Trong dạy học lịch sử việc sử dụng SĐTD sẽ phát huy tính tích cực và khả năng tưduy của học sinh: + Sử dụng SĐTD trong dạy học dành nhiều thời gian cho học sinh làm việc, côngviệc
Trang 1ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG:
NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP LỊCH SỬ LỚP 11 Ở NỘI DUNG CÁC NƯỚC TƯ BẢN GIAI ĐOẠN 1919-1939 THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
TƯ DUY (TRƯỜNG THPT SỐ 2 MƯỜNG KHƯƠNG)
Trang 2MỤC LỤC
1 TÓM TẮT: 4
2 GIỚI THIỆU 4
2.1 Hiện trạng: 42.2 Giải pháp thay thế: 52.3 Vấn đề nghiên cứu: 62.4 Giả thuyết nghiên cứu: 6
3.1 Khách thể nghiên cứu: 6
3.2 Thiết kế: 6
Bảng 1 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương 7
Bảng 2 Thiết kế nghiên cứu 7
3.3 Quy trình nghiên cứu 7
Bảng 3 Thời gian thực nghiệm 7
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương 7
Bảng 2 Thiết kế nghiên cứu 7
Bảng 3 Thời gian thực nghiệm 7
Bảng 4: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động 8
Trang 41 TÓM TẮT:
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ngày càng phổ biến ở tất cả các môn học Đâyđược coi là khâu đột phá trong việc đổi mới phương pháp dạy học từng bước nâng caochất lượng và hiệu quả dạy – học
Sơ đồ tư duy (SĐTD) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng
và đào sâu các ý tưởng SĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó làmột kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợpvới cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vôtận của bộ não
Cơ chế hoạt động của SĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lướiliên tưởng (các nhánh) SĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vìvậy có thể vận dụng SĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗitiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,
Trong dạy học lịch sử việc sử dụng SĐTD sẽ phát huy tính tích cực và khả năng tưduy của học sinh:
+ Sử dụng SĐTD trong dạy học dành nhiều thời gian cho học sinh làm việc, côngviệc của giáo viên đỡ vất vả nhiều so với cách dạy truyền thống, giúp các em không thấynhàm chán vì bài học dài dòng mà luôn sôi nổi, hào hứng từ đầu đến cuối tiết học Đồngthời sẽ nâng cao hiệu quả trong việc củng cố kiến thức, rèn các kỹ năng và phát triển tưduy lôgíc cho HS
+ Sử dụng SĐTD giúp học sinh học được phương pháp học, học tập một cách tíchcực, huy động tối đa sự tư duy và sáng tạo của mình, từ đó nhớ bài lâu và hiểu bài sâu vàcũng là một phương pháp ghi chép tối ưu so với phương pháp ghi chép truyền thống
Giải pháp của tôi là hướng dẫn học sinh tạo lập và học theo sơ đồ tư duy ở một sốnội dung về tình hình các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939)trong chương trình lớp 11
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: hai lớp 11 trường THPT
số 2 Mường Khương Lớp 11A3 là lớp thực nghiệm và 11A1 là lớp đối chứng Lớp thựcnghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy các bài ở chương II phần II Lịch sử thếgiới lớp 11 Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập củahọc sinh: lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp đối chứng Điểm bàikiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 7,59; điểm bài kiểm trasau tác động của lớp đối chứng là 6,78 Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p < 0,05 cónghĩa là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.Điều đó chứng minh rằng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nội dung các nước tư bảngiai đoạn 1919-1939 làm nâng cao kết quả học tập của học sinh lớp 11 trường THPT số 2Mường Khương
2 GIỚI THIỆU
2.1 Hiện trạng:
Lịch sử là một môn khoa học đặc thù Kiến thức lịch sử là kiến thức về quá khứ Lịch sử là môn học với nhiều lượng thông tin, các vấn đề lịch sử cần xâu chuỗimột cách logic nhằm giúp học sinh nhận biết được quy luật lịch sử, tiến trình lịch sử Vìvậy, học sinh cần được “học cách học” điều đó sẽ giúp các em học tập một cách tích
Trang 5+ Trong nhận thức của phụ huynh học sinh cũng như của học sinh đây là môn học
có vai trò thứ yếu và mờ nhạt trong nhà trường
+ Thực trạng việc dạy và học thường diễn ra một cách khô khan, nặng nề, ít gâyhứng thú cho học sinh Do đó, hiệu quả giáo dục còn gặp nhiều hạn chế, chưa đem lạinhững kết quả như mong đợi của giáo viên giảng dạy bộ môn
+ Tài liệu phục vụ cho bộ môn lịch sử như: sách tham khảo, tài liệu băng đĩa hình,truyện tranh, hiện vật phục chế, sa bàn, … còn hạn chế
Việc học tập chăm chỉ chưa hẳn đã là giải pháp tối ưu, bởi khi có nhiều sự lựachọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà là học như thế nào và sử dụng phương pháp gì.Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu khi học không chỉ học có kiến thức mà còn phải cókhả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức đó Như vậy, việc học mới hoàn thành chutrình khép kín của nó, hay nói cách khác “học phải đi đôi với hành”
Môn Lịch sử nói riêng và các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội khác nóichung thường xuyên được tiếp xúc với kiến thức lí thuyết nhiều Để lĩnh hội kiến thứcđòi hỏi mỗi người học phải ghi chép thường xuyên Hầu hết các em vẫn có suy nghĩ cầnphải ghi tỉ mỉ những lời nói, lời giảng của thầy cô giáo thì việc lĩnh hội kiến thức mớiđược đầy đủ Trong thực tế có những học sinh khi thầy cô giáo giảng bài chỉ cắm cúi ghivào trong vở của mình, về nhà mở vở ra học mặc dù ghi được rất nhiều nhưng đọc mãivẫn không hiểu hoặc có hiểu được thì kiến thức không thành hệ thống Việc học như vậykhiến các em mất nhiều thời gian, học thụ động nhất là sự thụ động rất lớn của các em
HS người sở tại nên cách học đó chưa đem lại hiệu quả cao
Việc sử dụng Sơ đồ tư duy rất hữu ích với người dạy, có thể thiết lập và phát triểnkhả năng học tập chủ động và năng động của học sinh Đây là cách làm khả thi có thểgóp phần giải quyết tận gốc phương pháp dạy học “đọc – chép” mà Bộ giáo dục - đào tạo
đã chỉ đạo khắc phục
2.2 Giải pháp thay thế:
Sơ đồ tư duy phù hợp với tâm sinh lí học sinh muốn thể hiện mình, muốn đượcbạn bè tôn trọng, thừa nhận khả năng, đồng thời khắc phục sự nhàm chán của phươngpháp dạy học thụ động, một chiều Học sinh ghi chép nhanh, tự do, linh hoạt sẽ gây hứngthú cho người học, kích thích tư duy tích cực
Sơ đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh
“Cái cây” ở giữa bản đồ là một ý tưởng chính, các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiềunhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức độ sâuhơn Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được kết nối với nhau,sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể ” mô tả ý tưởng chung một cách đầy đủ, rõràng
Sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy trong dạy và học mang lại hiệu quả cao, phát triển tưduy logic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu thay cho ghi nhớ dướidạng thuộc lòng, học “ vẹt ”
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học phù hợp với tâm lí học sinh, đơn giản dễ hiểuthay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng cách ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hoá kiến thức, có thểvận dụng trong bất kì điều kiện hoàn cảnh nào của nhà trường mà không phụ thuộc quánhiều cơ sở vật chất
Một số đề tài gần đây:
- Đề tài: Áp dụng BĐTD trong việc tăng cường hứng thú học tập môn lịch sử ở
trường THPT hiện nay
Sinh viên: Nguyễn Thị Thanh
Trang 6Lớp: QH-2007-S Sư phạm Lịch sử trường ĐHQG Hà Nội, ĐHSP.
