1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN phương pháp hướng dẫn học sinh tự học địa lí lớp 12 thông qua rèn luyện kĩ năng khai thác bản đồ atlat địa

27 498 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xuất phát từ yêu cầu dạy học hiện nay – dạy học theo hướng đổi mới, pháthuy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập.- Xuất phát từ thực tế dạy học Địa lý cấp THPT t

Trang 1

PHẦN I : LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trang 2

- Xuất phát từ yêu cầu dạy học hiện nay – dạy học theo hướng đổi mới, pháthuy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập.

- Xuất phát từ thực tế dạy học Địa lý cấp THPT từ năm học 2002 đến nay tôinhận thấy đa số học sinh còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên khi học, khả năng tựhọc, tự nghiên cứu còn hạn chế, đặc biệt với môn địa lí, bộ môn mà học sinh cònchưa thuần thục về các kĩ năng địa lí cơ bản Do đó kết quả các bài kiểm tra thườngxuyên, định kì hoặc kết quả thi tốt nghiệp thường chưa cao

- Tự học là công việc suốt đời của bất kì ai, đặc biệt trong xã hội học tập hiệnnay Muốn tự học có kết quả, người học phải có một số cơ sở kiến thức và kĩ năngcần thiết Một phần trong đó do nhà trường trang bị, một phần quan trọng hơn là sựhọc hỏi và rèn luyện thường xuyên của người học

- Để giúp học sinh rèn luyện thành thạo kỹ năng địa lí cơ bản phục vụ choviệc tự học cũng như góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả học tập bộ môn Địa

lý bậc THPT đặc biệt là việc học tập bộ môn Địa lí lớp 12 vì vậy tôi chọn đề tài :

“ Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học địa lí lớp 12 thông qua rèn luyện kĩ năng khai thác bản đồ - Atlat Địa lí ” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm.

PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.

Trang 3

1.Khái niệm Tự học:

- Tự học, nghĩa là người học phải tự mình làm việc với các tri thức cần học Làmviệc ở đây được hiểu cả về phương diện trí óc đơn thuần ( phân tích, tổng hợp, sosánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa) cả về phương diện hoạt động vật chất ( vẽ biểu

đồ, trao đổi, tranh luận, thuyết trình)

- Tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của thầy nhưng cũng cóthể không có sự hướng dẫn của thầy, có thể tiến hành theo hình thức cá nhân, nhưngcũng có thể theo hình thức nhóm Dù có hay không có thầy , dù theo hình thức nàothì tự học cũng đòi hỏi người học phải nỗ lực tối đa, tích cực , chủ động và sáng tạo

+ Đọc sách , tài liệu tham khảo

+ Làm đề cương thảo luận nhóm

+ Thực hiện các bài tập thực hành

+ Làm đề cương ôn tập

3 Tác dụng của hướng dẫn học sinh tự học trong quá trình dạy học địa lí:

- Hiện nay vấn đề hướng dẫn học sinh tự học là một công việc có ý nghĩa đặc biệtquan trọng trong quá trình dạy học của giáo viên Giáo viên cần phải là người tổchức, chỉ đạo và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh Trong đó, hướng dẫnhọc sinh tự học là một yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học

- Học tập sao cho tốn ít thời gian, sức lực mà đạt kết quả cao nhất vẫn là nỗi bănkhoăn của những học sinh khi đang ngồi trên ghế nhà trường Do đồng thời các emphải học nhiều môn học trong khi thời gian hạn chế cả trên lớp và ở nhà Vì vậy,

Trang 4

việc tìm ra phương pháp học tập sao cho có hiệu quả là yêu cầu quan trọng đểnâng cao kết quả học tập của các em Cũng chính vì vậy, hướng dẫn học sinh cácphương pháp học tập sao cho hiệu quả cần được đặc biệt chú trọng.

- Môn Địa lí với đặc thù riêng của nó, vừa mang tính chất tự nhiên vừa mang tính

xã hội nên các em học sinh muốn học tốt, đạt kết quả cao cũng không hề đơn giản.Hiện nay đa số các em học sinh nghĩ địa lí là môn học thuộc lòng và khá chủ quanvới môn học này Vì vậy mà đa số các em dùng rất ít thời gian cho môn học dẫntới học tập chưa hiệu quả, thường chỉ là học vẹt, chưa có khả năng tư duy và vậndụng kiến thức địa lí Đặc biệt là số lượng học sinh học giỏi và đạt điểm cao cònhạn chế

- Để học tập môn Địa lí một cách hiệu quả nhất, giáo viên cần hướng dẫn học sinhchú ý sử dụng những phương pháp học tập quan trọng sau đây:

