Chính vì vậy, trong phạm vi luận án tốt nghiệp cao học này, em đã tiến hành nghiên cứu vai trò quan trọng của các công ty kiểm toán trên Thị Trường Chứng Khoán tại Việt Nam, với đề tài l
Trang 1NGÔ HOÀI TÂM EM
TP H Chí Minh – N m 2000
Trang 2634MỤC LỤC Trang
LỜI MỞ ĐẦU III Các từ ngữ được dùng viết tắc trong luận án này: VI
CHƯƠNG 1: 1
TỔNG QUAN VỀ TTCK, KIỂM TOÁN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TTCK VỚI CÔNG TY KIỂM TOÁN 1
1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1
1.1 Khái niệm, bản chất và cơ cấu 1
1.2 Các sản phẩm lưu hành trên TTCK 4
1.3 Các chủ thể tham gia vào TTCK 8
1.4 Nguyên tắc hoạt động của TTCK 10
1.5 Những mặt tích cực và tiêu cực của TTCK 11
2 KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 17
2.1 Khái niệm kiểm toán độc lập 17
2.2 Đối tượng của kiểm toán độc lập 20
2.3 Nguyên tắc hoạt động 20
2.4 Trách nhiệm và các qui định về kiểm toán 21
3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TTCK VỚI CÔNG TY KIỂM TOÁN 23
CHƯƠNG 2: 24
SỰ HÌNH THÀNH TTCK VIỆT NAM VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN 24
1 TÍNH TẤT YẾU CỦA TIẾN TRÌNH TẠO LẬP TTCK VIỆT NAM 24
1.1 TTCK tạo vốn cho nền kinh tế 24
1.2 Giúp công chúng tham gia đầu tư vốn 29
1.3 Là công cụ đánh giá DN, giúp DN sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn 29
1.4 Quốc tế hóa nguồn vốn, hội nhập vào thị trường quốc tế 30
2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC TRÊN CON ĐƯỜNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TTCK Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 31
2.1 Những tiền đề và thuận lợi cơ bản 32
2.2 Những khó khăn và thách thức 35
3 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN NHẰM THÚC ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH TẠO LẬP VÀ PHÁT TRIỂN TTCK TẠI VIỆT NAM 40
Trang 33.1 Những hoạt động của công ty kiểm toán đã và đang thực hiện 40 3.2 Một số hoạt động của công ty kiểm toán chưa thể thực hiện trong thời gian qua 46
CHƯƠNG 3: 61
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỂ CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN GÓP
PHẦN VÀO TIẾN TRÌNH TẠO LẬP VÀ PHÁT TRIỂN TTCK TẠI VIỆT NAM 61
1 VAI TRÒ XÁC NHẬN CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH CHO CÁC DN 63
2 CHO PHÉP CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐƯỢC QUYỀN LÀM ĐẠI DIỆN PHÁP LÝ CHO DN 66
3 CHO PHÉP CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN THỰC HIỆN VIỆC ĐỊNH GIÁ VÀ ĐẤU GIÁ CỔ PHIẾU CÁC DNNN ĐƯỢC CPH 67 3.1 Bài học rút ra từ tình hình thực hiện CPH trong thời gian vừa qua: 67 3.2 Công tác kiểm toán và việc định giá DNNN được CPH: 69
4 CHO PHÉP CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ PHÁT HÀNH HỘ CHỨNG KHOÁN CHO KHÁCH HÀNG 75
5 CHO PHÉP CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN THỰC HIỆN VIỆC TƯ VẤN VÀ MÔI GIỚI, MUA BÁN CHỨNG KHOÁN 78
6 VAI TRÒ CUNG CẤP THÔNG TIN CHO CÁC ĐỐI TƯỢNG THAM GIA TTCK 81
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Vốn đang là vấn đề nổi lên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta từ mấy năm gần đây Tạo dựng thị trường vốn ở Việt Nam đang trở nên bức xúc hơn bao giờ hết, nhằm phát triển nhanh chóng qúa trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang cơ chế thị trường Nghị quyết đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần VII cũng đã từng khẳng định:
“…từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ, thị trường vốn và tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị trường sức lao động ….Phát triển các hình thức thu hút vốn và đảm bảo chu chuyển vốn nhanh Xây dựng thí điểm Thị Trường Chứng Khoán khi có điều kiện…”
Gần đây nhất để tạo lập kênh huy động vốn trung và dài hạn mới qua Thị Trường Chứng Khoán, đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng kinh tế đất nước, ngày 28/11/1996 Chính phủ đã ra quyết định thành lập Uûy Ban Chứng Khoán Nhà nước Tiếp đó Thường Vụ Bộ Chính Trị ra Thông báo số 91 TB//TW ngày 28/9/1997 về việc Chuẩn bị thành lập Thị Trường Chứng Khoán ở Việt Nam, cũng như Báo cáo của Chính Phủ trong kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá X về những chủ trường và giải pháp lớn cho kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 1998 có ghi “xúc tiến thành lập SGDCK ở quy mô thích hợp để có kinh nghiệm thực tế hoàn chỉnh thể chế, đào tạo cán bộ, từng bước tổ chức thị trường chứng khoán một cách vững chắc”
Trung tâm của bất kỳ mô hình tài chính nào trong nền kinh tế thị trường cũng đòi hỏi sự hoạt động của những ”ống dẫn” mà thông qua đó, vốn của những người tiết kiệm sẽ chuyển thành các khoản nợ của người sử dụng (chủ đầu tư) Một trong những loại “ống dẫn“ quan trọng là các định chế tài chính trung gian trên Thị Trường Chứng Khoán Và hẹp hơn là vai
trò định chế tài chính trung gian của các công ty kiểm toán Chính nó là cầu nối được xem
như là “bà đở” cho hoạt động giao lưu và thu hút vốn đầu tư phát triển trên Thị Trường Chứng Khoán, nhằm giải quyết nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Không những thế, nó còn là cơ sở, là tiền đề vật chất cho qúa trình cổ phần hoá đi đúng trình tự phát triển của nền kinh tế thị trường Lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường thế giới đã kiểm chứng rằng, hoạt động của Thị Trường Chứng Khoán, cần thiết phải có trong lòng nó những định chế tài chính trung gian đầy năng động
Trong qúa trình hình thành và phát triển Thị Trường Chứng Khoán tại Việt Nam, các công ty kiểm toán đóng một vai trò hết sức quan trọng Các dịch vụ của các công ty kiểm toán trên Thị Trường Chứng Khoán rất đa dạng Tuy nhiên, việc lựa chọn những giải pháp sao cho phù hợp với điều kiện Việt Nam trong bước đầu thành lập Thị Trường Chứng Khoán là rất cần thiết Chính vì vậy, trong phạm vi luận án tốt nghiệp cao học này, em đã tiến hành nghiên cứu vai trò quan trọng của các công ty kiểm toán trên Thị Trường Chứng Khoán tại Việt Nam, với đề tài luận án là:
Trang 5“ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN TRONG TIẾN TRÌNH TẠO LẬP VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN TẠI VIỆT NAM“
Nội dụng luận án được chia làm 3 chương:
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, KIỂM TOÁN VÀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VỚIØ CÔNG TY KIỂM TOÁN
Trang 6Lời cảm ơn
Em xin được chân thành cảm ơn Ban Lãnh Đạo Công ty AISC, Công ty PircewaterhouseCoopers – AISC Việt nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho em làm việc tại công ty trong một thời gian dài để am hiểu được tường tận các vấn đề về tổ chức quản lý, văn hóa, cũng như những hoạt động, chức năng, mà công ty đã cung cấp trong qúa trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này Em cũng xin được trân trọng cám ơn Giáo viên hướng dẫn: Thầy Nguyễn Ngọc Hùng cùng các thầy cô của trường đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn cho em những kiến thức nền tảng cần thiết trong qúa trình học tập cũng như thực hiện luận án
Do Thị Trường Chứng Khoán là một vấn đề còn mới mẽ đối với nước ta cũng như thời gian nghiên cứu bị giới hạn, luận án chắc hẳn sẽ có nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của qúy Thầy, Cô và các bạn sinh viên
Xin chân thành cảm ơn !
