Đánh giá gói kích cầu và quá trình phục hồi của nền kinh tế việt nam sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008
Trang 1Lời mở đầu
Trong gần một thập kỷ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1999,kinh tế thế giới đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra bong bóng giá bất động sản và chứng
khoán trên nhiều quốc gia Bong bóng nhà ở cùng với sự giám sát tài chính thiếu
hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm
2007, sau đó đã bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ mật thiết vềtài chính nói riêng và kinh tế nói chung của Hoa Kỳ với nhiều nước, cuộc khủnghoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tàichính, suy thoái kinh tế và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thếgiới
Việt Nam tuy không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thoái toàn cầu nhưng cũng không thể tránh khỏi những tác động của nó.Trước những ảnh hưởng đó, chính phủ đã lần lượt đề ra các gói kích cầu nhằm cảithiện nền kinh tế và đời sống người dân Liệu gói kích cầu của chính phủ có pháthuy hiệu quả hay không? Cụ thể hơn, nền kinh tế của Việt Nam có được khả quanhơn sau gói kích cầu của chính phủ hay không? Đó chính là lý do chúng tôi chọn đềtài : “ Đánh giá gói kích cầu và quá trình phục hồi của nền kinh tế Việt Nam saucuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 ”
Trang 2I CƠ SỞ LÝ LUẬN : ( 1 )
Gói kích cầu hay gói kích thích kinh tế là gì?
Đó là thuật ngữ dùng để chỉ các chính sách tài khoá nhằm trợ giúp hoặc hồiphục nền kinh tế trong suy thoái Các gói kích thích được dùng để vực dậy hoạtđộng kinh tế trong thời kỳ kinh tế suy yếu qua cách làm tăng tổng cầu Cách thứcnày thực hiện dựa trên lý thuyết cho rằng nếu hàng hoá và dịch vụ được mua nhiềuhơn, tiền thuế hoàn lại cho người dân sẽ được sử dụng để mua sắm thì cầu sẽ khônggiảm xuống, các doanh nghiệp sẽ không phải sa thải công nhân, như vậy cầu sẽngừng giảm và kinh tế sẽ không tiếp tục rơi vào tình trạng suy thoái giúp vực dậynền kinh tế
Nguyên tắc cơ bản để thực hiện gói kích cầu:
Nếu một gói kích cầu được thiết kế không tốt, thì mặc dù có tên gọi là gói kíchcầu, với chi phí tốn kém cũng không ‘kích thích’ được nền kinh tế Điều này đặc biệtđúng nếu gói kích cầu không tuân theo các nguyên tắc kinh tế học, mà lại được thiết
kế để đáp ứng các yêu cầu về chính trị hoặc theo các nhóm lợi ích Các nhà kinh tếhọc, như Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu trưởng trường đại họcHarvard, và cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama) cho rằng để một gói kích cầu cóhiệu quả (effective) thì phải đảm bảo ít nhất 03 tiêu chí: đó là kịp thời (timely), đúngđối tượng (targeted) và ngắn hạn hay nhất thời (temporary)
Nguyên tắc số 1 - Kích cầu phải kịp thời:
Kích cầu phải kịp thời ở đây không phải chỉ là việc kích cầu phải được chínhphủ thực hiện một cách nhanh chóng khi xuất hiện nguy cơ suy thoái, mà kịp thời còn
có nghĩa là một khi được chính phủ thực hiện thì những biện pháp này sẽ có hiệuứng kích thích ngay, tức là làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh tế Nếu để tự nềnkinh tế phục hồi thì việc phục hồi sớm muộn cũng sẽ diễn ra, mặc dù việc phục hồi
có thể kéo dài, cho nên mục tiêu của kích cầu là đẩy nhanh việc phục hồi của nềnkinh tế Do đó, việc kích cầu chỉ có thể được thực hiện một cách có ý nghĩa trong mộtkhoảng thời gian nhất định Các chính sách mất quá nhiều thời gian để thực hiện sẽkhông có tác dụng, vì khi đó nền kinh tế tự nó đã có thể phục hồi, và việc gói kíchcầu lúc đó lại có thể có tác dụng xấu do có khả năng làm hun nóng nền kinh tế dẫnđến lạm phát và những mất cân đối vĩ mô lớn
( 1 ) Nguồn : "Chính sách Kích cầu trong hoàn cảnh việt nam" - Nguyễn Ngọc Anh Trung
tâm Nghiên cứu Chính sách và Phát triển (DEPOCEN); Nguyễn Thắng Trung tâm Phântích và Dự báo(CAF-VASS); Nguyễn Đức Nhật Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Pháttriển (DEPOCEN); Nguyễn Đình Chúc Đại học Aston University
Nguyên tắc số 2 - Kích cầu phải đúng đối tượng:
Gói kích cầu có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào xu hướng chitiêu và đầu tư của các đối tượng thuộc diện nằm trong gói kích cầu Để kích thíchđược cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, thì gói kích cầu phải được nhắm tới nhóm đốitượng sao cho gói kích cầu được sử dụng ngay (chi tiêu ngay), và qua đó làm tăngtổng cầu trong nền kinh tế Những biện pháp kích cầu đúng đối tượng là những biện
Trang 3pháp nhắm tới các đối tượng sẽ chi tiêu hầu như toàn bộ lượng kích cầu dành cho họ.Mục tiêu của gói kích cầu là làm tăng cầu, nên chìa khóa để thực hiện điều này là cấptiền cho những người (có thể là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp và chínhquyền) - sẽ sử dụng những đồng tiền này, và qua đó đưa thêm tiền vào nền kinh tế.Tiền kích cầu phải được sử dụng để khuyến khích các nhóm đối tượng này tiến hànhcác khoản chi tiêu mới, hoặc hạn chế việc các nhóm này cắt giảm chi tiêu
Để việc kích cầu có hiệu quả thì gói kích cầu phải nhắm vào những đối tượngsao cho một đồng tiền chi ra có hiệu ứng kích thích tiêu dùng và đầu tư cao nhất.Theo một số nghiên cứu trên thế giới thì hiệu ứng cao nhất là dành cho bảohiểm thất nghiệp (unemployment benefits) Các nhóm khác nhau trong xã hội sẽ có
xu hướng tiêu dùng cận biên khác nhau Những người có thu nhập cao, thì chỉ cómột phần nhỏ khoản hoàn/miễn thuế (hoặc khoản tiền trợ cấp) mà họ nhận được sẽđược chi tiêu, trong khi những người có thu nhập vừa và thấp sẽ có nhu cầu chi tiêucao hơn tính trên khoản hoàn thuế
