Do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu cho sáng kiến kinh nghiệm, đểgiúp các em học sinh tiếp cận tác phẩm văn học HTPP một cách hiệu quả nhất.Từ đó, hiểu sâu sắc về vai trò, những đóng góp,
Trang 1Sở giáo dục và đào tạo lào cai
Trờng thpt số 1 bát xát
Đề TàI SáNG KIếN
“Một số phơng pháp hớng dẫn học sinh đọc hiểu phần truyện ngắn hiện
thực phê phán Việt Nam ở cấp Trung học Phổ thông”
Họ và tên: Đỗ Thị Ngọc Quyên Chức vụ: Giáo viên
Tổ chuyên môn: Văn - Sử - GDCD
Đơn vị công tác: Trờng THPT số 1 Bát Xát
Năm học 2013 - 2014
Trang 2MỤC LỤC
TRANG
PHẦN 1: THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1
PHẦN 2: MÔ TẢ SÁNG KIẾN 3
1 Mở đầu 3
1.1 Lí do chọn đề tài 3
1.1.1 Cơ sở lí luận 3
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 3
1.2 Mục đích nghiên cứu 4
1.3 Bản chất cần được làm sáng tỏ của vấn đề nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 2
1.6 Kế hoạch nghiên cứu 2
2 Nội dung 4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.1.1 Khái niệm 4
2.1.2 Truyện ngắn 4
2.1.3 Chủ nghĩa hiện thực phê phán 4
2.1.4 Khái niệm và vai trò của tình huống truyện 6
2.1.5 Khái niệm nhân vật văn học và nhân vật điển hình 6
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 8
2.2.1 Việc giảng dạy truyện ngắn HTPP hiện nay 8
2.2.2 Những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh trong việc dạy và học môn Ngữ văn 8
2.3 Một số phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn phần truyện ngắn HTPP Việt Nam ở cấp THPT 9
2.3.1 Hướng dẫn HS tiếp cận truyện ngắn HTPP từ tình huống truyện 9
2.3.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn tác phẩm truyện ngắn từ góc độ tình huống truyện 10
2.3.2.1 Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao 10
2.3.2.2 Tác phẩm “ Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan 10
2.3.2.3 Đoạn trích “ Hạnh phúc của một tang gia” – trích tiểu thuyết “ Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng 12
2.4 Phương pháp tiếp cận truyện ngắn HTPP từ nhân vật điển hình 13
2.4.1 Xác định nhân vật điển hình 13
2.4.2 Phân tích nhân vật điển hình 13
2.4.3 Đánh giá vai trò, ý nghĩa tư tưởng của nhân vật 14
2.4.4 Giảng dạy tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao từ nhân vật điển hình .14
2.5 Tổ chức thực hiện – đánh giá kết quả 16
2.5.1 Tổ chức thực hiện 16
2.5.2 Kết quả đạt được 26
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 28
3.1 Kết luận 27
Trang 33.2 Kiến nghị 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 4sĩ theo khuynh hướng hiện thực, làm nên sự phong phú cho nền văn học dân tộc.Đồng thời văn học HTPP cũng được coi là một trong những nghệ thuật tiền cáchmạng, bám sát đời sống, có giá trị thức tỉnh nhân dân Và thúc đẩy cuộc đấutranh giải phóng dân tộc bằng những điển hình văn học bất hủ Nó đã khơi dậyđược lòng bất bình, bồi dưỡng ý thức tự bứt phá, vươn lên đón chào cuộc sốngmới đẹp tươi Do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu cho sáng kiến kinh nghiệm, đểgiúp các em học sinh tiếp cận tác phẩm văn học HTPP một cách hiệu quả nhất.
Từ đó, hiểu sâu sắc về vai trò, những đóng góp, thành tựu của dòng văn học nàyđối với văn chương nước nhà
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Môn văn là môn học giữ vị trí quan trọng trong chương trình phổ thông
Do đặc thù riêng của bộ môn, những tác phẩm văn học HTPP khi đưa vào giangdạy trong nhà trường đều thuộc ở thế kỉ trước, có khoảng cách khá xa với thựctại Để hiểu được những tư duy, quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của nhà văn, củathời đại là khó khăn lớn đối với người học
Mặt khác, dung lượng kiến thức lớn, lại bị hạn chế trong thời gian 1 đến 2tiết học, khiến nhiều giáo viên khi giảng dạy chưa đạt tới đích những giá trị củatác phẩm văn học HTPP
Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa,nền kinh tế phát triển như vũ bão Điều đó, đã ảnh hưởng sâu sắc tới mọi tầng lớp
xã hội, trong đó có học sinh Các em xem nhẹ môn ngữ văn, chỉ quan tâm đếncác môn khoa học tự nhiên như toán, lí, hóa để dễ chọn trường, chọn nghề Cònhọc các môn khoa học xã hội, trong đó có môn ngữ văn, sẽ có ít cơ hội để chọntrường
Từ hực tế trên, đòi hỏi giáo viên Ngữ văn phải có phương pháp hướng dẫnhiệu quả, hấp dẫn trong từng tiết đọc văn Từ đó, định hướng, tổ chức cho họcsinh thu thập thông tin, chinh phục kho tang tri thức tốt hơn
Trong 3 năm giảng dạy lớp 11, tôi phát hiện rất nhiều điều thú vị về những
tác phẩm văn học HTPP Vì thế, tôi quyết định chia sẻ cùng đồng nghiệp “Một
số phương pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu phần truyện ngắn hiện thực phê phán Việt Nam ở cấp Trung học Phổ thông” Tôi sẽ hướng dẫn học sinh
đi từ tình huống truyện và nhân vật điển hình
Trang 5học và đời sống hiện nay Qua đó bồi dưỡng tình yêu, niềm đam mê của các emđối với môn học.
