Vấn đề SP&DV TT-TV còn được đề cập đến trong một số bài báo đăng trong các tạp chí chuyên ngành như: Trong tạp chí Thông tin và tư liệu có bài viết “Đánh giá các dịch vụ thông tin và thư
Trang 1NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
HÀ NỘI - 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ THÙY DUNG
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh
HÀ NỘI – 2015
Trang 3trường đại học trên địa bàn Hà Nội” đã được chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng
Chủ tịch hội đồng
PGS.TS Trần Thị Quý
Trang 4địa bàn Hà Nội” là kết quả học tập và nghiên cứu của tác giả trong năm 2012 –
2014, chuyên ngành Khoa học thư viện – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành nhất tới PGS TS Nguyễn Thị Lan Thanh, người đã gợi mở định hướng chuyên môn, giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành nghiên cứu
Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo khoa Thông tin – thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt và chỉ dạy những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại Trường
Bên cạnh đó, tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, cán bộ, các bạn dùng tin các trường đại học trên địa bàn Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả thu thập số liệu, cung cấp tài liệu cho luận văn này
Tác giả đặc biệt cám ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 5trường đại học trên địa bàn Hà Nội” là một công trình nghiên cứu độc lập của cá
nhân tôi Mọi tài liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác Các kết quả khoa học chưa được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Dung
Trang 6STT Từ viết tắt Từ gốc
2 Từ viết tắt tiếng Anh
Quy tắc biên mục Anh-Mỹ
Anglo – American Caraloguing Ruler
Tiêu chuẩn quốc tế về mô tả thư mục
International Standard Book Number
Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế
International Organization for Standardization
Khổ mẫu biên mục đọc máy
Machine readable Catloguing
Trang 72 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Giả thuyết nghiên cứu 9
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 10
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 10
9 Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM, DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN VÀ KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 11
1.1 Lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 11
1.1.1 Khái niệm sản phẩm thông tin - thư viện 11
1.1.2 Khái niệm dịch vụ thông tin - thư viện 13
1.1.3 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 16
1.1.4 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 17
1.1.5 Các yếu tố tác động tới sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 19
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 28
1.2 Khái quát về thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội 31
1.2.1 Môi trường kinh tế -xã hội ở Thủ đô 31
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của thư viện 33
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 35
1.2.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 37
1.2.5 Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin 39
1.2.6 Kinh phí 41
Trang 82.1.1 Hệ thống mục lục 44
2.1.2 Thư mục 47
2.1.3 Danh mục 49
2.1.4 Cơ sở dữ liệu 50
2.1.5 Trang web của thư viện 52
2.2 Các loại hình dịch vụ thông tin - thư viện 53
2.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc 53
2.2.2 Dịch vụ tra cứu tin 56
2.2.3 Dịch vụ phổ biến thông tin chọn lọc 56
2.3.3 Dịch vụ tư vấn 57
2.2.4 Dịch vụ tự gia hạn tài liệu 59
2.2.5 Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện 59
2.2.6 Dịch vụ đào tạo người dùng tin 60
2.2.7 Dịch vụ sao chụp tài liệu 61
2.2.8 Các dịch vụ trao đổi thông tin (hội nghị, triển lãm) 62
2.3 Các yếu tố tác động đến việc tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội 63
2.3.1 Chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 63
2.3.2 Nguồn nhân lực 64
2.3.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 72
2.3.4 Nguồn lực thông tin 78
2.3.5 Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin 82
2.3.6 Chuẩn nghiệp vụ thông tin – thư viện 84
2.3.7 Phần mềm thư viện 86
2.4 Đánh giá về chất lượng các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 89
Trang 92.5.1 Ưu điểm 102
2.5.2 Hạn chế 103
2.5 3 Nguyên nhân 104
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 106
3.1 Xây dựng chính sách phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện 106
3.2 Hoàn thiện các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện hiện có 107
3.2.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm thông tin - thư viện hiện có 107
3.2.2 Nâng cao chất lượng các dịch vụ thông tin - thư viện hiện có 112
3.3 Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 115
3.3.1 Xây dựng các sản phẩm thông tin thư viện mới 115
3.3.2 Phát triển các dịch vụ thông tin thư viện mới 118
3.4 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện 122
3.5 Đào tạo người dùng tin 123
3.6 Các giải pháp khác 124
3.6.1 Tăng cường truyền thông marketing các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 124
3.6.2 Hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị 126
3.6.3 Đẩy mạnh hợp tác giữa các thư viện 127
KẾT LUẬN 128
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
Trang 10Bảng 3: Khả năng sử dụng các phần mềm của cán bộ thư viện 69
Bảng 4: Mục đích sử dụng thư viện của người dùng tin 74
Bảng 5: Mức độ quan tâm nội dung tài liệu của người dùng tin 75
Bảng 6: Mức độ quan tâm ngôn ngữ tài liệu người dùng tin 77
Bảng 7: Tình hình áp dụng chuẩn nghiệp vụ của một số thư viện đại học 85
Bảng 8: Mức độ sử dụng loại hình sản phẩm thông tin của người dùng tin 95
Bảng 9: Mức độ quan trọng của hình thức tra cứu thư viện 101
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ1: Tỷ lệ trình độ học vấn của cán bộ thư viện 65
Biểu đồ 2: Tỷ lệ chuyên ngành tốt nghiệp của cán bộ thư viện 67
Biểu đồ 3: Tỷ lệ nội dung mong muốn được đào tạo 70
Biểu đồ 4: Tỷ lệ người dùng tin tại các thư viện trường đại học 72
Biểu đồ 5: Tỷ lệ đánh giá của cán bộ thư viện về phần mềm tích hợp 89
Biểu đồ 6: Tỷ lệ mức độ bao quát của vốn tài liệu 90
Biểu đồ 7: Tỷ lệ mức độ phù hợp nội dung tài liệu đối với nhu cầu tin 91
Biểu đồ 8: Tỷ lệ mức độ cập nhập thông tin của tài liệu 92
Biểu đồ 9: Tỷ lệ mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin tài liệu 93
Biểu đồ 10: Tỷ lệ lý do người dùng tin bị từ chối mượn tài liệu 94
Biểu đồ 11: Tỷ lệ chất lượng dịch vụ thông tin – thư viện 97
Biểu đồ 12: Tỷ lệ mức độ sử dụng dịch vụ thư viện của người dùng tin 100
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, vai trò của tri thức ngày càng trở nên quan trọng, con người được vũ trang bằng tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, bất kỳ quốc gia nào cũng có chiến lược để phát triển nền kinh tế tri thức phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước
Và quy tựu chung hầu hết mọi quốc gia đều chú trọng đầu tư, khẳng định vai trò của giáo dục đào tạo Tại Việt Nam, trong giai đoạn đổi mới tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập thế giới thì việc “phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa để tăng tốc độ phát triển” Trong đó, giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước Khẳng định vai trò của giáo dục đại học không thể không nhắc đến vai trò của thư viện đại học Thư viện đại học là một bộ phận không thể thiếu của trường đại học, nơi đào tạo những trí thức, những nhà khoa học tương lai cho xã hội Thư viện là nơi nắm giữ và cung cấp nguồn tài nguyên trí tuệ phục
vụ các nhà nghiên cứu, các học giả, các cán bộ giảng dạy và sinh viên của trường đại học Thư viện nói chung và thư viện đại học nói riêng luôn đồng hành cùng con người với sự tiến hóa của nhận thức, mở mang tầm nhìn, phát triển của khoa học, bảo tồn và phát huy văn hóa Đây là nơi truyền tải tri thức đa dạng nhất, đầy đủ nhất
và kịp thời nhất tới người dùng tin (NDT)