Tóm lại, mức độ “đúng đối tượng” (well-targeted) của gói kích cầu của Chínhphủ phụ thuộc vào: (i) mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ cógói kích cầu thông qua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng như mô tả ở trên; và(ii) mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tácđộng lan tỏa23 Ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấpthường có mức tiêu dùng cao (tức là mức tiết kiệm thấp) trên 1 đồng thu nhập cóthêm được và lại thường tiêu dùng hàng nội Do vậy nếu kích cầu đúng nhóm đốitượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công bằng, khác với sựđánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trong kinh tế thường gặp
Nguyên tắc số 3 - Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:
Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được cảithiện Khi thực hiện các biện pháp kích cầu phải đảm bảo rằng các biện pháp giảmthuế, tăng chi tiêu chính phủ đều chỉ có tính tạm thời và sẽ chấm dứt khi nền kinh tế
đã vượt qua suy thoái Và thông thường sau khi vượt qua suy thoái nên thực hiện cácbiện pháp để hạn chế và giảm thâm hụt ngân sách Nguyên tắc ngắn hạn có hai ýnghĩa:
(1) Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu (2) Chỉ kích cầu trong ngăn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trongdài hạn
Tính ngắn hạn làm tăng hiệu quả của gói kích cầu:
Những chính sách mà vẫn còn hiệu lực sau khi nền kinh tế phục hồi, ví dụ nhưchính sách cắt giảm thuế cố định (permanent tax cuts) là những biện pháp kích cầukém hiệu quả bởi vì những biện pháp kích thích này sẽ trở thành những khoản chi phícủa chính phủ hoặc khoản thất thu khi mà thời gian cần kích thích đã kết thúc Hơnthế nữa, các biện pháp như tín dụng đầu tư, hoặc ưu đãi khấu hao tài sản sẽ là nhữngbiện pháp kích cầu hiệu quả hơn khi được thực hiện là những gói tạm thời, ngắn hạn.Nếu là những biện pháp dài hạn sẽ không kích thích được cầu Điều này là do cácbiện pháp nếu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn sẽ khuyến khích được các doanhnghiệp tiến hành, đẩy nhanh tốc độ đầu tư để tận dụng những ưu đãi này (ví dụ như ưu
Trang 4đãi về thuế) Những biện pháp dài hạn, ví dụ như giảm thuế quá lâu sẽ không phải làmột biện pháp kích cầu tốt, bởi vì các doanh nghiệp sẽ không cảm thấy cần thiết phảiđẩy nhanh tốc độ đầu tư trong giai đoạn nền kinh tế cần được kích thích nhất
Ngắn hạn để đảm bảo không làm ảnh hưởng tới ngân sách trong dài hạn
Thông thường khi thực hiện các biện pháp kích thích nền kinh tế bằng việc mởrộng chi tiêu (tạm thời) của chính phủ sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách Do đó mộtnguyên tắc vô cùng quan trọng là phải đảm bảo rằng các chính sách kích thích nềnkinh tế trong ngắn hạn không có tác động xấu tới nền kinh tế trong dài hạn hoặc gâykhó khăn cho ngân sách trong dài hạn Do đó, các gói kích cầu chỉ được phép mangtính tạm thời, và trong ngắn hạn có thể làm tăng thâm hụt ngân sách, nhưng trong dàihạn phải không được phép làm thâm hụt ngân sách trầm trọng hơn Việc đảm bảo rằngtrong dài hạn tình hình kinh tế không kém đi cũng là yếu tố quan trọng để gói kích cầungắn hạn đạt hiệu quả hơn Việc thực hiện gói kích cầu gây thâm hụt ngân sách trongdài hạn sẽ có tác động xấu tới thị trường tài chính (do thị trường có tính forward-looking) và sẽ tạo áp lực làm tăng lãi suất điều này sẽ có tác dụng cản trở quá trìnhphục hồi nền kinh tế
Thâm hụt ngân sách lớn trong tương lai cũng đồng nghĩa với suy giảm tiết kiệm(national savings) trong dài hạn, dẫn tới giảm đầu tư và ảnh hưởng tới tăng trưởng Đó
là chưa kể tới việc thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai và lạm phát(trước mắt lạm phát không đáng lo ngại, giá năng lượng và nguyên liệu trên thị trườngthế giới vẫn ở mức thấp và cầu trên thế giới vẫn còn rất yếu, song khi nền kinh tế toàncầu phục hồi sẽ lại trở thành vấn đề lớn do lượng tiền hiện nay được các ngân hàngtrung ương bơm ra ào ạt, và vòng quay của tiền tệ khi đó sẽ tăng lên tiềm ẩn nguy cơlạm phát cao)
Tóm lại, khi cân nhắc xem xét các biện pháp kích cầu cụ thể của gói kích cầu, thì cả
ba nguyên tắc trên đều phải được tuân thủ và xem xét một cách đồng thời Nếu mộtbiện pháp kích cầu cụ thể mà vi phạm một trong ba nguyên tắc trên thì về cơ bản biệnpháp kích cầu đó chưa phải là một biện pháp kích cầu tốt Để tăng hiệu quả của góikích cầu, cần có các chính sách bổ trợ khác (không vi phạm các cam kết thương mạiquốc tế của quốc gia) như không để tỉ giá bị định giá cao (overvalued) và tăng tínhlinh hoạt của tỉ giá nhằm sử dụng công cụ này như van tự động điều chỉnh thâm hụtthương mại ở mức hợp lý và bền vững
II KHÁI QUÁT VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008 (2 )
Khủng hoảng tài chính 2007 - 2010 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ
vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứngkhoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từkhủng hoảng tài chính ở Mỹ
1 Diễn biến:
Khoảng năm 2005 – 2006, cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ tình trạngbong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ với những khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ
Trang 5rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh Từ vài năm trước đó, giá nhàtăng cao cùng với việc được phép vay với điều kiện rất đơn giản đã làm chonhiều khách hàng tranh thủ vay tiền của các ngân hàng để đầu tư vào bất động sản.
