1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10a5 ở trường THPT số 2 văn bàn

32 448 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng và những vấn đề gặpphải trong công tác chủ nhiệm lớp của bản thân và các giáo viên khác trong nhàtrường - Hệ thống một số biện pháp chín

Trang 1

III CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 9

1 Nghiên cứu tâm lý giáo dục đối với học sinh yếu kém 9

2 Tìm hiểu đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm 10

4 GVCN lập kế hoạch cá biệt để giúp đỡ từng học sinh yếu kém tiến

6 Nâng cao hiệu quả phối hợp với gia đình và phụ hunh học sinh:

24PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN

30

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 2

2 CCCM Có công cách

3 CMHS Cha mẹ học sinh 9 PHHS Phụ huynh học

Trang 3

sống Nhờ thế mà tôi có cơ hội tiếp xúc với rất nhiều học sinh với những thái độ

sự khác biệt to lớn đến như thế Có phải đó là những tính cách khác nhau đượchình thành từ lúc cha sinh mẹ đẻ? Hay so tác động của bạn bè xung quanh? Vìnhững ngôi trường khác nhau mà các em đang học? Do ảnh hưởng của thầy côtrong trường? Hay chỉ đơn giản là do chế độ dinh dưỡng hàng ngày của các em?hoặc rộng hơn, do hoàn cảnh kinh tế xã hội?

Mặc dù tất cả các yếu tố trên đều ít nhiều ảnh hưởng đến mỗi cá nhântrong một chừng mực nào đó, tôi phát hiện ra rằng, yếu tố lớn nhất và quantrọng nhất hình thành thái độ, hành vi và do đó tương lai của một đứa trẻ chính

là cách dạy dỗ của cha mẹ đối với con cái, do ý thức của HS, phương pháp giáodục và lòng nhiệt tình của các giáo viên bộ môn cũng như GVCN

Tôi cũng khám phá ra rằng, nếu cha mẹ có cách nghĩ tích cực và dành thờigian để bảo ban, trò chuyện và nâng đỡ con em thì chúng sẽ tin tưởng vào bảnthân hơn, có động lực mạnh mẽ hơn và thành công hơn Điều này cũng đúng vớinhững HS sinh trưởng trong gia đình nghèo, học ở “trường làng” và thậm chí kể

cả khi sống trong một môi trường không tốt Thêm một phát hiện nữa, nhữngđứa trẻ có nhiều biến chuyển tích cực nhất và thành công nhất sau các khóa đàotạo đều là con của những người cha người mẹ thật sự cảm thông và tích cực hỗtrợ con cái trên con đường học tập

Quá trình tìm tòi để giải đáp cho nỗi băn khoăn trên là lý do để tôi viết đề

tài “Một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trường THPT Số 2 Văn Bàn”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 4

Trên cơ sở, phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác chủ nhiệm lớptrong những năm vừa qua, qua đúc rút kinh nghiệm bản thân để hệ thống một sốbiện pháp chính giúp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, nâng cao chất lượng lớpchủ nhiệm, khắc phục tình trạng học sinh càng yếu càng chán học

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm lý lứa tuổi học sinh

- Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng và những vấn đề gặpphải trong công tác chủ nhiệm lớp của bản thân và các giáo viên khác trong nhàtrường

- Hệ thống một số biện pháp chính giúp xây dựng và quản lý lớp chủnhiệm đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trong khuôn khổ giới hạn về thời gian và trình độ nhận thức của bản thân,

đề tài “Một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trường THPT Số 2 Văn Bàn” chỉ phân tích thực

trạng các biện pháp giáo dục học sinh yếu lớp chủ nhiệm, nâng cao chất lượnglớp chủ nhiệm, tổng kết kinh nghiệm bản thân để hệ thống thành các giải phápnhằm xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trường THPT Số 2 Văn Bàn

V ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Học sinh lớp 10A5 trường THPT Số 2 huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, phân loạicác tài liệu khoa học và các văn bản pháp qui của nhà nước, của ngành, của địaphương có liên quan Nhằm tìm hiểu, xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ

sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu

2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Gồm phương pháp đàm thoại, quan sát, phỏng vấn, trưng cầu ý kiến, tổngkết kinh nghiệm của các GVCN khác, khảo nghiệm

