Nhận xét chung về chính sách và việc áp dụng chính sách đối với nguồn nhân lực trong hệ thống thư viện công cộng Hà Nội .... Tình hình nghiên cứu của đề tài Với nội dung “Chính sách đối
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HỒNG
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC THÔNG TIN - THƯ VIỆN Ở VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HỒNG
CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC
THÔNG TIN - THƯ VIỆN Ở VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Viết
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
TS Lê Văn Viết PGS.TS Đoàn Phan Tân
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn với đề tài “Chính sách đối với nguồn nhân lực Thông tin -
Thư viện ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước” là kết quả học tập
và nghiên cứu của tác giả trong khóa học 2012 - 2014, chuyên ngành khoa học thông tin - thư viện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện, tác giả đã nhận được sự giúp
đỡ tận tâm của TS Lê Văn Viết - người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học
Sự tận tình chỉ bảo, dìu dắt của Thầy cùng với sự định hướng chuyên môn, gợi mở hướng nghiên cứu của các nhà khoa học trong ngành (PGS.TS Trần Thị Quý, TS Vũ Dương Thúy Ngà, ThS Nguyễn Ngọc Nguyên) đã giúp tác giả có điều kiện tốt nhất hoàn thành luận văn Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Lê Văn Viết và đội ngũ các nhà khoa học ngành thông tin - thư viện
Đồng thời, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Phòng Nghiệp
vụ & phong trào, tập thể các cô chú, anh chị và bạn bè tại Thư viện Hà Nội, các đồng nghiệp tại hệ thống thư viện cấp huyện và cấp cơ sở đã tạo điều kiện giúp đỡ để tác giả tiếp cận thực tế nghiên cứu của mình thông qua điều tra, thu thập dữ liệu và trao đổi ý kiến
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, và các thầy cô, đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1 Lý luận chung về chính sách đối với nguồn nhân lực
thư viện 14
1.1 Các khái niệm cơ bản 14
1.1.1 Khái niệm chính sách 14
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực thư viện 17
1.1.3 Chính sách về nguồn nhân lực TT-TV 23
1.1.4 Nội dung về chính sách nguồn nhân lực thư viện 25
1.2 Vai trò của chính sách về nguồn nhân lực thư viện 30
1.2.1 Đối với các cơ quan thư viện 30
1.2.2 Đối với cán bộ thư viện 32
1.3 Khái quát về hệ thống Thư viện công cộng trên địa bàn Thành phố
Hà Nội 33
1.3.1 Thư viện Hà Nội 33
1.3.2 Mạng lưới thư viện cấp Quận, Huyện, Thị xã 40
1.3.3 Mạng lưới thư viện Xã, Phường và tủ sách cơ sở 43
Chương 2 Thực thi chính sách đối với nguồn nhân lực tại hệ thống
thư viện công cộng Hà Nội trong giai đoạn đổi mới 50
2.1 Những chính sách hiện hành của Nhà nước Việt Nam đối với nguồn nhân lực thư viện 50
2.1.1 Chính sách về tiền lương 50
2.1.2 Chính sách về chế độ phụ cấp độc hại 52
Trang 52.1.3 Chính sách về nâng cao trình độ, đào tạo, tham gia các tổ chức
nghề nghiệp 55
2.1.4 Chính sách đảm bảo điều kiện làm việc 60
2.1.5 Chính sách khen thương 62
2.2 Thực trạng việc thực thi chính sách về NNL trong hệ thống TVCC
Hà Nội 63
2.2.1 Tại Thư viện Hà Nội 63
2.2.2 Tại hệ thống thư viện Quận - Huyện 74
2.2.3 Hệ thống thư viện xã phường và tủ sách cơ sở 79
2.3 Nhận xét chung về chính sách và việc áp dụng chính sách đối với nguồn nhân lực trong hệ thống thư viện công cộng Hà Nội 83
2.3.1 Ý kiến đánh giá về chính sách tiền lương 83
2.3.2 Chính sách về chế độ phụ cấp độc hại 86
2.3.3 Chính sách hỗ trợ và bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ 88
2.3.4 Chính sách về tạo điều kiện làm việc 90
2.3.5 Chính sách khen thưởng 91
2.3.6 Hạn chế và bất cập trong các chính sách và thực thi các
chính sách 93
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách
đối với nguồn nhân lực trong hệ thống TVCC Hà Nội 96
3.1 Giải pháp 96
3.1.1 Hoàn thiện các chính sách đối với nguồn nhân lực 96
3.1.2 Cần có những quy định và một số điều chỉnh cụ thể phù hợp hơn về chế độ đặc thù đối với nguồn nhân lực thư viện 98
3.1.3 Chính sách đầu tư cho đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn,
ý thức trách nhiệm, đổi mới tư duy đối với cán bộ thư viện 99
Trang 63.2 Một số kiến nghị 102
3.2.1 Một số kiến nghị đối với nhà nước, UBND các cấp 102
3.2.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước(sở VHTT&DL HN),
các TVCC 109
3.2.3 Đối với cán bộ trong hệ thống TVCC ở Hà Nội 113
3.2.4 Đối với các Thư viện cấp trên 117
3.2.5 Đối với cơ sở đào tạo 118
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 126
Trang 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Hệ số phụ cấp lãnh đạo trong các thư viện công cộng 27
Bảng 2 Hệ số phụ cấp chức vụ tại TVHN 64
Bảng 3 Ý kiến đánh giá về chế độ tiền lương 83
Bảng 4 Ý kiến đánh giá về chế độ phụ cấp độc hại 86
Bảng 5 Ý kiến đánh giá về chính sách hỗ trợ và bồi dưỡng
nâng cao trình độ
88
Bảng 6 Ý kiến đánh giá về chính sách tạo điều kiện làm việc 90
Bảng 7 Ý kiến đánh giá về chính sách khen thưởng 91
Biểu đồ 1 Trình độ của cán bộ tại TVHN 70
Biểu đồ 2 Ý kiến đánh giá về chính sách tiền lương 84
Biểu đồ 3 Đánh giá về chế độ phụ cấp độc hại 86
Biểu đồ 4 Đánh giá về chính sách đào tạo, nâng cao trình độ 88
Biểu đồ 5 Đánh giá về chính sách tạo điều kiện làm việc 90
Biểu đồ 6 Đánh giá về chính sách khen thưởng 92
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức Thư viện Hà Nội 36
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và chia sẻ thông tin đáng là xu thế tất yếu hiện nay của thế giới Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm cho nền kinh tế thế giới có nhiều thay đổi, chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Trong thời kì mới thông tin đóng vai trò ngày càng quan trọng, là nhân tốt quyết định sự phát triển của xã hội Sự thay đổi đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động Thông tin Thư viện (TT-TV), thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành TT-TV và đem lại nhiều đóng góp thiết thực, nâng cao vai trò của ngành TT-TV trong xã hội Trong những năm gần đây, ngành TT-TV ngày càng phát triển và nhận được sự quan tâm của rất nhiều quốc gia trên thế giới Hoạt động TT-TV không chỉ phát triển ở phạm vi riễng lẻ của từng quốc gia mà có sự liên kết, trao đổi và chia sẻ trên toàn thế giới Nhiều
cơ quan TT-TV, nhiều tổ chức nghề nghiệp đã ra đời ở nhiều quốc gia và có
sự liên kết của của khu vực thế giới kéo theo đó là minh chứng rõ nét cho sự
đi lên của hoạt động TT-TV Để có được kết quả như vậy thì yếu tố con người luôn đóng vai trò quyết định
Ở nước ta, ngành TT-TV cũng theo xu hướng chung của thế giới, ngày càng phát triển, chuẩn hóa và hội nhập Từ trước đến nay, hoạt động TT-TV luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về nhiều mặt điều này được thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành Trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đã nêu rõ quan điểm, chủ trương, chính sách chiến lược về xây dựng và phát triển văn hóa nói chung, hoạt động TT-
TV nói riêng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là cơ sở pháp lý, tiền đề để các cơ quan TT-TV hoạt động và phát triển
