Hệ thống thông tin được soạn thảo và trình bày trong hệ thống báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam đã cung cấp những thông tin hữu ích và có tác dụng tích cực đối với công tác
Trang 1BỘ GIÁ O DỤC – ĐÀ O TẠO
ĐẠI HỌC QUỐ C GIA THÀ NH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜ NG ĐẠI HỌC KINH TE Á -oOo -
VẬN DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ TOÁN ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên nghành: Kế toán Tài vụ và Phân tích hoạt động Kinh tế
Mã số : 5.02.11
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
THÀ NH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2000 -
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN, CHUẨN MỰC KẾ
TOÁN
VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH ………
1 1.1- KẾ TOÁN ……… 1
1.1.1- Định nghĩa về kế toán ……… 1
1.1.2- Bản chất và vai trò của hệ thống báo cáo kế toán ……… 2
1.1.3- Tiêu chuẩn của thông tin kế toán hữu ích ……… 5
1.2- CHUẨN MỰC KẾ TOÁN ……… 6
1.2.1- Định nghĩa chuẩn mực kế toán ……… 6
1.2.2- Sự cần thiết phải có hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán…… 7
1.3.1- Nội dung của chuẩn mực quốc tế về kế toán ……… 8
1.3- NHỮNG VẤN ĐỀ CĂN BẢN VỀ NGUYÊN TẮC LẬP VÀ TRÌNH BÀY CÁC THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ……… 10
1.3.1- Mục đích của báo cáo tài chính ……… 10
1.3.2- Thủ tục và nguyên tắc lập báo cáo tài chính ……… 11
1.3.3- Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính ……… 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO
TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM… 21
2.1- LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG
BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
Trang 3VIỆT NAM……… 21
2.1.1- Thời kỳ quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung
(từ 1986 trở về trước) ……… 21 2.1.2- Thời kỳ chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường
(từ năm 1987 đến 1994) ……… 24 2.1.3- Thời kỳ nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa (từ năm 1995 đến nay) ……… 26 2.2- THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN HÀNH ……… 27
2.2.1- Hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay ……… 28 2.2.2- Ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại của hệ thống báo cáo
tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay……… 32
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ TOÁN
ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ……… 40
3.1- QUAN ĐIỂM VỀ VIỆC SOẠN THẢO VÀ TRÌNH BÀY
BÁO CÁO TÀI CHÍNH ……… 40
3.1.1- Quan điểm tuân thủ luật pháp ……… 40 3.1.2- Quan điểm thương mại hợp lý ……… 41 3.2- MỤC TIÊU HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN
TÀI CHÍNH ……… 45
3.3- VẬN DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ TOÁN ĐỂ
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ……… 45
3.3.1- Các giải pháp chung nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo
tài chính trong doanh nghiệp Việt Nam ……… 45 3.3.2- Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
Việt Nam ……… 49
KẾT LUẬN ……… 67
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Hệ thống báo cáo tài chính, một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán, là nguồn thông tin cần thiết và hết sức quan trọng cho các quyết định kinh tế của nhiều đối tượng khác nhau bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Chất lượng thông tin do báo cáo tài chính cung cấp luôn là mối quan tâm thường xuyên không những của bản thân nhà quản trị tại doanh nghiệp, của các cơ quan chức năng của Nhà nước, mà còn là mối quan tâm của các đối tượng khác có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp
Trên thế giới, việc soạn thảo và trình bày thông tin trên báo cáo tài chính được xác lập theo những tiêu chuẩn, thủ tục và nguyên tắc lập có tính thực tiễn và khoa học do các hiệp hội, tổ chức kế toán quốc gia và quốc tế nghiên cứu
Hệ thống thông tin được soạn thảo và trình bày trong hệ thống báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam đã cung cấp những thông tin hữu ích và có tác dụng tích cực đối với công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, do chuyển đổi kinh tế mới trong giai đoạn đầu, nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, hơn nữa những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh … nên việc sử dụng các công cụ quản lý kinh tế nói chung và công cụ kế toán nói riêng không thể tránh khỏi khiếm khuyết
Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi cho rằng việc xem xét, nghiên cứu vận dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán để không ngừng hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có hệ thống báo cáo tài chính, luôn là yêu cầu cấp bách
II- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay từ chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 1141TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995; các đặc điểm về môi trường kế toán của Việt Nam như văn hóa, luật pháp, kinh tế, xã hội … ; và đối chiếu với các nội dung của hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán, chúng tôi nhìn nhận lại những ưu nhược điểm của hệ thống báo cáo tài chính áp dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Qua đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam
Luận án tập trung vào 3 mục tiêu, trong đó mục tiêu cuối cùng là mục tiêu chính:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bản chất, các tiêu chuẩn và nội dung cấu thành hệ thống thông tin trong báo cáo tài chính
Trang 6- Đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam để rút ra những điểm hạn chế, khiếm khuyết cần được hoàn thiện
- Đề xuất các giải pháp chung và một số các giải pháp cụ thể để góp phần hoàn thiện việc soạn thảo và trình bày thông tin trên báo cáo tài chính
III- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật, đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn giải, phương pháp phân tích để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu về lý luận, trình bày thực trạng, cũng như xác lập các giải pháp cụ thể trong việc thực hiện mục tiêu của đề tài
Luận án có kết cấu như sau:
- Lời mở đầu
- Chương I : Tổng quan về kế toán, chuẩn mực kế toán và báo cáo tài chính
- Chương II : Thực trạng của hệ thống báo cáo tài chính trong doanh nghiệp Việt Nam
- Chương III : Vận dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán để hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính trong doanh nghiệp Việt Nam
- Kết luận
- Tài liệu tham hảo
- Phụ lục
Trang 7CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN, CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.4- KẾ TOÁN:
1.1.1- ĐỊNH NGHĨA VỀ KẾ TOÁN
Trong thời kỳ sơ khai, kế toán được quan niệm như là một phương pháp, một hoạt động thực hành giản đơn, một cách thức để phân chia kết quả và theo dõi các diễn biến của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Dần dần, nhận thức của con người về kế toán đã thay đổi đáng kể, các phương pháp và chức năng của kế toán ngày càng hoàn thiện hơn
Ngày nay, kế toán được xem là phương thức đo lường, xử lý thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin kinh tế cho người sử dụng ra quyết định Các yêu cầu thông tin kinh tế mà kế toán cung cấp ít hay nhiều, thô sơ hay phức tạp đều có chung thuộc tính là đòi hỏi thông tin biểu hiện bằng tiền về tình hình và sự vận động của tài sản, và tình hình sử dụng các tài sản này
Trong phạm vi doanh nghiệp, đối tượng quản lý là hoạt động kinh doanh, kế toán là một trong những nguồn cung cấp các thông tin chủ yếu
Một cách chung nhất, kế toán là hệ thống thông tin mà nhờ nó hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tính toán, đo lường, đánh giá dướùi hình thức tiền tệ, và từ góc độ: Tình hình và sự biến động của vốn kinh doanh thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của doanh nghiệp dùng cho hoạt động kinh doanh; và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong mỗi thời khóa kế toán
Như vậy, kế toán thực hiện chức năng cơ bản là nguồn cung cấp thông tin
hữu ích để người sử dụng ra quyết định Chức năng này bao gồm hai giai đoạn khác
nhau và có quan hệ chặt chẽ: Giai đoạn thu thập thông tin nhằm tính toán, đo lường các hoạt động kinh doanh và giai đoạn truyền đạt thông tin cho người sử dụng có liên quan đến quyết định
Như vậy, định nghĩa kế toán chứa đựng hai vấn đề chính: Một là, trong định nghĩa cần phân biệt kế toán với các bộ môn thông tin khác Sự phân biệt này có thể thấy thông qua nghiên cứu những vấn đề cơ bản của kế toán: đối tượng và phương pháp thu thập, xử lý, truyền đạt thông tin kế toán Hai là, giới hạn mục đích, chức năng của kế toán là nhằm cung cấp thông tin hữu ích để người sử dụng ra các quyết định
Chính vì vậy, trong phần lớn các định nghĩa về kế toán, người ta thường trình
Trang 8bày 2 vấn đề chính nêu trên
Ủy ban thuật ngữ của Học viện kế toán viên công chứng của Mỹ (AICPA) đã định nghĩa:”Kế toán là một nghệ thuật dùng để ghi chép, phân loại và tổng hợp theo một cách thức nhất định dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ, các sự kiện và trình bày kết quả của nó cho người sử dụng ra quyết định”
Hiệp hội Kế toán Mỹ (trong Thông tin báo về lý thuyết kế toán căn bản) định nghĩa: ”Kế toán là quá trình ghi nhận, đo lường và công bố các thông tin kinh tế, giúp cho người sử dụng phán đoán và ra quyết định dựa trên thông tin này”
Ủy ban Nguyên tắc Kế toán của Mỹ (APB) đã định nghĩa “Kế toán là một hoạt động mang tính dịch vụ mà chức năng của nó là nhằm cung cấp những thông tin tài chính định lượng của đơn vị, để giúp cho người sử dụng ra các quyết định trong dòng hoạt động bình thường”
Tại Việt Nam, định nghĩa kế toán cũng thay đổi theo quá trình phát triển của nền kinh tế Nền kinh tế nước ta đã trải qua 2 giai đoạn chính, đó là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa
- Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mục đích của kế toán là cung cấp thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Vì vậy, Điều lệ Tổ chức Kế toán Nhà nước (ban hành kèm theo Nghị định số 25-HĐBT ngày 18/03/1989 của Hội đồng Bộ trưởng) nêu rõ “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí Nhà nước, cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp”
- Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, mục tiêu kế toán không chỉ cung cấp thông tin cho Nhà nước mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng khác như ngân hàng, các nhà đầu tư tiềm năng, nhà cung cấp, khách hàng … Chính vì vậy, định nghĩa của kế toán phải thay đổi
Chúng tôi cho rằng trong điều kiện như hiện nay, có thể được định nghĩa: Kế toán là một khoa học về thu thập, ghi chép, xử lý và truyền đạt những thông tin tài chính dưới hình thức tiền tệ, để người sử dụng có thể dựa vào đó mà ra các quyết định
1.1.2- BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN:
Báo cáo kế toán là nguồn thông tin quan trọng để phục vụ yêu cầu quản lý bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Thông tin trên báo cáo kế toán được tính toán và tổng hợp trên cơ sở số liệu của các sổ kế toán, để hình thành nên một
Trang 9hệ thống các chỉ tiêu phù hợp với mục tiêu quản lý cho bản thân doanh nghiệp, cũng như cho các đối tượng khác có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp đến doanh nghiệp
Báo cáo kế toán được phân thành 2 loại: Báo cáo tài chính và Báo cáo kế toán quản trị
1.1.2.1- Bản chất của báo cáo tài chính :
Như chúng ta đã biết, báo cáo tài chính là một hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính, nhằm cung cấp những thông tin tài chính có ích cho các đối tượng sử dụng để đưa ra các quyết định kinh tế
Trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, báo cáo tài chính đươc xác định là loại báo cáo tổng hợp về tình tình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được thể hiện thông qua một hệ thống các chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau do Nhà nước quy định thống nhất và mang tính pháp lệnh Nó cung cấp cho người sử dụng thấy được bức tranh toàn cảnh về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Ngoài ra, bản chất của báo cáo tài chính còn được Học viện Kế toán viên Công chứng của Mỹ (AICPA) phát biểu như sau:
“Hệ thống báo cáo tài chính được lập nhằm mục đích phục vụ cho việc xem xét định kỳ hoặc báo cáo về quá trình hoạt động của nhà quản lý, về tình hình đầu
tư trong kinh doanh và những kết quả đạt được của thời kỳ báo cáo Hệ thống báo cáo tài chính phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân, mà trong đó những đánh giá và nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các sự kiện Những đánh giá đúng đắn tùy thuộc vào khả năng và sự trung thực của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận rộng rãi”
Hai tác giả Bryan Barsberg và Susan Dev cũng đã nêu lên bản chất của báo cáo tài chính như sau:“Hệ thống báo cáo tài chính được thiết kế để trình bày những kết quả của những nghiệp vụ và những sự kiện xảy ra trong quá khứ là kênh truyền đạt thông tin chính của những hoạt động quản lý với thế giới bên ngoài Báo cáo tài chính được yêu cầu phải tuân thủ luật công ty, quy chế thị trường chứng khoán nếu chứng khoán của công ty được niêm yết Vì thế việc kiểm toán báo cáo tài chính nên được yêu cầu bởi luật pháp, bởi vì nhà quản lý có thể là một nhóm khác biệt với những cổ đông những người đã giao phó tài sản của họ cho nhà quản lý Báo cáo tài chính được yêu cầu phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán bên ngoài, nên khả năng có thể thẩm tra là một thuộc tính chủ yếu của những con số xuất hiện trên báo cáo tài chính”
Trang 10Từ những quan điểm trên ta có thể nói rằng, bản chất của báo cáo tài chính là phản ánh sự kết hợp của những sự kiện xảy ra trong quá khứ với những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và những đánh giá của cá nhân, nhằm chủ yếu cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp Một mặt do thông tin trình bày trên báo cáo tài chính chủ yếu chịu sự chi phối bởi những đánh giá của người lập báo cáo tài chính Mặt khác, có sự tách biệt giữa sự sở hữu và khả năng kiểm soát của những người cung cấp vốn cho doanh nghiệp, nên báo cáo tài chính được lập đòi hỏi phải được kiểm toán bởi một tổ chức kiểm toán độc lập
1.1.2.2- Bản chất của báo cáo kế toán quản trị :
Báo cáo kế toán quản trị là những báo cáo phục vụ cho yêu cầu quản trị và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà quản lý doanh nghiệp
Báo cáo kế toán quản trị cung cấp những thông tin được cần bởi nhà quản lý để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp, nó tồn tại vì lợi ích của nhà quản lý Một cách tổng quát, nó cung cấp những thông tin giúp cho nhà quản lý có quyết định chính xác về những vấn đề như giá cả, số lượng sản phẩm đầu ra, kết cấu sản phẩm tiêu thụ, vấn đề quản lý vốn … Tất cả đều liên quan đến việc đánh giá các thông tin kế toán quản trị Vì thông tin được chuẩn bị và sử dụng riêng cho nhà quản lý nên kiểm toán độc lập sẽ không thích hợp Do không cần được kiểm toán độc lập và khía cạnh sở hữu cá nhân của thông tin kế toán quản trị, nên việc lập báo cáo này không cần thiết phải tuân theo những nguyên tắc kế toán nhất định, nhằm mục đích tăng cường khả năng so sánh giữa các công ty, bởi những so sánh đó không phải là mục đích của kế toán quản trị nói chung và báo cáo kế toán quản trị nói riêng
Như vậy, bản chất của báo cáo kế toán quản trị là hệ thống thông tin được soạn thảo và trình bày theo yêu cầu quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh và ra quyết định của bản thân từng doanh nghiệp, nên nó có tính linh hoạt, đa dạng và không phụ thuộc vào những nguyên tắc kế toán Điều cơ bản của loại báo cáo này là giúp cho nhà quản lý thấy được những gì đã và đang diễn ra trong hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với từng bộ phận, từng chức năng nhất định
1.1.2.3- Vai trò của hệ thống báo cáo kế toán:
Ngày nay vai trò của hệ thống báo cáo kế toán không còn bị giới hạn trong việc cung cấp những thông tin tài chính, được thu thập từ các sự kiện xảy ra và được đo lường bằng thước đo tiền tệ Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà quản lý và những người sử dụng bên ngoài, hệ thống báo cáo kế toán có thể bao gồm những thông tin phi tài chính như: tình hình sản xuất, dự đoán nhu cầu người tiêu dùng, số liệu thống kê về mức độ thỏa mãn của người tiêu dùng, các chỉ tiêu bình quân trong
Trang 11ngành … Bằng cách kết hợp những thông tin tài chính và phi tài chính, hệ thống báo cáo kế toán sẽ trở nên hữu ích hơn nhiều cho những người sử dụng thông tin
Báo cáo tài chính là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp, như các
cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại và đầu tư tiềm năng, các chủ nợ, nhà quản lý, kiểm toán viên độc lập và các đối tượng khác có liên quan Vai trò của báo cáo tài chính được thể hiện thông qua một số đối tượng chủ yếu:
- Đối với Nhà nước: Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc
thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, cơ quan tài chính thực hiện kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với hoạt động doanh nghiệp, đồng thời làm cơ sở tính thuế và các khoản phải nộp của doanh nghiệp cho Ngân sách Nhà nước
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Các nhà quản lý thường cạnh tranh với
nhau để tìm kiếm nguồn vốn và cố gắng thuyết phục với các nhà đầu tư và các chủ nợ rằng họ sẽ đem lại mức lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấp nhất Để thực hiện được điều này, các nhà quản lý phải công bố công khai các thông tin trên báo cáo tài chính định kỳ về hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, nhà quản lý còn sử dụng báo cáo tài chính để tiến hành quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình
- Đối với các nhà đầu tư, các chủ nợ: Nhìn chung các nhà đầu tư và các chủ nợ
đòi hỏi báo cáo tài chính vì 2 lý do: họ cần các thông tin tài chính để giám sát và bắt buộc các nhà quản lý phải thực hiện theo đúng hợp đồng đã ký kết và họ cần các thông tin tài chính để thực hiện các quyết định đầu tư cho vay của mình
- Đối với các kiểm toán viên độc lập: Các nhà đầu tư và tín dụng có lý do để lo
lắng rằng các nhà quản lý có thể bóp méo các báo cáo tài chính do họ cung cấp nhằm mục đích tìm kiếm nguồn vốn hoạt động Vì vậy, các nhà đầu tư và tín dụng đòi hỏi các nhà quản lý phải bỏ tiền ra thuê các kiểm toán viên độc lập để kiểm toán báo cáo tài chính, và các nhà quản lý đương nhiên phải chấp thuận vì họ cần vốn Như vậy, báo cáo tài chính đóng vai trò là đối tượng của kiểm toán độc lập
1.1.3 TIÊU CHUẨN CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN HỮU ÍCH
1.1.3.1- Sự cần thiết phải có thông tin kế toán hữu ích
Các đối tượng có lợi ích trực tiếp và gián tiếp đối với doanh nghiệp đều cần những thông tin hữu ích được cung cấp từ hệ thống báo cáo tài chính, và nó được xem là một đòi hỏi khách quan trong nền kinh tế thị trường Các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp sử dụng báo cáo tài chính như là cơ sở tin cậy cho việc đưa ra
Trang 12các quyết định về đầu tư, cho vay, kiểm tra, tính thuế … còn đối với các nhà quản lý, các thông tin kế toán hữu ích của báo cáo tài chính cũng sẽ phục vụ đắc lực cho công tác quản trị doanh nghiệp Như vậy, chất lượng của thông tin được cung cấp bởi báo cáo tài chính là rất quan trọng cho các đối tượng sử dụng bên ngoài và bên trong doanh nghiệp
1.1.3.2- Tiêu chuẩn để đánh giá thông tin kế toán hữu ích:
1.1.3.2.1- Những giả định cơ sở:
Trong “Khuôn mẫu cho việc lập và trình bày các báo cáo tài chính”, Uûy ban Chuẩn mực Quốc tế về Kế toán (IASC) đã nêu ra 2 giả định cơ sở cần tuân theo khi lập và trình bày các báo cáo tài chính, đó là:
1- Cơ sở dồn tích:
