Con người là một tồn tại sinh vật biểu hiện trong những cá nhân conngười sống, là tổ chức cơ thể con người và là mối quan hệ giữa con người vớigiới tự nhiên.. Thật ra,nhận thức mới mẻ nà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Tiểu luận hết môn MÔN KHOA HỌC QUẢN LÝ
Đề tài: TÌM HIỂU VẤN ĐỀ "CON NGƯỜI VĂN HÓA" VÀ THUYẾT VĂN HÓA TRONG QUẢN LÝ? LIÊN HỆ VỚI MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
Trang 2MỤC LỤC
1 Khái niệm con người 2
2 Vấn đề con người văn hóa 3
3 Khái niệm quản lý 7
4 Các thuyết văn hóa quản lý 9
5 Liên hệ thực tiễn 15
6 Danh mục tài liệu tham khảo 22
Trang 3Con người và văn hóa là hai phạm trù rộng lớn, bao trùm toàn bộ đờisống xã hội Đã nói đến con người phải nói đến hai mặt tự nhiên và xã hội,
mà ở góc độ nhất định xã hội chính là văn hóa Trong lịch sử lý luận, mặc dùkhẳng định có sự gắn bó mật thiết, tác động qua lại giữa con người và văn hóanhưng người ta vẫn thường đi tìm hiểu từng phạm trù riêng biệt văn hóa hoặccon người Ngày nay, với sự phát triển của lý luận dựa trên sự phát triển vượtbậc của kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ nhiều vấn đề mới xuất hiện đòihỏi lý luận phải tìm hiểu, nghiên cứu Khái niệm “con người văn hóa” là mộttrong số các vấn đề đó Khái niệm “con người văn hóa” thường xuất hiệntrong hoạt động quản lý ở các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức kinh doanh Nógắng liền và là hạt nhân cơ bản trong việc hình thành và phát triển các thuyếtvăn hóa quản lý
Do đây là một vấn đề khá mới, thời gian học tập, nghiên cứu chính thứckhông nhiều, nên học viên chủ yếu là sưu tầm một số bài viết đã công bố củacác tác giả trong và ngoài nước để giới thiệu và nêu vài ý kiến riêng của mình
về các vấn đền trên
1 Khái niệm con người
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con người là động vật cao cấp nhất, là tinhhoa của muôn loài, là sản phẩm của quá trình phát triển rất lâu dài của thế giới
tự nhiên Con người là một tồn tại sinh vật biểu hiện trong những cá nhân conngười sống, là tổ chức cơ thể con người và là mối quan hệ giữa con người vớigiới tự nhiên Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quyếtđịnh sự tồn tại của họ, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và giới tựnhiên trở thành “thân thể vô cơ” của con người
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chấtcon người mà cái cơ bản để nói lên sự khác biệt giữa con người và con vậtchính là ở mặt xã hội (đặc trưng là văn hóa) Hoạt động lao động sản xuất racủa cải vật chất thể hiện rõ tính xã hội của con người Thông qua lao độngcon người sáng tạo ra những của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho đời
Trang 4sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ, tư duy, bản sắc văn hóa,xác lập những quan hệ xã hội trong giao tiếp
Mặt tự nhiên và mặt xã hội (văn hóa) trong con người hòa quyện thốngnhất với nhau, cái tự nhiên đã mang tính xã hội và cái xã hội dựa trên nềntảng tự nhiên Trong khi khẳng định: “Con người là thực thể sinh vật - xã hội”C.Mác đồng thời khẳng định: “Bản chất con người không phải là một cái trừutượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chấtcon người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Từ những quan niệm đã trìnhbày ở trên, chúng ta thấy rằng con người vượt lên thế giới loài vật trên cả baphương diện: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chínhbản thân con người Cả ba mối quan hệ đó suy đến cùng đều mang tính xã hội(văn