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Khánh Đức
- Đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy Văn học sử ở trường THPT Ngọc Hồi”
- Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Anh Nguyệt – Giáo viên môn văn
- Đề tài: “Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc hệ thống hóa kiến thức môn lịch sửTHPT”
Sinh viên: Đặng Thị Tuyết Mai
Lớp: QH-2007-S Sư phạm Lịch sử.
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Khánh Đức.
- Đề tài: “Phối hợp một số phương pháp dạy học với phương pháp sử dụng bản đồ
tư duy trong dạy học lịch sử 6”
Giáo viên nghiên cứu: Vũ Thị Quỳnh
Đơn vị: Trường THCS Ba Cụm Bắc, Khánh Sơn, Khánh Hòa
Nhìn chung, các công trình, các bài viết trên dù ở những góc độ nghiên cứu khácnhau song đều ít nhiều có đề cập đến vai trò, ý nghĩa cũng như việc sử dụng sơ đồ tư duynhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông Các công trình,các bài viết trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quý báu giúp tôi có cơ sở để giải quyết tốtvấn đề nghiên cứu của mình
2.3 Vấn đề nghiên cứu:
Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nội dung các nước tư bản giai đoạn
1919-1939 có làm nâng cao kết quả học tập của học sinh lớp 11 trường THPT số 2 MườngKhương không?
2.4 Giả thuyết nghiên cứu:
Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nội dung các nước tư bản giai đoạn
1919-1939 có làm nâng cao kết quả học tập của học sinh lớp 11 trường THPT số 2 MườngKhương
- Học sinh: Hai lớp được chọn có nhiều điểm tương đồng nhau
+ Hai lớp được chọn tham gia nghiên cứu có năng lực học tập bộ môn, hầu hết họcsinh ở hai lớp này đều tích cực, chủ động, có ý thức trong học tập tốt
+ Về thành tích học tập của năm học trước, hai lớp tương đương nhau về điểm sốcủa tất cả các môn học
+ Về thành phần học sinh dân tộc thiểu số và giới tính hai lớp có tỷ lệ gần tươngđương Học sinh nữ lớp 11A3=24/32, lớp 11A1 là 20/34, học sinh dân tộc thiểu số lớp
Trang 73.2 Thiết kế:
Tôi sử dụng bài kiểm tra 1 tiết trong chương trình học kỳ I môn lịch sử làm bàikiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sựkhác nhau, tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số
trung bình của hai nhóm trước khi tác động Kết quả:
Bảng 1 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương.
Đối chứng Thực nghiệm
sơ đồ tư duy
03
Đối chứng 02 Dạy học không sử
sơ đồ tư duy 043.3 Quy trình nghiên cứu
*Chuẩn bị bài của giáo viên:
- Đối với lớp đối chứng: Tôi thiết kế kế hoạch bài học không sử dụng sơ đồ tưduy, quy trình chuẩn bị bài như bình thường
- Đối với lớp thực nghiệm: Thiết kế bài học có sử dụng sơ đồ tư duy, tìm kiếmthông tin trên internet, sử dụng các phần mền chuyên dụng để vẽ và thiết kế sơ đồ điện
tử,
- Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và thời khoá biểu
để đảm bảo tính khách quan Cụ thể:
Bảng 3 Thời gian thực nghiệm
Thứ ngày Lớp Tiết theo
PPCT Tên bài dạy13/11/2013 11ª3 12 Bài 11: Tình hình các nước tư bản giữa hai
Trang 8cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939)15/11/2013 11ª3 13 Bài 12: Nước Đức giữa hai cuộc chiếntranh thế giới (1918-1939)16/11/2013 11ª3 14 Bài 13: Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranhthế giới (1918-1939)29/11/2013 11ª3 15 Bài 14: Nhật Bản giữa hai cuộc chiếntranh thế giới (1918-1939)3.4 Đo lường
Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra một tiết của học kỳ I môn lịch sử Bàikiểm tra sau tác động là bài kiểm tra sau khi học xong các bài 11, bài 12, bài 13, bài 14chương trình lịch sử thế giới hiện đại lớp 11 Bài kiểm tra sau tác động gồm 6 câu hỏitrắc nghiệm và 3 câu tự luận Đề kiểm tra này áp dụng cho hai lớp thực nghiệm 11ª3 vàđối chứng 11ª1 để kiểm chứng tác động của việc ứng dụng đề tài này
- Tiến hành kiểm tra và chấm bài: Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên chohọc sinh tiến hành làm bài kiểm tra 45 phút (nội dung kiểm tra trình bày ở phần phụ lục).Sau đó tôi tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
=0.000302, cho thấy: sự chênh lệch giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm và nhóm đối
chứng có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơnđiểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD 7,590,876,78 = 0,93
Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,93 chothấy mức độ ảnh hưởng của dạy học sử dụng sơ đồ tư duy đến kết quả học tập của lớpthực nghiệp là lớn
Trang 9Giả thuyết của đề tài “Nâng cao kết quả học tập lịch sử lớp 11 ở nội dung cácnước tư bản giai đoạn 1919 - 1939 thông qua việc sử dụng sơ đồ tư duy ” đã được kiểmchứng.