Để đạt được các mục đích của mình, các báo cáo tài chính được lập trên cơ sở kế toán dồn tích Theo cơ sở này, ảnh hưởng của các nghiệp vụ, các sự kiện được hạch toán khi chúng phát sinh (mà không phải vào thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền), chúng được ghi chép trong các sổ kế toán và được thể hiện trong báo cáo tài chính của kỳ mà chúng phát sinh
Các báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích không chỉ thông báo cho người sử dụng về các nghiệp vụ đã qua có liên quan đến thu chi tiền tệ mà còn thông báo cho người sử dụng các thông tin về các nghĩa vụ doanh nghiệp phải thanh toán và các nguồn tiền doanh nghiệp sẽ thu trong tương lai Vì thế báo cáo tài chính đó cung cấp những loại thông tin về các nghiệp vụ quá khứ và các sự kiện khác rất hữu ích để người sử dụng đưa ra các quyết định hợp lý
2- Hoạt động liên tục:
Các báo cáo tài chính được lập theo giả định doanh nghiệp đang hoạt động trong một tương lai có thể dự kiến trước Vì thế, người ta giả định rằng doanh nghiệp không có ý định mà cũng không cần thiết phải từ bỏ hoặc thu hẹp quy mô hoạt động của mình một cách nghiêm trọng Nếu thực tế diễn ra trái với giả định trên đây thì báo cáo tài chính có thể phải lập theo một giả định khác và như vậy giả định đó sẽ được trình bày cụ thể
1.1.3.2.2- Tiêu chuẩn để đánh giá thông tin hữu ích trên báo cáo tài chính:
Để thông tin trên báo cáo tài chính mang tính hữu ích, Ủy ban Chuẩn mực Quốc tế về Kế toán (IASC) đã đưa ra các tính chất định tính mà báo cáo tài chính
phải đạt được là: tính dễ hiểu, tính thích hợp, tính đáng tin cậy và tính so sánh
Ngoài ra IASC còn đưa ra một số khái niệm nhằm làm cho các thông tin trên báo
Trang 13cáo tài chính đạt được mang tính chất trên như: khái niệm trọng yếu, trình bày trung
thực, nội dung hơn hình thức, tính khách quan, thận trọng và đầy đủ
1.5- HUẨN MỰC KẾ TOÁN
1.2.1- ĐỊNH NGHĨA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
Hiểu theo nghĩa chung nhất, chuẩn mực là thuật ngữ diễn tả những quy định mực thước có thể định lượng được để đo lường chất lượng một công việc, nó là những ràng buộc nhằm định hướng công việc chuyên môn đi vào những nguyên tắc chung
Hoạt động kế toán cũng tương tự như các hoạt động khác, chỉ có thể hoạt động một cách hữu hiệu khi có những chuẩn mực riêng cho mình Thật vậy, chức năng của kế toán là cung cấp các thông tin để người sử dụng có thể ra các quyết định Muốn vậy, thông tin kế toán phải phản ánh trung thực tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh Nó phải làm cho người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải giúp so sánh các thông tin tài chính
Để đạt được các mục đích đó, cần có những phương pháp và thước đo để giúp nhận diện những vấn đề hợp lý và không hợp lý liên quan đến việc ghi nhận, phân tích, trình bày và truyền đạt các thông tin tài chính Bởi lẽ, thực tế đã chứng minh rằng cùng một số liệu kế toán nhưng nếu áp dụng phương pháp đánh giá, ghi nhận khác nhau sẽ đưa đến kết quả khác biệt đáng kể Vì thế, cần có những quy định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận và trình bày thông tin tài chính, và đó chính là những chuẩn mực kế toán
Do vậy, có thể định nghĩa một cách tổng quát: Chuẩn mực kế toán là những
quy ước, nguyên tắc, thủ tục được công nhận như những hướng dẫn cho nghề nghiệp kế toán trong việc chọn lựa các phương pháp để ghi chép, phương pháp đánh giá các yếu tố trong việc soạn thảo báo cáo tài chính và là cơ sở đánh giá chất lượng công việc kế toán
1.2.2- SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ HỆ THỐNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ
TOÁN:
Việc chuẩn mực hóa kế toán trong từng quốc gia đã tạo điều kiện cho kế toán phát triển trong một thời gian dài Tuy nhiên xu hướng phát triển, hội nhập đan xen của nền kinh tế thế giới có sự thay đổi lớn đến kế toán
Trang 14Sự phát triển về số lượng của các công ty đa quốc gia, cùng với vấn đề toàn cầu hóa của thị trường chứng khoán trên thế giới, đã làm cho các nhà đầu tư, các nhà phân tích, các nhà quản lý, các nhà cố vấn tài chính … cần nghiên cứu báo cáo tài chính ở nhiều nước khác nữa chứ không riêng gì ở nước họ Những người có nhu cầu nghiên cứu các báo cáo tài chính của nước ngoài thường có khuynh hướng nhận định theo kinh nghiệm và kiến thức của họ, theo cách mà báo cáo tài chính được lập ở nước họ Tuy nhiên điều đó có thể rất sai lầm khi áp dụng những tri thức và những hiểu biết đó để xem xét báo cáo tài chính được lập ở nước khác mà không có những kiến thức cơ bản về thực hành kế toán ở nước đó
Mặc dù báo cáo tài chính ở một số nước có thể giống nhau, song chúng vẫn khác nhau do nhiều nguyên nhân Ví dụ như do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, luật pháp môi trường kinh doanh, hoặc do yêu cầu của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính ở mỗi quốc gia khác nhau Từ sự khác nhau nói trên, dẫn đến việc sử dụng các khái niệm của các yếu tố trong báo cáo tài chính ở mỗi quốc gia cũng rất
đa dạng, và chính điều này đã dẫn đến việc sử dụng những chuẩn mực khác nhau để hạch toán các khoản mục trong báo cáo tài chính, từ đó làm cho việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính ở mỗi quốc gia cũng khác nhau
Vì vậy, vào ngày 29/6/1973, Ủy ban Chuẩn mực Quốc tế về Kế toán (IASC) đã ra đời với sự tham gia của các tổ chức kế toán của 10 quốc gia là Úc, Canada,Pháp, Tây đức, Nhật, Mexico, Hà lan, Anh, Aùi Nhĩ lan và Mỹ IASC có nhiệm vụ thu hẹp những khác biệt nói trên, bằng cách soạn thảo các qui định, các thủ tục và chuẩn mực kế toán có liên quan để cho ra đời chuẩn mực quốc tế nhằm mục đích:
- Hình thành và công bố những chuẩn mực kế toán làm cơ sở cho việc lập báo cáo tài chính, nhằm phục vụ cho quyền lợi của nhiều đối tượng sử dụng khác nhau và để nâng cao sự chấp nhận và tôn trọng trên toàn thế giới
- Tiến tới việc cải tiến và tạo nên sự hòa hợp các qui định, chuẩn mực và thủ tục kế toán liên quan đến việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính
Công việc của IASC được chỉ đạo bởi Hội đồng Cố vấn và Hội đồng Quản trị Hội đồng cố vấn gồm các đại diện của nhiều tổ chức quốc tế, có nhiệm vụ tư vấn cho IASC về việc soạn thảo các IAS, và tham gia phản biện khoa học (nhưng không biểu quyết) Còn Hội đồng Quản trị gồm đại diện 13 quốc gia và tổ chức sẽ chịu trách nhiệm quyết định trong quá trình xây dựng các chuẩn mực
Ủy ban Chuẩn mực Quốc tế về Kế toán tin rằng, với sự công nhận các chuẩn mực quốc tế về kế toán ở mỗi quốc gia, cùng với sự công bố việc chấp nhận những chuẩn mực này, qua một thời gian sẽ có tác dụng tốt, chất lượng của các báo cáo tài chính sẽ được cải tiến và sẽ gia tăng khả năng so sánh của hệ thống báo cáo tài chính giữa các nước với nhau, và như vậy độ tin cậy và tính hữu dụng của báo cáo
Trang 15tài chính sẽ được nâng cao trên toàn thế giới, từ đó tạo nên tiếng nói chung của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính
1.2.3- NỘI DUNG CỦA CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ TOÁN
Khi xây dựng hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán (IAS), IASC dựa trên nguyên tắc chính là chỉ tập trung vào những vấn đề lớn, và đó thường là những vấn đề có sự khác biệt trong cách giải quyết giữa các quốc gia, phương pháp giải quyết là cố gắng dung hòa càng nhiều càng tốt sự khác biệt về tiêu chuẩn và chính sách kế toán của các quốc gia khác nhau Hệ thống chuẩn mực sẽ được xét duyệt liên tục để luôn cập nhật những vấn đề mới nhất
Hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán do IASC ban hành bao gồm ba phần chính:
- Khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán (IAS framework)
- Các chuẩn mực kế toán cụ thể (các IAS cụ thể)
- Từ điển thuật ngữ
-
1.2.3.1- Khuôn mẫu của chuẩn mực quốc tế về kế toán
Khuôn mẫu là những quy ước chung về khái niệm kế toán căn bản về các đặc điểm định tính của báo cáo tài chính, về các yếu tố cần có và các phương pháp đánh giá các yếu tố của báo cáo tài chính
Trong lời mở đầu của khuôn mẫu đã nêu rõ: Báo cáo tài chính được soạn thảo và trình bày cho người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp Mặc dù bề ngoài của báo cáo tài chính giữa các quốc gia có vẻ giống nhau, tuy vậy có rất nhiều điểm khác biệt do đặc điểm riêng về văn hóa, về kinh tế, xã hội và môi trường luật pháp của từng quốc gia … Chính sự khác nhau này đã dẫn đến những định nghĩa, cũng như việc trình bày khác nhau về các yếu tố trên báo cáo tài chính
IASC có trách nhiệm thu hẹp sự khác biệt đó thông qua hòa hợp các nguyên tắc, các tiêu chuẩn, thủ tục liên quan đến sự trình bày bằng báo cáo Để hỗ trợ cho việc xây dựng các chuẩn mực quốc tế về kế toán IASC phải ban hành khuôn mẫu để làm nền tảng Mục đích của khuôn mẫu:
- Giúp cho IASC phát triển các IAS trong tương lai cũng như duyệt xét lại các IAS đã ban hành
- Giúp cho IASC làm hài hòa các nguyên tắc, các chuẩn mực, các thủ tục liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính, bằng cách cung cấp các cơ sở để giảm bớt việc chọn lựa các phương pháp hạch toán được IASC cho phép
Trang 16- Giúp cho các kiểm toán viên cho ý kiến liệu các báo cáo tài chính có phù hợp với IASC hay không
- Giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu rõ các thông tin chứa đựng trong báo cáo có phù hợp với các IAS đã được ban hành hay không
Khuôn mẫu không phải là chuẩn mực kế toán, và do đó khuôn mẫu không đưa các phương pháp hay các công bố riêng nào cả, và không điểm nào trong khuôn mẫu được phép vượt qua các IAS Nếu có mâu thuẫn giữa khuôn mẫu và các IAS, các IAS sẽ được tôn trọng hơn Tuy vậy, khuôn mẫu chính là cơ sở để duyệt xét lại các IAS hiện hữu, và xây dựng các IAS trong tương lai
1.2.3.2- Các chuẩn mực quốc tế về kế toán:
Chuẩn mực quốc tế về kế toán là các báo cáo ngắn gọn, súc tích nhằm giải quyết hai vấn đề chính là:
- Các khoản mục trên báo cáo tài chính được đánh giá như thế nào ?
- Những thông tin gì được xem là thông tin tối thiểu cần công bố trên báo cáo tài chính.?