Trang 5

Phương pháp đàm thoại: Để tìm hiểu thực trạng học sinh yếu kém và

các biện pháp mà GVCN đã áp dụng để giáo dục đối tượng học sinh này, tôi đãtiến hành phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với các CBQL nhà trường, GVCN và bảnthân HS trong nhà trường

Phương pháp điều tra: Tôi đã tìm hiểu hiệu quả công tác GVCN đối

với việc giáo dục học sinh yếu kém ở trường THPT Số 2 Văn Bàn thông qua hệthống các câu hỏi, các phiếu khảo sát xin ý kiến các CBQL, GV và HS, nhằmthu thập ý kiến chủ quan của các thành viên

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Là sự kết hợp giữa lý luận quản lý

về phối hợp các lực lượng giáo dục với thực tiễn, là quá trình đem lý luận quản

lý phân tích những kinh nghiệm thực tiễn kinh nghiệm giáo dục học sinh lớp chủnhiệm

3 Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

Gồm các phương pháp thống kê, toán học, biểu bảng, sơ đồ …

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Vị trí, vai trò của GVCN:

- Là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ HS quản

lý toàn diện tập thể HS lớp mình, phấn đấu theo mục tiêu chung của nhà trường

Trang 6

- Là người lãnh đạo, tổ chức điều hành, kiểm tra mọi hoạt động và cácmối quan hệ ứng xử thuộc lớp mình phụ trách.

- Là nhân vật trung tâm để hình thành nhân cách cho HS và là cầu nốigiữa nhà trường và xã hội

2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của GVCN :

+ Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh trong nhiệm vụ giáo dục cácem

+ Phối hợp với các giáo viên khác, với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, với giađình học sinh tổ chức nhận xét đánh giá và xếp loại học sinh vào cuối kì và cuốinăm học theo nội dung và tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục, đề nghị khenhọc sinh, đề nghị danh sách HS được lên lớp, phải ở lại lớp và danh sách đượcgiao nhiệm vụ học tập hoặc rèn luyện thêm trong hè

- Quyền hạn của GVCN:

+ Được cung cấp phương tiện và tài liệu cần thiết để tiến hành nhiệm vụ.

+ Được tham dự và biểu quyết trong hội đồng kỷ luật và khen thưởng khicác tổ chức này giải quyết những vấn đề liên quan đến học sinh của lớp mìnhphụ trách

Trang 7

+ Được quyền cho học sinh nghỉ học, được quyền đề nghị khen thưởng vàthi hành kỷ luật học sinh trong phạm vi thể lệ quy định.

3 Quy trình công tác của GVCN lớp:

Để đảm bảo công tác chủ nhiện lớp đạt hiệu quả cao, người giáo viên chủnhiệm lớp phải tuần thủ một số quy trình sau:

a Điều tra đối tượng học sinh: Cụ thể là tìm hiểu tình hình mọi mặt của

học sinh lớp mình, hoàn cảnh đặc biệt, đặc điểm, cá tính, điều kiện sống củatừng em Đối với những học sinh có dạng cá biệt để có những biện pháp giáodục thích hợp

b Xây dựng kế họch chủ nhiệm: Kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp phải

căn cứ vào chủ trương của nhà trường và tình hình thực tế của lớp Cần xâydựng kế hoạch cả năm, kế hoạch học kỳ, kế hoạch tháng và kế hoạch tuần

c Chỉ đạo tập thể học sinh thực hiện kế hoạch:

- Bồi dưỡng năng lực tổ chức, chỉ đạo và thực hiện kế hoạch cho đội ngũcán bộ lớp, để các em làm tốt nhiệm vụ được giao

- Tổng kết đúc rút kinh nghiệm sau mỗi đợt công tác, có khen, có chê đốivới tập thể cùng như cá nhân

- Trong khi điều hành công việc của lớp mình, mỗi GVCN phải có một sốcông tác chủ nhiệm để ghi chép theo dõi hằng ngày

