1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát giá trị văn bản truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm

66 327 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 42,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nữ tác gia văn học trung đại Việt Nam - Đoàn Thị Điểm 1705 - 1746 không chỉ nổi tiếng với văn bản diễn nôm “Chỉnh phụ ngảm” mà người đời tương truyền là của bà mà còn nổi tiếng với tác p

Trang 1

PAL HOC OU CU GEA HÀ NÓI

TỦ CĐ HIẠEHIM KHIÁ HỌO XÃ HỘI VÃ NHAN VẬN

KHAO SAT GIA TRI

CUA DOAN THI FEM

LUAN VAN THAC Sy

SHEE NANT: AN NO

Trang 2

% Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 10

Chuong I DOAN THI DIEM VA TRUYEN KỲ TAN PHA

1.1 Doan Thi Điểm: 12

ChươngII CÁC GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

CỦA TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ

IL1 Giá trị Nội dung của Truyền kỳ tân pha 43 II2 Phong cách Nghệ thuật của Truyền kỳ tân pha 51

Trang 3

PHAN MO DAU

1 Lý do chọn đề tài:

Truyền kỳ là một trong những thể loại tiêu biểu của văn học trung đại các nước Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng Văn học trung đại

Việt Nam có tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ được coi là “thiên cổ kỳ

bút” như trường hợp “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ

Nữ tác gia văn học trung đại Việt Nam - Đoàn Thị Điểm (1705 - 1746) không chỉ nổi tiếng với văn bản diễn nôm “Chỉnh phụ ngảm” mà người đời tương truyền là của bà mà còn nổi tiếng với tác phẩm “Truyền kỳ tdn pha”

Truyền kỳ tân pha la một tác phẩm văn học theo thể loại truyền ky

được viết bằng văn ngôn chữ Hán, được người đời truyền tụng với những truyện về những nhân vật kỳ ảo như: Bích Châu, Giáng Tiên, Liệt nữ An Ấp lại được diễn đạt bằng một lối hành văn tuyệt vời, từ ngữ mượt mà, hấp dẫn lôi cuốn người đọc Chính vì vậy, khi bà còn sống cũng như sau khi

bà mất, người đời đua nhau truyền tụng tác phẩm của bà Nhà in Lạc thiện đường năm Gia Long thứ 10 (1811) đã cho ấn hành lưu truyền rộng rãi trong dân gian

Trong thời kỳ hiện đại, khi khoa cử từ chương bị phế bỏ, số người biết chữ Hán ít đi, Truyền kỳ tân phẩ lại được dịch sang tiếng Việt ghi bằng chữ quốc ngữ (chẳng hạn bản dịch Truyền ky tan phd do Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp phiên dịch và chú thích, Hoàng Hữu Yên hiệu đính và giới thiệu, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1962) Đồng thời giới nghiên cứu văn học, văn hoá, lịch sử lại đi sâu vào các phương diện cụ thể để nghiên cứu các vấn

đề về ý nghĩa lịch sử - xã hội - văn hoá cũng như các tài năng nghệ thuật

Trang 4

thôi Van dé van ban Han Van của Truyén ky tan phd van là một đề tài còn

bỏ ngỏ Bởi vậy, khảo sát văn bản tác phẩm Hán văn này ở dạng nguyên tác của nó sẽ hứa hẹn nhiều điều thú vị, làm tăng thêm những hiểu biết của chúng ta về thực trạng văn bản tác phẩm Truyền kỳ tân phả viết bằng văn ngôn chữ Hán, nâng cao năng lực đọc văn bản Hán văn của những người làm công tác nghiên cứu Hán Nôm nói riêng, nghiên cứu ngữ văn trung đại

nói chung, làm sâu sắc thêm những hiểu biết của chúng ta về giá trị nhiều

mặt của tác phẩm Truyền kỳ tân phả Bởi vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề

“Khảo sát giá trị văn bản Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm” làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Hán Nôm của mình

2 Mục đích của đề tài:

Đề tài có những mục đích sau:

- Tìm hiểu và hệ thống hoá những thông tin về tác gia văn học trung

đại Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, làm cơ sở cho những nghiên cứu cụ thể văn bản tác phẩm Truyền kỳ tân phả của bà

- Hệ thống hoá và mô tả chỉ tiết hiện trạng của văn bản Truyền kỳ tân pha bang van ngôn chữ Hán đang được lưu trữ tại các thư viện và các trung tâm nghiên cứu

- Tiến hành các thao tác văn bản học cần thiết để nêu ra những điểm

đáng lưu ý về tình hình văn bản Truyền kỳ tân phá

- Tìm cơ sở những nghiên cứu văn bản học bàn về văn bản Truyền kỳ tân phả, luận văn sẽ đi vào phân tích một số khía cạnh chủ yếu về giá trị của tác phẩm này từ góc độ ngữ văn cũng như góc độ văn bản sử

3 Ý nghĩa của đề tài:

- Luận văn đi vào mô tả và nghiên cứu kết cấu văn bản cho nên sẽ làm sáng rõ những vấn đề văn bản học của văn bản

- Từ những cơ sở văn bản học của văn bản sẽ làm sáng rõ giá trị của tác phẩm Truyền kỳ tân pha cing như văn tài Hán văn của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứn:

Truyền kỳ tân phả từ khi ra đời cho đến bây giờ đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến theo nhiều góc nhìn

7

Trang 5

Có thể liệt kê ra đây một danh sách không đầy đủ về những đề cập có

liên quan đến Truyền kỳ tân phẩ hoặc toàn bộ tác phẩm, hoặc là từng truyện

theo các hướng quan tâm rất khác nhau

Trước hết là nhóm những công trình, những ghi chép có đề cập đến Truyền kỳ tân pha va tac giả của nó có tính cách thư mục học hay những

ghi chép rất sớm về tác phẩm

Phan Huy Chú, Lich triéu Hiến chương loại chí, phần Truyện ký,

mục Văn tịch chí có ghi về kết cấu của truyện Truyền kỳ tân phđ, một tên

gọi khác của nó là Tuc truyén kỳ nhằm xác định cả tập gồm có 6 truyện

Đoàn thị thực lục đo con rễ Đoàn Doãn Y (Đoàn Doãn Y là con trai

Đoàn Doãn Luân, cháu gọi Đoàn Thị Điểm bằng cô) khi đề cập đến Truyền

kỳ tân phả cũng có đề cập đến vấn đề cấu trúc nội bộ của tác phẩm và xác định có 5 truyện

Phạm Đình Hổ Nguyễn Án - Tang thương ngẫu lục - Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, Nhà xuất bản văn học, Hà Nội 1972 cũng có những điểm

Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (bộ mới), nhà xuất bản Tổng hợp

thành phố Hồ Chí Minh, tái bản lần thứ VII, 2006 đều đề cập đến nữ danh

nhân Hồng Hà cũng như tác phẩm Truyền kỳ tân phđ của bà

Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, tái bản, có chỉnh lý và bổ sung, nhà xuất bản văn hóa thông tin năm 2007