Trang 10Thư viện công công ở nước ta đang ngày càng phát triển và chứng tỏ được vai trò của mình trong xã hội, và đóng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, giáo dục và đen lại nhiều lợi ích thiết thực nâng cao đời sống cho con người Có được những thành tựu đó, bên cạnh những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ủy ban nhân nhân các cấp còn phải kể đến sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ thư viện Chính họ là những chiếc “cầu nối” đưa người dùng tin tiếp cận nguồn thông tin, tri thức phong phú có trong vốn tài liệu giúp người dung tin tìm kiếm được thông tin hữu ích góp phần nâng cao hiểu quả công việc và mục đích của mình Cán bộ thư viện ngày nay đã không còn là “ người trông giữ kho sách” mà là những chuyên gia thông tin, là động lực quan trọng, trực tiết quyết định sự phát triển, chất lượng, hiệu quả của mỗi cơ quan thông tin thư viện Như Kupxcaia đã từng nói: “cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện” Thật vậy, không chỉ là là một trong các thành tố quan trọng tạo thành thư viện cán bộ thư viện còn có vai trò là người vận hành hệ thống, sự dụng nguồn lực thông tin, tổ chức các dịch vụ phụ vụ nhu cầu tin cho người dùng tin Cán bộ thư viện luôn đóng vai trò quyết định đến chất lượng hoạt động của thư viện trong bất cứ hoàn cảnh nào ngay cả khi CNTT cực kì phát triển
Cùng với sự phát triển của xã hội và ngành TT-TV, yêu cầu cũng như vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyên lợi và nghĩa vụ đối với cán bộ thư viện ngày nay cũng có nhiều thay đổi Đòi hỏi người cán bộ thư viện phải có sự nhận thức, kỹ năng cao hơn, chuyên nghiệp hơn để đáp ứng nhiệm vụ của mình trong thời đại mới Họ phải làm tốt nghĩa vụ của mình sao cho tương xứng với những quyền lợi mà họ được hưởng Bởi cán bộ TT-TV chính là
“linh hồn” là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, hiểu quả của việc đổi mới và thích ứng với tình hình kinh tế mới và sự biến chuyển của xã hội
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm đến việc phát triển công tác Thông tin Thư viện song thực tế vai trò của cán bộ thư viện
Trang 11chưa được đánh giá đúng mức, chế độ đãi ngộ của người cán bộ thư viện (đặc biệt là cán bộ thư viện trong hệ thống thư viện công cộng) vẫn còn rất nhiều vấn đề cần quan tâm Điều này không chỉ ảnh hưởng trước hết đến đời sống của đội ngũ cán bộ, những người làm công tác thư viện mà còn trực tiếp quyết định đến hiệu quả, chất lượng của các cơ quan thông tin Ảnh hưởng trực tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu tin, nâng cao hiệu quả lao động cũng như đời sống của người dùng tin Chính vì thế việc đảm bảo chế độ, quyền lợi và vị thế cho cán bộ thư viện sẽ góp phần làm cho hoạt động thư viện được thực hiện một cách chất lượng và có hiểu quả Việc nghiên cứu chính sách đối với cán bộ thư viện và việc thực thi chính sách để có những đánh giá khách quan, trên cơ
sở đó đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế góp phần hoàn thiện việc xây dựng chính sách đảm bảo sự phù hợp giữa quyền lợi và nghĩa
vụ của người cán bộ thư viện trong thời đại mới là rất cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Với nội dung “Chính sách đối với nguồn nhân lực Thông tin - Thư
viện ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước”, đã thấy có nhiều có
nhiều công trình nghiên cứu cấp Bộ, các luận văn thạc sĩ, các bài báo công bố trên các tập chí chuyên ngành có liên quan liên quan đến vấn đề này Trong
đó trước hết phải kể đến chùm công trình nghiên cứu của TS Vũ Dương Thúy Ngà như: Công trình cấp Bộ “Hoàn thiện chính sách cơ bản để phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam” năm 2013; đề tài nghiên cứu cấp Trường
“Nghiên cứu công tác đào tào cán bộ thư viện ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp” công bố năm 1998 tại trường Đại học Văn Hóa Bái báo “Một số vấn
đề đặt ra trong chính sách đối với người làm công tác thư viện ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Vũ Dương Thúy Ngà, TS.Phạm Văn Rính đăng trên tạp chí Thư viện số 4/2013
Tiếp đến là chùm đề tài của PGS.TS Trần Thị Quý như: Công trình cấp
bộ năm 2009 “Nguồn nhân lực TT-TV các trường đại học trên địa bàn Hà
Trang 12Nội, thực trạng và giải pháp Bài “Đào tạo cán bộ TT-TV ở Việt Nam - nhu cầu cấp bách trong thời kì CNH-HĐH đất nước” công bố tại Hội thảo Khoa học quốc tế do viện Gorthe tổ chức ở Việt Nam năm 2001 Bài “Đào tạo nguồn nhân lực nghành TT-TV Việt Nam - 50 năm nhìn lại” trên tập chí Thư viện Việt Nam số 3/2006
Tiếp theo là đề tài cấp Bộ: “Mô hình tổ chức và hoạt động của thư viện tỉnh, huyện và cơ sở ở Việt Nam”.của TS Lê Văn Viết năm 2007
Tiếp đến là đề tài cấp Bộ “Tiêu chí nguồn nhân lực TT-TV nguồn nhân lực thư viện của PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt Báo cáo khoa học năm 2011 của TS Chu Ngọc Lâm với đề tài “Đào tạo nguồn nhân lực TT-TV chất lượng cao trong thời đại kinh tế tri thức” Bài báo “Đào tạo nguồn nhân lực TV-TT trong bối cảnh xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức” đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn hóa số 6 năm 2010
Ngoài ra còn kể đến một số công trình khoa học ở trường ĐH KHXH&NV như luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Hồng Loan với đề tài
“Nguồn nhân lực TT-TV của một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công An trên khu vực Hà Nội” bảo vệ năm 2013; khóa luận bảo vệ 2009: “Quản lý phát triển nguồn nhân lực TT-TV của trung tâm khoa học tại Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Thị Thanh Huyền Ở trường Đại học Văn Hóa Hà Nội có luận văn “ Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tại Viện Triết học trong giai đoạn đổi mới đất nước” bảo vệ năm
2007 của tác giả Hồ Thị Cần; luận văn “Nguồn nhân lực trong hệ thống thư viện công cộng tại địa bàn Hà Nội” bảo vệ năm 2011 của tác giả Phạm Thị Bích Ngọc
Ngoài ra còn có rất nhiều đề tài khác Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, các bài viết, báo cáo khoa học nêu trên chủ yếu liên quan đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, chính sách phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam nói chung Còn các vấn đề về về chế độ, chính sách đối với cán bộ thư viện, đặc
Trang 13biệt là cán bộ thư viện công cộng lại rất ít được đề cập đến Như vậy, có thể
khẳng định đề tài ““Chính sách đối với nguồn nhân lực Thông tin - Thư
viện ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước” là hoàn toàn mới và
chưa có đề tài nào nghiên cứu được triển khai
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
3.2 Đề tài tập trung nghiên cứu về chính sách đối với cán bộ thư viện và
việc thực thi chính sách trong hệ thống TVCC mà đại diện là hệ thống TVCC trên địa bàn Thành phố Hà Nội
3.3 Phạm vi nghiên cứu
– Với phạm vi của một Luận văn, đề tài đi sâu nghiên cứu, khảo sát tại hệ thống TVCC Hà Nội, bởi Hà Nội là nơi mà hệ thống TVCC có đầy đầy đủ các mạng lưới từ thư viện cấp Thành phố, cấp quận huyện đến thư viện xã phường và tủ sách cơ sở đồng thời là nới có hệ thống TVCC phát triển nhất cả nước về cả chất và lượng Việc chọn hệ thống TVCC Hà Nội theo phương pháp chọn mẫu là có thể đại diện và phản ánh được các vấn đề về chính sách đối với nguồn nhân lực cho hệ thống thư viện công cộng của nước ta
thư viện quận/ huyện và 177 thư viện xã phường, 978 thư viện,tủ sách
cơ sở tại các cụm dân cư, thôn làng
trong giai đoạn 2000 - 2014
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu các VBQPPL có liên quan về vấn đề chính sách đối vơi cán
bộ Khảo sát việc triển khai áp dụng các chính sách đó tại hệ thống TVCC ở
Hà Nội Để có được hiểu biết đầy đủ hơn về những quy định của pháp luật