hóa), trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chấtbao trùm các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quanđến con người Bản chất con người được hình thành trong những điều kiệnhoàn cảnh, không có con người trừu tượng thoát ly khỏi hoàn cảnh cụ thể.Ngược lại, con người sống cùng nhau trong môi trường thời đại và chínhtrong điều kiện hoàn cảnh đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình con ngườitạo ra những giá trị vật chất, văn hóa tinh thần để tồn tại phát triển cả vật chất
và trí tuệ
2 Vấn đề Con người văn hóa
Phải nói rằng, hiếm có mối quan hệ nào lớn lao, phức tạp và gần gũi nhưquan hệ giữa con người, tự nhiên và văn hoá (theo nghĩa rộng, bao hàm cả xãhội) Nhưng, khi ba từ này được viết liền nhau không dùng dấu gạch nối,không có các dấu phẩy, mối quan hệ này thể hiện một tư duy hoàn toàn mới
mẻ xuất hiện vào đầu thế kỷ 21, nó tiếp nối và phát triển cách MartinHeidegger đặt nhan đề độc đáo cho bài viết nổi tiếng của mình từ năm 1951:Xây ở suy tư Chúng ta hãy cùng tìm hiểu quan điểm của Martin Heideggertrong tác phẩm này để có cái nhìn bước đầu về khái niệm “con người vănhóa”
Trang 5Trong tác phầm Martin Heidegger quan niệm, “Xây” là nương tựa vàocảnh quan tự nhiên, sử dụng vật liệu của tự nhiên để tạo nên nơi cư trú củacon người “Ở” là hành vi văn hoá, nơi đó con người sinh tồn và “suy tư” vềthân phận làm người trong mối tương liên với tự nhiên, với đồ vật, với ngườikhác và với cái siêu linh Xây ở suy tư, dưới mắt Heidegger, là mối quan hệliền mạch, không có sự phân ly và cũng không cần nối kết giả tạo Thật ra,nhận thức mới mẻ này về quan hệ giữa con người, tự nhiên và văn hoá (xãhội) chỉ có thể đến sau thời kỳ phân ly dài dằng dặc trong lịch sử giữa conngười với tự nhiên, giữa tự nhiên và văn hoá.
Nói về con người văn hóa, ông viết "Cuộc cách mạng thời đại đá mới với
sự định cư của xã hội du mục cùng những tiến bộ bước đầu trong kỹ thuật sửdụng và khai thác đất đai đã mang lại những hậu quả cực kỳ to lớn cho sự tiếnhoá xã hội Một mặt, đó là sự phân đôi cái thế giới thống nhất của nhữngngười săn bắn lượm thành tự nhiên và văn hoá Lần đầu tiên trong lịch sử, conngười có thể can thiệp vào cơ chế vận hành của tự nhiên, và tự nhiên trở thànhđối tượng thụ động, mất dần ánh hào quang thần bí và ma thuật" Và "Chínhcuộc cách mạng công nghiệp mới thực sự làm tan rã mối quan hệ … giữa vănhoá và tự nhiên" Trước tình hình thế giới ngày nay, ông tự hỏi: "có thể tiếptục chịu đựng nổi một sự phân ly giữa con người, tự nhiên và văn hoá, hay cóthể có một bước ngoặt trong tư tưởng và hành động? Nếu sự phân ly văn hoá -
tự nhiên đã là một thành tựu văn hoá lớn lao trong quá khứ, thì nỗ lực vượt bỏ
sự phân ly ấy sẽ là một vấn đề sống còn"
Ông khẳng định: "Khoa học về mối quan hệ giữa con người, tự nhiên vàvăn hoá (xã hội) cũng đi theo quá trình hình thành, phân ly và tích hợp Khoahọc tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học nhân văn là ba cách tiếp cận quenthuộc đối với mối quan hệ này" "Thành quả đầu tiên là phác hoạ một chiếnlược nghiên cứu về tam giác tích hợp: con người, tự nhiên và văn hoá (xã hội)bằng cách mở rộng khái niệm sinh thái học - xã hội thành sinh thái học - xãhội - nhân văn Sự tích hợp ấy phải mang nhiều chiều kích: vật lý tự nhiên,
Trang 6công nghệ xã hội, giao tiếp truyền thông, giá trị và ý nghĩa cuộc sống Chỉtrên cơ sở ấy mới tạo ra được sự chuyển biến trong thực tế: những sáng kiếnhành động có hiệu quả hơn và có ý nghĩa hơn".