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Thuận lợi

- Làm GVCN ai cũng đã từng gặp phải trong lớp mình có những HS cábiệt như: Học lực yếu, hay cùng trốn tiết, trốn học, ngủ trong giờ học, vô lễ vớiGV… tóm lại những HS này không có niềm tin và động lực để học tập…khiGVCN mời PHHS thì PHHS cũng bó tay, than phiền nhờ thầy cô giúp đỡ…

- Phấn đấu để đạt được kết quả học tập cao cho tất cả học sinh trong cácđiều kiện của nền giáo dục THPT là nhiệm vụ phức tạp và rất quan trọng, nhưngkinh nghiệm của các trường và của các giáo viên giàu kinh nghiệm đã khẳngđịnh rằng, nhiệm vụ này có thể hoàn toàn thực hiện được Nhiều trường phổ

Trang 8

thông và nhiều giáo viên không có một học sinh lưu ban nào trong quá trìnhnhiều năm công tác

- Cuộc đấu tranh vì chất lượng kiến thức cao, việc ngăn ngừa tình trạnghọc kém và lưu ban là một vấn đề giáo dục quam trọng nhất đòi hỏi không chỉ

áp dụng các phương pháp dạy học hợp lí nhất và hoàn thiện quá trình học tập,

mà nó còn có liên quan điến việc hình thành đạo đức của học sinh đang thườngxuyên phát triển, đến việc giáo dục các phẩm chất đạo đức như lòng tôn trọngnghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính tổ chức, sự cần mẫn, sự bền bỉ và ý thức tậpthể …Vì thế nên kết quả học tập của học sinh không chỉ phụ thuộc vào hoạtđộng dạy học của các giáo viên bộ môn mà ở một mức độ đáng kể còn phụthuộc vào công tác giáo dục khéo léo và có mục đích của giào viên chủ nhiệm

và vào mối quan hệ của họ với gia đình học sinh Vì vậy trong công tác chủnhiệm người giáo viên cần chuẩn bị cho mình những kiến thức, kỉ năng, kỉ xảocần thiết cho công tác với học sinh yếu, kém

- Cần phải chỉ ra rằng, rất đáng tiếc là trong sách báo sư phạm hiện nay córất ít công trình đề cập đến vấn đề này, đặc biệt ít có tài liệu nói cụ thể về côngtác giáo dục với hoc sinh học kém

2 Khó khăn:

- Một điều khó khăn lớn là đối tượng HS nghiên cứu có địa bàn phân bốrộng, có những gia đình HS ở cách xa trường vài chục cây số, đường đến trườnglầy lội, không có điện thoại liên lạc, kinh tế gia đình khó khăn… Khả năng nhậnthức tư duy của các em không đồng đều và thường không ổn định, sở thích nhucầu có nhiều khác biệt, động cơ học tập và hứng thú cũng khác biệt nhau rấtnhiều, số lượng HS trong một lớp đông

- Tuy nhiên động lực lớn nhất

đối với mỗi giáo viên chúng tôi là

được sự động viên an ủi, tin tưởng

của nhà trường, của các đồng

nghiệp, PHHS và các cấp chínhquyền địa phương

- Vì vậy với những kinhnghiệm trong nhiều năm công tácchủ nhiệm tôi xin trình bày một số

Trang 9

các biện pháp mà tôi đã thực hiện

trong những năm qua và mang lại

nhiều khả quan

III CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Nghiên cứu tâm lý giáo dục đối với học sinh yếu kém

- Qua khảo sát tìm hiểu đối nhiều HS của nhiều thế hệ mà tôi đã công tácgiảng dạy và làm chủ nhiệm thì nhiều HS cho rằng có rất nhiều vấn đề khó khănkhiến các em gặp thất bại trong học tập Và một số giáo viên chủ nhiệm nghĩ các

HS giỏi không bao giờ gặp phải những vấn đề như thế Một kết quả nghiên cứucho thấy hầu hết các HS, kể cả nhũng HS giỏi đều có chung 16 vấn đề khó khănphổ biến sau đây:

+ Trí nhớ kém

+ Thích trì hoãn công việc

+ Lười biếng

+ Nghiện trò chơi điện tử, xem tivi, internet

+ Gặp khó khăn trong việc hiểu bài giảng

+ Dễ dàng bị sao lãng

+Khả năng tập trung ngắn hạn

+ Mơ màng trong lớp học

Trang 10

+ Thầy cô dạy không lôi cuốn

+ Không có hứng thú đối với

môn học

- Việc nghiên cứu các nguyên nhân học kém là một nhiệm vụ vô cùng khókhăn đối với người giáo viên chủ nhiệm Để giảm nhẹ cho công việc thu thập tàiliệu về HS học yếu, kém chúng ta cần phải có những chương trình đặc biệt.Trong chương trình này có điểm ra những điều cần biết về HS Chương trìnhcần nghiên cứu đầy đủ toàn diện về HS bao gồm: Nghiên cứu hoạt động nhậnthức, lĩnh vực tình cảm, ý chí, hành vi và tình hình thể lực của các em Căn cứvào các dữ liệu như: trạng thái xúc cảm, lí trí hành vi và tình trạng thể lực, trạngthái chú ý và trí nhớ hoặc chức năng tâm lí riêng biệt nào đó của các em HS

- Khi bắt tay vào nghiên cứu HS yếu, kém người GVCN cần thiết lập mốiquan hệ cần thiết với em HS Điều này sẽ giúp cho việc tìm hiểu được tốt hơnnhững đặc điểm cá nhân của HS Nhằm mục đích này tôi thường dự giờ các giờhọc lớp chủ nhiệm, thăm gia đình, tham dự vào các hoạt động ngoại khóa, thamgia trò chuyện cùng HS

2 Tìm hiểu đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm

- Ngay khi tiếp nhận lớp chủ nhiệm, việc đầu tiên cần làm là tìm hiểu đối

tượng học sinh, hoàn cảnh gia đình, sở trường, sở thích, tính cách … để từ đó cónhững đánh giá chính xác nhất về từng đối tượng, trên cơ sở đó có những biệnpháp giáo dục phù hợp

Các biện pháp chủ yếu để tìm hiểu đối tượng là:

Trang 11

2.1 Thông qua phiếu điều tra thông tin học sinh

PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC SINH ĐẦU NĂM

1 Họ tên học sinh: ………Nam/ Nữ:………….…

2 Ngày tháng năm sinh:……… Nơi sinh:………

3 Quê quán:……… ………

4 Dân tộc:……….Tôn giáo:………….…….…………

5 Đoàn viên/Đội viên:………Ngày vào Đoàn:……….…….………

6 Chỗ ở hiện nay (Số nhà, tổ, thôn bản /khu phố, xã/ thị trấn, huyện, tỉnh): ………

7 Địa chỉ, số điện thoại nơi ở trọ (nếu có): ………

8 Phương tiện đi học:………

9 Kết quả học tập năm trước: + Học lực:……… + Hạnh kiểm:……

+ Các môn học tốt nhất:………

+ Môn học chưa tốt:………

10 Chức vụ đã làm những năm học trước:……….…

11 Năng lực, sở trường của bản thân: ………

12 Sở thích cá nhân:………

13 Ước mơ nghề nghiệp:………

14 Khó khăn của bản thân hiện nay:………

15.Tự đánh giá hạn chế của bản thân:………

………

16 Người bạn thân nhất (Họ tên, học lớp nào, trường nào/đang làm gì, số điện thoại):………

………

17 Họ tên cha:……… Năm sinh:……… Nghề nghiệp:…………

18 Họ tên mẹ:……… Năm sinh:……… Nghề nghiệp:…….…

19 Địa chỉ, số điện thoại liên lạc với PHHS:……… …

20 Họ tên, nghề nghiệp, số điện thoại của anh, chị, em ruột:………….………

……….…………

……….………

Trang 12

21 Thuộc diện con liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình CCCM: ………….

22 Gia đình thuộc diện đói, nghèo, cận nghèo:………

2.2 Tìm hiểu đặc điểm học sinh thông qua quan sát học sinh học tập, vui trơi hoặc bằng việc trao đổi, trò chuyện với học sinh, phụ huynh, GVCN

cũ … của các em

- Việc quan sát phải lâu dài và có hệ thống để sao cho các kết luận rút ra

từ các sự kiện quan sát được không phải là những kết luận tình cờ và hời hợt,chúng phải phản ánh được những đặc điểm cá nhân đáng kể của HS, cho phéptheo dõi em HS trong sự phát triển của em đó, việc quan sát cần phải sâu sắc, nóbao gồm không chỉ một sự ghi chép chính xác và đầy đủ các sự kiện và hiệntượng về hành vi của HS mà còn giải thích đúng đắn các sự kiện và hiện tượngnày, vì rằng việc quan sát không chỉ nhằm mô tả các hành động bên ngoài của