Trang 14liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ đối với cán bộ thư viện Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá về mức độ phù hợp của các chính sách đối với cán bộ thư viện và những kiến nghị góp phần xây dựng chính sách đối với cán bộ thư viện đặc biệt là cán bộ thư viện trong hệ thống thư viện công cộng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu các chính sách đối với cán bộ thư viện thông qua hệ thống VBQPPL hiện hành của nước ta
- Thực trạng việc triển khai và thực hiện các chính sách đó tai các TVCC
ở Hà Nội
- Nhận xét, đánh giá và một số kiến nghị về chính sách và việc áp dụng chính sách đối với cán bộ thư viện nhằm đàm bảo tốt quyền lợi và nghĩa vụ của người cán bộ thư viện đề góp phần vào việc phát triển sự
nghiệp thư viện ở nước ta
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Giả thiết nghiên cứu
Hoạt động TT-TV ở nước ta đã nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các Bộ nghành và UBND các cấp Hệ thống TVCC ở Hà
Trang 15Nội cũng ngày càng phát triển, song song với điều này thì chế độ đãi ngộ, chính sách đối với cán bộ thư viện làm việc trong hệ thống TVCC cũng được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau các chính sách đối với cán bộ thư viện và việc áp dụng các chính sách đó trong hệ thống TVCC ở Hà Nội vẫn chưa phù hợp và còn nhiều bất cập Nhưng giả thiết nhà nước ta, UBND các cấp ở Hà Nội, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch, các cấp lãnh đạo quan tâm nhiều hơn, có nhiều chính sách phù hợp hơn về hoạt động TT-TV nói chung và đời sống của cán bộ thư viện công cộng riêng Nâng cao điều kiện sống và làm việc được cải thiện, nâng cao thu nhập, phụ cấp độc hại cho cán bộ thư viện thì cán bộ thư viện sẽ yên tâm công tác và có thêm nhiều động lực để phấn đấu, cống hiến, sáng tạo trong trông việc, yêu nghề thì chắc chắc hoạt động thư việc tác các TVCC trên địa bàn Hà Nội sẽ ngày càng càng phát triển về cả chất lượng và số lượng góp phần thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp thư viện ở Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện lý luận về chính sách đối với cán bộ TV
- Ý nghĩa thực tiễn:
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra những nhận xét, đánh giá
và một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện việc xây dựng chính sách đối với cán bộ thư viện, khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm trong quá trình triển khai và áp dụng các chính sách tại các thư viện công cộng để góp phần đảm bảo đời sống, điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ thư viện -
đó là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của nghành TT-TV và các TVCC ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung
Trang 168 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Kết cấu luận văn gồm 3 chương, luận văn sẽ tập trung vào một số nội dung sau:
- Hoàn thiện những vấn đề lý luận về về chính sách đối với cán bộ thư viện
- Khảo sát thực trạng việc áp dụng chính sách đối với cán bộ trong hệ thống TVCC ở Hà Nội
- Đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện chính sách đối với cán bộ thư viện phù hợp với tình hình thực tiễn
công cộng Hà Nội trong giai đoạn đổi mới
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện chính
sách đối với nguồn nhân lực trong hệ thống Thư viện công cộng Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH
ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC THƯ VIỆN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm chính sách
* Về định nghĩa về chính sách
Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế -
xã hội Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách được thể hiện khác nhau, ví dụ: "Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra";[1] hoặc "Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội"
Trong trường hợp cụ thể chúng tôi qua niệm: “chính sách là các chủ trương, biện pháp của nhà nước nhằm phát triển nguồn nhân lực (NNL) thư viện
Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như:
- Chính sách đối ngoại của Nhà nước: chủ trương, chính sách mang tính đối ngoại của quốc gia;
- Chính sách kinh tế: chính sách của nhà nước đối với phát triển các ngành kinh tế;
- Chính sách xã hội: chính sách ưu đãi trợ giúp cho một số tầng lớp xã hội nhất định như chính sách xã hội đối với công tác giáo dục ở vùng cao, vùng sâu, chính sách xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ
- Chính sách tiền tệ: chính sách của Nhà nước nhằm điều tiết (tăng hoặc giảm) lượng tiền tệ trong lưu thông để đạt được những mục tiêu nhất định như chống lạm phát, kích thích sản xuất, giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
1
Từ điển tiếng Việt
Trang 18Trong các loại chính sách chung lại có các chính sách đối với từng lĩnh vực, ví dụ: Trong chính sách kinh tế có các chính sách mậu dịch tự do, chính sách bảo hộ thuế quan, chính sách tài chính Trong chính sách tiền tệ có chính sách thị trường tự do, trong chính sách xã hội có chính sách dân tộc, chính sách đối với nguồn nhân lực (NNL) Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau, có chính sách chung, chính sách cụ thể tuỳ thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế - xã hội Chính sách được thực thi khi được thể chế hoá bằng pháp luật.Nói một cách khác, pháp luật là kết quả thể chế hoá đường lối, chính sách, là công cụ để thực thi chính sách
* Về nguồn chính sách
Do chính sách có các loại và cấp độ khác nhau, có những chính sách mang tính định hướng, có những chính sách cụ thể, nên các cấp phê duyệt chính sách và nguồn chính sách cũng khác nhau Sau đây là một số nguồn chính sách do các cấp khác nhau ban hành:
- Nghị quyết Đảng, Nghị quyết, ý kiến kết luận của Bộ Chính trị đưa ra định hướng chính sách phát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện các định hướng này cần phải nghiên cứu và ban hành hàng loạt các chính sách cụ thể
có liên quan như chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế
- Hiến pháp năm 1992: Hiến pháp đưa ra một số chính sách mang tính định hướng, như: chính sách dân tộc, đối ngoại, kinh tế, giáo dục, khoa học và công nghệ Các chính sách cụ thể sẽ được ban hành ở các văn khác khác có liên quan
- Nghị quyết của Quốc hội đưa ra những chính sách mang tính định hướng để các ngành, các cấp nghiên cứu xây dựng các chính sách cụ thể áp dụng trong từng ngành và lĩnh vực, phù hợp với từng thời kỳ phát triển Ví dụ như: Nghị quyết số 51/2005/QH11 về Nhiệm vụ năm 2006, Nghị quyết số 47/2005/QH11 về Dự toán ngân sách nhà nước
Trang 19- Cam kết quốc tế: Các cam kết trong các điều ước quốc tế song phương, đa phương mà Việt Nam là thành viên là những chính sách mang tính định hướng hoặc cụ thể Việc thực hiện những chính sách này có thể được thực hiện bằng việc nội luật hoá vào pháp luật Việt Nam hoặc áp dụng trực tiếp
- Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển ngành: Một số chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành có quy định về định hướng chính sách hoặc chính sách cụ thể cho phát triển ngành
Như vậy có thể thấy, chính sách được thể hiện ở nhiều nguồn và ở khía cạnh hình thức, chính sách thường rộng hơn pháp luật
* Cấp phê duyệt chính sách
Qua phân tích các nguồn chính sách ở trên cho thấy chính sách được thể hiện ở các nguồn khác nhau với các cấp độ khác nhau, ví dụ như các cấp lãnh đạo của Đảng, Quốc hội (hoặc Hội đồng nhân dân); Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (hoặc Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
