KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LÀM KIỂU BÀI CẢM THỤ VĂN HỌC TRONG THẾ ĐỐI SÁNH Họ và tên: Nguyễn Thanh Vân Chức vụ: Tổ phó chuyên môn Tổ chuyên môn: Ngữ Văn Đơn vị công tác: Trường THPT
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH LÀO CAI TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÀO CAI
@
KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LÀM KIỂU BÀI CẢM THỤ VĂN
HỌC TRONG THẾ ĐỐI SÁNH
Họ và tên: Nguyễn Thanh Vân
Chức vụ: Tổ phó chuyên môn
Tổ chuyên môn: Ngữ Văn
Đơn vị công tác: Trường THPT chuyên Lào Cai
Lào Cai, tháng 5 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC Trang
A ĐẶT VẤN ĐỀ 2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I Cơ sở lí luận của vấn đề 2
1 Khái niệm so sánh 2
2 Các dạng phổ biến của kiểu bài so sánh 3
II Thực trạng của vấn đề 4
III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 4
1 Cách làm kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh 5
2 Thể nghiệm cụ thể qua một số đề thi thuộc kiểu bài cảm thụ văn học trong 6
thế đối sánh
IV Hiệu quả của áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 13
C KẾT LUẬN 13
Tµi liÖu tham kh¶o 14
1 Muốn viết được bài văn hay – Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên – NXB giáo dục
2 Văn - Bồi dưỡng Học sinh giỏi THPT - Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên – NXB ĐHQG
3 Các đề thi đại học và HSG từ năm 2009 đến nay
4 Tài liệu trên mạng Internet
Trang 3KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LÀM KIỂU BÀI CẢM THỤ VĂN HỌC TRONG
THẾ ĐỐI SÁNH
A ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong những năm gần đây việc ra đề cảm thụ văn học trong thế đối sánh trở nên phổ
biến cả trong thi Học sinh giỏi cũng như thi Đại học Sự ra đời của kiểu bài này đã chứng tỏ
sự đổi mới trong cách ra đề của Bộ giáo dục và Đào tạo Nó đòi hỏi mỗi học sinh phải thay đổi cách học, tránh đi khuynh hướng ghi nhớ một cách máy móc từng bài giảng hay bình tán sáo rỗng do nền tảng kiến thức mỏng, không chắc chắn mà phải rèn khả năng tổng hợp kiến thức, khám phá cái hay cái đẹp của từng đối tượng và phát huy tư duy lí tính để nhận diện nét chung, nét riêng và lí giải vấn đề Vì thế, với mỗi giáo viên, việc giúp học sinh nắm bắt được đặc trưng , mục đích, yêu cầu và cách thức làm bài cho kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh là vô cùng cần thiết, nhất là với học sinh 12 sắp thi Đại học Với mong muốn giúp học sinh làm tốt hơn kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh, tôi đã lựa chọn đề tài
“Kinh nghiệm giúp học sinh làm bài văn cảm thụ trong thế đối sánh”
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lí luận của vấn đề:
1 Khái niệm so sánh:
So sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều sự
vật khác để đối chiếu, xem xét Việc so sánh như vậy giúp chúng ta vừa nhận thức sâu sắc hơn về đặc tính của từng đối tượng vừa thấy được mối quan hệ giữa các đối tượng với nhau Trong thực tế đời sống, so sánh trở thành một thao tác phổ biến, thông dụng nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức, đánh giá của con người trong nhiều lĩnh vực và hoàn cảnh