Biểu đồ so sánh điểm trung bình của lớp 11ª1 và 11ª3 trước và sau tác động.
4.2 Bàn luận kết quả
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm điểm trung bình =7,59; kết quả bài kiểm tra tương ứng của lớp đối chứng điểm trung bình = 6,78 Độ chênhlệch điểm số giữa hai nhóm là 0,81 Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp đốichứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình caohơn lớp đối chứng
Chênh lệnh giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,93 Điều này
có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Phép kiểm chứng T-Test điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp là p
= 0.000302 < 0,001 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai lớpkhông phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động, nghiêng về lớp thực nghiệm
* Hạn chế:
Nghiên cứu xây dựng và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học một số nội dung lịch
sử thế giới hiện đại lớp 11 là một giải pháp hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượngdạy học bộ môn, nhưng để sử dụng có hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có tâm huyết, đầu
tư nhiều thời gian đặc biệt phải có sự hiểu biết nhất định về công nghệ thông tin, các phầnmềm có liên quan, kĩ năng khai thác và sử dụng thông tin trên internet, nắm vững lý luậndạy học bộ môn Bên cạnh đó cũng còn hạn chế như chưa thu hút được một số HS yếukém vì các em cho rằng học như cũ tốt hơn, đỡ mất thời gian làm quen với cái mới lạ.Đòi hỏi giáo viên phải quan tâm nhiều hơn đến việc dạy học phân hóa theo đối tượng,đảm bảo thu hút được tất cả các đối tượng tham gia
Trang 105 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1 Kết luận:
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình ứng dụng, tôi nhận thấy rằng việchướng dẫn cho học sinh cách học với SĐTD làm nâng cao khả năng tiếp thu kiến thứccho học sinh, học sinh tích cực, hứng thú học tập hơn, đồng thời tạo được hứng thú trongquá trình giảng dạy cho cả cô và trò Nhờ đó mà học sinh khi học Lịch sử có sự tập trungcao độ đối với môn học Lớp học sôi nổi và tất cả các em đều được tham gia hoạt động về
cả thể chất lẫn tinh thần Các em hăng hái vào hoạt động học tập, tinh thần thoải mái Xâydựng thói quen tự học, tự lập kế hoạch trong cuộc sống, tư duy nhanh, rèn phương pháphọc tập Kết quả và thành tích học tập cao hơn: Kiến thức trở nên sâu sắc bền vững, dễnhớ và nhớ nhanh hơn, ghi chép có hiệu quả Nhờ không khí học tập cởi mở giúp họcsinh tự tin, thoải mái thể hiện mình khi trình bày ý kiến qua Sơ đồ tư duy và biết lắngnghe có phê phán ý kiến của thành viên khác
5.2 Khuyến nghị
- Đối với giáo viên: cần phải tích cực thực hiện đối mới phương pháp dạy học,không ngừng học hỏi, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tăng cường ứng dụng cácphương pháp kĩ thuật dạy học mới, biết khai thác thông tin trên mạng internet Giáo viênkhông chỉ sử dụng thành thạo mà còn phải hướng dẫn học sinh các phương pháp học tập
để phát huy tính tích cực và hứng thú học tập bộ môn của học sinh