Đó là những nhà đầu cơ với hi vọng kiếm được những khoản chênh lệch giá bán từbất động sản Do đó, cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ năm 2007 thực chất là mộtquá trình ấp ủ “khủng hoảng” rất lâu trước đó
• Năm 2002 - 2004: Giá nhà đất ở các bang Arizona, California, Florida,Hawaii, và Nevada tăng trên 25% một năm → Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu
• Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005 Vào cuối mùa
hè năm 2005, thị trường bất động sản tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ khi tỷ
lệ lãi suất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đãđánh giá thấp thị trường
• Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Chỉ số xây dựngnhà ở tại Mỹ hồi giữa tháng 08 giảm hơn 40% so với một năm trước đó
- Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong sốcác nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la thời điểmquý 3 năm 2006 đã tuyên bố phá sản
- Ngày 02/04: New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất ở
Mỹ, tuyên bố phá sản
- Tháng 6: Hai quỹ phòng hộ ( Hedge Fund - một loại quỹ có tính đại chúngthấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5của Mỹ đã đỗ vỡ sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng cáckhoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ
- Tháng 8: Nguy cơ khủng hoảng tín dụng lan ra toàn cầu Nhiều nhà cho vayngừng cho vay tín dụng mua nhà Cục dữ trữ liên bang đã cho các ngân hàng vay
100 tỷ đô la với lãi suất thấp
- Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng
về khả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn
- Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủthông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán đượcđảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảngcho vay dưới chuẩn Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake và Bộ trưởng Bộtài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóngbất động sản
Trang 6- Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàngvay với lãi suất thấp Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ saungày 19 tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la).
- Ngày 17/12/2007: Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan sang châu Úc với nạnnhân là Tập đoàn Centro Properties, một chủ sở hữu của các phố buôn bán lớn ở Mỹtại Úc sau khi tập đoàn này đưa ra cảnh báo lợi nhuận giảm Cổ phiếu CentroProperties đã tụt giá 70% tại các sàn giao dịch ở Sydney
• Năm 2008: các ngân hang, tổ chức tài chính lần lượt tuyên bố phá sản, bị quốchữu hóa hay bị mua lại
- Ngày 11/1: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi vàvốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khingân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khóđòi quá lớn
- Ngày 30/1: Ngân hàng lớn nhất Thuỵ Sĩ UBS công bố trích lập dự phòng 4
tỷ USD, nâng tổng số tiền trích lập dự phòng lên 18,4 tỷ USD do những thất thoátliên quan đến cuộc khủng hoảng cho vay cầm cố
- Ngày 17/2: Anh quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock
- Ngày 28/2: Ngân hàng DZ Bank của Đức được đưa vào danh sách các nạnnhân của cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn với tổng giá trị tài sản mất giá là1,36 tỷ euro
- Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một
cổ phiếu để tránh phá sản Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúpcác khoản lỗ của Bear Stearn
- Ngày 29/4: Lần đầu tiên trong 5 năm, Deutsche Bank đã công bố một khoảnthua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợxấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản
- Ngày 11/7: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàngIndyMac Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trướctới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày
- Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báocáo thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla
- Ngày 31/7: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD → Deutsche Banktrở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu
- Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn FannieMae và Freddie Mac
- Ngày 11/9: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bánlại chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%
- Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đôla
- Ngày 15/9: Lehman Bothers tuyên bố phá sản Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở
Mỹ bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từsau sự kiện 11/9/2001
Trang 7- Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công
ty này tránh phá sản
- Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trịgiá 700 tỷ đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tíndụng Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này
- Ngày 22/9: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâutóm hoạt động của Lehman tại châu Á Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tạichâu Âu và Trung Đông Mitsubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phầnMorgan Stanley
- Ngày 23/9: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs;Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghingờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ
- Ngày 25/9: Washington Mutual Inc (WaMu), một trong những ngân hànglớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thếchấp Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soátWaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorganChase & Co với giá 1,9 tỷ USD Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thànhngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ
- Ngày 26/9: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhất
Mỹ được chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase& Co vớigiá 1.9 tỷ đôla
- Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ
do bộ Tài chính Mỹ đề xuất
- Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàngcho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đốithủ Citigroup
- Ngày 1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD(tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảmthuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷUSD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ100.000 USD lên 250.000 USD…
Từ đó, cuộc khủng hoảng tài chính ngày càng lan rộng ra toàn thế giới Hàngloạt các ngân hàng lớn nhỏ bị sụp đổ, bị sáp nhập hoặc quốc hữu hóa Tín dụng toàncầu bị co rút lại Các tập đoàn sản xuất kinh doanh gặp khó khăn tiếp cận nguồn vốnvay ngắn hạn và dài hạn
Thả nổi tín dụng – cho vay dưới chuẩn:
Trang 8Chính sách tiền tệ buông lỏng, hạ thấp lãi suất quy định, giảm giá đồng USD,kích thích con người tiêu dùng nhiều hơn thu nhập, đồng thời cho phép các thiết chếtài chính mở mang các nghiệp vụ cho vay ngày càng phức tạp khiến cho tín dụng bịlạm dụng quá liều vào kích thích tăng trưởng và dẫn đến phản tác dụng.