Trang 7Các từ ngữ được dùng viết tắc trong luận án này:
1 TTCK - Thị trường chứng khoán
2 CTCK – Công ty chứng khoán
3 UBCKNN - Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
4 SGDCK - Sở giao dịch chứng khoán
5 TTGDCK – Trung tâm giao dịch chứng khoán
6 DNNN – Doanh Nghiệp Nhà Nước
7 CTCP – Công ty cổ phần
8 CPH - Cổ phần hóa
9 ĐTNN – Đầu tư nước ngoài
10. DN – Doanh nghiệp
Trang 8CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ TTCK, KIỂM TOÁN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TTCK VỚI CÔNG TY KIỂM TOÁN
1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái niệm, bản chất và cơ cấu
1.1.1 Khái niệm và bản chất
Trong nền kinh tế tựï do, tại bất kỳ thị trường nào, đối với bất kỳ mặt hàng nào, cho dù là rau quả, đồ cổ hay địa ốc đều cần phải chào mời một sự lựa chọn và giá cả thị trường sẽ do mức cung và cầu ấn định Điều đó cũng xảy ra trên TTCK Các nguyên tắc về cung và cầu cũng được áp dụng tương tự, theo đó dẫn đến các biến động về giá cả, tức là khi mức cầu xuất hiện có vẻ vượt qúa cung (nghĩa là người mua nhiều hơn người bán) giá cả sẽ tăng lên và ngược lại Vậy TTCK là gì? Tổ chức và hoạt động của nó ra sao? Hàng hoá của nó là gì? Ai là người tham gia vào thị trường này? Đây là những điều mà tất cả những ai quan tâm đến TTCK đều muốn biết, đồng thời cũng là vấn đề mà em xin đề cập đến trong Chương này
TTCK là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại Có nhiều quan điểm khác nhau về TTCK TTCK theo tiếng la tinh là BURSA nghĩa là cái ví đựng tiền, còn gọi là SGDCK, là một thị trường có tổ chức và hoạt động có điều khiển, là nợi giao dịch mua bán các loại chứng khoán như: Trái phiếu, cổ phiếu và các giấy chứng nhận nợ do Nhà nước hay các CTCP phát hành, nhằm huy động vốn để đạt được các dự án đầu tư phát triển kinh tế theo nguyên tắc thị trường (quan hệ cung - cầu)
Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, TTCK được coi là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn (chứng khoán nợ và chứng khoán vốn) có tổ chức, theo Luật pháp, giữa những người phát hành chứng khoán (cần vốn đầu tư) và những người mua chứng khoán hoặc kinh
Trang 9doanh chứng khoán Việc tiến hành này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ người phát hành chứng khoán và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Các quan hệ mua bán các chứng khoán trên TTCK phản ánh sự thay đổi các chủ thể sở hữu về chứng khoán Chủ thể tham gia TTCK với tư cách là người bỏ vốn đầu tư, anh ta là chủ sở hữu tư bản; còn khi tham gia với tư cách là người sử dụng vốn đầu tư, thì anh ta thực hiện chức năng của tư bản kinh doanh
Do đó, TTCK xét về mặt bản chất, không phải chỉ phản ánh các quan hệ mua bán một số lượng nhất định các tư liệu sản xuất cơ bản và các khoản vốn bằng tiền, mà là quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền Nói cách khác, TTCK là nơi mua bán quyền sở hữu về tư bản Tư bản hiện nay được lưu thông như một loại hàng hóa thông thường có giá trị và có giá trị sử dụng TTCK là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa
1.1.2 Cơ cấu của TTCK
1.1.2.1 Xét về phương diện pháp lý, gồm có:
1) TTCK chính thức:
Hay còn gọi là TTCK tập trung là thị trường hoạt động theo đúng các qui luật pháp định, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay được biệt lệ Chứng khoán đã được đăng biểu là loại chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian qua các công ty mua bán đã hội đủ các tiêu chuẩn đã định Chứng khoán biệt lệ là loại được miễm giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, do chính phủ trong các cơ quan công quyền, thành phố, tỉnh, quận, huyện, thị phát hành và bảo đảm
TTCK chính thức có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt và thời biểu mua bán rõ rệt và giá cả được tính theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của hội đồng chứng khoán TTCK chính thức được thể hiện bằng các SGDCK (Stock Exchange)
Trang 102) TTCK phi chính thức:
Hay còn gọi là TTCK phi tập trung, là thị trường mua bán chứng khoán bên ngoài SGDCK, không có địa điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như ở SGDCK Ở đây không có sự kiểm soát từ bên ngoài, không có ngày giờ hay thủ tục nhất định mà do sự thỏa thuận của người mua và người bán Các chứng khoán liên hệ ở đây thường là loại không được đăng biểu, ít người biết đến hay ít được mua bán
1.1.2.2 Xét về quá trình luân chuyển của chứng khoán, gồm có:
1) Thị trường sơ cấp:
Còn gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành Là nơi trao đổi muabán các chứng khoán mới phát hành lần đầu do nhu cầu tăng thêm vốn mở rộng qui mô đầu
tư Nguồn cung cấp vốn chủ yếu tại thị trường này là nguồn tiết kiệm của dân chúng cũng như của một số tổ chức phi tài chính Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành
2) Thị trường thứ cấp:
Còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông Là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán đến tay người thứ hai, tức là sự mua bán tiếp theo lần bán đầu tiên Nói cách khác, thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành qua thị trường thứ cấp
Điểm khác nhau căn bản của hai thị trường này không những về mặt hình thức mà cả nội dung theo từng loại mục đích của thị trường Bởi lẽ phát hành cổ phiếu hay trái phiếu tại thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế Còn ở thị trường thứ cấp, dù việc giao dịch rất nhộn nhịp, với nguồn vốn có qui mô lớn vẫn không thu hút thêm được các nguồn tài chính mới Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữu chứng khoán từ chủ
Trang 11Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gộp lại gọi là TTCK Hai thị trường này tồn tại quan hệ mật thiết với nhau, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề Thị trường thứ cấp là động lực Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chẳng có chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp, và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng khoán thành tiền sẽ bị khó khăn, khiến cho người đầu tư sẽ dè dặt khi mua chứng khoán Do đó, thị trường sơ cấp sẽ thu nhỏ lại, hạn chế khả năng huy động vốn trong nền kinh tế
1.1.2.3 Nếu căn cứ vào phương thức giao dịch, gồm có:
1) Thị trường giao ngay (Spot market)
Còn gọi là thị trường thời điểm, tức là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theo một qui định
2) Thị trường tương lai (Future market)
Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng định sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ hạn nhất định ở tương lai Ngoài các tiêu thức trên, nếu căn cứ vào đặc điểm các loại sản phẩm lưu hành trên TTCK, TTCK được chia làm 3 loại: Thị trường cổ phiếu, Thị trường trái phiếu, Thị trường các công cụ có nguồn gốc chứng khoán
1.2 Các sản phẩm lưu hành trên TTCK
Trong số rất nhiều sản phẩm đang có mặt trên TTCK thế giới, thì trái phiếu và cổ phiếu đã chứng tỏ được sự tồn tại lâu đời bền vững của mình, là sản phẩm chủ yếu của TTCK được nhiều người ưa chuộng và mua bán trên TTCK sơ cấp lẫn thứ cấp và được các công ty huy động vốn phát hành sau khi đăng ký với UBCKNN Dưới đây chúng ta sẽ lần lược tìm hiểu các loại sản phẩm lưu hành trên TTCK
Trang 12Có nhiều loại trái phiếu chẳng hạn: Trái phiếu công ty phát hành thì gọi là trái phiếu công ty gồm có các loại: trái phiếu vô danh, trái phiếu ký danh, trái phiếu có thể thu hồi và trái phiếu có thể chuyển đổi Trái phiếu do Nhà nước phát hành thì gọi là trái phiếu nhà nước Tương tự như trái phiếu công ty, trái phiếu Nhà nước bao gồm nhiều loại như: Trái phiếu kho bạc, trái phiếu có mục đích, trái phiếu đô thị, trái phiếu thu nhập…
Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ, người nắm giữ trái phiếu là chủ nợ của công ty phát hành Khác với cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn, cổ đông là người góp vốn vào công ty, trở thành chủ sở hữu công ty
1.2.2 Cổ phiếu:
Cổ phiếu là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một CTCP – Cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Để có thể hiểu rõ hơn về cổ phiếu cũng như những ưu điểm nổi bật của nó, chúng ta hãy nghiên cứu một số nét cơ bản về CTCP, nơi phát sinh ra cổ phiếu
Trang 13CTCP (Corporation): Đây là loại công ty thành lập do nhiều người bỏ vốn ra Tiền
vốn được chia thành nhiều phần bằng nhau, người hùn vốn với tư cách là cổ đông sẽ mua cổ phần đó
CTCP là một pháp nhân tồn tại độc lập với chủ sở hữu Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi mình đã góp vốn Họ không bị đụng chạm đến tài sản riêng một khi công ty làm ăn thua lỗ, phá sản Sự rủi ro của sở hữu chủ là giới hạn Do vậy, CTCP là công ty trách nhiệm hữu hạn
Cổ đông của CTCP có thể chuyển nhượng cổ phiếu của mình một cách dễ dàng, không cần phải xin ý kiến của bất cứ một cơ quan nào, trừ những cổ đông nắm giữ một phần lớn cổ phiếu của công ty Nếu việc chuyển nhượng xảy ra sẽ làm thay đổi thành phần quản trị công ty, thì phải thông qua Hội Đồng Quản Trị
Ở Mỹ hiện nay, hầu hết các DN lớn hoạt động có hiệu quả đều là CTCP, số công
ty này chiếm tới 90% tổng thu nhập hàng năm của cả nước Những nước công nghiệp phát triển, hầu hết các CTCP là các CTCP công cộâng có thể có hàng vạn cổ đông như IBM, ATT,GMC có số cổ đông đến hàng triệu Và cổ đông của các CTCP đặc biệt là các CTCP công cộng luôn luôn biến động, bởi số cổ phiếu của họ luôn được mua đi bán lại Chính đây là lý do để chúng ta đi vào giải thích vai trò và cơ cấu của TTCK CTCP và TTCK có mối quan hệ hữu cơ Không có CTCP thì không có sự xuất hiện của ngành công nghệ chứng khoán Ngược lại, không có ngành công nghệ chứng khoán thì CTCP khó có khả năng phát triển CTCP và TTCK là hai định chế đặc trưng của nền kinh tế thị trường