* Vấn đề và bất cập
Thực tế việc xây dựng luật trong thời gian qua đã bộc lộ những vấn đề như: Có những luật trình Quốc hội nhưng Quốc hội đã quyết định dừng hoặc lùi lại so với Chương trình xây dựng luật; Có những luật trình Chính phủ (hoặc do cơ quan khác trình xin ý kiến Chính phủ), Chính phủ đã quyết định dừng hoặc lùi lại so với Chương trình xây dựng luật; có những luật được Quốc hội thông qua, nhưng:
- Nội dung chính sách không định hướng được trong luật mà giao cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể Do đó, trên thực tế nhiều văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chậm so với hiệu lực của luật, pháp lệnh và như vậy Luật phải chờ văn bản hướng dẫn mới thực hiện được
Trang 20- Chính sách quy định trong luật được ban hành có nội dung khác so với nội dung chính sách mà Chính phủ nêu trong Dự thảo luật
- Chính sách không đồng bộ dẫn đến việc áp dụng luật còn khó khăn Như vậy, Chính sách được các cơ quan chính phủ ban hành, được xây dựng bởi các cơ quan pháp luật.Chính sách được thể hiện thông qua hệ thống các văn bản quy phạm phát luật (QPPL) mà cụ thể là các Luật và văn bản dưới luật.Chính sách là sự cụ thể hóa và thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng và nhà nước Nhưng khác với đường lối, chủ trương, chính sách hương tới những vấn đề được đặt ra hay những vấn đề nan giản cụ thể Một chính sách tốt phải đáp ứng nhiều yêu cầu về tính khả thi, như nó có thể thực hiện được hay không?, chính sách đó có phù hợp với tình hình thực tế và có phù hợp với nhữn chính sách khác nữa hay không
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực thư viện
* Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực (NNL) là khái niệm được đề cập đến với nhiều khía cạch khác nhau, chính vì vậy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.NNL là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức bất kể họ có vai trò gì Theo quan điểm này, nói đến NNL là nói đến trí tuệ, nhận thức, sức lực của cá nhân.[2]
Cũng có ý kiến cho rằng NNL là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể, tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố vật chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động [3]
Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: “NNL là trình độ lành nghề là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoạc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng” Định nghĩa này cho ta thấy NNL bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng
Trang 21lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi)
Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động”
Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội:
“Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và
có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội”
Trên cơ sở đó, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã xác định NNL hay nguồn lực con người bao gồm nguồn lực lao động và lao động dữ trữ Trong
đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người lao động có nhu cầu nhưng chưa có việc làm (người thất nghiệp) Nguồn lao động dữ trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong
độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động
Như vậy, có thể nói NNL là tổng thể những tiềm năng của con người
mà cụ thể là tiềm năng lao động, gồm có thể lực, trí lực, nhân cách đạo đức của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hay một cơ cấu kinh tế
nhất định
* Nguồn nhân lực thư viện
Các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội trong đó có thư viện (TV) ngày càng phát triển, đầu tư trong và ngoài nước ngày càng tăng, công nghệ mới được áp dụng ngày càng nhiều Song nguồn nhân lực, một trong những yếu
tố quan trọng nhất quyết định chất lượng hoạt động cũng như vị thế của ngành thư viện nói chung và hệ thống thư viện công cộng (TVCC) nói riêng chưa theo kịp yêu cầu phát triển cả về mặt cơ cấu, chất lượng và số lượng Công tác quản lý nguồn nhân lực, việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực vẫn còn gặp khó khăn nhiều TV vẫn còn lúng túng trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của mình
Trang 22Để các thư viện Việt Nam phát triển đáp ứng nhu cầu xã hội, điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm dùng để chỉ trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của nghề nghiệp
Theo PGS.TS Trần Thị Quý: “ Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên con người/ nhân sự cùng các vấn đề liên quan đến con người/ nhân sự trong hoạt động của các cơ quan TT-TV” Nguồn nhân lực được phân bố rộng rãi trong các lĩnh vực của xã hội như: kinh tế, văn hóa, thương mại, ngoại giao, xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp, sản xuất, kinh doanh Người hoạt động, lao động trong lĩnh vực nào là NNL của lĩnh vực đó Do vậy, NNL thư viện là đội ngữ cán bộ, viên chức nhưng người hoạt động trong lĩnh vực TT-TV
Từ những khái niệm trên của “Nguồn nhân lực”, có thể định nghĩa khái niệm “Nguồn nhân lực thư viện” như sau: “Nguồn nhân lực Thư viện là đội ngũ những người trong độ tuổi lao động, đang làm việc và cống hiến trong lĩnh vực hoạt động Thông tin - Thư viện (TT-TV) Nguồn nhân lực thư viện là nguồn lực con người có trình độ, kiến thức, năng lực hoặc tiềm năng tham gia hoạt động thư viện để duy trì và phát triển lĩnh vực này”
Như vậy, có thể hiểu NNL thư viện là tập hợp những người tham gia vào các hoạt động thư viện, hoạt động nghiên cứu, đào tạo và phát triển hoạt động thư viện
Nguồn nhân lực thư viện bao gồm:
Những người tham gia hoạt động và quản lý thư viện Đây chính là đội ngũ các cán bộ làm việc tại thư viện và quản lý thư viện trong các hệ thống thư viện của cả nước
Những người tham gia vào hoạt động nghiên cứu Khoa học Thông tin Thư viện Hoạt động thư viện là hoạt động mang tính Khoa học Xã hội, những người nghiên cứu trong hoạt động TT-TV có thể bao gồm nhiều đối tượng, có thể khác nhau về trình độ, chuyên môn hay các việc làm cụ thể Song họ đều chung một mục đích là nghiên cứu về nghành Khoa học TT-TV, họ có thể bao
Trang 23gồm những nhà quản lý về thư viện, các giảng viên, các nhà khoa học về thư viện hay những các bộ hoạt động trong lĩnh vực này có nhu cầu
Ngoài những đối tượng trên, NNL thư viện có thể kể đến những người tham gia hỗ trợ, cộng tác viên, cùng chung sức góp phần xã hội hóa hoạt động thư viện
Ở nước ta, hệ thống TVCC có 63 TV tỉnh, thành phố, 626 TV quận, huyện, thị xã, 4.363 TV xã, phường, thị trấn, 12.837 phòng đọc sách xã và cơ
sở (làng, thôn, bản) với 19.691 cán bộ, trong số đó cán bộ của các TVCC tỉnh, huyện và TVQG là 2446 người chiếm 12,4%, số còn lại là 87,6% cán bộ TV
xã, phường, thị trấn, phòng đọc sách xã và cơ sở
Đội ngũ NNL lãnh đạo tại TVQG, các TVCC tỉnh, thành phố là (144 người) 100% cán bộ lãnh đạo đều tốt nghiệp đại học và trên đại học với tuổi đời bình quân là 49, trong đó, tiến sỹ chiếm 1,3%, thạc sỹ 9,7%, 74% tốt nghiệp đại học chuyên ngành TT-TV và 15% tốt nghệp các ngành khác
Tại các TVCC cấp tỉnh, thành phố có hơn 1000 cán bộ nghiệp vụ
TT-TV có tuổi đời trung bình 37, trong đó 71,3% có trình độ đại học (42% được đào tạo chính quy, 29.3% không chính quy), 4,7% sau đại học và 24% có trình độ trung cấp