HS mà còn phải tìm ra các động cơ và nguyên nhân của những hành động này.Đây cũng là mục đích cơ bản của sự quan sát: Xuất phát từ những sự kiện bênngoài của việc quan sát phải vạch ra được những đặc điểm cá nhân của HS vànhững đặc điểm đặc thù về nhân cách của em đó

- Hiệu quả của các cuộc trò chuyện phụ thuộc vào sự suy nghĩ kĩ càng vềphương pháp tiến hành chúng, tùy thuộc vào kĩ năng, nghệ thuật và sự lịch thiệpcùa giáo viên Các thủ thuật tiến hành phải được cá biệt hóa tối đa và chúng phảinhất thiết thay đổi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể , tùy theo cá tính của

em học sinh cần nghiên cứu Khi tiến hành các cuộc trò chuyện cần phải lưu ýkhông chỉ tới nội dung các câu trả lời của HS, mà cần phải tới cả cách thể hiệnbên ngoài của HS trong khi trả lời, tới tính cách giọng nói và cách diễn đạt ngônngữ

- Những cái mà HS đã làm như bài làm văn, bài báo tường, sổ nhật kí, bứctranh vẽ, hình vẽ, vở HS, các mô hình…sẽ cho ta nhiều điều quý báu nêu lênđược đặc điểm của HS Tất cả những dạng sáng tạo này của các em sẽ giúp tatìm ra được những đặc điểm cá nhân của các em chỉ trong trường hợp nếu như

sự phân tích những sản phẩm này là khách quan, và những cứ liệu thu nhậnđược sẽ được đối chiếu với những sự kiện khác nhận được bằng các thủ pháp

Trang 13

khác về mặt phương pháp Quy tắc này còn có liên quan đến việc sử dụng cácbài tập thực nghiệm trong khi nghiên cứu các quá trình tâm lí riêng biệt của HS

- Một trong những yêu cầu quan trọng đối với công tác nghiên cứu HShọc kém là việc tiến hành ghi chép có hệ thống các sự kiện quan sát trong mộtcuốn sổ tay dành riêng cho mục đích này Trong quá trình nghiên cứu HS, sổ tayđược sử dụng theo một hệ thống nhất định và có kế hoạch, nó cho phép ta nhìnthấy sự phát triển và vận động của HS, lập được kế hoạch đúng đắn cho toàn bộcông tác giáo dục và giảng dạy HS Xin trích dẫn ra đây 1 ví dụ cụ thể như sau:

Trong thời gian làm công tác chủ nhiệm khi tiến hành làm công tác cá biệt với HS kém như trường hợp của HS Doãn Đình Trưỡng học lớp 11A1 năm học 2010 - 2011 Trong những năm trước Trường học kém và em phải thi lại để lên lớp, trong các giờ học em không chăm chú, thường xuyên nghỉ học đi chơi điện tử Khi trong lớp tiến hành kiểm tra, em cảm thấy mình không được tự tin, tất cả sự chú ý của em đều nhằm vào việc làm sao để có thể chép bài của bạn

mà thầy giáo không thấy Phần lớn các giáo viên bộ môn đều cho rằng HS Trường không có năng lực mà lại lười biếng Với vai trò là giáo viên chủ nhiệm khi quan sát tôi thấy Trường có năng lực bình thường và có sự phát triển chung không phải là kém Điều này được thể hiện qua cách nói có văn hóa của em, qua sự hứng thú của em đối với thể thao và đối với việc đọc sách báo ở thư viện Nhưng Trường chưa có thái độ đúng đắn đối với việc học tập, em thiếu các kỹ năng và kỹ xảo lao động độc lập, sự chú ý có chủ định ở em chưa được phát triển cũng như thiếu một vài phẩm chất cần thiết cho hoạt động lao động