CTCP huy động vốn bằng hình thức phát hành cổ phiếu Hay nói một cách khác, cổ phiếu là chứng chỉ đầu tư vốn do CTCP phát hành, đem lại cho người chủ của nó quyền chiếm hữu một phần lợi nhuận dưới hình thức lãi cổ phiếu và sự tham gia một cách hình thức vào quản lý xí nghiệp
Người sở hữu cổ phiếu được trả lãi cổ phần gọi là cổ tức Cổ tức là một phần lợi nhuận của công ty chia cho các cổ đông tỷ lệ thuận với số cổ phiếu họ nắm giữ Cổ
Trang 14tức được công bố và trả hàng năm, thường là vào ngày cuối năm Hình thức trả cổ tức hoặc bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu của chính công ty hoặc bằng tài sản (trong trường hợp công ty bị giải thể)
Cổ phiếu không có kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty phát hành ra nó Công ty phát hành ra cổ phiếu để huy động vốn mà không cần tính toán đến việc chi trả lại cho cổ đông Cổ đông không được quyền rút vốn mà chỉ được phép chuyển nhượng cổ phiếu trên TTCK thứ cấp
Cổ phiếu có thị trường rộng lớn nên việc mua bán dễ dàng và nhanh chóng Cổ phiếu thường được phát hành khi công ty bắt đầu thành lập Tuy nhiên, sau khi góp vốn kinh doanh bằng đợt phát hành cổ phiếu ban đầu, nếu công ty làm ăn phát đạt và có khả năng mở rộng sản xuất thì có thể phát hành đợt cổ phiếu mới Dấu hiệu của sự làm ăn phát đạt là các cổ đông được hưởng lãi cổ phần thường xuyên qua các năm, càng ngày càng tăng, mặc dầu tỷ lệ chia lãi cổ phần và tích lũy từ lợi nhuận vẫn giữ nguyên ở các mức nhất định 50/50;40/60;30/70… Ngoài ra, các cổ đông còn được chia những phần lãi cổ phần bổ sung (Extra Dividends) vào những năm công ty làm ăn phát đạt Hội đồng quản trị thấy có thể gia tăng thêm phần chia lãi cổ phần so với phần tích lũy, so với thường lệ
Có hai loại cổ phiếu chính:
Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu có lợi tức phụ thuộc vào mức lợi thu được của công ty Lợi nhuận công ty tạo ra nhiều thì cổ tức thu được sẽ cao và ngược lại Mức độ ảnh hưởng của cổ đông phụ thuộc vào tỷlệ phần cổ phần mà họ nắm giữ Các nhà đầu tư vào cổ phiếu thông thường thị thì chịu rủi ro cao hơn nhưng mức thu lợi thì nhiều hơn cổ phiếu ưu đãi
Trên cổ phiếu thường ghi mệnh giá Mệnh giá được tính bằng tổng số vốn góp chia cho lượng cổ phiếu phát hành Mệnh giá cổ phiếu chỉ là giá trị danh nghĩa Do đó, công ty không nhất thiết phải ghi mệnh giá trên cổ phiếu, có thể có mà cũng có thể không Giá của cổ phiếu được mua bán trên thị trường thứ cấp là thị giá Thị giá cổ phiếu biến động rất nhiều so với mệnh giá, nó được hình thành trên quan hệ cung
Trang 15cầu loại cổ phiếu đó trên thị trường thứ cấp Người đầu tư cần phải phân tích phán đoán để mua được cổ phiếu của các công ty làm ăn có hiệu quả
Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu được hưởng những quyền ưu tiên như được hưởng một mức lãi cổ phần riêng biệt có tính cố định hàng năm (giống như trái phiếu) không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty, được ưu tiên chia lãi cổ phần trước loại cổ phiếu thông thường và được ưu tiên chia tài sản khi công ty bị phá sản Người có cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bầu cử, ứng cử vào Ban Quản Trị, Ban Kiểm Soát công ty Thường những người thích có thu nhập đều đặn, ổn định và không thích mạo hiểm, rủi ro thường chọn cổ phiếu này
Cũng như cổ phiếu thông thường, cổ phiếu ưu đãi cũng có thể ghi hoặc không ghi mệnh gía trên cổ phiếu Nếu không có mệnh giá thì cổ tức của nó sẽ là một số tiền nào đó được ghi trên cổ phiếu ưu đãi do công ty ấn định Tuy nhiên, để tạo sự hấp dẫn nhà đầu tư, ngày nay có rất nhiều các loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau như cổ phiếu ưu đãi tích lũy (và không tích lũy), cổ phiếu ưu đãi tham dự thị phần (và không tham dự thị phần); cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thông thường và cổ phiếu ưu đãi có thể chuộc lại
1.3 Các chủ thể tham gia vào TTCK
Các chủ thể tham gia vào TTCK tựu trung lại có thể chia thành 5 chủ thể chính:
1) Người đầu tư chứng khoán:
Là những người mua chứng khoán gồm có: Các DN, các công ty bảo hiểm, các Qũy hưu trí và lực lượng rộng rãi nhất là tầng lớp dân chúng đầu tư vào
2) Người phát hành chứng khoán:
Là người huy động vốn bằng cách in và bán các chứng khoán cho người đầu tư, bao gồm ở đây là Chính phủ, các DN và một số tổ chức khác theo quy định
3) Người kinh doanh chứng khoán:
Là người được pháp luật cho phép thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, bao gồm môi giơí chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý qũy đầu
tư chứng khoán, mua và bán chứng khoán cho chính mình để hưởng chênh lệch giá
Trang 164) Người tổ chức thị trường:
Là người tạo ra địa điểm và phương tiện để phục vụ cho việc mua bán chứng khoán, hay còn gọi là SGDCK
5) Người quản lý và giám sát các hoạt động của TTCK:
Tức là Nhà nước, người bảo đảm cho thị trường hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư, bảo đảm việc mua bán chứng khoán được công bằng, công khai, tránh tình trạng tiêu cực có thể xãy ra
Ngoài các đối tượng nêu trên, còn có các đối tượng tương hỗ trợ quan trọng khác như: Các tổ chức thanh toán bù trừ và lưu trữ chứng khoán, tổ chức dịch vụ sang tên và đăng ký lại quyền sở hữu chứng khoán, trung tâm đào tạo người hành nghề chứng khoán, hiệp hội các nhà đầu tư, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay TTCK chưa ra đời nhưng các chủ thể tham gia vào TTCK có thể tạm chia ra thành 2 nhóm chính:
1) Nhóm kinh doanh trên TTCK:
Gồm có CTCK, nhà phát hành chứng khoán và các nhà đầu tư chứng khoán
khoán và TTCK, việc thành lập các CTCK ở Việt nam được thực hiện dưới hai hình thức: CTCP hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Trong giai đoạn hiện nay, CTCK có thể thực hiện được 5 loại hình kinh doanh là môi giới, tự doanh, tư vấn, đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư và bảo lãnh phát hành chứng khoán
Thứ hai là chủ thể phát hành chứng khoán: Đó là những chủ thể trực tiếp huy động vốn bằng cách phát hành ra các chứng khoán Chủ thể phát hành có thể là Chính hủ, DN và một số tổ chức khác theo qui định tại Nghị định 48/1998/NĐ-CP
p
Thứ ba là những người đầu tư chứng khoán: Họ chính là người mua bán chứng khoán, bao gồm: các DN, các công ty đầu tư tài chính, các ngân hàng, công ty bảo hiểm và lực lượng rộng rãi nhất là dân chúng (các cá nhân đầu tư) Những đối tượng này tham gia TTCK với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Theo qui định hiện hành tại Việt Nam không cho phép các cá nhân đầu tư được giao dịch trên TTGDCK mà phải thông qua các công ty chứng khoán
Trang 172) Nhóm trung gian hỗ trợ cho hoạt động trên TTCK:
Gồm các tổ chức công ty kiểm toán, các ngân hàng chỉ định thanh toán, và thành viên lưu ký phục vụ cho các giao dịch chứng khoán
Trung gian hổ trợ trên TTCK còn có các thành viên lưu ký, đó là các ngân hàng thương mại Ngoài ra, còn có một số đối tượng góp phần không nhỏ, hổ trợ cho các hoạt động của TTCK như: trung tâm nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ về chứng khoán và TTCK, hiệp hội các nhà đầu tư, hiệp hội các nhà kinh doanh
1.4 Nguyên tắc hoạt động của TTCK
TTCK là một định chế tài chính phát triển cao trong nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế riêng biệt được tiêu chuẩn hoá và mang tính quốc tế Nó hoạt động theo những nguyên tắc sau:
1) Công khai:
Tất cả các hoạt động trong lĩnh vực phát hành chứng khoán ra công chúng đều phải công khai Công khai về hoạt động của nhà phát hành, công khai về các loại chứng khoán được chào bán, chào mua, công khai về giá cả, số lượng chứng khoán được mua, bán …
2) Trung gian mua bán:
Mọi hoạt động mua, bán chứng khoán đều phải qua môi giới để đảm bảo sự tin cậy của thị trường, tránh giả mạo, lừa đảo…Nguyên tắc này nhằm bảo
vệ quyền lợi của người đầu tư, bảo đảm các chứng khoán lưu thông trên thị trường đều là chứng khoán hợp pháp, tránh cho người mua bị lừa gạt do thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu thông tin chính xác
Trang 183) Cạnh tranh hoàn toàn:
Việc mua bán chứng khoán được thực hiện thông qua đấu giá giữa các nhà môi giới với nhau, giá chứng khoán hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu, không một người hoặc tổ chứng nào có quyền áp đặt hoặc định giá theo ý chủ quan được
4) Pháp chế mọi giao dịch:
Các nghiệp vụ giao dịch đều được quy định bằng các văn bản mang tính pháp luật cao nhằm bảo vệ các nhà đầu tư Nhiệm vụ chính của pháp chế hoá là tạo ra một thị trường trung thực, trật tự, hạn chế đến mức thấp nhất các tiêu cực do bọn lừa đảo, đầu cơ thao túng thị trường
1.5 Những mặt tích cực và tiêu cực của TTCK
1.5.1 Những mặt tích cực
Tất cả các nước trên thế giới đều ưu tiên vào việc tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế thông qua việc thúc đẩy vai trò quan trọng của TTCK trong quá trình tích tụ tập trung và luân chuyển vốn Và cũng không có nền kinh tế thị trường nào phát triển thịnh vượng mà không có vai trò của TTCK Ta có thể tóm tắt vai trò quan trọng của TTCK đối với nền kinh tế cụ thể là:
♦ Công cụ khuyến khích dân chúng tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn tiết kiệm vào công cuộc đầu tư
♦ Giúp Nhà nước thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội
♦ Là công cụ giảm áp lực lạm phát
♦ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
♦ TTCK lưu động hóa mọi nguồn vốn trong nước
♦ Là công cụ đánh giá DN, giúp DN sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu qủa hơn
1) Là công cụ khuyến khích dân chúng tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn tiết kiệm vào công cuộc đầu tư:
Muốn đầu tư phát triển bất cứ một DN nào dù quốc doanh hay tư doanh đều có phương án: bản thân DN tự tích lũy đầu tư bổ sung hàng năm qua phân phối lợi
Trang 19nhuận Phương án này chỉ áp dụng ở các DN đã và đang phát triển Phương án thứ hai là gọi vốn từ bên ngoài DN được thực hiện qua việc phát hành cổ phiếu, hoặc vay tín dụng trung và dài hạn Tuy nhiên, phương án thứ hai chỉ thực hiện được trong điều kiện dân chúng có tiền tiết kiệm
Hiện tại các ngân hàng và kho bạc đă thực hiện huy động tiết kiệm trong dân chúng, tức là đã có mục đích khuyến khích tiết kiệm, nhưng tiết kiệm ở đây chưa gắn với đầu tư, chưa tạo nên nguồn vốn dài hạn cho đầu tư phát triển TTCK ra đời tạo điều kiện cho các DN, các cơ sở tài chính, tín dụng huy động dài hạn nguồn vốn tiết kiệm và để dành trong dân chúng vào quá trình đầu tư Vì TTCK, một định chế giải quyết được các yếu điểm của các tổ chức tài chính, tín dụng: Người có chứng khoán khi cần tiền có thể đưa chứng khoán ra thị trường bán lại
2) Giúp Nhà nước thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội
Bất cứ Nhà nước nào cũng phải có ngân sách để thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội Để có vốn cho chi tiêu Nhà nước phải áp dụng các biện pháp thu thuế, thuế là biện pháp quan trọng nhất để tạo ra vốn cho ngân sách Nhưng thông thường nguồn thu về thuế không đủ cho chi tiêu, do đó phải có một nguồn thu khác là kỳ phiếu - một hình thức Nhà nước vay tiền của dân Hầu hết các nước, việc Nhà nước vay tiền của dân đã trở thành thông dụng và là nguồn thu thường xuyên Nhà nước vay tiền của dân thông qua phát hành kỳ phiếu tại TTCK
Không có TTCK thì Nhà nước vẫn phát hành được kỳ phiếu Nhưng có TTCK thì Nhà nước bán được một cách dễ dàng hơn Vì kỳ phiếu của Nhà nước cũng là một loại chứng khoán chuyển nhượng được, khi cần tiền chủ sở hữu chủ sở hữu có thể đưa kỳ phiếu ra bán lại TTCK
3) Là công cụ giảm áp lực lạm phát
Ngân hàng Nhà nước với vai trò điều hòa lưu thông tiền tệ, khi xuất hiện hiện tượng lạm phát Ngân hàng Nhà nước sẽ đưa ra bán các loại kỳ phiếu trên TTCK
Trang 20với lãi suất cao để thu hút bớt số tiền đang lưu thông về Với chính sách khuyến khích bằng lãi suất và bảo đảm chi trả, dân chúng sẽ sẵn sàng mua kỳ phiếu Ngân hàng và từ đó làm giảm áp lực lạm phát
4) Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Đầu tư vốn vào đâu để không bị mất vốn và có lợi cao nhất là vấn đề các nhà đầu
tư nước ngoài rất quan tâm Chính TTCK là nơi các nhà đầu tư nước ngoài theo dõi và nhận định hoạt động của các ngành, các DN trong nước TTCK còn tạo môi trường thích hợp cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một cách dễ dàng Họ chỉ cần bỏ vốn vào TTCK để mua cổ phiếu, hoặc cộng tác với các DN trong nước thành lập CTCP, rồi đem bán cổ phần trên TTCK
Như vậy, thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua TTCK là một hình thức đầu tư rất hữu hiệu mà luật đầu tư của ta chưa khai thác
5) TTCK lưu động hóa mọi nguồn vốn trong nước
Các cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu tượng trưng cho một số vốn được mua đi bán lại trên TTCK như một thứ hàng hóa Người có vốn (người sở hữu chứng khoán) không sợ vốn của mình bị bất động vì khi cần họ sẽ bán lại các cổ phiếu, trái phiếu này để thu tiền về chi tiêu hoặc đầu tư vào loại cổ phiếu, trái phiếu khác
Một khi việc đầu tư vào TTCK dễ dàng và có lợi đối với mọi tầng lớp dân chúng thì các khoản tiền tiết kiệm lớn nhỏ đều sẵn sàng từ bỏ lĩnh vực bất động hóa để tham gia vào quá trình đầu tư
6) Là công cụ đánh giá DN - giúp DN sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu qủa hơn
Nhờ TTCK, các DN mới có thể đem bán, phát hành các cổ phiếu, trái phiếu của họ Nhưng TTCK chỉ chấp nhận các cổ phiếu, trái phiếu của những công ty đủ điều
Trang 21kiện: kinh doanh hợp pháp, tài chính lành mạnh, có doanh lợi và dân chúng cũng chỉ mua những cổ phiếu của những công ty thành đạt Với sự tự do lựa chọn của người mua cổ phiếu, để bán được cổ phiếu, không có cách nào hơn là các nhà quản lý DN phải tính toán, làm ăn đàng hoàng và có hiệu quả kinh tế Hơn nữa luật lệ TTCK bắt buộc các DN tham gia TTCK phải công bố công khai các bảng báo cáo tài chính Kết quả kinh doanh hàng quí, hàng năm trước dân chúng qua đó dân chúng có cơ hội nhận định đánh giá được công ty
Việc mua bán cổ phiếu của công ty một cách tự do, khiến người có cổ phiếu, trở thành sở hữu chủ công ty, họ có thể kiểm soát công ty một cách dễ dàng qua các cơ quan quản lý công ty và nhận biết khả năng hoạt động của công ty qua sự chấp thuận của TTCK Từ đó thúc đẩy công ty làm ăn đàng hoàng hơn, tốt hơn
Tóm lại, TTCK với vai trò tập trung vốn đầu tư dài hạn và thúc đẩy tăng trường
kinh tế đã trở thành một hình thức xã hội đặc trưng của nền kinh tế thị trường
1.5.2 Những mặt tiêu cực
Qua những mặt tích cực nói trên chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng ngày càng tăng TTCK đối với nền kinh tế thị trường Tuy vậy, tính chất “con dao hai lưỡi” của TTCK luôn là điều cảnh báo thường trực trong quá trình vận hành nó Việc nhận diện mặt trái của TTCK để tìm cách hạn chế là cần thiết đối với bất kỳ một quốc gia nào Mà cụ thể các mặc tiêu cực đó là:
1) Gây ra hoạt động đầu cơ ép giá:
Hoạt động của TTCK đòi hỏi một khung pháp luật tương đối hoàn chỉnh để bảo vệ các nhà đầu tư nhưng cũng không thể hoàn toàn ngăn ngừa được những mặt trái của nó Chúng ta biết rằng sự tồn tại của TTCK là do các nhà môi giới và kinh doanh đầu cơ, giá lên hay xuống và chính các dự đoán trái ngược này làm cho người bán và người mua gặp nhau để thực hiện một thương vụ Đầu cơ là trò chơi của những người chấp nhận rủi ro Họ sẵn sàng mua bán cổ phiếu theo dự đoán của họ để kiếm lời hay tránh một thương vụ lỗ nặng hơn Yếu tố đầu cơ dễ gây ảnh
Trang 22hưởng dây chuyền, nhất là khi có nhiều người cùng cấu kết với nhau để mua vào hay bán ra cùng một loại cổ phiếu làm đảo lộn giá mua bán của loại cổ phiếu đó
Chẳng hạn như mua bán liên tục trong nhiều ngày một loại cổ phiếu nào đó nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến giá của cổ phiếu Người đầu cơ có thể mua cổ phiếu với giá cao để tạo ấn tượng cổ phiếu đó tăng giá và đến một mức nào đó họ bắt đầu bán ra cổ phiếu đang có để trục lợi Hoặc phao tin đồn lệch lạc về hoạt động của một công ty cũng dễ đưa đến tình trạng cổ phiếu được chào bán ồ ạt trên TTCK làm cho giá cổ phiếu giảm đột ngột Những người có ý đồ xấu sẽ mua vào các cổ phiếu đó và kết quả có thể đưa đến sự khống chế công ty do thay đổi tỷ lệ áp đảo về sở hữu cổ phần hay ít nhất cũng sẽ kiếm được một ít lợi nhuận sau khi tin đồn thất thiệt được kiểm chứng Đây là cớ hội làm xuất hiện giới đầu cơ
Luật về TTCK tại hầu hết các nước đều cấm đoán hành động cấu kết này với qui định là các nhà kinh kỳ phải thực sự liêm chính trong việc thực hiện mọi mua bán cho khách hàng của mình Mọi vi phạm đều được xử lý theo luật định, nặng nhẹ tùy mức độ
2) Gây ra những cuộc khủng hoảng tài chính tầm trọng
Nói chung, giới đầu cơ thường lợi dụng triệt các yếu tố tích cực của TTCK để khai thác mặt trái đi cùng với nó TTCK là nơi xử lý nhanh nhất các thông tin của nền kinh tế giúp cho Nhà nước, DN, và các nhà đầu tư xác định hớng đầu tư có hiệu quả Một khi TTCK bị chi phối bởi đầu cơ lũng đoạn thì kết quả thông tin sẽ có chiều hướng xấu Dựa vào sự méo mó và xuyên tạc của thông tin này các nhà đầu
cơ khai thác để thao túng thị trường Chính vì hoạt động này mà giá cả chứng khoán có thể lên xuống do các nhà đầu cơ thúc đẩy Trong tình hình kinh tế suy thoái, các nhà đầu cơ giá xuống có thể tạo khủng hoảng trên TTCK như chúng ta đã từng chứng kiến ở một số thị trường lớn trên thế giới: Sự sụp đổ của TTCK New York và Tây Âu tháng 10/1987 và 10/1929; Cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á bắt đầu từ Thái Lan vào ngày 2/7/2997 là nguyên nhân không kiểm soát được TTCK
Trang 23Nếu TTCK được quốc tế hóa thì việc rớt giá chứng khoán của một công ty sẽ kéo theo sự biến động rất lớn của các yếu tố vĩ mô như tỷ giá, dự trữ ngoại tệ, cán cân vốn
Tóm lại, TTCK là một công cụ huy động vốn có rất nhiều mặt thuận lợi cho nhà
đầu tư, nhưng cũng có những hạn chế nhất định đặc biệt thường xảy ra ở những quốc gia chưa có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, do đó luật pháp nhiều nước đã tìm mọi cách để ngăn ngừa Chúng ta, những người đi sau, có thể thu thập thông tin kinh nghiệm, của thế giới; do đó cần có bước đi thận trọng, không nên quá vội vàng, phải chuẩn bị đầy đủ về mặt con người, vật chất cả luật pháp để có thể tạo cho mình một TTCK với các điều kiện thuận lợi nhất, cũng như rào đón trước các mặt hạn chế loại của loại hình kinh doanh này
1
Trang 242 KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
2.1 Khái niệm kiểm toán độc lập
Như đã trình bày ở trên, TTCK là yếu tố cơ bản không thể thiếu của nền kinh tế thị trường phát triển, TTCK được coi là “hạt nhân” cốt lõi cho quá trình tích tụ và luân chuyển vốn giữa các chủ thể tham gia TTCK với tư cách là người bỏ vốn đầu tư và người sử dụng vốn đầu tư Ở các nước đã có TTCK, kiểm toán thường đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển TTCK
Sự ra đời và phát triển của kiểm toán ở các nước rất sớm từ thế kỷ thứ XVIII Ở Việt Nam các công ty kiểm toán ra đời cùng với sự phát triển và chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường Trong 9 năm qua, kiểm toán ở Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng phục vụ, đã tạo được chỗ đứng trong nền kinh tế và chiếm được niềm tin của khách hàng Trước hết là cung cấp nghiệp vụ kiểm toán báo cáo tài chính, nghiệp vụ tư vấn tài chính, kế toán, thuế cho mọi đơn vị và cá nhân có yêu cầu Như vậy kiểm toán là gì? và chức năng hoạt động của nó ra sao?