Nguyên Thống đốc Hệ thống Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Alan Green Span đãliên tục điều chỉnh hạ thấp lãi suất Federal Funds từ 6% xuống còn 1% vào ngày25/06/2003, từ đó dẫn đến các ngân hàng Thương mại cũng hạ lãi suất cho vay (từ9-10%/năm xuống còn 4-5%/năm)
Các NHTM có thể cho người dân vay mua nhà “dưới chuẩn” đầy rủi ro vớimột quy mô lớn là do được tài trợ từ các công ty tài chính và ngân hàng đầu tư Đặcbiệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấpvốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành loạichứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, cácngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear Stearms, Merrill Lynch Các công ty tàichính, ngân hàng đầu tư này lại phát hành trái phiếu trên cơ sở các chứng từ cho vaythế chấp đó để bán cho các ngân hàng Mỹ khác và ngân hàng nhiều nước trên thếgiới làm tài sản tích trữ do uy tín của các ngân hàng phát hành Việc “chứng khoánhoá” các khoản vay thế chấp đã vượt khỏi sự kiểm soát của nhà nước Chuỗi hoạtđộng kinh doanh mang tính chất đầu cơ đã làm thị trường nhà đất nóng lên, giá nhàđất bị đẩy lên cao, trở thành “bong bóng” Và việc “bong bóng” nổ là không thểtránh khỏi
Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến chovay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nênmột áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào
đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênhlệch họ sẽ hưởng trọn
Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng kinh tế Nobel kinh tế
2001, kết luận: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệmchính của mình đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ đãkhông làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm đểgiúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm trọng của mình, như làgiữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao hoặc khi giá nhà rớt giá”
Khủng khoảng niềm tin
Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm khốccủa niềm tin Khi bắt đầu cảm nhận thấy mùi của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tàichính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả mọi người đều bịthua lỗ
3 Hậu quả:
Hậu quả lớn và nặng nề nhất là phá huỷ lực lượng sản xuất, đẩy lùi sự phát triểncủa kinh tế thế giới Trước hết là đối với nước Mỹ ở Mỹ, cuộc khủng hoảng tàichính biến thành cuộc khủng hoảng kinh tế, sản xuất suy thoái, thất nghiệp tăng lên,
do đó được xem là cuộc khủng hoảng “3 trong 1”
Trang 9 Cuộc khủng hoảng làm phá sản hàng loạt ngân hàng và công ty tài chính, kể
cả những ngân hàng, công ty tài chính hàng đầu nước Mỹ
Bear Stearn - một trong những tập đoàn môi giới chứng khoán và ngânhàng đầu tư hàng đầu phố Wall, đã có bề dày hoạt động 85 năm trên thị trường tàichính Mỹ, bị thua lỗ nặng nề khi thị trường nhà đất sụt giá Ngày 16/3/2008, BearStearn đã tuyên bố phá sản và bị Morgan Chase mua lại với giá 2 USD một cổphiếu
Lehman Brather, ngân hàng đầu tư đứng hàng thứ tư ở phố Wall có 158năm hoạt động vào ngày 15/9/2008 đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản do thua lỗ,tổng số nợ lên đến 768 tỷ USD
Thua lỗ phá sản còn diễn ra với hàng loạt ngân hàng, công ty tài chính lớn khácnhư: Indy Mac Bancorp Inc, Freddie Mac và Fannie Mae, Merrill Lynch & Co, CityGroup, National Bank of Commerce, Bank of Clark Country Thị trường chứngkhoán Mỹ chao đảo, nhiều cổ phiếu rớt giá thê thảm Cả bốn chỉ số quan trọng củathị trường chứng khoán Mỹ là các chỉ số DowJone, S&P 500, Nasdaq và FTSE đềusụt giảm nghiêm trọng, một sự sụt giảm mạnh nhất từ những năm 1930 trở lại đây
Sản xuất và tiêu dùng ở Mỹ cũng rơi vào tình trạng hết sức khó khăn.
Ngành sản xuất ô tô, một trong những ngành sản xuất quan trọng nhất của kinh
tế Mỹ có doanh thu giảm nghiêm trọng Ba hãng sản xuất ô tô hàng đầu nước Mỹ làGeneral Motor, Ford, Chrysler đều thua lỗ nặng nề
Tháng 1/2008, Nortel Networks Corp, một trong những tập đoàn thiết bị viễnthông lớn nhất của Mỹ, tháng 2/2008, Lyondell Chemical, một trong những nhà sảnxuất hoá chất lớn nhất nước Mỹ, đã phải nộp đơn xin bảo lãnh phá sản
Kinh tế suy thoái, tiêu dùng suy giảm nghiêm trọng làm hàng loạt các công tybán lẻ lớn của Mỹ như Circuit City Store Inc, Sharper Image Corp, Steve & Barry’sLLC, Macy Inc, Ann Taylor Stores Inc, buộc phải phá sản hoặc xin bảo hộ phásản
Sản xuất đình đốn, sa thải lao động làm thất nghiệp của Mỹ tăng lên từng tháng
và đạt mức cao nhất trong 25 năm qua, từ 2,59 triệu người năm 2007 lên 3,84 triệunăm 2008 và 4,61 triệu người vào tháng 2/2009
Từ Mỹ, cuộc khủng hoảng làm chao đảo thị trường tài chính, thị trường chứngkhoán, làm phá sản nhiều ngân hàng, công ty tài chính, nhiều tập đoàn kinh tế lớn ởnhiều nước trên thế giới, gây suy giảm nghiêm trọng các quan hệ thương mại, tàichính, đầu tư quốc tế và kinh tế thế giới nói chung Các Ngân hàng Royal Bank(Scotland), Kaupthing, Landsbanki, Glitnir (Iceland), Ngân hàng Northern Bank,công ty cho vay thế chấp Brandford & Binglay (Anh), các Ngân hàng IKB, DZBank, Deutsche Bank, Sachsen LB (Đức), Tập đoàn Bảo hiểm Yamato LifeInsurance Co (Nhật Bản) và nhiều ngân hàng khác là những nạn nhân của cuộckhủng tài chính Mỹ, buộc phải xin trợ giúp của chính phủ hoặc bị chính phủ quốchữu hoá
Nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho thấy: Trong năm
2008, cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu đã làm tổn thất 50 nghìn tỷ USD trongtổng tài sản tài chính của thế giới Trong đó, các nước đang phát triển châu Á là chịu
Trang 10thiệt hại nặng nề hơn cả với tổng giá trị bị thiệt hại là 9,6 nghìn tỷ USD, cao hơntổng giá trị GDP trong một năm của những nước này Mặc dù chỉ có hơn 20 nướcchính thức tuyên bố rơi vào suy thoái kinh tế, nhưng trên thực tế hầu hết các nướctrên thế giới đều bị ảnh hưởng, gặp khó khăn và suy giảm tốc độ tăng trưởng ở cácmức độ khác nhau
Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB): Năm 2009:
Kinh tế thế giới tăng trưởng chỉ còn 0,9%
Tốc độ tăng trưởng của các nước OECD là 0,3% (trong đó, của Mỹ là 0,9%, khu vực đồng EURO là - 0,6%)
- Tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển là chỉ là4,5%
Các dự báo về kinh tế thế giới của Quỹ Tiền tệ quốc tế, Tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế (OECD), Citi Group hay Reuters cũng cùng xu hướng suy giảm nhưvậy
Cuộc khủng hoảng cũng làm thay đổi tương quan giữa các nước, các nền kinh
tế lớn trên thế giới : có sự suy giảm vai trò của một số nước (như Mỹ, Nhật, ) và sựnổi lên của một số nước khác (như Trung Quốc, ấn Độ, Nga, Braxin, ) Do đó, xuấthiện yêu cầu phải thay đổi hệ thống kinh tế, tài chính thế giới với vai trò chi phối,thống trị của Mỹ nhiều năm qua, thay đổi cơ cấu và quy chế hoạt động của IMF,
WB, WTO; tìm kiếm những đồng tiền khác thay thế vai trò độc quyền của đồng Đô
la Mỹ làm đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế
Thất nghiệp gia tăng:
Năm 2009, tình hình cũng không khả quan Các ngân hàng tiếp tục chật vậtđối mặt với cuộc khủng hoảng Những đợt cắt giảm nhân công liên tục xảy ra từnhững tập đoàn lớn trên thế giới Trong tháng 1, Microsoft tuyên bố cắt giảm 5000lao động Trong khi đó, Intel cũng tuyên bố sa thải 6000 công nhân Cuối tháng 1/
2009, hàng loạt những đại công ty khác cũng thông báo số lượng công việc cắt giảmvới mức kỉ lục Caterpilla và Pfizer , hai công ty lớn trong ngành xây dựng và dượcphẩm thế giới cùng sa thải tổng số gần 40.000 nhân công trên toàn cầu Ở một mức
độ thấp hơn, công ty viễn thông Sprint Nextel cắt giảm 8.000 công nhân; HomeDeport, tập đoàn bán lẻ đồ gia dụng lớn nhất thế giới đã cắt giảm 7.000 lao động.Trong khi đó General Motors, đại gia của ngành sản xuất ôtô cũng sa thải thêm2.000 nhân viên Đến cuối năm 2009, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nhờ cácchính sách can thiệp của chinh phủ các nước, nhưng vẵn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro
III ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TÀI CHÍNH TOÀN CẦU NĂM 2008 ĐẾN VIỆT NAM
1.Tình hình kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng ( 3 )
Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 có sự tăng trưởng toàn diện trong hầu hết các lĩnhvực
Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ướcđạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) vàtăng 15,8% so với năm 2006
Trang 11 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm,trong đó vốn cấp phép mới là 17,86 tỷ USD.
Giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2007 đạt gần
200 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006, trong đó nông nghiệp tăng2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thuỷ sản tăng 11%
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước tính tăng 17,1% so với năm2006.Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng21,5% so với năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng
Giá trị xuất, nhập khẩu dịch vụ cả năm 2007 ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng21,6% so với năm trước, trong đó giá trị xuất khẩu dịch vụ đạt 6 tỷ USD, tăng18,2% và giá trị nhập khẩu dịch vụ, gồm cả phí vận tải và bảo hiểm hàngnhập khẩu đạt 6,4 tỷ USD, tăng 24,9%
Lượng khách quốc tế đến nước ta trong năm 2007 ước tính đạt 4,23 triệulượt người, tăng 18% so với năm 2006
Tuy còn một số tồn tại về vấn đề nhập siêu, giá cả hàng hóa tăng cao xong nền kinh
tế Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức để đạt tốc độ tăng trưởng nhưđầu năm đã đề ra là gần 8,5%
(3)trien-toan-dien.aspx
http://www.lamdong.gov.vn/vi-VN/a/damrong/tinhhinhktxh/Pages/nam-2007-ktvn-phat-Năm 2007, nhìn chung đời sống của dân nhân tiếp tục ổn định và từng bướcđược cải thiện Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố như giá tiêu dùng liên tụctăng, sản xuất nông nghiệp ở một số vùng chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, nhưngđời sống của đại đa số dân cư ở nông thôn vẫn giữ được mức ổn định, do giá nôngsản, thực phẩm tăng đã khuyến khích nông dân sản xuất hàng hóa, tăng thêm thunhập Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75%năm 2007 vượt kế hoạch đề ra (16%)
Vị thế quốc tế của Việt Nam gia tăng với việc chính thức trở thành thành viênWTO và được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên HiệpQuốc
→ Tóm lại nền kinh tế - xã hội Việt Nam trước khủng hoảng đã có nhiều thành tíchđáng khích lệ về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút vốn đầu tư,tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, thị trường chứng khoán, vị thế quốc tế, giảmnghèo
2 Tình hình kinh tế Việt Nam trong cuộc khủng hoảng( 4)
Đối với Việt Nam, do đặc điểm của một nền kinh tế có độ mở cao, mang nặngtính chất gia công, tỷ trọng giá trị gia tăng thấp trong cơ cấu giá trị sản phẩm, nênchịu tác động rất lớn của thị trường thế giới Tuy nền kinh tế nước ta không chịu tácđộng trực tiếp của khủng hoảng tài chính toàn cầu; hệ thống tài chính - tín dụng giữđược ổn định, nhưng sự tăng trưởng kinh tế trong nước vẫn chịu ảnh hưởng bởi thị
Trang 12trường thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới 2008 đã có những ảnhhưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam Cụ thể là :
Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng :
Mặc dù hiện tại hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam chưa chịu tác độngmạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng ViệtNam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng vẫn có những hạn chế trên một sốlĩnh vực như:
- Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chínhbên ngoài và với ngân hàng Mỹ gặp khó khăn;
- Khả năng giao dịch ngân hàng, tài chính quốc tế giảm, ảnh hưởng đến nợ vayngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng và doanh nghiệp
( 4) Ghi chú : Nguồn :
1 Chính phủ (2008), Báo cáo tại Kỳ họp Quốc hội tháng 11 năm 2008;
2 Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Báo cáo nhanh
3 Thông tấn xã Việt Nam, Thông tin tổng hợp tháng 11/2008
Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế :
Tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc độ tăng trưởngkinh tế của nước ta chậm lại
Kế hoạch đầu năm 2008, tăng trưởng GDP dự kiến từ 8,5 – 9%
Tháng 5 năm 2008 Quốc hội đã điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng GDP xuống 7% Tháng 10 năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế là 6,52%
→ Năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế 6.2%
Đối với hoạt động xuất khẩu
Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam, chiếm khoảng 20-21% kimngạch xuất khẩu Khủng hoảng tài chính đã tác động làm do cầu tiêu dùng tại thịtrường Mỹ trên đà giảm mạnh Điều này dẫn đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vàothị trường Mỹ suy giảm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của ViệtNam trong năm 2008 và cả năm 2009
EU và Nhật Bản là hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam Do tácđộng của khủng hoảng, người dân tại các thị trường này cũng phải cắt giảm chi tiêu,các nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán do khó khăn về tài chính Theo đónhập khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng giảm Thực tế vớitác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính, xuất khẩu của Việt nam đã có biểu hiệngiảm sút Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2009 ước tính chỉ đạt 3,8 tỷ USD,giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước So vớicùng kỳ năm 2008, hầu hết các mặt hàng đều cho thấy có sự giảm sút kim ngạchtrong tháng 1/2009 Kim ngạch xuất khẩu tháng 11/2008 đã tiếp tục giảm và xuốngdưới ngưỡng 5 tỷ USD/tháng Đây là tháng thứ ba kim ngạch xuất khẩu suy giảm.Tháng 11 năm 2009 kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ còn 4,8 tỷ USD giảm so vớimức 5,044 tỷ USD của tháng 10 Trong đó:
Dệt may giữ được kim ngạch ở mức 780 triệu USD
Trang 13 Giày dép tăng nhẹ lên 400 triệu USD so với 396 triệu USD của tháng10/2008
Một số mặt hàng khác cũng suy giảm Trong đó đặc biệt là dầu thô giảm mạnh dogiá dầu đã giảm 60% so với mức tháng 7/2008 Khủng hoảng tài chính dẫn đến suythoái kinh tế, nhiều mặt hàng thế mạnh của Việt Nam giảm giá và tác động trực tiếpđến kim ngạch xuất khẩu
Đối với vốn đầu tư của nước ngoài ( kể cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp):
Với tình hình khủng hoảng, chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn và thị trường xuấtkhẩu có khả năng bị thu hẹp nên dòng vốn chảy vào Việt Nam có khả năng giảm sút.Thêm vào đó, hầu hết các dự án đầu tư nói chung và FDI nói riêng, phần vốn vaythường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư, nên khi các tổ chức tài chính,các ngân hàng gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay vốn không được ký kếthoặc không thể giải ngân được
Tháng 11 năm 2008 Việt Nam vẫn thực hiện khoảng 10 tỷ USD vốn giải ngân,bằng 16,2% vốn đăng ký và tăng 44% so với cùng kỳ năm 2007 (13% từ Nhật Bản
và 67% từ các nước châu Á khác), trong đó các nhà đầu tư đến từ châu Âu và Mỹchiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn khoảng 5% trong số vốn đăng ký, gần 60 tỷ USD
Hoạt động của thị trường chứng khoán gặp khó khăn, bất lợi cho các nhà đầu tư:
Do tác động của khủng hoảng tài chính, các doanh nghiệp đang niêm yết trênthị trường chứng khoán không tránh khỏi tác động xấu, đặc biệt là doanh nghiệpxuất khẩu, theo đó giá cổ phiếu sụt giảm Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu cũng cónhiều biến động Nửa đầu năm 2008, hoạt động huy động vốn trên thị trường tráiphiếu có biểu hiện đình trệ do lãi suất tăng cao, một số cân đối vĩ mô có xu hướngxấu
Khủng hoảng tài chính tác động mạnh mẽ đến tâm lý của các nhà đầu tư chứngkhoán Việt Nam, thị trường chứng khoán lập tức bị tác động xấu vì những lo ngạicủa các nhà đầu tư trong nước Cụ thể là thị trường chứng khoán liên tục suy giảm từđầu năm 2008 Chỉ số VN-Index đã giảm gần 70%, chỉ số HASTC-Index có thờiđiểm giảm xuống dưới mức 100 điểm do tác động của tình hình trong nước và đặcbiệt là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu nổ ra từ quý3/2008, khiến cho dòng vốn nước ngoài giảm mạnh, sức cầu trên thị trường yếu đi.Mặc dù vậy, trong năm 2008 vẫn có gần 90 công ty niêm yết trên thị trường chứngkhoán, nâng tổng số lên trên 340 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết Giá trị vốn hoáthị trường cổ phiếu đạt khoảng 18,5% GDP
Đối với thị trường bất động sản (BĐS) :
Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh BĐS của Việt Nam đều có tiềmlực tài chính khá hạn hẹp, phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài, chủ yếu làvốn vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng Đây là một khó khăn của doanhnghiệp kinh doanh BĐS trong điều kiện khủng hoảng tài chính
Trang 14Cuối năm 2007 tình trạng đầu cơ BĐS đã đẩy giá BĐS ở Việt Nam lên quá cao
so với giá trị thực Thị trường đã lên cơn sốt ảo, cầu ảo tăng cao Bước sang năm
2008 nền kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế,lạm phát tăng cao buộc người dân phải giảm chi tiêu, thị trường BĐS đóng băng, giáBĐS đã giảm đến 40%, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS rơi vào khó khăn, khôngbán được sản phẩm lại phải chịu lãi suất cao do chính sách thắt chặt tiền tệ làm lãisuất ngân hàng tăng cao Đến nay thị trường cũng chưa có dấu hiệu phục hồi GiáBĐS giảm sẽ kéo theo tài sản ngân hàng cũng giảm theo, nợ xấu tăng lên làm cho cơcấu vốn của ngân hàng thương mại rơi vào tình thế bất lợi
Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ mà gốc rễ là từ khủng hoảng địa ốc tuykhông làm ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường BĐS ở Việt Nam nhưng nó cũng ảnhhưởng gián tiếp qua các tác động đến thị trường tài chính tiền tệ, thị trường chứngkhoán và các yếu tố tâm lý của người dân
Đối với thị trường hàng hoá và dịch vụ :
Trong tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm
kế hoạch sản xuất kinh doanh, thu hẹp quy mô do chi phí sản xuất tăng, đặc biệt làlãi vay ngân hàng
Một trong những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam là ngành du lịchcũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Lượng khách tới Việt Nam trong năm 2009 đượcdự báo là sẽ giảm nghiêm trọng, buộc ngành du lịch phải giảm giá phòng và giá dịchvụ du lịch hàng loạt Khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến lượng khách du lịch quốc
tế đến Việt Nam cũng giảm sút Trong tháng 1/2009, khách quốc tế đến nước ta ướctính đạt 370 nghìn lượt người, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
Khách đến với mục đích du lịch đạt 231,5 nghìn lượt người, giảm 10,5%;
Khách đến vì công việc đạt 65 nghìn lượt người, giảm 17,6%;
Khách thăm thân nhân đạt 55 nghìn lượt người, giảm 1,2%
Sản xuất trong nước bị đình đốn, đầu tư tăng thấp, tiêu dùng có dấu hiệu chậm lại, dẫnđến sự dư thừa đáng kể năng lực sản xuất, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là dư thừalao động.14 Hiện nay tình trạng mất việc làm ở Việt Nam đang gia tăng nhanh, dolĩnh vực xuất khẩu sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày da, thủy sản, mỹnghệ và tiểu thủ công nghiệp15 bị cắt giảm mạnh đơn hàng Đó là những dấu hiệucho thấy tình trạng thiếu việc làm đang tiến dần đến ngưỡng nhạy cảm
IV ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA GÓI KÍCH CẦU VÀ QUÁ TRÌNH PHỤC HỒI CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ SAU CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH ĐẾN NAY
A Tác động của gói kích cầu :
Tình hình triển khai, thực hiện gói kích cầu (5)
Trang 15Từ đầu năm 2009, Chính Phủ đã thực hiện các gói kích cầu với quy mô đến nayđược ước tính khoảng 160 nghìn tỷ đồng bao gồm nhiều khoản được sử dụng chonăm 2009 và một số khoản chi trong năm tới
(5) http://kinhtehoc.net/forum/archive/index.php/thread-472.html
Thứ nhất, hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng: Khoảng 17 000 tỷ đồng
