IV LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng luận văn “ Phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng đào tạo theo tín chỉ tại Thư viện trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp” là công trình tổ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
THÂN VĂN DIỄN
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐÁP ỨNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2II
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
THÂN VĂN DIỄN
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐÁP ỨNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Viết Nghĩa
HÀ NỘI - 2014
Trang 3III
Góp ý của Hội đồng Bảo vệ luận văn
………
………
………
………
………
………
……… ……
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4IV
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “ Phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng đào tạo theo tín chỉ tại Thư viện trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp” là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện nghiêm túc dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Viết Nghĩa Các tư liệu, số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Nếu có điều gì sai sót tôi xin tự chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Trang 5V
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả các cấp lãnh đạo, các Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn sâu sắc tới Thầy giáo Tiến sĩ Nguyễn Viết Nghĩa
đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin chân thành cám ơn tới tất cả các cấp lãnh đạo, các Thầy Cô giáo, các cán
bộ, các đồng nghiệp của Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Do thời gian nghiên cứu không nhiều, phạm vi nghiên cứu rộng và trình độ chuyên môn còn hạn chế, nên luận văn chắc không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong được nhận những ý kiến đóng góp của Hội đồng, của các Thầy Cô giáo, của các đồng nghiệp, của bạn bè để tác giả tiếp tục hoàn thiện và phấn đấu trong quá trình công tác của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Trang 6VI
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN IV LỜI CẢM ƠN V DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT X DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ XI
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng nghiên cứu 7
4 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Giả thuyết khoa học 8
8 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 9
9 Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản về phát triển nguồn lực thông tin 10
1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin 10
1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin 12
1.1.3 Tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin 12
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển nguồn lực thông tin 16
1.2.1 Các yếu tố khách quan 16
1.2.2 Các yếu tố nội tại của cơ quan thông tin 19
1.3 Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ 22
1.3.1 Lịch sử ra đời và phát triển 22
1.3.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 22
1.3.3 Chức năng nhiệm vụ của Trường 25
Trang 7VII
1.3.4 Đặc điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ 25
1.3.5 Yêu cầu của nhà trường trước phương thức đào tạo theo tín chỉ 26
1.4 Thư viện Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp trước yêu cầu đào tạo theo tín chỉ 27
1.4.1 Chức năng và nhiệm vụ của thư viện Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp 27
1.4.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 28
1.4.3 Cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin 29
1.4.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin khi đào tạo theo tín chỉ 30
1.5 Vai trò của nguồn lực thông tin trong đào tạo theo tín chỉ tại Trường 39
1.5.1 Vai trò của nguồn lực thông tin đối với giảng viên, cán bộ nghiên cứu khi đào tạo theo tín chỉ 40
1.5.2 Vai trò của nguồn lực thông tin đối với học sinh, sinh viên khi đào tạo theo tín chỉ 41 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐÁP ỨNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP 43
2.1 Nguồn lực thông tin của Thư viện trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp 43
2.1.1 Nguồn lực thông tin xét theo loại hình tài liệu 43
2.1.2 Nguồn lực thông tin xét theo môn loại khoa học 49
2.1.3 Nguồn lực thông tin xét thời gian xuất bản của tài liệu 50
2.1.4 Nguồn lực thông tin xét theo ngôn ngữ xuất bản của tài liệu 51
2.2 Công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp 52
2.2.1 Chính sách bổ sung tài liệu/Diện bổ sung tài liệu 53
2.2.2 Phương thức bổ sung tài liệu 54
2.2.3 Kinh phí bổ sung tài liệu 57
2.2.4 Quy trình bổ sung tài liệu 59
2.2.5 Công tác bảo quản và thanh lý tài liệu 60
2.2.6 Hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin 62
Trang 8VIII
2.3 Các yếu tố tác động đến công tác phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện
trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp 63
2.3.1 Nhận thức của cán bộ lãnh đạo 63
2.3.2 Trình độ của cán bộ thư viện 64
2.3.3 Nhu cầu tin của người dùng tin 65
2.3.4 Kinh phí phát triển nguồn lực thông tin 65
2.3.5 Hợp tác chia sẻ thông tin 66
2.3.6 Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin 67
2.3.7 Vấn đề bản quyền 68
2.4 Đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu tin khi đào tạo theo tín chỉ 68
2.4.1 Đánh giá từ phía cán bộ, giảng viên 68
2.4.2 Đánh giá từ phía sinh viên 70
2.5 Đánh giá công tác phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp 73
2.5.1 Ưu điểm, hạn chế 73
2.5.2 Thành tựu và bài học kinh nghiệm 74
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐÁP ỨNG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP 78
3.1 Giải pháp về xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nguồn lực thông tin 78
3.1.1 Đổi mới cơ chế, chính sách của nhà trường đối với hoạt động của thư viện 78
3.1.2 Đổi mới cơ chế, chính sách bổ sung nguồn lực thông tin cho thư viện 80
3.1.3 Tăng cường kinh phí hoạt động cho thư viện 85
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin 87
3.2.1 Tăng cường nguồn tài liệu nội sinh 88
3.2.2 Nâng cao chất lượng lựa chọn tài liệu đặt mua 89
3.2.3 Tăng cường nguồn tài liệu qua đường trao đổi, tặng, biếu 91
3.2.4 Đẩy mạnh công tác số hóa tài liệu 91
3.3 Các giải pháp hỗ trợ phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện để đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ 94
Trang 9IX
3.3.1 Nâng cao trình độ của cán bộ thư viện 94
3.3.2 Nâng cao trình độ của người dùng tin 95
3.3.3 Đẩy mạnh phối hợp phát triển nguồn lực thông tin 96
3.3.4 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác phát triển nguồn lực thông tin 98
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 1 108
PHỤ LỤC 2 111
Trang 10HSSV Học sinh sinh viên
KH&CN Khoa học và Công nghệ
Trang 11XI
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 1.1: Bảng cơ cấu nhân sự phân chia theo độ tuổi 28
Bảng 1.2: Cơ cấu nhân sự theo trình độ tại Thư viện 29
Bảng 1.3: Tổng số phiếu phát ra và thu về theo các nhóm đối tượng 31
Bảng 1.4: Bảng cơ cấu sinh viên trường ĐHKTKTCN (năm 2014) 33
Bảng 1.5: Bảng thông tin về thời gian sử dụng đọc tài liệu mỗi ngày của NDT 34
Bảng 1.6: Bảng thống kê nhu cầu tin của NDT theo chuyên ngành đào tạo 36
Bảng 1.7: Bảng thống kê nhu cầu tin theo dạng tài liệu 37
Bảng 1.8: Bảng thống kê nhu cầu tin theo ngôn ngữ xuất bản tài liệu 38
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp loại hình tài liệu xuất bản tại thư viện 43
Bảng 2.2: Bảng thống kê cơ cấu tài liệu truyền thống theo môn loại khoa học 49
Bảng 2.3: Thống kê cơ cấu tài liệu truyền thống theo năm xuất bản 51
Bảng 2.4: Thống kê tài liệu theo ngôn ngữ xuất bản tại Thư viện 51
Bảng 2.5: Thống kê tài liệu lưu chiểu tại Thư viện Trường 56
Bảng 2.6: Thống kê kinh phí bổ sung tài liệu của thư viện 57
Bảng 2.7: Bảng thống kê đánh giá mức độ nhu cầu tin của CB,GV 70
Bảng 2.8: Bảng thống kê đánh giá mức độ nhu cầu tin của HS,SV 72
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức trường ĐHKTKTCN 23
Hình 1.1: Thành phần người dùng tin tại Thư viện trường ĐHKTKTCN 31
Hình 1.2: Nhu cầu tin theo hình thức phục vụ ……….……… 39
Hình 2.1: Nguồn kinh phí bổ sung cho Thư viện 58
Hình 2.2: Tỷ lệ nguồn tài liệu, tư liệu sinh viên tìm kiếm và khai thác 59
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế tri thức, khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò
vô cùng quan trong, KH&CN là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra của cải vật chất Nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển, loài người đang bước vào nền văn minh trí tuệ, xã hội phát triển không phải từ sự mở rộng và hoàn thiện cái hiện
có mà chủ yếu là thay thế cái cũ đã lỗi thời lạc hậu bằng những cái mới chất lượng hơn, hiệu quả hơn Trong nền kinh tế mới, mỗi người phải biết tự đào tạo, luôn tiếp thu tri thức mới để có năng lực sáng tạo, thường xuyên đổi mới cách suy nghĩ, cách làm thì mới có thể thích nghi và làm chủ được kinh tế tri thức.Trong thời đại ngày nay, quốc gia nào không có đủ nguồn nhân lực tài năng tham gia vào nền kinh tế năng động này thì sẽ bị bỏ lại phía sau; vì vậy, trên phạm vi toàn thế giới đang diễn
ra một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng để thích ứng với sự phát triển của xã hội thông tin Trong công cuộc cải cách đó, vị trí, vai trò của giáo dục thay đổi một cách cơ bản Mô hình giáo dục cũng đang thay đổi, chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống, coi đào tạo và làm việc là hai giai đoạn tách biệt nhau sang mô hình đào tạo, học tập suốt đời; trong mô hình giáo dục mới này, giáo dục đại học (GDĐH) là hạt nhân cơ bản để xây dựng nền kinh tế tri thức
Việc đổi mới giáo dục đại học ở trên thế giới đã diễn ra từ rất sớm, theo nhà nghiên cứu Gerhad thì vào cuối thế kỷ 19 các trường phổ thông và đại học ở Mỹ áp dụng việc dạy học theo tín chỉ (TC) với triết lý tôn trọng người học, xem người học
là trung tâm của quá trình đào tạo Vượt qua biên giới nước Mỹ, phương thức đào tạo tín chỉ được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Canada, Úc, Anh, Italia
và Singapore…
Đối với nước ta, sự bùng nổ GDĐH trong thời gian qua đã dẫn đến những bất cập như hạn chế về nguồn nhân lực có trình độ cao tham gia vào quá trình đào tạo, chất lượng đầu vào, đầu ra của sinh viên chưa được như mong muốn, nội dung chương trình chưa được cải tiến cho phù hợp với phương thức đào tạo mới Những hạn chế trên đã dẫn đến hệ quả là chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo ra chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, đây là vấn đề cấp thiết cần phải đổi mới
Trang 132
Quyết định số 73/2005/QĐ-TTg ngày 6/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH khoá
XI kỳ họp thứ 6 của Quốc hội về giáo dục đã nêu rõ: “Điều chỉnh, bổ sung, hoàn
thiện cơ chế, chính sách quy chế đào tạo, tuyển sinh theo hướng mở rộng áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp”
Nghị quyết số 14/2005/NQ - CP ngày 2/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 cũng chỉ
rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ,
tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và nước ngoài”
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngày 15/8/2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín
chỉ”, chỉ đạo sát sao việc xây dựng mục tiêu đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các
trường đại học, cao đẳng
Để thực hiện chủ trương này có hiệu quả, trước tiên các trường đại học cần chủ động đổi mới chương trình đào tạo, chuyển từ mô hình đào tạo theo niên chế sang mô hình đào tạo theo tín chỉ Trong mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, vì thế, đòi hỏi sinh viên phải có tính tự giác cao trong việc tự học, tự nghiên cứu; sinh viên phải biết cách chủ động khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu được lưu giữ trong các thư viện để tham gia chủ động vào quá trinh học tập trên lớp, tham gia thảo luận, làm bài tập theo nhóm Có như vậy, khi ra trường, sinh viên mới có đủ tri thức, có kỹ năng làm việc và có bản lĩnh, trở thành người trí thức - nguồn lực quan trọng nhất và là tài nguyên quý giá nhất của mọi quốc gia
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (ĐHKTKTCN) được thành lập theo quyết định số 1206/QĐ-TTg, ngày 11/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I, được thành lập từ năm 1956 Hiện nay, trường được xác định là trường trọng điểm của Bộ Công thương với việc đào tạo đa cấp, đa ngành Trường có quy mô đào tạo khoảng 20.000 học sinh, sinh viên, bao gồm 9 ngành đào tạo trình độ đại học, 11 ngành đào tạo trình độ cao đẳng và các ngành nghề đào tạo khác như đào tạo liên thông, tại chức … Quy mô đào tao rộng lớn như vậy, đã đặt ra cho nhà trường rất nhiều thách thức và nhiệm vụ cần phải giải quyết, trong đó vấn đề quản lý hoạt động đào tạo
Trang 143
theo tín chỉ là một trong những vấn đề trọng tâm Vì vậy, ngày 30/7/2008, Hiệu trưởng nhà trường đã ra Quyết định số 255/QĐ-ĐHKTKTCN, về việc ban hành
“Quy chế đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”
Việc đổi mới phương thức dạy và học đã khẳng định tầm quan trọng và làm thay đổi sâu sắc vị thế của thư viện trong nhà trường Thư viện đã trở thành giảng đường thứ hai mà hầu hết sinh viên có nhu cầu sử dụng trong quá trình học tập của mình Phương pháp dạy và học mới đòi hỏi sinh viên phải tham khảo nhiều nguồn tài liệu hơn, cần nhiều thông tin hơn, tần suất sử dụng tài liệu lớn hơn Phương pháp đào tạo mới cũng đòi hỏi thư viện phải đưa ra nhiều giải pháp khả thi trong việc cung cấp tài liệu cho người học một cách tốt nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất và chính xác nhất Ngoài những tài liệu in truyền thống, thư viện còn phải cung cấp các nguồn dữ liệu điện tử nội sinh, các tài liệu điện tử nước ngoài, , nhằm đáp ứng nhu cầu tin (NCT) ngày càng cao của bạn đọc
Hiện nay, Thư viện trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật - Công nghiệp có trên 50.000 bản sách in và khoảng 5.000 đầu sách và các tài liệu điện từ là các bài giảng, giáo trình, khóa luận tốt nghiệp Vốn tài liệu này đã đáp ứng được một phần nhu cầu của cán bộ, giảng viên và sinh viên nhà trường Tuy nhiên, khi nhà trường chuyển từ phương thức đào tạo truyền thống sang đạo theo tín chỉ thì nhu cầu thông tin tài liệu của cả người dạy và người học đều có những thay đổi đáng kể Để đáp đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ thì công tác phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện trường ĐHKTKTCN cần phải được chú trọng quan tâm hơn nữa Nguồn tin của thư viện không chỉ cần được gia tăng về số lượng, đa dạng hóa về loại hình mà còn phải nâng cao chất lượng, phù hợp với nhu cầu của người dùng tin Đây là những đòi hỏi, thách thức rất lớn đối với Nhà trường mà trực tiếp là với đơn vị chuyên môn là Thư viện trường ĐHKTKTCN trong hoàn cảnh kinh phí eo hẹp, các nguồn lực
có hạn mà nhu cầu thông tin thì ngày càng cao và đa dạng
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển nguồn lực thông
tin đáp ứng đào tạo theo tín chỉ tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật - Công nghiệp” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn góp một
phần công sức nhỏ bé của mình để đổi mới hoạt động xây dựng nguồn lực thông tin của Thư viện, giúp Thư viện hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình khi nhà trường chuyển sang đào tạo theo tín chỉ
Trang 154
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề phát triển nguồn lực thông tin đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
Trước hết cần phải nhắc tới một công trình rất quan trọng, đó là chuyên khảo
“Fundamentals of Collection Development and Management” của tác giả Peggy Johnson xuất bản năm 2009 Trong công trình này tác giả Peggy Johson đã đề cập khá toàn diện các khía cạnh liên quan đến việc phát triển bộ sưu tập của thư viện, từ việc xây dựng kế hoạch, đảm bảo các điều kiện kỹ thuật, nhân lực, kinh phí để thực hiện kế hoạch
Công trình “Managing information resources in libraries: Collection management in theory and practice” của hai tác giả Peter Clayton và G E Gorman xuất bản năm 2001 cũng đã nêu lên các khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn quản trị nguồn thông tin trong các thư viện Oxtraylia và New Zeland
Các tác giả Maggie Fieldhouse và Audrey Marshall trong công trình
“Collection Development in the digital age”, xuất bản năm 2011 đã nêu lên các vấn
đề cốt lõi xây dựng các bộ sưu tập thư viện dưới tác động của công nghệ thông tin trong thời đại số
Ở trong nước, về mặt lý luận phát triển nguồn lực thông tin, trước hết cần
nhắc đến công trình “Phát triển vốn tài liệu trong thư viện và cơ quan thông tin”, xuất bản năm 2007 của các tác giả Phạm Văn Rính và Nguyễn Viết Nghĩa, công
trình này đã đề cập một cách khá toàn diện cơ sở lý luận chung về phát triển vốn tài
liệu trong thư viện và cơ quan thông tin Công trình “Thông tin - từ lý luận tới thực
tiễn” năm 2005 của tác giả Nguyễn Hữu Hùng tại phần 2: Tổ chức và quản lý thông tin, gồm 23 bài viết trình bày các quan điểm của tác giả về những vấn đề về chiến
lược, chính sách, quản lý nhà nước và chương trình phát triển thông tin KHCN và
kinh tế - xã hội Ngoài ra còn phải kể đến các bài viết “Một số vấn đề xung
quanh việc thu thập khác thác tài liệu xám” và “Phương pháp luận xây dựng chính sách phát triển nguồn tin” tác giả Nguyễn Viết Nghĩa đăng trên Tạp chí thông
tin và tư liệu (số 4, 2001 và số 1), các bài viết này đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng cũng như công tác thu thập các tài liệu không công bố và phương pháp luận để xây dựng chính sách phát triển nguồn tin cho các cơ quan thông tin - thư viện
Trang 165
Vấn đề phát triển nguồn lực thông tin cũng được đề cập đến trong nhiều luận văn thạc sỹ chuyên ngành Thông tin - Thư viện đã bảo vệ thành công tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội; Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Hà Nội,… Trong đó có thể kể tới một số
luận văn tiêu biểu sau:
Về vấn đề tăng cường nguồn lực thông tin đã có luận văn của các tác giả Nguyễn Thị Tùng với đề tài “Tăng cường nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội trong giai đoạn đổi mới giáo dục đào
tạo” bảo vệ năm 2003; luận văn“Tăng cường nguồn lực thông tin tại Trung tâm
Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thuận bảo vệ năm 2006,… Các tác giả trên đã đề cấp và khẳng định vai trò của tăng cường nguồn lực thông tin, chính sách tăng cường nguồn lực thông tin và các giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin tại các cơ quan thông tin - thư viện
Luận văn của tác giả Bùi Thị Sen với đề tài “Nghiên cứu phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Kinh tế quốc dân
Hà Nội” bảo vệ năm 2008, đề cập tới nghiên cứu chính sách phát triển nguồn lực
thông tin - thư viện Luận văn của tác giả Nghiêm Thị Như Ngọc với đề tài:“Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Tư liệu thuộc Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước” bảo vệ năm 2010; luận văn “Phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện trường Đại học Hoa Lư, tỉnh Ninh
Bình” của tác giả Lê Thị Tuyết Nhung, bảo vệ năm 2011 và tác giả Trần Thị Anh
Đào bảo vệ đề tài “Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin- Thư viện trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” năm 2013, tác giả Đinh Thị Nhàn bảo về đề tài “Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Đồng Nai” năm 2013 Các luận văn nêu trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề xung quanh việc phát triển nguồn lực thông tin ở từng đơn vị cụ thể
Về phát triển nguồn lực thông tin phục vụ đào tạo tín chỉ cũng đã có một số luận văn sau: Tác giả Nguyễn Tiến Đức bảo vệ luận văn với đề tài “Phát triển nguồn lực thông tin phục vụ công tác đào tạo tín chỉ tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Lao động - Xã hội” năm 2010; luận văn “Xây dựng và phát triển nguồn học liệu phục vụ đào tạo theo phươg thức tín chỉ tại Trung tâm Thông
Trang 176
tin - Thư viện trường cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật Thanh Hoá” của tác giả Trịnh Tất Đạt bảo vệ năm 2011”; gần đây, năm 2013, tác giả Trần Thị Thanh Thủy bảo vệ luận văn với đề tài “Phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện tại Thư viện trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ” Các luận văn trên đã đề cập đến vấn đề phát triển nguồn lực thông tin phục vụ đào tạo tín chỉ ở các cơ quan thông tin - thư viện cũng như đưa ra các giải pháp phát triển của NLTT trong giai đoạn mới hiện nay của đất nước
Có thể nói, hầu hết các công trình nghiên cứu ở trên đều có những phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp để phát triển NLTT trên các khía cạnh khác nhau, ở nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau Tuy nhiên, mỗi cơ quan có những điều kiện khác nhau trong việc tổ chức, quản lý thực hiện công tác phát triển nguồn lực thông tin
Ngoài ra, một số các công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên các tạp chí, kỷ yếu khoa học, hội thảo khoa học đề cập đến công tác phát triển nguồn lực thông tin Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
“Nguồn nội sinh của các trường đại học thực trạng và giải pháp phát triển”
của tác giả Trần Mạnh Tuấn công bố năm 2005, Tạp chí thông tin và tư liệu (số 3), tr.10-11
“Một số vấn đề thiết lập hình thức mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện Việt Nam” của tác giả Lê Văn Viết công bố năm 2006, Kỷ yếu hội thảo thư viện Việt Nam: Hội nhập và phát triển đề cập tới việc thiết lập các hình thức mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước
Hội thảo khoa học: “Xây dựng và phát triển nguồn học liệu phục vụ đào tạo
và nghiên cứu khoa học” do Hội liên hiệp Thư viện các trường đại học khu vực
phía Bắc phối hợp với Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia tổ chức năm 2007;
“Phát triển nguồn học liệu tại các tổ chức nghiên cứu, đào tạo hiện nay” của
tác giả Nguyễn Huy Chương, Trần Mạnh Tuấn công bố năm 2008, Tạp chí thông tin và tư liệu (số 4), tr.10-13
Trang 187
“Thư viện Đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín
chỉ” của tác giả Nguyễn Văn Hành công bố năm 2008, Tạp chí thông tin và tư liệu
(số 1), tr.30-34
PGS.TS.Trần Thị Quý “Chia sẻ nguồn lực thông tin - Yếu tố quan trọng để các cơ quan TT-TV đại học phát triển bền vững” công bố tại Hội thảo khoa học do Trung tâm TT-TV Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức năm 2009;
“Phát triển nguồn tài liệu số - cơ sở quan trọng để xây dựng thư viện điện tử trong các trường đại học” tại Hội thảo xây dựng mục lục trực tuyến và thư viện điện tử” do Đại học Sài gòn tổ chức 8/2013;
Qua việc khảo sát, phân tích, đánh giá, các tác giả đã khẳng định vị trí quan trọng của chính sách phát triển NLTT, xây dựng nguồn lực thông tin, từ đó, đề xuất một số giải pháp xây dựng chính sách tạo nguồn thông tin và chia sẻ nguồn thông tin
Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp (ĐHKTKTCN) là một trường
đa ̣i ho ̣c mới được thành lâ ̣p trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I, được thành lập từ năm 1956, cơ sở vâ ̣t chất, trang thiết bi ̣ còn nghèo nàn, nguồn lực thông tin của thư viện còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng Do
đó, đứng trước nhu cầu đổi mới về phương pháp dạy và học đòi hỏi Thư viện nhà trường phải có những giải pháp phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu đào tạo của Trường Có thể khẳng định, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện trường ĐHKTKTCN Đề tài này hướng tới việc tiếp cận bao quát các vấn đề về phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện trường ĐHKTKTCN góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy và học theo phương thức đào tạo theo tín chỉ của Nhà trường
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác phát triển nguồn lực thông tin phục vụ đào tạo theo tín chỉ
4 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật - Công nghiệp
- Thời gian: Từ năm 2007 đến nay (từ khi nhà trường chuyển sang đào tạo theo tín chỉ)
Trang 195.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nêu trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác phát triển NLTT;
- Nghiên cứu đặc điểm đào tạo theo tín chỉ
- Nghiên cứu đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ tại trường ĐHKTKTCN;
- Khảo sát và phân tích thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện trường ĐHKTKTCN;
- Đánh giá các yếu tố tác động đến công tác phát triển NLTT
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ của trường ĐHKTKTCN
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực thông tin và thư viện
Đề tài được tiến hành dựa trên các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: + Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu;
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn người dùng tin, chuyên gia thông tin;
+ Phương pháp quan sát;
+ Phương pháp thống kê, so sánh, đánh giá
7 Giả thuyết khoa học
Phát triển nguồn lực thông tin để đáp ứng nhu cầu tin tại Thư viện trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp đã mang lại một số thành quả nhất định, tuy nhiên
Trang 209
hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế như chưa chú trọng đến mảng tài liệu điện tử, các giáo trình, giáo án điện tử còn rất ít, việc tiếp cận đến nguồn thông tin này còn rất khó khăn, các tài liệu của Thư viện chủ yếu là những tài liệu cũ và lạc hậu, mảng tài liệu mới chưa nhiều, Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin nhất là khi nhà trường chuyển sang đào tạo theo tín chỉ
Nếu các giải pháp về công tác phát triển nguồn lực thông tin được thực hiện tốt sẽ đáp ứng được tốt hơn nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện, đồng thời góp phần vào đổi mới phương pháp dạy và học đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ của trường
8 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại trường Đại
học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
Chương 3: Các giải pháp phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu đào
tạo theo tín chỉ tại trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
Trang 2110
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC THÔNG TIN ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm cơ bản về phát triển nguồn lực thông tin
1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin là thành phần trung tâm của mọi hệ thống thông tin và là nguyên liệu cho mọi quá trình hoạt động trong hệ thống thông tin, thư viện Nội hàm của khái niệm “nguồn lực thông tin” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy theo cách tiếp cận của từng người
Khái niệm “nguồn lực thông tin” (NLTT) được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh
“Information resource” Theo từ điển tiếng Việt, “nguồn” là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc là nơi có thể cung cấp một cái gì đó Theo cách hiểu như vậy, một số người cho rằng “nguồn lực thông tin” là “sức mạnh thông tin” của một tổ chức, bao hàm cả nguồn lực thông tin của tổ chức và khả năng với tới các nguồn tin khác nhau Theo nghĩa này thì tất cả các nguồn thông tin được sở hữu bởi tổ chức hoặc người dùng tin của tổ chức đó có thể với tới được thì đều có thể gọi là nguồn lực thông tin của tổ chức đó
Một quan điểm khác đồng nhất nguồn lực thông tin với vốn tài liệu khi cho rằng “nguồn lực thông tin” là tập hợp tài liệu có hệ thống dưới nhiều định dạng khác nhau, bao gồm các xuất bản phẩm, các bản thảo, bản chép tay và các loại hình tài liệu khác (băng, đĩa từ, đĩa CD, VCD, CSDL v.v.) đã được lựa chọn, xử lý, tổ chức, bảo quản và được đưa ra sử dụng Như vậy theo quan điểm này, nguồn lực thông tin là vốn tài liệu phù hợp với nhu cầu tin của nhóm người dùng tin nhất định,
được tổ chức và kiểm soát để có thể truy cập và chia sẻ dễ dàng Theo TS Lê Văn Viết "Nguồn lực thông tin là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết quả nghiên
cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Theo đó, sự hình thành, nguyên tắc xây dựng, chức năng của vốn tài liệu và của nguồn lực thông tin nhìn chung là đồng nhất v.v Do đó, coi vốn tài liệu của các cơ quan
Thông tin - Thư viện chính là nguồn lực thông tin cũng là điều dễ hiểu”
PGS TS Trần Thị Quý cho rằng “Nguồn lực thông tin chính là các dạng vật
chất khác nhau lưu giữ các thông tin/tri thức của con người được tổ chức, sắp xếp
Trang 2211
lại có cấu trúc, có ý nghĩa, có nội dung mà con người có thể khai thác được chúng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Nguồn lực thông tin này do một tổ chức, cá nhân nào đó kiểm soát chúng nhằm phục vụ cho lợi ích của con người”
Ngoài ra, trong Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/8/2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, tại điều 2, chương 1, có giải thích thuật ngữ "Nguồn tin khoa học và công nghệ" bao gồm sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập [18], tr 2] Như vậy, trong Nghị định này, khái niệm nguồn tin cũng tương đồng với khái niệm nguồn lực thông tin theo cách hiểu
đã trình bày trên
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng: “Nguồn lực thông tin là một dạng sản phẩm trí óc, trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng” [16], thông qua đó con người
có thể dễ dàng truy cập khai thác và sử dụng chúng nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển xã hội loài người
Tiến sĩ Nguyễn Viết Nghĩa, trong tập bài giảng “Phát triển và quản trị vốn tài liệu” dành cho học viên cao học ngành Khoa học thư viện, tại Khoa thông tin- Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cho rằng “Nguồn lực thông tin
là tập hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi dạng khác nhau của một cơ quan thông tin, thư viện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin”
Như vậy, có thể nói, tuy có những cách phát biểu khác nhau nhưng nhìn chung, các tác giả đều thống nhất ở một điểm là nguồn lực thông tin của một tổ chức là những nguồn tài liệu dưới các định dạng khác nhau mà tổ chức ấy có thể cung cấp cho người dùng tin của mình
Từ các phân tích trên, trong luận văn này, tác giả xem xét và giải quyết vấn
đề phát triển NLTT ở thư viện trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp theo nghĩa NLTT bao gồm sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn, đồ án tốt nghiệp, báo cáo nghiên cứu khoa học, các CSDL, , dưới các hình thức tồn tại vật lý khác nhau, được kiểm soát bởi thư viện nhà trường
Trang 2312
1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin
Edward Evans trong tác phẩm “Phát triển vốn tài liệu ở thư viện và trung tâm
thông tin” cho rằng “Phát triển nguồn lực thông tin/vốn tài liệu của thư viện hay
trung tâm thông tin chính là quá trình nhận biết các điểm mạnh và điểm yếu của vốn tài liệu trên cơ sở nhu cầu của người sử dụng và các nguồn tin từ cộng đồng để
cố gắng sửa chữa những điểm yếu đang tồn tại, nếu có”[11] Theo Từ điển giải
nghĩa thư viện học và tin học của Hiệp hội thư viện Mỹ “Phát triển nguồn lực thông tin” là sự phát triển bộ sưu tập của thư viện, bao gồm việc xác định và phối hợp chính sách tuyển chọn, lượng định nhu cầu của người sử dụng, những nghiên cứu về việc sử dụng sưu tập, việc đánh giá sưu tập, nhận diện các nhu cầu của sưu tập, tuyển chọn tài liệu, lập kế hoạch về việc chia sẻ tài nguyên, việc bảo quản sưu tập
và việc loại bỏ tài liệu ra khỏi sưu tập
Như vậy, có thể hiểu phát triển nguồn lực thông tin chính là quá trình làm cho vốn tài liệu của một tổ chức, cá nhân nào đó đang kiểm soát, phát triển cả về số lượng và chất lượng theo xu hướng tốt lên, giúp cho người dùng tin có thể tra cứu, khai thác thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình
1.1.3 Tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin
Công tác phát triển nguồn lực thông tin là một hoạt động sống còn, là động lực
để phát triển của mỗi cơ quan TT-TV Hằng năm, mỗi thư viện có dành phần lớn nguồn ngân sách cho hoạt động này Do đó, việc đánh giá hiệu quả đầu tư cũng như đánh giá được nguồn lực thông tin có ảnh hướng to lớn tới sự phát triển của thư viện nói chung và của công tác phát triển nguồn lực thông tin nói riêng Để đánh giá nguồn lực thông tin của thư viện trong trường đại học, luận văn đưa ra các tiêu chí sau:
1.1.3.1 Mức độ bao quát của nguồn lực thông tin đối với các chuyên ngành đào tạo của nhà trường
Với vai trò là một động lực đóng góp vào việc cải tiến giáo dục, thư viện đại học có nhiệm vụ tuyển chọn và tiếp nhận các sách báo tài liệu phù hợp của mọi lĩnh vực của chương trình giáo dục phản ánh tất cả những nguồn kinh nghiệm và sự tiến
bộ của toàn bộ thế giới, góp phần kích thích óc tò mò, sáng tạo, tìm tòi, học hỏi của
Trang 2413
sinh viên, để hoàn thành được vai trò đó thì thư viện phải có một nguồn lực thông tin có mức độ bao quát tốt để đáp ứng được nhu cầu tin của người dùng tin
Thứ nhất, bất kỳ thư viện nào cũng phải có các loại tài liệu lý luận chính trị,
tư tưởng của Đảng, Nhà nước và các chính sách chiến lược của Nhà trường Bao gồm các dạng tài liệu như: Khoa học Mác-Lênin, Khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh, các báo cáo khoa học, ….Đây chính là các tài liệu mang tính chỉ đạo, định hướng phát triển của đất nước nói chung và của các cơ quan Thông tin - thư viện nói riêng
Thứ hai, mức độ đáp ứng được nhu cầu tin của người dùng tin về các chuyên ngành mà nhà trường đào tạo, điều này thể hiện ở chỗ nguồn lực thông tin của thư viện có đáp ứng được nhu cầu về các chuyên ngành khoa học của người dùng tin hay không? Đối với các thư viện công cộng, nhu cầu tin là các thông tin đa dạng về thời sự, chính trị, văn hóa, khoa học,…còn đối với thư viện trường đại học thì nhu cầu tin của NDT chính là nhu cầu được xác định bởi cán bộ, giảng viên, sinh viên khi họ thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn trong giảng dạy, nghiên cứu, học tập trong các lĩnh vực đào tạo của nhà trường thông qua việc làm khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học, xây dựng giáo trình, biên soạn tài liệu tham khảo
1.1.3.2 Mức độ đầy đủ của nguồn lực thông tin
Đối với mỗi thư viện, nguồn lực thông tin là nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với mọi hoạt động của mình Nguồn lực thông tin không chỉ mang ý nghĩa về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt văn hóa, tinh thần, tri thức, là di sản quý báu của nhân loại mà đơn vị đã thu thập được Vì vậy, đối với mỗi cơ quan TT-TV, việc đảm bảo đầy đủ nguồn lực thông tin có vai trò to lớn đối với sự phát triển chung của đất nước, các đơn vị nói chung mà còn thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ của bạn đọc đối với các hoạt động của cơ quan TT-TV
Đối với các thư viện trường đại học, trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, người thầy với vai trò là người chỉ dẫn cho sinh viên Trong các giờ học chính khóa trên lớp việc truyền thụ kiến thức theo phương pháp mới là hướng dẫn cho sinh viên cách học, cách tìm các tài liệu, và giải thích cho sinh viên khi có những vấn đề còn vướng mắc đó là công việc của giảng viên, ngoài ra các giời thảo luận của sinh viên thì cán bộ giảng viên cũng cho câu hỏi thảo luận và chỉ các nguồn tài liệu phục vụ
Trang 2514
cho buổi thảo luận, trong các giời viết các bài tập lớn, các bài tiêu luận, khóa luận thì nguồn tài liệu quan trọng nhất để các bạn sinh viên hoàn thành các bài tập của mình chính là nguồn tài liệu có trong thư viện, các bạn có thể tìm nguồn tài liệu trên internet tuy nhiên hiện nay thì nguồn tài liệu này mặc dù rất phong phú nhưng do chưa có sự quản lý chặt chẽ do vậy chất lượng nguồn tài liệu này chưa được nhiều tin cậy, vì vậy các bạn đến thư viện để tìm nguồn tài liệu phục vụ cho việc học của mình Với việc đào tạo theo tín chỉ, sinh viên đến thư viện ngày một nhiều hơn, nhu cầu về nguồn tài liệu cũng phong phú hơn đòi hỏi thư viện cần phải có một nguồn lực thông tin đủ mạnh, có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin
Các nguồn thông tin đó bao bồm đầy đủ các loại hình: sách giáo khoa, sách giáo trình, sách tham khảo, băng hình, đĩa CD ROM bám sát với chương trình đào tạo của trường Bên cạnh đó còn có các nguồn thông tin được bổ sung từ các báo cáo khoa học, các bài báo - tạp chí, luận văn, luận án, kỷ yếu hội nghị - hội thảo Các nguồn lực thông tin phải có chất lượng tốt, phong phú về nội dung với đầy đủ các tài liệu của các nhà khoa học, các nhà xuất bản uy tín trong nước và nước ngoài, đảm bảo được nguồn thông tin cho sự nghiệp phát triển của xã hội và đất nước hiện nay
Bên cạnh nguồn tài liệu truyền thống cần xây dựng nguồn thông tin điện tử Bởi lẽ nguồn thông tin điện tử có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thông tin đầy đủ, kịp thời cho sinh viên ở bất kỳ thời điểm nào Nguồn thông tin điện tử cho phép người học có thể truy cập từ xa ở bất kỳ không gian nào, bất cứ thời gian nào
Nguồn lực thông tin tập trung trong một thư viện để đáp ứng được đồng thời nhu cầu tin của giảng viên cũng như sinh viên trong trường là rất khó khăn, vì vậy thư viện cần phải áp dụng các biện pháp hữu hiệu trong việc chia sẻ nguồn lực thông tin trong các thư viện trường đại học Việc chia sẻ nguồn lực thông tin có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau như: Thiết lập hệ thống mục lục liên hợp trực tuyến, thực hiện việc cho mượn liên thư viện, trao đổi thông tin, chia sẻ các cơ
sở dữ liệu toàn văn…
Có thể nói, một thư viện có nguồn thông tin đa dạng và đầy đủ sẽ kích thích các hoạt động khác của thư viện, tuy nhiên để có kết quả hoạt động tốt hơn đòi hỏi mỗi cán bộ thư viện phải có trình độ chuyên môn tốt, có khả năng tin học, ngoại ngữ
sẽ bổ sung được các tài liệu đảm bảo nhu cầu tin của người dùng tin trong thư viện
Trang 26Đối với thư viện các trường đại học việc xây dựng nguồn lực thông tin phải dựa trên nhu cầu của bạn đọc Nghĩa là, việc xây dựng nguồn tin phải dựa vào các ngành đào tạo của nhà trường, phù hợp với chương trình giảng dạy của giảng viên
và học tập của sinh viên Nếu nguồn cơ sở dữ liệu thông tin có chất lượng tốt phù hợp với người sử dụng thì chất lượng đào tạo sẽ được nâng lên và ngược lại chất lượng thông tin tốt nhưng chưa phù hợp với chương trình đào tạo của nhà trường sẽ dẫn đến việc không thỏa mãn được NCT của bạn đọc, làm ảnh hưởng tới chất lượng đào tào của Nhà trường
Tiêu chí này đòi hỏi trong quá trình phát triển vốn tài liệu phải chú ý đến những yếu tố có ảnh hưởng tới nội dung, thành phần vốn tài liệu, đồng thời cũng phải xem xét mối liên hệ với các thư viện khác trên cùng địa bàn hoạt động Để làm được điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ thư viện phải làm việc hết mình, phải thu thập, điều tra nhu cầu tin của người dùng tin và cung cấp cho người dùng tin những thông tin chất lượng tốt, phù hợp với nội dung yêu cầu tin Bên cạnh đó, cán bộ thư viện còn có khả năng tổ chức và quản lý tốt các nguồn thông tin này nhằm đưa ra phương pháp tìm tin phù hợp cho bạn đọc tiếp cận nguồn lực thông tin một cách chính xác và kịp thời
1.1.3.4 Mức độ cập nhật của nguồn lực thông tin
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học và đối ngũ cán bộ khoa học đã làm cho lượng thông tin tăng lên đột biến, thông tin được sản sinh ra hàng ngày, hàng giờ Vì vậy, trong chính sách bổ sung của mỗi cơ quan TT - TV luôn coi trọng việc cập nhật những thông tin mới, có giá trị sử dụng cao, đặc biệt là tại các trường đại học, với thành phần là các nhà khoa học và các cử nhân trong tương lai, họ trực tiếp tạo ra thông tin đồng thời cũng tiếp nhận các thông tin mới để cung cấp, giảng dạy cho sinh viên nghiên cứu và học tập ở các lĩnh vực khác nhau
Trang 271.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển nguồn lực thông tin
1.2.1 Các yếu tố khách quan
1.2.1.1 Các quy luật phát triển của tài liệu
Trước hết nói về quy luật gia tăng số lượng tài liệu theo hàm số lũy thừa được nêu ra bởi Sola Price Tuy nhiên nguồn gốc của quy luật này là từ quy luật phát triển khoa học của Enghen, khi ông cho rằng khoa học luôn phát triển tương ứng với khối lượng tri thức mà nhân loại tích lũy được từ các thế hệ trước
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đội ngũ những người làm công tác khoa học đang tăng lên nhanh chóng và sản phẩm của họ là tri thức khoa học cũng tăng lên rất nhanh Để ghi chép lại những tri thức này cần phải
tư liệu hóa chúng và đó chính là lý do làm cho tài liệu khoa học kỹ thuật (KHKT) cũng tăng lên nhanh chóng Điều này đã dẫn tới một hiện tượng mà các nhà khoa học gọi là hiện tượng “bùng nổ thông tin”, thể hiện ở sự gia tăng mạnh mẽ của các sản phẩm thông tin tư liệu trên thế giới mấy chục năm gần đây Do số lượng tài liệu tăng lên quá nhanh, không thư viện nào có thể có đủ tiền để bổ sung được hết những tài liệu cần thiết cho mình Ngoài ra, do số lượng tài liệu quá nhiều, làm cho việc lựa chọn tài liệu trở nên khó khăn hơn, người cán bộ bổ sung rất khó khăn trong việc chọn được đúng tài liệu phù hợp với nhu cầu đọc của NDT
Mặt khác, do số lượng tài liệu tăng lên nhanh chóng, số lượng tài liệu trên thị trường nhiều, người cán bộ bổ sung cũng có nhiều sự lựa chọn hơn khi xây dựng đơn đặt mua tài liệu cho thư viện, đây lại là ảnh hưởng tích cực của sự bùng nổ thông tin tới việc phát triển NLTT của thư viện
Một quy luật khác cũng có tác động không nhỏ đến viện phát triển nguồn lực thông tin của thư viện là quy luật tập trung và phân tán thông tin do Bradford phát hiện ra Theo Bradford, thông tin về một lĩnh vực nào đó luôn có xu hướng tập
Trang 2817
trung trong một số ít tài liệu mà ông gọi là tài liệu hạt nhân (core document), mặt khác thông tin về lĩnh vực đó lại nằm rải rác đâu đó khắp nơi trong các sách, tạp chí không liên quan gì nhiều đến lĩnh vực mà ta đang xét Chính vì sự tập trung và phân tán thông tin như vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến công tác phát triên nguồn lực thông tin của thư viện Các thư viện không thể có đủ kinh phí cũng như không đủ khả năng xử lý để bổ sung được lượng thông tin nằm rải rác trong các sách, tạp chí, CSDL mà phải làm sao bổ sung được đúng những tài liệu trong khu vực hạt nhân để tiết kiệm kinh phí và công sức xử lý
Quy luật thứ ba có ảnh hưởng đến công tác xây dựng nguồn lực thông tin là quy luật lỗi thời của thông tin Do thông tin nhanh chóng bị lỗi thời, nhất là đối với những ngành khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng như công nghệ thông tin, truyền thông, nên bên cạnh việc bổ sung những tài liệu mới, thư viện cần thường xuyên thanh lọc những tài liệu không còn giá trị sử dụng để, tiết kiệm kho chứa và chi phí bảo quản, nâng cao hiệu quả của nguồn lực thông tin
Một quy luật cũng có tác động rất lớn đến hoạt động phát triển nguồn tin đó là quy luật giá cả tài liệu tăng lên liên tục Do giá cả tài liệu tăng lên nên các thư viện không thể có đủ kinh phí để mua được hết những tài liệu cần thiết để đáp ứng nhu cầu thông tin của NDT, do vậy thư viện cần phải cân nhắc đưa ra các chính sách lựa chọn phù hợp, cũng như phối hợp bổ sung, chia sẻ thông tin với các thư viện khác
Gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, bên cạnh những loại hình tài liệu xuất bản theo phương thức truyền thống như sách, báo, tạp chí in đã xuất hiện một loại hình tài liệu mới đó là tài liệu ghi trên các vật mang tin mới như đĩa từ, đĩa quang, băng từ, CSDL trực tuyến , và điều cũng này có ảnh hưởng lớn tới việc phát triển NLTT của thư viện
1.2.2.2 Hoạt động xuất bản tài liệu trong nước
Chủ trương xã hội hóa hoạt động xuất bả n thể hiện tầm nhìn của Ðảng và Nhà nước ta trong khi cố gắng đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân, phát triển tri thức của xã hội thời toàn cầu hóa Trong đó, trọng tâm là việc liên kết xuất bản giữa Nhà nước với tư nhân đã được quy định trong Ðiều 23 Chương 1 Luật Xuất bản Ðiều 23 có vai trò rất quan trọng vì bảo đảm sự cân bằng trong phát triển kinh tế, truyền bá văn hóa, tri thức của ngành xuất bản trước những biến đổi trong
Trang 291.2.1.3 Vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Trí tuệ vốn là tài sản của công dân, vì vậy, bản thân các quan hệ quyền tác giả, quyền liên quan quyết định nội dung pháp luật bảo hộ nó Thực tế cho thấy, hiện nay, tình trạng vi phạm bản quyền tác giả diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực với các hình thức và mức độ khác nhau, nhất là trong lĩnh vực xuất bản tài liệu, số hóa tài liệu, ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng,… Tình trạng này gây thiệt hại và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo, môi trường đầu tư, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác và quyền liên quan Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là nhà nước và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ sử dụng các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ của mình, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu các đối tượng này Quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ bằng các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự Quyền tác giả được pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo hộ, theo Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoa XI thông qua ngày 14/6/2005 và Luật sở hữu
trí tuệ được thông qua ngày 29/11/2005
Tại các thư viện, vấn đề bảo vệ quyền tác giả đang gặp rất nhiều khó khăn Việc bảo vệ quyền tác giả đối với nguồn tài liệu được lưu trữ tại thư viện là vấn đề liên quan mật thiết với hoạt động của cơ quan thông tin - thư viện Đặc biệt là các tài liệu nội sinh của thư viện, đây là nguồn tài liệu thường xuyên bị sao chép như
Trang 3019
khóa luận tốt nghiệp, bài giảng, giáo trình, báo cáo nghiên cứu khoa học….Việc phổ biến tài liệu in ấn, tài liệu số hóa trên internet cho bạn đọc được áp dụng rộng rãi Tuy nhiên, việc sao chép tài liệu in ấn, tài liệu số hóa lại rất khó kiểm soát, ảnh hưởng tới “quyền tài sản” của tác giả Trong các thư viện Việt Nam, do kinh phí bổ sung tài liệu ít, hiện đang tồn tại việc một số thư viện sao chép, số hóa tài liệu để bổ sung cho vốn tài liệu của mình Việc số hóa hiện nay được một số thư viện làm khá nhiều, mà thường là không xin phép chủ bản quyền, thậm chí một số lãnh đạo thư viện còn cho là việc sao chép, số hóa một bản để phục vụ NDT trong thư viện mà không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là không vi phạm luật Trong xu hướng xây dựng thư viện điện tử, việc số hóa tài liệu hay sao chép, tải tài liệu từ các cơ sở
dữ liệu về thư viện là việc làm chắc chắn thư viện nào cũng phải thực hiện Tuy nhiên, để không vi phạm luật và để đảm bảo quyền tác giả đối với tài liệu, các thư viện bắt buộc phải xem xét một cách thận trọng loại tài liệu nào có thể số hóa, sao chép, loại nào cần xin phép khi số hóa Có như vậy, việc bảo vệ bản quyền tài liệu mới được tôn trọng, góp phần kích thích lao động sáng tạo của các nhà khoa học, làm cho kho học của đất nước mỗi ngày thêm phát triển
1.2.2 Các yếu tố nội tại của cơ quan thông tin
1.2.2.1 Nhận thức và năng lực của cán bộ
Trong bất kỳ một cơ quan nào, cán bộ lãnh đạo luôn là người có vai trò quyết định trong việc đưa ra chiến lược phát triển của cơ quan đó Để chiến lược được thực thi có hiệu quả, đòi hỏi người lãnh đạo phải được cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết đưa ra các quyết định cũng như kế hoạch nhằm thực hiện cho được chiến lược đã xây dựng Ngược lại, để có được đầy đủ thông tin cần thiết trước khi ra quyết định, người lãnh đạo phải am hiểu, sâu sát công việc, quan tâm đến công việc thuộc phạm vi mình phụ trách
Một hiện tượng thực tế không dễ chịu đối với cán bộ làm công tác thông tin thư viện nói chung và trong các thư viện đại học nói riêng là không phải ở đâu hoạt động thư viện, trong đó có hoạt động phát triển vốn tài liệu, cũng được lãnh đạo cấp trên quan tâm đúng mức Nhiều vị lãnh đạo chưa đánh giá hết tầm quan trọng của hoạt động thông tin - thư viện, coi hoạt động thông tin, thư viện như là “một thứ để
Trang 3120
trang trí cho đẹp cơ quan” và vì thế, việc đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cũng như nhân lực cho hoạt động thư viện còn bị xem nhẹ Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động phát triển nguồn lực thông tin của thư viện
Cũng có một thực tế là nhiều người trong số cán bộ làm công tác thư viện cũng tự coi nhẹ tầm quan trọng của công việc mình đang làm, hễ có điều kiện thuận lợi hơn là sẵn sàng từ bỏ công việc thư viện để tìm kiếm một công việc khác “oai” hơn, thu nhập khá hơn Để làm tốt công việc trong dây truyền xử lý tài liệu nói chung cũng như công việc xây dựng vốn tài liệu nói riêng, người cán bộ thư viện trước hết phải yêu nghề, tâm huyết với nghề, chịu khó học tập chuyên môn, nghiệp
vụ, ngoại ngữ để nâng cao trình độ Có như vậy mới có thể đưa ra các quyết định chính xác trong việc lựa chọn tài liệu, làm cho nguồn lực thông tin của thư viện ngày càng phong phú và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng tin Nói như vậy
để thấy rằng cán bộ lãnh đạo đơn vị, cán bộ thư viện có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nguồn lực thông tin, có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin của thư viện
1.2.2.2 Nhu cầu tin của người dùng tin
Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin nhằm duy trì hoạt động sống của con người
Nguồn lực thông tin là cơ sở để thư viện phục vụ bạn đọc, phục vụ xã hội Nguồn lực thông tin của thư viện càng nhiều, càng phong phú về nội dung bao nhiêu thì thư viện càng thực hiện tốt vai trò xã hội của mình bấy nhiêu Trong việc phát triển nguồn tin, nhu cầu thông tin của người dùng là cơ sở đề cán bộ thư viện đưa ra quyết định khi lựa chọn tài liệu Giữa nhu cầu tin và nguồn lực thông tin có mối quan hệ qua lại biện chứng rất mật thiết Nhu cầu tin càng cao, càng phong phú càng đòi hỏi nguồn lực thông tin phải phát triển mạnh mẽ tương ứng, ngược lại nguồn lực thông tin càng phong phú, có chất lượng, thư viện càng có điều kiện thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của người dùng tin
Do đó, nhu cầu tin có vai trò rất quan trọng trong hoạt động phát triển nguồn lực thông tin NCT là “điều kiện cần” để thư viện xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin Thư viện tồn tại để phục vụ người dùng tin thông qua việc thỏa mãn nhu
Trang 321.2.2.3 Kinh phí phát triển nguồn lực thông tin
Nguồn tài liệu chính mà các thư viện đại học bổ sung vào thư viện là từ mua qua các nhà sách, các công ty phân phối tài liệu trên thị trường, các thư viện đại học không có quyền nhận lưu chiểu, lượng tài liệu được nhận qua hình thức biếu tặng, trao đổi không nhiều Như vậy để có được tài liệu nhập vào thư viện, các thư viện đại học chủ yếu trông chờ vào nguồn kinh phí được cấp từ nhà trường Kinh phí cho công tác thư viện nói chung và công tác phát triển nguổn lực thông tin nói riêng
ở các thư viện là một trong những “điều kiện đủ” để phát triển NLTT của thư viện Hiện nay, giá cả tài liệu ngày một tăng cao, trong khi kinh phí của các thư viện còn rất eo hẹp chưa tương xứng với nhu cầu thông tin của người dùng tin Những thư viện có nguồn kinh phí ổn định thường có chiến lược bổ sung ổn định, kịp thời, hiệu quả và bổ sung được những tài liệu chất lượng để đáp ứng được nhu cầu tin, còn những thư viện có nguồn kinh phí hạn chế thì thường chỉ bổ sung được một số ít tài liệu cần thiết, có nhu cầu đọc cao, những tài liệu “hạt nhân”, mà bỏ qua nhiều tài liệu lẽ ra nên có để đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin
Do đó, điều kiện kinh phí là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển nguồn lực thông tin của thư viện
1.2.2.4 Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin
Cơ sở vật chất là một trong những yếu tố quan trọng để cấu thành cơ quan thông tin - thư viện Do đó, ở hầu hết các thư viện, cơ sở vật chất được đầu tư phù hợp với sự phát triển của vốn tài liệu Bên cạnh đó, việc đầu tư về máy tính, thiết bị phục vụ hoạt động nghiệp vụ của thư viện góp phần quan trọng trong việc tổ chức
bộ máy tra cứu, lưu trữ và bảo quản vốn tài liệu, đặc biệt tránh được việc trùng lặp trong công tác bổ sung phát triển vốn tài liệu, tiết kiệm chi phí để bổ sung những tài liệu cần thiết
Trang 3322
Do sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin tới hoạt động thư viện nói chung và với công tác phát triển NLTT nói riêng, hạ tầng cơ sở thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến công tác xây dựng, phát triển NLTT Nhũng thư viện có hạ tầng thông tin mạnh với trang thiết bị hiện đại, đường truyền có dải thông lớn có thể dễ dàng bổ sung các CSDL trực tuyến và cung cấp khả năng truy cập cho người sử dụng Với những thư viện có hạ tầng thông tin kém, việc bổ sung các CSDL trực tuyến là rất khó và ít hiệu quả
1.2.2.5 Hợp tác chia sẻ nguồn lực thông tin
Trong sự chuyển mình của nền kinh tế tri thức, với sự bùng nổ của thông tin, thông tin ngày càng phong phú và đa dạng, mặt khác, do tính tản mạn, phân tán của thông tin và giá cả tài liệu tăng lên liên tục, không một thư viện nào có đủ khả năng tài chính cũng như nhân lực, kỹ thuật để bổ sung hết khối lượng tài liệu khổng lồ để
có thể đáp ứng được hết nhu cầu thông tin của NDT của thư viện mình cho nên việc hợp tác chia sẻ nguồn lực thông là rất cần thiết
Việc hợp tác chia sẻ thông tin giúp cho các thư viện, với khả năng tài chính
có hạn, có khả năng tiếp cận tới nguồn thông tin lớn của các thư viện, các trung tâm thông tin khác, qua đó có thể làm giàu thêm nguồn lực thông tin của thư viện mình, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tin của NDT
Việc hợp tác, chia sẻ thông tin còn giúp các thư viện làm tăng sức mua, tăng sức nặng trong đám phán với các nhà cung cấp tài liệu khi tiến hành mua chung, sử dụng chung thông qua các liên hợp (consortium), công tác phát triển NLTT vì thế
mà có hiệu quả hơn
Như vậy, có thể thấy, việc hợp tác chia sẻ thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển NLTT của thư viện
1.3 Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
1.3.1 Lịch sử ra đời và phát triển
Năm 1955, sau khi hòa bình được lập lại, miền Bắc nước ta bước vào thời
kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đã được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ cho đất
Trang 34Để đáp ứng nhu cầu lao động có trình độ cao cho quá trình hội nhập và phát triển đất nước, ngày 11/9/2007 trường được nâng cấp thành trường Đại học Kinh tế
- Kỹ thuật Công nghiệp theo quyết định số 1026/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Trong quá trình hình thành và phát triển của Trường gắn liền với quá trình phát triển KT-XH của đất nước nói chung và của ngành Công Thương nói riêng
Hiện nay, Trường ĐHKTKTCN phấn đấu trở thành một trường đại học có chất lượng cao của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, đồng thời đảm đương trách nhiệm cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng tốt, một điểm tựa tin cậy cho sự nghiệp CNH, HĐH của ngành Công Thương
1.3.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
* Đội ngũ giảng viên
Hiện nay, trường có 1067 cán bộ, giảng viên, trong đó có 970 giảng viên (489 giảng viên cơ hữu và 481 thỉnh giảng) với 71 tiến sĩ; 409 thạc sĩ và 296 nghiên cứu sinh và học viên cao học, chiếm tỷ lệ khoảng 80% số lượng giảng viên
* Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường, bao gồm: Ban Giám hiệu; các
phòng chức năng; các khoa; các trung tâm nghiên cứu
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức trường ĐHKTKTCN
Trang 35PHÓ HIỆU TRƯỞNG
Phụ trách ĐT & NCKH
PHÓ HIỆU TRƯỞNG Phụ trách TCCB-HSSV
PHÓ HIỆU TRƯỞNG Phụ trách nội chính
BĐCL
Phòng Hành chính quản trị
Phòng Tài chính
Trung tâm Khảo thí
Trung tâm
HT quốc
tế
Trung tâm Ngoại ngữ &
tin học
Trung tâm Hán ngữ
Trung tâm CNSH
học
Trung tâm Tuyển sinh
Hệ thống nhà xưởng, phòng thí nghiệm và các Bộ môn chuyên môn
Các lớp học sinh, sinh viên
Phòng
Tổ chức Cán bộ
Phòng Công tác HSSV
HIỆU TRƯỞNG
Khoa
CN Thông tin
Khoa
CN Thực phẩm
Khoa Điện
Khoa Điện tử
Khoa
Cơ khí
Khoa
Kế toán
Khoa
Quản trị
KD
Khoa
TC Ngân hàng
Khoa Kinh
tế cơ
sở
Khoa
Lý luận
Khoa học
cơ bản
Khoa
Ngoại
ngữ
Khoa Giáo dục
TC
QP
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC
Trang 361.3.3 Chức năng nhiệm vụ của Trường
Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp với chức năng là một cơ sở đào tạo đa cấp, đa ngành, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật công nghiệp cho các thành phần kinh tế khác nhau trong nước Nhà trường được giao các nhiệm vụ sau:
- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành Công Thương từ trình độ cao đẳng đến đại học
- Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển KT - XH
- Hợp tác quốc tế và bồi dưỡng cán bộ trong ngành
1.3.4 Đặc điểm của phương thức đào tạo theo tín chỉ
1.3.4.1 Khái niệm về tín chỉ