Kiểm toán độc lập: là loại hình hoạt động nghiệp vụ kiểm toán và tư vấn tài chính
kế toán do các kiểm toán viên độc lập hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp của các
cơ quan, công ty kiểm toán độc lập (dưới đây gọi tắt là “công ty kiểm toán”) thực
hiện theo yêu cầu của các DN, tổ chức, cơ quan
Kiển toán viên độc lập: là những kiểm toán viên chuyên nghiệp (công dân Việt
Nam hoặc nước ngoài) đang làm việc tại các công ty kiểm toán ở Việt Nam ngoài các tiêu chuẩn được công nhận tại Nghị định số 7-CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ ban hành Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân còn phải vượt qua kỳ thi kiểm toán viên cấp Nhà nước và được Bộ tài chính cấp giấy phép hành nghề theo Luật định
Công ty kiểm toán độc lập: là một DN (Công ty kiểm toán hoặc văn phòng kiểm
toán) phải do các cơ quan, tổ chức, người sáng lập đứng ra thành lập và theo các
Trang 25quy định hiện hành về thành lập DN (Luật DNNN, Luật DN tư nhân, Luật Công ty, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) và theo các quy định về thành lập công ty kiểm toán tại Quy chế kiểm toán độc lập
Các công ty kiểm toán nước ngoài hoạt động kiểm toán và tư vấn tài chính, kiểm toán trên lãnh thổ Việt Nam dưới hình thức lao động, hợp đồng hợp tác kinh doanh với các công ty kiểm toán Việt Nam hoặc Công ty kiểm toán 100% vốn nước ngoài phải được ủy ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư của Việt Nam cấp giấy phép sau khi có sự thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính
Hoạt động của kiểm toán viên và công ty kiểm toán nước ngoài phải tuân thủ Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các Quy định trong Quy chế kiểm toán độc lập, các chế độ, chính sách hiện hành của Việt Nam và các thông lệ kiểm toán quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận
Phân loại kiểm toán
Căn cứ theo Nghị định số 7-CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ ban hành Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân và Nghị định số 70-CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ về việc thành lập cơ quan kiểm toán Nhà nước Hiện nay,
ở nước ta nhiều loại hình kiểm toán khác nhau và nội dung phạm vi hoạt động kiểm toán cũng khác nhau Sự khác nhau đó có thể so sánh ở bảng phân loại dưới đây (bảng 1):
Ngoài ra, theo các qui định hiện hành tại Việt nam, các yêu cầu kiểm toán giữa kiểm toán DNNN và các loại DN khác cũng có sự khác nhau:
− Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, CTCP, là những DN bắt buộc phải được kiểm toán báo cáo tài chính hằng năm bởi công ty kiểm toán hoạt động hợp pháp tại Việt nam (theo qui định luật đầu tư nước ngoài, luật công ty) Các yêu cầu kiểm toán ở đây chủ yếu là xác nhận tính hợp lý, trung thực của các báo cáo tài chính
Trang 26− Các công ty và các DNNN nhìn chung không bị bắt buộc kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập, việc kiểm toán đối với họ là tự nguyện và cần thiết cho DN, ngoài ra kiểm toán các DNNN còn có thể là do yêu cầu của một bên thứ ba (cấp chủ quản, cấp quản lý ) nhằm phục vụ cho yêu cầu nào đó, các yêu cầu này thường là không giới hạn trong phạm vi các báo cáo tài chính
Chứng nhận kiểm toán viên cấp quốc gia (CPA) Trách nhiệm
Tài chính
Mô hình hoạt động
Các đối tượng có sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
Không bắt buộc phải có
Trước pháp luật
Ngân sách Nhà nước cấp
Đơn vị sự nghiệp
Các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế
Bắt buộc phải có và phải đăng ký ngành nghề tại Bộ tài chính
Trước pháp luật, trước khách hàng và có trách nhiệm bồi thường
Qua thu phí khách hàng
DN độc lập
Trong nội bộ của một DN hoặc các đơn vị thành viên
Chức năng của kiểm toán độc lập là kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, trung thực
và hợp lý của các DN, tổ chức, cơ quan và trên cơ sở kết quả kiểm toán đưa ra những kết quả đánh giá việc tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kế toán và hiệu quả hoạt động của đơn vị
Các số liệu, tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị đã được kiểm tra, xác nhận của kiểm toán độc lập là căn cứ tin cậy đáp ứng yêu cầu của đơn vị,
Trang 27của các cơ quan quản lý Nhà nước và của tất cả các tổ chức, cá nhân có quan hệ và quan tâm tới hoạt động của đơn vị
2.2 Đối tượng của kiểm toán độc lập
Đối tượng của kiểm toán độc lập chủ yếu là các DN thuộc các thành phần kinh tế
Ngoài các DN, đối tượng kiểm toán độc lập còn có thể là các đơn vị hành chính sự nghiệp, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và các tổ chức quốc tế, khi các tổ chức này có nhu cầu hoặc khi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan thuế hoặc
cơ quan tài chính Nhà nước yêu cầu
Đối với các đối tượng kiểm toán là các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các công ty trách nhiệm hữu hạn, CTCP hoạt động theo Luật Công ty, công việc kiểm toán được thực hiện hàng năm và báo cáo quyết toán năm gởi cho các cơ quan quản lý Nhà nước phải kèm theo báo cáo kiểm toán của công ty kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp của Việt Nam hoặc một công ty kiểm toán độc lập khác được Bộ Tài chính chấp nhận
Đối với các đối tượng kiểm toán khác, trong giai đoạn trước mắt, công việc kiểm toán được tiến hành khi đơn vị kế toán có nhu cầu (nhu cầu của của DN, của Hội đồng quản trị, của đại hội xã viên ) hoặc khi cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước yêu cầu (cơ quan chủ quản cấp trên, cơ quan tài chính, cơ quan thuế) và chỉ tiến hành trong phạm vi các nội dung được yêu cầu (quyết toán năm, quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành, xác định giá trị vốn góp lao động, giá trị
DN cổ phần hóa, xác định kết quả kinh doanh, thanh lý, nhượng bán tài sản )
2.3 Nguyên tắc hoạt động
Các đơn vị, tổ chức có yêu cầu kiểm toán được tự do lựa chọn các công ty kiểm toán Việt Nam hoặc nước ngoài hoạt động hợp pháp ở Việt Nam để ký kết hợp đồng kiểm toán Trường hợp đơn vị mời công ty kiểm toán nước ngoài chưa được phép hoạt động ở Việt Nam thì đơn vị phải báo cáo và được Bộ Tài chính chấp thuận, đồng thời đơn vị phải chịu trách nhiệm nộp thay số thuế mà công ty kiểm
Trang 28toán nước ngoài phải nộp cho Nhà nước Việt Nam theo Luật định về hoạt động này tại Việt Nam
Công việc kiểm toán phải được thực hiện theo các phương pháp và chuẩn mực kiểm toán hiện hành của Việt Nam và theo các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận Khi kết thúc công việc kiểm toán, kiểm toán viên phải lập báo cáo kiểm toán, ghi ý kiến nhận xét của mình vào báo cáo kiểm toán và chịu hoàn toàn trách nhiệm về các ý kiến nhận xét đó Báo cáo kiểm toán phải có những nội dung chủ yếu sau đây: Tính trung thực, hợp lý các số liệu trên báo cáo kế toán của đơn vị Tình hình thực hiện công tác kế toán ở đơn vị và việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán Những kiến nghị
Báo cáo kiểm toán phải trung thực, khách quan Báo cáo kiểm toán phải có chữ ký của kiểm toán viên và phải được lãnh đạo của công ty kiểm toán xác nhận, ký tên, đóng dấu
2.4 Trách nhiệm và các qui định về kiểm toán
2.4.1 Qui định về mặt pháp lý
Theo qui định về việc lựa chọn công ty kiểm toán độc lập của UBCKNN (vừa ban hành kèm theo Quyết định số 26/2000/QĐ-UBCK2 của UBCKNN), các công ty kiểm toán nước ngoài hoặc liên doanh được phép tham gia kiểm toán đối với các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam
Theo Quyết định này, các công ty kiểm toán nước ngoài hoặc liên doanh phải có vốn điều lệ tối thiểu là 300.000 USD, có đội ngũ kiểm toán viên được cấp phép hành nghề kiểm toán tại Việt Nam từ 10 người trở lên, có số lượng khách hàng kiểm toán hàng năm tối thiểu là 50 đơn vị và có kinh nghiệm hoạt động tại Việt Nam tối thiểu là 5 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký kiểm toán Riêng đối với các công ty kiểm toán trong nước, phải có mức vốn điều lệ hoặc vốn chủ sở hữu từ 2 tỷ đồng trở lên