+ Phương pháp học từ bản đồ

+ Phương pháp học với bản đồ tư duy

+ Phương pháp học với Atlat Địa lí Việt Nam

+ Phương pháp liên hệ thực tế

+ Phương pháp xử lí bài tập biểu đồ, phân tích bảng số liệu

+ Phương pháp lập sơ đồ , biểu bảng

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi xin mạnh dạn đưa ra 3 phương pháphướng dẫn học sinh tự học cơ bản nhất đó là :

+ Phương pháp học từ bản đồ

+ Phương pháp học với bản đồ tư duy

+ Phương pháp học với Atlat Địa lí Việt Nam

II THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC TẠI NHÀ TRƯỜNG

1 Hiện trạng dạy và học địa lí lớp 12 :

Với nội dung và thời lượng môn Địa lí lớp 12 thì việc giảng dạy chủ yếu nghiêng

về mặt lí thuyết và giảng dạy theo các phương pháp sau :

Trang 5

kỹ năng đó phần nào đã không còn nắm chắc, trong khi đến thời điểm này về phầnthực hành kỹ năng đối với học sinh lớp 12 đã phải tương đối hoàn thiện Để đảmbảo đạt được kết quả cao trong việc học tập bộ môn, các thầy cô giáo cần phải tự bốtrí thời gian nhất định và phù hợp để hướng dẫn học sinh thực hành những kỹ năng

cơ bản thường gặp trong các bài kiểm tra một tiết, kiểm tra học kỳ và thậm chí là thi tốt nghiệp bộ môn Chính vì những vấn đề trên nên việc hướng dẫn học sinh tựhọc là nhiệm vụ hết sức cần thiết và quan trọng với giáo viên giảng dạy môn Địa línói riêng và giáo viên giảng dạy tại các trường THPT nói chung

2 Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện

2.1 Thuận lợi:

- Bản thân luôn được Nhà trường tạo điều cho tham gia các lớp tập huấn do Sở GD

- ĐT tổ chức để tiếp thu những vấn đề đổi mới, nâng cao trình độ chuyên môn

- Ban giám hiệu Nhà trường, Tổ chuyên môn tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt độngdạy và học, thường xuyên dự giờ góp ý, rút kinh nghiệm cho bản thân trong quátrình giảng dạy

- Bản thân giáo viên luôn cố gắng học hỏi đồng nghiệp trong công tác giảng dạy,tiếp thu được cơ bản những yêu cầu của quá trình đổi mới giáo dục nói chung vàdạy học Địa lý nói riêng

- Cơ sở vật chất (máy tính, máy chiếu, tranh ảnh, bản đồ, …) phục vụ cho công tácgiảng dạy môn Địa lí tương đối đầy đủ

2.2 Khó khăn:

Trang 6

a Về phía giáo viên:

- Bản thân giáo viên đôi khi còn chủ quan trong việc chưa dành nhiều thời gian vàocuối các tiết dạy để rèn thêm kỹ năng cho học sinh, do phân phối thời gian tiết dạynhiều khi còn chưa hợp lý

- Điều kiện học tập kinh nghiệm, giao lưu với các trường bạn còn hạn chế

b Về phía học sinh:

- Khả năng nhận dạng yêu cầu của đề bài còn yếu

- Cách thức tính toán, xử lý số liệu, phân chia tỷ lệ trục tung, trục hoành trong khi

vẽ biểu đồ của học sinh rất hạn chế

- Đa số học sinh còn cẩu thả trong khi làm bài, trong cách trình bày khi làm bàithực hành hoặc trong các bài kiểm tra

- Một bộ phận không nhỏ học sinh còn lười học, không có động cơ học tập đúngđắn dẫn đến khó khăn cho giáo viên khi giảng dạy

- Khả năng tự học – tự nghiên cứu của học sinh còn hạn chế

III MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC CƠ BẢN:

1 Phương pháp tư duy từ bản đồ:

Bản đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với môn Địa lí Mỗi một đơn vị kiến thứcđịa lí đều gắn với một khu vực lãnh thổ nhất định và lãnh thổ đó được thể hiệntrên bản đồ Nếu học địa lí mà không suy nghĩ và liên hệ tới lãnh thổ của nó thì sẽ

bị rơi vào thế khó hiểu và lẫn lộn, nhanh quên Giáo viên cần chú ý hình thành chocác em học sinh thói quen sử dụng bản đồ và hướng dẫn các em cách lựa chọn và

sử dụng bản đồ phù hợp với từng bài học Đồng thời, trong bài giảng cần triệt để

sử dụng các loại bản đồ, kết hợp với câu hỏi và bài tập có yêu cầu khai thác bảnđồ

a Các loại bản đồ giáo khoa địa lí:

- Bản đồ treo tường chủ yếu sử dụng trên lớp với số đông học sinh

- Bản đồ để bàn chủ yếu dùng cho làm việc cá nhân của học sinh ở lớp, ở nhà

- Bản đồ SGK biểu hiện một số nội dung của bài viết SGK

Trang 7

- Tập bản đồ

- Bản đồ câm

- Bản đồ khung( bản đồ trống)

b Một số kĩ năng làm việc với bản đồ:

- Ghi nhớ địa danh trên bản đồ:

Khi đọc bản đồ, cần nhớ, thuộc địa danh, xác định đúng vị trí của chúng trên bảnđồ

+ Để ghi nhớ cần sử dụng phối hợp các giác quan và tư duy ngôn ngữ, phối hợpvới các hoạt động theo một trình tự như sau:

 Phát âm đúng , ghi tên địa danh đúng

 Hình dung các vị trí địa danh( hướng nào, giáp địa danh nào…)

 Thấy chính xác vị trí các địa danh trên bản đồ

+ Để nhớ và thuộc địa danh , cần tiến hành các bài tập điền địa danh vào bảnđồ( hay lược đồ câm)

+ Khi chỉ và đọc một đối tượng trên bản đồ, cần lưu ý đến hình dạng, kích thuớccủa đối tượng và vị trí của nó trong mối quan hệ với các đối tượng địa lí ở xungquanh, đặc biệt với đối tượng mà trước đó đã ghi nhớ , nắm vững

- Tính tỷ lệ bản đồ:

Trên bản đồ , tỉ lệ thường được ghi bằng phân số

VD : 1/ 1000000 hay 1 : 1000000….trong đó tử số là khoảng cách trên bản đồ cònmẫu số chính là khoảng cách ngoài thực tế Phân số trên có nghĩa là : 1 cm trênbản đồ tương ứng với 1000000cm ngoài thực tế

- Xác định phương hướng trên bản đồ:

+ Để xác định hướng Bắc trên bản đồ cần dựa vào các đường kinh tuyến

Trên bề mặt quả địa cầu , cực bắc và Nam là nới hội tụ các đường kinh tuyến Nếuquy ước phần giữa bản đồ là trung tâm thì đầu trên của kinh tuyến chỉ hướng Bắc,đầu dưới chỉ hướng Nam

+ Ngoài ra có thể dựa vào mũi tên chỉ hướng Bắc trên tờ bản đồ để xác địnhhướng Bắc của bản đồ

- Nhận biết các đặc điểm của địa hình qua đường bình độ.

+ Trị số đường bình độ tăng dần từ ngoài vào trong : vùng đất cao

Trang 8

+ Trị số đường bình độ giảm dần từ ngoài vào trong : vùng trũng

+ Hai đường bình độ đối xứng nhau : địa hình yên ngựa

+ Hệ các đường bình độ có dạng chữ V : sống núi

+ Hệ các đường bình độ có dạng chữ V ngược : thung lũng

+ Các đường bình độ càng nằm gần nhau thì địa hình có độ dốc lớn

Như vậy đối với các em học sinh, cần đặc biệt chú ý khai thác các bản đồ trongsách giáo khoa trong khi học bài nhằm nắm chắc kiến thức trong mỗi bài học Bêncạnh đó, thì chương trình địa lí lớp 12 - Atlat địa lí Việt Nam có ý nghĩa rất quantrọng

Tuy bản đồ có ý nghĩa quan trọng, nhưng nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi các em họcsinh học tập gắn với kiến thức bài học, có kiến thức cơ bản về địa lí, biết khai thác

và sử dụng Nếu không, bản đồ chỉ như một bức tranh khó hiểu mà thôi

2 Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy

Việc phát triển tư duy cho học sinh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầucủa mục tiêu giáo dục Để hướng học sinh có cách thức học tập tích cực và tự chủ,chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúpcác em hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựng được một “hình ảnh” thểhiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về cácmặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là Bản

đồ tư duy (BĐTD)

Trang 9

BĐTD hiện là một công cụ đang được sử dụng bởi rất nhiều cá nhân, tổ chứctrên toàn thế giới với nhiều lĩnh vực ứng dụng khác nhau Trong giáo dục, sử dụngBĐTD giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bàihọc hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năngghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, lập kế hoạch học tập, kế hoạch công tác…