Như vậy, ta có thể hiểu con người văn hóa chính là sự nhìn nhận conngười một cách tổng thể không tách rời giữa yếu tố xã hội và tự nhiên, trong
đó yếu tố văn hóa là cốt lõi, quyết định tất cả Điều này hoàn toàn thống nhấtvới quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của con người Tuynhiên, ở đây tác giả Martin Heidegger muốn nói rằng tất cả các sự phân địnhkhông cần đặt ra vì thực chất nó không còn có sự phân định nào cả giữa yếu
tố tự nhiên và văn hóa trong con người hiện đại
Bài viết Toàn cầu hóa và con người văn hóa trên Báo Nhân dân, tháng3/2010 tiếp cận khái niệm “con người văn hóa” theo một hướng khác Bài báoviết: “Sau mấy thập kỷ, văn hóa đại chúng (popular culture) từ một số trungtâm đã lan tỏa khắp thế giới bằng tốc độ chóng mặt; với sự hỗ trợ đắc lực củacác phương tiện truyền thông, được cụ thể hóa qua số lượng hàng hóa khổng
lồ Văn hóa đại chúng đã vượt qua các biên giới địa lý, đưa tới sự chuyển dịch
có mầu sắc "loang lổ" khi du nhập vào một số nền văn hóa dân tộc, thể hiệnqua sự cùng chung sống giữa các giá trị cũ và mới, các giá trị truyền thốngvới các sản phẩm của văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và vănminh tin học, cùng trong một nền văn hóa dân tộc
Giao lưu và tiếp nhận văn hóa vốn là điều bình thường trong quan hệ vănhóa của nhân loại Trong quá trình giao lưu và truyền bá, những giá trị phùhợp sẽ được tiếp nhận - biến đổi, những giá trị không phù hợp sẽ bị đào thải.Nhưng, khi văn hóa bị đồng nhất với văn minh, hoặc chủ thể tiếp nhận thiếukhả năng phân biệt và lựa chọn, sẽ dẫn tới một số chuyển dịch có tính đảo lộn.Lịch sử tiếp nhận - biến đổi văn hóa giữa các cộng đồng cho thấy, con ngườichỉ có thể "cấy" văn hóa khi "mầm" văn hóa được cấy ghép phù hợp với vănhóa chủ thể; ngược lại nếu không phù hợp, quá trình tiếp nhận - biến đổikhông thể diễn ra, hoặc có thể vẫn diễn ra, song thường đưa tới kết quả lạ, nếu
Trang 7không nói là quái dị Đi cùng với toàn cầu hóa, các sản phẩm của văn hóa vàvăn minh phương Tây tỏ ra rất có "ma lực" trong việc kích thích con ngườithỏa mãn nhu cầu, nhất là nhu cầu vốn đã và đang bị hạn chế Du nhập vàocác quốc gia và cộng đồng văn hóa chưa có quan niệm chính xác, đầy đủ vàhoàn chỉnh về cá nhân, chưa có ý thức hoàn chỉnh về luật pháp và chấp hànhluật pháp, các sản phẩm văn hóa và văn minh ấy tạo ra nghịch lý giữa việcthỏa mãn nhu cầu của con người - trong tư cách là cá thể xã hội, với trình độphát triển chung của xã hội Nghịch lý đó hoàn toàn có thể làm nảy sinh mâuthuẫn khó có thể điều hòa giữa việc con người bằng mọi cách thỏa mãn mọinhu cầu dưới khẩu hiệu "quyền cá nhân" với khả năng đáp ứng có giới hạncủa xã hội Mâu thuẫn không được giải quyết, hậu quả sẽ khôn lường Cònkhôn lường hơn khi bộ máy tổ chức, quản lý và điều hành xã hội không kịpthời nắm bắt, không kịp thời hoạch định, không có đối sách thích hợp Khi
"quyền con người" được hiểu theo nghĩa tự do thái quá hay cực đoan, conngười có thể xa rời trách nhiệm xã hội, bột phát các hành vi nằm ngoài khuônkhổ của luật pháp
Tóm lại, từ bất kỳ góc độ tiếp cận nào, mỗi nền văn hóa dân tộc đềuchứa đựng trong nó một số giá trị có tính nhân loại phổ biến, dù đã định hìnhhay mới là dấu vết sơ khai Song, trong quan hệ giữa các nền văn hóa, cầnnhận thức văn hóa trước hết là sự khác nhau, tính nhân loại phổ biến dù quanthiết đến mức độ nào cũng không thể thay thế tính dân tộc - yếu tố giúp khẳngđịnh đó là văn hóa của dân tộc này chứ không phải là văn hóa của dân tộckhác Đây là nền tảng làm nên điều chúng ta vẫn gọi là "căn cước văn hóa"của dân tộc Toàn cầu hóa đang đưa lại nhiều cơ hội để mỗi nền văn hóa dântộc phát triển và nâng cao trình độ văn minh; đồng thời toàn cầu hóa cũng cóthể đẩy tới một số chuyển dịch có khả năng triệt tiêu "căn cước văn hóa dântộc" Nhiều nền văn hóa dân tộc trên thế giới đang phải đối mặt với tình trạngnày và ở Việt Nam, sau hơn 20 năm của sự nghiệp đổi mới, chuyển dịch vănhóa cũng đang diễn ra với những sắc thái, hiện tượng phức tạp, mà hệ lụy
Trang 8nhãn tiền là sự lên ngôi của một số "phản giá trị" Vì thế, cần tiếp tục xâydựng và tạo tiền đề để phát triển văn hóa và con người văn hóa, đặc biệt làchú trọng trang bị cho con người hiểu biết cơ bản về cá nhân, về quyền lợi vànghĩa vụ của cá nhân trong quan hệ với cộng đồng, để trở thành chủ thể vănhóa tích cực của xã hội”.
Như vậy, theo tác giả bài viết này, con người văn hóa chính là nét vănhóa của mỗi con người Nét văn hóa này mang tính đặc trưng đối với từngquốc gia, dân tộc, từng cộng đồng người, từng con người cụ thể Chính conngười văn hóa mới làm cho con người này khác với con người khác Quanđiểm của tác giả là bảo tồn bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc, cộng đồng
và từng người để không bị nhầm lẫn trong xã hội Và khẳng định văn hóa, conngười văn hóa là cái quý báu cần được bảo vệ và phát huy
Còn đối với tác giả Đỗ Lai Thúy trong cuốn sách Văn hóa Việt Namnhìn từ mẫu người văn hóa, có năm mẫu người văn hóa mà ông đưa ra: conngười làng xã, con người vô ngã, con người quân tử, con người tài tử và conngười cá nhân, cùng những kiến giải khá sâu sắc và duyên dáng của ôngkhiến người ta có một cái nhìn mềm mại hơn, gần gũi hơn với tiến trình lịch
sử văn hóa Việt Nam, từ văn minh Đông Sơn đến hiện đại
Ở một mức độ nào đó, ông đã nhắn nhủ với những người muốn “đi tắt”tìm hiểu văn hóa Việt Nam một lượng kiến thức không nhỏ về các sự kiện vănhóa - lịch sử, hình thái văn hóa, các biểu tượng văn hóa rất dễ “nhập tâm”
và “tiêu hóa” vì chúng được thông qua những con người văn hóa rất cụ thể:Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Gia Thiều,Nguyễn Du
Có thể thấy lẩn quất, xen kẽ đâu đó giữa những phác thảo con người vănhóa của Đỗ Lai Thúy là những phát hiện mới của chính ông, là những chiêmnghiệm của một nhà nghiên cứu về những triết lý của cuộc sống, về dân tộc,thời đại mà bi kịch của các nhân vật mình yêu quí đã dẫn dắt ông đến
3 Khái niệm Quản lý
Trang 9Quản lý là một hoạt động thực tiễn, vừa mang tính khoa học, vừa là mộtnghệ thuật Quản lý trong hoạt động kinh doanh hay quản lý trong các tổ chứcnói chung là hành động nhằm làm cho các cá nhân trong tổ chức cùng nhaulàm việc để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung Đầu thế kỷ 20 nhà quản lýMary Parker Follett định nghĩa "quản lý là nghệ thuật đạt được mục đíchthông qua người khác "Nghệ thuật quản lý" đang là một vấn đề thu hút sựquan tâm của tất cả mọi người ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội củanước ta hiện nay
Có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý F.W Tay lor cho rằng quản lý
là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được mộtcách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Henry Fayol xem quản lý là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua ngườikhác, nó là một công việc bao gồm 5 nhiệm vụ: xây dựng kế hoạch, tổ chức,điều kiển, phối hợp và kiểm tra Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng
và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và các điều kiện tự nhiên J.H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich cho rằng: Quản lý làmột quá trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp cáchoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hànhđộng riêng rẽ không thể đạt được
Koontz và O'Donnell cho rằng: "Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nàocủa con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ởmọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duytrì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm
có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định"
Và James Stoner cùng Stephen Robbins đã có một định nghĩa khá rõràng: "Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát nhữnghoạt động của các thanh viên trong một tổ chức và sử dụng tất cả các nguồnlực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra" Định nghĩa này chỉ rarằng các công việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát phải được thực
Trang 10hiện theo một trình tự nhất định và mục tiêu mong đợi chính là cái đích chomọi hoạt động của các nhà quản lý
Vậy có thể hiểu, quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của conngười, trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng nhữngcông cụ và phương pháp khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu của tổchức trong điều kiện biến động của môi trường
Khoa học quản lý là môn khoa học nghiên cứu những vấn đề của quản lýtrong một tổ chức, nhằm khái quát và tổng hợp những kinh nghiệm quản lýthành những nguyên tắc, lý thuyết quản lý giúp cho các nhà quản lý nhữngkiến thức, phương pháp và kỹ thuật cần thiết trong hoạt động điều hành vàquản lý một tổ chức đạt hiệu quả cao
4 Các thuyết văn hóa quản lý
Trong lịch sử đã có rất nhiều tư tưởng, lý luận và các học thuyết quản lý.Đại diện như các tư tưởng và lý luận quản lý thời Trung Hoa cổ đại củaKhổng tử, Hàn Phi Tử; các học thuyết quản lý của xã hội công nghiệp (họcthuyết quản lý theo khoa học, quản lý hành chính, trường phái quan hệ conngười, thuyết quản lý tổ chức, thuyết hành vi trong quản lý, các thuyết vănhóa quản lý); các học thuyết quản lý của xã hội thông tin ngày nay… Có thểnói, các học thuyết quản lý hiện đại là sự kế thừa, phát triển các tư tưởng, lýluận thời cổ đại Đó là sự nối tiếp nhau về mặt thời gian và cả về tính ưu việt
từ thực tiễn được đúc kết thành lý luận Trong số đó, các thuyết văn hóa quản
lý ra đời khá muộn vào khoảng cuối những năm 70 của thế kỷ XX nhưng đãđem lại những thành tựu đáng kể trong việc phát triển lý luận quản lý và hiệu
quả thực tế đáng ghi nhận ở nhiều quốc gia lớn trên thế giới Đó là, Thuyết Z của William Ouchi và công trình Đi tìm sự xuất sắc của Peters và Waterman.
Thuyết Z được tiến sỹ William Ouchi đưa ra vào những năm 70 của thế
kỷ trước, học thuyết này được xây dựng dựa trên thực tiễn và lý luận Họcthuyết Z còn có một tên khác đó là “Quản lý kiểu Nhật” vì học thuyết này làkết quả của việc nghiên cứu phương thức quản lý trong các doanh nghiệp
Trang 11Nhật Bản từ năm 1973 Sau này học thuyết Z được phổ biến khắp thế giới vàothời kỳ bùng nổ kinh tế của các nước châu Á vào thập niên 1980 Nếu nhưthuyết X có cách nhìn tiêu cực về người lao động thì thuyết Z lại chú trọngvào việc gia tăng sự trung thành của người lao động với công ty bằng cách tạo
sự an tâm, mãn nguyện; tôn trọng người lao động cả trong và ngoài công việc.Cốt lõi của thuyết này là làm thỏa mãn và gia tăng tinh thần của người laođộng để từ đó họ đạt được năng suất chất lượng trong công việc
Giá trị của thuyết Z nổi lên nhờ sự trình bày của Ouchi về vai trò của
"một nền văn hóa kiểu Z" đối với sự phát triển nhanh và vững chắc của mộtdoanh nghiệp Ông lý giải văn hóa của doanh nghiệp bao gồm một tập hợpbiểu tượng, nghi lễ và huyền thoại cho phép truyền đạt đến người làm việccác giá trị và niềm tin nội thân của xí nghiệp Cơ sở lý luận, hạt nhân của nềnvăn hóa của một doanh nghiệp là triết lý (kinh doanh) của nó Ban chất củanền văn hóa kiểu Z, được Ouchi tóm tắt trong nhận xét, đó là một nền văn hóanhất trí, một cộng đồng những người bình đẳng cùng nhau hợp tác để đạt tớimục tiêu chung Nó chỉ đạo lối ứng xử bằng cách dựa trên sự gắng bó chứkhông phải dựa vào ngôi thứ và giám sát Thuyết Z giả định hết sức đơn giảnrằng, những người lao động sung sướng và hữu quan ở đây là chìa khóa tạonên năng xuất ngày một cao Và giả định này được chứng minh là đúng ởNhật bản, Mỹ và nhiều nước khác
Xuất phát từ những nhận xét về người lao động nói trên, thuyết Z có nộidung như sau:
- Thể chế quản lý phải đảm bảo cho cấp trên nắm bắt được tình hình củacấp dưới một cách đầy đủ Duy trì việc ra quyết định và nâng cao trách nhiệmtập thể bằng cách tạo điều kiện cho nhân viên tham gia vào các quyết sách,kịp thời phản ánh tình hình cho cấp trên Để nhân viên đưa ra những lời đểnghị của họ rồi sau đó cấp trên mới quyết định