Đội ngũ NNL trong hệ thống TVCC cấp huyện có 897 người, trong đó 30% cán bộ tốt nghiệp đại học, chủ yếu là hệ không chính quy, số còn lại là trung cấp, nhưng chỉ có 42% trong số đó được đào tạo đúng chuyên ngành TT- TV
Đội ngũ NNL tại các thư viện xã, phường, thị trấn, phòng đọc sách xã
và cơ sở là 17.245 cán bộ (chiếm 87,6% tổng số cán bộ của hệ thống TVCC),
là cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, cán bộ kiêm nhiệm của xã phường hầu hết không có biên chế, không lương, thời gian phục vụ không ổn định và đều không được đào tạo tại các cơ sở đào tạo nghiệp vụ mà chủ yếu được đào tạo thông qua hình thức “cầm tay chỉ việc” của thư viện cấp trên
Trang 24Tỷ lệ cán bộ được đào tạo, đào tạo lại, cán bộ có kinh nghiệm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ có xu hướng tăng Nguồn nhân lực chủ yếu từ TVQG đến thư viện tỉnh, huyện, những thư viện đầu tàu của hệ thống cũng như của địa phương nhìn chung còn tương đối trẻ (37 - 49 tuổi),
có trình độ từ đại học trở lên chiếm hơn 70% tổng số cán bộ Đây là lứa tuổi năng động, chín chắn, có kinh nghiệm, dám nghĩ dám làm là cơ sở giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.[4]
Ngày càng có nhiều thư viện làm tốt các khâu tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và duy trì nguồn nhân lực Đặc biệt, một số TV có đội ngũ cán bộ có chất lượng khá cao, thể hiện qua trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học như: TVQG, Thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Cần Thơ Nhiều thư viện đã tăng cường đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực sau khi nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của nó đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò xã hội của thư viện (Hải Phòng, Bình Định ) Công tác hợp tác quốc tế về phát triển nguồn nhân lực cũng ngày càng được tăng cường
Tuy nhiên, lực lượng cán bộ của hệ thống TVCC Việt Nam không đông, chất lượng đội ngũ cán bộ còn thấp và vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Chúng ta đang rất thiếu cán bộ được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp
vụ, ngoại ngữ, tin học nhưng lại thừa cán bộ không có chuyên môn hoặc chuyên môn không phù hợp với ngành TT-TV Nếu tính trên tổng số cán bộ của hệ thống TVCC số tiến sỹ chỉ chiếm 0,01%, thạc sỹ 0,23% và đại học là 4,91% Riêng về trình độ ngoại ngữ, tin học, số cán bộ có thể sử dụng ngoại ngữ trong việc đọc tài liệu, giao tiếp với khách nước ngoài cũng như có thể dùng những kiến thức tin học viết phần mềm ứng dụng cho các hoạt động nghiệp vụ hoặc khắc phục một số lỗi trong hệ thống mạng máy tính của thư viện chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay Và có sự chênh lệch khá lớn về trình
4
Vụ Thư viện Báo cáo tổng kết năm 2014
Trang 25độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tác phong làm việc chuyên nghiệp giữa đội ngũ cán bộ ở TVQG, TV tỉnh thành phố lớn với các TV ở các vùng miền kém phát triển khác
Tỷ lệ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn chuyển sang các đơn vị trong ngành văn hóa hoặc ra khỏi ngành thư viện có xu hướng ngày càng gia tăng Trong khi, gần 90% cán bộ thư viện xã, phường, thị trấn, phòng đọc sách xã và cơ sở đều làm việc dưới dạng tình nguyện hoặc kiêm nhiệm, thời gian làm việc cho thư viện không ổn định và thường xuyên có sự thay đổi Chế độ tiền lương, tiền thưởng, nhất là ở thư viện cơ sở còn quá thấp hoặc không có nên khó có thể đòi hỏi cán bộ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Nguyên nhân chính của những khiếm khuyết trên là nhiều thư viện chưa có chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chưa thực hiện đúng qui trình tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, chưa quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa sử dụng và bồi dưỡng cán bộ Vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa chất lượng đào tạo với nhu cầu sử dụng NNL của các TVCC các cấp
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, đề tài chủ yếu tập trung khai thác
và tìm hiểu chính sách đối với NNL hoạt động trong hệ thống Thư viện công cộng (TVCC), khảo sát trên địa bàn TP Hà Nội Vì vậy có thể hiểu NNL thư viện ở đây là đội ngũ cán bộ, nhân viên, viên chức, công chức hoạt động trong
hệ thống TVCC trên địa bàn TP.Hà Nội NNL thư viện trên địa bàn TP.Hà Nội vừa có những đặc điểm chung của NNL TVCC trong cả nước vùa có những nét đặc thù riêng của mảnh đất Thủ đô với nhiều chính sách đặc thù
Là nơi được Đảng và Nhà nước, Bộ VHTT&DL, UBND, Sở VHTT&DL Hà Nội hết sức quan tâm đầu tư và phát triển NNL thư viện trên địa bàn TP Hà Nội bao gồm đội ngũ cán bộ, viện chức làm việc tại Thư viện Hà Nội, cán bộ phụ trách tại Thư viện, Trung tâm văn hóa, Phòng văn hóa của 30 Quận/
Huyện và các thư viện cấp sơ sở (xã/ phường/ tủ sách cở sở)
Trang 26Các chính sách thư viện nói chung sẽ bao gồm nhiều khía cạnh củ thể, vấn đề khác nhau của từng hoạt động và đều nhằm mục đích thức đẩy sự phát triển của ngành như chính sách đầu tư, chính sách đối với bạn đọc, chính sách đối với NNL hoạt động trong ngành, chính sách đối với người có thể tham gia vào hoạt động thư viện, chính sách phát triển vốn tài liệu, chính sách ứng dụng CN-TT, chính sách thuế, chính sách phát triển NNL… Các chính sách
đó thường tùy thuộc vào định hướng phát triển văn hóa, giáo dục, mục tiêu nâng cao dân trí của quốc gia Và sẽ bao gồm nhiều đối tượng như hệ thống TVCC, hệ thống thư viện trường đại học, hệ thống thư viện trường học, hệ thống thư viện của các viện, trung tâm nghiên cứu… Các chính sách về thư viện có thể ngắn hạn hoặc dài hạn và thường gắn với mục tiêu phát triển văn hóa, hướng tới việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện Có thể
kế thừa những giá trị tốt đẹp của trong nền văn hóa đồng thời phát huy được năng lực, nâng cao trí tuệ và từ đấy nâng cao dân trí trong nhân dân
Thư viện là một thiết chế văn hóa, thư viện đươc xem là một cơ quan văn hóa, giáo dục ngoài nhà trường Hoạt động thư viện được diễn ra trên khắp các nước về cả quy mô và chất lượng, gắn liền với các địa phương, các
bộ ngành liên quan để đảm bảo đem lại thông tin và tri thức cho nhân dân Chính vì thế, chính sách thư viện có đặc điểm, tính chất gắn với hoạt động thư viện
Trang 27Các chính sách thư viện được đặt ra chủ yếu mang tính chất hỗ trợ Bởi tất cả các hoạt động thư viện trong các cơ quan TT-TV thường mang tính chất
là miễn phí Mọi kinh phí để hoạt động thư viện, đặc biệt trong hệ thống TVCC được lấy từ nguồn kinh phí của nhà nước Cho dù ở một số cơ quan TT-TV có một số dịch vụ có thu, song những khoản thu ấy là rất thấp và không thế đủ để có thể chi cho các hoạt động tại cơ quan
Các chính sách thư viện vùa có tính thống nhất, nhưng cũng có tính đặc thù Các thư viện hoạt động theo chính sách chung của Đẳng và nhà nước, song để phát triển lại còn phụ thuộc vào cơ chế và chính sách của từng địa phương, từng ngành cụ thể
Việc áp dụng và triển khai các chính sách phụ thuộc vào sự quan tâm của lãnh đạo các địa phương, các bộ, ngành và cơ quan chủ quản
Chính sách thư viện nước ta được thể hiện qua hệ thông văn bản QPPL của Đảng và nhà nước, Bộ VHTT&DL, các Bộ, ngành liên quan Trong đó văn bản có giá trị pháp lý thể hiện rõ nhất các chính sách thư viện là Pháp Lệnh thư viện
* Chính sách về nguồn nhân lực thư viện
Chính sách về NNL thư viện là một trong những chính sách quan trọng của chính sách thư viện Bởi cán bộ thư viện được xem là linh hồn của thư viện Một cơ quan TT-TV phát triển như thế nào thì phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ NNL tại cơ quan đó Chính vì thế mà có thể nói, chính sách về NNL