đã đề cập đến tiểu truyện của bà Đoàn Thị Điểm

Di sản Hán Nôm Việt Nam — Thủ mục đề yếu, Trần Nghĩa, F.Gros đồng chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1993 (3 tập) đã giới thiệu chi tiết các văn bản Truyền kỳ tân phá hiện đang lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm

Trang 6

Nhóm hai là những công trình thuộc vào phạm trù phiên dịch, chú giải như:

- Truyền kỳ tân pha, Ngo Lap Chi, Tran Van Giáp phiên dịch và chú thích, nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1962

- Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Trần Nghĩa chủ biên, nhà xuất bản thế giới, 1997

Nhóm ba là những công trình có tính tiểu truyện thuộc phạm trù các công trình sách danh nhân như:

Bùi Hạnh Cẩn, Bà Điểm họ Đoàn, Trung tâm hoạt động văn học khoa

học Văn Miếu —- Quốc Tử Giám, Thư viện Hà Nội

Đỗ Thị Hảo, Hồng Hà nữ sĩ, nhà xuất bản phụ nữ, Hà Nội năm 1986 Nhóm bốn là những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu

hiện đại theo các chủ đề về tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa dân gian Số công

trình có để cập đến Truyền kỳ tân phẩ nhiều như thế chính là ở chỗ, trong Truyền kỳ tân phả có nhiều truyện có liên hệ đến các lễ hội dân gian và tín ngưỡng dân gian Chẳng hạn Vân Cát thần nữ truyện được đề cập đến trong tất cả các công trình về tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng thờ mẫu Do vậy, thật khó có thể liệt kê hết các công trình đó được Ở đây, với tư cách như là những ví dụ, chúng tôi xin dẫn ra một số công trình có liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng như sau:

- Dinh Gia Khanh, Tuc thờ mẫu và những truyền thống văn hoá dân gian ở Việt Nam, Tạp chí văn học, số 5, 1992

- Vũ Ngọc Khánh, Chúa Liễu qua nguồn thư tịch, Tạp chí văn học, số 5, 1992

- Trần Thị Băng Thanh, Bùi Thị Thiên Thai, Mối liên hệ giữa Truyền

kỳ tân phả và lễ hội gian, Tham luận tại Hội thảo quốc tế năm 2006, viện văn học.org.vn

Cuối cùng là những nghiên cứu về Truyén kỳ tân phả từ góc độ văn học của các công trình văn học sử hay các công trình nghiên cứu chuyên biệt Song những công trình này thường trình bày Truyén kỳ tân pha trong mối quan hệ với thể loại truyền kỳ Đông Á nói chung hay trong mối quan

Trang 7

hệ với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Có thể điểm ra ở đây với tư cách như là những ví dụ như:

Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam — truyện ngắn (tập 1), nhà xuất bản Giáo dục, năm 1999 đã dịch 2 truyện của Truyền kỳ tân phá

Nguyễn Đăng Na, Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007

Vũ Thanh, thể loại truyền kỳ ảo Việt Nam thời trung đại — quá trình

bảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm Văn học Việt Nam thế kỷ X — XIX —

Những vấn đề lí luận và lịch sử Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007

Sự điểm công trình trên đây cho ta một cái nhìn toàn cảnh về những

øì có liên quan đến lịch sử vấn đề nghiên cứu Qua đó chúng tôi cũng thấy vấn

đề văn bản và mô tả văn bản Hán văn của Truyền kỳ tân phđ chưa được đề cập đến nhiều Vì vậy, luận văn này, ở những mức độ hạn chế, chúng tôi sẽ đi sâu hơn về vấn đề văn bản học của Truyền ky tan pha van ngôn chữ Hán

$ Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài:

Từ sự mô tả lịch sử vấn đề nghiên cứu cũng như sự xác định mục đích của nghiên cứu, luận văn chỉ đi vào giới thiệu và mô tả cơ cấu văn bản Truyền kỳ tân phả từ góc nhìn văn bản học Từ đó, trên cơ sở những thu hoạch được từ thực tế phân tích văn bản để đi vào những vấn đề thuộc về

giá trị của tác phẩm

6 Phương pháp nghiêm cứu:

Luận văn sẽ vận dụng các thủ pháp và thao tác văn bản học Hán Nôm

và các thủ pháp và thao tác của ngữ văn học để khảo sát văn bản và phân tích các giá trị của văn bản

7 Kết cấu của Luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Nội dung Luận văn gồm 2 chương: Chương 1 với tiêu để: “Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phđ” nhằm giới thiệu tác giả và tác phẩm về mặt văn bản.

Trang 8

Chương 2 với tiêu đề “Các giá trị nội dung và phong cách nghệ thuật của Truyền kỳ tân phđí” nhằm phân tích một số giá trị thuộc phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

1]

Trang 9

CHUONG I

DOAN THI DIEM VA TRUYEN KY TAN PHA

Để nghiên cứu tác phẩm một cách có cơ sở và hệ thống, chúng ta phải hiểu được cuộc đời và sự nghiệp văn chương của tác giả Vì tác phâm văn học lúc nào cũng như tắm gương phản ánh những gì đang diễn ra, đang đến với cuộc đời tác giả Hiểu được cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồng Hà nữ sĩ, và văn bản Truyền kỳ tân phả , chúng ta mới có thể hiểu được những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Chương 1 chính

là nền tảng cho Luận văn với hai phần chính: phần 1: Hong Ha nit st Doan Thị Điểm, phần 2: Truyền kỳ tan pha

I.1 ĐOÀN THỊ ĐIỂM:

L.1.1 Cuộc đòi:

Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), tên tự là Hồng Hà nữ sĩ, có sách ghi

là Hồng Hà phu nhân, quê quán ở làng Hiến Phạm (còn gọi là Giai Phạm, tên nôm là làng Giữa), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên Bà chính họ là Đoàn, nhưng vì Bà lấy chồng họ Nguyễn (Nguyễn Kiều), nên có sách chép Bà là Nguyễn Thị Điểm Bà sinh năm Ất Dậu, thời nhà Lê Trung Hưng, đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh là Định Vương Trịnh Căn và chúa Nguyễn ở phương Nam là Nguyễn Phúc Chu

Theo gia pha ho Đoàn, Tăng tổ của Bà là ông Lê Công Nẳm, làm quan võ tới chức Thái Thường Thị Thiếu Khanh, được tước phong Thiêm

Hào Tử, Nội tô là Ông Lê Doãn Vi (có bản viết là Lê Công Vị), người có

tài văn học, làm quan đến chức Xã quan Thân phụ là ông Lê Doãn Nghị, từng theo học với các vị Tiến sĩ như Nguyễn Hanh (ở Hoa Cầu, huyện Văn Giang), Đoàn Tuấn Hoà (ở Cự Đồng huyện Siêu Loại), đậu Hương Cống