Khi đến thăm gia đình Trường, tôi càng tin tưởng vào sự đúng đắn về những kết luận của mình hơn Trường là đứa con trai độc nhất nên rất được chiều chuộng trong gia đình Cha hoặc mẹ đã làm tất cả, Trường không tự lực làm cái gì cả Từ những ngày đầu học tập, cha mẹ đã giúp em trong những khó khăn nhỏ nhặt nhất Một sự bảo trợ quá ư tỉ mỉ như vậy đã làm giảm ý chí, năng lực và sáng kiến của em và chẳng bao lâu em đã không để ý đến việc lúc nào cần phải ngồi chuẩn bị bài vở, vì rằng tất cả những cái đó đã được mẹ em làm hộ.

Trang 14

Tôi đã phải làm việc nhiều để thay đổi cách giáo dục Trường trong gia đình Trước hết cần phải thuyết phục cha mẹ về sự sai lầm của các hành động của họ, sau đó cùng với họ xác định các biện pháp giáo dục tiếp tục Trường Họ

đã xây dựng hệ thống giáo dục cho Trường những thói quen, kỹ năng, động cơ

và tình cảm cần thiết cho việc học tập Ví dụ, tôi và cha mẹ đã đòi hỏi Trường phải hoàn toàn tự lực thực hiện tốt các bài tập về nhà Khi bài có thiếu sót nhỏ, hoặc làm cẩu thả, hoặc chưa hoàn thiện, họ động viên em phải làm lại hoặc sửa đúng Mỗi một bài làm tốt đều được thưởng, và điều này gây cho em lòng tin tưởng vào sức lực của mình và tạo ra cảm xúc tốt Việc tổ chức các bài tập bổ sung nằm mục đích dạy cho em các học đã có ảnh hưởng lớn lao đến việc hành thành các kỹ năng, kỹ xảo, đến việc giáo dục nhiều phẩm chất cần thiết để học tập tốt Kết quả của công việc rất tinh tế, bền bỉ và hết sức chú ý của tôi và của gia đình đã làm cho em Trường có được sự hào hứng học tập và thích thú lao động nói chung và kết quả học tập về các bộ môn đã được nâng lên một cách rõ rệt, cuối năm học lớp 11 em đạt được danh hiệu HSTT.

- Từ kết quả điều tra, nghiên cứu, tôi đã đi đến kết luận rằng, công tác vớihọc sinh kém đòi hỏi mỗi thầy giáo, giáo viên chủ nhiệm phải có nghệ thuật sưphạm và trong mỗi trường hợp cụ thể phải biết cách đi đến học sinh để giúp các

em học tập tốt hơn và góp phần phát triển những tính cách tốt cần thiết cho cuộcsống và lao động Kết quả của công tác cá biệt với học sinh học kém tùy thuộcvào việc sử dụng khéo léo sức mạnh giáo dục của tập thể, của tổ chức đoàn vàđội, của phụ huynh và giáo viên

3 Tạo niềm tin đối với học sinh:

Người GVCN phải tự xây dựng cho mình một biện pháp riêng để xâydựng niềm tin cho bản thân học sinh, chuyển hóa ý nghĩ tiêu cực của các em họcsinh yếu rằng “mình không thể học tốt môn học đó” sang ý nghĩ tích cực rằng

“mình có thể học tốt môn học đó”, từ đó xây dựng cho học sinh niềm tin vào bảnthân mình, xây dựng động cơ học tập cho các em hướng đến việc học sinh có thể

tự hoạch định mục tiêu, kế hoạch, phương pháp học tập của bản thân mình Việcxây dựng niềm tin cho học sinh có thể bắt đầu từ 2 nội dung sau đây:

Trang 15

3.1 Chuyển hóa ý nghĩ tiêu cực thành ý nghĩa tích cực

- Đối với những HS yếu, kém khi làm bài kiểm tra hay bài tập bị điểmkém thì luôn có nhiều lý do biện hộ cho điểm kém đó, đại loại như sau:

Khi giáo viên hỏi: Vì sao em không học bài cũ ở nhà?

Thì câu trả lời của HS như sau:

+ Em có học bài ở nhà nhưng khi thầy đặt câu hỏi, em quên nên không trả lời được

+ Em có học bài ở nhà nhưng câu hỏi của thầy không nằm trong phần nội dung em học, nên em không trả lời được

+ Em có học bài ở nhà nhưng thầy, cô nêu câu hỏi khó nên em không trả lời được…

GVCN hỏi: Vì sao em không làm bài tập về nhà ở SGK?

HS trả lời:

+ Bài tập ở SGK khó, em làm không được

+ Ở nhà em có làm nhưng khi lên bảng em quên công thức nên không làm được

+ Thầy dạy em không hiểu nên không làm được bài tập ở nhà…

GVCN hỏi: Vì sao em không thích học môn Toán?

HS trả lời:

+ Môn toán khó, em không làm được nên em ghét nó

+ Con ghét thầy toán, giọng thầy giảng khó nghe, khi lên bảng thầy toàn tra những bài tập khó…

+ Em không biết học toán để làm gì? Nó chẳng liên quan gì đến cuộc sống của em

+ Em không biết gì về môn Toán cả, nhìn vào em rối tung rối mù lên em chẳng biết gì cả, em ghét nó, học chỉ mất thời gian thôi

Khi phụ huynh hỏi vì sao con bị điểm kiểm tra bài miệng kém, hoặc điểm kiểm tra bài 45 phút kém

Học sinh trả lời:

Trang 16

+ Thầy giảng bài con không hiểu nên con trả lời không được, giọng thầy nói khó nghe

+ Con có học bài nhưng do thầy ghét con nên nêu câu hỏi khó, con không trả lời

+ Con có học bài nhưng do thầy ghét con nên nêu câu hỏi khó, con không trả lời được…

+ Con có ôn bài nhưng đề thầy ra khó nên con không làm được…

- HS sẽ tìm ra hàng trăm lí do để biện hộ cho các điểm kém của mình khiGVCN hay PHHS hỏi đến Vậy làm sao để tạo cho các em một niềm tin tronghọc tập, để làm được điều đó, thì người GVCN hay PHHS phải chuyển hóanhững ý nghĩ tiêu cực của HS sang ý nghĩa tích cực như:

Em đã làm bài tập xong chưa, thầy biết thầy bộ môn đã cho em nhiều bài tập; mới đầu em làm sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng nhiều lần, quen dần em sẽ làm tốt hơn và nhanh hơn, thầy tin nếu cố gắng em sẽ làm được…

+ “Thầy toàn ra đề bài kiểm tra cực khó”

GVCN: Thầy đồng ý là bài kiểm tra thầy bộ môn ra khá phức tạp vì đó là

để cho tất cả những câu hỏi trong kỳ thi học kỳ sẽ dễ dàng hơn đối với em

+“Em ghét thầy toán, thầy cứ đặt câu hỏi khó cho em”

Ngày đăng: 12/12/2015, 17:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Wedsite : http://www.moet.gov.vn ; http://www.edu.net.vn Link
2. Giáo trình giáo dục học phổ thông – Lưu hành nội bộ - TS Trần Thị Hương (chủ biên) Khác
3. Tôi tài giỏi, bạn cũng thế - ADAM KHOO – dịch giả: Trần Đăng Khoa, Uông Xuân Vy – NXB Phụ Nữ - 2011 Khác
4. Con cái chúng ta đều giỏi - ADAM KHOO & GARY LEE – dịch giả: Trần Đăng Khoa, Uông Xuân Vy – NXB Phụ Nữ - 2011 Khác
5. Công tác giáo dục ở trường phổ thông - PTS. Nguyễn Đình Chỉnh – NXB Giáo Dục 1980 Khác
6. Giao tiếp sư phạm – Hà Nội 1995 - PTS. Hoàng Anh – PTS. Vũ Kim Thanh 7. Giáo dục học đại cương II - Hà Nội 1996 - GS. Đặng Vũ Hoạt Khác
8. Thực hành về giáo dục học - Hà Nội 1995 - PTS. Nguyễn Đình Chỉnh Khác
9. Điều lệ trường trung học - Bộ GD & ĐT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2 - SKKN  một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10a5 ở trường THPT số 2 văn bàn
2 (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w