là chính sách quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc phát triển sự nghiệp thư viện
ở quốc gia Hiện nay, những chính sách ưu đãi của nhà nước đối với nghề thư viện bao gồm: Chế độ chung đối với các công chức, viên chức nhà nước; chế
độ đọc hại nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật theo thông tư số BVHTT của Bộ VHTT ngày 21/2/2006; chế độ phụ cấp lãnh đạo theo Thông
25/TT-tư số 67/TT-VBHTT của Bộ VHTT ngày 10/8/2006
Trang 28Chính sách về NNL thư viện không chỉ được thể hiện trong pháp lệnh thư viện mà còn được thể hiện qua nhiều văn bản QPPL khác có liên quan Trên cơ sở có những chế độ đại ngộ chung cho người lao động được áp dụng giống với các ngành nghề khác được quy định trong luật Lao động, Luật Viên chức, luật Bảo hiểm xã hội, Luật Thi đua khen thưởng… Chế độ đãi ngỗ đối với NNL thư viện còn có những văn bản QPPL có giá trị của Bộ VHTT&DL
và một số bộ ngành có lien quan có yếu tố đặc thù riêng và tùy thuộc vào cơ quan, địa phương cụ thể
1.1.4 Nội dung về chính sách nguồn nhân lực thư viện
Chính sách về NNL thư viện bao gồm:
và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc
Chính sách về tiền lương là yếu tố cơ bản để quyêt định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất của người lao động Vì vậy để có thể trả lương một cách công bằng chính xác, đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự quan tâm đúng đắn của người lao động đến kết quả cuối cùng của cơ quan Có thể nói chính
Trang 29sách tiên lương phù hợp là yếu tố để kích thích các nhân tố tích cực trong mỗi con người, phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình của người lao động
Cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện Nên từ khi ra đời thì vai trò của đội ngũ NNL, những người làm công tác TT-TV vẫn không hề thay đổi
Thư viện là cơ quan hoạt động chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước NNL thư viện sự dụng ngân sách nhà nước được hưởng những chế độ đãi ngộ
và thực hiện trách nhiêm như đối với những viên chức NNL thư viện được hưởng lương theo nghạch chính là thư viện viên và thư mục viên theo Quyết định số 428/TCCP -VC ngày 2/6/1993 của Bộ trưởng - Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ ban hành về Tiêu chuẩn nghiệp vụ nghạch công chức nghành Văn hóa - Thông tin trong đó có Thư viện Theo đó NNL thư viện có thể được tính các bậc lương theo quy định này và phân chia theo từng nghạch viện chức như sau: Thư viện viên cao cấp, thư viện viên chính, thư viện viên Còn trong Thư mục viên thì có Thư mục viên cao cấp, Thư mục viên chính, thư mục viên
Trong nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ
“Về chế độ lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang” quy định nghạch lương của viên chức thư viện nằm trong nhóm 1 (đối với thư viện viên và thư mục viên nhóm 2; đối với thư viện viên chính và thư mục viên chính trở lên) của nghạch là từ A1 - A3, gồm 8 bậc Như vậy, cán
bộ thư viện được hưởng lương tương đương viên chức các ngành khác
Chính sách về chế độ phụ cấp độc hại
Phụ cấp độc hại là chính sách hỗ trợ, phụ cấp thêm cho người lao động làm việc trong môi trường độc hại và nguy hiểm Nguồn nhân lực thư viện, đặc biệt là những cán bộ thư viện những người trực tiếp làm việc với sách báo truyền thống, tổ chức kho tàng thư viện luôn phải tiếp xúc một lượng độc hại nhất định từ tài liệu
Trang 30Chính sách về chế độ phụ cấp độc hại là những chính sách hỗ trợ đối với cán bộ công chức, viên chức và người lao động làm việc trong môi trường độc hại ngoài lương Những cán bộ công tác trong lĩnh vực thư viện được hưởng chế độ phụ cấp theo các văn bản sau:
- Thông tư số 07/2005/TT-BNV ngày 05/01/2005 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với cán bộ, công chức, viên chức
- Thông tư 25/2006/TT-BVHTT ngày 21/2/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) hướng dẫn thực hiện chế
độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm và bồi dưỡng bằng hiện vật đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa - thông tin Theo Thông tư số 25/2006/TT-BVHTT, người làm công tác kiểm kê, bảo quản, xử lý kỹ thuật, tài liệu sách báo, phim ảnh trong kho lưu trữ của Bảo tàng, thư viện và viện lưa trữ tu sửa phục chế tài liệu, hiện vật của thư viện, viện lưu trữ và bảo tàng được hưởng chế độ phụ cấp độc hại ở mức 2, hệ số 0,2 lương tối thiểu hàng tháng
Theo công văn số 2915/2006/HD-BVHTT, cán bộ thư viện đảm nhận những cộng việc kể trên còn được hưởng mức bồi dưỡng bằng hiện vật được tính theo định suất là 4000 đồng cho một ngày làm việc
Quy định về hệ số phụ cấp lãnh đạo trong các TVCC theo Thông tư số 67/TT-BVHTT của Bộ VH - TT ngày 10/8/2006 được căn cứ theo hạng thư viện như sau:
Trang 31Chính sách về nâng cao trình độ, đào tạo, tham gia các tổ chức nghề nghiệp
Trong các chính sách về phát triển sự nghiệp thư viện ở nước ta, công tác đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho NNL thư viện là một trong những công tác được Đảng, Nhà nước, Các sở văn hóa và hệ thống các TVCC rất quan tâm Chính sách đào tạo và phát triển NNL thư viện có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành đội ngũ người làm công tác thư viện với tư cách là các chủ thể của các thư viện Trình độ của các bộ thư viện nâng cao, hiệu quả làm việc cũng nên lên và hiệu quả hạt động của các thư viện cũng sẽ được cải thiện Trong Pháp lệnh thư viện một số nội dung về chính sách đào tạo, nâng cao trình độ cho NNL trong hệ thống thư viện
Không chỉ được tạo điều kiện để nâng cao trình độ văn hóa, NNL thư viện còn có chính sách thi nâng ngạch để để nâng cao nghiệp vụ của mình Theo Quyết định số 428/QĐ của Bộ trưởng - Trưởng ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành VH-TT ngày 02/06/1993 Trong tiêu chuẩn nghiệp vụ của các ngạch công chức, viên chức ngành Văn hoá - Thông tin có cả danh mục dành cho Thư viện viên và Thư mục viên bao gồm: Thư viện viên - thư viện viên chính - thư viện viên cao cấp; Thư mục viên - thư mục viên chính - thư mục viên cao cấp Theo quy định này, các công chức, viên chức có chuyên môn về thư viện làm việc từ thư viện cấp huyện trở lên sẽ được thi nâng nghạch là thư viện viên; các các bộ thư viện cấp tỉnh trở lên, đủ tiêu chuẩn sẽ được thi thư viện viên chính, và các công chức chuyên môn cao nhất ngành thư viện tại các thư viện trung tâm, khu vực, các ngành hoặc các thư viện có tầm cỡ quốc gia Giúp lãnh đạo chủ trì tổ chức chỉ đạo chu trình, các quá trình công tác th viện
có mức độ phức tạp tổng hợp cao
Trang 32Chính sách đảm bảo điều kiện làm việc
Đảm bảo điều kiện làm việc đối với NNL thư viện chính là đảm bảo môi trường làm việc và những điều kiện vật chất tinh thần cho đội ngũ NNL thư viện hoạt động trong hệ thống TVCC Từ trước thời kỳ đổi mới, công tác TT-
TV đã nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nhiều văn bản về phát triển sự nghiệp thư viện đã được ban hành trong đó rất chú trọng đến công tác phát triển và tạo môi trường thuận lợi để sự nghiệp TT-TV phát triển mãnh mẽ trong xã hội Một trong những chính sách nhằm tạo điều kiện làm việc cho NNL thư viện đó chính là mở rộng mạng lưới thư viện tạo thêm nhiều môi trường làm việc cho các cán bộ thư viện Trong Chỉ thị 08CT/VH ngày 29/05/1985 của Bộ Văn hóa “Về vấn đề chấn chỉnh phương châm, nhiệm vụ và tính chất của mạng lưới thư viện” đặc biệt chú trọng việc xây dựng hệ thống TVCC ở các tỉnh, thành và đẩy mạnh phong trào đọc sách ở cơ sở