Trước xu thế toàn cầu hóa về kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của giáo dục đào tạo, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ lên thư viện đại học Là một trong những yếu tố cấu thành nên thư viện, sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện (SP&DV TT-TV) ngày càng có vai trò quan trọng trong việc truyền tải tri thức tới NDT Thông qua sản phẩm và dịch vụ (SP&DV) thông tin, các thư viện có thể khẳng định được vai trò cũng như vị trí của mình, là thước đo để đánh giá sự phát triển, tầm quan trọng của chính bản thân thư viện Trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ, tin học, viễn thông và sự đa dạng của thông tin thì nhu cầu của
Trang 12NDT không đơn thuần chỉ là các sản phẩm truyền thống hay các dịch vụ cơ bản của một thư viện Thực tiễn này đòi hỏi các thư viện đại học phải có được các SP&DV thông tin với chất lượng cao, phong phú, đa dạng và hiện đại
Mạng lưới các trường đại học trên địa bàn Hà Nội đã và đang có nhiều bước đổi mới trong công tác đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học Một trong những phương pháp được đổi mới là đào tạo theo tín chỉ - một phương thức đào tạo linh hoạt, sáng tạo Với hình thức đào tạo này đòi hỏi cao tính tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Nguồn tài liệu hỗ trợ trong việc học không chỉ là những giáo trình, bài giảng mà có nhiều dạng thông tin lưu trữ ở nhiều loại hình tài liệu khác nhau Và thư viện chính là nơi lưu trữ đa dạng các loại tài liệu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, là điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên Đây chính là môi trường rèn luyện và phát huy năng lực độc lập trong việc khám phá và tư suy sáng tạo của sinh viên
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ thông tin tri thức đã tác động mãnh mẽ đến hệ thống thư viện đại học Các SP&DV thư viện mới đáp ứng được phần nào nhu cầu NDT, cụ thể: Nhiều sản phẩm thông tin vẫn chưa được cập nhập kịp thời tri thức mới, các sản phẩm thông tin hiện đại chưa được hoàn thiện về nội dung và hình thức do chất lượng xử lý tài liệu chưa cao, tài liệu điện tử còn hạn chế về số lượng, dịch vụ TT - TV chưa đa dạng Việc nghiên cứu, đánh giá lại hệ thống SP&DV TT-TV đang được cung cấp, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng các SP TT - TV, đáp ứng tốt hơn nhu cầu NDT là một vấn đề cấp thiết
Bên cạnh đó trong xu hướng hội nhập và phát triển, mạng lưới các trung tâm
TT - TV các trường đại học đang có xu hướng đổi mới, từ hình thức truyền thống sang hiện đại, kết hợp giữa thư viện truyền thống và thư viện điện tử Điều này đồng nghĩa với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ đổi mới quy trình tổ chức, hoạt động của thư viện Hơn hết là nhu cầu tin của NDT không chỉ là các sản phẩm thông tin tại chính thư viện mà họ sử dụng mà phạm vi rộng hơn, có thể là các sản phẩm thông tin ở các thư viện trong và ngoài nước Vì vậy, việc phát triển các
Trang 13SP&DV thông tin mới, hiện đại ứng dụng vào quá trình hoạt động của thư viện đại học mang ý nghĩa hết sức đặc biệt
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã tiến hành lựa chọn đề tài: “Sản
phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội”
làm đề tài Luận văn Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, hy vọng sẽ đóng góp được một
số giải pháp nhằm đa dạng và nâng cao chất lượng SP&DV TT-TV tại các trường đại học nói chung
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sự phát triển của một cơ quan TT-TV cụ thể được nhìn nhận và đánh giá bằng chính các SP&DV mà cơ quan TT-TV đó tạo ra Việc tạo ra SP&DV thư viện luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của từng cơ quan Chính vì vậy, việc nghiên cứu về SP&DV TT-TV là một một đề tài khá quen thuộc và luôn được quan tâm, đã được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu tại các cơ quan, đơn vị khác nhau trong nước và trên thế giới
Trên thế giới đã có những nghiên cứu về SP&DVTT-TV trên cơ sở sách tham khảo và bài viết trên tạp chí như: sách tham khảo “Giới thiệu dịch vụ thư viện công cộng” (Introduction to library public services) của G Edward Evans, Thomas
L Carter; “Marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin mở đầu cho cán bộ thư viện và chuyên gia thông tin” (Marketing Information products and services a primer for Librarians and Information professionals) của Kijain Ashok jambbekar, T.D Rama Rao, S.Sreenivas Rao Hai cuốn sách mới chỉ đề cập đến sản phẩm và dịch vụ dưới góc độ marketing và dịch vụ thư viện công cộng, chưa đề cập đến sản phẩm và dịch
vụ được xây dựng và tổ chức như thế nào
Một số bài viết về SP&DV trong tạp chí như: “Hiểu biết giá trị của chúng tôi: đánh giá bản chất tác động của các dịch vụ thư viện” (Understanding our valua: assessing the nature of the inpact of library services) của David Bawden; “Sự phát triển của mô hình kiểu mẫu để đánh giá mức độ tác động của dịch vụ thông tin và thư viện” (The development of a model for assessing the level of impact of information and library service của Peter Brophy); “Đánh giá dịch vụ tham khảo ảo:
Trang 14Việc tuân thủ nguyên tắc hướng dẫn hành vi và tham khảo hướng dẫn kỹ thuật số của IFLA” (Virtual reference service evaluation: Adherence to Rusa behavioral guidelines and IFLA digital reference guidelines) của Sengher K, Boryung.J; “ Webb, Jo, Ganan - leary, Pat and Bent, Moira, cung cấp các dịch vụ hiệu quả cho nghiên cứu ở London” (Webb, Jo, Ganan - leary, Pat and Bent, Moira, Providing effective library service for research London) của Miggie Pickton… Các bài viết này cũng đã đề cập đến SP&DVTT-TV, nhưng chưa đi sâu phân tích các SP&DVTT-TV với từng loại hình thư viện cụ thể
Tại Việt Nam trên phương diện lý thuyết, vấn đề SP&DV TT-TV đã được nghiên cứu ở cuốn giáo trình: “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn, xuất bản năm 1998 Giáo trình đã cung cấp một cách cơ bản các vấn đề lý luận về loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Vấn đề SP&DV TT-TV còn được đề cập đến trong một số bài báo đăng trong các tạp chí chuyên ngành như: Trong tạp chí Thông tin và tư liệu có bài viết
“Đánh giá các dịch vụ thông tin và thư viện” của Vũ Văn Sơn (số 4 /2007), “Quản
lý chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện trong thư viện trường đại học” của Bạch Thị Thu Nhi (số 2/2010), “Một số vấn đề về chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam” của Nguyễn Hữu Hùng (số 2/2012) Trong tạp chí Thư viện Việt Nam có bài “Hình thành dịch vụ thông tin thư viện sẵn sàng đáp ứng trong trường đại học” của Dương Thị Vân (số 3/2008), “Sử dụng blog
để phổ biến dịch vụ thông tin thư viện” của Trương Đại Lượng (số 4/2008)… Nhìn chung, các bài báo đều nêu lên tầm quan trọng của SP&DV TT-TV đối với giáo dục đại học nói chung và các giải pháp để phát triển hơn nữa các sản phẩm - dịch vụ này
SP&DVTT-TV được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu là luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học thư viên Hàng loạt các công trình luận văn được công bố như: “Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại Học viện Hành chính quốc gia” của Nguyễn Văn Trọng (2013), “Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương” của Thạch Lương Giang (2012), “Nâng
Trang 15cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học quân sự tại Học viện Chính trị” của Cao Thị Thanh Thảo (2011), “Xây dựng hệ thống sản phẩm và dịch
vụ thông tin tại Văn phòng Trung ương Đảng” của Trịnh Thị Kim Ngân (2011),
“Nghiên cứu phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Trường Đại học
Sư phạm 2” của Nguyễn Thị Hạnh (2012), “Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch
vụ thông tin - thư viện tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của Trần Thị Ngọc Diệp (2011), “Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hệ thống sản phẩm và dịch
vụ thông tin - thư viện của trường Đại học Hà Nội”của tác giả Đặng Thị Thu Hiền (2011), “Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại Thư viện Hà Nội” của Trần Nhật Linh (2010); “Phát triển hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại các trường Đại học khối Văn hóa Nghệ thuật ở Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền (2009), “Nghiên cứu phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học sư phạm Hà Nội” của Vũ Huy Thắng (2009), “Nghiên cứu và hoàn thiện các dịch vụ thông tin trong hệ thống thông tin - thư viện thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam”của tác giả Phùng Thị Bình (2008), “Hoàn thiện hệ thống sản phẩm