Mặt khác, qua sáng kiến này, tôi cũng coi đó là kết quả bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ, tích lũy những kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân
1.3 Bản chất cần được làm sáng tỏ của vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu một số phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn phần vănhọc hiện thực phê phán Việt Nam hiệu quả, để phát huy tính tích cực, chủ độnghọc tập của học sinh Cụ thể, đó là hai phương pháp: tìm hiểu tác phẩm từ góc độtình huống truyện và xây dựng nhân vật điển hình trong truyện ngắn HTPP
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu nội dung giảng dạy truyện ngắn HTPP, người viết chỉ giới hạn chọnphần truyện ngắn HTPP Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 11-cơ bản-Học kì
I làm đối tượng nghiên cứu chính Cụ thể là tác phẩm: “Chí Phèo” (Nam Cao);đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” –Trích tiểu thuyết “Số đỏ” (Vũ TrọngPhụng); “Tinh thần thể dục” (Nguyễn Công Hoan)
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp chia nhỏ các chi tiết, hìnhảnh, tình tiết để tìm hiểu một cách cụ thể, cặn kẽ Từ đó, làm rõ bản chất của cáchình ảnh, sự kiện đó
Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp đặt hai đối tượng trong mốitương quan với nhau để làm nổi bật sự khác biệt So sánh giúp ta thấy được nétđộc đáo trong cách sáng tạo tình huống truyện của từng nhà văn
Phương pháp tổng hợp- khái quát: Sau khi phân tích các hình ảnh, chi tiết,người viết sẽ tiến hành tổng hợp- khái quát để rút ra ý nghĩa của vấn đề nghiêncứu
1.6 Kế hoạch nghiên cứu
Bước 1: Tìm hiểu thực trạng của vấn đề
Bước 2: Đưa ra các giải pháp để thay đổi thực trạng
Bước 3: Tiến hành soạn giảng một tác phẩm một tác phẩm truyện ngắntrong nhà trường có lồng ghép phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn phầntruyện ngắn HTPP
Bước 4: Đánh giá về hiệu quả của giải pháp
Trang 6PHẦN 2: NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Khái niệm
2.1.1.1 Truyện ngắn
Trong lịch sử nghiên cứu văn học, có rất nhiều tác giả đã đưa ra nhữngcách phân biệt, nhận diện khác nhau về thể loại truyện ngắn Như W.Gớt thế kỉXVII; Sê-Khốp, Lỗ Tấn, Mô-pat-xăng, An-tô-nốp thế kỉ XIX và XX (Văn họcthế giới), đến Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Kiên (văn họcViệt Nam)… Các khái niệm thường xoáy vào bình diện chính: dung lượng, cốttruyện, nhân vật, chi tiết, ngôn ngữ… để khái quát thành đặc trưng Người chotruyện ngắn là một “khoảnh khắc”, một “trường hợp”, người nhấn mạnh vàonhân vật, vào tính súc tích của chi tiết, cô đúc của ngôn từ… Về cơ bản ta có thểrút ra khái niệm: truyện ngắn là một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung thườngchỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó
2.1.1.2 Chủ nghĩa hiện thực phê phán
Đây là khái niệm dùng để chỉ một phương pháp nghệ thuật hay mộtkhuynh hướng, một trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ, xác định trên cơ sở cánguyên tắc mĩ học: mô tả cuộc sống bằng hình tượng tương ứng với băn chấtnhững hiện tượng của chính cuộc sống và bằng điển hình hóa các sự kiện củathực tế đời sống Thừa nhận sự tác động qua lại giữa con người và môi trườngsống, giữa tính cách và hoàn cảnh Các hình tượng nghệ thuật của hiện thực phêphán hướng tới tái hiện chân thực các mối quan hệ khác của con người và hoàn
cảnh (Từ điển thuật ngữ văn học- Trang 78).
Ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện thực phê phán xuất hiện vào những năm 30của thế kỉ XX với các cây bút tiêu biểu như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng…
2.1.1.3 Khái niệm và vai trò của tình huống truyện
Theo Hê-ghen- nhà triết học, mĩ học lỗi lạc người Đức thì “tình huống là một trạng thái có tính chất riêng biệt và trở thành được quy định Ở trong thuộc tính này của nó, tình huống góp phần biểu lộ nội dung là cái phần có được một
sự tồn tại bên ngoài bằng sự biểu hiện nghệ thuật”.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Với truyện ngắn và với một tác giả có kinh nghiệm viết, tôi nghĩ rằng đôi khi người ta nghĩ ra được một cái tình thế xảy ra chuyện, thế là coi như xong một nửa… Những nhà văn có tài đều là những người có tài tạo ra những tình thế xảy ra truyện vừa rất cá biệt vừa mang tính phổ biến hoặc tượng trưng” và “….những người cầm bút có cái biệt tài có
thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đócuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộcsống… nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phầntâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi là khoảnh khắc chứa
đựng cả một đời người, một đời nhân loại” (Nguyễn Minh Châu- Trang giấy trước đèn, NXB KH XH, 1994,trang 258).