Chính sách khen thưởng đối với NNL thư viện
Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong quá trình công tác tại cơ quan đơn vị
Những năm qua, việc bình xét thi đua khen thưởng vào cuối năm như thường lệ ở các cơ quan, đơn vị không phải là cái gì mới nhưng nó cũng chưa bao giờ là đề tài cũ, bởi công tác xét thi đua khen thưởng ở nhiều nơi, nhiều ngành còn nhiều bất cập
- Ngoài ra, người lao động còn được hưởng lương theo năng suất và thưởng hoàn thành công việc; thưởng đối với các đơn vị, cá nhân tiêu biểu trong quý, trong năm; thưởng sáng kiến cải tiến; thưởng trong các dịp lễ tết và
kỷ niệm ngày thành lập Cơ quan
- Cơ quan tổ chức các chuyến tham quan nghỉ mát , dưỡng sức cho những công nhân viên có thâm niên từ 01 năm trở lên tính đến ngày tổ chức nhằm mục đích:
Trang 33+ Chăm lo đến đời sống tinh thần của Công nhân viên, tái tạo sức lao động và nâng cao năng suất lao động;
+ Tạo động lực thúc đẩy mối quan hệ giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, là sân chơi để mọi người gần nhau hơn, tạo ra hiệu quả làm việc tốt hơn
Mục tiêu của thi đua nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ
Căn cứ theo Luật Thi đua khen thưởng, hàng năm trong các cơ quan thuộc hệ thống TVCC Hà Nội xét thi đua khen thưởng theo điều 3, điều 4, điều 5 của luật này Theo đó sẽ có 3 danh hiệu được bình xét hàng năm đối với NNL trong hệ thống TVCC Hà Nội là: Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”,“Chiến sĩ thi đua cơ sở”, “Lao động tiên tiến”,“Chiến sĩ tiên tiến” trong
đó danh hiệu “Lao động tiên tiến” là danh hiệu mà có nhiều cán bộ, người lao động trong hệ thống TVCC Hà Nội dạt được nhiều hơn cả
1.2 Vai trò của chính sách về nguồn nhân lực thƣ viện
1.2.1 Đối với các cơ quan thư viện
Chính sách là sự ghi nhận về mặt pháp lý, giúp thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước với xã hội, với công dân; thể hiện ý chí, nêu lên định hướng phát triển và làm cho đường lối đó có hiệu lực thi hành, bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội
Các chính sách về nguồn nhân lực là bộ phận quan trong trong các chính sách về thư viện là cơ sở thiết lập các nguyên tắc quan trọng nhất về tổ chức và hoạt động của từng lĩnh vực cụ thể mà nó nêu ra Đảm bảo cho hệ thống phát triển nhịp nhàng, ăn khớp Đồng thời là phương tiện để nhà nước quản lí các lĩnh vực, vấn đề mà các văn bản này đề cập Góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thư viện ở Việt Nam
Trang 34Chính sách tốt giúp cho thư viện ổn định và phát triển nguồn nhân lực; lựa chọn được những người có trình độ cao vào làm việc tại các thư viện, giúp mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện
Chính sách tốt giúp ổn định cơ cấu, tổ chức của cơ quan; góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, người lao động Động viên cán bộ công nhân viên làm việc hay say, cố gắng học tập, trau dồi kiễn thức, kĩ năng chuyên môn
Các chính sách về NNL thư viện góp phần khuyến khích cho sự nghiệp thư viện phát triển phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kì khác nhau
Mặt khác các chính sách về NNL cũng hạn chế sự phát triển không phù hợp, giúp xóa bỏ đi những nghi ngại về hoạt động thư viện nói chung và những nhận thức chưa đúng đắn về vai trò của người cán bộ thư viện trong
xã hội
Chính sách về NNL thư viện góp phần tạo nên chính sách về thư viện, phát huy vai trò dân chủ; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước và của địa phương Góp phần nâng cao chất lượng NNL trong từng
cơ quan thư viện, nâng cao chất lương hoạt động của thư viện và hướng đến mục tiêu phát triển con người toàn diện thông qua việc nâng cao dân trí và mức hưởng thủ văn hóa của con người
Sự phát triển của thư viện nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung trong xã hội luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Vẫn đề của lĩnh vực này có liên quan và có thể được giải quyết theo những quy định trong các VBPQ thuộc lĩnh vực khác hoặc ngược lại
Các VBPQ hay chính sách về NNL thư viện có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của sự nghiệp thư viện, tạo những điều kiện thuận lợi hay rằng buộc trong quá trình hoạt động của các thư viện và cơ quan thông tin
Trang 35Các VBPQ liên quan về thư viện thể hiện mối quan hệ của thư viện với các nghành nghề, lĩnh vực khác trong xã hội Thông qua các văn bản này chúng ta có thể biết được sự ảnh hưởng, tác động của thư viện hay vai trò của
nó như thế nào trong xã hội Có nhiều VBPQ liên quan chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của thư viện đối với các nghành khác càng lớn
Các VBPQ liên quan về thư viện điều chỉnh mối quan hệ, giúp thư viện xây dựng được vị trí riêng và nâng cao vị thế trong xã hội Điều tiết vĩ mô hệ thống thư viện trong cả nước, điều chỉnh các mối quan hệ của thư viện với các lĩnh vực khác Những điều khoản cụ thể trong các văn bản này điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp thư viện Đặc biệt là liên quan tới việc quản lý nhà nước với di sản thư tịch của dân tộc, tới quyền quyền hưởng thụ tinh hoa văn hóa, thành tự khoa học công nghệ của nhân loại, quyền tiếp cận tự do và không hạn chế tới tri thức và thông tin của người dân
1.2.2 Đối với cán bộ thư viện
1.2.2.1 Chính sách là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi cho nguồn nhân lực thư viện
Các chính sách về NNL thư viện là hành lang pháp lý để đảm bảo quyền lợi cho cán bộ thư viện Đây là cơ sở để những người làm công tác thư viện được hưởng các chế độ về tiền lương, những ưu đãi và phụ cấp về ngành nghề của mình Đó cũng chính là sự ghi nhận của xã hội về trò và những đóng góp của đội ngũ NNL thư viện trong quá trình phát triển đất nước Giúp họ có
cơ hội để khẳng định vai trò là “chiếc cầu nối”, đưa tri thức đến với con người trong thời đại mới
1.2.2.2 Chính sách là cơ sở để nguồn nhân lực thư viện thực hiện tốt nghĩa vụ của mình
Bên cạnh những quyền lợi được hưởng thông qua các chế độ của nhà nước thì thông qua các chính sách, NNL thư viện cũng phải có trách nhiệm
Trang 36thực hiện những nhiệm vụ của mình Theo quá trình phát triển chung của xã hội, nhiệm vụ của đội ngũ NNL thư viện ngày càng có nhiều khó khăn vất vả với những yêu cầu mới phù hợp với tiến trình phát triển chung của đất nước
Các chính sách về NNL thư viện góp phần thể hiện vai trò của người cán bộ thư viện nói riêng và vai trò của sự nghiệp phát triển thư viện nói chung Qua đó, động viện khuyến khích tinh thần làm việc của đội ngũ NNL đồng thời giúp họ có thê phát huy năng lực của mình để có thể cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp thư viện
1.3 Khái quát về hệ thống Thƣ viện công cộng trên địa bàn Thành phố
Hà Nội
Hệ thống TVCC trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm:
+ Thư viện Hà Nội
+ Thư viện cấp quận, huyện
+ Thư viện cấp xã, phường và tủ sách cơ sở
1.3.1 Thư viện Hà Nội
1.3.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của Thư viện Hà Nội
Thư viện Hà Nội ra đời ngày 15/10/1956 tại nhà Thủy Tạ bên hồ Hoàn
năm sau, vào tháng 1 năm 1959 Thư viện nhân dân Hà Nội chính thức được chuyển
về trụ sở 47 phố Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Hiện nay Thư viện mang tên
là “Thư viện thành phố Hà Nội”.