và dịch vụ thông tin - thư viện tại Học viện Chính trị khu vực I” của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang (2007), “Nghiên cứu phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện Trường Đại học Thủy Lợi” của Phạm Hồng Thái (2007), “Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đáp ứng nhu cầu tin thời kỳ đổi mới của Viện Thông tin Khoa học Xã hội”của tác giả Nguyễn Thị Thúy Nga (2007),
“Nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội” của tác giả Đào Linh Chi (2007), Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học quốc gia Hà Nội” của Phạm Thị Yên (2006), “Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin trong điều kiện hội nhập khoa học và công nghệ tại Trung tâm Thông tin tư liệu Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam” của Đặng Thu Minh (2006), … Các công trình nghiên cứu đã đi sâu vào việc tìm hiểu hiện trạng phát triển SP&DV TT-TV của mỗi cơ quan cụ thể, đưa ra các giải pháp thiết thực để
Trang 16nâng cao hơn nữa chất lượng của mỗi SP&DV, từ đó góp phần tăng hiệu quả phát triển của thư viện
Bên cạnh các công trình Luận văn trên, phải kể đến một số lượng lớn các khóa luận tốt nghiệp của các cử nhân ngành TT-TV đã nghiên cứu vấn đề SP&DV TT-TV ở các trường đại học trên địa bàn Hà Nội như: đề tài “Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại trường Đại học Hà Nội” của Nguyễn Hồng Minh (2014);
“Đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội” của Trần Thị Chiêm (2014); “Đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp tài liệu gốc tại Trung tâm thông tin - thư viện trường Đại học Giao thông Vận tải” của Phùng Thị Hạnh (2014); … Các công trình đã đi sâu khai thác đặc điểm, tình hình phát triển của các SP&DV TT - TV ở từng thư viện cụ thể Đây chính là nguồn tham khảo bổ ích giúp tác giả thu thập được những
số liệu cụ thể, đánh giá khách quan, từ đó đưa ra những so sánh, lý luận và giải pháp chung
Ở phạm vi nghiên cứu là các thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội cũng đã có rất nhiều công trình Đầu tiên phải kể đến chùm công trình nghiên cứu của PGS.TS Trần Thị Quý như: Công trình cấp Bộ “Nguồn nhân lực thông tin - thư viện của các trường đại học trên địa bàn Hà Nội, thực trạng và giải pháp” (2009), bài “Phát triển nguồn nhân lực thông tin - thư viện của các trường đại học Hà Nội đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn đổi mới của thủ đô” công bố tại Hội thảo Khoa học thư viện các trường đại học và cao đẳng lần thứ nhất tổ chức năm 2008 Bên cạnh đó là các công trình Luận văn như: “Ứng dụng hệ quản trị thư viện tích hợp Ilip tại các thư viện trên địa bàn Hà Nội” của Nguyễn Thùy Linh (2011), “Nghiên cứu mô hình phối hợp
bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội” của Đoàn Thị Thu (2011), “Phát triển nguồn nhân lực thông tin - thư viện của mạng lưới các trường đại học tại Hà Nội” của Nguyễn Thanh Trà (2010), “Nghiên cứu phát triển thư viện điện tử trong các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay” của Phạm Thị Mai (2009)… Các công trình nghiên cứu đã khái quát được nhiều vấn đề về cơ cấu tổ chức, hệ thống trang thiết bị và hạ tầng thông tin, nhu cầu tin, nguồn nhân lực,
Trang 17SP&DV TT-TV của mạng lưới các trường đại học trên địa bàn Hà Nội Đây thực sự
là những tư liệu quý giúp tác giả có thể tổng hợp, so sánh, phát triển trong nghiên cứu của mình
Bên cạnh đó, tác giả đã thu thập các bài viết và công trình nghiên cứu về vấn
đề đổi mới giáo dục ở Việt Nam, vai trò của giáo dục nói chung và vai trò của giáo dục đại học nói riêng, các vấn đề về tổ chức và hệ thống thư viện đại học, nguồn nhân lực, nhu cầu tin, công nghệ thông tin trong thư viện, chính sách phát triển thư viện trong thời hiện đại… Những công trình nghiên cứu này sẽ là nguồn tham khảo
bổ ích đối với tác giả Luận văn
Tổng quan lại, qua các công trình nghiên cứu tác giả nhận thấy tất cả mới chỉ khảo sát và nghiên cứu SP&DV ở phạm vi trong từng thư viện đại học riêng lẻ Chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng thể về các SP&DV TT-TV tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Để giải quyết vấn đề này tôi xin phép sẽ kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và những kinh nghiệm của bản thân để làm rõ thực trạng SP&DV TT-TV tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện và phát triển SP&DV TT-TV cho các trường đại học trong giai đoạn mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng SP&DV TT-TV tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị và đóng góp giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và hoàn thiện các sản phẩm - dịch vụ thông tin thư viện đáp ứng nhu cầu của NDT
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý luận về sản phẩm - dịch vụ thông tin thư viện
- Nghiên cứu vai trò của sản phẩm - dịch vụ thông tin thư viện đối với sự phát triển của mỗi cơ quan
Trang 18- Nghiên cứu thực tiễn phát triển các sản phẩm - dịch vụ thông tin thư viện tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
- Nghiên cứu đặc điểm nhu cầu tin của NDT tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
- Đánh giá chất lượng hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
- Đưa ra kiến nghị và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các sản phẩm - dịch vụ thông tin thư viện
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các sản phẩm - dịch thông tin thư viện trong các trường đại học
Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp người dùng tin và cán bộ thư viện
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Để có cơ sở khoa học cho việc hoàn
Trang 19thành Luận văn, tác giả đã tiến hành phát phiếu điều tra tại 32 trung tâm thông tin - thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội với hai nhóm đối tượng chính là: Cán
bộ thông tin thư viện (cán bộ thư viện/cán bộ lãnh đạo/ cán bộ quản lý) và người dùng tin
Căn cứ vào điều kiện thực tế khảo sát, tác giả thống kê lại kết quả khảo sát như sau:
- Số phiếu phát ra: 300 phiếu
- Số phiếu thu về: 279 phiếu (đạt tỷ lệ 93%) Trong đó, 100 phiếu do cán bộ
thư viện trả lời và 179 phiếu do người dùng tin trả lời
Tác giả chọn mẫu khảo sát 32 trường dựa trên cơ sở lấy mẫu đại diện các trường thuộc các lĩnh vực khác nhau như khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học ứng dụng… Đó là các trường đại học lớn, đảm bảo đa ngành, đa lĩnh vực, có số lượng người dùng tin đông, hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, các trung tâm
thông tin – thư viện đã và đang được chú trọng và phát triển
6 Giả thuyết nghiên cứu
Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại các trường đại học trên địa bàn
Hà Nội chưa thực sự đa dạng và phong phú, chất lượng sản phẩm và dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu NDT Nếu xây dựng và tổ chức đa dạng, phong phú các loại hình sản phẩm và dịch vụ có chất lượng tốt thì sẽ nâng cao được hiệu quả hoạt động thông tin, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường
Một số thư viện còn chưa nâng cấp, kiện toàn hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở
hạ tầng thông tin Đội ngũ cán bộ thư viện còn yếu về nghiệp vụ, trình độ ngọai ngữ, tin học Vì vậy, nếu thư viện được trang bị hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, cán bộ làm công tác thư viện được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, có vốn ngoại ngữ nhất định thì công tác tạo lập, phát triển SP&DV TT-TV sẽ dễ dàng và hiệu quả
Trang 207 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
hoạt động, đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của NDT
Kết quả nghiên cứu là tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho các cơ sở đào tạo ngành thông tin - thư viện, quản lý giáo dục và đào tạo để tham khảo và giảng dạy
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Đề tài được triển khai với kết quả dự kiến là 120 - 130 trang A4 với kết cấu 3 chương, Luận văn sẽ tập trung vào một số nội dung sau:
- Hoàn thiện những vấn đề lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển các sản phẩm và dịch vụ TT-TV tại các thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội
- Đề ra các kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, phát triển các sản phẩm và dịch vụ TT-TV tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
9 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Lý luận về sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện và khái quát về các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Chương 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Trang 21CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM, DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN VÀ
KHÁI QUÁT VỀ THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1.1 Lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện được hình thành do nhu cầu trao đổi thông tin trong xã hội Trong quá trình sinh tồn và phát triển con người cần phải có thông tin/tri thức để hoàn thiện bản thân hơn nữa Thông tin được coi là “nguyên vật liệu” để con người nhào nặn, biến đổi tạo dựng thành phẩm, là vốn tích lũy không bao giờ có giới hạn Xuất phát từ thực tế đó các cơ quan thông tin thực hiện nhiệm vụ xây dựng, tổ chức các SP&DV TT-TV trên cơ sở kết quả của việc xử lý, phân tích và tổng hợp, tổ chức thông tin
Sản phẩm và dịch vụ TT-TV do nhiều yếu tố cấu thành Chúng là hệ thống các yếu tố có quan hệ và tác động mật thiết với nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, biến đổi và phát triển không ngừng Song xét trên bình diện chức năng đối với NDT thì chúng có thể chia thành hai loại đó là: Sản phẩm thông tin - thư viện (SP TT-TV) và dịch vụ thông tin - thư viện (DV TT-TV)
1.1.1 Khái niệm sản phẩm thông tin - thư viện
Khái niệm “sản phẩm” ở mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ có cách hiểu, cách định
nghĩa khác nhau Theo định nghĩa của Kinh tế chính trị Mác – Lênin thì sản phẩm
là kết quả của sản xuất Tổng hợp các thuộc tính về cơ học, lý học, hóa học và các thuộc tính có ích khác làm cho sản phẩm có công dụng nhất định và có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa thì: “Sản phẩm là kết quả của hoạt động hoặc các quá trình Sản phẩm bao gồm dịch vụ, phần cứng, vật liệu đã chế biến, phần mềm hoặc tổ hợp của chúng Sản phẩm có thể là vật chất (vd Các bộ phận lắp ghép hoặc vật liệu đã chế biến) hoặc phi vật chất (vd Thông tin, khái niệm hoặc tổ hợp của chúng) Sản phẩm có thể được làm ra có chủ định (vd Để dành cho
Trang 22khách hàng), hoặc không được chủ định (vd Chất ô nhiễm hoặc kết quả không mong muốn)”[13, tr.723]
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Sản phẩm là cái do con người lao động tạo ra hoặc cái được tạo ra như một kết quả của tự nhiên” [41, tr1357]
Như vậy, có thể hiểu sản phẩm là kết quả của các hoạt động và chúng ra đời
có thể do ý muốn chủ quan hoặc khách quan của con người Dạng tồn tại của sản phẩm tùy thuộc vào yếu tố cấu thành nên chúng Các sản phẩm hữu hình thì chúng
ta có thể nhìn thấy, cân, đo, đếm và kiểm tra bằng các phương tiện hóa, lí Còn đối với các sản phẩm vô hình (sản phẩm phi vật chất) thì không có hình thái vật chất, không thể chuyển nhượng với các sản phẩm hữu hình
Trong ngành thông - tin thư viện khái niệm “sản phẩm thông tin - thư viện”
là kết quả của quá trình xử lý thông tin, là sản phẩm do lao động nghiệp vụ của cá nhân/tập thể trong thư viện tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu NDT Quá trình lao động
để tạo ra sản phẩm là quá trình xử lý thông tin (bao gồm biên mục, phân loại, định
từ khóa, tóm tắt, chú giải, biên soạn tổng quan… cũng như các quá trình phân tích - tổng hợp thông tin khác)
Sản phẩm thông tin là kết quả của quá trình xử lý thông tin trong dây chuyền thư viện, và chúng tạo thành hệ thống công cụ để kiểm soát một hay một số nguồn thông tin, tài liệu nào đó Vì vậy, chúng được sử dụng trong quá trình tìm kiếm thông tin, tài liệu
Một số đặc điểm của sản phẩm thông tin – thư viện
Sản phẩm TT-TV có nhiều hình thức khác nhau, bao gồm cả những sản phẩm truyền thống và sản phẩm hiện đại Những sản phẩm truyền thống như: hệ thống mục lục, các thư mục, tổng quan, tổng luận… Các sản phẩm hiện đại là các xuất bản dưới dạng bản tin điện tử, cơ sở dữ liệu… Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các sản phẩm TT-TV hiện đại ra đời có nhiều tính năng vượt trội, hàm lượng tri thức cao, phong phú về chủng loại, đẹp về hình thức, đáp ứng được nhu cầu cao của đối tượng NDT, tuy nhiên các sản phẩm truyền thống vẫn tồn tại song song hỗ trợ chứ không bị thay thế hoàn toàn
Trang 23Một sản phẩm TT – TV hoàn chỉnh sẽ nói lên được thành phần tạo ra chúng, bao gồm yếu tố hữu hình và vô hình Hữu hình là cái mà chúng ta nhìn thấy được, là dạng thức mà sản phẩm tồn tại, nói một cách khác là vật mang tin cụ thể Qua dạng thức tồn tại của sản phẩm có thể biết được chức năng, công dụng của sản phẩm, giá trị nguyên vật liệu của sản phẩm Vô hình là thông tin trên sản phẩm, là cách thức, quy trình góp phần tạo ra sản phẩm
Mỗi sản phẩm TT-TV có một chu kỳ sống nhất định Chúng tăng trưởng, suy giảm và cuối cùng được thay thế Điều này có thể hiểu, khi một sản phẩm được tạo
ra và phổ biến nó sẽ chịu nhiều tác động, có thể là đánh giá của NDT, những cải tiến của CNTT, sự xuất hiện của những loại hình thông tin mới, sự tiện ích của sản phẩm mới… Các yếu tố này sẽ chi phối việc tồn tại của sản phẩm Ví dụ, sản phẩm
mục lục chữ cái đã và đang dần bị thay thế bởi mục lục trực tuyến
Sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu cũng như biến đổi nhu cầu Các sản phẩm TT-TV được hình thành nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin/ tài liệu bao gồm: nhu cầu tra cứu thông tin, tài liệu và nhu cầu về chính bản thân thông tin/ tài liệu Cũng như các sản phẩm khác, sản phẩm TT-TV trong quá trình tồn tại và phát triển của mình không ngừng được hoàn thiện để thích ứng với nhu cầu mà nó hướng tới (cả về nội dung và hình thức) [29, tr.26]
1.1.2 Khái niệm dịch vụ thông tin - thư viện
Dịch vụ là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và thông dụng trong xã hội hiện nay Thuật ngữ này được sử dụng ở mọi lĩnh vực của đời sống như: dịch vụ du lịch, dịch vụ ăn uống, dịch vụ làm đẹp, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ giáo dục, dịch vụ
y tế, dịch vụ giải trí, dịch vụ thông tin,…
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 1 đã định nghĩa: “Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt Do nhu cầu rất đa dạng tùy theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ; dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình…” [14, tr.761]
Trang 24Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo quần chúng” [41, tr 537]
Khái niệm “dịch vụ thông tin thư viện” hay gọi tắt là dịch vụ thông tin được hiểu “là toàn bộ các công việc, hoạt động, quá trình hay phương thức mà cơ quan đưa ra nhằm đáp ứng các loại nhu cầu thông tin trong xã hội” [40, tr.2]
Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn thì khái niệm dịch vụ TT - TV “bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TT - TV nói chung” [34, tr.24-25]
Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn Hơn nữa, các quốc gia khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Dịch vụ thông tin thư viện hình thành, tồn tại và phát triển là do nhu cầu tin của mỗi con người, nhóm xã hội và của cả cộng đồng xã hội quy định Nhu cầu thông tin và nhu cầu trao đổi thông tin thuộc nhóm nhu cầu tinh thần Có nhu cầu chỉ cần ở mức giúp người sử dụng trao đổi được thông tin, trong khi đó, có nhu cầu, ngoài việc trao đổi thông tin, người sử dụng dịch vụ còn cần được cung cấp những thông tin cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của họ
Cùng với sự phát triển của hoạt động TT-TV dịch vụ TT-TV ngày càng đa dạng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của NDT Các cơ quan TT-TV
đã và đang cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau phục vụ cho NDT như: dịch vụ cung cấp tài liệu, dịch vụ tìm tin, dịch vụ phổ biến thông tin,… Khác với hoạt động kinh doanh, dịch vụ TT-TV không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Dịch vụ TT-TV hướng tới mục tiêu nâng cao khả năng khai thác nguồn lực thông tin, đáp ứng nhu cầu tin của NDT với hiệu quả cao nhất
* Một số đặc tính của dịch vụ thông tin - thư viện:
+ Tính đồng thời:
Trang 25Việc tạo ra các dịch vụ thông tin thư viện và cung cấp các dịch vụ ấy cho người dùng tin được diễn ra đồng thời Ví dụ: khi tiến hành dịch vụ cung cấp thông tin theo nhu cầu thì một bộ phận phải tiếp nhận yêu cầu từ NDT, một số khác phải thực hiện chuyển giao
+ Tính vô hình
Khác với sản phẩm, dịch vụ thông tin không có hình hài rõ rệt, không thể hình dung trước khi nó bắt đầu, không thể lưu trữ như hàng hóa hay nhận diện được bằng giác quan Ví dụ: Khi thực hiện dịch vụ cung cấp nguồn tài liệu theo chủ đề về Hóa học để thực hiện một công trình nghiên cứu, phải tùy theo nhu cầu của NDT thì dịch vụ ấy mới diễn ra, chứ không thể biết trước được Chính vì vậy khi thực hiện marketing cho các dịch vụ thông tin, cần tạo cho NDT biết tiềm năng của nó bằng cách giới thiệu cho họ biết đến các dịch vụ đó
+ Tính chất không đồng nhất
Dịch vụ thông tin gắn với cá nhân/tập thể cung cấp dịch vụ Chất lượng của dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào cá nhân/tập thể thực hiện dịch vụ, bên cạnh đó chất lượng của các dịch vụ thông tin - thư viện nhiều khi không đồng nhất, yêu cầu của NDT cũng khác nhau, phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời gian Ví dụ, một sinh viên khi đến thư viện tìm hiểu về tài liệu trong lĩnh vực Ngôn ngữ học sẽ khác với một Giáo sư tiến sĩ cũng tìm hiểu về lĩnh vực này Chất lượng nguồn tài liệu mà 2 đối tượng trên hướng tới sẽ khác nhau
+ Tính không thể tách rời/liên hoàn
Thông thường để thực hiện một dịch vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một số bước hoặc một số thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu được kết quả mà người sử dụng dịch vụ mong muốn Ví dụ: Trong dịch
vụ tìm kiếm thông tin, để có thể cung cấp thông tin tới NDT thì cán bộ thư viện cần phải thực hiện một số thao tác như: Phân tích nhu cầu - xác định nguồn - thực hiện quá trình tìm - đánh giá và gửi kết quả Các bước này không thể được tiến hành độc lập, bởi vì, NDT không quan tâm tới các kết quả riêng lẻ, mà họ chỉ quan tâm đến kết quả mà họ nhận được có thỏa mãn nhu cầu của họ hay không
Trang 261.1.3 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Sản phẩm và dịch vụ TT-TV được tạo ra nhằm khai thác, tìm kiếm thông tin cũng như được tiến hành hoạt động để thỏa mãn nhu cầu của NDT Sản phẩm TT-
TV và dịch vụ TT-TV có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển và nhiều khi không thể tách rời để tạo nên một hệ thống toàn diện, một quá trình liên hoàn mà mục đích cao nhất là thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu tìm kiếm khai thác thông tin của NDT
Các SP&DV của các cơ quan TT-TV đóng vai trò trong việc đáp ứng nhu cầu của NDT Thông qua việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thích hợp sẽ giúp con người truy cập, khai thác, chia sẻ nguồn thông tin ở mọi lúc, mọi nơi,
và tiết kiệm tối đa thời gian nhất Bên cạnh nó giúp mọi cá nhân và tổ chức có thể tìm đến với nhau và trao đổi thông tin một cách thuận lợi, nhanh chóng
Sản phẩm và dịch vụ đều do quá trình lao động tạo ra SP&DV đều là kết quả của quá trình trình xử lý, bao gói thông tin, là cầu nối giữa các giá trị nguồn lực thông tin và NDT Trong mối quan hệ giữa SP&DV có sự kết hợp chặt chẽ giữa cái mới và cái cũ, giữa truyền thống và hiện đại, giữa con người và công nghệ
Bất kỳ một cơ quan TT-TV nào đi vào hoạt động đều tạo dựng cho mình một
số lượng sản phẩm thông tin nhất định Thông qua sản phẩm thông tin có thể biết được sự phát triển của thư viện tạo ra nó Sản phẩm TT-TV chính là một trong những nguồn khai thác thông tin quan trọng và tin cậy của cơ quan TT-TV bởi đây
là kết quả của quá trình xử lý thông tin do cán bộ TT-TV thực hiện Chất lượng và
sự đa dạng của sản phẩm TT-TV có ảnh hưởng đến chất lượng và sự đa dạng của dịch vụ TT-TV
Các sản phẩm TT-TV được tạo lập ra cần được mở rộng, phát triển, phổ biến tới đông đảo NDT thì phải thông qua các kênh dịch vụ Việc đa dạng hóa hệ thống dịch vụ rất có ý nghĩa trong việc phổ biến các sản phẩm TT-TV Ngược lại, để phát triển hoạt động dịch vụ TT-TV, thư viện phải không ngừng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm Mặt khác khi có hệ thống sản phẩm TT-TV đa dạng, phong phú mà thiếu đi hệ thống dịch vụ TT-TV thì NDT khó có thể tiếp cận và khai thác
Trang 27một cách hiệu quả nguồn lực thông tin có trong thư viện Và ngược lại, khi có hệ thống dịch vụ đầy đủ, hiện đại mà thiếu đi hệ thống sản phẩm TT-TV thì dịch vụ đó cũng không phát huy được tác dụng và không mang lại hiệu quả mong muốn
Để hiệu quả khai thác SP&DV TT-TV được nâng cao thì cơ quan TT-TV cần phải tiến hành tạo lập các SP&DV TT-TV tương ứng, hỗ trợ lẫn nhau Với mỗi sản phẩm đều có một hoặc một số dịch vụ tương ứng, mục đích là nhằm giúp cho sản phẩm được ứng dụng, khai thác Ngược lại, ứng với mỗi dịch vụ đều có một hoặc một số sản phẩm phù hợp để dịch vụ đó được triển khai tốt nhất, hiệu quả nhất
Nếu các cơ quan TT-TV tổ chức tốt các dịch vụ thì sẽ đưa các sản phẩm đến với người dùng một cách nhanh chóng và thuận tiện Từ đó, mức độ khai thác sản phẩm TT-TV của NDT sẽ nhiều hơn, tần suất khai thác thông tin cao hơn, góp phần phát huy hiệu quả và nâng cao giá trị của sản phẩm TT-TV Đồng thời các sản phẩm TT-TV được NDT sử dụng và đánh giá thông qua việc phân tích các tiêu chí cơ bản phản ánh chất lượng sản phẩm Qua kênh phản hồi thông tin là dịch vụ TT-TV có
cơ sở để đánh giá thông tin, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống SP&DV TT-TV của mình đáp ứng tốt hơn nhu cầu tin ngày càng đa dạng và phức tạp của NDT
Mối quan hệ giữa SP&DV TT-TV có tính liên kết chặt chẽ và tương tác cao như vậy nên vấn đề hoàn thiện, phát triển sản phẩm TT-TV phải luôn đi liền với việc tổ chức, đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ dịch vụ TT-TV phù hợp Đây là vấn đề cần được quan tâm, nhận định và triển khai toàn diện, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan TT-TV
1.1.4 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Sản phẩm và dịch vụ TT-TV đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động TT-TV Chúng được xem là công cụ, phương tiện hoạt động do thư viện tạo ra
để xác định, truy nhập, khai thác, quản lý các nguồn, hệ thống thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin, là cầu nối giữa người dùng tin với các nguồn, hệ thống thông tin của thư viện
Trang 28Thông qua các SP&DV TT-TV có thể xác định được mức độ đóng góp của hoạt động TT-TV đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung cũng như các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng… của địa phương nói riêng Chất lượng của SP&DV TT-TV được xem là thước đo hiệu quả hoạt động, là yếu tố cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan TT-TV
Trong hoạt động TT-TV, SP&DV luôn giữ vai trò quan trọng Nếu không có các SP&DV thì thông tin và tài liệu trong thư viện sẽ bị lãng phí và không phát huy được hiệu quả Lượng thông tin ngày nay không ngừng tăng lên với tốc độ chóng mặt, sự ra đời của các công nghệ mới, cho phép khai thác thông tin không giới hạn
về không gian và khoảng cách địa lý Chính vì thế càng đặt ra nhu cầu bức thiết là làm sao thông tin đến với NDT một cách nhanh nhất kịp thời, chính xác và hiệu quả nhất Không bằng cách nào khác các trung tâm TT-TV phải không ngừng nâng cao
số lượng và chất lượng, đa dạng hóa các SP&DV TT-TV SP&DV TT-TV nếu được biên soạn đúng phương pháp, được sử dụng khoa học, đúng mục đích không chỉ đảm bảo cho việc thực hiện tốt chức năng của thư viện mà còn tích cực vào việc quảng bá hình ảnh cho thư viện, tiết kiệm công sức, tiền bạc, thời gian cho cán bộ thư viện trong quản lý, sử dụng thông tin
Ngày nay, việc ứng dụng CNTT ngày càng trở nên phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là sự phát triển của Internet và công nghệ truyền thông Thực tế này làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề đối với tất cả các thành phần tham gia và việc tạo lập, sử dụng thông tin, là yếu tố tác động tới sự phát triển mạnh