Trang 4Trong văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng dạng bài so sánh nhằm làm nổi bật nét độc đáo, mới lạ của đối tượng so sánh Xét từ góc độ thời gian, có so sánh lịch đại và so sánh đồng đại Xét từ bản chất đối tượng dùng để so sánh có so sánh đối dạng
và so sánh đồng dạng Các cấp độ so sánh cũng rất phong phú, đa dạng
2 Các dạng phổ biến của kiểu bài so sánh:
- So sánh các giai đoạn văn học, xu hướng văn học, tác phẩm hay vấn đề văn học: Lòng yêu
nước trong thơ ca nay với thơ ca xưa; sự khác nhau và giống nhau giữa Thu Vịnh (Nguyễn Khuyến) và Đây mùa thu tới ( Xuân Diệu); cảm hứng nhân đạo trong Vợ nhặt (Kim Lân) và
Một đám cưới (Nam Cao)…
- So sánh các hình tượng, nhân vật văn học: Hình tượng người phụ nữ trong Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài) và Tắt đèn ( Ngô Tất Tố); hình tượng người lính trong Đồng chí (Chính Hữu) và
Tây Tiến ( Quang Dũng); hình ảnh anh Giải phóng quân trong thơ chống Mỹ với hình ảnh
anh Vệ quốc quân trong thơ ca kháng chiến chống Pháp; vẻ đẹp khuất lấp của của người vợ
nhặt trong Vợ Nhặt (Kim Lân) và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa
( Nguyễn Minh Châu)…
- So sánh hai đoạn thơ: Hai đoạn thơ tả nỗi nhớ trong Tây tiến (Quang Dũng) và Tiếng hát
con tàu (Chế Lan Viên)…
- So sánh hai đoạn văn: Hai đoạn văn khắc hoạ vẻ đẹp của hai dòng sông trong tuỳ bút
Người lái đò Sông Đà ( Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc
Tường)…
- So sánh hai chi tiết: Chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo…
Nh
Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác phẩm cùng một tác giả nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác giả cùng hoặc không cùng một thời
Trang 5đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường phái khác nhau của một nền văn học.
II Thực trạng của vấn đề:
Dù không còn là một kiểu bài mới lạ song nó chưa được cụ thể hoá thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc THPT, do đó ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng bài làm của học sinh cũng như quá trình định hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên
Việc sưu tầm và nghĩ ra được những đề cảm thụ văn học trong thế đối sánh mới mẻ và
đặc sắc đang trở thành một thách thức với các giáo viên dạy văn Người thầy không thể giống một chú ong thợ cặm cụi xây chiếc tổ theo một lối mòn, nghĩa là chỉ cung cấp và hướng dẫn học sinh cách làm những đề cảm thụ văn học trong thế đối sánh đã quá quen thuộc, đã từng thi Hơn nữa không phải cứ lựa chọn bất kì đoạn thơ nào, giai đoạn văn học nào, chi tiết, nhân vật nào… để ghép với nhau so sánh mà vấn đề đem ra so sánh phải có điểm chung và điểm khác biệt để từ đó ta thấy được những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học…Đối tượng so sánh phải cùng một bình diện, cùng một tiêu chí nếu không sẽ rơi vào tình trạng so sánh khập khiễng
Kiểu bài này khó đòi hỏi học sinh không chỉ có năng lực cảm thụ sâu sắc tác phẩm
văn học mà còn phải có vốn kiến thức phong phú sâu rộng, sự tinh nhạy để nhận ra nét tương đồng và khác biệt của các đối tượng so sánh, cùng với lối tư duy tổng hợp, khái quát cao Quan trọng nhất là phải làm nổi bật được nét riêng và có kĩ năng lí giải điểm giống nhau
và khác nhau - một kĩ năng rất cần thiết góp phần tránh đi khuynh hướng “bình tán” khuôn
sáo trong các bài văn của học sinh hiện nay
III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
1 Cách làm kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh:
1 Để làm được dạng bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh, trước hết người viết cần xác
định được yêu cầu của đề là so sánh một vấn đề văn học, một nhân vật văn học hay một
Trang 6chi tiết, hình ảnh… Phải xác định trúng, nắm bắt chính xác yêu cầu của đề bài thì người viết mới có thể viết bài đúng hướng, khoanh được vùng kiến thức để giải quyết vấn đề
Chẳng hạn với đề: So sánh Vợ nhặt (Kim Lân) và Một đám cưới (Nam Cao), người viết
cần nhận thấy đề yêu cầu so sánh hai tác phẩm, phạm vi so sánh rộng vì thế cần huy động kiến thức trong toàn tác phẩm chứ không chỉ ở một phương diện là nhân vật, chủ đề hay cách kết thúc tác phẩm…
2 Khi đã hiểu được yêu cầu của đề, người viết cần xác định rõ các tiêu chí so sánh trên
hai bình diện bao trùm là nội dung tư tưởng (hiện thực khách quan, tư tưởng tình cảm của tác giả, hoàn cảnh ra đời…) và hình thức nghệ thuật (thể loại, ngôn ngữ, kết cấu, âm hưởng, giọng điệu, hình ảnh, chi tiết, các thủ pháp nghệ thuật…)
3 Bước tiếp theo vô cùng quan trọng với người viết là chọn cách làm Ở bước này đòi hỏi
người viết phải sáng suốt và linh hoạt lựa chọn cách làm nào thực sự phù hợp với năng lực, hứng thú của bản thân Điều này sẽ góp phần quan trọng vào thành công của bài viết Với kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh có thể làm theo hai cách: nối tiếp và song song
+ Cách 1 : Lần lượt phân tích từng đối tượng sau đó chỉ ra điểm giống nhau, khác nhau và
lí giải nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau đó Cách này dễ làm nhưng chưa thật hay, nhiều khi bị trùng lặp ý và sắc thái so sánh bị chìm
+ Cách 2 : So sánh song hành trên mọi bình diện của hai đối tượng khi chỉ ra điểm giống
nhau và khác nhau và lí giải nguyên nhân sự giống nhau, khác nhau đó Cách này hay nhưng đòi hỏi người viết phải có khả năng tư duy chặt chẽ, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề và khả năng khái quát tổng hợp cao
4 Ngoài việc thực hiện những bước trên, để bài viết đạt được hiệu quả cao người viết còn
cần phải biết huy động kiến thức nền về tác giả, tác phẩm, giai đoạn văn học, khuynh hướng văn học…để giải quyết vấn đề và phải có kiến thức phong phú, sâu rộng ngoài văn bản về hoàn cảnh lịch sử; thời đại… để có thể lí giải được nguyên nhân của sự giống nhau và khác
Trang 7nhau một cách chính xác, tránh suy diễn tuỳ tiện, chủ quan thiếu sức thuyết phục Đồng thời biết tổng hợp kiến thức, lựa chọn ngôn ngữ, cách trình bày mạch lạc rõ ràng, sử dụng đa dạng các kiểu câu cùng một lối diễn đạt trí tuệ, cảm xúc để tạo nên chất văn trong bài viết
2 Thể nghiệm cụ thể qua một số đề thi thuộc kiểu bài cảm thụ văn học trong thế đối sánh:
2.1 Đề 1: Cảm nhận của anh (chị) về 2 đoạn thơ sau:
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương
( Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
( Sóng – Xuân Quỳnh)
a Mở bài: Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh ( tác giả Chế Lan Viên, bài thơ
Tiếng hát con tàu và tác giả Xuân Quỳnh, bài thơ Sóng và hai đoạn thơ cần so sánh)
b Thân bài:
Trang 8* Cảm nhận từng đoạn thơ:
- Đoạn thơ thứ nhất: Cụm từ “ anh bỗng nhớ em” và nh÷ng liªn tëng, so sánh bÊt ngê với những hình ảnh đẹp, mới lạ, lung linh sắc màu “ như cánh kiến hoa vàng; như xuân đến
chim rừng lông trở biếc”đã khẳng định một nỗi nhớ diết, thường trực trong lòng nhân vật
trữ tình Tác giả đã lấy quy luật của con người để so sánh với quy luật thiên nhiên Cách so sánh này vừa hoà cái tình vào thiên nhiên tạo vật lại vừa mượn được cái tính tất yếu của thiên nhiên để chứng minh cho cái tất yếu, tính quy luật của tình cảm con người Tác giả đã lựa
chọn những sự vật luôn gắn bó bền chắc, không thể tách rời “ đông về nhớ rét; cánh kiến hoa
vàng; xuân đến chim rừng lông trở biếc” để so sánh với nỗi nhớ và tình yêu của con người
cũng da diết và gắn bó sắc son Thêm vào đó là hai màu sắc đậm “ vàng” và “biếc” cùng
chuyển hoá cái đẹp khiến cho tình yêu thăng hoa, toả sắc rực rỡ Chính sự sáng tạo hình ảnh bằng những so sánh bất ngờ, mới lạ này đã khiến cho câu thơ của Chế Lan Viên viết về tình yêu lấp lánh những sắc màu, xôn xao những tâm trạng Nếu 3 câu thơ trên đậm màu triết lí
thì câu thơ cuối vẫn là chất triết lí ấy “ tình yêu làm đất lạ hoá quê hương” Ở đây có một sự biến ảo ngôn từ của nhà thơ, đó là quá trình biến hoá từ cái cụ thể nhưng xa xôi “ đất lạ” thành cái trừu tượng thân thiết “ quê hương” mà phép màu của sự biến ảo ấy chính là “ tình
yêu” của con người Hai chữ tình yêu rất riêng tư khi gắn liền với anh và em lại vừa rất rộng
lớn khi gắn với quê hương Hoá ra tình yêu ở đây không chỉ là tình yêu giữa anh và em, nó là kết tinh của tình cảm với quê hương đất nước Nhà thơ đã khéo léo đưa cái riêng tư nhập vào tình yêu nước rộng lớn, đưa cái tôi vào cái ta, nâng cái cụ thể lên cái khái quát
- Đoạn thơ thứ hai: Người đọc cảm được một nỗi nhớ cồn cào, da diết, cứ dồn lên tầng tầng lớp lớp như từng đợt sóng trong toàn bộ đoạn thơ Nỗi nhớ choáng ngợp cả không gian “
dưới lòng sâu – trên mặt nước”, trải dài theo thời gian “ ngày đêm không ngủ được”, tràn cả
vào trong cõi vô thức “ cả trong mơ còn thức” chiếm lĩnh cả không gian tâm hồn, cả khi tỉnh
lẫn khi mơ Dù ở bất kì đâu sóng cũng chỉ có một nơi để nhớ, để thương đó là bờ Lối điệp cú
pháp kết hợp với hình thức đối lập: trên - dưới; ngày – đêm; thức - ngủ…đã góp phần thể
Trang 9hiện một nỗi nhớ cháy bỏng, da diết của sóng với bờ hay cũng chính là nỗi nhớ của người con gái khi yêu
- Mượn hình tượng sóng nhớ bờ để diễn tả nỗi nhớ vẫn chưa đủ, chưa thoả Xuân Quỳnh còn
bộc lộ trực tiếp nỗi nhớ của mình một cách chân thành, bạo dạn “Lòng em nhớ đến anh - Cả
trong mơ còn thức” Phải nói rằng trong tình yêu Xuân Quỳnh yêu hết mình, yêu cuồng
nhiệt, đắm say, cháy bỏng, nồng nàn nhưng không vì thế mà mất đi nét dịu dàng của người con gái Dù có mãnh liệt thế nào ta vẫn không thấy trong thơ chị sự vồ vập, táo bạo như
Xuân Diệu “ Đã hôn rồi hôn lại – hôn đến mãi muôn đời - đến tan cả đất trời – anh mới thôi
dào dạt”.
* Chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau của hai đoạn thơ:
+ Điểm giống nhau: Đều biểu đạt một nỗi nhớ mãnh liệt, cồn cào trong tình yêu Nỗi nhớ không chỉ là xúc cảm, là biểu hiện thường nhật trong tình yêu lứa đôi mà đó còn là vẻ đẹp của nhân tính, là thước đo của một tình yêu thuỷ chung, son sắc
+ Điểm khác nhau: Nỗi nhớ trong thơ Xuân Quỳnh giàu nữ tính, thể hiện qua dòng cảm xúc bộc bạch tự nhiên của trái tim người phụ nữ khi yêu, còn nỗi nhớ trong thơ Chế Lan Viên mang đậm chất triết lí Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh chỉ thuần tuý là tình yêu cá nhân còn tình yêu trong thơ Chế Lan Viên lại gắn với tình yêu đất nước Về nghệ thuật biểu hiện cũng
có sự khác biệt: Với thể thơ 5 chữ, Xuân Quỳnh đã bộc lộ nỗi nhớ vừa trực tiếp vừa gián tiếp Chị vừa mượn hình tượng sóng nhớ bờ để thể hiện nỗi nhớ của người con gái khi yêu
vừa bộc lộ trực tiếp “ Lòng em nhớ đến anh - Cả trong mơ còn thức” Lời thơ như lời tự hát
của một trái tim yêu say đắm, nồng nàn Còn Chế Lan Viên lại sử dụng thể thơ 7 chữ, kết hợp với những hình ảnh so sánh độc đáo cùng chất trí tuệ, suy tưởng đầy chiêm nghiệm mang tính triết lí về tình yêu
- Lí giải điểm giống nhau và khác nhau đó:
Trang 10+ Điểm giống nhau: Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ Phải chăng vì thế mà khi viết về tình yêu cả Chế Lan Viên và Xuân Quỳnh đều không trốn tránh và cũng không thể che giấu một nỗi nhớ cồn cào, da diết, cháy bỏng đang trào dâng trong trái tim mình
+ Điểm khác nhau: Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng khi mới 25 tuổi – cái tuổi đầy căng sự
sống, dạt dào tình yêu Vì vậy khi đối diện với sóng, chị như thấy rõ tình yêu đang trào dâng trong trái tim mình Chị đã gặp sóng như gặp chính mình, đã tìm ra trong hình ảnh sóng âm vang nhịp đập trái tim mình Hơn nữa Xuân Quỳnh là một tâm hồn sống trong tình yêu, sống bằng tình yêu, suốt đời trăn trở kiếm tìm một tình yêu lí tưởng, suốt đời mệt nhoài để chắt chiu gìn giữ cái hạnh phúc đời thường nên mỗi lời thơ được viết ra dường như được trả giá
bằng chính những khắc khoải của trái tim chị Còn Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên được
gợi cảm hứng từ cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên tham gia xây dựng Tây Bắc vào những năm 1958 – 1960 Bài thơ là khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một tâm hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của mình ở đời sống nhân dân và đất nước Vì vậy hai chữ tình yêu riêng tư cũng được ông nâng lên tầm khái quát, gắn với quê hương,đất nước
Sự khác nhau giữa hai đoạn thơ còn có thể lí giải bởi sự khác nhau về phong cách thơ của hai tác giả Hồn thơ Xuân Quỳnh là một hồn thơ giàu nữ tính, là lời tự hát khi hạnh phúc, lời tự bạch khi muốn bày tỏ Còn thơ Chế Lan Viên lại đậm chất suy tưởng, triết lí, mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng phong phú của thế giới hình ảnh Phong cách thơ ông là sự kết hợp nhuần nhị giữa trí tuệ và cảm xúc
c Kết bài:
- Đánh giá lại vấn đề
- Có thể nêu cảm nghĩ của bản thân
2.2 Đề 2: Cảm nhận của em về 2 đoạn trích sau
“Mị không nói A Sử cũng không hỏi thêm nữa A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt
lương trói hai tay Mị Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà Tóc Mị xoã xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi không nghiêng được đầu nữa.