Trong kho tàng tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ
Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học
Theo tài liệu của ĐHQGHN, tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên1); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài v.v Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn [8]
Theo quyết định số 43/2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Tín chỉ là đơn vị được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 40 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ
án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm,
để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân [1]
- Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ
Trang 3726
1.3.4.2 Đặc điểm phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Các đặc điểm chủ yếu của phương thức đào tạo theo tín chỉ là:
- Phương pháp dạy học coi trọng việc tự học và năng lực thực hành, thực tiễn, nghiên cứu;
- Chương trình đào tạo được chia thành các mô - đun kiến thức, kỹ năng và
có tính tự chọn cao;
- Tổ chức đào tạo theo phương thức tích luỹ tín chỉ, tạo thuận lợi cho người học trong việc thiết kế kế hoạch học tập riêng;
Theo đó, những ưu điểm của đào tạo theo tín chỉ là:
+ Đáp ứng tốt nhất khả năng, mong muốn và yêu cầu của người học;
+ Chất lượng đào tạo được nâng cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội;
+ Khai thác triệt để nguồn nhân lực hiện có của nhà trường (đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất…)
- Quy trình đào tạo, chất lượng đào tạo thích ứng với cơ chế thị trường của nền kinh tế hiện nay (xã hội cần gì - chuyên môn đó sẽ đáp ứng);
- Khả năng liên thông cao trong các trường, đáp ứng yêu cầu của khu vực hóa và toàn cầu hóa hiện nay
1.3.5 Yêu cầu của nhà trường trước phương thức đào tạo theo tín chỉ:
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của nhà trường, việc chuyển đổi từ phương thức đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, ngoài việc hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin, thiết bị hỗ trợ giảng dạy theo đúng khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì vấn đề quan trọng nhất đó chính là khâu thiết kế, xây dựng chương trình và kế hoạch đào tạo
Về xây dựng chương trình đào tạo: Xác định khối lượng kiến thức của mỗi CTĐT mà sinh viên cần tích lũy để được công nhận tốt nghiệp (CTĐT Đại học 4 năm: 120 tín chỉ đối với đào tạo các ngành khối kinh tế và quản lý; 130 tín chỉ đối với đào tạo các ngành khối công nghệ); (chưa kể 165 tiết giáo dục quốc phòng và 5 đơn
vị học trình giáo dục thể chất); Xác định các khối kiến thức: Khối kiến thức giáo dục đại cương (chiếm 30%); Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (chiếm 50%); Khối kiến thức tự chọn (chiếm 20%) Đối với chương trình mà khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình (ĐVHT) thì 1,5 ĐVHT được quy đổi thành 1 ĐVTC Cụ thể là: Học phần có từ 2 đến 3 ĐVHT (30, 45 tiết) được quy đổi thành
Trang 38Thư viện trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp được thành lập năm
1956, đến nay Thư viện đã có lịch sử trên 50 năm hình thành và phát triển Từ những khó khăn, thử thách ban đầu, đến nay thư viện đã có được vốn tài liệu khá lớn, đội ngũ cán bộ thư viện yêu nghề, nhiệt tình đưa Thư viện ngày một phát triển hơn
Thư viện có chức năng là đơn vị phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý của nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong thư viện
Để thực hiện chức năng trên, thư viện thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Tham mưu giúp lãnh đạo Nhà trường xây dựng quy hoạch, kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của thư viện; tổ chức điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong nhà trường;
- Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường; thu nhận các tài liệu
do nhà trường xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khoá luận, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ của cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, chương trình đào tạo, giáo trình, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhà trường, các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện;
- Tổ chức phục vụ, hướng dẫn cho bạn đọc khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện thông qua các hình thức phục vụ của thư viện phù hợp với quy định của pháp luật;
- Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin vào công tác thư viện;
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác;
Trang 3928
- Tổ chức, quản lý cán bộ, tài sản theo sự phân cấp của hiệu trưởng; bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản khác của thư viện; tiến hành thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu lạc hậu, hư nát theo quy định;
Thư viện có quyền hạn sau đây:
- Tham gia các hội nghề nghiệp, các hội nghị, hội thảo khoa học về thông tin thư viện trong nước và quốc tế; liên kết, hợp tác với các thư viện, tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài về tiếp nhận tài trợ, viện trợ, trao đổi nguồn lực thông tin, kinh nghiệm chuyên môn, tham gia các mạng thông tin phù hợp với quy định của nhà trường và của pháp luật;
- Tổ chức các hoạt động dịch vụ có thu phù hợp với quy định của pháp luật
và chức năng nhiệm vụ được giao;
1.4.2 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
Thư viện Trường ĐHKTKTCN là một tổ trực thuộc phòng Đào tạo, có các cán bộ phụ trách tổ thư viện và các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ
Hiện nay, thư viện có 10 cán bộ, trong đó có 03 nam (chiếm 30%) và 07 nữ (chiếm 70%) Trong đó có 01 cán bộ quản lý, chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng đào tạo về hoạt động của thư viện và việc thực hiện nhiệm vụ được giao
Về độ tuổi, cán bộ thư viện hầu hết là cán bộ trẻ, nhiệt tình và năng động và đầy nhiệt huyết với công việc Điều này được thể hiện trong bảng 2 dưới đây:
Bảng 1.1: Bảng cơ cấu nhân sự phân chia theo độ tuổi
Từ bảng số liệu trên cho thấy thư viện có nguồn cán bộ trẻ (chiếm 70%), đây
là những cán bộ có năng lực, sung sức, có khả năng tiếp thu tốt những kiến thức mới và đưa thư viện ngày một phát triển hơn nữa
Trang 4029
Cán bộ ở độ tuổi trung niên chỉ chiếm số lượng nhỏ (10%), họ là những người có bề dày kinh nghiệm, là những người giữ vững được lập trường tư tưởng
và định hướng cho thư viện phát triển
Về trình độ: Thư viện có 01 thạc sỹ quản lý giáo dục; 02 cán bộ đang theo học thạc sỹ chuyên ngành thông tin - thư viện, 05 cử nhân chuyên ngành thông tin - thư viện và 01 cử nhân chuyên ngành kế toán, 01 cử nhân kinh tế
Bảng 1.2: Cơ cấu nhân sự theo trình độ tại Thư viện
Từ bảng số liệu trên cho thấy, 70% cán bộ Thư viện có trình độ chuyên môn TT-TV, các cán bộ khác đều được bồi dưỡng nghiệp vụ về nghiệp vụ TT-TV Hầu hết các cán bộ đều có kỹ năng sử dụng tin học, ngoại ngữ áp dụng vào công tác của mình Từ những điều kiện cụ thể về nhân sự và trình độ như trên, Thư viện được phân chia thành các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ như sau:
* Bộ phận bổ sung trao đổi, xử lý tài liệu, thông tin - thư mục thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng và bổ sung vốn tài liệu; Xử lý kỹ thuật tài liệu, xây dựng các
cơ sở dữ liệu, tổ chức hệ thống tra cứu theo đúng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện; Xử lý và biên soạn ấn phẩm thông tin chọn lọc, thông tin chuyên đề, các loại thư mục, hướng dẫn tra cứu và tổ chức các hoạt động thông tin khác; Cung cấp các dịch vụ và đáp ứng yêu cầu về sử dụng vốn tài liệu có trong thư viện hoặc ngoài thư viện thông qua việc trao đổi giữa các thư viện
* Bộ phận nghiệp vụ tổng hợp có nhiệm vụ: Bảo quản vốn tài liệu thư viện, chuyển dạng tài liệu, tu sửa, phục chế tài liệu bị hư hỏng, rách nát trong quá trình sử dụng hoặc do các nguyên nhân khác; Nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện, tham gia vào quá trình bảo trì, bảo dưỡng máy tính và các trang thiết bị hiện đại khác, hỗ trợ cho việc số hoá tài liệu và xuất bản tài liệu điện tử; thực hiện các công tác hành chính; xây dựng và thực hiện kế hoạch tài