Tại Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009, Thủ tướng Chính phủ đã chophép hỗ trợ lãi suất 4% cho các tổ chức, cá nhân vay vốn lưu động để sản xuất, kinhdoanh Thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 8 tháng đối với các khoản vay theohợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01/02đến ngày 31/12/2009
Đồng thời, để góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi, lấy lại đà tăng trưởngsau suy giảm kinh tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 443/QĐ-TTg ngày4/4/2009 về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung, dài hạn ngânhàng để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh Việc hỗ trợ lãi suất được thực hiện từngày 01/ 4/2009 đến ngày 31/12/2011 Mức hỗ trợ lãi suất tiền vay là 4%/năm, tínhtrên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế, nhưng không quá 24 tháng
Ngày 17/4/2009, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 497/QĐ-TTg về việc
hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp
và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn Mức tiền vay tối đa và mức lãi suấtđược hỗ trợ như sau:
- Đối với các sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất, chếbiến nông nghiệp và máy vi tính: mức tiền vay tối đa bằng 100% giá trị hàng hoá(riêng đối với máy vi tính, mức tiền vay tối đa không quá 05 triệu đồng/chiếc) vàđược hỗ trợ 100% lãi suất vay
- Đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp: mức tiền vay tối đa bằng 100% giá trịhàng hoá nhưng không vượt quá 07 triệu đồng/ha và được hỗ trợ lãi suất 4%
- Đối với vật liệu xây dựng các loại để làm nhà ở: mức tiền vay tối đa bằng 100%giá trị hàng hoá nhưng không vượt quá 50 triệu đồng và được hỗ trợ 4% lãi suấtvay
Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng đối với các sản phẩm máy móc, thiết
bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và máy vi tính và 12tháng đối với các sản phẩm vật tư nông nghiệp và vật liệu xây dựng các loại để làmnhà ở, áp dụng đối với các khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết, giải ngântrong khoảng thời gian từ ngày 01/5-31/12/ 2009
Riêng các doanh nghiệp vay vốn lưu động để nhập khẩu hàng tiêu dùng chưathiết yếu, vay kinh doanh chứng khoán, tài chính, ngân hàng, vay vốn để trả nợ cáchợp đồng tín dụng khác… không được hưởng chính sách ưu đãi này
Thứ hai, tạm hoãn thu hồi vốn đầu tư XDCB ứng trước: Khoảng 3.400 tỷ
đồng
Tại Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008, Chính phủ đã chỉ đạo tạmhoãn thu hồi các khoản vốn ngân sách nhà nước đã ứng trước kế hoạch năm 2009,trừ các khoản đã được tạm ứng năm 2009 để hoàn thành trong năm 2008
Trang 16Thủ tướng Chính phủ đã cho phép hoãn thu hồi khoảng 3.400 tỷ đồng vốn ngânsách đã ứng trước theo Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2009
Thứ ba, ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách:
Khoảng 37.200 tỷ đồng Cụ thể:
(1) Ứng trước vốn cho các dự án cấp bách, có khả năng hoàn thành trong năm 2009
và 2010: Khoảng 26.700 tỷ đồng Ngày 20/02/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 237/QĐ-TTg cho phép tạm ứng 3.500 tỷ đồng cho Bộ Giaothông vận tải và 1.000 tỷ đồng cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để bổsung vốn cho các dự án cấp bách, có khả năng hoàn thành trong năm 2009 và 2010
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiệnviệc rà soát các công trình, dự án có khả năng hoàn thành trong năm 2009, 2010,trình Thủ tướng Chính phủ cho phép ứng khoảng 22.200 tỷ đồng để triển khai thựchiện nhằm đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành công trình đưa vào sử dụng
(2) Ứng vốn hỗ trợ thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với
61 huyện nghèo: 1.525 tỷ đồng Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư đã có thông báo số 29/TB-BKH ngày 26/3/2009 ứng trước 1.525 tỷ đồng từngân sách nhà nước cho 61 huyện nghèo (mỗi huyện 25 tỷ đồng) để hỗ trợ thực hiệnChương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
(3) Ứng trước khác: khoảng 9.000 tỷ đồng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện các
khoản ứng trước để tăng kinh phí kiên cố hoá kênh mương, đầu tư hạ tầng làngnghề, hạ tầng thuỷ sản 3.000 tỷ đồng; hỗ trợ vốn xây dựng nhà ở cho hộ nghèo 500
tỷ đồng; thực hiện Đề án xây dựng nhà ở xã hội 1.000 tỷ đồng; cấp bù chênh lệch lãisuất 2.500 tỷ đồng; bổ sung vốn điều lệ Quỹ Tín dụng Nhân dân Trung ương 500 tỷ;
bổ sung kinh phí xúc tiến thương mại trong và ngoài nước; hỗ trợ các doanh nghiệp
để duy trì lao động, mở rộng sản xuất và xuất khẩu 1.000 tỷ đồng,
Thứ tư, chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009: Khoảng 30.200 tỷ đồng
Chính phủ đã trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép kéo dài thời gian giảingân vốn ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2008 đến hếttháng 6 năm 2009 với số vốn NSNN khoảng 22.500 tỷ đồng và vốn trái phiếu chínhphủ khoảng 7.700 tỷ đồng
Thứ năm, phát hành thêm trái phiếu Chính phủ trong năm 2009: Khoảng 20.000 tỷ đồng
Thứ sáu, thực hiện chính sách giảm thuế: Khoảng 28.000 tỷ đồng
Để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và kích cầu tiêu dùng, Chính phủ đãthực hiện gói kích cầu thông qua các biện pháp giảm thuế Cụ thể như sau:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) : Giảm thu NSNN do thực hiện chính sách