(Cử Nhân) năm 21 tuổi, nhưng rớt kỳ thi Hội ở Thăng Long, bèn kiếm chỗ dạy học ở kinh kỳ để dồi mài kinh sử chờ khoá thi sau Ông Lê Doãn Nghi

nằm mộng thấy một vị thần linh bảo hãy đổi sang họ Đoàn thì mới hiển đạt

Do đó, ông đổi tên là Đoàn Doãn Nghĩ

lz

Trang 10

Năm Ông được 20 tuổi, lấy một người vợ họ Nguyễn ở quê nhà, sinh được một người con trai tên là Doan Doãn Sỹ, sau cũng thi đậu Hương Cống và làm tri huyện tại Châu Hoan (Nghệ An) Ở Thăng Long, ông có thêm một bà vợ lẽ là con gái quan Thái Lĩnh Bá họ Vũ, nhà ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm Bà sinh một con trai đầu lòng, đặt tên là Đoàn Doãn Luân, qua 2 năm sau, 1705 sinh thêm một cô con gái đặt tên là Đoàn Thị Điểm Ông Đoàn Doãn Nghi vì muốn xa lánh chốn quan trường nên từ chức về thôn Lạc Viên, huyện An Dương ngay thuộc Hải Dương mở lớp dạy học Năm 1729, ông bị bệnh qua đời Hai anh em Luân, Điểm đưa cha

về an táng tại quê nhà Nhiều học trò của ông góp tiền làm một nhà thờ, dựng bia mộ cho thầy học

Hai anh em Luân và Điểm, từ bé được nuôi dưỡng ở gia đình ông bà ngoại là quan Thái Lĩnh Bá Quê của họ Vũ ở làng Vũ Điện, huyện Nam Sang (còn gọi là Nam Xương), nên ngay từ tắm bé, hai anh em thường nghe bà ngoại

kể chuyện Người thiếu phụ Nam Xương là Vũ Thị Thiết nỗi danh tiết liệt

Đoàn Doãn Luân thi đỗ Hương cống, lấy con gái bạn học của cha là cô Lê Thị

Vy sinh được 2 người con một trai, một gái Được một thời gian Đoàn Doãn Luân đưa vợ con về ở luôn quê nhà là làng Hiến Phạm, sau đó chuyền qua làng

Vô Ngại, mở trường dạy học Năm 1735, Doan Doan Luan bi bạo bệnh đột ngột qua đời, để lại 2 đứa con thơ chưa đầy 10 tuổi, một người vợ tật nguyễn,

và mẹ già tóc bạc

Cô Điểm, mặc dầu là con gái nhưng rất được gia đình nâng niu, ngay

từ thuở nhỏ được học chữ nghĩa giống hệt như anh, học đủ Ngũ Kinh và Tứ Thư Ngoài ra cô còn được mẹ dạy nữ công gia chánh làm gì cũng khéo léo như: mía được làm thành lầu cao gọi là Đài chín tầng, những trái hồng ngâm dùng làm hình các Cô tiên múa nón trong Đêm hội Long Trì, những

vỏ trái bưởi được cắt xếp thành hình hoa quỳnh Hai anh em Luân và Điểm lớn lên khôi ngô tuần tú và xinh đẹp, tư chất thông minh và có văn tài đặc biệt Năm 16 tuổi, Đoàn Thị Điểm nỗi tiếng là một tài nữ trẻ tuổi Quan Thượng thư Lê Anh Tuân, mên mộ tài văn chương và đức hạnh của cô nên

13

Trang 11

nhận làm con nuôi Kế từ đó, Đoàn Thị Điểm ở nhà dưỡng phụ tại phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long Đó là địp cô quen biết nhiều người có danh tước, đỗ đạt Cũng vì thế tiếng tăm về tài văn chương và hoa tay khoé léo của cô được đồn vang Trong thời gian ở nhà dưỡng phụ, nữ sĩ có dịp được đọc rất nhiều sách quý của quan Thượng Thư, nên kiến thức càng trở nên sâu rộng Dưỡng phụ muốn cô có dịp đem tài năng thi thố nên tiến cử

cô vào dạy học tại cung Chúa Trịnh, song cô nhất quyết từ chối vì không muốn bị gò bó trong trốn triều đình Khi cha mất, Đoàn Thị Điểm xin với dưỡng phụ cho phép về quê nhà để chăm sóc mẹ già, giúp anh chị quán xuyến công việc, khi anh đau yếu nữ sĩ thường thay thế anh giảng dạy đám học trò Anh trai qua đời, gia cảnh bấy giờ rất hiu quạnh, nữ sĩ phải mở hiệu bắt mạch, bốc thuốc cho người dân quanh vùng Cô có tâm lại có tài nên người đến chữa rất đông, nhờ đó nuôi được mẹ già và lo cho 2 cháu cùng chị dâu được tươm tất Trong thời gian này, nhiều người đem lễ vật tới cầu hôn, nhưng cô từ chối Cô rất kén chồng vì muốn tìm người tài đức, không màng đến giàu sang chức tước Nhân dịp có người tiễn cử nữ sĩ vào phủ Chúa dạy học, cô nhận lời để tránh không phải đối phó với những kẻ không xứng đến cầu hôn Làm việc ở trong phủ chúa, cô chu cấp tiền nuôi

mẹ già, chị dâu và hai cháu Sau một thời gian, cô chán nản cảnh quan lại xấu xa, triều đình thối nát nên xin về quê Giặc giã nỗi lên khắp nơi, nữ sĩ cùng mẹ, chị dâu và 2 cháu bỏ làng Vô Ngại, tan cu đến làng Chương, Dương bên bờ sông Nhị Hà, gần Hà Nội Cô quyết tâm mở trường dạy học, đào tạo nhân tài Trong số học trò của cô sau này có ông Đoàn Duy Doãn người làng Chương Dương thi đậu tiến sĩ năm 1763

Ông Nguyễn Kiều, hiệu là Hạo Hiên, sinh năm 1695 tại làng Phú Xá, huyện Hoài Đức, thi dau tiến sĩ năm 21 tuổi, có tài văn thơ lỗi lạc đã nhiều lần đến xin cầu hôn, sau được nữ sĩ đồng ý kết hôn năm 1743 Sau khi về nhà chồng, hai người rất tâm đầu ý hợp, lúc rảnh rỗi thường xướng hoạ văn tho Chua day một tháng sau, quan thị lang Nguyễn Kiều được cử làm Chánh sứ sang triêu công nhà Thanh

14

Trang 12

Trong 3 năm chồng đi sứ, ở nhà nữ sĩ vừa chăm sóc ba đứa con chồng vừa nuôi mẹ gia va hai chau Đúng thời gian chồng đi sứ, Đặng Trần Côn có gửi cho bà thi phẩm Chinh phụ ngâm viết bằng Hán văn Vì tác phẩm rất hay và hợp với nỗi lòng người vợ xa chồng nên bà đã dịch ra thơ Nom Tac phẩm đã đưa tên tuổi của bà trường tồn cùng thời gian, là một trong những tác phẩm đỉnh cao của nền văn học nước nhà Sau chuyến đi

sứ thành công, Nguyễn Kiều trở về được đọc bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm và bức tâm thư bày tỏ niềm thương nỗi nhớ của người vợ xa chồng khiến ông vô cùng xúc động và cảm phục tài năng của vợ Ông được vua khen thưởng và thăng chức làm Tham Thị ở Nghệ An Đoàn Thị Điểm chưa muốn theo chồng vào miền Trung vì ở nhà còn mẹ già và hai cháu, linh tính báo trước cho bà có điều gì không lành trong chuyến đi, song Nguyễn Kiểu hết lời nài nỉ nên bà đành chiều chồng, xuống thuyền vào Nghệ An với nỗi lòng lo âu khôn xiết Thuyền xuôi dòng sông Nhị Hà, theo cửa Thần Phù để vào sông Chính Đại Lúc thuyền đến bến Đền Sòng, nơi thờ Công Chúa Liễu Hạnh, Đoàn Thị Điểm bị cảm rất nặng Biết mình không qua khỏi, bà trăn trỗi cùng chồng: “Chàng nên cố gắng lo tròn việc nước để trở về kinh sớm ngày nào tốt ngày đó, chớ nên ở lâu nơi chốn biên thuỷ này mà dấn thân vào nơi gió bụi hiểm nguy” Bà từ trần ngày 11 tháng

9 năm Đinh Mão (1748), hưởng thọ 44 tuổi Nguyễn Kiều vô cùng thương tiếc người vợ tài ba lỗi lạc, ông quàn quan tài vợ tại Nghệ An, đến một tháng sau mới đưa linh cữu về quê nhà của bà an táng

I.1.2 Sang tac van hoc:

1.1.2.1 Thi pham:

Khi thiếu thời, những lúc nhàn rỗi, nữ si Đoàn Thị Điểm thường ngâm vịnh với anh trai Đoàn Doãn Luân Khi có chồng thì đối đáp cùng chàng Số lượng có đến mấy trăm bài, thường viết bằng chữ Hán, hiện nay hầu như that lạc hêt cả Có nhiêu bài còn sót lại, có thê dân chứng 2 bài làm ví dụ:

Trang 13

Hưng thu

Thu vẻ gió mát nhẹ mưa bay,

Muôn mảng thơm trong ắp chén đây,

Trời biển chừng nhiêu đàn sáo nồi,

Cuộc đời may có chuyến chơi nay

Niễm vui dạo đêm

Sao nhỉ! Đêm xuân đốt đuốc choi,

Sáng như ngày hửng, quế thơm trời

Cau Ngân bến Hán treo cao nhịp,

Phách ngọc đâu thu toả nhá ngời

Đông nội trước nay nhìn chả khác,

Phần hoa vua chúa đất xưa thôi

Hưng về chẳng quản sông hồ lạ,

Một mái chèo thênh chuốc rượu mời

Thơ bả thường có tâm thái thư thả, phóng khoáng, hướng ra thiên nhiên với nỗi lòng hoài cổ Việc sưu tầm và tìm lại các thi phẩm này quả là khó khăn

Khi bà lập gia đình, trong thời gian Nguyễn Kiều đi sứ ba năm, bà ở nhà diễn Nôm tác phẩm Chỉnh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Lời thơ đẹp

đẽ, giàu âm điệu, diễn tả sinh động hình ảnh người chinh phụ nhớ chồng Khúc ngâm này có 412 câu song thất lục bát, là một trong những tác phẩm nỗi tiếng của văn học nước nhà

1.1.2.2 Van pham:

Sau khi than phu mat, Ba Doan Thi Diém vé quê nhà chăm sóc mẹ già Trong thời gian này, bà có viết tập sách Truyền kỳ tân phả hay Tục truyền kỳ bằng Hán văn, nối tiếp cuốn Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Tác phẩm này được biên soạn rất công phu, nội dung viết về những người

phụ nữ tài giỏi và tiết liệt Anh bà là Đoàn Doãn Luân, hiệu là Tuyết Am,

tự là Đạm Như Phủ viết lời bình

16

Trang 14

Số lượng truyện trong tác phẩm 7uyền kỳ tân phả đang là đề tài tranh cãi, có thể tạm liệt kê những truyện cơ bản được coi là của Đoàn Thị Điềm gồm có:

- Hải khẩu linh từ Xÿ r1 # 7

- Van Cat than nt 2 BH 4

- An dp liét nit & 8 5ƒ

1.2 TAC PHAM TRUYEN KY TAN PHA:

1.2.1 Van dé vé van ban:

Các văn bản hiện còn lưu giữ tại Thư viện của Viện nghiên cứu Han Nom:

- Bản khắc in mang kí hiệu A.48: 182 tr, 27 x 16 em, gồm 6 truyện I

mục lục, in tai Lac Thién Dudng nam Gia Long 10 (1811)

- Van ban mang tén Tuc truyén ky VHv.2959: 84 tr, 24 x 16 cm, in tại Lạc Thiện Đường năm Gia Long (1811), gồm 3 truyện khắc in

- Bản chép tay gồm co VHv.1487: 158 tr, 27 x 15 cm, trang 8 dong, dòng xấp xỉ 23 chữ, 1 mục lục gồm 6 truyén va VHv.415-VHv.416, chép bằng bút sắt khổ 21x17 em, chỉ có một truyện 8íeh Câu kỳ ngộ

12.2 Hoàn cảnh ra đòi:

Cuộc chiến tranh phù Lê diệt Mạc chấm dứt cuối năm 1592 sau khi con cháu triều Mạc chạy lên ân náu tại Cao Bằng Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, cai trị toàn cõi Đàng Ngoài, đặt phủ chúa với hệ thống quan lại riêng, định chế độ cha truyền con nối, thu tóm moi quyền hành bên cạnh

triều đình vua Lê bù nhìn

Chúa Trịnh, một mặt phát động chiến tranh chống chúa Nguyễn ở Đàng Trong (đánh lớn từ 1527 tới 1572) và đánh dẹp nhiều cuộc nổi dậy của nông dân đàng ngoài, mặt khác ra sức ồn định tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa và ngoại giao Những năm năm mươi của thế kỷ 1§ trở đi, cụ thê là sau khi Trịnh Giang năm quyên bính, thì quả là thảm hoạ

17 18/1441

Trang 15

Ngoài hãm hại những trung thần, cảng ngày bọn Quận Bảo, Quận Thực càng lũng đoạn Bọn chúng cho người đi cướp bóc của cải của nhân dân Vùng Đông Ngàn, Gia Lâm và quanh Hỗồ Tây thời ấy còn nhớ mãi chuyện chuyển một cây đa từ Kinh Bắc về phủ chúa (ở gần phố Bà Triệu

Hà Nội hiện nay) Một cây đa rườm rà to cao gần chục mét, chỉ được chuyên bằng đòn gánh trên vai và khiêng tay đi bộ hàng chục kilômét, phải đưa qua sông Cái mông mênh sóng to gió lớn Qua đó, ta thấy sự cơ cực của dân chúng những vùng bị chúng huy động vào việc chuyển cây như thế nào Những phu khiêng cây hơi chậm trễ là chúng lấy roi, lấy gậy đánh vụt, thậm chí lấy cả gươm chém phạt Qua vụ chuyển cây này số người chết hàng trăm, còn người què cụt tật nguyễn thì không tính xuễ

Hồi còn sống, bố Trịnh Giang là Trịnh Cương tính chuyện cướp ngôi nhà Lê, nên đã cho xây dựng lâu đài Cổ Bi — Nhu Quỳnh là nơi quê ngoại Nhưng tới khi Trịnh Giang làm chúa thì hắn lại bắt rỡ những thứ đã xây dựng ở Cổ Bi - Như Quỳnh chuyên tới Mi Thự là quê mẹ của hắn đề xây dựng dinh thự mới và xây hành cung tại làng Quế Trạo, huyện Yên Phong

là quê hoạn quan Hoàng Công Phụ Kho tàng rỗng tuếch, lụt hạn liên miên,

vơ vét bóc lột không đủ chi tiêu, chúng dùng tới cách bán tước mua quan

Vị dụ người nào nộp 1.800 quan tiền thì được bổ tri huyện, kẻ nào nạp 2.800 quan tiền thì được lam tri phi Hương cống, sinh đồ cũng được đổi

bằng tiền bằng thóc Có anh đỗ tế, mới hôm trước còn đóng khố mô lợn ở

chợ, nhưng nhờ có tiền mua tri huyện, thế là hôm sau đã trở thành quan lớn

là bậc “cha mẹ của dân”, mặc sức làm liều nói láo Chỉ khoảng trong, vòng hơn chục năm, sử sách còn ghi chép tới may chuc vu néi day cua dan cay cac noi Nao 1a Hoan chiém Hung Hoa, Bac chiém huyén Nam Chan,

Tú Cao chiếm Thu Tri, Nguyễn Dền chiếm Sơn Tây, Đồ Tô giữ Phượng Nhãn Lừng lẫy nhất là Quận He từng vùng vẫy bao tỉnh miền Đông, Quận Hẻo từng hùng cứ suốt dãy Tam Đảo, Hoàng Công Chất dọc ngang tới cả rừng núi Mường Thanh, xây thành Bản Phủ, quân Tây Bắc kéo về Đông Ngàn, Kim Hoa chở hang bẻ giông tre Đăng Ngà, tre gai .lên

18

Trang 16

trồng làm rào luỹ Con cháu tiến sĩ Nguyễn Mại ở Hải Dương cũng bỏ quan tước kéo cao cờ nghĩa, anh em họ nhà vua như Lê Duy Mật cũng tìm cách đánh phá Thăng Long, lời hịch của Phạm Công Thế còn truyền tụng mãi, nhà chùa, đạo sĩ cũng nỗi trống tập hợp dân binh chống lại triều đình ngay dưới mái đền miếu Tình hình lắm lúc vô cùng nhiễu loạn, tới mức các tran phải đặt ra lệ đốt lửa báo động truyền đường dài suốt từ Bắc Lạng tới Hoa Diễn Trai tráng các làng luôn bị xua bắt vào lính Ca vè thời đó có câu:

Lính vua lính chúa lính làng

Vì chưng bắt lính cho chàng phải ra

Ví như bắt lính đàn bà

Đề em đi lính lấy và bốn năm

Tình trạng phụ nữ, nhất là các cô vợ trẻ luôn luôn sống trong lo âu sợ hãi Tuổi thanh xuân của Đoàn Thị Điểm đúng vào thời:

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hông nhiễu nỗi truân chuyên

Đứng trước thảm hoạ chiến tranh, các tầng lớp nhân dân nhất là nông dân chỉ còn một mong mỏi được sống trong xã hội ôn định Vì thế, họ vùng lên khởi nghĩa Hàng chục vạn nông dân đã nhiệt liệt hưởng ứng Chính quyền Lê Trịnh lung lay Phong trào nông dân khởi nghĩa nửa đầu thế kỷ tuy chưa thành công nhưng đã giáng những đòn sắm sét đánh vào chế độ phong kiến thối nát, xô đây các tập đoàn thống trị mau sa xuống hồ diệt vong Trên cơ sở suy tàn của chế độ phong kiến, những thứ đạo đức luân lý

lễ giáo Không - Mạnh cổ truyền dần dần mất hiệu lực Phong trào khởi nghĩa đem lại một cuộc sống tự do, thoải mái, lành mạnh thích hợp với yêu cầu của thời đại Văn học dân gian phát triển, văn học cổ điển đạt đến một

bước tiến bộ mới: giàu tính chất hiện thực, giàu tỉnh thần nhân đạo chủ

nghĩa và đậm đà phong vị dân tộc về mặt hình thức Cũng trong giai đoạn

lịch sử này, nền kinh tế hàng hoá phát triển hơn trước, các đô thị tập trung

và phôn vinh hơn trước, làm nảy sinh yêu tô thị dân trong cuộc sông xã hội

19

Trang 17

Vi vay trong van hoc, tinh than chéng phong kién phat trién manh

mẽ, có khi trở nên một trào lưu rất hấp dẫn Dù muốn hay không muốn, dù

có ý thức hay không có ý thức các nhà sáng tác văn học nghệ thuật đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của những tiến triển mới của thời đại

Đoàn Thị Điểm thuộc tầng lớp nhà Nho nghèo Tuy cha anh có đỗ đạt nhưng vẫn là những ông đồ sống bên luỹ tre làng Nhờ vậy, rất gần gũi với nhân dân và dễ tiếp xúc với trào lưu mới của thời đại

Năm 1729, cha Đoàn Thị Điểm bị bệnh qua đời Nàng xin nghĩa phụ

là quan thượng thư Lê Anh Tuấn về quê phụng dưỡng mẹ già, giúp anh trai day hoc Luc ay, nữ sĩ rất bất bình trước cảnh nước nhà giặc giã, trộm cướp liên miên, chia cắt, vua chúa tranh quyền đoạt vị Bà cảm nhận số phận của mình mỏng manh, ngắn ngủi như ráng đỏ chiêu hôm Để ghi nhớ nỗi buôn, nỗi thất vọng về thời thế, bà tự đặt cho mình hiệu là Hồng Hà Qua thời gian, vốn sống của bà ngày càng rộng, những kiến thức thu được từ sách vở cũng giúp bà mở mang tầm mat Ba suy nghi về việc nước, lo nước nhà thiếu một bậc minh quân Bà ấp ủ hoài bão xây dựng đất nước Bà nấy ra ý

định viết sách để gửi gắm tâm sự của mình Ý nghĩ ấy thôi thúc bà bắt tay

vào công việc

Như vậy, Truyền ky tan pha duoc Doan Thị Điểm viết trong thời gian còn là “Hồng Hà nữ tử” và đã được anh trai viết lời tựa Thời gian hoàn thành sách là khi cha đã mất, Đoàn Doãn Luân còn khoẻ mạnh và Đoàn Thị Điểm chưa trở thành phu nhân của tiến sĩ Nguyễn Kiều