Trang 29Theo đó qui định của pháp luật hiện hành về chứng khoán và TTCK, các báo cáo tài chính (trong hai năm liên tục gần nhất với thời điểm xin phép phát hành) của tổ chức xin phát hành chứng khoán ra công chúng: bảng cân đối kế toán và báo cáo kết qủa hoạt động năm của tổ chức có chứng khoán niêm yết tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán đều phải có xác nhận của kiểm toán (một số trường hợp phải có xác nhận của công ty kiểm toán độc lập)
2.4.2 Trách nhiệm về mặt pháp lý
Đối với kiểm toán viên: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, kiểm toán viên phải
tuân thủ các nguyên tắc về kiểm toán, phải bảo đảm sự trung thực, khách quan về kết quả kiểm toán và ý kiến nhận xét trong báo cáo kiểm toán Trường hợp kiểm toán viên cố tình vi phạm luật thì tùy theo mức độ nặng, nhẹ, kiểm toán viên có thể
bị thu hồi chứng chỉ kiểm toán viên và bị sử theo pháp luật hiện hành, nếu vì những vi phạm và thiếu sót mà gây ra thiệt hại vật chất cho khách hàng thì phải bồi thường thiệt hại (kiểm toán viên vi phạm các nguyên tắc, qui chế hành nghề thì công ty kiểm toán độc lập phải chịu trách nhiệm liên đới, nếu gây thiệt hại cho khách hàng thì công ty kiểm toán, phải chịu trách nhiệm trước khách hàng về việc bồi thường thiệt hại theo đúng điều khoản đã cam kết trong hợp đồng kiểm toán)
Đối với công ty kiểm toán và các tổ chức có liên đới: Trong trường hợp xác nhận
kiểm toán đối với các báo cáo tài chính của tổ chức xin phép phát hành chứng khoán ra công chúng là có sự sai lệch hoặc che giấu sự thật, gây thiệt hại cho những nhà đầu tư thì công ty kiểm toán, những người ký và xác nhận kiểm toán phải liên đới chịu trách nhiệm cùng những tổ chức và cá nhân sau đây đền bù thiệt hại cho người mua chứng khoán
− Tổ chức phát hành Chủ tịch và các thành viên trong Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng giám đốc), Kế toán trưởng và những người tham gia vào việc soạn thảo báo cáo tài chính trong hồ sơ xin phép phát hành
− Tổ chức nhận và ký cam kết bảo lãnh phát hành với tổ chức phát hành
Trang 303 MỐI QUAN HỆ GIỮA TTCK VỚI CÔNG TY KIỂM TOÁN
Theo các qui định hiện hành ở trên Nhà nước đã giao phó trách nhiệm của công ty kiểm toán đối với TTCK nói riêng và thiï trường tài chính nói chung Nếu TTCK ra đời, công ty kiểm toán sẽ có thêm công cụ mới để thực hiện vai trò điều tiết, quản lý vi mô về mặt tài chính kế toán và kiểm toán Sự can thiệp của công ty kiểm toán trên thị trường sẽ quyết định việc tăng hay thu hẹp nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế tùy theo yêu cầu của tình hình kinh tế vào thời điểm nhất định Vai trò then chốt của các công ty kiểm toán không chỉ tác động ở thị trường sơ cấp mà cả thị trường thứ cấp như ở một số nước Thể hiện như khi DN muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu trên thị trường sơ cấp họ có thể nhờ dịch vụ kiểm toán của các công
ty kiểm toán Công ty kiểm toán này sẽ giúp chọn lựa chứng khoán phát hành, tư vấn về các vấn đề như lãi (lợi) suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán và các vấn đề kỹ thuật khác nhằm giảm thiểu rủi ro
Như vậy, các công ty kiểm toán đã đóng vai trò quan trọng trên thị trường sơ cấp về vốn Còn trên thị trường thứ cấp, các công ty kiểm toán trong tương lai có thể hành động với tư cách trung gian mua bán chứng khoán Đây là dịch vụ rất phát triển của các công ty kiểm toán sau này gọi là dịch vụ trung gian chứng khoán
Đối với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, để tổ chức và phát triển TTCK, cần thiết phải có sự hoàn thiện và hòa nhập của các công ty kiểm toán là một điều kiện không thể thiếu Điều kiện này đòi hỏi không những ở các công ty kiểm toán phải được kiện toàn lại công tác kiểm toán, nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên của mình, mà còn phải phát huy hơn nữa các dịch vụ chủ yếu của một công ty kiểm toán có thể cung cấp trong thời gian tới bao gồm:
♦ Dịch vụ kế toán
♦ Dịch vụ tư vấn về tài chính
♦ Tài trợ dự án và cổ phần hóa
♦ Phân tích tranh chấp và thẩm định DN
♦ Dịch vụ hướng dẫn về môi trường kinh doanh
♦ Dịch vụ môi giới và kinh doanh chứng khoán
Trang 31CHƯƠNG 2:
SỰ HÌNH THÀNH TTCK VIỆT NAM VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG
TY KIỂM TOÁN
1 TÍNH TẤT YẾU CỦA TIẾN TRÌNH TẠO LẬP TTCK VIỆT NAM
Tất cả các nước phát triển trên thế giới đều ưu tiên vào việc tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế thông qua việc thúc đẩy và phát triển vai trò quan trọng của TTCK Và cũng không có nền kinh tế thị trường nào phát triển thịnh vượng mà thiếu vắng vai trò của TTCK
Ngày nay có hơn 60 nước đang phát triển đã có TTCK Lưu lượng vốn tại thị trường này đã tăng hơn mười lần trong vòng một thập kỷ qua, từ 171 tỷ đô la năm
1985 lên 1.9 nghìn tỷ năm 1995 Vốn thanh toán đã tăng thậm chí còn nhanh hơn: kết qủa tăng từ 26% lên 85% của tổng lượng vốn huy động được của thị trường mới nổi giữa năm 1985 và 1994 Số lượng các công ty trong nước được niêm yết tại các thị trường này tăng hơn hai lần từ 8.916 năm 1985 lên 19.397 năm 1995
Có thể khẳng định rằng, TTCK với vai trò tập trung vốn đầu tư và thúc đẩy tăng trường kinh tế đã trở thành một hình thức xã hội đặc trưng của nền kinh tế thị trường, ở nước ta việc tạo lập TTCK đang trở thành vấn đề bức xúc, xuất phát từ những lý do chủ yếu sau đây:
♦ TTCK tạo vốn cho nền kinh tế
♦ Giúp công chúng tham gia đầu tư vốn phát triển kinh tế
♦ Là công cụ đánh giá DN, giúp DN sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu qủa hơn
♦ Quốc tế hóa nguồn vốn, hội nhập vào thị trường quốc tế
1.1 TTCK tạo vốn cho nền kinh tế
Ở một số nước, trong thời gian đầu hoạt động, TTCK là nơi huy động vốn của Chính phủ Chẳng hạn, ở Mỹ và Trung quốc TTCK bắt đầu từ các giao dịch trái
Trang 32phiếu Chính phủ Năm 1984, giá trị trái phiếu Chính phủ trong tổng giá trị giao dịch của SGDCK: Lôndôn chiếm tỷ trọng 73%, Paris là 75%
Ở Việt nam, từ năm 2000, yêu cầu vốn đầu tư vào các dự án đầu tư trọng điểm của Nhà nước bằng nguồn vốn ngân sách là rất lớn Riêng năm 2000, Quốc hội đã giao cho Bộ Tài chính huy động 15.000 tỉ đồng thông qua trái phiếu Chính phủ để bù đắp thiếu hụt Ngân sách Nhà nước Trong đó, dự kiến khoảng 60% là trái phiếu dài hạn Thêm vào đó, ước tính hàng năm nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước nợ các dự án đầu tư khoảng 1.000 tỉ đồng, phải phát hành trái phiếu đầu tư để bù đắp Ngoài ra, hiện nay nhiều dự án đầu tư của của địa phương theo kế hoạch đầu tư của Nhà nước nhưng Ngân sách Nhà nước không kham nổi Do vậy, đối với các dự án có khả năng hoàn vốn đầu tư tốt, giải pháp khả thi là cho phép địa phương phát hành trái phiếu thông qua TTCK để huy động vốn
Rõ ràng, với nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế-xã hội rất lớn như hiện nay Việc hình thành và phát triển TTCK đang yêu cầu cấp bách và rất cần thiết cho việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty đối với Chính phủ cũng như các tổ chức kinh tế là quan trọng
1.1.1 Thực trạng thị trường vốn ở Việt Nam
Nguồn vốn của một công ty bao gồm hai loại chính: vốn cổ phần (vốn chủ sở hữu) và vốn nợ (vốn vay) Hiện tại, ở Việt Nam, các DN đều đang gặp khó khăn trong việc huy động cả hai nguồn vốn này, đăïc biệt là vốn cổ phần
Về vốn cổ phần: Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý DN trung ương, cho đến nay, cả nước có gần 9.000 công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có nguồn vốn góp nhỏ bé từ một số ít thành viên, vốn điều lệ bình quân khoảng 800 triệu VND/công ty Theo luật hiện nay, các công ty này không được phép phát hành chứng khoán ra công chúng, trừ khi thay đổi hình thức pháp lý Tính đến tháng 7/2000, cả nước đã CPH được trên 600 DN, song tổng số vốn của các DN này chỉ trên dưới 1.000 tỉ đồng, do vậy ý nghĩa về kinh tế xã hội còn hạn chế
Trang 33Trong phạm vi toàn quốc có 5.280 DNNN, nhưng khả năng tài chính của phần lớn các DN, kể cả một số tổng công ty còn hạn chế có tới 25% trong số các DN này có vốn dưới 1 tỉ đồng, và chỉ có 23% có vốn từ 10 tỉ VND trở lên Nhiều DN chưa được Nhà nước cấp đủ vốn điều lệ hoặc vốn bị hao hụt, mất mát do làm ăn thua lỗ, kém hiệu qủa mà không được bổ sung
Trong thực tế, ngày càng có nhiều DN tự động phát hành cổ phiếu ra công chúng,
ví dụ: năm 1997 Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín thông báo bán 150 tỉ VND cổ phiếu, công ty viễn thông SECOM bán 240.000 cổ phiếu mệnh giá 5.000.000 Nhiều DN khác cũng đang dự tính những đợt phát hành trái phiếu, cổ phiếu khá lớn Tuy nhiên, do chưa có sự quản lý thống nhất của một cơ quan Nhà nước và chưa có sự công khai hoá thông tin của những người phát hành nên các chứng khoán nói trên chỉ phát hành được trong phạm vi hạn hẹp, số lượng ít và người đầu
tư không được bảo đảm an toàn
1.1.2 Về thị trường trái phiếu:
Thông qua việc tăng cường sử dụng các công cụ tín phiếu, trái phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu Chính phủ đã thu hút được những nguồn vốn đầu tư lớn, góp phần kiềm chế lạm phát và thực hiện chiến lược huy động vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Hiện tại trên thị trường trái phiếu của nước ta có quy mô và loại trái phiếu sau:
− Tín phiếu kho bạc với tổng mức dư nợ ước tính đến 1997 khoảng 2.400 tỉ đồng
− Trái phiếu kho bạc Nhà nước với tổng mức dư nợ của loại trái phiếu kỳ hạn 1-2 năm tính đến cuối năm 1997 ước tính khoảng 7.000 tỉ đồng
− Trái phiếu có kỳ hạn 1-3 năm do các ngân hàng thương mại phát hành tính đến năm 1997 có tổng mức dư nợ khoảng 10.000 tỉ đồng
− Trái phiếu công trình huy động vốn xây dựng công trình do chính phủ phê duyệt Hiện nay trái phiếu này đã phát hành để xây dựng đường Nguyễn Tất Thành với tổng số vốn huy động đợt 1 là 25 tỉ đồng…
− Trái phiếu DN: do các công ty xi măng Hoàng Thạch và ximăng Anh Sơn phát hành có kỳ hạn 3 năm với tổng trị giá là 63 tỉ đồng
Trang 34− Trái phiếu chuyển đổi: do công ty cơ điện lạnh đã phát hành ra thị trường quốc tế với trị giá là 5 triệu USD
Đánh giá chung về thị trường trái phiếu cho thấy hiện tại ta mới chỉ có thị trường phát hành, chưa có thị trường mua đi bán lại (thị trường thứ cấp) Vì vậy các nhà đầu tư thường phải nắm giữ các trái phiếu này cho đến khi đáo hạn; trái phiếu phát hành chủ yếu là ngắn và trung hạn, số lượng phát hành còn nhỏ (<5%GDP)
Do thị trường tài chính Việt Nam chưa phát triển, hầu hết vốn nợ của các DN là nợ Ngân hàng, mà chủ yếu là nợ ngắn hạn Vốn Ngân hàng hiện cung cấp tới 85-90% vốn hoạt động của các DN Tuy nhiên, do nguồn tiết kiệm còn hạn chế và cũng do các DN thiếu phương án sản xuất kinh doanh có hiệu qủa, chỉ có khoảng 2/3 các
DN là vay được vốn của Ngân hàng, trong đó hơn 50% không được vay được số vốn cần thiết Như vậy có nghĩa là tình trạng phân phối tín dụng phổ biến do cả những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan
Để cho TTCK sớm đi vào hoạt động, trước hết cần phải phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ hiện có để làm cơ sở cho trái phiếu công ty phát triển Mặt khác, cần có những giải pháp mới cho chương trình cổ phần hoá, xác lập chế độ công bố thông tin trên cơ sở củng cố chế độ kế toán, kiểm toán và kỹ luật tài chính Đồng thời, cần phát triển các tổ chức ngân hàng, công ty kiểm toán là những tổ chức kinh doanh chứng khoán, tư vấn và hỗ trợ cho người phát hành cũng như những người đầu tư Về thị trường trái phiếu ở nước ta, bên cạnh trái phiếu Chính phủ, đã có vài
DN phát hành trái phiếu nhưng số lượng còn nhỏ và phạm vi còn hẹp Để phát triển thị trường trái phiếu công ty, trước hết, phải củng cố và phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ hiện có, vì đó là cơ sở cho việc phát hành và giao dịch trái phiếu công ty
1.1.3 Về thị trường cổ phiếu:
Trong tình hình hiện nay thì việc CPH các DNNN là nguồn khả dĩ nhất tạo ra các cổ phiếu khả mại trên thị trường Tuy nhiên, các DN được CPH trong thời gian qua
Trang 35có quy mô còn nhỏ nên chưa thể đáp ứng tiêu chuẩn để niêm yết trên một thị trường tập trung
Tính đến ngày 19/7/2000, cả nước có khoản 630 công ty cổ phần, riêng trong năm nay chỉ có khoảng 43 doanh nghiệp (tỷ lệ khoảng chừng 5-6,7%) đủ điền kiện về quy mô vốn để được niêm yết cổ phiếu trên TTCK Theo đánh giá chung, trong vài năm tới chỉ có khoảng 20% số công ty cổ phần đủ các điều kiện niêm yết cổ phiếu trên TTCK Điều này có cũng có nghĩa là, sẽ có một khối lượng chứng khoán rất lớn của trên 90% công ty cổ phần chưa được niêm yết Còn nếu để đạt tất cả các điều kiện: vốn trên 10 tỷ đồng, kinh doanh có lãi 2 năm liên tục, các báo cáo tài chính phải được xác nhận của kiểm toán trong 2 năm gần nhất, các điều kiện về tỷ lệ cổ phiếu phát hành ra bên ngoài thì con số này còn thấp hơn nhiều
Hơn nữa, trong số các doanh nghiệp đủ điều kiện tối thiểu để niêm yết cổ phiếu, không phải ai cũng sẵn sàng vào cuộc Nhiều doanh nghiệp trong số này tỏ ra không hứng thú tham gia TTCK Lý do các DN này vẫn chưa thực sự tin tưởng lắm đến những lợi ích mà TTCK có thể đem lại cho họ
Mặt khác, nhiều DN không muốn đưa cổ phiếu ra niêm yết trên TTCK là vì sợ phải công khai hóa thông tin Một số DN cho rằng việc đưa cổ phiếu ra niêm yết chưa cần thiết Nếu cần vốn thì đã có ngân hàng, với lãi suất tương đối thấp
Do đó, có thể nói thị trường cổ phiếu Việt Nam còn nhỏ bé chưa phát triển mạnh, nhu cầu cổ phiếu của các công ty phát hành ra công chúng trong thời gian tới rất là quan trọng Theo các chuyên gia nước ngoài, với quy mô của nền kinh tế Việt Nam như hiện nay, trong giai đoạn đầu tổng giá trị cổ phiếu lưu chuyển trên thị trường phải đạt khoảng 150-250 triệu USD và số lượng công ty niêm yết giao dịch tối thiểu phải là 10-20 công ty Nếu không đạt được một trong hai chỉ tiêu đó thì thị trường sẽ quá nhỏ bé, cũng không đủ cầu và gây ra đầu cơ mạnh
Như vậy, để huy động các DN huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu ra công chúng phát thông qua TTCK ở nước ta là cần thiết và tất yếu, nó tạo ra công ăn
Trang 36việc làm, tạo ra lợi nhuận cho DN, huy động và tập trung nhiều nguồn vốn cần thiết cho các DN cũng như cho nền kinh tế thị trường năng động Quan trọng hơn là Chính phủ có thể sử dụng lợi nhuận từ TTCK để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, tái cấu trúc nền kinh tế vững mạnh hơn Một khi nền kinh tế đã vững mạnh, đến lượt nó sẽ thu hút đầu tư nước ngoài nhộn nhịp hơn cho sự phát triển của đất nước
1.2 Giúp công chúng tham gia đầu tư vốn
Nhu cầu chứng khoán tiềm ẩn khá lớn Do thiếu cơ hội đầu tư nên số vốn nhàn rỗi nằm đọng dưới dạng ngoại tệ và vàng trong dân cư rất lớn ước tính tới 1-2 tỉ USD, trong khi tổng lương tiết kiệm trong nước hiện vào khoảng 5 tỉ USD Chỉ cần khoảng 5-10 % số vốn nói trên được đầu tư vào chứng khoán là sẽ có khoảng 200-
300 triệu USD được đưa vào sản xuất Bên cạnh đó, còn có 339 triệu USD vốn đầu
tư nước ngoài do qũy Việt Nam quản lý, trong đó chưa đầy 50% mới được đầu tư chủ yếu dưới dạng vốn mạo hiểm (venture captital), còn lại đang chờ cơ hội để đầu
tư vào các chứng khoán thực sự đủ tiêu chuẩn được phát hành ra công chúng
Như vậy, TTCK là cơ hội và là điều kiện tốt nhất để công chúng có cơ hội đầu tư nguồn vốn tiết kiệm của mình vào công cuộc sản xuất kinh doanh thúc đẩy nhanh quá trình công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
1.3 Là công cụ đánh giá DN, giúp DN sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn
Đối với nhiều DN bán cổ phần, TTCK chủ yếu là nơi để thu hút nguồn vốn đầu tư mới Giúp cho các DN duy trì, mở rộng và phát triển sản hoạt động xuất kinh doanh của mình Mặc dù người ta vẫn cân nhắc xem liệu sự xuất hiện của CPH có cải thiện kết quả kinh doanh của DN hay không, nhưng một số nhà kinh tế cho rằng, các TTCK có thể khép ban Giám đốc công ty vào quy củ tốt hơn là các ngân hàng
Mặt khác, các TTCK lành mạnh có thể tạo thuận lợi cho Chính phủ tiến hành CPH các DNNN Nhà nước muốn niêm yết các DN để thu hút vốn đầu tư và làm cho các
DN đó tự tồn tại độc lập
Trang 37Các TTCK hùng mạnh có thể kích thích sự đổi mới và sự sáng tạo cho các DN Chẳng hạn, như ở Hàn Quốc, sự tiếp cận với nguồn vốn tư bản cho phép các DN nhỏ thoát khỏi sự kiềm tỏa đến ngạt thở của các tập đoàn có ưu thế lấn át trong nước nắm giữ độc quyền trong các thị trường cổ phiếu, trái phiếu và tín dụng ngân hàng
1.4 Quốc tế hóa nguồn vốn, hội nhập vào thị trường quốc tế
Có thể nói Việt Nam tham gia Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN là cơ hội quan trọng để đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp của các nước trong và ngoài khu vực Trong những năm tới, rất có khả năng Việt Nam sẽ mở rộng các hình thức đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong đó cho phép các nhà đầu
tư nước ngoài thành lập CTCP Khi mà TTCK ra đời và hoạt động có hiệu quả thì nhu cầu về “hàng hóa” của nó và nhu cầu tăng cường huy động vốn qua kênh đầu
tư trực tiếp nước ngoài sẽ gia tăng
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngay từ bây giờ, đã có thể thấy tác động của dòng vốn đầu tư nước ngoài đến việc hình thành TTCK Việt Nam Trước hết là việc thành lập DN liên doanh ĐTNN theo luật ĐTNN (sửa đổi), bên VN được huy động vốn tự có, vốn của các DN khác và cá nhân trong nước để có tỷ lệ thích hợp trong vốn pháp định của DN liên doanh, bên nước ngoài được qui định tham gia góp vốn liên doanh bằng tiền Việt Nam có thể bằng vốn tự có hoặc thu từ lợi nhuận, thanh lý, chuyển nhượng từ các nguồn thu hợp pháp khác tại Việt Nam
Các chuyên gia cho rằng, một khi TTCK họa động nhộn nhịp thì không loại trừ khả năng đây là nơi để các nhà ĐTNN thực hiện lưu chuyển vốn nhanh để hạn chế rủi
ro, tổn thất và tìm kém lợi nhuận
Hơn nữa luật pháp Việt Nam đã cho phép các nhà ĐTNN mua tối đa 30% cổ phần của DN CPH Sở dĩ các nhà ĐTNN chưa hưởng ứng việc này vì TTCK chưa ra đời Tuy nhiên, các nhà ĐTNN thuộc ASEAN hiện có 420 dự án còn hiệu lực với 9,2 tỷ USD vốn cam kết, trong đó tổng số vốn thực hiện đạt gần 3 tỷ USD sẽ là nguồn
Trang 38vốn không nhỏ Nếu tình hình DN CPH và TTCK Việt Nam hoạt động tốt thì sự nhập cuộc của các nhà ĐTNN vào việc mua cổ phần trong các DN CPH và tham gia vào TTCK Việt Nam sẽ sôi động và mạnh mẽ hơn nhiều
Theo dự tính, nhu cầu về vốn của một số công ty trong năm tới là rất lớn, để thỏa mãn nhu cầu này, một số công ty sẽ nhanh chóng vươn ra thị trường vốn quốc tế bằng việc phát hành trái phiếu quốc tế là rất cần thiết Được biết công ty PetroVietnam sẽ phát hành đợt trái phiếu với trị giá khoảng 300 đến 500 triệu USD
ra thị trường vốn quốc tế trong năm 2000 do tập đoàn Morgan Stanley Dean Witer giữ vai trò tư vấn tài chính và là nhà bảo lãnh phát hành Ngoài trái phiếu quốc tế PetroVietnam, các chuyên gia cũng cho rằng, một số tổng công ty mạnh khác cũng có thể tính tới vấn đề phát hành trái phiếu ra quốc tế để huy động vốn như ngành điện, bưu chính viễn thông,
Rõ ràng, TTCK là cơ hội tốt nhất để kinh tế Việt Nam có thể chủ động tham gia và hội nhập với các tổ chức quốc tế Có TTCK việc huy động vốn đầu tư trong và ngoài nước của các DN trong nước sẽ diễn ra một cách dễ dàng và được thuận lợi hơn Nói chung, TTCK đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tác động lớn đến kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh Việc tăng tốc xây dựng một TTCK Việt Nam lành mạnh nhằm chủ động hội nhập quốc tế đạt hiệu quả đang là một nhiệm vụ bất xúc
2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ THÁCH THỨC TRÊN CON ĐƯỜNG XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TTCK Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Như đã trình bày ở trên, xây dựng và phát triển TTCK là một trong những mục tiêu của chính sách quốc gia, là một công cụ, một thể chế tài chính tất yếu, không thể thiếu của một nền kinh tế thị trường thực sự đang được hình thành và phát triển ở nước ta
Đảng và Chính phủ có quyết tâm rất cao trong việc thành lập và phát triển TTCK và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế nói chung Từ Nghị quyết hội nghị
TƯ II, BCHTƯ khóa VII; Nghị quyết đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII; Nghị quyết
Trang 3910 của Bộ chính trị; Nghị quyết đại hội VIII của đảng; Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa IX đều đã khẳng định điều đó Cụ thể chính phủ đã có các quyết định sau: Quyết định số 143/HĐBT ngày 10/5/90; số 202/TC ngày 8/6/92; Chỉ thị 84/TTg ngày 4/3/93; Nghị định 28/CP ngày 7/5/96, Nghị định 25/CP ngày 26/3/97; Nghị định của Chính phủ số 75 CP ngày 28/11/1996 về việc thành lập UBCKNN; Nghị định của Chính phủ số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về Chứng khoán và TTCK; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 127/1998/QĐ-TTG ngày 11/7/1998 về việc thành lập TTGDCK; Quyết định của Chủ tịch UBCKNN số 128/1998/QĐ-UBCK5 ngày 1/8/1998 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của TTGDCK; Quyết định của Chủ tịch UBCKNN số 4/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 về việc ban hành qui chế về tổ chức hoạt động của Công ty Chứng khoán; Quyết định của Chủ tịch UBCKNN số 05/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 về việc ban hành qui chế tổ chức và hoạt động của Quỹ Đầu tư Chứng khoán và Công ty quản lý Quỹ; Thông tư của UBCKNN số 01/1998/TT-UBCK ngày 13/10/1998; hướng dẫn Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về phát hành Cổ phiếu, Trái phiếu ra công chứng; Và cuối cùng là Thông tư của Bộ tài chính số 10/1998/TT/BTC ngày 29/1/1999 hướng dẫn tạm thời chế độ Quản lý tài chính đối với TTCK
Trong bước “khởi đầu nan” này chúng ta có không ít thuận lợi, nhưng cũng khá nhiều gian truân, thách thức Phân tích, hiểu rõ chúng chắc chắn sẽ là những kiến thức hết sức quan trọng, bổ ích giúp ta xây dựng và phát triển thành công một TTCK Việt Nam với phương châm vừa khẩn trương, vừa thận trọng
2.1 Những tiền đề và thuận lợi cơ bản
2.1.1 Chúng ta có hệ thống chính trị ổn định
Thuận lợi cơ bản đầu tiên là chúng ta có hệ thống chính trị ổn định Sau nhiều năm
“Đổi mới” Việt Nam đã thu được những thành quả hết sức phấn khởi Thu nhập và mức sống của mọi tầng lớp dân cư được cải thiện và gia tăng rõ rệt Uy tín của ĐCSVN, người chỉ huy mọi thắng lợi ngày càng được củng cố, nhân dân cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước càng vững tin hơn
Trang 40Thuận lợi rất đáng kể nữa là Đảng và Chính phủ đã có tầm nhìn đúng đắn và quan tâm thỏa đáng về TTCK Ngày 28/11/96 UBCKNN đã ra đời với quyết định 75/CP của Thủ tướng chính phủ Đây là hạt nhân cơ bản, quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển TTCK ở nước ta Chúng ta cũng vui mừng với quyết định rất đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chính phủ trong việc bổ nhiệm người đứng đầu Ủy ban này Chắc chắn những kinh nghiệm quốc tế cũng như nỗ lực nội tại sẽ hội đủ cho sự thành công của một TTCK Việt Nam
Chính sách đa dạng hóa các hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước đang giải phóng mọi năng lực sản xuất, kinh doanh, huy động mọi nguồn vốn cho phát triển sản xuất và thị trường vốn theo đó mà phát triển là tiền đề cơ bản cho TTCK
2.1.2 Tốc độ phát triển kinh tế ngày gia tăng
Nền kinh tế nước ta đang phát triển với tốc độ cao: Tốc độ tăng trưởng công nghiệp tăng 14,3% cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân hơn 6-7% năm trong nhiều năm qua, và của 6 tháng đầu năm 2000 là 6,2% (cùng kỳ năm ngoái là 4,3%) Trong năm tháng đầu năm ngoại thương phát triển khá với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 5 tỉ USD, tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước bên cạnh đó, sự ra đời của trên 6.000 DN với số vốn đầu tư đăng ký trên 4.000 tỉ đồng trong năm tháng qua là dấu hiệu chuyển động của nền kinh tế được các nhà tài trợ đánh giá cao Theo dự báo mới nhất của ADB thì khả năng tăng trưởng kinh tế trong 2 năm tới của ta cũng sẽ gia tăng rất cao trong khối ASIAN sau cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua Đây là tiền đề quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều DN làm ăn có hiệu quả và huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán, tạo ra sức thu hút mạnh mẽ của TTCK
2.1.3 Hệ thống ngân hàng và tín dụng ngày càng được hoàn thiện dần
Quá trình cải cách đã cho ra đời và phát triển hàng loạt ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, tín dụng, cơ quan bảo hiểm và một số quỹ như: hệ thống ngân hàng cổ phần, hợp tác xã tín dụng, ngân hàng nước ngoài Sự cạnh tranh giữa các ngân