mẽ của hệ thống SP&DV TT-TV Song song với chiến lược làm giàu nguồn thông tin, chiến lược phát triển các loại sản phẩm và dịch vụ TT-TV bằng việc đề ra các giải pháp kỹ thuật, áp dụng triệt để CNNT nhằm khai thác tối ưu các nguồn thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng Bên cạnh đó, hệ thống SP&DV TT-TV là yếu tố thiết yếu trong việc tăng cường trao đổi, chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan TT-TV
Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành tất yếu Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi
Trang 29nhu cầu và thói quen là những yếu tố thúc đẩy việc phát triển SP&DV TT-TV mới Thực tế chỉ ra rằng, những cơ quan TT-TV đang phát triển hiện nay là những cơ quan đã định trước cho mình những sản phẩm và dịch vụ TT-TV mới Trong những năm gần đây, NDT có quyền lựa chọn cho mình những SP&DV TT-TV từ các nguồn khác nhau một cách rộng rãi hơn Đặc biệt trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông và internet NDT có thể tìm kiếm và sử dụng thông tin mọi lúc, mọi nơi với nhiều hình thức khác nhau mà không bị hạn chế bởi không gian và thời gian Bên cạnh đó khối lượng thông tin gia tăng nhanh chóng dẫn tới những khó khăn cho việc xử lý thông tin và sử dụng tài liệu Chính vì thế, các cơ quan TT-TV gặp khó khăn trong vấn đề thu thập đầy
đủ các xuất bản phẩm Điều này bắt buộc các cơ quan TT-TV bên cạnh việc phải
có chính sách phát triển các SP&DV thì phải thực hiện chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ quan TT-TV khác Để làm được điều đó các cơ quan TT-TV cần chú trọng nhận thức thực trạng SP&DV TT-TV, có những định hướng phát triển kịp thời, nhanh chóng đẩy mạnh chất lượng và hiệu quả hoạt động của Thư viện
Hệ thống SP&DV TT-TV là một hệ thống hết sức năng động, luôn phát triển Hiệu quả hoạt động của hệ thống này phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều yếu tố có tính đặc trưng như nhu cầu thông tin của NDT, nguồn kinh phí của Trung tâm, trình
độ cán bộ thư viện… Các nội dung của SP&DV TT-TV cũng rất đa dạng, phong phú, thay đổi theo điều kiện không gian và thời gian ở tất cả các phạm vi có thể Cũng giống như sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển SP&DV thông tin thư viện phụ thuộc vào nguồn lực và sự lựa chọn khuynh hướng phát triển của Trung tâm
1.1.5 Các yếu tố tác động tới sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Sản phẩm TT-TV và dịch vụ TT-TV là 2 yếu tố cơ bản để thư viện hoạt
động Hai yếu tố này có sự tương tác lẫn nhau để tạo thành một thệ thống - hệ thống SP&DV TT-TV, hệ thống này luôn phát triển và có nhiều thay đổi Hiệu quả hoạt động của hệ thống này phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố cơ bản bao gồm: điều kiện kinh tế xã hội, chính sách phát triển ngành TT - TV, nguồn
Trang 30lực thông tin, người dùng tin và nhu cầu tin, trang thiết bị công nghệ kỹ thuật hỗ trợ,
cán bộ thông tin
Yếu tố khách quan:
Các yếu tố môi trường kinh tế, chính trị, xã hội
Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và trên thế giới có ảnh hưởng đến việc phát triển các SP&DV TT-TV, bởi lẽ những yếu tố này sẽ tác động trực tiếp lên nhu cầu của NDT Cụ thể như: “đời sống văn hóa tinh thần phong phú
là tiền đề cho nhu cầu tin phát triển; tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tin; đời sống được nâng cao tạo điều kiện phát triển nhu cầu tin, chế độ dân chủ làm cho con người tự do, đời sống tinh thần phong phú hơn, kích thích nhu cầu tin phát triển cao hơn” [31, tr13] Trong khi đó các SP&DV TT-
TV được tạo ra là để thỏa mãn nhu cầu tin của NDT Nên việc tạo lập, phát triển các SP&DV TT-TV chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của các yếu tố môi trường chính trị, kinh tế, xã hội
Xu thế phát triển trên thế giới
Thế kỷ XXI được đánh dấu bằng sự ra đời của nền kinh tế mới, được gắn với nhiều thuật ngữ: kinh tế thông tin, kinh tế tri thức, kinh tế số,… Trong nền kinh tế này, sản phẩm không tồn tại ở dạng vật chất cụ thể như ở các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản,… mà đó là dạng phi vật chất Đối tượng của nền kinh tế tri thức chính là thông tin Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD cho rằng: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin" Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC 2000) khẳng định: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế" Như vậy, có thể thấy vai trò của thông tin trong nền kinh tế tri thức đã và đang khẳng định được tầm quan trọng Thông tin và tri thức đã trở thành động lực vật chất có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của mỗi
Trang 31quốc gia, mỗi khu vực và toàn cầu Vì vậy, mọi cá nhân, tổ chức nắm bắt nguồn tin
sẽ là lợi thế để phát huy sức mạnh của mình
Chính sách thông tin quốc gia
Ở bất kỳ quốc gia nào, mọi hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa - giáo dục,
y tế, an ninh, giải trí… đều phải đảm bảo chính sách phát triển chung của quốc gia
đó Ở nước ta đang trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật nên mỗi ngành đều phải có những hệ thống văn bản pháp quy, quy định những yêu cầu của Nhà nước đối với thiết chế đó Đối với lĩnh vực thư viện cũng vậy Thư viện là một thiết chế văn hóa có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc sưu tầm, thu thập, lưu trữ, bảo quản lâu dài các xuất bản phẩm dân tộc nhằm phục vụ việc đọc và học tập suốt đời của người dân Việc duy trì và phát triển mạng lưới thư viện nói chung và mạng lưới thư viện đại học nói riêng luôn là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta, việc này đã được thể hiện rất rõ trong các Văn kiện, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm tạo hành lang pháp lý cho các thư viện tổ chức, hoạt động và phát triển
Hiện nay, văn bản có tính pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thư viện là Pháp
lệnh Thư viện được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 28/12/2000 Pháp lệnh Thư viện đã xác lập những nguyên tắc cơ bản về
tổ chức và hoạt động của thư viện Việt Nam; xác định quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện; nhiệm vụ và quyền của người làm công tác thư viện; trách nhiệm và chính sách của Nhà nước đối với thư viện
Tại Nghị định 72/2002/NĐ-CP ban hành ngày 06/08/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện cũng được thể hiện về chính sách đầu
tư của nhà nước tại các điều 14, 19, 20, 21
Chỉ thị số 57/2001/CT-BVHTT: Về tăng cường công tác thư viện trong các viện, trường đại học, cao đẳng trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Yêu cầu lãnh đạo các viện, trường đại học, cao đẳng thuộc Bộ quan tâm thường xuyên đến công tác thông tin - thư viện; có kế hoạch xây dựng cải tạo, nâng cấp thư viện;
Trang 32ứng dụng công nghệ tin học trong công tác thông tin - thư viện; đảm bảo kinh phí cho việc bổ sung tài liệu
Tại Điều 1, Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT:
Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Điểm a khoản 2: Đầu tư đúng mức cho thư viện, chú trọng những thư viện
có tính khu vực
Điểm b: Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển sự nghiệp thư viện: Quy định về việc huy động nguồn vốn từ nhà nước, cộng đồng, quốc tế hỗ trợ phát triển
sự nghiệp thư viện
Thực tế trên thế giới có nhiều chính sách và chiến lược khác nhau để phát triển và đa dạng hóa SP&DV TT-TV nhưng đều bao gồm các yếu tố luật pháp, chế tài quy định về điều kiện ưu tiên như hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế, quyền và trách nhiệm cơ quan tham gia vào hoạt động tạo lập và cung cấp các SP&DV thông tin Chính sách phát triển SP&DV thông tin có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách
có liên quan khác, ví như chính sách đầu tư, chính sách tài chính, chính sách cán bộ,
Các chính sách và văn bản được ban hành có ý nghĩa hết sức to lớn, là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo cho sự nghiệp thư viện Việt Nam phát triển theo xu hướng hiện đại hóa, đáp ứng với yêu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Tuy nhiên, trong bối cảnh thực tế mạng lưới thư viện Việt Nam đang có khoảng cách