Tháng 8/2008, Thư viện Hà Nội khánh thành trụ sở xây mới với kiến trúc bề thế, ấn tượng của hai khối nhà cao 9 tầng có tổng diện tích sàn 6178 m2 mô phỏng hình ảnh trang sách mở như ôm lấy dòng chảy vô tận của tri thức nhân loại Đây cũng là một trong những công trình văn hóa chào mừng
kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Trang 37Đến tháng 2/2009, sau khi hợp nhất với Thư viện tỉnh Hà Tây, Thư viện Hà Nội có thêm một trụ sở tại số 2B đường Quang Trung, quận Hà Đông với tòa nhà 3 tầng thiết kế theo hình dải lụa có tổng diện tích sàn 2029 m2
Hiện nay, với 7 phòng chức năng: Hành chính - Tổng hợp, Bổ sung và
Xử lý kỹ thuật, Phục vụ bạn đọc, Địa chí và Thông tin tra cứu, Phòng Nghiệp
vụ và Phong trào cơ sở, Tin học, Phục vụ Thiếu nhi, Thư viện Hà Nội cung cấp cho độc giả hơn 48 vạn tài liệu; trong đó có 402 đầu báo, tạp chí và khoảng 2 vạn tài liệu địa chí Hà Nội với nhiều loại hình (bản đồ, văn bia, thần tích, thần sắc, hương ước…), cùng 5 CSDL thư mục và CSDL dữ kiện với hàng trăm nghìn biểu ghi
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của bạn đọc Thủ đô, Thư viện đã không ngừng đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng phục vụ: đơn giản thủ tục làm thẻ; mở rộng hệ thống các phòng phục vụ: phòng thiếu nhi, phòng đọc báo tạp chí, phòng mượn, phòng đọc tự chọn, phòng đọc theo yêu cầu, phòng đọc sách ngoại văn, phòng đọc dành cho người khiếm thị, phòng đọc tài liệu
về Hà Nội, phòng đọc đa phương tiện… Thời gian mở cửa phục vụ bạn đọc từ 8h - 20h hàng ngày (không nghỉ trưa)
Bên cạnh nâng cao chất lượng phục vụ, Thư viện Hà Nội còn đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền triển lãm, nói chuyện giới thiệu sách cùng nhiều các hoạt động khác nhằm thu hút bạn đọc đến sử dụng thư viện, đồng thời giúp bạn đọc lựa chọn những cuốn sách bổ ích và phù hợp
Với định hướng phát triển thư viện trở thành thư viện hiện đại, bằng kinh phí nhà nước và nguồn xã hội hóa, Thư viện Hà Nội đã đầu tư trang bị phần mềm quản lý thư viện LIBOL 6.0; phần mềm sản xuất sách nói cho người khiếm thị Daisy; cùng hệ thống máy tính, máy scan, máy in laze, máy photo… Toàn bộ phòng đọc được trang bị máy điều hòa, kho sách có máy hút bụi, chống ẩm.Đặc biệt, Thư viện Hà Nội còn đầu tư xây dựng một Studio chuyên dụng sản xuất sách nói cho người khiếm thị
Trang 38Góp phần thực hiện tốt chủ trương xây dựng “xã hội học tập suốt đời”, đưa văn hóa về cơ sở của Đảng, Nhà nước và Thành phố, Thư viện Hà Nội còn thực hiện chức năng hướng dẫn nghiệp vụ và xây dựng mạng lưới thư viện cơ sở cho 29 thư viện quận - huyện; 177 thư viện cấp xã - phường; 978 thư viện, tủ sách tại các cụm dân của thôn, làng
Là thành viên của Liên hiệp Thư viện Đồng bằng sông Hồng, Thư viện
Hà Nội luôn phát huy tinh thần hợp tác, chia sẻ trao đổi thông tin, kinh nghiệm để cùng nhau phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của hệ thống thư viện công cộng
Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, sự phát triển của Thư viện Hà Nội luôn gắn liền với sự phát triển của văn hóa, chính trị, kinh tế Thủ đô Thư viện đã trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc và để lại dấu ấn tốt đẹp trong ký ức của nhiều thế hệ người Hà Nội
Ghi nhận kết quả hoạt động đối với sự phát triển chung của Thủ đô, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như UBND Tp Hà Nội đã trao cờ, bằng khen cho Thư viện Hà Nội trong nhiều năm liền Năm 2006, Thư viện Hà Nội vinh dự được nhận Huân chương Độc lập Hạng 3 do Chủ tịch nước trao tặng Cùng với sự yêu mến, tin tưởng của độc giả, những phần thưởng này có ý nghĩa khích lệ hết sức to lớn, giúp tập thể cán bộ, nhân viên Thư viện Hà Nội luôn có động lực vượt qua mọi khó khăn để đưa Thư viện phát triển ngày càng vững mạnh, xứng tầm là Thư viện trung tâm của mảnh đất Rồng thiêng ngàn năm văn hiến
Trang 39Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức Thư viện Hà Nội
Trang 401.3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Thư viện Hà Nội
Căn cứ Quyết định số 367/QĐ-VHTT&DL ngày 11/05/2009 của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu
tổ chức của Thư viện Hà Nội
Chức năng:
Thư viện Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có thu, có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại Hà Nội và nói về Hà Nội, các tài liệu trong nước và nước ngoài, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhiệm vụ:
1 Xây dựng và trình Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch thành phố Hà Nội quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động dài hạn, hàng năm của Thư viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
2 Tổ chức phục vụ và tạo mọi điều khiện thuận lợi cho người đọc được sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua các hình thức đọc tại chỗ, mượn
về nhà hoặc phục vụ ngoài thư viện phù hợp với nội quy thư viện
Phục vụ miễn phí tài liệu thư viện tại nhà cho người đọc cao tuổi, tàn tật bằng hình thức gửi qua bưu điện hoặc thư viện lưu động theo quy định của Pháp lệnh Thư viện
3 Xây dựng và phát triển vốn tài liệu phù hợp với đặc điểm tự nhiên- kinh tế- văn hoá của Hà Nội và đối tượng phục vụ của thư viện như:
- Thu thập, tàng trữ và bảo quản lâu dài các tài liệu được xuất bản tại
Hà Nội và viết về Hà Nội
- Bổ sung, trao đổi, nhận biếu tặng tài liệu của cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật