1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN dạy học ngữ pháp theo hướng mới nhằm tăng hứng thú học tập phân môn tiếng việt cho học sinh trun

20 337 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 360,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi xét trong thực tế hiện nay trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, việc vận dụng các quy tắc ngữ pháp vào tiếp nhận và sản sinh văn bản chưa được hiệu quả.. Qua đây nhằm giúp

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO LÀO CAI TRƯỜNG THPT SỐ 2 BẢO THẮNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DẠY HỌC NGỮ PHÁP THEO HƯỚNG MỚI NHẰM TĂNG HỨNG THÚ HỌC TẬP PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG

Họ và tên tác giả: Trần Thị Minh Hậu

Chức vụ: TTCM

Tổ chuyên môn: Văn- Giáo dục công dân

Đơn vị Công tác: Trường THPT số 2 Bảo Thắng

Bảo Thắng, ngày 15 tháng 4 năm 2014

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lý do chọn đề tài

Cùng với lao động, ngôn ngữ góp phần hình thành và phát triển xã hội loài người Ngôn ngữ là một sáng tạo kì diệu của loài người, là phương tiện giao tiếp phổ biến nhất và thuận lợi nhất Ngôn ngữ còn là công cụ tổ chức quá trình

tư duy, giúp cho tư duy phát triển Mặt khác, ngôn ngữ còn là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hoá của dân tộc Tiếng Việt là sản phẩm của dân tộc Việt, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia, chiến thắng mọi âm mưu chia cắt của bất cứ thế lực thù địch nào

Từ vựng là vật liệu của ngôn ngữ nhưng nếu chỉ có một vốn từ vựng thì chưa thể giao tiếp Muốn giao tiếp cần phải biết kết hợp từ thành những đơn vị ở bậc lớn hơn theo những quy tắc kết hợp nhất định Vì vậy, để rèn luyện kĩ năng nghe, đọc, nói, viết của học sinh không thể không dạy học ngữ pháp

Việc dạy học ngữ pháp trong nhà trường là một vấn đề vô cùng quan trọng nhằm không chỉ trang bị cho học sinh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ

mà còn góp phần giáo dục tư tưởng, phát triển tư duy và nâng cao tính tích cực,

tự giác của học sinh Bởi vì người ta chỉ có thể tư duy bằng cách kết hợp khái niệm thành phán đoán mà phán đoán chỉ có thể diễn đạt bằng câu

Vậy để việc giảng dạy ngữ pháp trong nhà trường phổ thông đạt được hiệu quả không chỉ có sự hướng dẫn tìm hiểu của người thầy mà cần đến hoạt động tích cực của người học sinh Vậy là người giáo viên đứng lớp sẽ phải áp dụng phương pháp giảng dạy ngữ pháp vào việc giảng dạy như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất? Đó cũng là một vấn đề mà Tôi luôn trăn trở và suy nghĩ bấy lâu nay Bởi xét trong thực tế hiện nay trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, việc vận dụng các quy tắc ngữ pháp vào tiếp nhận và sản sinh văn bản chưa được hiệu quả Do vậy, việc tổ chức điều khiển của người thầy trong từng tiết dạy là vô cùng quan trọng

Với những lý do trên, tôi thấy giáo viên dạy môn Ngữ văn cần phải có cách hướng dẫn cụ thể về cách học cho học sinh để nâng cao chất lượng dạy và học Và đây cũng là lý do để Tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm trong việc giảng dạy phần ngữ pháp trong phân môn tiếng Việt của Trường THPT Qua đây nhằm giúp giáo viên nâng cao thêm về chuyên môn của mình trong việc giảng dạy tiếng Việt, học sinh có thể lĩnh hội tốt hơn kiến thức về phân môn tiếng Việt để vận dụng linh hoạt trong giao tiếp cũng như quá trình tạo lập văn bản

II.Mục đích nghiên cứu.

Việc chọn nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:

Áp dụng phương pháp dạy học ngữ pháp vào trong chương trình môn ngữ văn của trường THPT để cung cấp cho học sinh một cách có hệ thống những đơn vị

Trang 3

kiến thức cơ bản về từ loại, cú pháp, ngữ pháp văn bản, giúp học sinh vận dụng những đơn vị kiến thức đó một cách chủ động, sáng tạo vào nghe, đọc, nói, viết Đồng thời, nhằm kích thích, củng cố và phát triển năng lực tư duy, sự sáng tạo của học sinh Bồi dưỡng cho học sinh năng khiếu thẩm mĩ, lòng tự hào, ý thức tôn trọng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Học sinh sẽ tiếp thu lĩnh hội kiến thức trong phân môn tiếng Việt một cách đơn giản nhất, nhanh nhất, từ đó có thể vận dụng giải quyết các câu hỏi phần Đọc- hiểu theo dạng đề câu hỏi Pisa chính xác, hiệu quả

III.Đối tượng nghiên cứu:

Là giáo viên đang tham gia công tác giảng dạy môn Ngữ văn ở THPT nên Tôi chỉ xin đề cập đến việc dạy- học phần ngữ pháp trong phân môn tiếng Việt của trường THPT

IV Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:

Học sinh lớp 11 Trường THPT số 2 Bảo Thắng

V Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng nắm bắt về cách học tiếng Việt của học sinh qua khảo sát Qua quá trình giảng dạy để rút ra kinh nghiệm cho bản thân

Dự giờ, thăm lớp để học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp

Tham khảo các tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy học tích cực trong môn Ngữ văn, phương pháp dạy học môn tiếng Việt

VI Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.

- Thời gian: Từ đầu năm học (Tháng 9/2013 – tháng 4/ 2014)

- Phạm vi: Học sinh lớp 11 Trường THPT số 2 Bảo Thắng

VII Số liệu khảo sát

Khối 11:

- 40% học sinh điểm dưới trung bình

- 60% học sinh điểm trên trung bình

Trang 4

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận thực tiễn

Dạy học ngữ pháp phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp, nguyên tắc gắn lí thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc kết hợp các vấn đề ngữ pháp trong mối quan hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức ngữ pháp, nguyên tắc kết hợp giữa phát triển ngôn ngữ với phát triển tư duy

1.Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp:

Ngữ pháp là lĩnh vực trừu tượng và khái quát nhưng các khái niệm và quy tắc ngữ pháp được đúc rút ra từ thực tế hoạt động ngôn ngữ Mục đích của việc dạy học ngữ pháp nói riêng và tiếng Việt nói chung không chỉ nhằm mục đích cung cấp các khái niệm và quy tắc ngữ pháp mà để nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh Do vậy, dù muốn hay không, người GV luôn phải đảm bảo nguyên tắc giao tiếp khi dạy học ngữ pháp

- Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu:

+ Ngữ liệu dùng để hình thành khái niêm và quy tắc ngữ pháp phải là những ngữ liệu được lấy từ thực tiễn giao tiếp sinh động, chuẩn mực Các ngữ liệu trong sách giáo khoa chủ yếu được lấy ngay trong các văn bản ở trong bài học

+ Học sinh vận dụng những tri thức và kĩ năng ngữ pháp vào giao tiếp tức

là vận dụng vào phân tích, lĩnh hội và sản sinh được các sản phẩm lời nói để đạt được mục đích giao tiếp

2 Nguyên tắc gắn lí thuyết với thực hành:

Nguyên tắc này không chỉ được quán triệt trong dạy thực hành mà còn chi phối cả việc dạy lí thuyết Hệ thống tri thức lí thuyết ngữ pháp phải tập trung vào các quy tắc, các thao tác hoạt động trong thực hành giao tiếp

3 Nguyên tắc trực quan:

Nguyên tắc này có thể thực hiện thông qua các hình thức sau:

- Sử dụng ngữ liệu rút từ thực tế giao tiếp sinh động Trong chương trình, các ngữ liệu đều lấy từ những văn bản văn học được tuyển chọn, có tính điển hình cao của thực tiễn giao tiếp sinh động

- Ngôn ngữ của GV trong giờ dạy học phải chuẩn mực, đặc biệt là chuẩn mực về ngữ pháp và phải đảm bảo tính văn hoá GV cũng phải chú ý điều chỉnh, chuẩn mực hoá lời nói của HS trong giờ học Ngữ văn và học các môn học khác

- Sử dụng các mô hình cấu trúc, bảng biểu tổng kết, so sánh, tranh ảnh, sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

Trang 5

4 Nguyên tắc tiếp cận các vấn đề ngữ pháp trong mối quan hệ hữu

cơ giữa nội dung và hình thức ngữ pháp:

Các đơn vị và các hiện tượng ngữ pháp luôn là sự thống nhất giữa nội

dung và hình thức ngữ pháp Việc chú trọng đến mối quan hệ này chẳng những

Trang 6

đáp ứng về nhu cầu nhận thức các vấn đề ngữ pháp mà còn đáp ứng cả những nhu cầu sử dụng

5 Nguyên tắc kết hợp giữa phát triển ngôn ngữ với phát triển tư duy:

Ngôn ngữ là công cụ để tư duy, tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Hai lĩnh vực này không hề mâu thuẫn mà trái lại có quan hệ thúc đẩy nhau cùng phát triển

Phải chú ý rèn luyện các thao tác tư duy, phẩm chất tư duy trong quá trình dạy tiếng Phải làm cho học sinh thông hiểu ý nghĩa các đơn vị ngôn ngữ, gắn

từ, câu, đoạn văn với nội dung hiện thực mà chúng phản ánh đồng thời phải thấy được giá trị của chúng trong hệ thống ngôn ngữ

II.Thực trạng

Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, tôi cũng như các đồng nghiệp trong

tổ chuyên môn đều nhận thấy một thực tế là:

- Phần lớn học sinh không có hứng thú đối với bộ môn Ngữ Văn nói chung và với phần tiếng Việt nói riêng

- Phần lớn các giờ dạy tiếng Việt: giáo viên chủ yếu truyền tải kiến thức

lý thuyết để học sinh tiếp thu và vận dụng vào bài tập Tiết dạy thường khô khan, thiếu sinh động Học sinh chưa biết cách lĩnh hội và vận dụng linh hoạt khi gắn vào các bài tập cụ thể Nguyên nhân chủ yếu là do các em không có vốn kiến thức về phần Ngữ pháp ngay từ cấp II, một phần là do ý thức học tập phân môn tiếng Việt chưa tốt cho rằng không ảnh hưởng đến thi cử Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng học tập chưa tốt ở phân môn này; học sinh còn nắm bắt kiến thức một cách mơ hồ, hời hợt

- Thực trạng trên đặt ra nhiệm vụ thiết thực cho giáo viên Ngữ Văn: phải khiến cho học sinh có niềm yêu thích khi học tiếng Việt Học sinh sẽ tiếp thu lĩnh hội kiến thức trong phân môn tiếng Việt một cách đơn giản nhất, nhanh nhất, từ đó có thể vận dụng giải quyết các câu hỏi phần Đọc- hiểu theo dạng đề câu hỏi Pisa chính xác, hiệu quả

III Biện pháp cụ thể.

Khi bàn đến phương pháp cụ thể của việc dạy học ngữ pháp không những chỉ giải quyết vấn đề dạy cái gì? mà còn cần phải giải quyết vấn đề dạy như thế nào? Phải làm cho học sinh nắm được bản chất

Trang 7

của các từ loại và hệ thống quy tắc ngữ pháp tiếng Việt Phải chú ý thực hành vận dụng các quy tắc ngữ pháp vào tiếp nhận và sản sinh văn bản Phải chú ý tới việc góp phần rèn luyện năng lực tư duy cho học sinh Đồng thời chú ý cả việc giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh một cách tự nhiên và phù hợp.

1.Phương pháp dạy học các tri thức lí thuyết về ngữ pháp:

a, Phương pháp hình thành các khái niệm ngữ pháp:

* Bước 1: Giới thiệu bài

Có nhiều cách giới thiệu bài mới nhưng nói chung cần ngắn gọn, rõ ràng, nêu bật được mục đích của bài học và tạo được sự tập trung, hứng thú cho

HS Cũng có thể giới thiệu bài mới bằng cách tạo ra một tình huống có vấn đề hay một câu chuyện về ngôn ngữ

VD: Khi dạy tiết 72 : Thực hành về hàm ý ( Ngữ văn 12), GV có thể đưa

ra tình huống “ Một bạn học sinh đi học muộn, vừa đến cửa lớp cô giáo liền hỏi : Bây giờ là mấy giờ rồi?” Vậy theo em, mục đích câu hỏi của

cô giáo là gì? Học sinh sẽ phát hiện ra hàm ý trong câu hỏi của cô giáo trong tình huống trên là phê bình bạn học sinh kia đã đi học muộn và có ý nhắc nhở Từ tình huống trên GV dẫn vào bài học mới

*Bước 2: Chọn và cho học sinh tìm hiểu, phân tích ngữ liệu

Trong chương trình, ngữ liệu thường được rút ra ngay từ những văn bản được chọn ở phân môn văn học đã nêu trước đó và có sự tương thích cao với kiểu loại văn bản sẽ được dạy học ở phân môn làm văn GV tuỳ theo đặc điểm của mẫu

và tri thức lí thuyết để lựa chọn một quy trình dạy học thích hợp GV thường sử dụng câu hỏi đàm thoại theo quy trình quy nạp Hệ thống câu hỏi có nhiều cấp

độ, có câu hỏi trực tiếp nêu vấn đề, có câu hỏi dẫn dắt

Các thao tác thường sử dụng ở bước này:

+ Phân tích- phát hiện: Trên cơ sở các ngữ liệu, GV sử dụng các câu hỏi định hướng để học sinh quan sát, so sánh đối chiếu tìm ra các nét đặc trưng của khái niệm và quy tắc mới

+ Phân tích-chứng minh: Sau khi đã sơ bộ hình thành được tri thức mới, học sinh cần củng cố và khắc sâu chúng GV đưa ra các tài liệu ngôn ngữ chứa các hiện tượng ngôn ngữ mà các em mới được học, yêu cầu các em phát hiện và chứng minh chúng bằng việc vận dụng tri thức mới được học Thao tác này được lặp đI lặp lại một số lần cho đến lúc GV yên tâm là các em đã nắm vững kiến thức và rút ra được khái niệm

*Bước 3: Trình bày định nghĩa về khái niệm:

Để HS có thể tự mình phát biểu được định nghĩa về khái niệm, những điều GV hướng dẫn học sinh phân tích ở bước 2 cần phải được sắp xếp theo những mối

Trang 8

quan hệ hợp lí sao cho HS dễ nhận diện GV nên để tự HS tự phát biểu thành định nghĩa sau đó đối chiếu với SGK, hiệu chỉnh và phân tích ngược trở lại VD: Nghĩa của câu bao gồm mấy thành phần?

Em hiểu như thế nào về nghĩa sự việc ở trong câu?

HS trả lời: Nghĩa của câu bao gồm 2 thành phần: nghĩa sự việc và nghĩa tình thái Nghĩa sự việc là nghĩa ứng với sự việc mà được đề cập đến ở trong câu Nó thường được biểu hiện nhờ các từ ngữ đóng vai trò chủ ngữ,

vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ và một số thành phần phụ khác

*Bước 4: Thực hành luyện tập:

Ngữ liệu của bước nàychủ yếu sử dụng trong hệ thống bài tập thực hành, luyện tập ngay trong SGK Nhưng GV cũng có thể sáng tạo ra những bài tập khác phù hợp với nội dung, mục đích thực hành củng cố Các bài tập này chủ yếu là bài tập nhận diện, tái tạo, sáng tạo

b, Quy trình và phương pháp hình thành một quy tắc ngữ pháp:

Quy tắc ngữ pháp là những quy tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vị ngữ pháp Trong việc dạy học các quy tắc ngữ pháp phải chú ý các yêu cầu sau:

+ Phải xác định đúng nội dung quy tắc và các khái niệm liên quan

+ Phải xem xét, chỉ ra một cách rõ ràng các điều kiện thực hiện quy tắc Mỗi quy tắc chỉ có thể được thực hiện trong những điều kiện nhất định Do đó, dạy- học quy tắc ngữ pháp cần xác định các điều kiện thực hiện quy tắc

VD: Quy tắc lựa chọn trật tự từ trong câu cũng phải căn cứ vào ngữ cảnh, mục đích giao tiếp

+ Phải chú trọng các thao tác thực hiện quy tắc

Các quy tắc ngữ pháp cần được thực hiện hoá thành các thao tác càng chính xác, cụ thể càng tốt Các thao tác được thực hiện theo đúng trình tự

2 Phương pháp dạy học thực hành ngữ pháp:

a, Mục đích, yêu cầu của dạy học thực hành:

Dạy học thực hành nhằm làm sáng tỏ và củng cố cho các khái niệm, các quy tắc lí thuyết Đồng thời giúp cho HS trực tiếp vận dụng những điều đã học trong hoạt động giao tiếp, nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS

Không nên quan niệm dạy học thực hành tách rời với dạy học lí thuyết Như vậy bài ngữ pháp sẽ sinh động và HS sẽ chủ động nắm được tri thức lí thuyết Đây là phần học sinh được thực hành, vận dụng những hiểu biết của mình về văn bản vừa học để giải quyết bài tập trong sách giáo khoa và những bài tập bổ sung khác Học sinh có thể hoạt động cá nhân hoặc hoạt động theo nhóm tuỳ theo dung lượng yêu cầu của câu hỏi ở phần luyện tập giáo viên có thể dành cho

Trang 9

học sinh từ 10 - 15 phút để suy nghĩ, làm bài và trả lời câu hỏi Giáo viên có thể đánh giá, cho điểm ngay học sinh để khích lệ tinh thần học tập của các em

b, Dạy học thực hành ngữ pháp thông qua các bài tập:

* Bài tập nhận diện phân tích:

- Dạng bài tập này cho sẵn một số ngữ liệu và yêu cầu phân tích, xác định, nhận diện một số dấu hiệu của yếu tố ngữ pháp

- Loại bài tập này có tác dụng làm sáng tỏ, củng cố và khắc sâu mở rộng hiểu biết về một khái niệm ngữ pháp nào đó

- Dạng bài tập này, GV lưu ý một số thao tác:

+ Xác định lại khái niệm ngữ pháp có liên quan để làm căn cứ

+ Vận dụng vào ngữ liệu của bài tập để xác định đối tượng ngữ pháp cần nhận diện, phân tích

- Các bước có thể như sau:

+ Bước 1: Treo bảng phụ có chép ngữ liệu.

+ Bước 2: Gọi HS xác định yêu cầu của bài tập.

+ Bước 3: Gọi HS trình bày kết quả nhận diện.

+ Bước 4: Nhận xét, bổ sung, khái quát hoá để củng cố khái niệm

*Bài tập tạo lập:

- Đây là loại bài tập yêu cầu HS tự mình tạo ra một sản phẩm ngôn ngữ theo yêu cầu nào đó

- Bài tập tạo lập có những dạng: tạo lập theo mẫu, tạo lập tiếp sản phẩm theo những yêu cầu nhất định

- Các bước có thể tiến hành như sau:

+ Bước 1: Yêu cầu HS đọc bài tập

+ Bước 2: Hướng dẫn HS xác định các yêu cầu sáng tạo.

+ Bước 3: Giám sát hoạt động làm bài của HS.

+ Bước 4: Gọi một vài HS đọc bài làm sáng tạo của mình.

+ Bước 5: Các HS khác nhận xét, GV đánh giá, bổ sung, sửa chữa.

VD: GV đưa ra bài tập: Em hãy tạo ra một câu có hàm ý từ chối lời mời đi chơi của một người bạn.

 HS trả lời: Mình phải nấu cơm

Mình chưa làm bài tập

*Bài tập sửa chữa:

Trang 10

+ Hướng dẫn HS phát hiện, xác định loại lỗi.

+ Hướng dẫn HS phân tích biểu hiện lỗi

+ Yêu cầu HS chỉ ra những nguyên nhân mắc lỗi cơ bản

+ Xác định hướng và cách sửa chữa

+ HS khác nhận xét và đánh giá

3 Phương pháp hoạt động nhóm khi dạy ngữ pháp

Giáo viên cần phải tuân theo quy trình tổ chức dạy học theo nhóm:

+ Bước 1: Thành lập nhóm

Sau khi giáo viên nêu vấn đề cần giải quyết và những nhiệm vụ đặt ra cho nhóm, giáo viên hướng dẫn cách thức tổ chức nhóm

+ Bước 2: Hoạt động nhóm

Giáo viên phát phiếu hỏi hoặc nêu yêu cầu cho các nhóm, ấn định thời gian làm việc; các nhóm nhận nhiệm vụ, sau đó bầu nhóm trưởng, thư ký, giao trách nhiệm cho các thành viên trong nhóm nếu cần; cả nhóm tập trung giải quyết vấn đề (nêu ý kiến, thảo luận, ghi chép) trong khi học sinh làm việc, giáo viên nên đến từng nhóm hỗ trợ, động viên, nhắc nhở để các nhóm làm việc đảm bảo tiến độ thời gian

+ Bước 3: Thông báo kết quả

Ngày đăng: 12/12/2015, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w