Như vậy, tình huống còn được gọi là tình thế Nhà vaen Nguyễn Kiên đãhơn một lần nói về bản chất và vai trò của tình huống: “Theo quan niệm của tôi,
Trang 7mỗi truyện ngắn chỉ tập trung vào một tình thế nảy sinh trong cuộc sống Nếutruyện ngắn có đến hơn một tình thế thì truyện ngắn đó lập tức bị phá vỡ”.
Từ một số ý kiến trên, có thể khái quát về tình huống truyện như sau: tìnhhuống truyện là tình thế xảy ra truyện, là khoảnh khắc mà trong đó sự việc diễn
ra rất đậm đặc, là khoảnh khắc chứa đựng cả đời người Tình huống truyện cònđược hiểu là mối quan hệ đặc biệt giữa nhân vật này với nhân vât khác, giữanhân vật với hoàn cảnh và môi trường sống Qua tình huống, nhà văn bộc lộ tâmtrạng, tính cách, thân phận của nhân vật… Tình huống góp phần thể hiện tưtưởng, tình cảm của người nghệ sĩ một cách sâu sắc
* Phân loại tình huống truyện
Hiện nay, có nhiều cách phân loại tình huống khác nhau Về cơ bản có 3loại tình huống như sau:
- Tình huống hành động: là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bịđẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động Tìnhhuống này thường hướng tới một kiểu nhân vật: Nhân vật hành động Tức là loạinhân vật chủ yếu được hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động của nó, cácbình diện khác ít được quan tâm Do đó, nó quyết định đến diện mạo của toàntruyện: truyện ngắn giàu kịch tính( truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao la mộttruyện ngắn tiêu biểu)
- Tình huống tâm trạng Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở đó nhânvật rơi vào một tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tìnhcảm Tình huống này thường dẫn tới một kiểu nhân vật là: con người tình cảm.Nghĩa là kiểu nhân vật được hiện lên chủ yếu bằng thế giới nội cảm của nó Nhàvăn dựng lên hình tượng nhân vật chủ yếu bằng một hệ thống chất liệu là cảmgiác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng Còn các khía cạnh khác(như ngoại hình, hành động, lí tính….) ít được quan tâm Vì thế, nó quyết địnhđến diện mạo của truyện: truyện ngắn trữ tình (truyện ngắn “Hai đứa trẻ” củaThạch Lam nghiêng về dạng này)
- Tình huống nhận thức Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đónhân vật được đẩy tới một tình thế bất thường: đối mặt với một bài học nhậnthức, bật lên một vấn đề (về nhân sinh, về nghệ thuật) cần phải vỡ lẽ, giác ngộ.Kiểu nhân vật của dạng tình huống này đương nhiên là: nhân vật tư tưởng Nghĩa
là kiểu nhân vật được khai thác chủ yếu ở đời sống nhận thức lí tính của nó Chấtliệu cơ bản để dệt nên nhân vật là hệ thống những quan sát, phân tích, suy lí, đúckết, chime nghiệm, toan tính… Mà trường hợp đậm đặc nhất là mỗi nhân vậtgiống như một tư tưởng được nhân vật hóa vậy Diện mạo của loại truyện ngắnnày cũng đương nhiên là nghiêng về triết luận (Chữ người tử tù của NguyễnTuân, Đôi mắt của Nam Cao)
2.1.1.4 Khái niệm nhân vật văn học và nhân vật điển hình
*Nhân vật văn học
- Theo từ điển thuật ngữ văn học: Nhân vật văn học có thể là con người
(có tên hoặc không có tên), con vật trong các câu truyện ngụ ngôn, có thể là đồvật hay một loài cây nào đó Điểm chung là các đối tượng đó được xem như làmột phương tiện để chuyển tải những quan niệm, những suy nghĩ về con người
Trang 8- Nhân vật văn học là một hình tượng có tính chất ước lệ, có những dấuhiệu để nhận biết: tên gọi, dấu hiệu về tiểu sử, sự nghiệp, đặc điểm riêng về ngoạihình, ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ Các yếu tố này có thể xuất hiện tập trung hoặcrải rác tùy thuộc vào mục đích của tác giả Những điểm đó có thể có quá trìnhvận động Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách nhân vật:nhân vật chính diện, nhân vật phản diện; nhân vật trung tâm, nhân vật chính,nhân vật phụ; nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch.
* Nhân vật điển hình
- Trong đời sống xã hội, ta thường gặp những khái niệm điển hình: họcsinh điển hình, một gia đình điển hình cho khu phố về cách giáo dục con cái.Chúng có nghĩa là những cái bình thường nhất, tiêu biểu nhất, lí tưởng nhất củamột người nào đó, một điều gì hoặc một môi trường nhất định Song điển hìnhnghệ thuật không hoàn toàn giống hệt điển hình xã hội Về bản chất, điển hìnhkhông phải là cá biệt nhưng lại là cái cá biệt, là một cá tính xác định, độc đáoriêng biệt khác nhau, có ở nhân vật này mà không có ở nhân vật khác Đó chính
là “người lạ” theo cách nói của Bê-ê-lin-xki Có thể hiểu nhân vật điển hình lànhân vật tính cách đã đạt đến độ sâu sắc, là sự thống nhất cao độ giữa cái riêng
và cái chung, cái cá thể và cái cộng đồng Nhân vật điển hình được coi là mộtquy định nghiêm ngặt của phương pháp sáng tác hiện thực
- Giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn phát triển nhảy vọt của cái tôi cá nhân Vănhọc phản ánh nhân vật như một tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình tạonên nghệ thuật đặc sắc của văn học hiện thực phê phán
* Nhân vật điển hình trong văn xuôi hiện thực phê phán
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các kiểu nhân vật, sáng kiến dựavào thực tiễn văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX và chọn một tiêu chí được coi nhưmột đóng góp nhỏ của mình Đó là dựa vào hiện tượng tha hóa của con người,đem áp dụng vào trong nghiên cứu điển hình văn học, ta sẽ thấy các kiểu nhânvật đó như sau:
- Kiểu nhân vật lao động bị áp bức, bị dồn vào đường cùng tha hóa, nhưng
cố vượt lên với tinh thần phản kháng: chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố vàanh Pha trong “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan
- Kiểu nhân vật phản diện thuộc thuộc tầng lớp thống trị tự lao vào tha hóađến mất hết tính người: Nghị Quế trong “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố), Nghị Lại trong
“Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan), Nghị Hách trong “Giông tố” (VũTrọng Phụng) và Bá Kiến trong “Chí Phèo” (Nam Cao)
- Kiểu nhân vật “hãnh tiến”- tha hóa ngược: Xuân tóc đỏ là một nhân vậttính cách, một nhân vật điển hình của chủ nghĩa hiện thực, có tính cách phongphú và đa dạng, tiêu biểu cho loại người hạ lưu, vô học, nhờ hoàn cảnh xã hội bátnháo, đã tạo điều kiện để hắn tiến thân trở thành một kẻ “nổi tiếng” Nó là mộtnhân vật “tiến lên trong xã hội tư sản hoàn toàn bằng con đường gian trá, bịpbợm” (Phan Cự Đệ) Hoàn cảnh đã tạo điều kiện rất thuận lợi để Xuân bước tớivinh hoa, phú quý, rồi chính nó “từ chỗ bị động, nó tiến lên chủ động, khai tháctriệt để vận đỏ của nó” (Nguyễn Đăng Mạnh)
- Kiểu nhân vật bị tha hóa nhưng quyết không chịu tha hóa đến cùng Nhânvật Tám Bính trong tác phẩm “Bỉ vỏ” của nhà văn Nguyên Hồng và nhân vật Chí
Trang 9Phèo của Nam Cao tiêu biểu cho kiểu loại nhân vật này Trong tác phẩm củaNam Cao, kiểu con người tha hóa được khai thác một cách toàn diện và triệt để.Tha hóa và chống lại tha hóa, các nhân vật đã phải trả một cái giá rất đắt chochính mình Nguyên Hồng và Nam Cao đã cố gắng đi tìm những nét đẹp còn ẩnsâu trong tâm hồn của những con người bị tha hóa- một quan niệm rất tiến bộ củacác nhà văn hiện thực phê phán Việt Nam.
- Kiểu nhân vật tiểu tư sản trí thức bị tha hóa nhân cách với những bi kịch
vỡ mộng Nhân vật Thứ trong “Sống mòn” (Nam Cao), Điền trong “Giăng sáng”(Nam Cao), Hộ trong “Đời thừa” (Nam Cao) đều là những người trí thức đầy ước
mơ, hoài bão nhưng phải vật lộn trong những lo toan của đời thường, họ đều rơivào bi kịch vỡ mộng Chính điều này, đã tạo ra phương diện tinh tế của văn học.Nam Cao đã nói về họ với sự cảm thông sâu sắc và hiểu biết thực sự
2.2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Việc giảng dạy truyện ngắn HTPP hiện nay
- Một là, tác phẩm truyện ngắn chiếm một số lượng khá lớn trong chươngtrình Ngữ văn ở trường phổ thông Điều này, phản ánh đúng tương quan củathành tựu truyện ngắn so với những thể loại văn xuôi khác trong đời sống vănhọc của chúng ta Theo phân phối chương trình Ngữ văn lớp 11 (Ban cơ bản),truyện ngắn HTPP dạy 6 tiết, cụ thể: Tiết 44;45: Hạnh phúc của một tang gia”-
Vũ Trọng Phụng; Tiết 52,53: Chí Phèo- Nam Cao; Tiết 56,57: Đọc thêm: Chacon nghĩa nặng, Vi hành, Tinh thần thể dục (trong tiết này chỉ có “Tinh thần thểdục thuộc truyện ngắn HTPP
- Hai là, một trong những đặc trưng quan trọng của văn học HTPP là mô tảcuộc sống bằng hình tượng, xây dựng các điển hình hóa nhân vật vừa mang tính
cụ thể, lại vừa đạt được tính khái quát cao trong việc phản ánh hiện thực của đờisống xã hội Bên cạnh đó, truyện ngắn HTPP còn thành công ở việc xây dựngnhững tình huống độc đáo Tuy nhiên việc khai thác, tìm hiểu, khám phá truyệnngắn HTPP trên thực tế của học sinh chưa được sâu sắc Bởi vì, thời lượng số tiếthọc không nhiều, kiến thức lí luận của các em về trào lưu văn học này cũng cònhạn chế
- Ba là, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dẫn của bộ Giáo dục vàĐào tạo đã được triển khai, nhằm tăng cường sự hứng thú, tích cực của học sinh.Nhưng trên thực tế, việc giảng dạy văn học HTPP vẫn còn những khó khăn chưathể khắc phục
2.2.2 Những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh trong việc dạy và học môn Ngữ văn
2.2.2.1 Thuận lợi
- Giáo viên đã tích cực hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, hỗ trợ kiếnthức cho nhau Và thông qua hoạt động này, những học sinh yếu kém được hoạtđộng một cách tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên và học sinh khá, giỏi
- Trong quá trình dạy học, đã kết hợp với các đồ dùng dạy học, khai tháctriệt để các phương tiện dạy học như tranh ảnh, phim, ứng dụng công nghệ thôngtin
- Theo kế hoạch và phương pháp hoạt động của nhà trường, giáo viêntrong các tổ chuyên môn, mỗi tháng sinh hoạt chuyên môn định kì 2 lần, chú
Trang 10trọng đến đổi mới phương pháp dạy học theo nghiên cứu bài học để mỗi thầy, côgiáo có dịp nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ.
- Học sinh được phụ huynh quan tâm, học tập trong môi trường tương đốiđầy đủ về cơ sở vật chất, tiếp cận với công nghệ thông tin, mang Internet….phục
vụ thiết thực cho việc học tập
2.2.2.2 Khó khăn
- Về phía giáo viên: Việc giảng dạy các tác phẩm truyện ngắn HTPP chưa
được đặt tác phẩm trong một tình huống cụ thể (thời gian, không gian), để xemxét các mối quan hệ đa chiều, biện chứng với các nhân vật, nội dung và nghệthuật Một số giáo viên vẫn chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh, hoặc chỉ
áp dụng trong các giờ thao giảng Dẫn đến việc học sinh chưa tích cực trong quátrình học tập
- Về phía học sinh:
+ Chưa xác định được chính mình là trung tâm của quá trình Dạy- học vớilối sống thụ động, ít soạn bài và học bài theo hướng dẫn của thầy cô trước khiđến lớp
+ Học sinh thường trả lời câu hỏi của giáo viên đặt ra qua việc nhìn sáchgiáo khoa, hoặc sách tham khảo, nhắc lại chưa có suy nghĩ độc lập Việc phântích, tổng hợp giá trị nội dung, tư tưởng bài học còn nhiều hạn chế
+ Tư liệu học tập đa dạng, nhiều tác giả, nhiều nhà xuất bản Điều kiện tìmhiểu đọc, học, nghiên cứu ở các em chưa tốt, bị nhiễu
2.3 Một số phương pháp hướng dẫn học sinh đọc văn phần truyện ngắn HTPP Việt Nam ở cấp THPT.
2.3.1 Hướng dẫn học sinh tiếp cận truyện ngắn HTPP từ tình huống truyện
2.3.1.1 Những vấn đề chung khi tiếp cận tình huống truyện
- Khi giảng dạy một tác phẩm truyện ngắn HTPP, sau phần Giới thiệuchung (giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của tác giả; giới thiệu vềhoàn cảnh ra đời của tác phẩm,vị trí của đoạn trích/tác phẩm….), trong phầnĐọc- hiểu văn bản, tôi thường hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tình huống truyện.Xuất phát từ tình huống truyện, tôi khai thác tác phẩm về các khía cạnh: nhânvật, kết cấu, nghệ thuật trần thuật,… Từ đó, tôi hướng dẫn học sinh rút ra đượcchủ đề tác phẩm
sự kiện ấy mới trùm lên tất cả?
- Tìm tên gọi để định danh Đây là khâu khá then chốt, chưa tìm được tênthích hợp thì xem như tình huống vẫn còn nằm ngoài tầm tay của ta vậy
2.3.1.3 Phân tích tình huống
cần phân tích trên các bình diện cơ bản sau:
- Diện mạo của tình huống (bình diện không gian)
Trang 11- Diễn biến của tình huống (bình diện thời gian).
- Mối liên kết của tình huống với các khâu khác của tác phẩm (chi phốiđến tổ chức hình thức của văn bản nghệ thuật thuật truyện ngắn)
2.3.1.4 Rút ra ý nghĩa tư tưởng của tình huống
- Về quan niệm: Toát lên quan niệm gì về nhân sinh, thẩm mĩ ?
“tiếng chửi” Điều đó, vừa gây sự tò mò cho người đọc, vừa làm nổi bật tư tưởng,chủ đề của tác phẩm: “Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong làhắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời….hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ
ra cái thằng Chí Phèo…”
2.3.2.1.2 Phân tích tình huống truyện
- Sự tha hóa của Chí Phèo trải qua hai chặng: chặng một, từ một nông dânlương thiện trở thành một kẻ lưu manh, côn đồ; chặng hai, từ kẻ lưu manh, côn
đồ trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại Đặc biệt, chi tiết “tiếng chửi” cũng tạonên sự hấp dẫn cho câu chuyện Tiếng chửi không phải bâng quơ, mà là một phảnứng, một khát vọng được giao tiếp với mọi người trong làng Vũ Đại của Chí Đócũng là tâm trạng ẩn chứa tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí
- Từ “tiếng chửi” người đọc mới dần nhận ra nhân vật Chí Phèo: từ lai lịch,đến quá trình tha hóa, đến cuộc gặp với Thị Nở, đến Chí muốn làm người lươngthiện, để rồi giết Bá Kiến và tự sát…
- Thông qua “tiếng chửi” và hình tượng nhân vật Chí Phèo, Nam Caokhẳng định người nông dân trước cách mạng Tháng tám, năm 1945 không chỉ đóikhổ vì miếng cơm manh áo, mà điều đau đớn là bi kịch về lĩnh vực tinh thần Đó
là một bi kịch dai dẳng không lối thoát Mặt khác, Nam Cao còn khẳng địnhphẩm chất tốt đẹp của người nông dân dù bất cứ trong hoàn cảnh khắc nghiệtnào
2.3.2.1.3 Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện
- Người nông dân bị xã hội tàn phá về tâm hồn, hủy diệt cả nhân tính, bịphủ nhận giá trị, tư cách làm người
- Nỗi thống khổ ghê ghớm của Chí Phèo không phải ở chỗ tất cả cuộc đờingười nông dân cố cùng này chỉ là một số không: không nhà không cửa, khôngcha không mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm rùi, cả đời không hềbiết đến một bàn tay chăm sóc của đàn bà nếu không gặp Thị Nở….,mà chính là
ở chỗ Chí đã bị xã hội rạch nát cả bộ mặt người, cướp đi linh hồn người, để bịloại ra khỏi xã hội loài người, phải sống kiếp sống tối tăm của thú vật
- Thông qua tác phẩm, Nam Cao muốn gửi gắm một thông điệp: Hãy cứulấy linh hồn của những người nông dân bằng tình yêu thương đồng loại: Giá trịhiện thực và nhân đạo của tác phẩm
Trang 122.3.2.2 Tác phẩm “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan
2.3.2.2.1 Xác định tình huống
- Tình huống của truyện chính là tờ sức của quan tri huyện Lê Thăng, yêucầu hương lí xã Ngũ Vọng thực hiện việc đi cổ vũ bóng đá… Và đó chính là tìnhthế xảy ra câu chuyện- tình huống truyện Từ đây, để thực hiện mệnh lệnh củaquan tri huyện, mà 5 cảnh bi- hài kịch cười ra nước mắt đã diễn ra, tiếng cườitrào phúng cũng vì thế mà trở nên sâu sắc hơn
2.3.2.2.2 Phân tích tình huống truyện
- Nội dung tờ sức (chỉ thị) mà quan tri huyện yêu cầu hương lí xã NgũVọng phải thực hiện: Tại sân vận động huyện có cuộc đá bóng thi, chỉ thị cho cácthầy “phải thông báo cho dân làng biết và phải dẫn đủ một trăm người, đúng 12giờ trưa đến xem”, ai cũng phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh và phải “vỗtay luôn luôn”; “làng Ngũ Vọng lại phải có 5 lá cờ, sẵn sàng từ 10 giờ sáng”….Nếu không tuân lệnh sẽ bị khiển trách
- Tờ sức của quan tri huyện thật oái oăm, kì lạ:
+ Ngôn ngữ nửa tây, nửa ta, xen cả tiếng Tàu
+ Việc đi xem bóng đá, thể dục thể thao vốn là tự nguyện nay trở thành
từ tờ mờ sáng, cẩn thận như trông coi tù bin
+ Đối lập với “tinh thần thể dục” nhiệt huyết của các chức dịch địaphương, là tình cảnh thảm hại của những người dân bị áp giải đi xem bóng đá.Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng đều “cười ra nước mắt”: Anh Mịch van xin ông
lí được miễn đi xem bóng đá để còn đi làm thuê trừ nợ, nếu không thì “ vợ concon chết đói” Bác Phô gái có cành cau, để mở lời xin đi thay cho chồng, vìchồng còn đang ốm mà cũng chẳng xong Bà cụ phó Bính xin đi thuê người đithay con trai, cũng mất 3 hào “đút lót” Khổ thân nhất thằng Cò, chẳng biết trốn
đi đâu, cuối cùng cũng bị “bắt sống” khi đang nằm ẹp với con trốn trong đốngrơm và bị “lôi xềnh xệch đi” dù hết lời xin xỏ…
Như vậy, cuộc vận động đi xem bóng đá trên huyện, nhằm hưởng ứng tinhthần thể dục, qua ngòi bút của tác giả biến thành “cuộc săn ráo riết”, “tróc nã”người dân Kẻ van lạy, người đút lót, hối lộ… Dân sợ đi xem bóng đá như sợgiặc, họ phải đi ngủ nhờ nhà khác thậm chí làng khác Ba bốn giờ chiều mới bắtđầu, huyện dặn 12 giờ trưa có mặt để điều quân, vậy 10 giờ phải có mặt cho
“sớm sủa” Do đó, gà gáy phải tập trung ở đình, từ chiều hôm trước phải nắmcơm Buổi xem bóng đá nhanh chóng trở thành một cuộc “đày đọa tập thể”, chứkhông phải là tinh thần thể thao “vui vẻ trẻ trung”
2.3.2.2.3 Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện
Trang 13- Nhà văn đã tố cáo mạnh mẽ tính chất bịp bợm, giả dối của phong trào
“thể dục thể thao” do thực dân Pháp khởi xướng, cổ động rầm rộ hòng đánh lạchướng thanh niên khi đó
- Một khi người dân còn đói cơm rách áo thì mọi sự cổ động cho phongtrào thể dục thể thao chỉ là trò bịp bợm
2.3.2.3 Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”- trích tiểu thuyết
2.3.2.3.2 Phân tích tình huống truyện
- Vũ Trọng Phụng đã xây dựng thành công một tình huống điển hình, đểphơi bày những bộ mặt đồi bại trong cái gia đình trưởng giả này Đồng thời, vạchtrần những cặn bã, những “quái thai” của xã hội nửa tây, nửa ta buổi ấy
Cha chết ông chết, bọn con cháu vô tâm cũng sung sướng thỏa thích Đây là dịphiếm có để khoe của, khoe giàu, phô cái sang cho thiên hạ biết
- Từ tình huống trào phúng được gợi lên ở đầu chương truyện mà baonhiêu cảnh bi hài kịch, bao nhiêu cái “rởm đời” của xã hội ấy được phơi bày
+ Người con trai cả- cụ cố Hồng- hút liền một chập những điếu thuốcphiện, hả hê lim dim đôi mắt Bữa nay cha chết, cụ vui vẻ lắm, nhưng thằng bồitiêm vẫn còn đếm được 1872 câu gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” Trong cái dư
vị êm ái của thuốc phiện, cụ “Nhắm nghiền mắt lại để mơ màng” đến cái giờ phúthạnh phúc: được mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, đểcho thiên hạ phải trầm trồ: “Một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế”,….Rồi ngạc nhiên chỉ trỏ: “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa….” Con trai
đã “báo hiếu” cha như vậy! Đó là một nét biếm họa thần tình Tâm hồn sa đọa,đạo lí suy đồi đến cùng cực, từ cha đến con
+ Hai đứa cháu nội của cụ cố Tổ xuất hiện giữa đám tang với bao nét kệchcỡm, lố lăng Văn Minh đi Tây du học 6-7 năm mà chẳng có một “mảnh bằngnào cả”, về nước hắn mở hiệu may để cổ vũ cho cái trò “Âu hóa” nhằm “phô ranhững bộ phận kín đáo của phái đẹp” Ông nội chết, đứa cháu này nghĩ ngay đếnviệc chia gia tài “cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là líthuyết viển vông nữa”
+ Cậu tú Tân thì mở cờ trong bụng, được dịp trổ tài bấm máy lách tách
“mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến” Lúc đưa tang, cậu lăngxăng chạy lên chạy xuống, cậu dàn cảnh, cậu đạo diễn lúc hạ huyệt bắt bẻ từngngười cách “chống gậy”, “gục đầu”, “cong lưng”, “lau mắt”, như thế này, thế nọ
để cậu bấm máy Y “luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng” như một tên hề!
Trang 14+ Cô Tuyết thì nhờ đám tang để trưng diện bộ y phục “ngây thơ” như nóivới thiên hạ rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh; Bà Văn Minh có dịp để lăng
xê những mốt tang phục táo bạo nhất cho tiệm may Âu hóa
+ Niềm hạnh phúc không chỉ của riêng nhà cụ cố Hồng mà đã lan sangtoàn xã hội, ai cũng nhờ vào đám tang cụ cố Tổ mà có niềm hạnh phúc riêng: Haiviên cảnh sát Min Đơ, Min Toa, sư cụ Tăng Phú, ông TYPN, hàng xóm…
+ Trọng Phụng đã tả đám tang cụ cố Tổ bằng nhiều nét châm biếm sâu caycái rởm đời của bọn thượng lưu tha hóa- đây chính là đỉnh điểm của tình huốngtrào phúng có từ nhan đề Một đám ma to như đám rước Có kiệu bát cống, lợnquay đi lọng Có lốc bốc xoerng và bu dích Có nhiều vòng hoa, 300 câu đối, vài
ba trăm người đi đưa
+ Có bao đám khách quý phái và sang trọng đến đưa ma cụ cố Tổ Phụ nữchiếm một nửa, là “giai thanh gái lịch”, là bạn của Tuyết và bà Phó Đoan…Họđến đưa ma là để “cười tình với nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau…” Bạn của cụ
cố Hồng đến đưa tang để khoe mẽ “ngực đầy những huy chương” của “nước mẹ”hay của bọn bù nhìn ban phát cho Khi tả bộ râu của đám quan khách này, tác giả
Vũ Trọng Phụng đã sáng tạo nên những chi tiết, ngôn từ, giọng điệu trào phúngchua cay Một lối nói nhạo, chế giễu thần tình Đằng sau bộ râu ấy là những mặtngười tha hóa vô luân
+ Xuân tóc đỏ và ông Phán “mọc sừng” xuất hiện như một cặp bài trùng.Phán mọc sừng khóc thật to: “Hứt! Hứt! Hứt…” để báo hiếu vẫn không quêngiữ chữ “tín” với ân nhân rồi tranh thủ “dúi vào tay” Xuân “một cái giấy bạc 5đồng gấp tư” Cuộc mua bán hay trả nghĩa diễn ra song phẳng và kín đáo quá ?Đúng là hai diễn viên siêu hạng, “đại tài” Cảnh này là tột đỉnh của sự trào lộngtrong màn hài kịch “đám ma gương mẫu” Qua đây, sự giả dối, thô bỉ của bọnthượng lưu, đã lên tới độ vô liêm sỉ Những con người “chó đểu” trong cái xã hội
“chó đểu” là như thế đó
2.3.2.3.3 Ý nghĩa tư tưởng của tình huống truyện
- Tác giả vạch trần bộ mặt của xã hội thượng lưu Nấp dưới vẻ ngoài sangtrọng, danh giá, nấp dưới những chiêu bài văn minh, tiến bộ, Âu hóa….là những
sự thật nghiệt ngã: sự tàn nhẫn, vô đạo đức, sự để cáng, giả dối, bịp bợm đếnmức vô liêm sỉ
2.4 Phương pháp tiếp cận truyện ngắn HTPP từ nhân vật điển hình 2.4.1 Xác định nhân vật điển hình
- Nhân vật điển hình là nhân vật tính cách đã đạt đến độ sâu sắc, là sựthống nhất cao độ giữa cái riêng và cái chung, cái cá thể và cái cộng đồng
- Đặt câu hỏi: Nhân vật nào là nhân vật trung tâm trong suốt mạch truyện?Nhân vật ấy có những nét chung, nét khái quát và net điển hình so với các nhânvật khác cùng loại, cùng giai cấp, cùng số phận….? Nhân vật ấy có vai trò nhưthế nào trong việc thể hiện chủ đề của truyện, tư tưởng của nhà văn?
2.4.2 Phân tích nhân vật điển hình
- Phân tích tính chung, tính khái quát của nhân vật: đại diện cho một loạingười, một lực lượng xã hội, có khi là một giai cấp, một thời đại nhất định
Trang 15- Phân tích những biểu hiện của tính riêng, tính cá thể ở nhân vật qua: hànhđộng, ngoại hình, ngôn ngữ, bản chất, tâm trạng….làm cho nhân vật ấy khônggiống bất cứ nhân vật nào.
- Cần chú ý: hoàn cảnh điển hình tạo ra nhân vật điển hình
2.4.3 Đánh giá vai trò, ý nghĩa tư tưởng của nhân vật
- Về quan niệm: Toát lên quan niệm gì về nhân sinh, thẩm mĩ ?
2.4.4.2 Phân tích nhân vật điển hình
*Tính chung, tính khái quát của nhân vật Chí Phèo
- Chí Phèo tiêu biểu cho cuộc đời, số phận của người nông dân trong xãhội cũ Họ bị đẩy vào con đường bần cùng hao, lưu manh hóa không có lối thoát.Bởi lẽ, trước Chí Phèo đã có Năm Thọ, Binh Chức, sau Chí Phèo có thể là một
“Chí Phèo con” lại tiếp diễn…
Chí Phèo sống trong hoàn cảnh cự kì thảm hại, sống trong hoàn cảnh điển hìnhnhất, của thời kì dân tộc chìm sâu trong máu và nước mắt Một môi trường hỗnloạn như Nam Cao từng viết “quần ngư tranh thực”, Chí là đại diện đau đớn nhấtcủa môi trường ấy Là một anh làm thuê hiền lành an phận, Chí thực sự trở thànhmiếng mồi ngon cho bọn cường hào ác bá Từ một con người bình thường, Chítrở thành con quỷ, một con thú độc hình nhân Rõ ràng tính cách của Chí khôngthoát ra được những quy luật chung của môi trường mà anh đang sống Bản thânChí bước trên con đường tha hóa, không phải để lại những dấu vết đầu tiên, màanh bước đi là đang giẫm lên dấu chân của những kẻ như Năm Thọ, Binh Chứcphải cầm dao để sống, để buộc Chí phải rơi từng giọt máu, bán lần nhân phẩm đểmưu sinh, để đè bẹp cái khát khao lương thiện bằng những chuỗi dài say rượutriền miên
+ Cuộc đời , số phận bi thảm của Chí Phèo mang tính biểu trưng cho mộtquy luật tất yếu của xã hội đó: Một khi còn tồn tại những thế lực thống trị tànbạo, độc ác thì con đường bị bần cùng hóa, lưu manh hóa vẫn chưa chấm dứt, bấtcông giai cấp vẫn còn Đây là tính khái quát mang ý nghĩa xã hội rộng lớn củahiện tượng Chí Phèo
+ Hành động vác dao đâm chết Bá Kiến của Chí Phèo cũng mang tính biểutrưng cho mâu thuẫn giữa người nông dân và giai cấp thống trị Trong mâu thuẫn
đó, người nông dân luôn âm ỉ, nung nấu một mối thù phản kháng; khi mâu thuẫn
xã hội lên đến đỉnh điểm thì đấu tranh giai cấp sẽ xảy ra
+ Cái chết của Chí Phèo là tất yếu khi giai cấp thống trị còn mạnh, giai cấp
bị trị còn yếu thế, cô độc
- Lai lịch: là đứa con hoang bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ, không cha, không
mẹ, không họ hàng thân thích, không nhà cửa; hết đi ở lại đi làm canh điền, Chítrở thành công cụ làm giàu và thỏa mãn nhục dục cho những ông chủ, bà chủ