- Đối với các cấp lãnh đạo: cần quan tâm thích đáng tới hoạt động đổi mới phươngpháp dạy học, đầu tư mua sắm thiết bị kỹ thuật, xây dựng nguồn tư liệu điện tử phục vụdạy học, mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng về phương pháp kĩ thuật dạy học mới cho giáoviên với nội dung thiết thực, phù hợp với thực tiễn dạy học của các trường Trung học phổthông trong đó có sử dụng sơ đồ tư duy có ứng dụng phần mềm CNTT trong dạy học lịch
sử Tổ chức giao lưu với các trường trọng điểm qua đó giáo viên có điều kiện để trao đổivới đồng nghiệp về phương pháp kĩ thuật dạy học mới và những sản phẩm xây dựng từứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng khai thác sử dụng sao cho có hiệu quả
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Sách giáo khoa Lịch sử 11 NXB giáo dục
2 Hướng dẫn thực hiện chuẩn Kiến thức , kĩ năng môn Lịch Sử lớp 11… NXB giáo dục
3 Ứng dụng Bản đồ tư duy (Joyce Wycoff ) ….………NXB LĐXH
4 Thiết kế, sử dụng BĐTD góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
TS Nguyễn Mạnh Hưởng-Tổ Phương pháp dạy học môn Lịch sử-khoa Lịch sử- Trường ĐHSP Hà Nội.
5 Diendankienthuc.net: Tác dụng của BĐTD trong cuộc sống
Trang 12PHỤ LỤC 1: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Tiết 12
Bài 11:TÌNH HÌNH CÁC NƯỚC TƯ BẢN GIỮA HAI CUỘC
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918-1939)
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Về kiến thức: Học sinh nắm được tình hình chung của các nước tư bản giữa hai
cuộc chiến tranh; việc xác lập một trật tự thế giới mới sau chiến tranh.Bản chất củaCNTB 1919 – 1939
- Nắm được quá trình phát triển với nhiều biến động to lớn dẫn tới Chiến tranh thếgiới thứ II của các nước tư bản
+ Hiểu được sự thiết lập một trật tự thế giới mới theo hệ thống hòa ước Oa-sinh-tơn chứa đựng đầy mâu thuẫn và không vững chắc
Véc-xai-+ Nắm được nguyên nhân ra đời của tổ chức Quốc tế Cộng Sản đối lập với chủnghĩa tư bản
+ Thấy rõ nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới
+ Phong trào Mặt trận nhân dân chống phát xít và nguy cơ chiến tranh thu đượckết quả khác nhau ở các nước tư bản
2 Về thái độ, tình cảm, tư tưởng:
Giáo dục tinh thần quốc tế chân chính, tin tưởng vào phong trào đấu tranh củanhân dân lao động, chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa phát xít
- Ủng hộ cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ và giải phóng của nhân dân thế giới
HS: chuẩn bị trước bài mới
III PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
Thảo luận nhóm, thuyết trình, phát vấn, giảng giải
IV TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
Trang 13Dẫn dắt vào bài mới
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, trật tự thế giới được hình thành như thếnào nghiên cứu bài mới để biết được tình hình các nước tư bản sau chiến tranh
3.Tổ chức các hoạt động dạy và học trên lớp.
Hoạt động của Thầy – trò Kiến thức cần đạt
GV hướng dẫn học sinh nội dung chính
của bài học trên sơ đồ tư duy với 2 nội
dung chính là hai ý lớn cấp 1 Đó là mục 1
và mục 3
* Hoạt động 1: tìm hiểu trật tự thế giới
mới Vecxai -Oasinhton.
- Mục tiêu: HS hiểu được sự thiết lập trật
tự Vecsai-Oasing ton
- Thời gian:15p
- Tiến hành: GV triển khai các ý cấp 2
GV hỏi: sau chiến tranh thế giới thứ nhất
các nước thắng trận đã tổ chức những hội
nghị nào?
HS trả lời
GV nhận xét-kết luận
GV hỏi: Với hệ thống hòa ước Vecxai
-Oa-sinh -tơn trật tự thế giới mới được
thiết lập như thế nào?
Với hòa ước Vec-xai -Oa-sinh -tơn,
Áo và Hungari với diện tích nhỏ hơn trước
rất nhiều Trên đất đai Áo - Hungari cũ,
những nước mới được thành lập và Tiệp
khắc và Nam Tư Một số đất đai khác thì
cắt thêm cho Rumani và Italia
PV: Em có nhận xét gì về tính chất
của hệ thống này?
Rõ ràng hệ thống Vec-xai -Oa-sinh
-tơn mang tính chất đế quốc chủ nghĩa, nó
1 Thiết lập trật tự thế giới mới theo hệ thống Vécxai – Oasinhtơn.
- Sau chiến tranh TG 1 các nước tư bảnthắng trận (Anh,Pháp, Mĩ) tổ chức hộinghị Véc xai (1919-1920) và Oa-sinh-tơn(1921-1922) để phân chia quyền lợi
- Qua các văn kiện ký kết một trật tự thế
giới mới được thiết lập => Hệ thống
Vécxai – Oasinhtơn.
- Với hệ thống Vécxai – Oasinh tơn cácnước thắng trận giành được nhiều quyềnlợi về kinh tế và áp đặt, nô dịch các nướcbại trận
2 Cao trào cách mạng 1918 – 1923 ở các nước tư bản Quốc tế Cộng sản.
( Không dạy – giảm tải )
3 Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 –
1933 và hậu quả của nó.
- Đặc điểm:
+ Khủng hoảng về cơ cấu nền kinh tế củachủ nghĩa tư bản
+ Lớn về phạm vi, trầm trọng về mức độ
và kéo dài về thời gian
- Hậu quả:
Trang 14mang lại quyền lợi nhiều nhất cho các
nước Anh, Pháp, Mĩ xâm phạm chủ quyền
và lãnh thổ của nhiều quốc gia, dân tộc,
gây nên những mâu thuẫn sâu sắc trong
nội bộ các nước đế quốc
* Hoạt động 2: Tìm hiểu cuộc khủng
hoảng kinh tế 1929-1933 và hậu quả
của nó.
- Mục tiêu: HS hiểu được nguyên nhân,
đặc điểm và hậu quả
- Thời gian:20p
- Tiến hành:
GV yêu cầu học sinh triển tìm ý cấp 2 của
SĐTD (Nguyên nhân, đặc điểm, hệ quả
của cuộc khủng hoảng)
GV phát vấn yêu cầu học sinh tìm ra các ý
cấp 3
PV: Nguyên nhân chủ yếu của cuộc
khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 ?
HS trả lời
GV khái quát, bổ sung kiến thức
PV: Đặc điểm của cuộc khủng hoảng kinh
+ Chính trị - xã hội: bất ổn định Những
cuộc đấu tranh, biểu tình diễn ra liên tụckhắp cả nước, lôi kéo hàng triệu ngườitham gia Tỉ lệ người thất nghiệp cao,
- Để đối phó lại cuộc khủng hoảng kinh tế
và đàn áp phong trào cách mạng,giai cấp
tư sản cầm quyền ở các nước tìm cáchthoát khỏi bằng hai con đường
+ Anh-Pháp-Mĩ: Cải cách kinh tế duy trìCNTB thoát khỏi khủng hoảng
+ Đức-Italia-Nhật: Thiết lập hình thứcthống trị mới (CNPX ra đời) ráo riết chạyđua vũ trang
=>Sự ra đời của hai khối đế quốc đối lập,báo hiệu nguy cơ của một cuộc chiến tranhthế giới mới
4.Phong trào Mặt trận nhân dân chống phát xít và nguy cơ chiến tranh.
Không dạy
4 Tổng kết: 3p
- Cũng cố: Hậu quả cuộc khủng hoảng 1929 – 1933 ?
- Dặn dò: Học bài cũ, trả lời câu hỏi sách giáo khoa
V RÚT KINH NGHIỆM