khá xa so với các nước phát triển thì vấn đề đặt ra là phải có một văn bản có hiệu
lực pháp lý cao hơn Pháp lệnh thư viện, để tăng cường sự đầu tư của Nhà nước đối với hoạt động thư viện và để xem thư viện là một trong những thiết chế văn hóa mà ngành Văn hóa-Thông tin không thể thiếu trong thời đại công nghệ thông tin Luật Thư viện ra đời sẽ khẳng định tầm quan trọng của thiết chế này
Tất cả những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành thư viện chính là động lực cơ bản để các SP&DV TT-TV ra đời Sự đa dạng
Trang 33và hiện đại của các SP&DV là yếu tố không thể thiếu để đưa ngành thư viện nước ta hội nhập, phát triển cùng mạng lưới thư viện toàn cầu
Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin
Trong nền kinh tế tri thức, khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ mà đặc biệt là CNTT và viễn thông đã tác động sâu sắc, có sức ảnh hưởng vô cùng to lớn tới các lĩnh vực đời sống của con người, nó không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người Đảng và nhà nước ta cũng đã xác định CNTT là một ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn cần được ưu tiên, phát triển để tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế
Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị đã khẳng định CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế văn hóa của thế giới hiện đại
Đối với ngành thông tin - thư viện, CNTT không phải chỉ là ứng dụng quan trọng cho ngành mà hiện nay CNTT chính là nghiệp vụ của thư viện hiện đại Việc quản lý thông tin được xem như là thành quả của CNTT CNTT cũng tác động khá mạnh mẽ tới việc cho ra đời SP&DV thông tin CNTT đã tác động tới tất cả các quá trình tổ chức và thực hiện SP&DVTT-TV, nó giúp các cơ quan TTTV xây dựng và
tổ chức được đa dạng, phong phú loại hình SP&DV; rút ngắn thời gian, kinh phí, đảm bảo chất lượng và giúp NDT rút ngắn được chi phí về mặt thời gian và cho phép NDT khai thác trực tiếp với nguồn tài liệu
CNTT đã có vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin tới NDT,
hỗ trợ và giúp làm hoàn thiện các SP&DV thông tin cũ, đồng thời tạo điều kiện
để hình thành nhiều sản phẩm thông tin mới như: các CSDL, các bản tin điện
tử, sách điện tử, các trang chủ ; Các dịch vụ thông tin mới: tra cứu trực tuyến, tra cứu chọn lọc CNTT đã và đang làm thay đổi bộ mặt của thư viện, không còn hình ảnh của một thư viện cũ kỹ, lạc hậu mà thay vào đó là những thư viện hiện đại với các công cụ hỗ trợ NDT nhanh chóng nắm bắt được các SP&DV
Trang 34thông tin mới nhất, nhanh chóng và kịp thời Bên cạnh đó, sự xuất hiện của mạng internet cùng với các công cụ kỹ thuật hiện đại đã nhanh chóng cho ra đời nhiều sản phẩm thông tin chuyên nghiệp, các thư viện dễ dàng kiểm soát cũng như trao đổi chia sẻ nguồn tin với nhau và bạn đọc cũng có thể mượn liên thư viện Qua quá trình thông tin được truyền từ nơi này sang nơi khác sẽ nhận được sự phản hồi và thông tin mới lại được nảy sinh.Vì thế, các SP&DV TT-
TV mới sẽ có điều kiện ra đời
Nhu cầu tin của xã hội
Theo quan điểm của tâm lý học Mác xít, có thể coi nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, tập thể, nhóm xã hội, cộng đồng xã hội) đối với sự tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người
Trên cơ sở phân tích quan điểm của các nhà tâm lý học Mác xít, quan điểm của các nhà thông tin học hiện đại và cơ sở thực tiễn sinh động thì “nhu cầu tin là nhu cầu hiểu biết thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội, con người) để con người có thể tồn tại và phát triển với tư cách là một con người thực sự để làm tròn chức năng, nhiệm vụ do xã hội phân công và giao cho” [23, tr.101]
Ngày nay, khi mà những thành quả của khoa học kỹ thuật tác động tới mọi ngành nghề lĩnh vực, đời sống sinh hoạt, sản xuất của con người chịu nhiều tác động thì con người càng phải trang bị đầy đủ thông tin để làm chủ cuộc sống Hơn nữa, thông tin ngày càng gia tăng theo cấp số nhân đồng nghĩa với sự xuất hiện của nhiều nguồn thông tin khác nhau Thông tin ra đời đa dạng và phong phú ở mọi lĩnh vực do vậy, nhu cầu thông tin của con người cũng trở nên đa dạng, phức tạp và đòi hỏi ở mức độ cao hơn Họ đều mong muốn có được những sản phẩm thông tin mới nhất, đa dạng nhất và kèm theo đó là các dịch vụ tiện ích, hiện đại nhất Những nhu cầu khó tính của NDT chính là động lực thúc đẩy các sản phẩm TT-TV ra đời Đây chính là cơ sở để các nhà quản lý phân tích và tạo ra các SP&DV khác nhau
Hơn nữa, trong quá trình sử dụng các SP&DV, người dùng tin sẽ có những thông tin phản hồi, nảy sinh thông tin mới Cơ quan sẽ tiếp nhận, phân tích, xử lý và
Trang 35cho ra đời thông tin mới phù hợp với nhu cầu tin của NDT Chu trình này sẽ diễn ra liên tục và không ngừng phát triển và vì thế các SP&DV TT-TV sẽ không ngừng ra đời với số lượng gia tăng
Mỗi đối tượng NDT sẽ có nhu cầu tin khác nhau cả về nội dung và hình thức thông tin được cung cấp, có thể tùy thuộc vào loại đối tượng, độ tuổi, giới tính, ngành nghề, mà mức độ tác động của đối tượng NDT lên SP&DV thông tin là khác nhau
Như vậy, có thể nhận thấy NDT có vai trò quyết định đối với sự phát triển, hoạt động của cơ quan TT-TV Mọi nhu cầu của NDT chính là cơ sở để tạo ra các SP&DV TT-TV
lý tài liệu; chính sách đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo người dùng tin…
Các chính sách này sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, là điều kiện đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển các SP&DV TT - TV bởi:
Thông qua chính sách, ban lãnh đạo các cơ quan thư viện sẽ có cái nhìn tổng thể về thực trạng phát triển của thư viện Đây sẽ là công cụ để ban lãnh đạo, cán bộ các phòng ban nhìn nhận, đánh giá lại thực tiễn hoạt động, từ đó sẽ có chính sách
Trang 36hợp lý phân bổ lại công việc, cũng như việc đầu tư kinh phí cho việc phát triển từng loại hình sản phẩm
Các thư viện đại học trực thuộc các trường đại học, vì vậy việc xây dựng các chính sách của thư viện phải dựa trên các chiến lược phát triển của nhà trường Cụ thể, các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay có định hướng đa dạng hóa ngành đào tạo, nâng cao thế mạnh nghiên cứu, nâng cao năng lực cạnh tranh với các trường đại học trong và ngoài nước, chuyển đổi phương thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Trên cơ sở chính sách hoạch định, cơ quan sẽ xác định được nhu cầu trước mắt và lâu dài của NDT và có kế hoạch ưu tiên trong việc phân bổ kinh phí hỗ trợ hoạt động để đáp ứng nhu cầu của NDT
Chính sách phát triển của mỗi thư viện được xem như là kim chỉ nam cho sự phát triển của thư viện Đảm bảo tính liên tục, nhất quán khi phát triển các SP& DV ngay cả khi có sự điều chỉnh ban quản lý Chính sách góp phần định hướng phát triển cụ thể cho từng loại hình SP&DV Đây là công cụ để hợp tác, chia sẻ các SP&DV với các cơ quan TT - TV khác Ngoài ra, tăng cường mối liên kết giữa các phòng ban của thư viện, hình thành quyết tâm đạt được mục tiêu cuối cùng và hạn chế những hoạt động tùy tiện của các cấp trong quản lý
Yếu tố nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin thư viện là một trong bốn thành tố cơ bản (nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ thư viện, người dùng tin) cấu thành thư viện và cơ quan thông tin Nguồn lực thông tin phản ánh tiềm lực của mỗi thư viện
và cơ quan thông tin trong quá trình xây dựng và phát triển Nguồn lực thông tin là
cơ sở để tạo ra các sản phẩm dịch vụ thông tin, ví dụ: nguồn thông tin là các đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học là cơ sở để biên soạn tổng quan, tổng luận khoa học về nội dung mà các tài liệu cùng phản ánh; các dấu hiệu hình thức của nguồn lực thông tin là cơ sở xây dựng công cụ tra cứu: thư mục, các CSDL…
Thực tế, thông tin sinh ra ở nhiều môi trường khác nhau, có thông tin hữu ích đối với NDT ở lĩnh vực này, nhưng lại không có giá trị với NDT ở một lĩnh vực
Trang 37khác Cách mà để chuyển tải thông tin tới NDT ngày nay không chỉ là ở các các ấn phẩm in truyền thống như sách, báo, tranh ảnh, băng,… Với sự phát triển của khoa học công nghệ, điện tử các ấn phẩm truyền thống còn tồn tại ở dạng thức mới: sách điện tử, báo điện tử, đĩa, bản thuyến minh, thuyết trình, catalogue