Truyện của bà có mẫu người phụ nữ tài hoa biết lo cho vận nước, sẵn lòng hy sinh mạng sống vì nghĩa lớn như đi khẩu linh từ (Đền thiêng cửa

biển) kê về nàng Bích Châu, dám dâng lên vua Kê mình thập sách nói về

cái gốc của việc giữ nước, trừng trị bọn quyền thần tham những, cổ động nho phong, chỉnh đốn quân sỹ Những trang sách chính là nơi bà gửi gam nổi lòng ái quôc, ưu dân của minh

Trang 18

1.2.2.1 Van ban A.48:

Van ban A.48 gdm 182 trang, khé 25x15 em, do Lac Thién Duong tang ban, in vao nam Tan Muti, nién hiéu Gia Long thir 10 (1811), bia sach ghi:

An Ap liét nit luc BB BW SR

Trong đó, Hải Khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ viết chữ

to ở cột l, cột 3 và cột 5; Bích Cháu kỳ ngộ chữ nhỏ hơn ở cột 4, Tùng bách thuyết thoại, Long hồ đấu kỳ ghi chung ở cột 2, chữ nhỏ nhất

Truyện thứ nhất /14¡ khẩu linh từ lục #8 ¬ BB ia) $% co ghi nha in Lạc Thiện đường, tác giả Hồng Hà nữ tử (từ trang 3 đến trang 25)

Truyện thứ hai Vân Cát thần nữ truyện & 8Ä † # l8 từ trang 25 đến trang 65, không ghi tác giả, nhà in

Truyện thứ ba 4n Ap liét nữ lục E3 #\ # $š từ trang 65 đến trang

86 Có ghi thêm tác giả Hồng Hà nữ tử và nhà in

Truyện thứ tư Bích Câu kỳ ngộ ký 38 3ã A AB šd từ trang 87 dén trang 139 Không ghi tên tác giá và tên nhà ¡n

2]

a

Trang 19

Truyện thứ năm Từng Bách thuyết thoại PS #A 3 FE ter trang 140 đền trang 168 Không ghi tên tác gia và tên nha in

Truyện thứ sáu Phụ long hồ đấu kỳ ký AY BE Be Pl At ac từ trang

169 đến trang 182 Không ghi tên tác giả và tên nhà in

Có thể nhận xét thêm về vấn đề văn bản ở đây như sau: Sách có ghi

“Giai huynh Tuyết Am Như Phủ phê bình” Tuy vậy, ngoài lời bình viết theo điệu từ Tạo la bào trước truyện 4ø Ấp liệt nữ và lời chú thích địa danh Bích Châu trong truyện Bích Châu kỳ ngộ, không thấy có lời bình nào được viết xen trong các truyện Đôi khi trên đầu trang sách có viết lời chú hoặc bình nhưng không chắc đó chính là của Đạm Như Phủ Hai truyện Bích Câu kỳ ngộ, Vân Cát thân nữ không có dòng ghi tên người viết và người bình, riêng Tùng bách thuyết thoại và Long hồ đấu kỳ có ghi chữ “phụ” (chép thêm) trước tên truyện

Như vậy có thể nêu ra vài nhận xét về văn bản A.48 Đây là văn bản đầy đủ vào bậc nhất so với các văn bản đang được lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm Với số truyện đầy đủ, phong cách khắc in logic, cần thận

L2.2.2 Văn bản VHv.2959:

Văn ban VHv 2959 có tổng số có 92 trang, bìa làm bằng giấy dầu,

có 2 tờ giấy gió đóng chèn sau bìa Kích thức 24 em x l6 em In tại nha in Lạc Thiện Đường năm Gia Long 10 (1811) Chất liệu giấy mỏng, chữ chưa

bị mờ, còn rõ nét Phần trên sách đã bị chuột gam khoang 0,5 dén 1,5 cm Cạnh trang sách phía đối diện với gáy sách có ghi từng truyện theo cách viết tắt để dễ theo dõi như: Truyện Vân Cát thân nữ (ghi Thần nữ), truyện

Hải khẩu linh từ (ghi Linh từ), truyện An ấp liệt nữ (ghi Liệt nữ); phía dưới

đề số tờ Sách được thư viện bảo quản trong hộp sách bìa cứng, mầu xanh

có kí hiệu sách rõ ràng dé thuận lợi cho việc tra cứu Có thể mô tả cu thé

như sau:

Trang 1: Cuối trang ghi VHv.2959

Trang 2: Nhàn ván đình (chữ viết tay)

Trang 3: Chữ viết tay, đóng dấu thư viện

22

Trang 20

Trang 4: Trang in tén sach

Trang 5: Dé trong

Trang 6: Chữ viết tay mục lục sách

Trang bìa ghi:

Hong Hà giả phu nhân trứ

Tục truyền kỳ lục

Phương thượng Nhàn Vân đình tàng

Gia Long thập niên tân

Bắt đầu từ trang 7 là nội dung từng truyện, được khắc in cho đến hết Nội dung sách không có lời bạt

Truyện thir nhat Hai khẩu linh từ lục #8 ¬ EB ital $&, tir trang 7 đến trang

29, chữ in Phần đầu truyện có ghi tên nhà in, tên tác giả Hồng Hà nữ tử

Truyện thứ hai Vân Cát thánh nữ truyện 2 BE #z &, tr trang 29 đến trang 69 Phần bắt đầu của truyện không ghi tên tác giả, nhà In

Truyện thứ ba 4ø Áp /iệt nữ lục # B Bl A SR, tir trang 69 đến

trang 90 Phần đầu truyện có ghi tên nhà in, tên tác giả Hồng Hà nữ tử

Đặc biệt, với thời gian do sơ suất của những người đọc sách mà cuốn sách đã có những sự thay đổi đáng kể Có trang bị thêm chữ, sửa chữ, thêm nét, sửa bộ, thêm đoạn bằng hai cách: Bút đỏ, hoặc bút mực đen Các độc giả hiện nay, chủ yếu chỉ được tiếp xúc với văn bản qua bản phô tô, rất dễ gây nhằm lẫn, khó đọc trước những trang có chữ bị sửa Có thê thống kê

Trang 22

Có thể nhận xét khái quát về vấn đề văn bản VHv.2959, là văn bản

khắc in Số lượng truyện ít Các truyện có tính liền mạch, logic Song sự trình bày bắt đầu các truyện cũng có phần khác biệt, ví dụ như truyện Ván Cát thần nữ không ghi tên tác giả và nhà in, trong khi hai truyện Hải khẩu linh từ lục và An Ấp liệt nữ lục có ghi tên tác giả và nha in

1.2.2.3 Van ban VHy.1487:

Ban mang ký hiệu VHv.1487, chép tay, gồm 158 trang, khổ 27.15,

có niên đại chép: Tháng trọng xuân (tháng Hai), năm Tự Duc thứ I7 (1864), trong văn bản kiêng húy chữ thoi, chtr hoa (VHv.2959 khong co hiện tượng này) Sách này có lẽ đã bị rách phải đóng lại nên không có tên

và lẫn trật tự các truyện, Từng bách thuyết thoại đễ ngay đầu sách Sau truyện này mới đến trang ghi: Truyện kỳ tân phả, Tự Đúc thập thất niên trong xuan, Hong Hà Đoàn phu nhân tri Muc luc ghi: Hai Khẩu linh từ lục, Vân Cát thánh tích lục, Tùng bách thuyết thoại và Phụ ký An Ấp liệt nữ lục, Long hỗ đấu kỳ, Bích Câu kỳ ngộ Nội dụng các truyện giống những truyện có trong bản VHv 2959, thỉnh thoảng có khác một đôi chữ nhưng

25

Trang 23

không ảnh hưởng quan trọng đến nội dung va diễn tiến truyện Về hình thức đây là văn bản chép tay, lại do nhiều người chép nên có đoạn chữ đẹp, sắc nét đễ đọc, có đoạn chữ viết thảo khó xem

Trang có thể được coi là trang thứ nhất hay trang bìa của tác phẩm nằm

ở trang thứ 20, chữ viết tay ngay ngắn có thể miêu tả cụ thể hơn gồm có:

Tự Đức thập thất niên trọng xuân

Truyền kỳ tân phả, Hồng Hà phu nhân trứ

- Hải khẩu linh từ lục š# F1 8 j8 #§

ấm từ trang I đến

Truyén thir nhat Tùng Bách thuyết thoai #s 44

trang 26 Chữ viết thảo, không ghi tên tác giả, nha in

Truyện thứ hai Hải khẩu linh từ luc #8 1 BB TR $Š tiếp tục có ghi lại về nhà in Lạc Thiện đường, tác giả Hồng Hà nữ tử (từ trang 2§ đến

trang 51) Chtr viét chan

26

Trang 24

Truyện thứ ba Vân Cát thánh tích S5 8 EE DF te trang 51 dén trang

90, chữ viết chân, không ghi tên tác giả và nhà in

Truyện thứ tư 4n ÁP liệt nữ lục #2 B RY % $3 từ trang 91 đến trang

110, chữ viết chân Có ghi thêm tác giả Hồng Hà nữ tử

Truyện thứ năm Bích Câu kỳ ngộ ký #3 ï8 3ã 38 ac ti trang 111 dén

trang 148, chữ viết chân Cuối truyện có ghi lại tên truyện Bích Câu kỳ ngộ khong phai la Bich Cau kỳ ngộ ký như ở trên, không ghi tên tác giả và nhà In

Truyện thứ sáu P long hồ đấu ky ky Mt 82 & FY 4 ac tir trang

149 dén trang 158, khong ghi tên tác giả và nha in

Năm truyện sau đều cùng một nét bút của người chép

Có thể nhận xét khái quát về cách chép, ghi truyện của bản VHv.I487 như sau: Vì đây là văn bản chép tay nên cách ghi từng truyện không thống nhất Có truyện chỉ ghi tên như: Từng bách thuyết thoại ‡À 3B

ae ñà, có truyện phi cả tên truyện, tên tác giả, nhà in mà người chép tay dùng làm căn cứ để chép như: 4n ÁP liệt nữ lục #2 5 BY & BR Ben cạnh đó có truyện ma phan đầu và phần cuối truyện không thống nhất về tên gọi như phần đầu ghi: Bích Câu kỳ ngộ ký 33 ïã A UB 3d, phần cuối ghi Bích Cấu kỳ ngộ @ 38 3 iB Trong van bản này có chữ chân, chữ thảo Thỉnh thoảng trong các trang có chen vào vải dòng chữ khác biệt, hoặc cả trang có nét viết khác Nhìn chung văn bản thiếu tính logíc, hình thức không được hoàn thiện, nhất quán.

Trang 25

} ert

Trang 26

Vi

peo

Trang 28

1.2.2.4 So sanh cac Van ban:

Bang 1: So sanh cac van ban

-An Ấp liệt nữ lục

-Long hồ dau ky -Bích Châu kỳ ngộ lục -An tập Văn Đường tàng

| STT Tén Van bản tuyên | trang Số Số Mô tả trang bìa ^ v2 ` Tên truyện ˆ Ð

] A 48 06 182 | - Gia Long thap nién - Hai khau linh từ lục

- Hồng Hà phu nhân trứ - Bích Câu kỳ ngộ lục

- Truyền kỳ tân phả - Vân Cát thần nữ truyện

- Lạc Thiện Đường tàng bản | - Tùng bách thuyết thoại

- Long hồ đầu kỳ

- An Ấp liệt nữ lục

2 VHv.2959 | 03 92 - Gia Long thap nién tan - Hai khau linh tir luc

- Hồng Hà giả phu nhân trữ | - Vân Cát thần nữ lục

Trang 29

Văn bản A.48 và VHv.2959 cùng thời gian khắc in (Năm Gia Long thứ 10), văn bản VHv.1487 chép tay theo bản In sau (Năm Tự Đức thứ 17) Về nhà in: Hai văn bản ¡in ghi 2 nhà in khác nhau, văn bản chép tay cũng theo nhà in khác Về tên truyện: Cả 3 văn bản thống nhất tên truyện Hải khẩu linh từ lục, An Ấp liệt nữ lục Riêng Vân Cót thân nữ lục hai văn bản A.48 đề Ván Cát thần nữ truyện, VHv.2959 đề Ván Cát thần nữ luc, văn ban VHv.1487 dé Van Cat thanh tich luc Con lai 03 tac pham hai van

ban A.48 va VHv.1487 théng nhất tên Bích Câu kỳ ngộ lục, Tùng bách

thuyết thoại, Long hồ đấu kỳ

Trang 30

Bang 2 So sanh cac truyén:

30

Trang 31

Nói tóm lại từ những phân tích, so sánh văn bản chúng tôi đưa ra nhận xét cơ bản: Văn bản A.48 là văn bản tương đối hoàn chỉnh có thể dựa vào đó làm tư liệu nghiên cứu và biện dẫn

Từ góc độ nghiên cứu văn bản và các thư tịch có liên quan đến tác phẩm chúng ta có những kiến giải về số lượng truyện trong 7uyễn kỳ tân pha như sau:

Trong số 6 truyện của Truyền kỳ tân phả, chỉ có hai truyện Hải khẩu linh từ lục và An Ấp liệt nữ lục được ghi rõ tác giả là Đoàn Thị Điểm, 4 truyện còn lại không ghi tên tác giả (theo bảng so sánh số 2)

Theo PGS.TS Trần Thị Băng Thanh; Ths.Bùi Thị Thiên Thai trong

tham luận “Mối liên hệ giữa Truyên kỳ tân phả và lễ hội dân gian” khảo cứu như sau:

- Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Truyện ký, mục Văn tịch chí, Phan Huy Chú ghi: “Tục truyền kỳ một quyển, nữ học sĩ Nguyễn Thị Điểm soạn, phi chép những cuộc hội ngộ linh dị gồm: Bích Câu kỳ ngộ, Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, Hoành Sơn tiêu cục, Án Ấp liệt nữ,

Nghĩa khuyến thập miễu, tất cả có 6 truyện”

- Nguyễn Kiều trong một bài văn tế vợ có nói đến 4 truyện:

Hiển cựu Chế Thắng chỉ tích

Biéu tân trinh liệt chi danh

Ngụ chân tung vu Vân Cát thần nữ

Thuật nhàn tình vu Đối thoại yến anh

(Làm tỏ chuyện Chế Thắng xưa, tức Hải khẩu linh từ

Nêu cao danh trinh liệt mới, tức An Ấp liệt nữ

Ngụ dấu tiên trong Ván Cát thần nữ

Thuật nhàn tình trong Đối thoại yến anh)

- Tang thương ngấu lục mục Bà vợ thứ ông Nguyễn Kiều (tức Đoàn Thị Điểm) cũng chỉ: “Bà có làm ra tập Tực truyền kỳ, trong có ba truyện

Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ còn lưu hành ở đời”®)

1.Pham Đình Hỏ, Nguyễn Án - Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch (1972): Tang thương ngẫu lục,

Nxb Văn học

31

Trang 32

- Gia pha ho Doan — Doan thi thuc luc’ do con ré Doan Doan Y (Doãn Y là con trai Đoàn Doãn Luân, cháu gọi Đoàn Thị Điểm bang cô) soạn lại chỉ ghi 5 truyện: Vân Cát thần nữ, Hải Khẩu linh từ, An Ấp liệt nữ, Mai ảo và Yến anh đối thoại Sách này còn ghi chú: “Vân Cát, Hải Khẩu,

An Ap sắp đem ra khắc bản nhưng không kịp, tuy trải qua binh lửa vẫn được lưu giữ; duy Yến anh đối thoại, Mai ảo sai lạc mất cả cho nên nhiều người không được đọc” Như vậy, theo Đoàn thị thực lục thì đương thời tác phẩm đã bị thất lạc, không còn nguyên vẹn nữa Đoàn thị thực lục cũng không cho biết sách có được thu thập lại hay không và cho đến nay cũng không biết ai đã làm việc ấy, chỉ biết đến năm Gia Long thứ 10 (1811) sách

đã được Lạc Thiện Đường khắc in

Mặc dù có sự khảo sát văn bản, nhưng truyện Ván Cát thần nữ lục được xếp sau truyện Hải Khẩu linh từ lục, trước truyện An Ấp liệt nữ lục Hai truyện Hải khẩu linh từ, An Ấp liệt nữ lục đều được ghi tên tác giả rõ

ràng, nhưng Vân Cái thần nữ lại không được ghi, như vậy có thể trong thời điểm khắc in đã có nhiều ý kiến về tác giả của ẩn Cát thần nữ không phải

là của Đoàn Thị Điểm nên nhà in không ghi tên tác giả

So sánh 3 văn bản còn lại thì ba truyện Hải khẩu linh từ, An Ấp liệt nit, Van Cát thân nữ đều được khắc ïn hoặc ghi chép khá nhất quán với nhau Trong khi tìm hiểu về văn phong và nội dung nghệ thuật của tác 2hẩm ba truyện này có nhiều điểm tương đồng Chúng tôi cũng thống nhất với ý kiến của PGS.TS Trần Thị Băng Thanh; Ths Bùi Thị Thiên Thai về

ác giả của ba truyện đó là của Đoàn Thị Điểm Quan điểm này sẽ làm cơ

ở cho việc nghiên cứu giá trị nội dung, nghệ thuật và tóm tắt nội dung tác

›hâm ở phân sau

2 Theo tư liệu của cổ giáo sư Hoàng Xuân Hãn trong Chỉnh phụ ngâm bị khảo và Nguyễn Kim

Lưng trong “Về một cuốn Hồng Hà phu nhân đi văn mới phát hiện được”, Tạp chí văn học số 1, 1978

32

Trang 33

1.2.3 Tom tặt Hội dung chính của tác phẩm:

1.2.3.1 :Hải khẩu linh từ XŠ F1 8® j5

Nguyễn cơ, cung phi triều Trần tiểu tự là Bích Châu, tính tình đứng đắn, dung nhan tươi tắn, có hiểu biết sâu rộng Vua Duệ Tông biết tiếng,

‹én vào cung Một hôm, đúng tiết trung thu vua mở tiệc Rồi nhân lúc rượu ông, nhà vua nảy ra thi hứng, ngẫu nhiên thành một về câu đối, trong các sung phi chi cd nang đối được vì thế vua yêu quý nàng hơn cả các cung shi Bấy giờ Nguyễn cơ thấy chính sự quốc gia tiếp thói tệ thời Hôn Đức rên ngày càng suy kém, bèn viết bài Kê minh thập sách dâng lên Vua vui tích quá, khen gợi tuy nhiên nhà vua vẫn không thi hành Năm đó khi bàn

về việc đánh Chiêm Thành trên triều có nhiều ý kiến nhưng ý vua muốn cánh Nàng Bích Châu khuyên can nhưng vua không nghe Khi đi đánh tận nàng xin theo, đến đất Kỳ Hoa Các phụ lão nghe tin quân nhà vua đến ciao đón và tâu về ngôi miếu thiêng

Vua cản ơn các phụ lão, cho lui về, rồi hạ lệnh tạm đóng quân ở bên bíi Bạch Tân Lúc gần nửa đêm, Bích Châu ngửa mặt lên xem tượng trời, trầy một đám mây đen từ phương Đông lại, lấn vào ngôi sao Bắc cực thứ

tu rất gấp Đó là điềm chẳng lành, bói một quẻ thì quả đúng như thế Ngay ham sau, nang muốn đến trước mặt vua có ý tâu bày quẻ bói nhưng việc quân cơ bận rộn, không thể gặp được ngài Cuối canh ba bỗng có một người nanh to râu xom, diện mạo hung ton di thang đến trước mặt vua thi

lễ xưng là đô đốc vùng Nam Hải, đòi thêm thê thiếp, nhà vua trong giấc

m: đã đồng ý

Sau đó, Vua liền cho vời phi tần đến, kể lại giấc mộng, không ai dám lên tiếng Bích Châu xin tự vẫn để làm vật tế bảo toản cho quân ra trận được an toàn Nhà vua can ngăn không được Sau khi nàng nhảy xuống

biê vua làm bài tế rất bi thiết Vua lập tức hạ lệnh lên đường, tiễn sâu vào

cử: động Ÿ Mang, trúng phải quỷ kế của Bà Ma, toàn quân và nhà vua bị han hai 6 trong động ây, khiên bụi trân dậy đât, cáo hô đây đường

33

Ngày đăng: 12/12/2015, 04:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w