Cho đến nay, IASC đã ban hành được 40 chuẩn mực, phạm vi áp dụng cho báo cáo tài chính của mọi loại hình doanh nghiệp Tuy vậy các chuẩn mực không thể vượt quá luật lệ quy định ở các địa phương Sự thành công của các IAS phần lớn dựa vào sự yểm trợ của các tổ chức nghề nghiệp về kế toán, trong đó chủ yếu là Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC)
Sau cuộc cải cách vào năm 1989, hiện nay trong các chuẩn mực quốc tế về kế toán và các phương pháp đánh giá được phân thành 2 loại: phương pháp chuẩn và phương pháp thay thế được chấp nhận Phần lớn doanh nghiệp phải sử dụng phương pháp chuẩn Riêng phương pháp thay thế được chấp nhận chỉ sử dụng khi nào phương pháp chuẩn không phù hợp với đơn vị Khi sử dụng phương pháp thay thế được chấp nhận, doanh nghiệp cần tính toán và công bố về chênh lệch giữa hai phương pháp
1.6- NHỮNG VẤN ĐỀ CĂN BẢN VỀ NGUYÊN TẮC LẬP VÀ TRÌNH BÀY
CÁC THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.3.1- MỤC ĐÍCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH:
Mục đích của báo cáo tài chính sử dụng ở nước ta về cơ bản có sự tương đồng với “Khuôn mẫu cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính” của Ủy ban Chuẩn mực Quốc tế về Kế toán (IASC) Mục đích của báo cáo tài chính được xác định như sau:
Mục đích của các báo cáo tài chính là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và những biến động về tình hình tài chính của doanh
Trang 17nghiệp, để giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra những quyết định kinh tế một cách kịp thời
Để đạt được mục đích này, các báo cáo tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin nhờ đó mà những người đọc báo cáo tài chính có thể dự đoán những lưu chuyển tiền mặt trong tương lai của doanh nghiệp, và đặc biệt là việc dự đoán về thời gian và độ chắc chắn của việc tạo ra tiền và những khoản tương đương tiền Để làm được như vậy, các báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin về:
• Thông tin về tình hình tài chính chủ yếu được cung cấp qua Bảng cân đối kế
toán Tình hình tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nhân tố: các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, cơ cấu tài chính và khả năng thanh toán Vì vậy khi nghiên cứu các thông tin về tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng :
- Đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai;
- Dự toán nhu cầu đi vay trong tương lai và phương thức phân phối lợi tức;
- Dự đoán khả năng thành công của doanh nghiệp trong việc huy động các nguồn tài chính;
- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết tài chính khi đến hạn
• Thông tin về kết quả kinh doanh được cung cấp qua báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh Việc nghiên cứu các thông tin về tình hình kinh doanh, đặc biệt là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp sẽ giúp cho người sử dụng:
- Đánh giá các thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương lai
- Dự đoán khả năng tạo ra các nguồn tiền của doanh nghiệp trên cơ sở hiện có
- Đánh giá tính hiệu quả của các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp sử dụng
• Thông tin về những biến động tài chính được cung cấp qua báo cáo lưu chuyển
tiền tệ Việc nghiên cứu những thông tin này sẽ rất hữu ích cho người sử dụng trong việc:
- Đánh giá xem doanh nghiệp có lợi tức nhưng có tiền hay không
- Đánh giá các hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
- Đánh giá khả năng tạo ra nguồn tiền và sử dụng các khoản tương đương tiền trong tương lai của doang nghiẹp, cũng như việc sử dụng các nguồn tiền hiện tại
Trang 18Các mục đích nêu trên nhắm vào báo cáo tài chính hơn là cho những người sử dụng thông tin của báo cáo tài chính Vì vậy các mục đích này phù hợp với vai trò cung cấp thông tin có ích trong việc ra các quyết định kinh tế, chứ không nhằm khẳng định các quyết định nào thì nên làm
1.3.2- THỦ TỤC VÀ NGUYÊN TẮC LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH:
Báo cáo tài chính ở mỗi quốc gia đều có sự khác biệt về nội dung cũng như hình thức biểu hiện, do sự chi phối của các yêu cầu, đặc biệt quản lý của Nhà nước cũng như tập quán kế toán của mỗi nước Tuy nhiên xem xét một cách tổng thể thì có thể rút ra những vấn đề có ý nghĩa lý luận căn bản thuộc về thủ tục và nguyên tắc lập báo cáo tài chính, mà hầu như các quốc gia khác nhau đều tuân thủ thực hiện Có thể nói rằng đây chính là kinh nghiệm quí báu có thể bổ sung vào hệ thống lý luận kế toán ở nước ta khi nghiên cứu giải quyết các vấn đề liên quan đến việc soạn thảo và trình bày thông tin trên báo cáo tài chính Các vấn đề lý luận căn bản về thủ tục và nguyên tắc lập báo cáo tài chính bao gồm :
- Hình thức và nội dung của báo cáo tài chính: Xác định các loại báo cáo tài chính cần phải lập, hình thức của từng loại báo cáo và hệ thống các chỉ tiêu kinh tế cần được cung cấp thông qua từng báo cáo
- Báo cáo tài chính đối với các tập đoàn kinh tế: Xác lập nội dung, phương pháp soạn thảo và trình bày thông tin trên báo cáo tài chính ở các công ty mẹ
- công ty bao gồm nhiều công ty con hoạt động ở nhiều nghành, nhiều lĩnh vực và nhiều quốc gia khác nhau
- Những yêu cầu về lập hồ sơ lưu trữ pháp qui: Qui định việc lập và nộp các báo cáo tài chính cho các cơ quan chức năng để công khai thông tin cho những đối tượng khác nhau
- Nguyên tắc đánh giá: Qui định việc sử dụng nguyên tắc đánh giá tài sản và công nợ để thực hiện việc hạch toán các đối tượng này, cũng như khi lập bảng cân đối kế toán
- Thuê tài sản: Phân định thuê tài sản theo phương thức thuê tài chính và thuê hoạt động
- Thuế: Khoản thuế được đề cập gắn liền với báo cáo tài chính là thuế lợi tức - khoản thuế trực thu được đánh vào lợi tức của doanh nghiệp Lợi tức chiụ thuế và lợi tức thực tế kế toán xác định có những khác biệt, do một bên chịu sự chi phối của luật thuế còn một bên chịu sự chi phối từ những quy định riêng biệt của kế toán
- Các khoản bất thường: Phân biệt rõ những khoản thu nhập và chi phí có bản
Trang 19chất bất thường để trình bày riêng biệt trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và trong thuyết minh báo cáo tài chính
- Các cam kết tài chính: Yêu cầu những cam kết tài chính phải được trình bày trên báo cáo tài chính dưới những hình thức phù hợp, để làm rõ những cam kết liên quan đến những hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp và phục vụ cho việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Những biến động giá cả: Có thể phản ánh những ảnh hưởng của tình trạng lạm phát đến sự biến động của giá cả, thông qua các giải trình liên quan đến báo cáo tài chính được thiết lập
-
1.3.3- THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.3.3.1- Cơ chế quản lý kinh tế – cơ sở chi phối trực tiếp đến những thông tin
trình bày trên báo cáo kế toán
Có thể nói cơ chế quản lý kinh tế có tính quyết định và chi phối trực tiếp đến những thông tin trình bày trên báo cáo tài chính
Khi nền kinh tế ở trong giai đọan cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước tiến hành quản lý trực tiếp mọi hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Nhu cầu thông tin kế toán trong thời kỳ này giữa Nhà nước và doanh nghiệp là thống nhất với nhau, vì thế thông tin kế toán chỉ được trình bày trên một hệ thống báo cáo kế toán duy nhất do Nhà nước quy định Thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán không phản ánh trung thực tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, mô hình nền kinh tế phát triển theo hướng nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo Các cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế, không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh của các doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất, đầu
tư theo nhu cầu thị trường Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh doanh lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời cũng đặt ra cho doanh nghiệp những điều kiện ràng buộc khi đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh liên quan đến quá trình thực hiện kế hoạch Thị trường là nơi doanh nghiệp thể hiện sức mạnh cũng như những hạn chế của mình trước các đối thủ cạnh tranh, và cũng chính thị trường sẽ phán quyết về khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Hoạt động trong môi trường kinh doanh như vậy, thì việc đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 20Từ những vấn đề trên ta có thể thấy trong cơ chế thị trường Việt Nam, báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin hữu ích nhất đáp ứng được nhu cầu thông tin của bản thân doanh nghiệp và của các đối tuợng bên ngoài doanh nghiệp, trong đó Nhà nước vẫn là đối tượng chủ yếu Xuất phát từ mối quan hệ về pháp lý và lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp với các đối tượng khác ở bên ngoài doanh nghiệp, đã nảy sinh sự ràng buộc về nhu cầu thông tin tài chính mà doanh nghiệp phải cung cấp cho những đối tượng này
Thông tin tài chính cung cấp theo những hình thức và nội dung nhất định tùy theo quy định của mỗi quốc gia Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải đảm bảo độ tin cậy cao, trung thực, đầy đủ, chính xác, kịp thời và thông thường báo cáo tài chính được lập phải tuân thủ những quy định mang tính pháp lý Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng của các thông tin tài chính, báo cáo tài chính còn phải được xác nhận bởi công ty kiểm toán độc lập
1.3.3.2- Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính
Thông tin trình bày trên hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam về cơ bản tương đồng với những quy định trong chuẩn mực quốc tế về kế toán Do vậy, chúng tôi chủ yếu chọn qui định trong chuẩn mực quốc tế để trình bày trong phần này
Để đạt được mục đích của báo cáo tài chính, những thông tin sau đây cần phải trình bày trên báo cáo tài chính :
- Tên của doanh nghiệo lập báo cáo
- Báo cáo tài chính là báo cáo cho một doanh nghiệp riêng lẻ hay một nhóm các doanh nghiệp
- Ngày lập báo cáo hoặc niên độ mà báo cáo tài chính được lập
Các bộ phận cấu thành của báo cáo tài chính được trình bày bao gồm :
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiển tệ
- Phần ghi chú cho các báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính phác họa những ảnh hưởng tài chính của các giao dịch, các sự kiện bằng cách tập hợp chúng lại thành những khoản mục lớn theo tính chất kinh tế của chúng Những khoản mục này được gọi là các yếu tố của báo cáo tài chính và cũng chính là những thông tin cơ bản cần phải trình bày trên các báo cáo tài chính
1.3.3.2.1- Thông tin trình bày trên Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp phải phản ánh được tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại ngày lập báo cáo và theo cách thức làm cho người đọc
Trang 21có thể hiểu được những nguồn lực kinh tế và tài trợ của doanh nghiệp Thông tin trình bày trên bảng cân đối kế toán gồm các yếu tố cơ bản sau:
1- Tài sản:
Là tiềm lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát và là kết quả của các sự kiện đã qua và từ đó doanh nghiệp có thể thu được các lợi ích kinh tế trong tương lai của doanh nghiệp
Các lợi ích kinh tế tương lai được biểu hiện trong tài sản là tiềm năng đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp tới các nguồn tiền và tài sản tương đương tiền của doanh nghiệp
Các lợi ích kinh tế tương lai được thể hiện trong một tài sản có thể được thực hiện bằng nhiều cách Ví dụ một tài sản có thể :
- Được doanh nghiệp sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong việc sản xuất hàng hóa hay cung cấp dịch vụ, bán cho khách hàng
- Để trao đổi tài sản khác
- Để thanh toán công nợ
- Phân phối cho những người chủ sở hữu doanh nghiệp
Hình thái vật chất không phải là yếu tố thiết yếu khẳng định sự tồn tại của một tài sản Ví dụ: Bằng phát minh sáng chế, bản quyền là những tài sản nếu trong tương lai doanh nghiệp có thể thu được lợi ích kinh tế từ những tài sản đó và nếu nó thuộc quyền quản lý kiểm soát của doanh nghiệp
Nhiều tài sản, ví dụ như khoản thu về nhà xưởng có quan hệ trực tiếp đến quyền pháp lý bao gồm quyền sở hữu Trong việc xác định tồn tại của một tài sản thì quyền sở hữu là thiết yếu, ví dụ nhà xưởng đi thuê cũng là một tài sản nếu doanh nghiệp kiểm soát được các lợi ích dự kiến sẽ phát sinh từ nhà xưởng này Mặc dù năng lực của doanh nghiệp đối với việc kiểm soát lợi ích thường là kết quả của một quyền hạn pháp lý, nhưng lại có những khoản mục tài sản đáp ứng được định nghĩa về tài sản mà không có quyền kiểm soát về mặt pháp lý Ví dụ, bí quyết kỹ thuật thu thập được từ các hoạt động của doanh nghiệp có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa tài sản khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật, và doanh nghiệp còn quản lý được những lợi ích phát sinh từ các bí quyết kỹ thuật đó
Tài sản trên bảng cân đối kế toán được chia làm 2 loại là tài sản lưu động và tài sản cố định
- Một tài sản được gọi là tài sản lưu động khi: Được sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và dự tính được thực hiện hoặc sử dụng trong vòng 12 tháng từ ngày lập báo cáo, hay trong chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, hay được giữ lại chủ yếu để
Trang 22phục vụ cho các mục đích thương mại và đầu tư ngắn hạn và dự tính được thực hiện trong vòng 12 tháng từ ngày lập báo cáo
- Tất cả các tài sản khác không thỏa mãn điều kiện trên được phân loại là tài sản cố định
2- Nợ phải trả:
Nợ phải trả là những khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác
Nợ phải trả có một tính chất chủ yếu đó chính là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp đối với chủ nợ Một khoản nợ phải trả là một nghĩa vụ phải được thực hiện theo một cách thức nhất định Các nghĩa vụ có hiệu lực pháp lý bắt buộc phải thanh toán như các hợp đồng trói buộc hoặc là yêu cầu của luật pháp
Cần phân biệt giữa các nghĩa vụ hiện tại với cam kết kỳ hạn Một quyết định của các nhà quản lý doanh nghiệp để có được các tài sản trong tương lai thì tự thân các quyết định này không làm phát sinh một nghĩa vụ hiện tại Một nghĩa vụ thường chỉ phát sinh khi doanh nghiệp đã nhận về một tài sản hoặc tham gia vào một hợp đồng mua sắm tài sản không hủy ngang Trong trường hợp này thì các nội dung của hợp đồng kinh tế không huỷ ngang này được coi là nghĩa vụ, bởi vì nếu không thực hiện hợp đồng kinh tế đó doanh nghiệp sẽ phải nộp một khoản tiền phạt cho các đối tác hợp đồng
Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại thường liên quan tới việc doanh nghiệp phải mất đi một số nguồn lực tạo lợi ích kinh tế để đáp ứng được nhu cầu đòi nợ của phía bên kia
Một số khoản nợ phải trả có thể được tính toán xác định bằng cách dự tính Một số doanh nghiệp mô tả những khoản nợ này như là các khoản dự phòng Ở một
số quốc gia, những dự phòng như vậy không được coi là nợ phải trả vì khái niệm nợ
phải trả được định nghĩa hẹp, nó chỉ bao gồm những khoản tiền được xác định cụ thể mà không cần dự tính Định nghĩa về nợ phải trả như ở phần trên đã nêu là có nội dung rộng Vì vậy, khi khoản dự phòng có liên quan đến các nghĩa vụ hiện tại và thỏa mãn điều kiện trong định nghĩa thì đó là một khoản nợ phải trả, cho dù khoản tiền đó chỉ là dự tính Ví dụ khoản dự phòng để chi trả cho các khoản bảo hành …
Trên bảng cân đối kế toán, nợ phải trả chia làm hai loại là nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Một khoản nợ được phân loại như nợ dài hạn khi:
- Tạo nên một phần trong nguồn tài trợ dài hạn của doanh nghiệp và không phải thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày lập báo cáo; hay
Trang 23- Phản ánh một khoản dự phòng không phải thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày lập báo cáo
Những khoản nợ khác phải được phân loại và coi là nợ ngắn hạn
Trong chế độ kế toán Việt Nam chỉ qui định nợ dài hạn là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên 1 năm, còn nợ ngắn hạn là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòng một chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc trong vòng một năm Như vậy, xét điều kiện để xác định một khoản nợ ngắn hạn
hay dài hạn, thì qui định của chuẩn mực quốc tế về kế toán có nội dung rộng hơn và
do đó tỏ ra phù hợp hơn so với qui định của Việt Nam
3- Nguồn vốn chủ sở hữu:
Là phần giá trị còn lại của tài sản sau khi trừ đi mọi công nợ, hay nói cách khác đó chính là số vốn của chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn: Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn hoạt động do Nhà nước cấp hoặc đầu tư nên Nhà nước là sở hữu vốn; đối với doanh nghiệp liên doanh thì chủ sở hữu vốn là các thành viên tham gia góp vốn hoặc các tổ chức cá nhân tham gia hùn vốn; đối với các công ty cổ phần thì chủ sở hữu vốn là các cổ đông; đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu vốn là các cá nhân hoặc hộ gia đình
Theo qui định của chế độ kế toán Việt Nam, nguồn vốn chủ sở hữu gồm:
- Vốn góp của các nhà đầu tư để thành lập hoặc mở rộng doanh nghiệp
- Vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo qui định của cơ chế tài chính hoặc quyết nghị của các chủ sở hữu vốn, của hội đồng quản trị
- Các khoản chênh lệch do đánh giá tài sản, chênh lệch tỷ giá chưa được xử lý và các quĩ được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh Riêng đối với các công ty cổ phần, chuẩn mực quốc tế về kế toán đưa ra một số vấn đề như sau: Vốn cổ phần là phần giá trị còn lại của tài sản sau khi trừ đi mọi khoản công nợ Trên bảng cân đối kế toán, vốn cổ phần được phân thành từng nhóm Ví dụ, vốn của doanh nghiệp do các cổ đông đóng góp, lợi nhuận để lại, khoản dự trữ về phân chia lợi nhuận và các khoản dự trữ về điều chỉnh bảo toàn vốn có thể được trình bày riêng Cách phân nhóm như vậy có thể phù hợp với các yêu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính khi chúng chỉ ra các giới hạn về pháp lý hoặc các giới hạn khác về năng lực của doanh nghiệp trong việc phân phối hoặc áp dụng các hình thức góp vốn khác Chúng cũng có thể phản ánh một thực tế là các bên tham gia góp vốn của doanh nghiệp có quyền lợi khác nhau khi nhận cổ tức hoặc nhận lại phần góp vốn Giá trị vốn cổ phần trong bảng cân đối kế toán phụ thuộc vào cách xác định đánh giá tài sản và công nợ Thông
Trang 24thường giá trị vốn cổ phần chỉ trùng hợp tương ứng với tổng trị giá cổ phiếu hoặc tổng số tiền có thể thu được từ việc thanh lý dần các tài sản ròng trên cơ sở khái niệm doanh nghiệp đang hoạt động
Theo IAS 1, những thông tin được trình bày trên bảng cân đối kế toán gồm:
- Tài sản cố định:
Tàisản hữu hình Tài sản vô hình Tài sản tài chính
- Tài sản lưu động:
Hàng tồn kho Các khoản phải thu thương mại và các khoản phải thu khác
Các khoản ứng trước Tiền mặt và các khoản tương đương tiền Đầu tư tài chính ngắn hạn
- Vốn chủ sở hữu và các quĩ
- Các khoản nợ dài hạn
Các khoản nợ chịu lãi Các khoản dự phòng
- Các khoản nợ ngắn hạn
Các khoản phải trả thương mại và các khoản phải trả khác Các khoản nợ chịu lãi suất
Các khoản dự phòng
1.3.3.2.2- Thông tin trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp phải phản ánh được các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong niên độ kế toán theo cách thức mà người đọc có thể hiểu được các khía cạnh khác nhau của kết quả kinh doanh Thông tin trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
1- Thu nhập:
Là sự gia tăng về lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền thu vào hoặc gia tăng tài sản hoặc giảm bớt công nợ dẫn đến việc gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không phải do các chủ sở hữu đóng góp
Thu nhập bao gồm cả doanh thu và lãi Doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường của một doanh nghiệp Lãi là một khoản gia tăng về lợi ích kinh tế và xét về khía cạnh đó lãi không khác biệt so với doanh thu Ví
Trang 25dụ: lãi bao gồm những khoản lãi phát sinh từ thanh lý tài sản cố định Khi lãi được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, chúng thường được trình bày thành một chỉ tiêu riêng bởi vì chúng rất hữu ích trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Lãi thường được báo cáo sau khi đã trừ các chi phí liên quan
2- Chi phí:
Là sự giảm bớt các lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra hoặc khấu trừ tài sản hoặc phát sinh công nợ, dẫn đến làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu nhưng không phải là do phân phối cho các chủ sở hữu
Chi phí bao gồm các khoản lỗ cũng như các chi phí phát sinh trong chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp, bao gồm: giá vốn hàng bán, tiền lương, chi phí khấu hao … những chi phí này thường biểu hiện dưới dạng những luồng tiền chi ra hoặc khấu trừ vào tài sản
Các khoản lỗ bao gồm những khoản mục thỏa mãn các yêu cầu của định nghĩa chi phí và có thể hoặc không phát sinh trong kỳ hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Lỗ bao gồm sự giảm sút về lợi ích kinh tế và xét về bản chất chúng không khác gì các chi phí khác, vì thế lỗ không được coi là yếu tố riêng biệt so với chi phí
Lỗ bao gồm những khoản phát sinh từ tai họa như hỏa hoạn, lụt lội cũng như các khoản phát sinh từ nghiệp vụ thanh lý tài sản cố định Khi đó lỗ được trình bày thành một chỉ tiêu riêng
Theo IAS 1, các thông tin tối thiểu sau đây phải được diễn giải tại báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hoặc phần ghi chú: doanh thu, lợi nhuận, các chi phí tài chính thuần, thu từ các khoản đầu tư, lãi hoặc lỗ trước thuế trong niên độ, thuế lợi tức, cổ phần thiểu số, lãi hay lỗ thuần từ các hoạt động bình thường, các khoản mục bất thường, lãi hay lỗ thuần trong niên độ
IAS cũng qui định phải trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hoặc phần ghi chú các khoản sau đây:
- Việc phân tích các khoản chi phí và thu nhập được sử dụng trong quá trình tính lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc phân loại dựa trên tính chất hoặc chức năng các khoản chi phí trong nội bộ doanh nghiệp
- Một bản phân tích chi tiết về thu nhập từ các khoản đầu tư, phản ánh các khoản lãi hoặc lỗ của công ty con (nếu báo cáo chưa được hợp nhất), lãi hoặc lỗ từ các công ty thành viên và liên doanh theo phương pháp vốn cổ phần, thu nhập từ lãi tiền cho vay và từ các khoản đầu tư khác
- Lãi trên mỗi cổ phiếu đã thanh toán hoặc dự kiến, cho niên độ kế toán của báo cáo tài chính
Trang 261.3.3.2.3- Thông tin trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Các yếu tố trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là các yếu tố của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và sự biến động của các yếu tố trên bảng cân đối kế toán
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần trình bày các luồng tiền trong kỳ đựợc phân loại thành các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp
1- Các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh:
Chủ yếu bắt nguồn từ các hoạt động sinh lời của doanh nghiệp Vì thế chúng thường là kết quả của các nghiệp vụ có tham gia vào việc xác định lãi hay lỗ ròng và thường bao gồm các thông tin sau:
- Tiền nhận được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ
- Tiền nhận được từ bản quyền, phí, hoa hồng và các doanh thu khác
- Tiền trả cho nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ
- Tiền trả cho người lao động
- Tiền trả và nhận của một công ty bảo hiểm
- Tiền trả hay nhận từ các hợp đồng dùng cho các mục đích kinh doanh
2- Các luồng tiền từ hoạt động đầu tư:
Thể hiện phạm vi mà các chi phí đã thực hiện cho các hoạt động đầu tư sẽ tạo lợi nhuận và các luồng tiền trong tương lai, và thường bao gồm các thông tin sau:
- Tiền mua nhà xưởng máy móc thiết bị, tài sản vô hình …
- Tiền nhận từ việc bán nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản vô hình …
- Trả tiền để mua cổ phần và tiền thu từ việc bán lại cổ phần
- Tiền tạm ứng và các khoản cho bên ngoài vay
- Tiền nhận từ bên ngoài về các khoản cho vay
3- Các luồng tiền từ hoạt động tài chính:
Thể hiện phạm vi các khoản tiền tăng giảm liên quan đến việc tăng, giảm nguồn vốn và thường bao gồm các thông tin sau:
- Tiền thu được từ việc phát hành cổ phiếu
- Tiền trả cho các chủ sở hữu để mua hay thanh toán các cổ phiếu của doanh nghiệp
Trang 27- Tiền thu từ việc phát hành trái phiếu, thương phiếu, thế chấp và các khoản vay ngắn hạn hay dài hạn khác
- Tiền trả cho các khoản đã vay
- Tiền trả cho nghiệp vụ đi thuê tài chính
1.3.3.2.4- Thông tin trình bày tại phần ghi chú trong các báo cáo tài chính:
Phần ghi chú trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần đạt các mục tiêu:
- Đưa ra các thông tin trên cơ sở lập báo cáo tài chính và các chính sách rõ ràng được lựa chọn và áp dụng cho những giao dịch và sự kiện quan trọng
- Diễn giải các thông tin và chuẩn mực quốc tế về kế toán đòi hỏi nhưng chưa được trình bày ở phần nào khác trong báo cáo tài chính
- Cung cấp thêm sự phân tích cần thiết cho việc trình bày trung thực và sự phân tích đó chưa được trình bày trong phần đầu của báo cáo tài chính Phần ghi chú trong báo cáo tài chính phải được trình bày một cách có hệ thống Mỗi khoản mục trong bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ phải được chỉ dẫn tham khảo tới bất cứ các thông tin nào có liên quan tại phần ghi chú Thông thường trình bày theo trật tự sau:
- Báo cáo về sự tuân thủ các quy định của chuẩn mực quốc tế về kế toán
- Báo cáo về cơ sở tính toán và các chính sách kế toán được áp dụng
- Các thông tin hỗ trợ cho những khoản mục đã trình bày trong báo cáo tài chính
- Những diễn giải khác: những khoản mục ngẫu nhiên, cam kết và những diễn giải tài chính khác, và những diễn giải phi tài chính Đó là những thông tin về địa chỉ và hình thức pháp lý của doanh nghiệp, trụ sở hoạt động kinh doanh chính, bản mô tả các hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp, công ty mẹ, số lượng nhân viên…
Trang 28CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.3- LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO
KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Dựa vào những thay đổi lớn trong hệ thống kế toán Việt Nam, chúng tôi có thể chia quá trình phát triển của hệ thống báo cáo kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam thành 3 giai đoạn:
2.1.4- THỜI KỲ QUẢN LÝ THEO CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG (TỪ
1986 TRỞ VỀ TRƯỚC)
Thời kỳ này, Nhà nước thực hiện quản lý nền kinh tế thông qua một hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh Chính vì vậy, Nhà nước cần phải có một khối lượng lớn về thông tin tài chính, nhằm có thể can thiệp thường xuyên vào các hoạt động của đơn vị kinh tế cơ sở Ứng với giai đoạn này, Hội đồng Chính phủ đã ban hành
hệ thống báo cáo kế toán theo Quyết định số 233-CP ngày 01/12/1970, bao gồm 13
biểu:
2 Tăng giảm tài sản cố định và quỹ khấu hao (24CN)
3 Tăng giảm nguồn vốn cơ bản (25CN)
4 Chi phí phục vụ và quản lý sản xuất (26CN)
5 Chi phí sản xuất theo yếu tố (27CN)
6 Giá thành sản phẩm so sánh được và toàn bộ sản phẩm theo khoản
7 Giá thành đơn vị các loại sản phẩm chủ yếu (29CN)
8 Những nhân tố làm tăng giảm giá thành (30CN)
10 Lãi, lỗ và khoản thanh toán với ngân sách (32CN)
Hệ thống báo cáo nói trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý kinh tế của các doanh nghiệp, cũng như đối với công tác kiểm tra, giám sát trực tiếp của Nhà nước đối với các doanh nghiệp Bởi vậy, chế độ báo cáo kế toán - thống kê định kỳ áp dụng cho các đơn vị kinh tế trong thời kỳ này dù cồng kềnh, nhưng lại cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước
Trang 29Tuy nhiên để phù hợp với sự vận động khách quan của nền kinh tế, cơ chế quản lý tập trung và kế hoạch hóa đã có những thay đổi Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khoá V tháng 6/1985 đã chỉ ra bài học bao trùm là “Phải dứt khoát xóa bỏ tập trung quan liêu - bao cấp, thực hiện đúng chế độ tập trung dân chủ và hạch toán kinh tế, kinh doanh Xã hội chủ nghĩa thì mới đẩy mạnh được sản xuất kinh doanh có hiệu quả“ Việc chuyển hẳn sang cơ chế hạch toán kinh doanh Xã hội chủ nghĩa đã thực sự gắn quan hệ hàng hóa với cơ chế quản lý có kế hoạch, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp ngày càng được giảm bớt về số lượng, cụ thể là vào năm 1976 các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh có 9 chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh, nhưng đến năm 1986 chỉ còn từ 1 đến 3 chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh
Tình hình trên đòi hỏi hệ thống báo cáo kế toán cũng cần có những thay đổi thích ứng với nhu cầu về thông tin của các cơ quan quản lý Nhà nước Chế độ báo cáo thống kê - kế toán định kỳ do Tổng cục Trưởng Tổng cục Thống kê ban hành
theo Quyết định số 13-TCTK/PPCĐ ngày 13/01/1986, đã ra đời nhằm đáp ứng yêu
cầu đối với công tác hạch toán và công tác quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước trong giai đoạn này
Hệ thống chế độ báo cáo thống kê - kế toán định kỳ nói trên bao gồm 21 báo biểu, trong đó đối với lĩnh vực kế toán có 9 biểu như sau :
3 Phi chí sản xuất theo yếu tố (trừ lưu chuyển nội bộ) (14CN)
4 Giá thành toàn bộ sản phẩm theo khoản mục (15CN)
5 Giá thành đơn vị sản phẩm chủ yếu theo khoản mục (16CN)
7 Các khoản thanh toán với ngân sách (18CN)
• So sánh với hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1970, hệ thống báo cáo kế
toán kỳ này có những thay đổi như sau :
- Số lượng báo biểu kế toán cũng giảm bớt, chẳng hạn như: Bảng tổng kết tài sản (năm 1970) có 170 chỉ tiêu, năm 1986 còn 108 chỉ tiêu; Bảng chi phí sản xuất theo yếu tố năm 1970 có 15 yếu tố chi phí; năm 1986 còn 8 yếu tố chi phí
- Kỳ hạn lập và gửi báo biểu: năm 1970 là tháng, quí, 6 tháng, năm; năm 1986 là quí, 6 tháng, năm
Hệ thống báo cáo kế toán năm 1986 đã có những cải tiến đáng kể so với hệ thống báo cáo kế toán năm 1970 Tuy nhiên hệ thống báo cáo này vẫn còn mang nặng cơ chế quản lý tập trung -bao cấp, các thông tin phải cung cấp vẫn còn chiếm khối lượng khá lớn để phục vụ cho yêu cầu quản lý Nhà nước
Trang 30• Qua xem xét hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1970 và đã cải tiến năm
1986, có thể nhận xét chung về hệ thống báo cáo kế toán ban hành trong thời kỳ này như sau :
+ Tuy hệ thống thông tin trên báo cáo kế toán thống kê rất chi tiết và chiếm một khối lượng rất lớn (dù đã có cải tiến), nhưng các doanh nghiệp vẫn đảm bảo thực hiện đầy đủ, bởi đằng sau chế độ báo cáo kế toán - thống kê nặng nề đó còn có những lợi ích vật chất khuyến khích doanh nghiệp hoàn thành các báo cáo, đồng thời doanh nghiệp còn chịu sự ràng buộc chặt chẽ từ phía các cơ quan chức năng Nhà nước trong việc lập và nộp các báo cáo
- Đảm bảo tính thống nhất về các thông tin được cung cấp, thông qua việc Nhà nước qui định hệ thống các chỉ tiêu trong các mẫu biểu, có cơ sở lập và phương pháp lập Chính sự thống nhất này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác học tập, nghiên cứu, ứng dụng trong thực tiễn công tác kế toán và giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước tiến hành kiểm tra kiểm soát hoạt động kinh tế doanh nghiệp
Nhược điểm
- Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo của các doanh nghiệp ngoài bản thân doanh nghiệp thì chỉ có các cơ quan quản lý Nhà nước Xuất phát từ yêu cầu là phải quản lý trực tiếp các đơn vị, nên khối lượng thông tin cần cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước rất lớn, vì thế số lượng báo biểu cũng như các chỉ tiêu trên các báo cáo kế toán còn quá nhiều, ảnh hưởng đến công tác lập báo cáo quyết toán và làm tăng chi phí cho việc lập báo cáo kế toán
- Do doanh nghiệp chỉ là đơn vị có trách nhiệm thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh được câùp chủ quản áp dụng theo những yêu cầøu của nền kinh tế, xã hội, chính trị trong từng giai đoạn cụ thể, nên việc sử dụng thông tin trên các báo cáo để ra các quyết định kinh tế cũng như việc xây dựng các phương án kinh doanh chỉ tồn tại về mặt hình thức, chứ không phải là nhu cầu nội tại của doanh nghiệp gắn liền với tính chủ động trong sản xuất kinh doanh và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Điều này làm cho việc lập báo cáo mang tính chất đối phó, nặng về hình thức, phô trương thành tích, phản ánh không trung thực thực trạng tài chính, miễn sao là báo cáo quyết toán năm được cấp thẩm quyền xét duyệt
Trang 31- Hệ thống báo cáo tài chính được lập trong điều kiện mang tính chất đối phó với các cơ quan chức năng của Nhà nước, hơn là để thực hiện các yêu cầu quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là không thẩm tra được một cách chặt chẽ, nên thông tin đó cung cấp sẽ dẫn đến những nhận định, đánh giá thoát ly so với thực tế Từ đó việc ban hành các chính sách, chế độ, thông tư được xây dựng dựa trên những cơ sở giả tạo, gây ra những tác hại rất lớn đối với nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng
2.1.5- THỜI KỲ CHUYỂN TỪ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG SANG CƠ CHẾ
THỊ TRƯỜNG (TỪ NĂM 1987 ĐẾN 1994)
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình đổi mới ở nước ta, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khóa VI năm 1987 đã nêu “Phải thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh đối với đơn vị kinh tế cơ sở đi đôi với việc đổi mới một bước cơ bản về chính sách, phương thức hoạt động và tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước nhằm tạo môi trường kinh doanh cho các đơn vị kinh tế cơ sở phải tuân theo và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế”
Tiếp theo đó, Quyết định 217/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (Chính Phủ) ngày 14/11/1987 được triển khai từ đầu năm 1988 đã xác định lại chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước theo hướng xóa bỏ sự chồng chéo và can thiệp trực tiếp của các cơ quan quản lý Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước Trong thời kỳ này, Nhà nước tiếp tục đổi mới đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô (chính sách tỷ giá, chính sách lao động tiền lương…) theo hướng đổi mới, xóa bỏ và sửa đổi những gì bất hợp lý trói buộc xí nghiệp để đẩy mạnh quá trình tiến tới cơ chế thị trường, trong đó đổi mới quan trọng nhất là xóa bỏ các khoản bao cấp, phân phối hiện vật, hạn chế cấp phát vốn qua ngân sách, nâng cao lãi suất cho vay… Trong thời kỳ này, đối tượng chủ yếu sử dụng thông tin trên báo cáo kế toán của doanh nghiệp vẫn là các cơ quan Nhà nước, nhưng do Nhà nước không còn can thiệp trực tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp, mà tiến hành quản lý các doanh nghiệp thông qua pháp luật, các chính sách kinh tế, nên nhu cầu thông tin của các đối tượng này đối với các kế toán của doanh nghiệp không còn nhiều như trước đây
Trước tình hình trên, hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1986 đã không
còn phù hợp, và hệ thống báo cáo kế toán mới ra đời ngày 18/4/1990 theo Quyết
định số 224-TC/CĐKT của Bộ trưởng Bộ Tài chính, nhằm mục đích:
- Cung cấp số liệu để phân tích hoạt động kinh tế của đơn vị, phát hiện nhân tố tích cực và đề ra những biện pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng kinh doanh, củng cố chế độ hạch toán kinh tế
Trang 32- Cung cấp thông tin cần thiết cho việc xây dựng kế hoạch, đánh giá và lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh
- Tổng hợp và đánh giá một cách tổng quát, toàn diện tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sau một kỳ hạch toán, tình hình và triển vọng của đơn vị về mặt tài chính
- Củng cố và nâng cao chất lượng công tác hạch toán ở cơ sở, đảm bảo cung cấp những nguồn thông tin vững chắc, tin cậy, kịp thời phục vụ yêu cầu quản lý của đơn vị và sự kiểm soát của Nhà nước
Hệ thống báo cáo kế toán kỳ này chỉ gồm 4 báo biểu :
1 Bảng tổng kết tài sản (01/BCKT)
2 Kết quả kinh doanh (02/BCKT)
3 Chí phí sản xuất theo yếu tố (03/BCKT)
4 Bảng giải trình về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (04/BCKT)
So sánh với hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1986, hệ thống báo cáo kế toán kỳ này có những cải tiến như sau:
- Giảm bớt về số lượng báo biểu: giảm 5 biểu, trong đó: tăng 1 biểu (biểu 4/BCKT), giảm 6 biểu ( biểu 13/CN, 15/CN, 16/CN, 18/CN, 19/.CN, 20/CN)
- Giảm bớt số lượng các chỉ tiêu trên báo cáo, chẳng hạn như: Bảng tổng kết tài sản (năm 1986) có 108 chỉ tiêu, năm 1990 còn 100 chỉ tiêu
- Kỳ hạn lập các chỉ tiêu (năm 1986): quí, 6 tháng, 9 tháng, năm; năm 1990: quí, 6 tháng, năm
Qua hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1990 và qua thời gian áp dụng vào trong thực tế, có thể đánh giá một cách khái quát ưu và nhược điểm của hệ thống báo cáo trong thời kỳ này như sau :
Trang 33- Do nhu cầu thông tin của các cơ quan quản lý cấp trên và nhu cầu thông tin của nhà quản lý doanh nghiệp trong thời kỳ này có xu hướng tách rời nhau, nên đã xuất hiện mầm mống của việc hình thành 2 hệ thống báo cáo kế toán: báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị, rất phù hợp với quan điểm xây dựng hệ thống báo cáo kế toán trong nền kinh tế thị trường Và đây cũng là lý do mà hệ thống báo cáo kế toán định kỳ đã giảm bớt số lượng báo biểu một cách đáng kể, mang dáng vẻ của hệ thống báo cáo tài chính
- Đã xây dựng và đưa vào sử dụng một hệ thống báo cáo kế toán đã được đổi mới rất cơ bản phù hợp với cơ chế quản lý mới đang hình thành
Những thành tựu nói trên tuy chưa tạo ra sự chuyển biến rõ nét về chất lượng của hệ thống báo cáo kế toán, nhưng đã mở ra những khả năng và đã tạo được tiền đề để hệ thống báo cáo kế toán nước ta được hoàn thiện hơn trong những năm tới
• Nhược điểm:
Do nền kinh tế thị trường trong giai đoạn này còn mới phôi thai, cơ chế quản lý còn đang trong quá trình định hình và các công cụ quản lý chưa thực hiện đồng bộ, còn nhiều thiếu sót, hệ thống các văn bản pháp qui về kế toán trong điều kiện của kinh tế thị trường chưa đầy đủ, còn mang nặng dấu ấn của cơ chế hành chính bao cấp, nhiều qui định còn cách biệt quá xa so với chuẩn mực kế toán quốc tế, công tác chỉ đạo thực hiện và kiểm tra còn yếu, kém hiệu lực… Tất cả những vấn đề trên đã góp phần làm cho các thông tin được cung cấp trên các báo cáo thiếu chính xác, thiếu trung thực, không đảm bảo độ tin cậy, kỷ luật lỏng lẻo, việc sử dụng thông tin trên báo cáo kế toán trong quản lý bị hạn chế, kém hiệu quả ở tất cả các cấp quản lý vĩ mô và vi mô
2.1.6- THỜI KỲ NỀN KINH TẾ NƯỚC TA CHUYỂN SANG CƠ CHẾ THỊ
TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY)
Trong thời kỳ này, đi đôi với việc tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp quan trọng để cải tiến và hoàn thiện từng bước công tác kế toán và trên thực tế cũng đã thu được những kết quả nhất định, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi những chủ trương, đường lối đổi mới nền kinh tế đất nước
Tuy nhiên, vào tháng 5/1994 với nhận định của Tổ cải cách chế độ kế toán doanh nghiệp ”Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện nay tuy đã được bổ sung cải tiến khá cơ bản, nhưng vẫn còn dừng lại ở chế độ kế toán của bước quá độ chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, càng ngày càng bộc lộ nhiều mặt lạc hậu không thích hợp với kinh tế thị trường và không phù hợp với thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế phổ biến”, đã cho thấy rõ nhược điểm của chế độ kế
Trang 34toán hiện hành, và từ đó đã tiến hành một công cuộc cải cách chế độ kế toán, theo định hướng như sau:
- Đích thực là kế toán của kinh tế thị trường
- Phù hợp với định hướng phát triển và cơ chế quản lý của Việt Nam
- Hội nhập với thông lệ và chuẩn mực kế toán phổ biến của quốc tế
- Đơn giản, nhưng đồng thời đáp ứng được những yêu cầu khác nhau của người sử dụng thông tin kế toán, đặc biệt là yêu cầu quản lý và kiểm soát của Nhà nước, yêu cầu quản trị kinh doanh của doanh nghiệp
- Thuận tiện cho việc sử dụng tin học
Kết quả của quá trình cải cách đã ra đời Hệ thống Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995, trong đó bao gồm: hệ thống tài khoản, chế độ chứng từ ban đầu, chế độ sổ kế toán và hệ thống báo cáo tài chính Như vậy, đây là lần đầu tiên báo cáo kế toán định kỳ được gọi tên chính thức là báo cáo tài chính, nhằm cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kết quả hoạt động kinh doanh và sự biến động về tình hình tài chính của các doanh nghiệp Hệ thống báo cáo tài chính ra đời đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới công tác quản lý kinh tế của nước ta trong giai đoạn tiếp tục chuyển nền kinh tế phát triển theo kinh tế thị trường, theo định hướng Xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời cũng đảm bảo sự phù hợp nhất định đối với thông lệ và chuẩn mực quốc tế về kế toán
Hệ thống báo cáo tài chính kỳ này bao gồm 4 báo biểu:
1 Bảng cân đối kế toán (B01-DN)
2 Kết quả hoạt động kinh doanh (B02-DN)
3 Lưu chuyển tiền tệ (B03-DN)
4 Thuyết minh báo cáo tài chính (B09 -DN)
So sánh với hệ thống báo cáo kế toán ban hành năm 1990, hệ thống báo cáo tài chính ban hành kỳ này có các thay đổi như sau :
- Tổng số báo biểu, trong đó: tăng 1 biểu (B 03-DN), giảm 1 biểu (03/BCKT)
- Giảm bớt số lượng các chỉ tiêu trên báo cáo, chẳng hạn như : Bảng tổng kết tài sản (năm 1990): 100 chỉ tiêu, bảng cân đối kế toán (năm 1995): 94 chỉ tiêu Tóm lại, trong những năm qua, ở nước ta đã diễn ra một cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, điều này đã chi phối đến định hướng phát triển kế toán nói chung và hệ thống báo cáo cho các doanh nghiệp nói riêng, với mục đích là đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng
Trang 352.4- THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN HÀNH:
2.2.3- HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY:
Qua xem xét nghiên cứu hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam đang sử dụng, đồng thời đối chiếu với các thủ tục và nguyên tắc lập báo cáo tài chính của một số nước trên thế giới có thể thấy rằng, về đại thể có nhiều điểm tương đồng, phù hợp với quy định của chuẩn mực quốc tế về kế toán Bên cạnh những điểm chung, thì thủ tục và nguyên tắc lập báo cáo tài chính của Việt Nam còn có những điểm đặc thù, bởi nó còn là tài liệu phục vụ cho yêu cầu quản lý của Nhà nước trong những điều kiện nhất định, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa và doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn chiếm đại bộ phận và đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
2.2.1.1- Mục đích của việc lập báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập với mục đích sau:
- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán
- Cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra các quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của các chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp
2.2.1.2- Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính:
Chế độ kế toán của Việt Nam qui định cụ thể hình thức và nội dung của hệ thống báo cáo tài chính gồm 4 biểu mẫu báo cáo, áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, cụ thể như sau:
1- Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành các tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành các
Trang 36tài sản đó Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần: Phần tài sản và phần nguồn vốn
2- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp, phân tích tổng quát tình hình và kết quả trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác; tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác
Trong đó:
- Hoạt động kinh doanh chính: là nhừng hoạt động sản xuất, mua bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ Hoạt động khác bao gồm hoạt động tài chính và hoạt động bất thường