Nhiệm vụ của người quản lý nguồn tin là thu thập,chọn lọc, phân tích và xử
lý các nguồn tin để cho ra đời các SP&DV thông tin tương ứng với những nhu cầu tin khác nhau Nguồn thông tin càng đa dạng sẽ quyết định mức độ đa dạng của sản phẩm cũng như các dịch vụ thông tin kèm theo Từ đó sẽ đánh giá được quy mô, mức độ phát triển của mỗi cơ quan TT-TV
Cán bộ thông tin
Trong bối cảnh công nghệ thông tin và Internet, khâu trung gian truyền tải và kết nối nguồn thông tin đến NDT thì cán bộ thư viện càng trở nên vô cùng quan trọng Cán bộ thư viện là nguồn nhân lực không thể thiếu trong bất kỳ thư viện nào, cho dù đó là thư viện truyền thống hay thư viện hiện đại, thư viện điện tử, thư viện số… Cán bộ thông tin là người trực tiếp tiến hành các khâu tạo ra các SP&DV TT-
TV và có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của các SP&DV TT-TV
Nhiệm vụ của cán bộ thư viện trong thế giới số hiện nay là làm thế nào để cung cấp cho bạn đọc những SP&DV thông tin tốt nhất Vì vậy, cán bộ thư viện phải là người nắm vững nghiệp vụ, chuyên môn thư viện, nguồn tài liệu, hiểu các kỹ thuật CD - ROM, Internet, các chương trình phần mềm thư viện…để tham gia vào việc mua sắm, trang bị các trang thiết bị cho thư viện Hơn thế nữa, họ phải cập nhật các kiến thức, kỹ năng sử dụng các trang thiết bị mới để hướng dẫn lại cho học sinh, sinh viện và giáo viên
Cán bộ thư viện phải đặt NDT lên vị trí ưu tiên hàng đầu, không ngại tiếp xúc với những công nghệ mới, luôn muốn làm chủ những công cụ mới, và phải biết cách vận dụng kỹ năng của mình vào việc khai thác thông tin cũng như giúp cho người dùng tiếp cận và sử dụng nguồn tin đó
Trang 38Bên cạnh đó, việc nắm rõ tính chất của tài liệu và vai trò của chúng trong xây dựng vốn tài liệu, các kỹ năng biên mục và phân loại, khả năng phân tích, khả năng phổ biến thông tin, đáp ứng các yêu cầu thông tin, nắm bắt và hiểu được tâm lý, nhu cầu của NDT, phải có hiểu biết về ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, tư vấn, hướng dẫn NDT và cần có trình độ cao về tin học là rất quan trọng
Quy trình kỹ thuật thư viện
Yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển các SP&DV TT-TV Bởi quy trình kỹ thuật thư viện chiếm đại đa số thời gian, công sức của cán bộ thư viện Nếu chu trình đường đi của tài liệu, chu trình phục vụ NDT, chu trình tra cứu tin được tổ chức khoa học sẽ giảm được những chi phí không cần thiết, tránh lặp đi lặp lại những thao tác thừa, rút ngắn thời gian thực hiện các chu trình chính Điều này đồng nghĩa với việc sắp xếp các công đoạn từ tạo lập sản phẩm tới việc đưa sản phẩm tới NDT một cách khoa học, hợp lý Vì thế sẽ làm tăng thời gian để tạo ra được nhiều sản phẩm cũng như dịch vụ TT-TV
Công cụ xây dựng, tạo lập sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
Các công cụ được lựa chọn để tạo lập SP&DV TT-TV hiện nay như: AACR2 (Quy tắc biên mục Anh - Mỹ), MARC21 (khổ mẫu đọc máy), Khung phân loại DDC 14 và nhiều tiêu chuẩn khác về tổ chức quản lý thông tin, hệ thống thông tin, dịch vụ thông tin… Các công cụ này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như việc phát triển các SP&DV TT-TV Bởi đây chính là công cụ để hỗ trợ cán bộ tạo ra các sản phẩm và dịch vụ TT-TV mới
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Chất lượng của SP&DV TT – TV có ý nghĩa vô cùng to lớn trong công tác hoạt động của bất kỳ cơ quan thư viện nào, đây là cơ sở để đánh giá thực trạng phát triển của cơ quan Đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng sản phẩm TT-TV là một quá trình thu thập, lựa chọn và phân tích thông tin về các SP&DV nhằm đưa ra những nhận định đúng đắn về SP&DV đó
Trang 39Mục đích của việc đánh giá SP&DV TT-TV là giúp cơ quan TT-TV phân tích được những điểm mạnh và hạn chế mà SP&DV TT-TV mang lại cho NDT, từ
đó đưa ra những nhận định thiết thực về sản phẩm và dịch vụ đó
Các tiêu chí để đánh giá chất lượng sản phẩm thông tin – thư viện:
Mức độ bao quát nguồn tin: thể hiện ở sự đầy đủ, đa dạng, phong phú bao
quát các lĩnh vực thông tin theo cơ cấu nội dung lôgic khách quan và sự thống nhất trong hoạt động thông tin để tạo ra SPTT-TV tương ứng Điều đó cho thấy khi xây dựng SPTT-TV nào đó cũng không thể coi trọng lĩnh vực thông tin này mà coi nhẹ lĩnh vực thông tin khác, không chỉ mô hình hóa nhu cầu này mà bỏ qua, bỏ trống hay coi nhẹ mô hình hóa loại nhu cầu khác
Mức độ bao quát, đầy đủ đối với hệ thống SPTT-TV không chỉ đòi hỏi ở sự phát triển đồng đều của hệ thống sản phẩm, nghĩa là hệ thống sản phẩm phải cùng phát triển Tuy nhiên, cho đến nay còn rất nhiều cơ quan TTTV chưa đáp ứng được
Để đáp ứng được yêu cầu này, cần phải bổ sung thông tin từ nhiều nguồn tin khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau, từ đó có cơ sở để hoàn thiện, tổ chức, xây dựng và
đa dạng hóa hệ thống SPTT-TV đáp ứng tốt nhất nhu cầu tin của NDT
Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện: Chất lượng của
sản phẩm TT-TV được phản ánh qua phương thức xử lý, phụ thuộc vào trình độ của người xử lý thông tin và trình độ phát triển của khoa học công nghệ Thông tin trong các sản phẩm và dịch vụ mà cán bộ thư viện tạo ra để cung cấp cho NDT phải chính xác, khách quan có độ tin cậy lớn, độ ổn định của sản phẩm cao Chính vì vậy, các cơ quan TTTV phải luôn luôn coi trọng chất lượng của sản phẩm và dịch
vụ Đó là một trong những yếu tố quyết định, tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của một cơ quan TTTV
Khả năng cập nhật thông tin: Thông tin phát triển với tốc độ nhanh chóng và
biến động cao dẫn đến hiện tượng bùng nổ thông tin gây khó khăn cho NDT trong việc tìm kiếm và sử dụng các thông tin có chất lượng Đây là nguyên nhân đòi hỏi các SP TT-TV phải có khả năng cập nhật thông tin cao, được tiến hành đều đặn, thường xuyên, liên tục
Trang 40 Khả năng tìm kiếm thông tin: Các phương tiện tra cứu tin phải giúp NDT dễ
sử dụng, tìm kiếm và khai thác Tốc độ tìm tin linh hoạt, nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng tối đa nhu cầu tin cho NDT Ngoài ra, khả năng tìm kiếm thông tin phải được thể hiện dưới nhiều hình thức tìm khác nhau Trong việc xây dựng SPTT-TV cần tuân thủ nguyên tắc thông tin được xử lý một lần và sử dụng nhiều lần Tính phong phú, đa dạng của các kiểu tìm kiếm thông tin đặc trưng cho khả năng linh hoạt của mỗi sản phẩm Đối với việc tìm kiếm bằng thư mục, thể hiện qua cấu trúc mỗi biểu ghi và hệ thống ra cứu bổ trợ Đối với cách tìm kiếm bằng cơ sở dữ liệu (CSDL) lại thể hiện qua các trường của biểu ghi; không những thế còn phụ thuộc vào khả năng của phần mềm ứng dụng và khả năng sử dụng các kỹ năng tìm kiếm của NDT Khả năng cập nhật và tìm kiếm thông tin còn được thể hiện ở khả năng thích nghi và mở rộng Đây chính là khả năng chia sẻ thông tin bởi khi những thông tin được mở rộng thì ai cũng có thể cập nhật và sử dụng SPTT-TV, giúp NDT khai thác thuận tiện hơn, nhanh chóng và dễ dàng hơn
Tính thân thiện với người dùng tin: Bất kỳ SP TT-TV nào ra đời không chỉ
quan tâm về việc hoàn thiện nội dung mà còn phải cả mặt hình thức: đẹp, rõ ràng,
dễ sử dụng… Các sản phẩm trước tiên sẽ gây chú ý tới NDT về hình thức, bố cục sau đấy mới được NDT đánh giá về chất lượng Cán bộ tạo ra các SP&DV phải coi trọng yếu tố này, bởi sản phẩm ra đời mục tiêu đầu tiên là hướng tới người sử dụng Nếu sản phẩm đẹp mắt, nội dung chính xác, đầy đủ, hay các dịch vụ dễ dàng sử dụng, đáp ứng được nhu cầu của NDT thì chắc chắn lượt dùng và vòng quay sản phẩm sẽ càng cao Điều này sẽ nói lên được hiệu quả mà sản phẩm đem lại Do vậy, đây sẽ là yếu tố quan trọng và không thể thiếu đối với mỗi SP TT-TV
Các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ thông tin – thư viện:
Chất lượng dịch vụ thông tin - thư viện: Chất lượng của sản phẩm mà dịch
vụ tạo ra để cung cấp cho NDT là thông tin trong sản phẩm phải chính xác, khách quan có độ tin cậy lớn, độ ổn định của sản phẩm cao Chính vì vậy, các cơ quan TTTV phải luôn luôn coi trọng chất lượng của dịch vụ Đó là một trong những yếu
tố quyết định, tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của một cơ quan TTTV