm tham quan DTLSVH tại thành phố Huế phục
vụ khách du lịch có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn
Hiện nay đã và đang có rất nhiều công trình nghiên cứu về điểm đến du lịch,
về các DTLSVH…vv nhưng hầu như các công trình hay tài liệu hiện có hoặc chỉ đề cập đến những vấn đề có tính khái quát, hoặc chỉ nghiên cứu về các DTLS, về chất lượng thuyết minh viên, về phát triển du lịch bền vững …vv Ngoài ra, những công trình nghiên cứu, bài viết của các nước chủ yếu tập trung vào điểm đến nói chung, các điểm hấp dẫn, hoạt động ở các điểm đến, về chất lượng dịch vụ hay chỉ đơn thuần nghiên cứu các giá trị văn hóa - lịch sử mà chưa đi sâu vào nghiên cứu điểm tham quan DTLSVH
Xuất phát từ yêu cầu về lý luận và thực tiễn trên, học viên chọn đề tài:
“Nghiên cứu điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Huế phục vụ khách du lịch” cho luận văn thạc sĩ của mình với mục đích vừa là đề tài tốt nghiệp,
Trang 7vừa mong muốn có được đóng góp thiết thực cho việc phát triển các điểm tham quan DTLSVH trên địa bàn thành phố Huế
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
DTLSVH là tài nguyên nhân văn quý giá được hình thành, bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở các địa phương, các quốc gia, vì vậy nhiều DTLSVH đã trở thành đối tượng tham quan, nghiên cứu Có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về các DTLSVH dưới nhiều góc độ khác nhau, điển hình như:
Ở Việt Nam:
Luận văn Thạc sĩ về “Vi phạm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh - thực trạng
và giải pháp” của Khoa Thị Khánh Chi nghiên cứu Xuất phát từ thực tiễn hiện nay, đề tài đã đặt ra vấn đề xâm phạm các di tích lịch sử và đề xuất một số giải pháp thích hợp
để ứng xử đối với các hành vi xâm phạm di tích
Bài viết “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính
đặc thù chuyên ngành” của Đặng Văn Bài trên Tạp chí di sản văn hóa, số 15, trang
10-16 (2006), Hà Nội
Bài viết “Cư dân trong vùng di tích” của TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung
tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế trên tạp chí Nghiên cứu và phát triển số 4(69), 2008 đã
đề cập đến vấn đề dân cư sống trong vùng di tích ảnh hưởng có ảnh hưởng đến môi trường và chính sách phát triển của Thừa Thiên Huế
Đối với các đề tài liên quan đến du lịch, có các công trình nghiên cứu như:
Tài liệu “Sổ tay hướng dẫn cấp nhãn du lịch xanh cho điểm tham quan du
lịch” (2013) của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã nghiên cứu và đưa ra các tiêu
chí, các chỉ số về bảo vệ môi trường làm công cụ quản lý và đánh giá các điểm tham quan nhằm góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế phát triển bền vững
“Bộ công cụ du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam” (2013) do Chương trình phát triển năng lực có trách nhiệm với môi trường và xã hội (Dự án EU) do Liên minh Châu
Âu tài trợ cũng đã nghiên cứu về các mục tiêu xây dựng năng lực cho các bên liên quan
Trang 8trong ngành du lịch Việt Nam để đạt được toàn diện lợi ích phát triển kinh tế - xã hội từ
du lịch trong khi bảo tồn các nguồn lực về tự nhiên và văn hóa của ngành du lịch
Đề tài: “Nghiên cứu các giới hạn để phát triển bền vững tại các điểm tham
quan du lịch thuộc quần thể di tích Huế (Việt Nam)” do Ths Hoàng Thị Diệu Thúy làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã hệ thống các vấn đề lý luận về các công cụ đánh giá
sự phát triển bền vững, trong đó đặc biệt chú trọng đến giới hạn bền vững và các phương pháp tiếp cận, đề xuất các chỉ báo và tiêu chuẩn đánh giá để cung cấp một công cụ hỗ trợ cho việc quản lí, giám sát và lập kế hoạch phát triển bền vững tại các điểm tham quan du lịch thuộc Quần thể di tích Huế - di sản thế giới tại Việt Nam
Luận văn Tiến sĩ khoa học về “Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số di
tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững” của TS Nguyễn Văn Đức Đề tài đã làm rõ sự kết hợp giữa các đơn vị kinh doanh du lịch với các đơn vị quản lí di tích lịch sử văn hóa để phát triển các sản phẩm du lịch theo hướng phát triển bền vững
Bài viết “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa phục vụ phát
triển du lịch thủ đô” của TS Bùi Thanh Thủy trên Tạp chí nghiên cứu Văn hóa, trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã xác định: “Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác các di tích là luôn gắn công tác bảo tồn tính đa dạng, gìn giữ các giá trị di tích lịch
sử văn hóa với việc khai thác phục vụ du lịch, hay nói cách khác, phát triển vì mục tiêu văn hóa, đồng thời, việc bảo vệ tôn tạo di tích phải hướng tới phục vụ ngày càng tốt hơn các đối tượng đến tham quan nghiên cứu, trong đó có khách du lịch”
Bài viết “Thực trạng và định hướng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa
phục vụ phát triển du lịch” của Nguyễn Hà Quỳnh Giao (Nghiên cứu sinh trường ĐHSP TP HCM) và PGS.TS Phạm Xuân Hậu (Trường ĐHSP TP HCM) đã đề xuất một số định hướng chủ yếu về kinh doanh, đầu tư và sự tham gia của cộng đồng nhằm hướng đến sự phát triển bền vững của nghành du lịch Thừa Thiên Huế
Ngoài ra còn một số công trình khác như trong “Giáo trình Hướng dẫn du
lịch” của PGS.TS Nguyễn Văn Đính- Ths Phạm Hồng Chương (2000) cũng đã đề
Trang 9cập đến vai trò của hướng dẫn viên tại các điểm tham quan, những phương pháp và nguyên tắc cơ bản tiến hành hướng dẫn tham quan (trang 105-123)
Trên thế giới:
Du lịch trên thế giới đã phát triển từ những năm 50 của thế kỷ trước, họ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các di tích lịch sử, nghiên cứu bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử, khai thác sử dụng các giá trị của di tích đó như một nguồn tài nguyên để khai thác và phát triển du lịch, đưa các di tích lịch sử đó trở thành những điểm tham quan hấp dẫn đối với khách du lịch Ngoài việc bảo tồn, gìn giữ các di tích lịch sử này cho thế hệ mai sau, họ còn khai thác các giá trị của chúng vào hoạt động du lịch, điển hình như thành phố cổ Rô ma (Italia) , đền Partheon (HyLạp), Kim tự tháp (Ai Cập), Cố cung (Trung Quốc), Vạn lý trường thành (Trung Quốc), đền Angko (Cămpuchia), đền Taj Mahal (Ấn Độ), tháp Eiffel (Pháp)
Trong cuốn “Handbook on Tourism Product Development” của Tổ chức Du lịch thế giới xuất bản năm 2011 hoặc cuốn “Marketing Asian Places:Attracting
Investment, Industry and Tourism to Cities, States and Nations” xuất bản năm 2002 của John Wiley & Sons (Asia) Pte Ltd Singapore cũng đều đề cập đến điểm tham quan di tích lịch sử, mối quan hệ giữa bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị của các di tích này nhằm phục vụ khách du lịch trong nước cũng như quốc tế
Trong cuốn “Le tourisme culturel” tái bản lần 3, năm 2005 do Collection
Encyclopédique (fondée par Paul Angoulvent) của Claude Origet du Cluzeau cũng
đã đề cập đến thị trường du lịch văn hóa, các loại hình du lịch văn hóa, vòng đời của
du lịch văn hóa và các trường hợp ngoại lệ của du lịch văn hóa, trong đó có loại hình tham quan di tích lịch sử, di sản
Cuốn “Conservation et mise en valeur du patrimoine culturel” của Sylvie
CROGIEZ và Anne - Marie FLAMBARD HERICHER do Đại học Rouen xuất bản (Publications de l’Université de Rouen), đã tập hợp những bài viết của các tác giả về bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dưới những góc độ của các lĩnh vực khác nhau như kiến trúc, công nghệ, phát huy các giá trị của các bảo tàng với các ví dụ điển
Trang 10hình của Pháp như Le Vieux Château de Vatteville - la Rue (Seine Maritime), Villa du Cryptoportique à Carthage
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc nghiên cứu điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ khái niệm điểm tham quan
DTLSVH, đánh giá thực trạng hoạt động của một số điểm tham quan DTLSVH phổ biến tại thành phố Huế và từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp đối với các điểm tham quan DTLSVH tại thành phố Huế nhằm thu hút khách du lịch đến với các điểm tham quan DTLSVH, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch
Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Thu thập và tổng quan tài liệu về các vấn đề liên quan như tài liệu, công
trình nghiên cứu về điểm tham quan và điểm tham quan DTLS Thực trạng các điểm tham quan DTLSVH phổ biến ở thành phố Huế phục vụ khách du lịch
- Thu thập các dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấn
chuyên gia, điều tra xã hội học để bổ sung thông tin về thực trạng các điểm tham quan lịch sử phục vụ khách du lịch
- Đánh giá thực trạng khai thác của các điểm tham quan DTLSVH Đại Nội,
lăng Minh Mạng và lăng Tự Đức tại thành phố Huế
- Đề xuất kiến nghị và giải pháp đối với các điểm tham quan DTLSVH tại
thành phố Huế nhằm phát triển các điểm tham quan DTLSVH, thu hút khách du lịch đến với các điểm tham quan DTLSVH, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tác giả chọn ba di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu tại TP
Huế: Đại Nội, lăng Minh Mạng (tên phổ biến) còn gọi là Hiếu Lăng (tên chữ) và lăng Tự Đức (tên phổ biến) còn gọi là Khiêm Lăng (tên chữ) Trong số các điểm
tham quan DTLSVH tại TP Huế thì ba điểm tham quan DTLSVH trên có mức độ
Trang 11thu hút khách ở mức độ cao nhất Ba di tích này là những DTLSVH đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia Ngoài ra, cả ba di tích đó đều nằm trong Quần thể di tích cố đô Huế đã được công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào hội nghị lần thứ 17 của Ủy ban di sản thế giới họp tại Cartagena (Colombia) ngày 11 tháng 12 năm 1993 Trong luận văn, tác giả sử dụng tên gọi phổ biến thường gọi của các điểm tham quan trên là Đại Nội, Lăng Minh Mạng và Lăng Tự Đức
Phạm vi không gian: đề tài tập trung nghiên cứu việc khai thác hoạt động của các điểm tham quan DTLSVH phổ biến ở thành phố Huế, cụ thể là Đại Nội, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức phục vụ cho phát triển du lịch
Phạm vi thời gian: các số liệu, thông tin phục vụ nghiên cứu đề tài này được giới hạn từ năm 2011 đến tháng 06/2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau
đã được sử dụng:
Phương pháp thu thập thông tin và xử lí dữ liệu thứ cấp: Các thông tin này
được thu thập từ các công trình nghiên cứu, tài liệu như giáo trình, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước Những thông tin thực tế liên quan đến các DTLSVH và các điểm tham quan DTLSVH
Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Phương pháp này đã giúp cho
học viên có trải nghiệm thực tế về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn: Tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn để có
được những nhận định khách quan Tác giả đã tham khảo ý kiến và kinh nghiệm từ các chuyên gia trong ngành du lịch, TTBTDTCĐ Huế và một số người dân sống gần điểm tham quan DTLSVH Đại Nôi, Lăng Minh Mạng và Lăng Tự Đức
Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp được sử dụng để thu thập
thông tin Đối tượng điều tra là du khách tham quan các điểm tham quan DTLSVH Đại Nội, Lăng Minh Mạng và Lăng Tự Đức Với số phiếu điều tra phát ra là 190 phiếu, số phiếu điều tra thu về là 186 phiếu và có 4 phiếu do khách hàng đánh còn thiếu thông tin và không hợp lệ nên không được sử dụng
Trang 12Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm phân tích thống kê trong
nghiên cứu khoa học xã hội phiên bản 16 (SPSS 16.0)
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận cơ bản về điểm tham quan di tích lịch sử phục vụ khách du lịch
Chương 2 Thực trạng các điểm tham quan di tích lịch sử tại thành phố Huế Chương 3 Một số kiến nghị và giải pháp đối với các điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa tại thành phố Huế nhằm phát huy các điểm tham quan DTLSVH , thu hút khách du lịch đến với các điểm tham quan DTLSVH, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐIỂM THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH 1.1 Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa và điểm tham quan du lịch
1.1.1 Di tích lịch sử văn hóa (DTLSVH)
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định, những quan điểm riêng về DTLSVH Người ta quan niệm rằng: “DTLSVH chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật của mỗi địa phương, mỗi quốc gia DTLSVH là tài nguyên nhân văn quý giá được hình thành, bảo tồn, tôn tạo của nhiều thế hệ ở các địa phương, các quốc gia”.[46] Vì vậy nhiều DTLSVH đã trở thành đối tượng tham quan, nghiên cứu, thực hiện các nghi lễ tâm linh của nhiều du khách và là nguồn tài nguyên du lịch quý giá
Có một số khái niệm tiêu biểu sau được xem xét DTLSVH với tư cách là tài nguyên du lịch nhân văn với các giá trị nhân văn vật thể và phi vật thể như sau: Theo đạo luật 16 về di sản lịch sử ban hành ngày 25/06/1985 của Tây Ban Nha: “DTLSVH được gọi là DTLS DTLS bao gồm các bất động sản và các động sản có lợi ích nghệ thuật, có lợi ích sinh vật học, khảo cổ học, dân tộc học, khoa học hoặc kỹ thuật cũng kể cả di sản tự nhiên và thư mục, các lớp mỏ, các khu vực khảo
cổ, các thắng cảnh thiên nhiên, các công viên, các vườn có giá trị nghệ thuật lịch sử hay nhân chủng học”
Theo quy định trong Hiến chương Vơ ni dơ – Italia (1964): “DTLS không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn
có chứ tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn
mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa.” [11]
Theo Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kì họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009: “Di tích lịch sử văn hóa là:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu
Trang 14của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kì lịch sử
- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
- Công trình kiến trúc nghệ thuật , quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật
Và theo công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO (1971): “Di sản văn hóa là:
1 Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ học, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học
2 Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ,
có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan;
3 Các thắng cảnh: các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có một giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mĩ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.” [11]
Qua những khái niệm trên về DTLSVH, ta có thể rút ra đặc điểm chung của DTLSVH như sau :
DTLSVH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo
ra Và ở một mức độ hẹp hơn có thể thấy rằng DTLSVH là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá trình lịch sử còn sót lại
Trang 15Vậy, với các đặc điểm trên, theo tôi, khái niệm DTLSVH theo Luật Di sản Việt Nam đã phản ảnh đầy đủ các đặc điểm, nội dung và giá trị của DTLSVH và được tác giả lựa chọn nghiên cứu trong luận văn này
1.1.2 Điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa phục vụ du lịch
Điểm tham quan và điểm tham quan du lịch có nhiều cách hiểu khác nhau trong lý luận cũng như trong thực tiễn
Trong thực tiễn điểm tham quan được hiểu như sau:
- Mọi địa điểm có tính hấp dẫn, sức thu hút khách đến tham quan, tìm hiểu,
giải trí, mua sắm đều được gọi là điểm tham quan
- Điểm tham quan không chỉ dành cho khách du lịch (cả nội địa và quốc tế),
mà cả cộng đồng tại địa điểm này Ví dụ như: các công viên tại thành phố, các viện
bảo tàng, các khu vui chơi giải trí, các siêu thị, các nhà hàng,…vv
- Điểm tham quan du lịch dành cho khách du lịch chủ yếu là do sự hấp dẫn
của địa điểm nhưng quan trọng nhất vẫn do ý tưởng xây dựng các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành và nhu cầu của khách du lịch Ví dụ: hiện nay các nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng, các bệnh viện, các nhà hát, ngay cả các sân vận động, các trường học cũng trở thành điểm tham quan của khách du lịch Có thể thấy, điểm tham quan là yếu tố cơ bản và quan trọng cho các doanh nghiệp lữ hành xây dựng các chương trình du lịch đến các điểm đến du lịch, có khả năng kéo dài các chương trình du lịch tại điểm đến đồng thời thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch
Điểm tham quan du lịch là yếu tố quan trọng trong việc lưu giữ khách và
nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội tại điểm đến du lich
Trong lý luận, rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này mà chủ yếu các
công trinh chủ yếu tập trung vào điểm đến du lịch và sản phẩm du lịch
Theo Luật Du lịch năm 2005, đã xác định:
“Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài nguyên
du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch” [26]
Tuy nhiên, trong Luật Du lịch không đưa ra khái niệm về điểm tham quan
Trang 16mà chỉ nêu khái niệm về điểm du lịch:
“Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham
quan của khách du lịch” [26]
Luật Du lịch cũng xác định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,
yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người
và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [26]
Theo Luật Du lịch: “Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác”
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [26]
So với điểm tham quan, điểm du lịch trong Luật Du lịch quy định khác hẳn, đó là:
“Điều 24: Điều kiện để được công nhận là điểm du lịch
1 Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch quốc gia:
a) Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch;
b) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục
vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm
2 Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa phương: a) Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; b) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục
vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm [26]
Trang 17Như vậy, khái niệm về điểm du lịch trong Luật Du lịch khá tương đồng với
điểm tham quan trong thực tế
Trong “ Sổ tay Hướng dẫn cấp nhãn du lịch xanh cho điểm tham quan du lịch” của Tổng cục Du lịch cũng đưa ra khái niệm: “Điểm tham quan là nơi có tài nguyên tự nhiên hoặc nhân văn, có các dịch vụ phục vụ khách du lịch, do tổ chức hoặc cá nhân quản lí, gồm: khu vực tham quan, bãi đỗ xe, khu vực vệ sinh công cộng Ngoài ra, điểm tham quan du lịch có thể có thêm dịch vụ ăn uống (nhà hàng), dịch vụ mua sắm (cửa hàng mua sắm), đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch.” [5]
Từ đó có thể đưa ra một định nghĩa tổng quát sau:
Điểm tham quan là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có kết cấu hạ tầng và các dịch vụ cần thiết để thu hút và phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch Điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa là nơi có những không gian vật chất
cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, có tài nguyên du lịch hấp dẫn có kết cấu hạ tầng và các dịch vụ cần thiết để thu hút và phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch
1.2 Phân loại di tích lịch sử văn hóa
Điểm tham quan được phân thành nhiều loại hình khác nhau trong đó có điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa Tuy nhiên, đối với loại hình di tích lịch sử văn hóa cũng được chia ra làm nhiều loại Việc phân loại các di tích lịch sử văn hóa thành từng nhóm cũng phải tuân thủ các tiêu chí khoa học chặt chẽ, trước hết để tránh nhầm lẫn, nhất là trong khi khai thác du lịch góp phần quảng bá truyền thống văn hóa - lịch sử của quốc gia, cũng như của từng địa phương, đồng thời góp phần bảo trì, bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hóa của di sản Mặt khác phân loại di tích lịch sử văn hóa, phân loại di sản còn để tìm ra phương án tối
ưu nhất trong quá trình tu bổ, trùng tu tránh gây tổn hại không đáng có đối với di tích lịch sử, di sản đó
Căn cứ Điều 4, Luật di sản văn hóa, Điều 14, nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di
Trang 18sản văn hóa, các di tích lịch sử đã được phân loại như sau:
Di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến
Di tích kiến trúc nghệ thuật
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ
có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
sử, thẩm mỹ, khoa học Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau:
- Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu
- Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất
Trang 19Di tích lịch sử cách mạng
Di tích cách mạng - kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa, tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), là những công trình được con người tạo nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn liền với những sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử cụ thể mà trở thành di tích Loại hình di tích này rất đa dạng, phong phú, có mặt
ở khắp mọi nơi, khó nhận biết, đồng thời cũng rất dễ bị lãng quên, dễ biến dạng theo mục đích sử dụng, theo thời tiết và theo thời gian Bởi vậy các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được quan tâm đặc biệt [31]
1.3 Những đặc điểm cơ bản của di tích lịch sử văn hóa
DTLSVH là tài sản vô giá của đất nước, của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hóa, về cội nguồn, về truyền thống dân tộc… đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hóa nhân loại Ở đó còn ẩn chứa rất nhiều thông tin của nhiều lĩnh vực khác nhau mà các nguồn thông tin trên các loại hình sử liệu khác không có và không thể có được DTLSVH giúp con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu rõ hơn về truyền thống lịch
sử, về đặc trưng văn hóa của đất nước và từ đó sẽ có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việc khai thác và sử dụng văn hóa là cơ sở để có thể sử dụng khai thác du lịch, góp phần quảng bá truyền thống văn hóa - lịch sử của quốc gia, cũng như của từng địa phương, đồng thời góp phần bảo trì, bảo tồn và phát huy các giá trị của DTLS, của di sản đạt được hiệu quả bền vững
DTLSVH có những đặc điểm chung của tài nguyên du lịch nhân văn, tuy nhiên nó vẫn có một số đặc điểm riêng như:
- DTLSVH phản ánh trung thực quá trình phát triển lịch sử, kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, mỗi địa phương;
- DTLSVH phản ánh tính đa dạng về văn hóa của các dân tộc, là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc;
Trang 20- Các DTLSVH luôn tồn tại và bao gồm hai mặt giá trị tiêu biểu: giá trị văn hóa vật thể và giá trị văn hóa phi vật thể Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn
có tính độc lập tương đối:
+ Di sản văn hóa vật thể: là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại
+ Di sản văn hóa phi vật thể: là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác Phần lớn di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể biểu hiện các mặt giá trị thông qua các cử chỉ, hoạt động trình diễn của các nghệ nhân dân gian - những chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu các di sản
Di sản văn hóa vật thể - những thực thể vật chất (tồn tại vật lý) được cấu thành bởi các loại vật liệu khác nhau nên không có khả năng trường tồn mãi mãi cùng nhân loại Chúng ta, chỉ có thể bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại có trong tay kéo dài tuổi thọ, làm cho dạng vật chất đó ổn định, vững chắc (mang tính tạm thời) Đã là dạng vật chất thì, tất yếu phải chịu tác động bởi quy luật tự hủy hoại của tự nhiên Từ thực tế nói trên, buộc người ta phải thay đổi quan niệm về tính nguyên gốc của di sản văn hóa và người Nhật đã đi tiên phong trong lĩnh vực này khi đưa ra khái niệm tính chân xác của di sản
- DTLSVH rất nhạy cảm, dễ bị tác động bởi yếu tố thiên nhiên và con người
- DTLSVH chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì
bù đắp nổi Đồng thời, DTLSVH còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh
tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển Yêu cầu được bảo tồn: cần phải xác định rõ quan điểm phát triển du lịch trên cơ sở khai thác các DTLSVH là
Trang 21luôn gắn công tác bảo tồn tính đa dạng, gìn giữ các giá trị DTLSVH với việc khai thác phục vụ du lịch; hay nói cách khác phát triển du lịch vì mục tiêu văn hóa; đồng thời, việc bảo vệ tôn tạo các DTLSVH phải hướng tới phục vụ ngày càng tốt hơn các đối tượng đến tham quan nghiên cứu, trong đó có khách du lịch Trong Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa X kỳ
họp thứ 9 thông qua cũng đã khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý
giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân
ta” Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản
văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm vụ này như sau: “Di sản văn hóa
là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể…” [25]
- Sự quản lí của nhà nước : các cơ chế chính sách phát triển du lịch được bổ sung, đổi mới và ngày một hoàn thiện hơn, phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển du lịch thế giới
1.4 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa đối với điểm tham quan du lịch
DTLSVH là tài sản văn hóa Khai thác các DTLSVH phục vụ du lịch sẽ góp phần bảo tồn, tôn tạo di tích Các giá trị lịch sử, văn hóa trong di tích trở thành hàng hóa đặc biệt phục vụ nhu cầu khách tham quan, chúng không mất đi mà có dịp để bảo tồn, gìn giữ Phong tục, tập quán, sự kiện lịch sử sẽ được sống lại, tái hiện lại khi khai thác phục vụ du lịch
Các giá trị cụ thể của DTLSVH đối với hoạt động du lịch nói chung và với điểm tham quan nói riêng gồm: giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị khoa học, giá trị kiến trúc nghệ thuật và giá trị giáo dục
- Giá trị lịch sử của di tích: là giá trị gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu
Trang 22biểu của quốc gia hoặc của địa phương, gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kì lịch sử
- Giá trị văn hóa của di tích: là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần gắn với di tích, do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội Trong mỗi di tích đều chứa đựng trong nó những giá trị vật chất và tinh thần nhất định Giá trị vật chất có thể là một công trình kiến trúc, một di vật…vv Giá trị tinh thần có thể là biểu hiện một ngôn ngữ, tư tưởng, truyền thống tốt đẹp, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội liên quan đến di tích
- Giá trị khoa học của di tích: là các giá trị phục vụ cho con người nghiên cứu, khảo sát, thu thập dữ liệu, phân tích mối quan hệ, các yếu tố tác động, sự tồn tại
và phát triển của sự vật hiện tượng liên quan đến DTLSVH
- Giá trị kiến trúc - nghệ thuật của di tích: là những giá trị nghệ thuật tổ chức, thiết kế không gian, môi trường, vật liệu, kết cấu, trang trí của các công trình xây dựng, địa điểm, giá trị lớn về tư tưởng, thẩm mĩ, văn hóa để con người thưởng thức bằng các giác quan từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, kĩ năng, kĩ xảo vượt lên trên mức thông thường phổ biến
- Giá trị giáo dục của di tích: là sự truyền thụ, phổ biến các giá trị của DTLSVH
để con người có ý thức, nhận thức, tự hào về truyền thống, giá trị của di tích…vv
- Giá trị kinh tế của di tích: là giá trị cho việc nghiên cứu, thiết kế, phân phối, trao đổi, tiêu dùng các sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị của di tích lịch sử như trưng bày hiện vật, tổ chức cung cấp thông tin, bán hàng lưu niệm,
tổ chức các hoạt động biểu diễn…vv Việc khai thác trên cơ sở không ảnh hưởng đến giá trị của DTLS, thỏa mãn nhu cầu khách hàng, giữ gìn bản sắc văn hóa, công bằng xã hội, có sự tham gia của cộng đồng, bảo vệ môi trường
- Giá trị du lịch: các DTLSVH giữ vai trò quan trọng trong phục vụ phát triển
du lịch Đó chính là nguồn tài nguyên để khai thác, từ đó kích thích tiêu dùng tạo ra những sản phẩm mang giá trị đặc trưng, làm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách
Trang 23du lịch, tăng thu nhập cho người dân địa phương và đem lại nguồn tài chính đáng kể, góp phần làm tốt công tác bảo tồn Hơn nữa, việc phát huy tốt giá trị của các DTLSVH còn mang lại một lợi nhuận vô giá về mặt tinh thần, bởi thông qua việc hiểu biết về các DTLSVH, các di sản văn hóa sẽ có tác động trực tiếp tới phương diện giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và cộng đồng Hoạt động du lịch chính là con đường đưa khách tham quan đến với các DTLSVH, làm cho DTLSVH
có giá trị đúng với chính nó, làm cho di tích có hồn và sống lại với thời gian Du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và trình diễn các giá trị văn hóa của địa phương, dân tộc để mọi khách du lịch trong nước và quốc tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập
và thưởng thức
Ngoài ra các DTLSVH còn có thể có các giá trị về đa dạng sinh học, các giá trị về hệ sinh thái, các giá trị về địa chất, địa mạo…vv [ 11]
Với những đặc điểm và giá trị như trên, ta có thể thấy rằng các DTLSVH là
bộ phận đặc biệt trong cơ cấu "tài nguyên du lịch" Các DTLSVH đó, cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ
Vậy có thể khẳng định rằng điểm tham quan DTLSVH là một trong những
bộ phận cấu thành của các chương trình du lịch, thuộc loại hình du lịch văn hóa lịch sử, và riêng Huế thì nó còn thuộc loại hình du lịch di sản, một kiểu của du lịch văn hóa
1.5 Nhu cầu và hành vi tiêu dùng của du khách tại các điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa
“Nhu cầu du lịch là là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người, được hình thành và phát triển trên nền tảng nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và nhu cầu tinh thần (nghỉ ngơi, tự khẳng định nhận thức, giao tiếp).”
“Hành vi tiêu dùng của khách du lịch (tourism consumer) là những hành vi liên quan đến quá trình tiêu dùng du lịch, nó được biểu hiện trong việc: tìm kiếm, mua, sử dụng và đánh giá các sản phẩm dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu nào đó của khách du lịch (chủ yếu là thoả mãn nhu cầu du lịch) [24]
Trang 241.5.1 Nhu cầu của du khách tại các điểm tham quan DTLSVH
Nhu cầu tham quan giải trí là sự đòi hỏi về các đối tượng tham quan, giải trí vv mà khách cần thoả mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình
Nhu cầu tham quan giải trí chính là nhu cầu đặc trưng của khách du lịch, nó
có ảnh hưởng trực tiếp đến các loại nhu cầu khác Về bản chất đây chính là nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ của con người
Khách du lịch khi đến các điểm tham quan DTLSVH nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, tâm linh từ các giá trị vốn có của DTLSVH và các giá trị liên quan đến di tích lịch sử như cộng đồng dân cư, môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội…vv Kết quả sau chuyến tham quan, tìm hiểu của khách du lịch chính là kết quả của quá trình nhận thức, trải nghiệm của khách tại các DTLSVH thông qua các hoạt động du lịch của các tổ chức, các doanh nghiệp du lịch
Nhu cầu của du khách tại các điểm tham quan DTLSVH gồm:
- Nhu cầu được quan sát các giá trị của DTLSVH
- Nhu cầu được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về các DTLSVH
- Nhu cầu được học hỏi, khám phá DTLSVH
- Nhu cầu được tham gia các hoạt động du lịch tại các DTLSVH
- Nhu cầu mua hàng lưu niệm, sản phẩm dịch vụ khác [24]
1.5.2 Hành vi tiêu dùng của du khách tại các điểm tham quan DTLSVH
Hành vi tiêu dùng du lịch là những hành vi liên quan đến quá trình tiêu dùng
du lịch, nó được biểu hiện trong việc: tìm kiếm, mua, sử dụng và đánh giá các sản phẩm dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu nào đó của khách du lịch (chủ yếu
là thoả mãn nhu cầu du lịch)
Tuỳ theo mục tiêu kinh doanh, và đối tượng khách chiến lược thông qua việc nghiên cứu hành vi tiêu dùng sẽ giúp cho doanh nghiệp du lịch có thể đưa ra được các chính sách sản phẩm, giá cả, các quy trình phục vụ hợp lý mang lại sự thoả mãn cho khách, thu hút được nhiều khách, nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh Tại các điểm tham quan du lịch DTLSVH, hành vi tiêu dùng của du khách được hình thành qua cả một quá trình, nó rất phong phú, đa dạng và thường xuyên
Trang 25thay đổi Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của khách du lịch như: kinh tế, văn hóa, độ tuổi, giá cả, mẫu mã sản phẩm…vv Vì vậy các đơn vị tổ chức những hoạt động tham quan du lịch tại các điểm tham quan DTLSVH cần nắm
rõ hành vi tiêu dùng của du khách để từ đó có thể định hướng trong việc tổ chức, cung cấp các dịch vụ, các hoạt động phù hợp với đối tượng khách để du khách có được những trải nghiệm tốt nhất tại các điểm tham quan [24]
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tham quan DTLSVH
1.6.1 Cơ sở hạ tầng (CSHT)
CSHT là động lực chính thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư
Hệ thống CSHT bao gồm nhiều thành tố nhưng để phát triển hoạt động du lịch thì điều kiện tiên quyết cần có là hệ thống giao thông Bên cạnh đó, các yếu tố khác như hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, cấp - thoát nước cũng giữ vai trò quan trọng
Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, trong nhiều năm trở lại đây, ngân sách Trung ương và các địa phương có các điểm tham quan du lịch đã bỏ ra một khoản vốn không nhỏ để đầu tư nâng cấp và hoàn thiện CSHT Điều này có thể thấy
rõ khi diện mạo du lịch của các tỉnh, thành trên cả nước đang thay đổi từng ngày theo hướng tích cực Bên cạnh đó, các tỉnh, thành phố cũng đang kêu gọi nhiều dự án lớn trong lĩnh vực du lịch để hướng tới những sản phẩm chuyên nghiệp hơn
Có thể nói, việc thực hiện, sử dụng nguồn vốn đầu tư CSHT nói chung và cho ngành du lịch nói riêng thời gian qua đã có tác động lớn, làm thay đổi diện mạo của ngành này Ước tính trong những năm gần đây, hàng nghìn tỷ đồng từ ngân sách đã được hiện thực hóa bằng những công trình, dự án hạ tầng trên địa bàn qua
đó góp phần tích cực vào việc thúc đẩy đầu tư, cải thiện CSHT du lịch của địa phương Trong đó phải kể đến việc nâng cấp, hoàn thiện nhiều tuyến đường (quy
mô quốc gia và địa phương) giúp du khách tiếp cận với các địa điểm tham quan du lịch dễ dàng hơn Song song với đó là những đầu tư CSHT về điện, viễn thông, hệ thống cấp nước…vv đã ngày một hoàn thiện
Cùng với những đầu tư từ ngân sách, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
Trang 26vực du lịch thời gian qua cũng đã bỏ nguồn vốn không nhỏ để đầu tư nâng cấp cơ
sở vật chất phục vụ hoạt động du lịch
Về cơ bản, phần lớn hệ thống phòng nghỉ đáp ứng được nhu cầu của khách
du lịch trong đó có nhiều doanh nghiệp đầu tư xây dựng những khách sạn với quy
mô lớn, có trang thiết bị đồng bộ đạt tiêu chuẩn từ 2 sao đến 4 sao Các cơ sở kinh doanh du lịch cũng đã chú trọng đầu tư vào nhiều loại dịch vụ nhằm thu hút khách
du lịch, kéo dài hơn thời gian lưu trú của khách Với việc tăng cường đầu tư CSHT đáp ứng nhu cầu trong ngành du lịch, hàng năm, doanh thu từ lĩnh vực này đã không ngừng tăng nhanh
1.6.2 Môi trường tự nhiên của các di tích lịch sử văn hóa
Một điểm tham quan DTLSVH thu hút không chỉ đơn thuần là vẻ đẹp tự nhiên của cảnh quan, giá trị lịch sử của di tích đó mà nó còn đảm bảo mang lại môi trường bền vững và sạch sẽ để cư dân địa phương và khách du lịch hưởng thụ Để hấp dẫn khách du lịch, các cảnh quan thiên nhiên có khả năng đưa vào phát triển du lịch sẽ được ngành du lịch đầu tư tu bổ ngày càng tốt hơn và các diện tích tự nhiên cho phát triển các khu bảo tồn và vườn quốc gia được đảm bảo.Vì vậy, phát triển du lịch sẽ tạo điều kiện và có tác động tích cực vào việc bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ và tăng cường chất lượng môi trường
Du lịch phát triển kéo theo sự gia tăng lượng khách trong nước và quốc tế Thông qua trao đổi và giao tiếp với du khách, cộng đồng địa phương sẽ hiểu biết và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho hoạt động du lịch Đồng thời, việc quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc cho phát triển du lịch sẽ huy động cộng đồng có những sáng kiến làm sạch môi trường, kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác
1.6.3 Môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội
Muốn phát triển được du lịch phải có một môi trường du lịch tốt (bao gồm
cả môi trường sinh thái tự nhiên và môi trường xã hội nhân văn) Môi trường xã hội nhân văn gồm trình độ phát triển xã hội, trình độ dân trí, mức sống, ý thức
Trang 27tôn trọng pháp luật, kể cả toàn bộ hệ thống thiết chế, luật pháp, cơ chế chính sách Môi trường xã hội nhân văn thuận lợi, đặc biệt là môi trường pháp lý rõ ràng, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích du lịch phát triển Du lịch trở thành một công cụ hữu hiệu, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy “hoạt động xuất khẩu tại chỗ”, góp phần đáng kể vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân, cân bằng cán cân thương mại, đa dạng hóa hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, ổn định nguồn thu ngoại tệ của đất nước
1.6.4 Các nhà cung ứng dịch vụ
Hoạt động du lịch tại các điểm tham quan DTLSVH có thể có những tác động tích cực và tiêu cực đến các điểm tham quan DTLSVH, đến cộng đồng dân cư địa phương , đến môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội… vv Vì vậy các nhà cung ứng dịch vụ luôn đóng vai trò quan trọng, họ góp phần vào việc xúc tiến những mục tiêu của sự phát triển du lịch bền vững và bảo vệ nguồn tài nguyên văn hóa và môi trường mà sự sống còn của ngành du lịch phụ thuộc vào Việc vượt qua những thách thức của du lịch ở các điểm tham quan DTLSVH luôn đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên có liên quan như những người điều hành tua, những người xúc tiến việc quản lí hiệu quả điểm tham quan DTLSVH…vv Mặc dù mục tiêu của những thành phần tham gia có thể khác nhau nhưng những hoạt động tham quan du lịch chỉ có thể bền vững nếu được thực hiện với sự hiểu biết chung và trên quan điểm để phát triển Những người điều hành tua đóng vai trò trung tâm trong ngành du lịch vì
họ chính là trung gian giữa khách du lịch và nhà cung cấp dịch vụ du lịch Những người điều hành tua có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến du khách, và ảnh hưởng đến thực tiễn hoạt động của nhà cung cấp và sự phát triển của những thành phần tại các điểm tham quan
1.6.5 Sự an toàn của điểm tham quan
Sự an toàn của điểm đến, điểm tham quan cũng là một trong những yếu tố quan trọng khi du khách quyết định lựa chọn điểm tham quan, điểm đến du lịch Các hoạt động du lịch sẽ không thể phát triển tại các điểm đến thường xảy ra xung đột, bất ổn về chính trị hoặc chiến tranh Vì vậy, có thể nói rằng, sự an toàn của
Trang 28điểm tham quan là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu khi du khách lựa chọn điểm đến
1.7 Tổ chức các điểm tham quan di tích lịch sử văn hóa
Việc tổ chức và khai thác các điểm tham quan DTLSVH là một công việc hết sức cần thiết, đòi hỏi tốn nhiều công sức và nguồn lực, nó góp phần làm phong phú
và đa dạng hệ thống sản phẩm du lịch để từ đó thúc đẩy sự phát triển của hoạt động
du lịch nói chung và còn góp phần rất lớn vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Trong những năm gần đây, các điều kiện về tổ chức các điểm tham quan du lịch đã có nhiều thay đổi, các cơ quan, các doanh nghiệp khai thác của cả nhà nước lẫn tư nhân đều đưa ra nhiều biện pháp bảo vệ, quản lý, phát huy các giá trị, quảng
bá, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng cư dân địa phương…vv nhằm đảm bảo một phương thức quản lí cân bằng hơn khi tránh biến các điểm tham quan thành những nơi khép kín, nghiêm cấm tham quan hoặc ngược lại, mở cửa một cách tự do
mà không có biện pháp phòng ngừa sự quá tải của điểm tham quan Sự thay đổi này
đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực thông qua các phương thức quản lí vừa tính đến những nhu cầu bảo vệ cấp thiết, vừa chú trọng đến các yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội
1.7.1 Các bên tham gia vào tổ chức hoạt động du lịch
- Khách du lịch: tại các điểm tham quan DTLSVH, khách du lịch có thể đến tham quan, tìm hiểu thông tin, tham gia vào các hoạt động như biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các lễ hội, mua sắm hàng lưu niệm…vv Hoạt động thể hiện trách nhiệm về gìn giữ và bảo vệ di tích, với cộng đồng, môi trường…vv
- Đơn vị quản lí di tích: tổ chức các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của DTLSVH phục vụ du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch đến tham quan, bảo đảm sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch Giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm an toàn cho khách du lịch, phối hợp với các đơn vị kinh doanh du lịch phát triển sản phẩm du lịch Các hoạt động phát huy giá trị của di tích chủ yếu là hoạt động trưng bày hiện vật, hướng dẫn tham quan, tổ chức biểu diễn nghệ
Trang 29thuật, tổ chức bán hàng lưu niệm
- Đơn vị kinh doanh du lịch: nghiên cứu, khảo sát giá trị, sản phẩm của các DTLSVH để phát triển sản phẩm của đơn vị kinh doanh du lịch Phối hợp với các đơn vị quản lí di tích tổ chức các hoạt động du lịch, cung cấp các dịch vụ tại các DTLSVH như trưng bày hiện vật, cung cấp thông tin, hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hoạt động cung cấp hàng lưu niệm, tổ chức lễ hội, hoạt động mô phỏng, cung cấp các dịch vụ du lịch khác Tham gia đầu tư, bảo tồn, phát huy giá trị của di tích, xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất- kỹ thuật du lịch tại DTLSVH.[11]
- Cộng đồng địa phương: khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia bảo tồn
và phát huy các giá trị của di tích Người dân địa phương có thể tham gia vào hoạt động phát huy giá trị dưới nhiều hình thức khác nhau như tuyên truyền, bảo vệ các tập tục văn hóa của địa phương, tham gia quản lí trực tiếp các di tích lịch sử, tham gia vào các hoạt động phát sinh từ hoạt động tham quan DTLSVH
1.7.2 Lợi ích của tổ chức các hoạt động du lịch tại các DTLSVH
Lợi ích tổ chức hoạt động du lịch tại các DTLSVH bao gồm: lợi ích kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường thể hiện ở các nội dung:
- Các hoạt động du lịch là cơ sở đáp ứng nhu cầu trải nghiệm của khách du lịch tại các DTLSVH
- Các hoạt động du lịch cấu thành và quyết định chất lượng sản phẩm của DTLSVH
- Các hoạt động du lịch mang lại căn cứ lựa chọn điểm du lịch và quyết định đến chất lượng của tuyến du lịch trong chương trình du lịch
- Các hoạt động du lịch thúc đẩy trách nhiệm bảo tồn và phát huy các giá trị của DTLSVH
- Các hoạt động du lịch tạo ra các nguồn kinh phí để bảo tồn và phát huy các giá trị của DTLSVH, của cộng đồng địa phương
- Tổ chức hoạt động du lịch sẽ thúc đẩy hoạt động marketing thông qua các nguồn khách nội địa , quốc tế và thu hút khách đến với DTLSVH
- Khi khách đến với các DTLSVH, khách sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các
Trang 30chủ thể tại các DTLSVH đó, đặc biệt là lợi ích về kinh tế, hiện thực hóa việc “xuất khẩu tại chỗ” trong du lịch, tạo môi trường phục vụ du lịch như sử dụng dịch vụ tại các DTLSVH, sử dụng sản phẩm của các nhà cung cấp, sử dụng sản phẩm truyền thống của địa phương…vv
1.7.3 Chi phí của việc tổ chức các hoạt động du lịch tại các DTLSVH
Hoạt động du lịch tại các điểm tham quan DTLSVH liên quan đến các chi phí như quản lí, bảo tồn giá trị các DTLSVH, bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh trật
tự, đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực, công nghệ, tổ chức khảo sát và thiết kế, tổ chức các chương trình, các hoạt động du lịch…vv Hoạt động du lịch tại các điểm tham quan DTLSVH có các bên tham gia là các đơn vị quản lí các DTLSVH, các doanh nghiệp du lịch, cộng đồng dân cư và khách du lịch Vì vậy, chi phí của việc tổ chức các hoạt động du lịch tại các DTLSVH sẽ bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp gắn với các bên liên quan
Chi phí trực tiếp là các chi phí như các chi phí chung của đơn vị quản lí di tích, chi phí bảo tồn, chi phí marketing, chi phí khấu hao tài sản cố định, trang thiết
bị, phương tiện, nhân sự…vv
Chi phí gián tiếp liên quan đến tổ chức các hoạt động du lịch tại các DTLS bao gồm: chi phí cho khắc phục ảnh hưởng đến tiêu cực văn hóa cộng đồng, môi trường do quá tải về sức chứa, ảnh hưởng đến các ngành dịch vụ, ảnh hưởng đến nguồn lao động địa phương…vv
1.8 Kinh nghiệm quốc tế, kinh nghiệm trong nước về tổ chức điểm tham quan DTLSVH và bài học kinh nghiệm
1.8.1 Kinh nghiệm quốc tế
1.8.1.1 Cố Cung- Trung Quốc
Trung Quốc luôn tự hào là quốc gia sở hữu và gìn giữ được nhiều di tích lịch
sử, nhiều di sản quý giá và phát huy rất hiệu quả giá trị của những di sản đó Để có được thành quả như vậy, Trung Quốc luôn quan tâm và làm tốt công tác bảo tồn, trùng tu, đi đôi với việc giáo dục công dân về ý thức bảo vệ di sản Theo số liệu của
Tổ chức Du lịch Thế giới, liên tiếp trong 2 năm 2013, 2014 Trung Quốc đã đứng
Trang 31đầu trong top 10 những quốc gia đón nhiều du khách nhất trong năm Trong đó, năm 2014, Trung Quốc đã có 2 thành phố đứng top 1 và 3 trong top 10 các thành phố đón nhiều khách du lịch nhất là Macao và Thâm Quyến
Được xây dựng từ năm 1625-1626 đến năm 1783, Cố Cung còn có tên gọi khác là Cố Cung Minh- Thanh, Cố Cung Bắc Kinh hay Cố Cung Thẩm Dương nguyên là trung tâm quyền lực của triều Thanh trước khi kinh đô được dời về Bắc Kinh, gồm 114 tòa kiến trúc trong đó bao gồm cả thư viện, đã được Trung Quốc xếp hạng là văn vật cấp 1 và được Unesco đưa vào “Danh mục di sản thế giới” năm
1987
Đóng vai trò là Hoàng Cung của các vị đế vương hai triều Minh và Thanh từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, đồng thời là trung tâm quyền lực quốc gia cuối cùng của Trung Quốc sau thời cổ đại, gồm Cố Cung Bắc Kinh (được UNESCO đưa vào Danh mục Di sản thế giới năm 1987) và Cố Cung Thẩm Dương (được sáp nhập vào năm 2003) Trong đó, Cố Cung Bắc Kinh, tức “Tử Cấm Thành” là Hoàng Cung của các vị đế vương hai triều Minh, Thanh Tổng cộng có 24 vị hoàng đế đăng cơ tại đây Cố cung nằm ở vị trí trung tâm của thành phố Bắc Kinh, do Chu Lệ, một vị hoàng đế của triều Minh cho xây dựng trong khoảng những năm 1406 – 1420 Kể từ thời điểm xây dựng đến năm 1911, Cố Cung liên tục đóng vai trò là Hoàng Cung của hai triều Minh, Thanh (Trung Quốc), kéo dài 505 năm Tổng diện tích của Cố Cung là 72ha, hiện còn 179.700 m2 kiến trúc cổ và nền móng của các loại kiến trúc cung đình khác Đây là một quần thể kiến trúc có quy mô hoành tráng, với vẻ đẹp
lộng lẫy, nguy nga, được mệnh danh là “kiệt tác kiến trúc cung điện cổ đại bậc nhất
phương Đông”
Cố Cung Thẩm Dương, còn có tên gọi khác là Cố Cung Hậu Kim, Hoàng Cung Thịnh Kinh, ở trung tâm thành phố Thẩm Dương, đóng vai trò là cung điện của thủ lĩnh tộc người Mãn (từ phía Bắc xuống) trước khi đánh chiếm được Bắc Kinh, lập ra vương triều Thanh Quần thể kiến trúc này do Nỗ Nhĩ Cáp Xích khởi dựng năm 1625, sau đó trở thành cung điện tạm thời và hành cung của Hoàng gia triều Thanh đến tận năm 1911, trải qua 286 năm Tổng diện tích của Cố Cung Thẩm
Trang 32Dương là 12.96 ha, hiện còn 16.800 m2, với 114 toà kiến trúc cổ và nền móng của các loại kiến trúc cung đình khác Đây là quần thể kiến trúc thể hiện rất rõ về bố cục không gian và đặc trưng kiến trúc địa phương của tộc người Mãn
Cố Cung Minh - Thanh nói chung, Cố Cung Bắc Kinh nói riêng là nơi ngự trị của 14 vị Hoàng đế triều Minh và 10 vị Hoàng đế triều Thanh đã từng thống trị Trung Quốc, đồng thời là địa điểm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của Trung Quốc, là dấu mốc lịch sử quan trọng, phản ánh sự phát triển của văn minh Trung Hoa trong giai đoạn Minh - Thanh Các phương diện về kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc của di sản này đều có giá trị nổi bật
Cố Cung là thành tựu đỉnh cao trong lịch sử phát triển của kinh thành cổ đại
ở Trung Quốc, là quần thể kiến trúc cung điện tương đối hoàn chỉnh còn tồn tại, có quy mô vào loại bậc nhất thế giới Đó là bằng chứng xác thực phản ánh về sự phát triển của xã hội Trung Quốc sau thời cổ đại, đặc biệt là về mặt văn hoá nghi lễ và văn hoá cung đình, đồng thời có giá trị lịch sử, văn hoá nổi bật trong lịch sử phát triển văn minh và văn hoá Trung Hoa Từ góc độ bố cục, không gian, thiết kế kiến trúc, có thể nhận thấy, quần thể kiến trúc này đã kế thừa và phát huy được những đặc điểm ưu việt về bố cục, tính chất đăng đối qua trung tâm, nguyên tắc “điện chầu phía trước, khu nghỉ dưỡng phía sau” trong truyền thống quy hoạch đô thị và kiến trúc cung điện, thành quách, để trở thành một công trình trình mẫu mực theo quy chế xây dựng cổ đại ở Trung Quốc Kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc cung điện của quần thể kiến trúc này đã đạt đến thành tựu đỉnh cao trong dạng thức kiến trúc cung đình cổ đại ở Trung Quốc và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đối với kiến trúc cung đình Trung Quốc trong suốt 300 năm dưới triều Thanh Kiến trúc tôn giáo trong cung, đặc biệt là những ngôi chùa gắn với Hoàng gia, đã kế thừa và phát huy được những nét tinh hoa của văn hoá Trung Quốc, phản ánh sinh động về quá trình giao lưu, hội nhập của các nền kiến trúc Mãn, Hán, Mông, Tạng trong suốt 14 thế kỷ Đồng thời, còn lưu giữ được hàng triệu di vật, gồm những bộ sưu tập của Hoàng gia, dụng cụ sinh hoạt của Hoàng gia và nhiều tư liệu khác, như sách, thư pháp, tranh, bản đồ, mẫu vật … vv phản ánh về văn hoá cung đình và pháp luật, thể chế chính sách thời
Trang 33Minh - Thanh (Trung Quốc) Những di vật quý báu này cùng với quần thể kiến trúc cung điện cấu thành giá trị nổi bật của di sản
Hiện nay, trong số các kiến trúc cung đình ở Trung Quốc, về mặt quy mô, Cố Cung Thẩm Dương chỉ xếp sau Cố Cung Bắc Kinh Cố Cung Thẩm Dương gắn liền với quá trình khai phá và phát triển vùng Đông Bắc Trung Quốc dưới triều Thanh,
có giá trị lịch sử đặc biệt quan trọng Về cơ bản, kiến trúc cung điện trong quần thể này đã thừa hưởng được nền tảng của truyền thống kiến trúc cung đình cổ đại Trung Quốc, đồng thời cũng hấp thu những nét văn hoá đặc sắc của địa phương và của một
số tộc người khác, bảo lưu được các giá trị ưu việt về mặt tạo hình và trang trí kiến trúc truyền thống Mãn Những yếu tố này góp phần tạo nên một tổng thể kiến trúc
có phong cách đặc biệt, mang những đặc trưng của nghệ thuật kiến trúc Hán, Mãn, Mông và có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với kiến trúc ở khu vực này vào các giai đoạn sau Đặc biệt là, kiến trúc cung điện ở đây thường áp dụng nguyên tắc “Bát kỳ” (một hình thức tổ chức xã hội của người Mãn) vào việc tổ chức bố cục mặt bằng kiến trúc - một đặc trưng kiến trúc mà không một cung điện nào khác trên thế giới
có được. [58] Vì vây, từ phương diện bảo tồn cho tới phát triển tính đa dạng của văn hoá kiến trúc của Cố Cung- Trung Quốc đều mang giá trị nổi bật
1.8.1.2 Angkor - Campuchia
Là một trong những tuyệt tác có sức lôi cuốn vượt thời gian, nằm trong danh sách các công trình nhân tạo hấp dẫn nhất thế giới, từng là kinh đô của vương quốc Khmer từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 14, là một trong những địa điểm khảo cổ học quan trọng nhất ở Đông Nam Á và là công trình tín ngưỡng lớn nhất của Campuchia Điểm tham quan DTLS Angkor đã nổi bật với những giá trị văn hóa, tôn giáo và biểu tượng nhất là kiến trúc, khảo cổ học và nghệ thuật
Kể từ khi được ghi vào danh sách di sản thế giới năm 1992, Angkor đã trở thành một động lực tăng trưởng kinh tế cho Campuchia, minh họa sức mạnh của văn hóa thúc đẩy kinh tế và nó cũng là hình mẫu để làm mới công tác bảo tồn di sản trên toàn thế giới Tuy nhiên, những nguy cơ đe dọa đến với Angkor vào lúc đầu khiến DTLSVH này bị đưa vào danh sách các di tích có nguy cơ, vì thế các nhà chức
Trang 34trách Campuchia nói chung và các nhà quản lí khu di tích nói riêng đã thực hiện một
dự án trong đó quyết tâm đưa người dân địa phương và các tăng lữ Phật giáo vào tất
cả các giai đoạn phát triển xung quanh khu di sản và điều đó có tác động tích cực đến khu di sản này và một số ngôi chùa của khu di sản đã được giữ lại cho tôn giáo qua nhiều thế kỉ
Bên cạnh những thế mạnh về các DTLSVH đó, Cam pu chia cũng đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển du lịch văn hóa đáng để học hỏi như để tìm kiếm các nguồn khách du lịch thông qua đường Việt Nam nhưng không phụ thuộc vào Thái Lan, Cam pu chia đã miễn thị thực tại các cửa khẩu làm cho các giá tua du lịch đường bộ giảm hẳn Để thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp du lịch với trọng tâm là thị trường Trung Quốc, Cam pu chia đã thuê kênh truyền hình CCTV1 của Trung Quốc để quảng bá hình ảnh cho du lịch Cam pu chia…vv Ngoài ra, Cam
pu chia còn hình thành một bộ máy điều hành các hoạt động du lịch chuyên nghiệp
và khép kín từ việc bảo vệ rừng, tôn tạo các di tích, tổ chức biểu diễn các hoạt động nghệ thuật, cảnh sát du lịch bảo vệ an ninh cho du khách và cả đào tạo đội ngũ nhân viên phục vụ trong ngành du lịch dựa trên nền tảng ngoại ngữ Hơn nữa, khi du khách đến với Cam pu chia còn là họ không bao giờ bị quấy rầy, làm phiền bởi đội ngũ bán hàng rong, trẻ em lang thang ăn xin hay chèo kéo khách tại các điểm tham quan, hàng hóa tại các điểm tham quan đều được yết giá cụ thể…vv Tất cả những điều đó đã tạo nên một hình ảnh đẹp, một ấn tượng đẹp đối với du khách khi đến đất nước này: giản dị, gần gũi và chuyên nghiệp
1.8.2 Kinh nghiệm trong nước
Du lịch văn hóa đã và đang được xác định là định hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam Đã có những địa phương, những khu du lịch, điểm du lịch hoạt động tốt, mang lại những hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường cũng như bảo tồn di tích, di sản Trong số đó, chúng ta không thể không nói đến khu di tích Kim Liên và du lịch phố cổ Hội An
1.8.2.1 Khu di tích Kim Liên - Nghệ An
Thành lập năm 1956, Khu di tích Kim Liên đã trở thành một điểm tham quan
Trang 35du lịch di tích lịch sử nổi tiếng, không chỉ trong nước mà còn cả trên thế giới vì khu
di tích lịch sử này là nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng một vĩ nhân, đã chứng kiến những năm tháng tuổi thơ đầy gian khó của Người và có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành nhân cách một con người, niềm tự hào của cả dân tộc và nhân loại -
Khác với các DTLSVH khác có liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cả nước, các DTLSVH ở khu di tích Kim Liên đều có kết cấu dân dã, chủ yếu là tranh, tre, nứa, lá, gỗ…vv Hầu hết các di tích đều nằm ở ngoài trời, các hiện vật ở đây rất đơn sơ và khó bảo quản trong môi trường khí hậu khắc nghiệt của Nghệ An Vì vậy công tác bảo tồn, trùng tu DTLSVH này gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, với những nỗ lực của mình, khu DTLSVH Kim Liên đã khắc phục những khó khăn, phải vừa làm công tác bảo tồn, gìn giữ vừa làm công tác phát huy giá trị của DTLSVH phục vụ khách tham quan du lịch Hàng năm, số lượng du khách đến tham quan, tìm hiểu khu DTLSVH này tăng lên đáng kể, cụ thể như: Năm 2011: 1 523 774 lượt khách
Năm 2012: 1 571 217 lượt khách
Năm 2013: 1 815 679 lượt khách [17]
Qua số liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng, điểm tham quan DTLSVH Kim Liên đã phát huy được giá trị và khả năng thu hút khách đặc biệt của mình Để đạt được tất cả những điều đó, ngay từ khi mới thành lập, công tác phát huy giá trị các DTLSVH được đưa lên vị trí hàng đầu Bản thân các di tích, các hiện vật ở đây đã
Trang 36có sức giáo dục sâu sắc nhưng để có thể chuyển tải hết ý nghĩa của điểm tham quan
đó đến được với du khách tham quan thì công tác tuyên truyền, hướng dẫn, vai trò
và vị trí của các thuyết minh viên tại điểm được xem là khâu quan trọng nhất và được xem là thế mạnh của khu DTLSVH Kim Liên Công tác tuyên truyền giáo dục, các hình thức đón tiếp, nội dung thuyết minh luôn được đổi mới Các thuyết minh viên ở Kim Liên luôn là “cầu nối” giúp du khách có thể hiểu rõ hơn về quê hương, về gia đình, về thời niên thiểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cùng với hệ thống các di tích và bảo tàng Hồ Chí Minh trên cả nước, khu DTLSVH Kim Liên đã nổi bật góp phần nâng cao giá trị và trở thành một điểm tham quan tiêu biểu, có ảnh hưởng lớn đến định hướng phát triển của du lịch Việt Nam nói chung và Nghệ An- Nam Đàn nói riêng
An đang ngày càng khẳng định “thương hiệu” trong nước, trong khu vực cũng như trên thế giới.[35]
Là một quần thể di tích kiến trúc với hơn 1.350 di tích, trong đó có 1.273 di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc các công trình dân dụng, tín ngưỡng như đình, chùa, lăng, miếu, hội quán, nhà thờ tộc, nhà ở, giếng, cầu,…vv Phố cổ Hội An được bảo
vệ gần như nguyên trạng cho đến ngày nay do sớm nhận thức được giá trị của các di tích cũng như có những hành động thiết thực trong công tác quản lí, bảo tồn và phát huy các giá trị của nó để phục vụ dân sinh của chính quyền và người dân nơi đây
Ấn tượng mạnh nhất đối với du khách là khi đến với Hội An, họ sẽ sống lại
Trang 37nguyên vẹn không gian môi trường văn hóa của một đô thị cổ còn lại duy nhất trên thế giới cách đây hơn 300 năm Ngoài những giá trị văn hóa qua kiến trúc thì Hội An vẫn còn lưu giữ được một nền tảng văn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng, đó là những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, làng nghề, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa…vv Để đạt được điều đó, ở Hội An, công tác duy tu, bảo tồn, bảo dưỡng đối với các di tích phải là công việc thường xuyên, thậm chí là hàng giờ, hàng ngày Vấn đề bảo tồn được ưu tiên hàng đầu, được thực hiện một cách nghiêm ngặt, khoa học và ngày càng chuyên nghiệp hơn, nhất là sau khi được Unesco công nhận là di sản Với phương châm “bảo tồn di sản vững chắc và phát triển du lịch bền vững”, chính quyền cũng như người dân nơi đây luôn nhận thức rõ tầm quan trọng hàng đầu của việc bảo tồn hoàn nguyên di tích có giá trị thiết thực đến thế nào
Hội An nổi bật là một điểm sáng trong khai thác hiệu quả giá trị DTLS, giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch Là một điển hình trong việc giải quyết tốt vấn
đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản, luôn điều hòa lợi ích của cộng đồng trong hoạt động du lịch, xây dựng được môi trường du lịch văn minh, lịch sự và thân thiện với
du khách
1.8.3 Bài học kinh nghiệm
Qua các bài học trên của Trung Quốc, của Campuchia, của Hội An và của khu di tích Kim Liên- Nghệ An cho thấy việc bảo tồn các DTLSVH, các phố cổ, làng cổ, các công trình kiến trúc có ý nghĩa quan trọng về mặt lịch sử, kiến trúc qua các thời đại… cho dù thuộc sở hữu của nhà nước hay tư nhân đều được bảo tồn Đó chính là cơ sở để phát triển bền vững ngành du lịch
Trên cơ sở các tiêu chí được xây dựng thành chuẩn mực để đánh giá giá trị các công trình, từ đó lên kế hoạch và ưu tiên trùng tu, tôn tạo, bảo tồn Trong các vấn đề bảo tồn di tích, nguồn lực tài chính và đảm bảo môi trường sống cũng như sự
an toàn của cộng đồng dân cư luôn là những yếu tố quan trọng nhất
Về ngân sách tu bổ di tích: căn cứ xét duyệt dựa trên các tiêu chí cơ bản như tầm quan trọng của di tích, lợi ích cộng đồng mà di tích mang lại, mức độ khẩn cấp yêu cầu bảo tồn và hiệu quả cao nhất của việc bảo tồn, trùng tu Bên cạnh đó, còn xét
Trang 38đến các tiêu chí khác như sự quan tâm của cộng đồng, phân loại di tích, phân bố địa lí…vv Ngoài các dự án đầu tư của nhà nước, Trung Quốc, Campuchia hay đối với trường hợp Hội An luôn khuyến khích các nguồn hỗ trợ đầu tư của khu vực tư nhân, luôn có chính sách ưu đãi về thuế trong trường hợp công trình có giá trị di sản đặc biệt
Để thu hút đầu tư vào các DTLSVH thì cần nhìn nhận đúng giá trị của DTLS
đó không chỉ về giá trị văn hóa, lịch sử mà còn cả giá trị về kinh tế của các di tích đó
Và kinh nghiệm nổi trội nhất vẫn chính là bảo tồn di tích nhưng vẫn phải đảm bảo môi trường sống cũng như sự an toàn của cộng đồng dân cư trong khu vực
di tích, đồng thời người dân phải thấy được quyền lợi của họ về việc làm, về thu nhập lâu dài và bền vững bên cạnh những giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội, môi trường và kinh tế Đồng thời, vai trò của các hướng dẫn viên, các thuyết minh viên tại điểm cũng rất quan trọng, góp phần làm tăng giá trị các DTLSVH, các di sản Việc phân cấp và trao quyền: nhà nước trao một số quyền cho chính quyền địa phương, nơi có các DTLSVH, nhờ đó, chính quyền địa phương sẽ có trách nhiệm hơn, tính tự chủ của địa phương cũng tăng lên và ý kiến của người dân cũng được quan tâm hơn
Việc giáo dục cộng đồng dân cư: sự cần thiết có sự tham gia của cả công chúng, nâng cao sự hiểu biết về các DTLSVH, về các di sản quốc gia, thu hút công chúng tham gia vào những hoạt động có liên quan nhất là lớp trẻ về ý thức bảo vệ DTLSVH, các di sản: thông tin tuyên truyền được đưa vào trường học Qua đó, công tác bảo tồn các DTLSVH sẽ có được sự tham gia của toàn xã hội
Hàng năm, nên tổ chức những ngày di sản, DTLS để người dân có thể tham quan, tìm hiểu và thông qua đó, họ sẽ có ý thức hơn trong việc bảo vệ các DTLS
Tiểu kết chương 1
Toàn bộ chương 1, tác giả đề cập đến những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, tác giả đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về điểm tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch như khái niệm về DTLSVH, về tham quan, quan niệm về điểm tham quan để làm rõ hơn khái niệm về điểm tham quan du lịch và
Trang 39điểm tham quan DTLSVH phục vụ khách du lịch Đồng thời, tác giả đề cập đến việc phân loại các DTLSVH, những đặc điểm cơ bản của DTLSVH, giá trị của các DTLSVH đối với điểm tham quan du lịch để khẳng định rằng: điểm tham quan DTLSVH chính là một loại hình du lịch, là một nguồn tài nguyên du lịch quý giá,
và muốn thành công trong lĩnh vực du lịch này thì hoạt động du lịch đó phải được thực hiện một cách văn hóa Thông qua các điểm tham quan DTLSVH, chúng ta có thể chuyển tải được các giá trị văn hóa của một địa phương, của một quốc gia và góp phần đánh thức, làm sống lại các giá trị văn hóa của dân tộc đồng thời, thông qua du lịch các tài sản văn hóa đó cũng sẽ được bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị Thứ hai, tác giả đề cập đến nhu cầu và hành vi của du khách tại các điểm tham quan DTLSVH, các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tham quan DTLSVH và việc
tổ chức các điểm tham quan Nội dung này là cơ sở quan trọng để tìm hiểu và đánh giá thực trạng các điểm tham quan du lịch DTLSVH tại thành phố Huế
Thứ ba, tác giả đề cập đến một số bài học kinh nghiệm của một số điểm tham quan DTLSVH điển hình trên thế giới cũng như ở trong nước đã thành công về tổ chức hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH để làm rõ được điểm khác biệt giữa tổ chức hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH tại TP Huế so với tổ chức hoạt động tại các điểm tham quan DTLSVH ở phạm vi quốc gia và quốc tế
Trang 40Chương 2: THỰC TRẠNG ĐIỂM THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HÓA TẠI THÀNH PHỐ HUẾ 2.1 Khái quát về tình hình phát triển của du lịch thành phố Huế
2.1.1 Tài nguyên du lịch thành phố Huế
Thành phố Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên Huế, từng là cố đô của Việt Nam và là thành phố có hai di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận Nằm cách thủ đô Hà Nội 658km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh1052 km
về phía Bắc, tính bằng đường bộ Với diện tích 71,7 km2 và dân số 348.279 người [9]
TP Huế nằm trong một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng gồm nhiều yếu tố địa lí tự nhiên tạo thành : biển và đầm phá ở phía Đông Bắc, đồi và núi rừng ở phía Tây Nam, giữa là vùng đồng bằng với hệ thống sông ngòi khá phong phú trong đó quan trọng nhất là sông Hương, phát nguyên từ vùng núi rừng Trường Sơn và chảy về Biển Đông
Tài nguyên du lịch của TP Huế tương đối đa dạng, phong phú, nổi bật và có giá trị hơn cả là các tài nguyên văn hóa đặc sắc và độc đáo trong đó, có không ít di sản văn hóa vật thể tầm cỡ quốc gia và quốc tế có sức thu hút du khách
Trong gần 400 năm (1558- 1945) từng là thủ phủ của chín đời Chúa Nguyễn
ở Đàng trong, là kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến kinh đô của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua nhà Nguyễn Thành phố Huế tương đối nhỏ nhưng hiện nay
nó còn lưu giữ được khá đầy đủ diện mạo của kinh đô ngày trước, bao gồm: cung điện, thành quách, lăng tẩm, chùa chiền…vv Tất cả đều được quy hoạch và xây dựng một cách có hệ thống dựa trên những nguyên tắc kiến trúc cổ kết hợp giữa phương Đông, phương Tây và cả của địa phương Các nguyên tắc kiến trúc ấy đã kết hợp với nhau và kết hợp với cảnh quan thiên nhiên của Huế đã tạo nên sự hài hòa trong kiến trúc, đã tạo nên một đô thị Huế với một vẻ đẹp riêng có sức hấp dẫn, thu hút lớn đối với khách du lịch
Với gần 1000 di tích trong đó có gần 140 di tích được công nhận là DTLS văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, hệ thống này gồm: DTLSVH, DTLS cách mạng,
di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích kiến trúc tôn giáo vv, đặc biệt,