- Hoạt động tài chính gồm các hoạt động góp vốn tham gia liên doanh, đầu tư mua bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, cho thuê tài sản, cho vay…
- Hoạt động bất thường gồm: nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu nợ khó đòi đã xử lý xóa sổ, nợ phải trả không xác định được chủ…
Hiện nay, kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần chính:
- Phần I : Báo cáo lãi lỗ
- Phần II : Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
- Phần III : Thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm
3- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thực chất là một báo cáo cung cấp thông tin về những sự kiện và nghiệp vụ kinh tế phát sinh có ảnh hưởng đến tình hình tiền của một doanh nghiệp
Quá trình tiền tệ lưu chuyển ở doanh nghiệp qua các dòng thu và chi của 3 hoạt động chủ yếu: Hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính Quá trình lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong doanh nghiệp có thể thực hiện bằng 2 phương pháp, phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp
- Phương pháp trực tiếp: Các dòng thu (hoặc chi) được xác định một cách riêng biệt từng dòng tiền phát sinh của hoạt động sản xuất kinh doanh Sau đó lấy tổng dòng thu trừ (-) tổng dòng chi, ta được dòng tiền thuần
Trang 37- Phương pháp gián tiếp: Ở báo cáo lưu chuyển tiền theo phương pháp gián tiếp thì chỉ có phần I được xác định một cách gián tiếp trên cơ sở những nhân tố tác động đến lượng tiền lưu chuyển trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm của phương pháp gián tiếp là không hoàn toàn dựa vào sự tăng giảm của tiền trong các nghiệp vụ kinh tế phát sinh khác nhau để tính toán lượng tiền lưu chuyển, mà nó bắt đầu từ tổng lợi nhuận trước thuế và thông qua các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp tiến hành điều chỉnh tiền tăng hoặc giảm so với tổng lợi nhuận trước thuế để từ đó xác định lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
4- Thuyết minh báo cáo tài chính:
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lực chọn để áp dụng; tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng; phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉ tiêu theo nội dung đã quy định trong thuyết minh báo cáo tài chính, ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể trình bày thêm các nội dung khác nhằm giải thích chi tiết hơn tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.1.3- Trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính:
Theo nghị định 59 CP, trách nhiệm đối với báo cáo tài chính là thuộc trách nhiệm của Giám đốc doanh nghiệp và Hội đồng quản trị (nếu có) Tuy nhiên, theo thông tư số 73TC/TCDN, nếu báo cáo tài chính không đúng sự thật, không đủ các chứng cứ hợp pháp, hoặc không kịp thời thì người lập, người kiểm toán, kế toán trưởng và giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Tất cả các doanh nghiệp độc lập (không nằm trong cơ cấu tổ chức của một doanh nghiệp khác), có tư cách pháp nhân đầy đủ đều phải lập và gửi báo cáo tài chính theo đúng quy định Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tiền tệ, tạm thời chưa quy định là báo cáo bắt buộc phải lập và gửi, nhưng khuyến khích các doanh nghiệp lập và sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Các báo cáo được lập và gửi vào cuối mỗi quý (cuối tháng thứ 3, thứ 6, thứ 9, thứ 12 kể từ ngày bắt đầu niên độ kế toán) để phản ánh tình hình hình tài chính quý đó và vào cuối niên độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính niên độ kế toán đó
Trang 38Các doanh nghiệp có thể lập báo cáo tài chính hàng tháng để phục vụ yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Báo cáo tài chính quý được gửi chậm nhất là sau 15 ngày, kể từ ngày kết thúc quý và báo cáo tài chính năm được gửi chậm nhất là sau 30 ngày kể từ sau ngày kết thúc niên độ kế toán
Nơi nhận báo cáo tài chính được quy định như sau:
NƠI NHẬN BÁO CÁO CÁC LOẠI DOANH NGHIỆP
ĐẦU TƯ
THỐNG KÊ
DN cổ phần (có cổ phần của Nhà
2.2.1.4- Nguyên tắc đánh giá:
Theo chế độ kế toán Việt Nam, yêu cầu có tính nguyên tắc trong đánh giá là tài sản và công nợ được ghi nhận theo giá thực tế, cụ thể là tài sản được ghi nhận theo khoản tiền phải bỏ ra ban đầu để mua sắm, công nợ được ghi nhận theo khoản tiền nhận được khi các nghĩa vụ liên quan được phát sinh Ngoài ra, giá trị tài sản trên báo cáo tài chính còn được đánh giá theo giá trị thuần, nhằm đảm bảo tính thận trọng khi trình bày thông tin trên báo cáo tài chính
Điều 14, mục d trong Qui chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước (ban hành kèm theo Nghị định số 59/CP ngày 03/10/1996 của Chính Phủ), cho phép doanh nghiệp Nhà nước điều chỉnh giá tài sản để đảm bảo giá trị thực tế tài sản của doanh nghiệp, đồng thời Thông tư số 44/TC/TCDN do Bộ Tài chính ban hành ngày 08/07/1997 cho phép doanh nghiệp cuối năm tài khóa điều chỉnh giá tài sản, công nợ phải thu, công nợ phải trả có gốc bằng ngoại tệ theo tỷ giá tại thời điểm điều chỉnh (Tỷ giá mua vào, bán ra thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm có nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá mua vào, bán ra thực tế)
Việc trình bày các phương pháp đánh giá tài sản trên thuyết minh báo cáo tài chính là bắt buộc
Đối chiếu với những nguyên tắc đánh giá của Hoa kỳ ta thấy:
Tài sản và công nợ được ghi nhận theo giá phí nguyên thủy Trong một số trường hợp, việc điều chỉnh giảm theo giá thị trường hoặc giá trị ròng có thể được thực hiện theo chỉ định của GAAP trong một số trường hợp cụ thể
Trang 39Đối chiếu với các nguyên tắc đánh giá của Cộng đồng Châu Âu ta thấy: Nguyên tắc đánh giá cho những tài sản cụ thể dựa trên nguyên tắc giá mua hoặc chi phí tự sản xuất, nhưng quyền tùy chọn của các nước thành viên cho phép sử dụng một số phương pháp đánh giá khác (bao gồm việc đánh giá lại các tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định tài chính ) miễn là trình bày đầy đủ giá phí nguyên thủy hoặc sự chênh lệch giữa giá phí nguyên thủy và phương pháp đánh giá được sử dụng
Sự trình bày những phương pháp đánh giá áp dụng cho các khoản mục trên các báo cáo tài chính là bắt buộc Bất kỳ sự thay đổi nào về phương pháp đánh giá cũng phải được công khai trên báo cáo tài chính, cùng với những lý do của sự thay đổi cũng như tác động về mặt tài chính của chúng
2.2.4- ƯU ĐIỂM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI CỦA HỆ THỐNG BÁO
CÁO TÀI CHÍNH ÁP DỤNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY:
2.2.2.1- Những ưu điểm của hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam
hiện nay:
Hệ thống báo cáo tài chính ban hành theo quyết định số 1141 TC/CĐKT ngày 01/11/1995, đã đưa vào sử dụng chính thức từ 01/01/1996 cho đến nay, về cơ bản đã thể hiện tư tưởng cải cách triệt để so với các hệ thống báo cáo kế toán trước đây, đồng thời đã cho thấy hệ thống báo cáo kế toán này đã phát huy tác dụng trong thực tiễn công tác kế toán Hệ thống báo cáo tài chính đã đáp ứng được yêu cầu dễ làm, dễ hiểu, công khai, dễ kiểm tra trong điều kiện nền kinh tế thị trường Đồng thời thể hiện sự vận dụng hợp lý, có chọn lọc các chuẩn mực quốc tế về kế toán phù hợp môi trường kinh tế và pháp luật của nước ta
Tuy số báo biểu không thay đổi so với báo cáo kế toán ban hành năm 1990, nhưng quan điểm thiết kế báo cáo và các chỉ tiêu đã có những thay đổi rất lớn:
- Các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được thiết kế lại, phù hợp với thông lệ quốc tế Bảng cân đối kế toán được sắp xếp hợp lý hơn và bổ sung thêm các chỉ tiêu nhằm phản ảnh đầy đủ các hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với các nguyên tắc điều hành kinh tế trong nền kinh tế thị trường
- Báo cáo kết quả kinh doanh thiết kế theo 3 loại hình hoạt động (kinh doanh chính, hoạt động tài chính, hoạt động bất thường), với sự sắp xếp các chỉ tiêu hợp lý, thuận lợi cho việc đọc và phân tích kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ lần đầu tiên xuất hiện trong hệ thống báo cáo kế toán của Việt Nam (để phù hợp với chuẩn mực quốc tế về kế toán), nhằm phản ánh những biến động về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp người đọc
Trang 40nhận thức được quá trình hình thành và lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo Từ đó cho phép đánh giá khả năng tạo ra tiền và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Biểu chi phí sản xuất theo yếu tố được chuyển thành một nội dung của báo cáo thuyết minh
- Báo cáo thuyết minh lần này bao gồm các nội dung bắt buộc các doanh nghiệp phải giải trình, chứ không phải như báo cáo thuyết minh trước đây (1990) là do doanh nghiệp tự giải trình
- Với nhận thức mới về đối tượng sử dụng thông tin kinh tế trong nền kinh tế thị trường, các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính được xây dựng không những đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước, mà còn giúp nhà quản lý cũng như các đối tượng sử dụng bên ngoài đánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp Hệ thống báo cáo kế toán này chính thức gọi là hệ thống báo cáo tài chính (được lập dựa trên các nguyên tắc kế toán nhất định), và như vậy trong giai đoạn này chính thức có sự phân biệt giữa báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị
- Hệ thống báo cáo kế toán đã thể hiện sự gắn bó giữa đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp với nhu cầu cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng trong cơ chế thị trường, kể cả yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, đã có sự hội nhập các thông lệ và chuẩn mực quốc tế về kế toán, thuận lợi cho việc ứng dụng tin học vào việc lập báo cáo tài chính
- Hệ thống báo cáo này đã phản ánh một số các đối tượng kế toán mới phát sinh trong cơ chế thị trường như: các khoản đầu tư chứng khoán ngắn và dài hạn, các khoản đầu tư khác, các khoản dự phòng, các khoản thế chấp, ký cược, ký quĩ, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính… điều này làm cho hệ thống báo cáo tài chính dễ tương thích hơn với những thay đổi phát sinh trong nền kinh tế thị trường
2.2.2.2- Những vấn đề còn tồn tại của hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay:
Mặc dù đã có những cải cách tích cực và có những ưu điểm như đã trình bày
ở trên, hệ thống báo cáo tài chính hiện hành trong quá trình áp dụng trong thực tiễn cho đến nay, đã bộc lộ những hạn chế cần được khắc phục sau :
1- Môi trường pháp lý về kế toán chưa hoàn thiện:
Pháp lệnh Kế toán - Thống kê đã ban hành từ 10/05/1988, và Điều lệ Tổ chức Kế toán Nhà nước cũng đã ban hành kèm theo Nghị định số 25-HĐBT ngày 18/03/1989 Đến nay, khi nền kinh tế thị trường đã phát triển, chính sách kinh tế đã có nhiều thay đổi, các văn bản pháp qui nói trên đã tỏ ra lạc hậu, không còn thích hợp, cần phải được nhanh chóng đổi mới Chính do môi trường pháp lý của kế