Trang 17giảm thuế TNDN khoảng 13.000 tỷ đồng Chính phủ đã cho phép giảm 30% số thuếTNDN phải nộp của quý IV năm 2008 và số thuế TNDN phải nộp của năm 2009 đốivới thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.Giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong thời gian 9 tháng đối với số thuế TNDN phảinộp năm 2009 của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói trên (70% số thuế còn lại saukhi giảm) và của các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông,lâm, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử Đây là khối doanh nghiệp sử dụngnhiều lao động và chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu Theo đócho phép giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của quý IV năm 2008 đối với thu nhập
từ hoạt động sản xuất sợi, dệt, nhuộm, may và sản xuất các mặt hàng da giầy
- Thuế thu nhập cá nhân : Giảm thu NSNN do thực hiện chính sách giảm thuế thu
nhập cá nhân khoảng 6.500 tỷ đồng Đối tượng được giãn nộp thuế thu nhập cá nhân
là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiềncông; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn (bao gồm cả chuyểnnhượng chứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thươngmại; thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng; cá nhân không cư trú cóthu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn ( bao gồm cả chuyển nhượngchứng khoán); thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại Thờigian được giãn nộp thuế là từ ngày 01/01/2009 đến hết ngày 31/5/2009
- Thuế giá trị gia tăng : Giảm thu NSNN do thực hiện chính sách giảm thuế giá trị
gia tăng khoảng 8.600 tỷ đồng Chính phủ đã cho phép:
Tạm hoàn 90% số thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào đối với hàng hoá thựcxuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngânhàng
Hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán
Giảm thuế đối với 19 nhóm hàng hóa, dịch vụ khác, bao gồm: than đá; hoá chất
cơ bản; sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất; ô tô các loại; linh kiện ô tô; tàu,thuyền; khuôn đúc các loại; vật liệu nổ; đá mài; ván ép nhân tạo; sản phẩm bêtông công nghiệp; lốp và bộ săm lốp cỡ từ 900-20 trở lên; ống thuỷ tinh trungtính; sản phẩm luyện, cán, kéo kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý, trừ vàngnhập khẩu; máy xử lý dữ liệu tự động và các bộ phận, phụ tùng của máy; bốcxếp; nạo vét luồng, lạch, cảng sông, cảng biển; hoạt động trục vớt, cứu hộ; vậntải bao gồm: vận tải hàng hoá, hành lý, hành khách, vận tải du lịch bằng đườnghàng không, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, trừ vận tải quốc tế; kinh doanhkhách sạn; dịch vụ du lịch theo hình thức lữ hành trọn gói; in (trừ in tiền)
Bộ Tài chính hướng dẫn việc hoàn và giảm thuế GTGT, đồng thời quy địnhviệc giảm 50% mức thuế suất thuế GTGT theo Danh mục hàng hoá của Biểu thuếnhập khẩu ưu đãi Tại Quyết định 58/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủtướng Chính phủ đã cho phép giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với mặthàng như sợi, vải, hàng may mặc, da giầy, xi măng, gạch ngói, xe mô tô hai ba bánhtrên 125cm3; kéo dài thời gian nộp thuế giá trị gia tăng đến 180 ngày đối với các lô
Trang 18hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyêndùng nằm trong dây chuyền công nghệ thuộc loại trong nước chưa sản xuất
Ngoài ra, Chính phủ cũng đã chỉ đạo giãn thời gian ân hạn nộp thuế nhập khẩu; điềuchỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm nguyên liệu đầu vào cho sản xuấtnhư:
Nguyên liệu để sản xuất thuốc kháng sinh;
8 nhóm xơ, sợi tổng hợp;
Một số loại linh kiện, phụ tùng điện tử; nguyên liệu nhựa, nguyên vật liệu xâydựng; nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Đồng thời thực hiện điều chỉnh giảm thuế đối với 8 nhóm thuốc chữa bệnh để gópphần bình ổn thị trường, giảm giá thuốc (từ các mức 2%, 5% và 8% xuống 0%)
Thứ bảy, tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp: Khoảng 17.000
tỷ đồng (1 tỷ USD)
Thực hiện Nghị quyết 30/2008/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Tài chính đã chủtrì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tăng thêm dự nợ bảo lãnh tín dụng cho cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồnvốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm mới Tổng dưnợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn ngoài nước nhập thiết bị, côngnghệ, phục vụ sản xuất, kinh doanh ước tính khoảng 17.000 tỷ đồng
Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn bảo lãnh tín dụng, Thủtướng Chính phủ ra Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 ban hành Quychế bảo lãnh cho doanh Giao Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Phát triển ViệtNam hướng dẫn việc quản lý và sử dụng Quỹ dự phòng bảo lãnh vay vốn; cơ chếphối kết hợp giữa Ngân hàng Phát triển Việt Nam với các NHTM trong việc bảolãnh doanh nghiệp vay vốn và các vấn đề liên quan khác
Thứ tám, các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội: Khoảng 7.200 tỷ đồng
Chính phủ đã cho phép tăng mua dự trữ quốc gia về gạo và xăng dầu, dự kiếntổng nguồn vốn cho nhiệm vụ này khoảng 2.800 tỷ đồng (trong đó mua gạo là 1.300
tỷ đồng; xăng dầu là 1.500 tỷ đồng)
Chính phủ cũng cho phép ứng chi để thực hiện các nhiệm vụ chi thường xuyênnhằm đảm bảo an sinh xã hội phát sinh ngoài dự toán khoảng 4.400 tỷ đồng
Chính phủ đã quyết định hỗ trợ cho các hộ nghèo đón Tết với mức 200.000 đồng/người nhưng không vượt quá 1 triệu đồng/1 hộ nghèo Việc xác định hộ nghèo thựchiện theo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTTg của Thủ tướng Chính phủban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010
Đối với các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, Chính phủ sẽ hỗ trợ100% từ ngân sách Trung ương để hỗ trợ người nghèo Các địa phương có tỷ lệ điềutiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50% thì ngân sách trungương sẽ hỗ trợ 50% kinh phí Các địa phương còn lại, kinh phí do ngân sách địaphương tự thu xếp