BĐTD được sử dụng phù hợp với mọi điều kiện cơ sở vật chất của nhàtrường, lớp học Giáo viên và học sinh có thể thực hiện BĐTD trên bảng phấn, trên

vở, trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Khai tháctính năng và sử dụng BĐTD có hiệu quả là góp phần đổi mới phương pháp dạy học

và ứng dụng công nghệ thông tin một cách dễ dàng và thiết thực

Sử dụng thành thạo và linh hoạt BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kếtquả tốt và đáng khích lệ Học sinh học được phương pháp học tập, tăng tính chủđộng, sáng tạo và phát triển tư duy Với học sinh, việc tự vẽ BĐTD có ưu điểm làphát huy tối đa tính sáng tạo, lôi cuốn học sinh tham gia vào bài giảng, tạo điều kiệnphát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh…qua đó, các em tự chiếm lĩnhkiến thức mới một cách nhẹ nhàng, tự nhiên với hứng thú học tập lớn Với các bàitập nhóm, sử dụng BĐTD còn giúp các em biết cách lập kế hoạch, phân công côngviệc, hợp tác để hoàn thành yêu cầu của giáo viên

Giáo viên sử dụng BĐTD để hệ thống kiến thức một cách khoa học và logic,nội dung bài học được thể hiện trên bản đồ một cách trực quan mà không bị bỏ sót

ý Không những thế, sử dụng BĐTD còn giúp giáo viên tạo ra các hình thức học tậpkhác nhau, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, phối hợp sử dụng các thiết

bị dạy học với nhau…góp phần thiết thực vào việc đổi mới phương pháp dạy họchiện nay

BĐTD có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với sách giáo khoa Sách giáokhoa là cơ sở để học sinh tiếp nhận kiến thức, cùng với việc sử dụng và khai tháckiến thức từ thiết bị dạy học giúp học sinh hiểu bài và thể hiện lại sự hiểu biết ấy

Trang 10

thông qua BĐTD Đây còn là một kênh thông tin phản hồi rất thiết thực từ học sinhđối với giáo viên Giáo viên có thể dựa vào đó để nắm bắt được lượng thông tin màhọc sinh tiếp nhận được, từ đó có hướng điều chỉnh đối với cả học sinh và cách dạycủa chính mình cho phù hợp

* Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ

Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút nênyêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, sosánh…để trả lời câu hỏi Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nộidung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáo viên sẽ chấm điểmtuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vàotình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu Do đó, cần phải có sự thay đổi trongviệc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra

“phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu” Cách làm này vừa tránh được việc họcvẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập Sử dụngBĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối vớibài học cũ Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinhđiền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tinvới từ khoá trung tâm

* Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới

Sử dụng BĐTD là một gợi ý cho cách trình bày mới Giáo viên thay vì gạch đầudòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện được 1 phần hoặc toàn

bộ nội dung bài học một cách rất trực quan Toàn bộ nội dung cần truyền đạt đến họcsinh được thâu tóm trên bản đồ mà không bị sót ý Học sinh thay vì cắm cúi ghi chép thìchọn lọc các thông tin quan trọng, sơ đồ hoá chúng bằng các mối quan hệ và thể hiện lạitheo cách hiểu của mình Với cách học này cả giáo viên và học sinh đều phải tham giavào quá trình dạy học tích cực hơn Giáo viên vừa giảng bài vừa thể hiện trên BĐTDhoặc vừa tổ chức cho học sinh khai thác kiến thức vừa hoàn thành BĐTD Học sinhđược nghe giảng, nhìn bản đồ, trả lời câu hỏi, đọc sách giáo khoa, ghi chép…sự tập

Trang 11

trung chú ý được phát huy, cường độ học tập theo đó cũng được đẩy nhanh, học sinhhọc tập tích cực hơn.

Ví dụ: Khi học về các vùng kinh tế của nước ta (Địa 12), để xác định các vùng kinh tế của nước ta, phạm vi và các trung tâm kinh tế lớn của vùng là phần kiến thức không khó nhưng không dễ nhớ đối với học sinh Nếu giáo viên sử dụng phương pháp trình bày truyền thống thì vấn đề vẫn được giải quyết nhưng không hiệu quả vì vấn đề trình bày sẽ dàn trải, hết vùng này đến vùng khác, học sinh sẽ không thấy được mối quan hệ về vị trí, thế mạnh của các vùng kinh tế Việc thể hiện tất cả các vùng kinh tế trên BĐTD xung quanh từ khóa đã mang lại cái nhìn tổng thể về sự phân chia các vùng kinh tế của nước ta, học sinh nhìn vào bản đồ sẽ nhận biết được ngay từng vùng kinh tế và có thể ghi nhớ một cách dễ dàng không máy móc Sử dụng BĐTD để thể hiện phần nội dung này là hợp lí vì yêu cầu phù hợp với mọi đối tượng học sinh, thông tin đầy đủ, không mất nhiều thời gian và nội dung được thể hiện rõ ràng

* Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức

* Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà

Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệunên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh (hoặc nhóm học sinh) trước hết

Trang 12

phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thờigian, kinh tế…) Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần

sự đầu tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó cònthể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh Bàitập về nhà nên thiên về tính mở nên giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìmkiếm thông tin từ các nguồn tài liệu, đặc biệt là từ mạng Internet bằng cách cungcấp cho học sinh một số trang web thông dụng và chuẩn xác

Như vậy có thể thấy kiến thức địa lí có hệ thống và có mối quan hệ lôgic rất chặtchẽ Có nhiều nội dung có thể vẽ sơ đồ tư duy nhằm thể hiện được nội dung bàihọc một cách đơn giản hóa, dễ nhớ và thấy rõ được mối liên hệ giữa các đốitượng Ví dụ sơ đồ nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từngngành,… Đặc biệt có thể dùng nhiều trong chương trình địa lí lớp 12 Sau mỗi bàihọc, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vẽ ngay sơ đồ tư duy đơn giản về kiếnthức bài học Qua đó, học sinh có thể khắc sâu nhanh nội dung bài học và thấyđược mối liên hệ của các nội dung trong bài cũng như có thể thấy mối liên hệ vớinội dung các bài học trước

3 Phương pháp học với Atlat Địa lí Việt Nam

a Đặc điểm Atlat Địa lí Việt Nam:

Atlat Địa lí Việt Nam có nhiều trang bản đồ , được sắp xếp một cách có hệ thống.Như vậy cách học với Atlat Địa lí Việt Nam được bắt đầu với từng trang bản đồ,sau đó kết hợp nhiều trang bản đồ với nhau Trên mỗi trang bản đồ hoặc kết hợpnhiều trang, có thể khai thác một chủ điểm hoặc khai thác nhiều chủ điểm\

b Phương pháp học với Atlat Địa lí Việt Nam:

b.1 Kết hợp kiến thức đã có với kiến thức khai thác trong Atlat Địa lí Việt Nam:

Thông thường các câu hỏi gắn với Atlat , yêu cầu thí sinh phải kết hợp kiến thức

đã học với kiến thức trong Atlat để trả lời.Với những câu hỏi này, nếu chỉ dựa vàomột trong hai cơ sở trên ( hoặc là riêng Atlat hoặc là riêng kiến thức đã học) sẽkhông trình bày kiến thức đúng với yêu cầu Nếu chỉ dựa vào kiến thức đã học thìnhiêu kiến thức từ Atlat sẽ bị bỏ sot, đặc biệt là các kiến thức về mặt phân bố cụ

Trang 13

Những nêu chỉ dựa vào Atlat thì nhiều kiến thức như tình hình phát triển, nguyênnhân phát triển …không được đề cập đến một cách đầy đủ và hợp lí.

Ví dụ : Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích đặc

điểm của đất miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

- Những kiến thức có thể khai thác được từ Atlat một cách rất rõ ràng :

+ Nhiều loại đất khác nhau

+ Đất feralit nâu đỏ trên đá bazan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên

+ Đất feralit trên các loại đá khác : chiếm diện tích lơn và phân bố rộng rãi ở nhiềunơi

+ Ở vùng núi, độ cao từ trên 500 – 600m đến 1600 – 1700m có đất vàng đỏ trênnúi, độ cao trên 1600 – 1700m có đất mùn alit núi cao với diện tích không lớn.+ Đất xám bạc màu trên đá axit tập trung ở Tây Nguyên và rải rác ở các đồng bằngven biển Nam Trung Bộ

+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ tập trung nhiều ở ĐNB

+ Đất phù sa ngọt hình thành do sông tập trung nhiều ở ĐBSCL ( ven sông Tiền –sông Hậu ) và rải rác đồng bằng NTB

+ Đất phèn, đất mặn chiếm diện tích lớn ở ĐBSCL , cửa biển DHNTB

+ Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở DHNTB

- Những kiến thức phải huy động từ vốn kiến thức đã có:

+ Đất miền NTB và NB rất đa dạng với nhiều loại đất khác nhau

+ Đất feralit nâu đỏ trên đá bazan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyênkhoảng 1,3 triệu ha Đất này được hình thành trên cơ sở phong hóa đá bazan cótầng phong hóa dày, khá phì nhiêu

+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ tập trung nhiều ở ĐNB với trên 900000ha

 Đất phèn có đặc tính chua, đất mặn có loại mặn ít, loại mặn nhiều…

Ngày đăng: 12/12/2015, 17:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w